Saturday, August 1, 2020

Thăm vùng đất các "Pà"

10/01/2012 11:09 GMT+7

TTCT - Người miền xuôi đến huyện Giằng - nay được đổi tên là Nam Giang, một huyện miền núi giáp Lào của Quảng Nam - ai cũng ngạc nhiên khi nghe tên gọi các địa phương ở đây đều bắt đầu với tiếng “Bà” vốn bị đọc chệch từ tiếng “Pà” của người Cơ Tu bản địa.

9vqO1Nkl.jpg
7-8 giờ sáng sương mù vẫn bao phủ vùng Giằng - Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
BYjVx7mE.jpg
Ông già người Cơ Tu ở làng Pà Vả, xã Ta Bhing vót mây đan gùi bán cho du khách đến thăm làng - Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
Những tên gọi khiến liên tưởng đến phụ nữ: Pà Lanh, Pà Dồn, Pà Păng, Pà Dấu, Pà Ting, Pà Xua, Pà Rồng, Pà Vả... lại là những câu chuyện về một cõi Trường Sơn đặc thù trên các tuyến đường 14, 13 nổi tiếng với những đổi thay thật khó tưởng tượng. Vùng Trường Sơn của Quảng Nam có tám huyện, địa hình bị chia cắt bởi đỉnh Ngọc Linh cao gần 2.600m. Giằng là vùng núi cao rừng rậm sông sâu, có ba dân tộc Ve, Tà Riềng và Cơ Tu chung sống, quan hệ rất thiết thân với vùng đồng bằng kề dưới.
Từ Đà Nẵng đi ngã ba Hòa Cầm, theo quốc lộ 14B, vượt khoảng 60km là đến cầu vượt Hà Nha, từ đây khách bắt đầu chạm mặt sự hùng vĩ của Trường Sơn với điệp trùng núi cao vây bủa, kề đường đi là dòng Vu Gia mông mênh. Thị trấn Thạnh Mỹ cách Hà Nha chừng 15km là “thủ phủ” của Giằng, nhưng thật ra huyện Đại Lộc lâu nay được coi là cửa ngõ của Giằng với hai xã Đại Sơn, Đại Hồng là cổng vào.
Chuyện xưa
Dù địa danh Nam Giang đã có vài năm nay nhưng Giằng vẫn là tên gọi cửa miệng của nhiều người bởi gốc rễ lâu đời của nó. Bến Giằng - nơi xuất phát tên gọi ấy - là bến đò sát quốc lộ 14, đưa người vượt sông Thanh đến các xã Tà Bhing, Tà Pơơ, Chaval, Zuôih và các xã biên giới Dăk-pre, Dăk-pring, La Dêê, La Êê, Chơ-chun.
Ông Nguyễn Tri Hùng, cán bộ Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam, người am hiểu văn hóa Cơ Tu, cho biết: “Chỗ bến đò Giằng là nơi sông Rô từ huyện Phước Sơn chảy xuống hợp nước với sông Thanh từ phía Tà Bhing chảy ra. Ngay chỗ hai sông gặp nhau nước rất mạnh, lại bị một quả núi chắn ngang nên nước xoáy cuộn vòng như cái giằng xay (của cối xay lúa). Khách thương hồ đi bằng ghe nhỏ từ Đại Lộc đến đây thấy vậy đặt tên là Giằng Xoay, lâu ngày gọi tắt là Giằng, gọi tên bến là bến Giằng”.
Xe88XnxJ.jpg
Chị Un Thị Gió, dân tộc Ve ở xã vùng biên Đăk-pre, lấy chồng về làng Pà Ting, dệt thổ cẩm để bán cho du khách ngang qua làng - Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
“Tiếng Pà - thật ra là Pa vì tiếng Cơ Tu không dấu nhưng đọc theo người Kinh lâu thành quen là Pà - chỉ là tiếng đệm mà người Cơ Tu vùng Giằng thường dùng với một từ đứng sau để đặt gọi tên làng. Cũng như một số danh từ riêng chỉ địa danh của người Kinh không thể định nghĩa được, chữ Pà dùng trong tên làng ở đây cũng không giải nghĩa được”.
Giằng xưa là vùng ma thiêng nước độc, heo hút, hiểm trở mà nỗi ám ảnh truyền đời của cư dân bản địa là đói muối ăn, thiếu rựa làm rẫy. Những ghe nhỏ của người Kinh từ huyện Đại Lộc luồn theo sông Cái đến bến Giằng để bán hai nhu yếu phẩm này. Quốc lộ 14 nay là đường Hồ Chí Minh, đoạn ngang qua đất Giằng, theo lời ông Đinh Ghinh, một cán bộ lão thành người Cơ Tu, hóa ra được người Pháp khởi công từ những năm 1936-1937.
“Người Kinh dưới đồng bằng cùng với đồng bào thiểu số ở đây bị Pháp bắt đi làm công, gọi là “xâu Giằng”, cực khổ trăm phần. Nỗi thống khổ của người làm xâu Giằng đã khiến chàng trai Cơ Tu Tr’gia ở làng Dh’ngoh, xã La Êê đứng lên gọi lũ làng chống lại. Tr’gia dùng ná bắn bị thương tên chỉ huy Pháp Lơ Pi-sông (Le Pichon) ở eo núi Con-cơ-neng khi y đưa quân đến bắt dân La Êê đi xâu hồi năm 1938...” - ông Ghinh kể.
Đất Giằng ma thiêng nước độc nhưng rất giàu vàng. Ông Ghinh nói ngoài các đồn Bến Giằng, Bót Xít, người Pháp còn lập đồn Khe Lăng ở tận xã Zuôih để bảo trợ việc khai thác vàng trong khu vực. “Thời đó người làm vàng nơi các con sông, con khe ở đây đều là người Morocco, Tunisia, Algeria, một ít là người dân tộc ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk. Người Pháp lập hẳn một đội vận chuyển bằng voi, do người bản địa phụ trách, chuyên lo vận chuyển lương thực, vật dụng phục vụ việc đãi vàng, cho binh lính ở đồn...”, ông Ghinh kể.
Những năm 1980-1990, người miền xuôi đổ xô đến Giằng khai thác vàng sa khoáng đã ngẩn người khi bắt gặp dấu tích đào đãi vàng từ trước! Vàng sa khoáng nhiều đến mức họ không cần đào, chỉ cần mót lại những bãi này.
pnN74whp.jpg
Một góc thị trấn Thạnh Mỹ của huyện Nam Giang trên đường 14, từ đây qua cầu Thạnh Mỹ trên hành trình đường Hồ Chí Minh ra phía Bắc, đi thẳng là đường 14B đến Đà Nẵng - Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
Ngang dọc đường Giằng
7g sáng, trời bớt sương mù, tôi dong xe theo quốc lộ 14D đến cửa khẩu Đăk Ôốc ở xã La Dêê, vượt 75km đường nhựa chỉ sau hơn hai giờ. Hầu như không còn dấu vết nhà sàn ở những làng Pà Ting, Pà Ia, Pà Xua, Pà Vả, Pà Lừa... dọc theo đường, chỉ có nhà mái ngói, mái tôn. Nơi xa ngút nay đã sáng ánh điện. Xe máy có khắp các bản làng. Sóng điện thoại cũng được phủ đến vùng biên ải. Ngoài cửa hàng thương mại cửa khẩu, quán xá ở khắp nơi.
Núi rừng Giằng heo hút từng là nơi mang đến cơm áo, cơ vận đổi đời cho người miền xuôi khắp ba miền khi họ khám phá những dòng sông vàng, những dãy núi trầm ở đây vài chục năm trước. Nước mắt mồ hôi và cả máu của hàng vạn người tứ xứ đã đổ xuống đây. Nhưng đường 14D đã làm thay đổi một vùng rừng núi thâm u.
Dừng chiếc xe tải bên cầu khe Vinh, nơi từng nổi tiếng vì vàng sa khoáng, một người ở Đại Lộc trước đây làm trầm nói: “Cung đường trước đây bọn tui phải đi hai, ba ngày ròng nay chỉ còn vài giờ chạy xe. Người làm trầm làm vàng khi xưa giờ đến lại vùng này không ai có thể nhận ra cảnh vật ở đây”. Ngày ấy, những “binh đoàn” vàng - trầm đổ đến cơ hồ làm rung rinh rừng núi, có lúc va chạm đẫm máu với cư dân bản địa.
Thị trấn Thạnh Mỹ cách bến Giằng chừng 13km từng là nơi tụ hội của những “đội quân” trầm - vàng ngày trước nay đã lột xác với đường hai chiều xe, là điểm dừng của nhiều xe khách Bắc - Nam. Qua cầu Thạnh Mỹ, cũng trên quốc lộ 14 - đường Hồ Chí Minh, chỉ hơn nửa giờ sau tôi đã đứng bên cầu sông Bung, một vọng đài nhìn ra bốn bề đại ngàn. Rừng nguyên sinh ở đây nhìn không hết mắt, mây che trắng mờ đỉnh núi, cảnh trí tuyệt đẹp.
Ông Đinh Ghinh kể rằng những năm Pháp bắt xâu Giằng, cư dân vùng La Êê, La Dêê không thể xuống bến Giằng, phải cắt rừng theo sông Bung để đến Hà Nha mua muối mua rựa, đi - về mất sáu, bảy ngày, cực khổ vô cùng. Lối đi này cũng đã được những người làm trầm làm vàng trước đây lặp lại để tránh các ngành chức năng.
7m5rU2Ev.jpg
Cầu Bến Giằng thay đò Bến Giằng, là nơi khởi đầu đường 14D, nối đường 14 - tức đường Hồ Chí Minh (có những vệt sơn) với cửa khẩu La Dêê (ở hướng những dãy núi phía trước) - Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
Đường Hồ Chí Minh đoạn Thạnh Mỹ - Axờ được khai mở đã nối liền Giằng với quốc lộ 49 ở Thừa Thiên - Huế nếu vượt cầu Sông Bung rồi đi tiếp đến B’rao, đến A Lưới; nối vào quốc lộ 9 ở Quảng Trị nếu từ A Lưới đi tiếp đến
Đăk-prông. Nhưng đến Giằng cũng nên đến làng Rô, làng Ngói nằm sát bên đường để xem làng, xem con sông Rô “xẻ đá ra mà chảy” như lời những chủ quán ở Thạnh Mỹ bảo tôi. Ngói và Rô đều ở xã Cà Dy gần cầu Xơi - do nơi đây cọp thường ra rình bắt người “xơi” nên người ta mới đặt tên cầu như vậy.
Làng Ngói, theo lời ông Alăng Nhơn, cán bộ hưu trí người Cơ Tu, cũng có tên là Pà La, “ngói” theo tiếng Cơ Tu là con trâu, bởi ngày trước làng này nuôi rất nhiều trâu. Còn làng Rô, không rõ sông Rô lấy theo tên làng hay làng lấy theo tên sông, nhưng theo ông Alăng Nhơn, làng Rô cũng có tên là Pà Giá, dân làng từ vùng biên giới đã dời xuống đây sinh sống từ thời Pháp thuộc.
Tháng 3-1942, khi nhà thơ Tố Hữu vượt ngục Đăk Glei đến đây đã được dân làng Rô che chở và tìm cách đưa ông vượt đồn Bến Giằng đến nơi an toàn, để rồi nhà thơ đã viết những câu: Ôi! Làng Rô nhỏ của tôi/Cao cao đỉnh núi chiếc nôi đại bàng/Trăm năm ta nhớ ơn làng/Cánh tay che chở bước đường gian nguy. Phía trên làng Rô, làng Ngói một quãng không xa là thị trấn Khâm Đức, trạm của dân làm vàng, nơi tiếp giáp với Đăk Glei, có dãy Ngọc Linh - nóc nhà chung của hai tỉnh Quảng Nam - Kon Tum.
Trên những nẻo đường Giằng, người Cơ Tu bày bán trái lòn bon vốn chỉ được trồng ở đồng bằng. Chợt nhớ lại chuyện quân Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn vây ở rừng tây Quảng Nam đã nhờ trái lòn bon qua cơn đói kiệt, sau này Nguyễn Ánh đã đặt tên cho loại quả rừng này là “nam trân”. Theo những người làm vàng ở Thạnh Mỹ, ở khe Vinh lòn bon mọc dày thành rừng. Anh Zơrâm Thực, cán bộ xã Tà Bhing, cho biết vài năm gần đây cư dân trong huyện đã đưa lòn bon trồng ở vườn nhà.
UHcl6KSK.jpg
Nhà gươl - đình làng của người Cơ Tu ở Pà Rồng, xã Tà Bhing - Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
Hạnh phúc nhất với người dân vùng đại ngàn Trường Sơn là nay họ có được xe máy thay cho đôi chân vượt dốc. Họ bảo: “Vài năm nữa đường Đông Trường Sơn làm xong sẽ nối Thạnh Mỹ mình với Đà Lạt. Thêm con đường này Nam Giang mình như thêm tay thêm chân ra đó...”. Và nguồn đá vôi ở núi rừng Thạnh Mỹ rồi sẽ vào lò để thành ximăng trong hai năm tới khi nhà máy ximăng công suất lớn đang được xây dựng ở thôn Đồng Râm. \
Ở phía trên, cư dân làng Pà Lừa tăm tối năm xưa giờ đang vào làng mới để làm thủy điện sông Bung. Ở các làng Pà Ting, Pà Đâng, Pà Ia bên dưới người dân cũng nao nức bên con đường đang được xây dựng để vào thác Grăng - một dự án du lịch có vốn từ Nhật...
Vùng đất Nam Giang - Giằng đang được đánh thức.
Ông ĐINH GHINH(nguyên phó chủ tịch huyện Nam Giang)

© Copyright 2020 TuoiTre Online, All rights reserved
27/7/2019 : NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI LÀM TIM TA NHÓI ĐAU.
1. ANH HÙNG, LIỆT SĨ
- Có 1.146.250 Liệt sỹ trên cả nước (tính đến năm 2012).
+ Có 191.605 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Pháp
+ Có 849.018 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ
+ Có 105.627 Liệt sỹ hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo…)
- Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam pu chia, Biển Đông…
- Hơn 300.000 hài cốt Liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị…
- Tỉnh có nhiều Liệt sĩ hi sinh nhất: Tỉnh Quảng Nam có 65.000 Liệt sĩ hi sinh trong các cuộc chiến tranh. (ngoài ra tỉnh Quảng Nam còn có hơn 30.000 thương binh) (tính đến năm 2012).
- Huyện có nhiều liệt sỹ nhất cả nước là huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) với hơn 19.800 Liệt sĩ. (tính đến năm 2012).
2. NGƯỜI DÂN
- Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường Việt Nam ở hai miền (miền Bắc và miền Nam) đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại…
3. CÔNG TRÌNH TRI ÂN ANH HÙNG, LIỆT SỸ
- Có 9.637 công trình tri ân, ghi công Liệt sỹ như tượng đài, nhà bia, nghĩa trang Liệt sỹ trên địa bàn cả nước. (tính đến năm 2012)
+ Hơn 3.000 nghĩa trang Liệt sĩ trên địa bàn cả nước (hầu hết các tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường, thị trấn trên đất nước Việt Nam đều có nghĩa trang Liệt sỹ…)
- Các Nghĩa trang Liệt sĩ cấp Quốc gia nổi tiếng linh thiêng như:
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên Phủ (Điện Biên)
+ Nghĩa trang Mai Dịch (Thủ đô Hà Nội)
+ Nghĩa trang Quốc tế Việt – Lào (Anh Sơn, Nghệ An)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn (Quảng Trị)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 (Đông Hà, Quảng Trị)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM)…
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Hàng Dương (Côn Đảo, Bà Rịa Vùng Tàu)
4. NGƯỜI CÓ CÔNG CỦA VIỆT NAM
- Có 9.000.000 người có công trên cả nước
- Trên 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Một số Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu:
+ Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có chồng, chín con đẻ, một con rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ;
+ Mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị có chồng, sáu con đẻ, một con dâu và một cháu nội là liệt sĩ;
+ Mẹ Lê Thị Tự ở Quảng Nam có chín con là Liệt sĩ;
+ Mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận, mẹ Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi (Sài Gòn) đều có tám con là Liệt sĩ, bản thân 2 mẹ cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
- Tỉnh Quảng Nam là tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 mẹ (số liệu tính đến 2001).
- Gần 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động.
- Gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh.
- Hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam.
- Gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù nổi tiếng như (Nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…)



Trang bị trong tương lai của lính mỹ , dựa vào báo đăng năm 2004 . Có thể lính Mỹ đã ít nhiều có trang bị như trong hình .



1. Khu vực Thượng Đức

Quận lỵ Thượng Đức, nay là thôn Hà Tân, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 40km về phía Tây. Địa hình hiểm trở, ba mặt là núi cao, nhiều vách đứng. Phía Bắc có dãy Tiên Sơn, An Điềm, điểm cao 776 kéo dài tới điểm cao 1062. Phía Nam cách khoảng I,5km là dãy núi Hữu Trinh cao 848m. Phía Đông và Đông Bắc cách khoảng 4km là dãy núi Ba Khe, chạy sát ra sông Vu Gia, chia cắt Thượng Đức thành khu vực độc lập. Hướng Tây có dãy núi Hà Tân và Khe Ba thoải dần về phía Đông.

Đường số 4 chạy từ Hòa Phát qua Hiếu Đức, Thượng Đức đến bến Hiên. Đường số 14 chạy từ Thượng Đức qua cầu Hội Khánh đến bến Giàng. Mặt đường đoạn Hòa Phát đến Hiếu Đức rộng 4-6m; mặt đường từ Hiếu Đức đến Thượng Đức rộng 4m, nhiều đoạn bị hỏng nặng, chỉ còn vệt đường mòn, cây cỏ mọc dày. Đoạn này có nhiều cầu nhỏ qua các khe suối, đa số là bê tông nhưng đã bị hỏng.

Phía Nam Thượng Đức có sông Cái (có đoạn gọi là sông Thạch Mỹ, có đoạn gọi sông Vu Gia) rộng trên 200m. Phía Bắc và Đông Bắc có sông Côn rộng 60-80m. Cầu Hà Tân bắc qua sông Côn, nối hến khu trung tâm quận lỵ sang sân bay Đại An. Hai con sông này vào khoảng tháng 5 và tháng 6 nước cạn, nhiều đoạn có thể lội qua được.

Trận đánh diễn ra khi có nhưng trận mưa đầu mùa, trời nhiều mây, nước sông lên cao, đường sá sụt lở, ảnh hưởng đến cơ động binh hỏa lực.

Nhân dân khu vực B Đại Lộc là vùng giải phóng cũ, sau Hiệp định Pa ri, địch lấn chiếm, nhưng các cơ sở của ta vẫn còn tiếp tục hoạt động. Riêng quận lỵ Thượng Đức có  nhiều thành phần, đảng phái, tôn giáo khác nhau hoạt động, cơ sở của ta còn yếu, địch tập trung kìm kẹp, o ép mạnh. Nhưng cơ bản nhân dân vẫn giữ vững mềm tin với Đảng, với cách mạng, cơ sở của ta vẫn bám trụ và phát triển. Đội vũ trang công tác từng bước bám dân, bám đất từng bước hoạt động có hiệu quả.
https://www.quansuvn.net/index.php?topic=10761.0
Nguời giàu cũng khóc , bài 3 .
Nữ tài tử Mỹ Selma Blair sanh ngày 23/6/1972 .
Mới thấy ngày sanh là biết cô này rất may mắn và đúng như vậy khi ở tuổi 47 đã có một tài sản 14 T và chồng và con trai 8 tuổi hạnh phúc nhưng . . .
I/ Tên lúc khai sanh là Selma Blair Beitner .
SELMA = 3 5 3 4 1 = 16 = 7
BLAIR = 2 3 1 1 2 = 9
BEITNER = 2 5 1 4 5 5 2 = 24 = 6
Cộng lại : 7 9 6 = 22 = rất xấu .
Năm 23 t , cha mẹ ly dị , Selma bỏ họ Beitner nên trở thành : Selma Blair , nghĩa là bằng 7 + 9 = 16 .
Sau đây là ý nghĩa của số này .
Ý Nghĩa Của Số 16 : The Shattered Citadel (Thành Quách Tan Vỡ)
Theo nguời Chaldeans cổ đại thì số 16 đuợc biểu tuợng bởi hình ảnh “ một Tòa Tháp bị Sét đánh , từ đó một nguời đang rơi xuống , với một Vuơng miện trên đầu ” (a Tower struck by Lightning , from which a man is falling , which a Crown on his head”) . Số này cảnh báo về một tai họa tiền định lạ lùng (strange fatality) , cũng như sự nguy hiểm của các tai nạn và sự thất bại của những kế hoạch của nguời mang số đó . Nếu tên bằng 16 , điều dĩ nhiên là khôn ngoan đổi tên để tránh tác động của nó . Nếu ngày sanh là ngày 16 của bất cứ tháng nào , sự thử thách của số 16 phải đuợc cẩn thận đón nhận/đáp ứng, để cho tác động/ảnh huởng có thể giảm nhẹ tới một mức không khắc nghiệt lắm (the challenge of the 16 must be met, so that its effect may be diluted to a milder vibration) . Để tránh khuynh huớng tiền định đầy khắc nghiệt này (the fatalistic tendency) của ngày sanh là số 16 , nguời (có ngày sanh là 16) này phải cố gắng lập kế hoạch truớc khi làm bất cứ việc gì (one must endeavor to make all plans in advance) , để chắc chắn rằng mọi khả năng của thất bại phải đuợc tiên liệu/biết truớc (making certain that any possibility of failure is anticipated) và phải đuợc né tránh/đi vòng quanh /đổi huớng (circumvented) bằng cách chú ý cẩn thận từng chi tiết . Số 16 cũng mang đến cùng với nó sự bắt buộc và trách nhiệm phải nghe theo tiếng nói từ bên trong của số 7 , tiếng nói này sẽ luôn luôn cảnh báo về nguy hiểm thông qua những giấc mơ hoặc trực giác để tránh kịp thời (intuition in time to avoid it) . Không nên coi thuờng tiếng nói từ bên trong . Như tôi (tức bà Linda Goodman – Tài) truớc đây đã giải thích phần nào về sự kiện rằng tên “Abraham Lincoln” bằng số 16 , rằng ông Lincoln đã đuợc cảnh báo nhiều lần về việc ám sát ông là tiềm tàng/có thể xảy ra thông qua những giấc mơ của ông (was warned repeatedly of his potential assassination by his dreams) . . . và cũng như bởi vài ông đồng bà bóng (“sensitives” or “mediums”) đuợc đưa vào Tòa Nhà Trắng bởi bà Mary Todd Lincoln . Ông đã coi thuờng/không nghe theo những cảnh báo rõ ràng này , và đã từ chối thực hiện những biện pháp phòng ngừa (precautions) cần thiết , vì vậy , đã không thể tránh khỏi tai họa tiền định này (was unable to avoid his fate) .Nhưng điều này đã có thể tránh đuợc (but it could have been) , và đây là điều quan trọng mà nguời có ngày sanh là 16 phải nhớ . Để tìm kiếm hạnh phúc bằng những cách khác hơn là làm lãnh đạo cấp cao (leadership at the top)(Tòa Tháp và Vuơng Miện) – thì nên từ bỏ sự nổi tiếng/tiếng tăm và danh vọng (to renounce fame and celebrity) – đây chính là cách để giảm nhẹ khía cạnh/mặt tiêu cực (negative aspect) của số 16 .
Lincoln đã không làm như vậy , vì nghĩ rằng điều quan trọng là phải cố gắng thống nhứt đất nuớc (feeling it was more important to attempt to keep the nation united) hơn là hưởng thụ hạnh phúc (fulfillment) của một cuộc sống riêng tư , mặc dù ông đã nhận chức Tổng thống với nhiều miễn cưỡng và nỗi buồn sâu thẳm (with much reluctance and a profound sadness) .
( Dịch từ trang 254-255 của sách đã dẫn của bà chiêm tinh gia nổi tiếng nguời Mỹ Linda Goodman) .
San Jose ngày thứ hai 15/03/2010 lúc 12:03 trưa .
II/ Ý nghĩa của 23 đã được đăng nhiều lần trên trên FB này .
Số 23 – Ngôi Sao Của Sư Tử Vua ( The Royal Star of the Lion )
Đây là số may mắn do hưởng phước đã tạo từ kiếp trước (karmic reward number) (1) . Số 23 ban cho (bestows), không những chỉ là một hứa hẹn sẽ thành công trong những nỗ lực (endeavors) thuộc về cá nhân và nghề nghiệp , mà còn bảo đảm có sự giúp đở từ thượng cấp (help from superiors) và sự che chở/bảo vệ từ những người có địa vị cao ( protection from those in high places) . Đây là một số rất may mắn , và số này ban phát ( blesses ) dồi dào hồng ân (abundant grace) cho người hoặc thực thể ( entity) tượng trưng bởi số này . Số này , cũng nên được xem xét với những số khác ( như ngày sanh hay tên ) để có một sự phân tách toàn diện dựa theo lý thuyết số ( full numerological analysis ) , điều này có thể đưa đến một kết quả không hoàn toàn may mắn . Nhưng trong những giai đoạn khó khăn , những số khác không có nhiều cơ hội tạo ra (bring about) sự rắc rối nghiêm trọng (serious trouble ) khi có sự hiện diện của Ngôi Sao Huy Hoàng này của Sư Tử . Không số nào có thể thách thức với sức mạnh (strength) của Sư Tử và thắng được nó . / .
( Dịch từ trang 259 của quyển Linda Goodman’s Star Signs ) .
Chú thích : (1) Từ Karmic xuất phát từ danh từ Karma , tiếng Sanskrit có nghĩa là hành động /số mệnh /nghiệp . Ấn độ giáo và Phật giáo tin rằng nghiệp là những hành động/việc làm của con người trong những kiếp trước , và ( nghiệp này) sẽ quyết định số mạng của con người đó trong những kiếp sống sau này .
====
NHẬN XÉT : Selma có ngày sanh CỰC KỲ MAY MẮN , giống như rất nhiều đại gia của VN như Trần bắc Hà , Phạm nhật Vương , v.v... nhưng cô lại có một cái tên chứa chấp nhiều nguy cơ rình rập (xin đọc phần I) . Hiện cô bị bịnh MS (đa xơ cứng/multiple sclerosis ) , phát hiện từ 2018 , tuy ko chết người nhưng gây nhiều khó chịu . Nhưng với tài sản 14 T và một gđ hạnh phúc , hy vọng cô nhanh chóng vượt qua .
Ảnh lấy từ Instagram của Selma Blair với gậy và xe đạp đặc biệt vì ko có bàn đạp - mà dùng chân đẩy đi ; tóc rụng hết do ảnh hưởng của thuốc : hình cuối mang tóc giả để làm hình bìa cho báo People . Hiện có khoảng gần 1,5 T fan theo dõi TK của cô .
TB . Ngay cả khi cô đã chết , mỗi khi bạn hay con cháu mua một dvd có cô đóng , một phần của tiền bán dvd này sẽ chạy vào tài khoản của con trai (hiện 9 tuổi) hay bất cứ ai được cô trao quyền thừa kế tài sản của cô ; quyền này gọi là royalty . Nếu cô là một ca sĩ như Michael Jackson (MJ) , mỗi khi bạn hay con cháu mua một dvd hay cd do MJ thực hiện, một phần của tiền bán dvd hay cd sẽ chạy vào tài khoản của người thừa kế của MJ . Các phim hay đại nhạc hội dùng nhạc của MJ cũng phải trả tiền royalty của kẻ thừa kế của MJ .





Quân y Mỹ tại chiến trường Iraq , bài 2 .
TẢN THƯƠNG .
H.1 : Ưu thế về KQ của Mỹ bảo đảm rằng ko ai chờ đợi quá 30 phút cho bước chăm sóc kế .
Những Toán Giải phẫu Tiền phương (forward) phụ trách các BV lều . Trực thăng Black Hawk với nhân viên tải thương (medevac) thường chuyển ng bị thương trực tiếp tới các BV tốt hơn .
ỔN ĐỊNH VÀ CHUYÊN CHỞ .
H.2 : Những toán săn sóc khẩn cấp (critical) thường chỡ ng bị thương trong máy bay vận tải C-17 cải tiến - còn được gọi là Phòng Cấp Cứu/ICU trên không - tới QYV tại Landstuhl , Đức . Các ng bị thương sẽ được đưa ra khỏi Iraq cho bất cứ vết thương hay bịnh tật đòi hỏi hơn 3 ngày để phục hồi (recovery) .
PHỤC HỒI
H.3 : Từ Landstuhl , ng bị thương hay bịnh sẽ bay tới Mỹ . Nhiều ng trong họ gồm mất tay/chân hay chấn thương não , mà sự phục hồi có thể đòi hỏi chăm sóc SUỐT ĐỜI . Chặng ngừng đầu tiên là Walter Reed hoặc Brooks (Mỹ) , chuyên về phỏng .
ĐỂ HỞ VẾT THƯƠNG
H.4 : Một vài vết thương sẽ tốt nếu để hở (left open) trong lúc chuyển bằng máy bay để ngừa sưng tấy (swelling) bên trong , có thể tạo một sụt giảm nguy hiểm về áp huyết . Các BS che các vết thương hở ở bụng bằng rèm/màn (drape) chống vi trùng . Màng bán thấm nước (semipermeable) này dính chắc với rìa của vết thương và giúp ngăn ngừa nhiễm trùng (contamination) thêm . (còn tiếp) .
==
Quân y Mỹ tại chiến trường Irak , bài 3 .
Tính tới 15/9/2006 , 468 chiến sỉ đã mất 1 chi , 78 đã mất hơn 1 chi . Có lẽ vì sức mạnh của 1 vụ nổ từ IED , nhiều ng mất chi chịu một biến chứng khó hiểu : sự hóa thành xương ko bình thường , còn được gọi là heterotopic ossification .
Nghiên cứu trường hợp
Chân trái của một binh sỉ 38 t bị cắt dưới đầu gối sau 1 tấn công bằng IED gây gẩy xương hở và chảy máu động mạch.
1/ Gần 1/2 những ng mất chi tại BV Walter Reed đã trải qua hóa xương ko bình thường - một bịnh hiếm và đôi khi đau đớn  vì xương mọc vào khu vực mà mô mềm đã bị xé thành mảnh nhỏ (shred) . Sau khi cắt chi , phần xương lành lặn đã phát triển ko kiểm soát , đè lên (trap) động mạch đùi (femoral) .
2/ Các BS chờ nhiều tháng để cho xương ngừng phát triển . CT scan cho ra (turn into)  1 ảnh 3-chiều của chân , rồi 1 mô hình được tạo để hướng dẫn các BS hầu họ có thể cắt bỏ phần xương thừa mà ko hư hại đến động mạch đùi . Hóa trị tiếp theo đó ngăn ngừa xương mọc trở lại .
Hình dưới trái : xương bị ảnh hưởng của vụ nổ do IED .
Hình nhỏ bên phải : xương bình thường .
Khoa phỏng BV toàn khoa Massachusetts , Mỹ . (tiếp theo) .
H.1 : Gương mặt và phần trên của ng trẻ này bị phỏng nặng trong 1 vụ đụng xe tải . Vài nơi trên thịt bị cháy sém , dai như da (leathery) và chật/bó sát (tight) đến nỗi các BS đã cắt tách ra (split open) để máu có thể lưu thông . Khu vực bao bọc BN được bao bằng plastic để giử nóng và ẩm ướt hầu giử lại các chất lỏng trong cơ thể . Ng này đã CHẾT sau 5 ng nhập viện .
- H.2 : Phần trên của chân BN bị bỏng (scalded) bởi nước nóng . Phần da ko bị tổn thương của bàn chân (sole) có màu (taint) đen do 1 dung dịch của nitrate bạc , một loại sát trùng mạnh - khi mới bôi thì trong suốt nhưng sậm màu do tiếp xúc ánh sáng , như phim chụp .
H.3 : một miếng da , lấy từ 1 phần ko bị phỏng của BN này , sẽ được dùng để ghép (graft) .
H.4 : sau khi được "lưới hóa" (mesh) , miếng vá (patch) này sẽ được căng thành 12 lần diện tích cũ của nó , hầu giảm thiểu nhu cầu lấy da của BN . Nhưng có cái giá của nó : Cái da lưới này sẽ lộ ra vĩnh viễn .
Dịch từ : USN&WR July 17 2006 .