Showing posts with label bánh xe định mạng. Show all posts
Showing posts with label bánh xe định mạng. Show all posts

Saturday, June 7, 2025

 Thursday, september 22, 2011

BÁNH XE ĐỊNH MẠNG HAY CUỘC ĐỜI "LÊN VOI XUỐNG CHÓ" CỦA TÔI

Hiểu tức là nhớ lại -- Nhà toán học cổ Hy lạp Platon.

Thành La Mã ko thể xây trong 1 ngày -- châm ngôn Tây phương.


I/ Để có được kiến thức như hôm nay, tôi đã trải qua rất nhiều chông gai khó nhọc vì tôi đã gần như hoàn toàn TỰ HỌC.

1/ Trong sách Gia ngữ, đức Khổng Tử đã dạy như sau:

Người quân tử có ba điều phải nghĩ:

a. Lúc nhỏ nếu ko học, đến lúc lớn ngu dốt, ko làm được việc gì.

b. Lúc giàu mà ko biết bố thí, đến lúc khốn cùng chẳng ai cứu giúp.

c. Lúc già, nếu ko đem những điều mình biết để dạy kẻ khác, lúc chết chẳng ai thương tiếc.

2/ Trồng đậu thì được đậu, trồng khoai thì được khoai -- tư tưởng Phật giáo. 

3/ Những gì, mà bạn có được hay xảy ra đến với bạn, đều xuất phát từ kiếp trước. Dù bạn không thể thấy được kiếp trước nhưng tôi có thể nói chắc với bạn rằng chúng ko đến với bạn một cách ngẫu nhiên -- kinh nghiệm của bản thân .


II/ Thưa các bạn:

Tôi viết bài này để nói lên sự phấn đấu không ngừng của tôi, dù cho bịnh tật triền miên từ nhỏ. Tôi được ông bà dạy rằng: "ở đời không gì khó hơn học chữ"; bởi vậy tôi muốn khuyên các bạn trẻ phải không ngừng học tập; vì trong cuộc đời này, khi bạn đứng lại, tức bạn đã thụt lùi, vì kẻ khác sẽ vượt qua bạn. Bạn không nên nghĩ rằng cứ học tà tà rồi cũng vượt qua; kinh nghiệm cho thấy, học giỏi ở trung học chưa chắc đã giỏi ở đại học: một số học sinh của tôi chỉ học hết lớp 12 rồi nghỉ vì nói đại học Mỹ quá khó, học ko vô !

Chỉ có những em có năng khiếu hay có cha mẹ có trình độ đại học kèm cặp mới vững tiến vào con đường đại học. Trong cuộc đời này không có phép lạ đâu, các bạn trẻ ơi ! Bạn đừng bao giờ trông chờ cây cam trong vườn nhà bạn sẽ cho trái ngọt nếu bạn không thường xuyên tưới nước, chăm bón cây đó .

Khoảng 14 tuổi gì đó (vì gia đình tôi dọn về nhà số 6-8 Đỗ thành Nhơn quận tư Sài Gòn NGÀY 4 THÁNG 10 NĂM 1961, theo chỉ dẫn của chiêm tinh gia Trần Hữu Ích, và tôi đã bị bịnh nặng sau khi dọn về đây); tôi bị sốt cao, nằm mê man, muốn đi lại phải vịn vào thành giường. Từ đó về sau, tôi thường xuyên bị ốm đau. Người ta thì "lê gót khắp các sàn nhảy ở Sài gòn", còn tôi thì 'lê gót khắp các phòng mạch bác sĩ và bịnh viện'. Do bịnh nên thân thể ốm yếu, tay tôi hay bị rung nhẹ, không thể làm những việc đòi hỏi sự khéo léo (dexterity). Sau này qua Mỹ mới biết đó là hội chứng đường hầm cổ tay (carpal tunnel syndrome). Phản xạ lại quờ quạng, do vậy sau này, lúc ở quân trường, các đồng đội ít cho tôi tham gia các bài trung đội tấn công ngày, v.v... vì họ sợ cả trung đội bị phạt vì có một ' con vịt đẹt'.

Thuở nhỏ, vì quá dở, nên tôi đã không vào nổi đệ thất trường công. Tôi đã học các trường tư như Kiến Thiết, Hàn Thuyên, Hưng Đạo và Bồ Đề, đều ở Sài Gòn. Tôi chọn Pháp văn là sinh ngữ chánh, Anh văn phụ.

Tôi còn nhớ, lúc ở đệ thất thì học L' Anglais Vivant, các năm sau đó học các giáo trình như Practice Your English, Let's Learn English, v.v... Tôi chưa học quyển American Streamline, có lẽ sách này dành do các học sinh chọn Anh văn làm sinh ngữ chánh. Và gần như không có dịp nói chuyện với Mỹ, nên phát âm rất dở.

Khoảng lúc học đệ ngũ/đệ tứ gì đó, ba tôi có thuê 1 gia sư (précepteur), đã từng ở Pháp, về dạy Pháp văn cho tôi và Sĩ-người em kế của tôi; do đó tiếng Pháp của tôi khá nhứt lớp Pháp văn của thày Hoàng Cung. Lại nữa, lại có chú Trần Thể (lúc đó đang học kỹ sư điện tại Cao đẳng Phú Thọ) ở trọ nhà tôi, khuyên tôi nên đọc các sách toán bằng tiếng Pháp của các giáo sư Brachet và Lebossé và Une Réunion de Professeurs.

Nhưng tiếng Anh đã đến với tôi qua một con đường rất ĐỘC ĐÁO, nghĩa là không giống ai. Số là từ khi người Mỹ có mặt ở Sài gòn, khoảng đầu thập niên 1960, rải rác ở vỉa hè các con đường lớn như Lê lợi, Lê văn Duyệt, v.v... đã xuất hiện các nguyệt san như National Geographic, Life, v.v... nhưng tôi đặc biệt đam mê tạp chí National Geographic, viết tắt là NGS, vì chúng có nhiều hình ảnh, phần lớn là màu, giúp ta hiểu biết những đất nước xa lạ. Thế là thỉnh thoảng tôi mua 1 cuốn: khi đọc tạp chí này, chữ nào không biết thì tra tự điển Anh-Pháp Pháp-Anh. Tôi còn nhớ cháu Phượng cũng thích đọc nguyệt san này dù không hiểu nghĩa vì cháu chỉ khoảng 3-4 tuổi.

Có một lần, khoảng tuổi 16, trong khi đi dạo bên hông Bộ Công chánh Việt Nam Cộng Hòa, lề đường chỗ này rất lượm thượm vì không có hàng quán gì hết, trong khi bên kia đường thì toàn cửa tiệm, tôi thấy 1 chỗ có bày bán nhiều tạp chí này. Anh chủ, một người cụt tay, hỏi tôi muốn mua trọn bộ không? Tôi đồng ý. Thế là tôi đã ĂN CẮP tiền của cha mẹ để mua một bộ NGS từ cuối thập niên 1940 đến số mới nhứt, bao gồm bản đồ, các số đặc biệt, phải dùng xe ba gác chở về nhà. (Vì ba tôi có nhiều công trường xây dựng ở nhiều nơi khắp nước nên ông thường xuyên vắng nhà, má tôi thỉnh thoảng đi mua sắm hay phát quà tại viện cô nhi, v.v... (họ mời vì ba má tôi là mạnh thường quân), nên ba má giao cho tôi chìa khóa tủ tiền để đưa tiền cho thày thợ ở Sài Gòn khi họ có nhu cầu mua sắm, v.v... Họ chỉ cần đưa hóa đơn là tôi xuất tiền. Khi nào tủ tiền sắp cạn, tôi báo cho ba tôi để ông sai người ra ngân hàng lãnh tiền để bỏ vào tủ. Vì ba tôi tin tôi, nên ông không bao giờ hỏi số dư trong tủ là bao nhiêu, do vậy tôi lấy tiền mua sách mà ông không biết). (Sau năm 1981, có vợ chồng 1 cựu sĩ quan Mỹ, quen biết với em gái, đến thăm. Thấy bộ NGS này, ông nói, tôi là người Mỹ mà không có bộ sưu tập như vậy!)

Học hết đệ tam thì do bịnh quá nên mỗi năm tôi chỉ học đệ nhị tại trường tư thục Bồ Đề quận Nhì Sài Gòn vài tháng rồi nghỉ, dù đi học có xe nhà đưa rước, và tôi cũng học hàm thụ (by correspondence), họ gửi bài và tôi làm bài tập gửi cho họ. Học ba năm liên tiếp, khó khăn lắm tôi mới có Tú tài 1 vào năm 1966. Vì không thể đậu Tú tài 2 để vào đại học nên tôi đã nhập ngũ vào khóa 8/68 năm 1968.

Như đã nói, do thể chất yếu đuối, phản ứng quờ quạng nên ở quân trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, tôi thường trực phòng vào ngày có bài học đòi hỏi về thể chất như leo núi, v.v... Khi học các bài trung đội tấn công ngày hay đêm, không trung đội nào muốn tôi tham dự vì sợ phản ứng quờ quạng của tôi sẽ khiến cả trung đội bị phạt.

Ra trường năm 1969, tôi phục vụ tại Tiểu đoàn 53 địa phương quân tại quận Hốc Môn tỉnh Gia Định, và sau đó làm tại ban Thông tin Báo chí Biệt khu Thủ đô. Nhiệm vụ của tôi là đọc báo chí bằng  tiếng Anh hay Pháp. Nếu có bài nào nói đến quân đội VNCH hay thủ đô Sài gòn thì dịch và trình lên trung tướng tư lịnh Nguyễn văn Minh. Vốn sẵn khá 2 ngoại ngữ nên tôi rất thích hợp với công việc. Cũng do nghề nghiệp này nên đã có DUYÊN NỢ rất sớm về đề tài CHIẾN TRANH VN.

Đến năm 1973, vì một sĩ quan của sđ 7 bộ binh xin thuyên chuyển về Biệt khu Thủ đô, do tôi nhẹ gánh gia đình nên phải hoán chuyển với y. Tôi phục vụ tại TĐ 2/10 thuộc sđ 7. Vì không có kinh nghiệm chỉ huy và tác chiến, tôi đã bị một số sĩ quan ở đơn vị này coi thường. Tôi ko lấy làm buồn vì nghĩ rằng mình quá dở nên mới bị như vậy. Tôi dặn người nhà, mỗi tháng ra sạp báo lấy cho tôi 1 quyển NGS. Tôi suýt quên, thời gian làm việc ở SG, tôi đọc nhiều tạp chí như Life, Time, Newsweek, Paris-Match, Historia, v.v... Tóm lại , lúc đó tôi đã là mọt sách (bookworm) rồi. Sách báo về KHKT, chiến tranh VN, y khoa (vì đọc để tìm hiểu bịnh của mình), khảo cổ, nền văn minh ngoài trái đất, v.v... đầy ắp 2 tủ sách, xem hình. Trong hình, ko còn nhiều sách báo vì sau 75, ba tôi đem sách báo về chiến tranh VN đem đốt hay cân ký, tuy nhiên ông vẫn giữ nguyên bộ NGS vì ông thích bộ này. Để che mắt CA, ông lấy trang bìa của Newsweek có hình HCM, xem hình, để lộng kiếng và treo ở nơi trang trọng trong phòng khách. Tuy thể chất yếu đuối, ko rành về quân sự, nhưng tôi có trí nhớ rất tốt, đến độ chỉ cần ai đó nói 1 đề tài gì, tôi sẽ lấy 1 tạp chí hay 1 cuốn sách có bài về đề tài đó.

Thời gian đi tù sau 1975, tôi hay chơi môn 'scrabble' rất xuất sắc với các anh bạn tù - là giảng viên văn hóa của Võ bị Đà lạt và có bằng cao học tại Mỹ hay Úc hay New Zeland. Môn này đòi hỏi phải có ngữ vựng phong phú về tiếng Anh. Vì kiến thức tổng quát quá nhiều, tôi còn được một số bạn tù gọi là "tự điển sống".

Ra tù năm 1981, tôi dạy Anh văn (AV) cho 1 đứa cháu đang học lớp 12, để lấy chứng chỉ trung cấp của quốc gia về Anh văn. Tôi đã giúp nó làm bài đặc sắc đến độ thày giáo sinh nghi và hỏi cháu tôi như sau "Ai đã giúp trò làm các bài này?" Cháu tôi trả lời đó là bác tôi, mới ra tù.

Thời gian sau đó, tôi có vài ba năm trong nghề xây dựng; nhưng đam mê chánh vẫn là đọc sách (bằng tiếng Anh và Pháp) về đủ mọi đề tài như khảo cổ, tử vi dân bản địa Mỹ, y khoa, vật lý, điện, cơ học, kiến trúc, xây dựng, cơ khí xe hơi, v.v... Lúc bấy giờ lại có thêm sách KHKT từ Liên xô và các nước XHCN đưa qua, vừa tiếng Anh và Pháp. Do đó, tuy chưa bao giờ lái một chiếc Honda Dame 50 phân khối vì ko quen sang số; thế mà khi người em rể tên Quan đưa cuốn cẩm nang của chiếc moto mấy trăm phân khối mới tinh, nhờ tôi dịch giùm, tôi dịch rất trôi chảy.

Thỉnh thoảng đọc sách báo, khi gặp từ nào ko hiểu, thay vì tra tự điển hay tự điển ko có sẵn, tôi dựa vào NGỮ CẢNH (context) của cả câu mà đoán nghĩa của từ đó. Cũng có lúc, gặp chỗ nào ko hiểu, tôi bỏ qua và đọc đoạn kế tiếp. Sau này , đọc sách mới biết đó cũng là một phương pháp đúng để học ngoại ngữ. 

Có lẽ có bạn thắc mắc tại sao tôi thích đọc sách y khoa. Vì quá nhiều bịnh, thường xuyên uống thuốc nên tôi đọc sách y khoa để tìm hiểu về bịnh lý củng như cách trị liệu. Tóm lại, ngữ vựng về y khoa của tôi cũng khá, mặc dù ko thể nào so sánh với các bs, đã học hành có bài bản.

Từ năm 1990 -1994, tôi làm thông dịch viên cho một người Pháp - làm việc cho 1 tổ chức phi chính phủ (ONG). Tôi nói tiếng Pháp ko bằng dân học trường tây J.J.Rousseau hay Marie-Curie nhưng vẫn được dùng vì kiến thức rộng rải.

Qua Mỹ, được 1 tháng, tôi giúp một người thi nghành nail qua việc dịch những bài về cơ thể học (anatomy) từ 1 cuốn sách dầy cộm.

Năm 1996, tôi đậu vào trường ĐH cộng đồng West Valley ở San Jose với hạng cao, nhưng ko học vì lý do sức khỏe.

Năm 1998, vì bà con của một gia đình VN mới qua Mỹ năn nỉ quá, tôi đã dạy toán và Anh văn cho năm em của gia đình này. Tuy chỉ có 5 em nhưng trình độ khác nhau nên coi như tôi dạy năm lớp. HS có lúc trên 15 người vì có bạn bè của các em này. Tôi dạy rất trôi chảy; mặc dù đã hơn 30 năm ko ngó ngàn tới môn đại số và hình học thời trung học.

Sau đó, tôi bắt đầu nghiên cứu Lý thuyết Số/LTS (Numerology), một khoa tử vi xuất phát từ cổ Hy lạp (có trước Công nguyên). Sở dĩ tôi tin và truyền bá LTS đến bạn bè và bà con vì nó đã nói chính xác về tính tính và số mạng của tôi và một số người khác. Qua LTS, tôi đã biết ba người đưa đến sự sụp đổ của VNCH (TT Thiệu, TT Khiêm và tướng Phú) đều có tên bằng số 13 và những ảnh hưởng của số này đối với nước VN.

Khoảng năm 2001-2002, vì nhà gần thư viện lớn nhứt của SJ nên tôi tập tành xử dụng máy tính. Sau đó vài năm tôi mua được 1 máy tính cũ hiệu HP, chạy Windows XP. Vì máy hay bị hư, tôi tập sửa bằng cách vào thư viện, và tìm trên mạng cẩm nang (manual) của máy này và in lại những đoạn chỉ dẫn cách mở máy, cách thay thế ổ cứng, memory module, optical drive, bộ nguồn, thẻ âm thanh (sound card), v.v... Tôi đã từng tháo tung cái HP này, sau đó ráp lại, máy vẫn chạy. Sau này hệ điều hành Windows XP bị hư, tôi đã xài HĐH Linux. 

Sau đó, một học trò cho tôi  1 laptop hiệu Gateway bị hư. Khi xách về nhà, tôi cứ nghĩ là xách 1 khúc củi vì tôi chưa bao giờ biết xử dụng laptop và cũng chẳng có manual của máy này. Thế là vào thư viện, in lại các đoạn chỉ dẫn cách thay pin, v.v...sau đó, đặt mua AC adapter. Cả tháng sau máy mới chạy vì tôi chờ cái adapter này gửi về.

Sau đó, bạn bè có PC hay laptop hư nhờ tôi sửa. Tôi sửa ko lấy tiền, và nhiều khi thức tới 2-3 giờ sáng để sớm giao máy và còn cho đồ phụ tùng như keyboard, wireless mouse, wireless adapter, USB flash drive, USB hub, print server (gần 40 đô), v.v...

Khi sửa máy, chỗ nào ko biết tôi đọc sách hay đặt câu hỏi, bằng tiếng Anh, trên mạng . Thông thường có đến gần chục câu trả lời. Tôi áp dụng từng câu vào trục trặc của máy mình; nếu ko được thì áp dụng câu thứ hai và các câu kế tiếp. Nguyên tắc của tôi là nếu ko sửa được phụ tùng đó, thì cũng ko nên làm hư bất cứ một phụ tùng khác; tránh nạn ' trâu lành thành trâu què'. Có nhiều laptop ko có manual hay có mà ko đầy đủ, tôi phải tìm trên mạng 1 laptop có cấu trúc tương tự để áp dụng vào máy đang sửa.

Tôi đã từng sửa các laptop hiệu Gateway, Dell, Lenovo, HP, Fujitsu, Toshiba, Acer , v.v...

Thỉnh thoảng tôi giúp bạn bè điền đơn từ bằng tiếng Anh; trước kia tôi còn đi thông dịch nhưng nay do nướu teo lại răng giả ko bám được, nói tiếng Anh khó nghe nên ko làm. 

Những người nhờ tôi sửa máy, có người rất giỏi tiếng Anh, trình độ đại học nhưng họ lại gần như mù tịt về vi tính. Trong khi nhiều người khi gỏ máy thì dùng cả 10 ngón, còn tôi thì chỉ dùng 1 ngón; nhưng nhờ quen mặt phím nên tôi gỏ chữ cũng nhanh. Tôi đã từng thay màn hình của 1 laptop, rất công phu, mất thời giờ, vì tay tôi ko khéo léo như người khác. Tuy nhiên, với sự chịu khó, tôi vẫn thành công.

Tôi đã từng sửa biết bao laptop cho bạn bè cũng như sửa laptop hư cũ, để cho người mới qua hay ko có máy dù đã ở Mỹ khá lâu. 

Tôi có thể kết luận: mặc dù thể chất yếu đuối, bịnh tật triền miên từ nhỏ, chỉ ngồi ghế nhà trường hết năm đệ Tam, mấy năm đệ nhị chỉ học vài tháng, nhưng do học tiếng Anh bằng cách đam mê đọc sách, đặc biệt về KHKT, tôi đã: 

- sánh vai cùng những anh chị em tốt nghiệp đại học tại Mỹ về ngữ vựng tiếng Anh. 

- dạy toán và Anh văn. 

- giúp bạn bè láng giềng làm đơn từ dịch thuật và vi tính. 

- biết sửa chữa pc và laptop. 

- giúp bạn bè láng giềng về phone và máy tính bản.

Nói thêm: theo 1 tài liệu, để nói được tiếng Anh với những đề tài thông thường, bạn chỉ cần biết khoảng 3-4 ngàn từ; để viết được tiếng Anh , bạn phải biết khoảng 100 ngàn từ; và để đọc được tiếng Anh, bạn phải biết gần nửa triệu từ . Tài liệu này được công bố khi computer và internet còn phôi thai; nay với hai kỹ thuật mới này, ngữ vựng tiếng Anh, mỗi ngày mỗi nhiều, ko còn đứng ở con số nữa triệu nữa. Năm 1994, khi mới sang Mỹ , tôi đã gặp nhiều sq, đã học hết bậc trung học khi ở VN; lúc qua Mỹ , họ ko thể đọc nỗi một nhựt báo bằng tiếng Anh ! Thành ra, họ xoay qua làm assembler về electronics, hay đi bỏ báo, v.v... Chỉ có những sq nào, có căn bản Anh văn từ ở VN, thì mới có thể thi đậu vào các ĐH cộng đồng; nhưng họ chỉ học thêm một số ngữ vựng liên quan đến nghành học của họ. Có một số rất ít, do phấn đấu đặc biệt, đã leo lên những chức vụ cao hơn. 

Hiện nay về dịch thuật đề tài chiến tranh VN, chỉ có tôi và BĐQ Vũ Đình Hiếu (trước 75 thuộc LĐ 22 BĐQ). Hình như trước năm 1975, ông có trình độ ĐH, cấp bực chuẩn úy và di tản trước ngày 30.4.75. Ông thích dịch các đề tài về BĐQ và lực lượng đặc biệt VNCH. Nhưng hiện ông ko thường xuyên có bài như tôi, có lẽ đã chán nản về đề tài này. Ngoài ra còn có ông Đỗ văn Phúc, trước đây là thông dịch viên cho LLĐB Mỹ ở Quảng Trị, sau đó về trung đoàn 8 của sđ 51, sau này chuyển qua không quân, làm việc trên máy bay C-130. Ông này sau 75 cũng đi tù. Qua Mỹ ông dịch 1 số bài về chiến tranh VN. Tóm lại, nếu tôi ko lầm, hiện nay tôi là người duy nhứt tại Mỹ THƯỜNG XUYÊN dịch đề tài này. Tất cả cũng nhờ ĐAM MÊ, dù sức khỏe suy yếu nhiều với nhiều bịnh của tuổi già. 

San Jose ngày 23/09/11 lúc 0022 am. Cập nhật ngày 7/6/25. 

Thursday, June 5, 2025

 Chuẩn bị đi Mỹ từ lúc 16 tuổi.

Vì mê những tạp chí National Geographic từ nhỏ, nên ở tuổi, tôi đã ĂN CẮP tiền của cha mẹ để mua 1 xe ba gác các nguyệt san này. Do giỏi tiếng Pháp, nên dùng tự điển Anh-Pháp Pháp-Anh để tìm hiểu những từ ko biết. 

Khi vào QĐ, vì ba tôi có nhiều bạn bè làm về hành chánh tài chánh nên ông khuyên tôi vào ngành này để có chữ thọ; tôi trả lời 'rất sợ các con số', do đó ko theo ngành này. 


Wednesday, June 4, 2025

BÁNH XE ĐỊNH MẠNG - CUỘC ĐỜI ĐẦY KỊCH TÍNH* CỦA TÔI

* Nghĩa là liên tục "lên voi xuống chó".
- Tôi tư duy, tức là tôi tồn tại (Cogito, ergo sum) -- Triết gia và toán học gia Descartes.
- Không nơi nào dấu của cải bằng cái đầu của bạn -- Kinh nghiệm bản thân.
- Hiểu tức là nhớ lại -- Triết gia Platon.
- Thành La Mã ko thể xây trong một ngày -- Tục ngữ Tây phương.
- Tôi hay nói với bạn bè, tiếng Anh là tôi HỌC CHƠI, chứ tiếng Pháp mới là HỌC THIỆT. Ấy vậy, mà tôi đã và đang "ăn nên làm ra" vì việc học chơi này.
Hiện nay niềm vui của tôi là tìm hiểu về chiến tranh VN bởi lẽ đơn giản là từ khi tôi có trí khôn, cuộc đời tôi đã bị tác động MẠNH MẺ, nếu ko nói đầy KỊCH TÍNH (khi tôi đang làm văn phòng ở gần nhà, sáng đi chiều về, nhưng sau đó phải ra đv tác chiến; tôi đã ĐI TÙ gần 6 năm trong đói lạnh, tài sản đồ sộ của ba tôi đã tan thành mây khói, v.v...), cũng bởi cuộc chiến tranh này.
Đầu tiên, dù bịnh tật triền miên từ lúc 14 tuổi, đến năm 21 tuổi, khi xảy ra Trận Mậu Thân 1968, tôi vẫn đủ sức khỏe để nhập ngũ (dù ko vác nổi khẩu Garant M-1 trong giai đoạn đầu ở quân trường). Tôi đã rời quân trường năm 1969 với cấp bậc chuẩn úy. Sau khi phục vụ nhiều đv, phần lớn làm văn phòng, cuối cùng tôi ở 1 đv tác chiến của trung đoàn 10 sđ 7 bộ binh (nghĩa là cũng vào sanh ra tử, từng đánh qua Cam bốt năm 1974, và suýt tan xác ngày 10/3/1975 tại Kinh Bằng Lăng Cái Bè -- đã viết và đăng trên YouTube).
Tôi quên nói, lúc ở VN trước 1975, dù đang đi lính, nhưng lúc rảnh rổi, (vì có lúc làm việc tại SG từ 1969-73), tôi đọc rất nhiều sách báo về KHKT, văn chương và văn phạm Anh ngữ, y khoa (do bịnh nhiều), ngoại cảm, khảo cổ, chiến tranh VN, v.v... bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. (Vì tôi học TRƯỜNG TƯ, chọn Pháp văn là sinh ngữ chánh, mà có gia sư đến nhà dạy kèm). Tiếng Anh tôi giỏi là do TỰ HỌC từ lúc 16 tuổi (bằng cách ĂN CẮP tiền của cha mẹ để mua 1 xe ba gác toàn nguyệt san National Geographic của Mỹ, kèm theo đầy đủ bản đồ, từ 1 ông bán sách cụt tay ở bên hông Bộ Công chánh VNCH Sài Gòn). Chứ chương trình Anh văn ở lớp chỉ là Let's Learn English, chưa học tới English For Today. Để hiểu tiếng Anh, tôi phải dùng tự điển Anh-Pháp Pháp-Anh. Cũng vì do tự học, nên tuy đọc được sách Anh-Mỹ nhưng nói rất dở vì ko thực tập nói chuyện với Mỹ -- ko như những ai học Hội Việt Mỹ, v.v... Tuy nhiên, nhờ tự học nhiều ở VN, khi tới Mỹ, tôi lại có thể nghe và hiểu các cassette hay CD của American Streamline. Có lẽ tôi có thể HIỂU được là do NHỚ LẠI những gì mình học trong các kiếp trước. Tôi hay nói với bạn bè, tiếng Anh là tôi HỌC CHƠI, chứ tiếng Pháp mới HỌC THIỆT (nhờ vậy trước khi đi Mỹ, làm thông dịch 4 năm cho Pháp). Ấy vậy, mà tôi đã và đang "ăn nên làm ra" vì việc học chơi này!
Ra tù năm 1981, tôi đã dạy Anh văn cho đứa cháu, điền đơn giúp bạn bè gửi TĐS Mỹ ở Bangkok, và làm thư ký đánh máy cho một HTX xây dựng. (Lúc đó, cháu tôi học lớp 12, đang học lớp luyện thi chứng chỉ trung cấp quốc gia về Anh văn. Tôi dạy nó về văn phạm và văn chương. Một hôm thày giáo nói 'Bài tập của tôi rất khó, mà em làm được, phải có kẻ giúp', cháu tôi trả lời 'đúng như vậy'. Ổng hỏi 'là ai', nó trả lời 'là bác ruột, mới cải tạo về').
Thời gian đó, có bao nhiêu tiền, tôi mua sách về các đề tài nêu trên bao gồm sách của các sở Mỹ trước 75, sách của những người bỏ nước ra đi và sách từ các nước XHCN (sách này rất rẻ, đến độ, người ta bán cân ký, sau khi tháo bìa cứng!).
Qua Mỹ tôi dạy Toán và Anh Văn trong 3 năm cho những học sinh mới sang Mỹ. Sau đó tôi tự học về computer. Từ chỗ ko biết gì về computer, tôi đã sửa chữa computer.
Từ ngày về chúng cư người già từ cuối năm 2012, đầu năm 2013, tôi giúp đỡ láng giềng và bạn bè về đơn từ, dịch thuật, vi tính và smartphone kể cả iPad và các loại tablet khác.
Khoảng 4-5 năm trở lại, tôi dịch các bài về chiến tranh VN để gửi đăng trên YouTube. Nói chung nhờ có vốn liếng cũng như ĐAM MÊ về ngoại ngữ và khảo cổ, mà đam mê là yếu tố quan trọng vì rất nhiều người giỏi Anh và Pháp văn hơn tôi nhưng họ ko có đam mê hay hứng thú để dịch thuật về đề tài này (rất khô khan).
Trước khi về chúng cư này, tôi đã nhiều lần nhập viện khẩn cấp vì nhức đầu do căng thẳng. Lúc đó tôi đã định ko dùng computer vì nghĩ rằng bịnh này sẽ tái phát nếu còn dùng computer. Nhưng từ từ, các cơn nhức đầu giảm dần rồi biến mất -- tuy nhiên lúc nào trên đầu giường cũng có 1 hộp Naproxen 375 mg. BS nói thuốc rất độc hại vì lâu ngày sẽ làm thủng dạ dầy hay gây nghiện.
TB. Nghĩ sao viết vậy, trong lúc trời nóng, nên tôi đã ko sắp xếp hợp lý ý tưởng của mình.
Viết trong buổi chiều với nhiệt độ trên 90 độ F.
SJ ngày 31/5/2025, cập nhật ngày 4/6/2025.

Friday, May 20, 2022

 Jane Seymour Fonda[1] (sinh ngày 21 tháng 12 năm 1937) là một nữ diễn viên, nhà văn, nhà hoạt động xã hội, cựu người mẫu thời trang người Mỹ. Bà đã 2 lần đoạt giải giải Oscar. Năm 2014, Bà vinh dự được trao giải Thành tựu trọn đời của Viện Điện ảnh Mỹ*.

Jane = 1155 = 12 = 3

Fonda = 87541 = 25 = 7

Cộng lại: 3 + 7 = 10 = bánh xe định mạng. 


*Fonda bắt đầu sự nghiệp bằng một vai diễn đầu tay ở Broadway năm 1960 mang tên "There Was a Little Girl" và nhận được giải Tony đầu tiên trong 2 đề cử. Cùng năm đó, bà lần đầu xuất hiện trên màn ảnh lớn trong bộ phim Tall Story. Danh tiếng của bà ngày một vang xa trong suốt thập niên 1960, tham gia nhiều bộ phim như: Period of Adjustment (1962), Sunday in New York (1963), Cat Ballou (1965), Barefoot in the Park (1967) và Barbarella (1968). Người chồng đầu tiên của bà là đạo diễn Roger Vadim. Bà từng 7 lần được đề cử giải Oscar danh giá, lần đầu tiên trong They Shoot HorsesDon't They (1969). Sau đó thắng 2 giải ở hạng mục Diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim Klute (1971) và Coming Home (1978). Một số đề cử khác trong Julia (1977), The China Syndrome (1979), On Golden Pond (1981) và The Morning After (1986). Bà cũng giành được giải giải Emmy cho bộ phim truyền hình The Dollmaker (1984), 2 giải BAFTA cho phim Julia và The China Syndrome và 4 giải Quả cầu vàng.

Năm 1982, Bà phát hành video thể dục dụng cụ đầu tiên mang tên Jane Fonda's Workout, trở thành video bán chạy nhất mọi thời đại. Nó là video đầu tiên trong tổng số 22 video thể dục dụng cụ được Bà phát hành trong suốt 13 năm đạt ngưỡng 17 triệu bản. Sau khi chia tay hôn phu thứ 2 là Tom Hayden, Bà kết hôn với tỷ phú truyền thông Ted Turner vào năm 1991 và tuyên bố giã từ sự nghiệp diễn xuất. Ly dị với Turner vào năm 2001, Bà trở lại diễn xuất sau 15 năm vắng bóng với phim hài Monster in Law (2005), và những bộ phim sau này như: Georgia Rule (2007), The Butler (2013) and This Is Where I Leave You (2014). Năm 2007, Bà trở lại với sân khấu Broadway sau hơn 45 năm vắng bóng với vở kịch 33 Variations, mang về cho bà thêm 1 đề cử giải Tony. Bà cũng tham gia vào series phim truyền hình của HBO mang tên The Newsroom (2012-2014) và giành được 2 đề cử Emmy. Phát hành thêm 5 đĩa thể dục dung cụ khác trong giai đoạn 2010-2012.

Fonda là một nhà hoạt động chính trị hữu hình trong kỷ nguyên phản văn hóa trong Chiến tranh Việt Nam. Bà được chụp ảnh đang ngồi trên một khẩu súng phòng không của miền Bắc trong chuyến thăm Hà Nội năm 1972,[2] trong thời gian đó bà có được biệt danh "Jane Hà Nội". Ngoài ra Bà còn tham gia phản đối chiến tranh ở Irad, bạo lực đối với phụ nữ, và bảo vệ nữ quyền. Năm 2005, Fonda cùng với Robin Morgan và Gloria Steinem đồng sáng lập ra Women's Media Center, một tổ chức nêu cao tiếng nói của người phụ nữ qua các phương tiện truyền thông, Bà hiện vẫn đang làm việc trong hội đồng quản trị của tổ chức này. Fonda xuất bản cuốn tự truyện đầu tiên vào năm 2005. Năm 2011, Bà xuất bản một cuốn hồi ký thứ hai, Prime Time.

Wednesday, November 3, 2021

CẢ VŨ TRỤ NÀY ĐƯỢC CAI QUẢN BỞI CÁC CON SỐ.

- Nhờ biết về LTS, tôi ko buồn về cuộc đời "lên voi xuống chó" của tôi!


Vì theo LTS, tên tôi cộng lại 10 mà ý nghĩa là "Bánh Xe Định Mạng" (Wheel of Fortune) nên cuộc đời tôi lên xuống (ups and downs) LIÊN TỤC. Tôi kể vài ví dụ.
Năm 1968, do Trường Bộ Binh Thủ Đức ko còn chỗ nên khoảng hai tiểu đoàn khóa sinh dự bị SQ phải đi tàu ra trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang để học tiếp.
Ngay trong tuần lễ huấn nhục đầu tiên, tôi đã được một xe Jeep quân cảnh (QC), do một thiếu úy QC lái, đến đại đội tìm tôi để chở tôi ra Nha Trang chơi (ở nhà ông Nguyễn văn H. bạn của ba tôi). Sau này mới biết là do lịnh của trung đoàn phó khóa sinh (KS).
Giấy phép của tôi cũng do ông này ký vì ông Vĩnh Sô, nhân viên của ba tôi tại Nha Trang từng là thiếu tá trung đoàn phó KS ở đó. Ông này nghe nói sau này chỉ huy nhân dân tự vệ ở Nha Trang, có con du học ở Nhật trước 75, sau 75 ko biết tông tích ông. Lúc đó, Trung tá Cao Nguyên Kiểu là trung đoàn trưởng KS. (Từ 1979-1981, tôi cùng buồng giam với ông tại trại Nam Hà B. Ông được vợ Pháp bảo lãnh nên sau đó đi Pháp).
Trong thời gian thụ huấn, ba tôi cho ng ra quân trường để hỏi tôi muốn lấy vợ ko, tôi từ chối bây bẩy, trả lời rằng "đang thụ huấn QS mệt thấy mẹ, ko biết cuộc đời sẽ đi đâu, mà lấy vợ bây giờ, v.v..."
Có lần, nhân dịp Noel, ba tôi cho người mang mấy hộp bánh kẹo đắt tiền của Pháp cho tôi, tôi chia cho cả đại đội.
Vì hồi đó, mỗi ngày đi bãi hai lần, buổi tối còn phải luyện thi cuối khóa--do trung úy đại đội trưởng dạy, rất tiếc tôi quên tên ông này. Chúng tôi lúc đầu rất ghét ông trung úy này, cho rằng ông đày đọa tụi tôi vì trên nguyên tắc, buổi tối là giờ tự do, chúng tôi có thể kéo nhau lên câu lạc bộ ăn uống thoải mái. Hai ngày cuối tuần được nghỉ ngơi và đi phép: trong khi các bạn tôi đi phép do đại đội trưởng ký, tôi luôn đi phép nhiều giờ hơn do trung đoàn phó ký.
Do tôi bị điểm thấp khi vượt qua các chướng ngọai vật và điểm bắn súng thấp nên tôi có điểm thấp nhứt đại đội khi thi cuối khóa, nhưng đại đội tôi lại được điểm cao nhứt trong tám đại đội của hai TĐ sinh viên SQ--đó là nhờ những lớp học vào buổi tối của trung úy đại đội trưởng. (Khi cuối khóa ổng tâm sự, tôi biết lúc đầu các anh ghét tôi nhưng bây giờ các anh cám ơn tôi. Nếu tôi ko kèm cặp các anh mỗi tối, khi thi sẽ mãn khóa sẽ đậu thấp). Lúc lên chọn đv, mấy chỗ tốt người ta lấy hết, các anh sẽ đi các sư đoàn bộ binh xa nhà, v.v...
Tại hội trường, sau khi cả đại đội của tôi về hết, tôi lên chọn đv. Những chỗ tốt thì đại đội tôi đã chọn hết, trong lúc phân vân ko biết chọn đv nào trên tấm bảng to đùng thì một đại úy mang phù hiệu của bộ TTM đến gần tôi và nói: Anh nên chọn TĐ 53 ĐPQ, tôi hỏi, nó ở đâu, ổng trả lời, tiểu khu Gia Định.
Vì là người cuối cùng của đ.đ. lên chọn đv nên khi về đ.đ., mọi người đều hỏi: Mày chọn đv nào, tôi trả lời ko suy nghĩ, tao chọn SƯ ĐOÀN 7. Bạn bè nói: Thằng Tài chịu chơi quá, tôi trả lời, tôi thích sđ này. Ngày hôm sau, có sự can thiệp của trung đoàn phó KS, tôi trả súng và quân trang cho đại đội và đi máy bay Air Vietnam về SG. Bạn bè phải chờ có phương tiện quân sự để về nhà nghỉ ngơi hai tuần trước khi ra đv.
TĐ 53 ĐPQ đóng ở phía tây sân bay TSN và có nhiều đại đội--một đ.đ. ở Thạnh Lộc Thôn, phía bắc Xóm Mới. Bên kia sông là Lái Thiêu. Vùng này từng là chiến khu An Phú Đông nổi tiếng của VMCS trước 1954 nhưng nay an ninh vãn hồi. Ở đây mỗi ngày tôi dẫn trung đội đi HQ, sáng đi chiều về, gần như ko gặp VC--dù năm 1968, trận chiến ác liệt ở đây. Những tưởng tiếp tục làm trung đội trưởng thì một ngày đẹp trời nào đó, có lịnh của TĐ bảo chuẩn úy Tài trình diện TĐ, lý do cho biết sau. Tôi về BCH đại đội, đ.đ. trưởng đi vắng nên trung sĩ thường vụ ký sự vụ lịnh tôi trình diện BCH TĐ. Sau đó tôi trình diện Khối CTCT/BTL Biệt Khu Thu Đô.
Về đây tôi làm Ban Báo Chí, hằng ngày có nhiệm vụ đọc các bản tin quân sự (news release) do MAC-V cung cấp để xem có tin nào nói về BKTĐ thì trình Tư Lịnh (TL). Chúng tôi cũng thường xuyên đọc báo Mỹ để xem họ đã viết thế nào về QĐ VNCH để trình TL. Nếu có nhà báo quốc tế muốn làm phóng sự với đv nào trong lãnh thổ BKTĐ thì tôi hay trưởng ban đi. Năm 1971, khi tướng Trí tử nạn trực thăng, báo Mỹ nói rất nhiều về đề tài này và chúng tôi phải dịch để trình TL--mà phần lớn là danh từ kỹ thuật của trực thăng. Cũng vì CÁI NGHIỆP báo chí QS này nên tôi theo dỏi rất kỹ các trận đánh trong năm 1972 tại An Lộc, và Quảng Trị. Vì tướng Minh lúc đó vừa là TL/BKTĐ kiêm TL/QK3.
Có thời gian khoảng một năm, tôi biệt phái sang làm Khối CTCT của Tòa Đô Chánh/Phân khu Đô thành, bây giờ là UBND TP.HCM. Thời gian làm việc ở đây rất sướng vì gần các nhà hàng sang trọng như La Pagode (góc Lê Thánh Tôn-Tự Do) hay nhà hàng Thanh Bạch hay một số nhà hàng trên đường Lê Lợi. Mỗi buổi sáng tôi ăn điểm tâm ở nhà hàng La Pagode, hôm nào trực thì ăn tối tại một nhà hàng Tàu đường Lê Lợi. Do gia đình giàu có, độc thân, lương trung úy nên cuộc sống, tuy ko vương giả như các quan CS bây giờ nhưng ko túng thiếu vì cũng có tiền mua báo Mỹ hàng tuần ở một sạp gốc Lê Lợi và Nguyễn Huệ hay sạp báo ở kế La Pagode.
Lúc đó tôi và trung úy Thế làm chương trình TV Tiếng Nói Thủ Đô của Tòa Đô Chánh nên tiếp xúc với ca sĩ cũng nhiều cũng như các ban văn nghệ của các trường nữ sinh như Gia Long, Trưng Vương. Khoảng năm 1973, một sq thuộc SĐ 7 xin đổi về BKTĐ và nơi đây cử tôi đi thay thế vì tôi nhẹ gánh gia đình.
Người nhà tôi gặp tướng Tần, TL sđ 4 không quân ở Cần Thơ nhưng ông này bó tay và nói "nếu Tài ở các sđ 9 hay 21 bb thì rất dễ dàng, tôi nói một tiếng thì được nhưng sđ 7 của ông Nam thì vô phương".
Thế là tôi mang ba lô trình diện sđ 7 ở Đồng Tâm -- một đv mà trước đó 4 năm tôi ĐÃ NÓI TRƯỚC. Và sau đó tôi về TĐ 2 trung đoàn 10 sđ 7 bb--đây là đv từng được chọn là TĐ bộ binh XUẤT SẮC NHỨT, đại diện cho cả QĐ 4 về SG dự lễ duyệt binh ngày 19/6 năm 1972 (lúc đó tôi chưa về đv này). Do làm VP từ ngày ra trường nên tôi rất lúng túng khi ra tác chiến. TĐ trưởng ko dám cho tôi cầm quân, trong khi nhiều thiếu úy đã nắm đại đội. Do tôi ở nghành CTCT nên TĐ trưởng cho tôi làm ban 5. Trong 3 trung đoàn của sđ 7, ban 5 của trung đoàn 11 và 12 thì ở hậu cứ; chỉ có trung đoàn 10 thì đi theo hành quân nhưng chẳng làm gì vì làm sao dám tập hợp 1 đại đội để tôi nói chuyện (để ăn pháo à). Vả lại, lúc dừng quân, lính và quan của đv tác chiến này thích nhậu nhẹt nghỉ ngơi, ko ai thích học tập CTCT gì cả. Trung đoàn này mang số 10--cũng là Bánh Xe Định Mạng của tôi.

Saturday, August 21, 2021

 Barack Hussein Obama II (/bəˈrɑːk hˈsn ˈbɑːmə/ (About this soundlisten) bə-RAHK hoo-SAYN oh-BAH-mə;[1] born August 4, 1961) is an American politician and attorney who served as the 44th president of the United States from 2009 to 2017.

BARRACK = 2122132 = 13 = 4

OBAMA = 72141 = 15 = 6

Cộng lại: 4 6 = 10 = bánh xe định mạng. 


Monday, February 22, 2021

Bánh xe Định Mạng (The Wheel of Fortune)

Số 10 được tượng trưng bởi Isis và Osiris. Một số của thăng trầm, tùy theo ước muốn cá nhân. Sự việc có thể tốt hay xấu, tùy theo hành động đã chọn. Số 10 có thể kích thích (arouse) những đáp ứng (response) quá mức trong tình yêu hoặc thù hận – kính trọng hay sợ hãi. Không có biên giới rõ rệt giữa danh dự và tủi nhục. 10 là tượng trưng của Tình yêu và Ánh sáng, có thể tạo ra tất cả những gì bạn có thể tưởng tượng hoặc hình dung (imagined). Hãy tưởng tượng (image) một điều gì đó và ra lịnh/quyết định (ordain), nó sẽ thành hiện thực (materialize). Quyền lực để bày tỏ những quan niệm có tính sáng tạo (creative concepts) trở thành thực tế là cố hửu (inherent), nhưng quyền lực này phải được dùng với sự khôn ngoan, bởi vì quyền lực của sự sáng tạo tuyệt đối này cũng chứa đựng quyền lực đối nghịch ( polarity power) của sự hủy diệt tuyệt đối. Tự làm chủ mình (self-discipline) và lòng thương người vô hạn (infinite compassion) phải đi kèm quyền lực thứ nhứt để tránh thảm kịch của quyền lực thứ hai. Kỷ luật (Discipline) phải đi trước Thực thi quyền hành (Dominion). Bất hạnh thay, một số người thuộc nhóm 10 đã không thực hiện được quyền lực đầy tiềm năng này, và kết quả là đã ấp ủ (harbor) những cảm xúc thất vọng khó lay chuyển (deep-seated), đã làm cho họ cảm thấy không thỏa mản (unfulfilled), và thỉnh thoảng đã bày tỏa sự hơi hãnh diện và kiêu căng để che dấu những cảm giác tự ty không cần thiết./.
Tạm dịch từ:


Monday, August 12, 2019

Những ngày tù chung với ông Đạo Dừa
* Viết theo lời kể của Joseph Cao ở Paris để tặng những chiến sĩ can trường của đất nước.

Tôi biết về ông Đạo Dừa rất ít.

Trước kia, có một dạo tôi hiểu lầm ông. Nói hiểu lầm thì không đúng lắm: Tôi đã đánh giá sự đấu tranh của ông một cách phiến diện, hời hợt. Tôi được biết ông tên Nguyễn Thành Nam, một nhà trí thức tân tiến, đỗ bằng kỹ sư Canh Nông ở Pháp, có tinh thần ái quốc cao. Ông thành tài về nước, không làm việc cho Pháp, dấn thân vào cuộc cách mạng dân tộc. Vào thuở tôi còn mài đũng quần nơi những lớp trung học Pháp, tên tuổi của ông đã lẫy lừng, tương lai rạng ngời hào quang. Người Pháp ở Đông Dương rất ưu đãi dân thuộc địa thông thạo Pháp ngữ. Từ các công sở đến tòa án, hễ ai nói thông được tiếng Pháp kể như nắm được chiếc chìa khóa vàng trong tay, vào cửa nào cũng thông cũng lọt. Huống chi đối với những nhà khoa bảng xuất thân từ những đại học ở "chánh quốc" áo gấm về nước! Với cái tài ấy, cái thế ấy, giá khéo luồn lọt một tí, làm gì chẳng thừa miếng đỉnh chung?

Nhưng ông kỹ sư Nam ấy lại không đem cái tài học của ông làm việc cho Pháp. Ông cũng không dùng cái vốn liếng văn hóa Tây phương gây lợi cá nhân, cho có được vợ đẹp con ngoan, cho có trang trại giàu sang trưởng giả, hoặc khai khẩn dinh điền màu mỡ cò bay thẳng cánh... Ông đã rũ bỏ cảnh phồn hoa quyến rũ, dứt lìa văn minh vật chất ông có thể thụ hưởng thừa thãi, để về một cồn vắng... trèo lên ngồi trên ngọn cây dừa mà tu, và thành là ông Đạo Dừa!

Tôi từng nghe mấy người anh bà con, cùng ở Pháp về chuyến tàu với ông, không ngớt bàn tán về hành động ấy của ông:

- Kỹ sư Nam ở Bến Tre tính gì thế? Toan làm chính trị? Hay muốn chóng nổi danh?

- Hắn bất hợp tác với nhà cầm quyền ư? Chủ trương tranh đấu bất bạo động như thánh Gandhi bên Ấn Độ à? Bối cảnh chính trị ở Việt Nam khác xa với bên ấy lắm cơ mà!

- Hay hắn lập dị? Cũng muốn tỏ ra ta đây anh hùng cách mạng?

Tôi nghe nói mà chán ngắt cho mấy ông anh họ ấy. Họ còn ham thụ hưởng, có dám dấn thân như thế đâu. Cũng có kẻ xu thời, làm chính trị sa lông. Thứ chánh trị không tốn kém gì, không hy sinh nguy hiểm gì, mà lại được tiếng là kẻ thức thời.

Tôi là lớp trẻ vừa trưởng thành, vừa mới hiểu biết, trong thập niên 30-40. Chúng tôi thường thao thức theo tiếng gọi thức tỉnh của hồn nước, của các bậc tiền bối yêu nước như cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ... Và cái chết oanh liệt của các bậc anh hùng Yên Bái Nguyễn Thái Học, Ký Con...đã khơi dậy lòng yêu nước khắp nơi.

Chúng tôi sống trong ký túc xá, giữa bốn bức tường kín học đường, song cũng biết được đại khái những hoạt động của các ông Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Hồ Văn Ngà... và vô số nhà trí thức Trung Nam Bắc... đã không chạy theo vinh hoa phú quý thuở bấy giờ mà lại dấn thân làm quốc sự. Những quyển sách quốc cấm như Phan Đình Phùng, Con hùm Yên Thế Hoàng Hoa Thám, Giặc Cờ Vàng... được chúng tôi lén lút chuyền tay nhau, nửa đêm chun vào cầu tiêu, xem mê mệt không thôi. Phong Trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục với những tổ chức đưa thanh niên du học nước ngoài, những trường bí mật đào tạo nhân tài đất nước đã nhiều đêm là mộng trắng canh trường của lòng trai háo hức dấn thân vào phiêu lưu của chúng tôi. Chúng tôi không còn lòng học hành nữa. Cái học trong nước, dẫu đến cao đẳng, cũng chỉ để làm nô lệ. Chúng tôi từng chứng kiến, căm hờn và ứa lệ, khi trông thấy đang trong giờ giảng bài, vị giáo sư đáng kính mến bỗng bị lính kính, mật thám Pháp vào lớp, xích tay lại dẫn ra xe...

Giữa cái buổi giao thời đặc biệt ấy của đất nước, bọn thực dân cai trị cố tình bên trên đè ép xuống, dân chúng ở dưới ngộp ngạt trôi mình, có một số thanh niên Tây học, đâm ra hoang mang mất hướng. Một số bỏ sở làm lương to, đi lên núi Cấm tu hành, hoặc toan luyện bùa phép chống lại súng đạn, hoặc toan tìm hậu duệ các tiền bối kháng Pháp thời xưa? Một số lại ủy mị hơn, tìm quên lãng hận mất nước trong làn khói phù dung! Một số tìm đường trốn ra nước ngoài, cố sao móc nối được một anh thủy thủ ngoại quốc có tàu buông neo ở Nhà Rồng, năn nỉ sao cho anh ta thương tình dấu dưới hầm tầu để đi được thoát. Nếu rủi ra khơi rồi mà thuyền trưởng hay được, bất quá hắn xiềng chân lại, chờ đến một bến cảng nào đó thì tống khứ lên bờ, miễn đừng trong thuộc địa của Pháp thôi, là cũng sướng đời rồi! Tuy không nói nhiều ngoại ngữ, chỉ biết tiếng Pháp rất hạn chế trong thương trường quốc tế, nhưng những thanh niên mạo hiểm vẫn tin tưởng ở sức lực và bàn tay tháo vát của mình để có thể kiếm được cái ăn qua buổi, miễn không ngửa tay xin ăn. Mà dù không kiếm sống được, chết đói xứ lạ là cùng, còn hơn sống nô lệ nơi quê nhà vốn nổi tiếng vựa lúa Châu Á!

Tôi có một số bạn bắt mối được với một bạn thủy thủ tàu buôn Pháp, bọn này đòi 50 đồng mới cho xuống tàu. Ba đứa đều là học sinh, còn trong cảnh cơm cha áo mẹ, làm sao có đến một số bạc to lớn như thế? Bán cả đồ đạc, quyên góp khắp bạn bè mãi mới được 40 đồng, định sẽ năn nỉ xin bớt, chắc bọn chúng cũng chịu, nhưng khi đem tiền ra bến, hỡi ôi, con tàu buôn hôm nọ đã nhổ neo, ra lòng sông Sài Gòn rồi!

Sở dĩ tôi nói lên việc này là để cùng quý bạn hình dung lại thời điểm ấy của những công dân Việt Nam, như dòng sông Cửu Long đợt sóng này nối tiếp đợt sóng khác, đã ý thức được những việc cần phải làm của người bị trị. Quyền yêu nước không phải ở một người, ở một đảng phái nào. Bây giờ, người ta tha hồ tô hồng, chuốt lục lịch sử đảng họ. Bẻ cong cả lịch sử. Phủ nhận công ơn của những người ngoài đảng ta! Các văn sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa tán tụng tận mây xanh về việc đi tìm đường cứu nước của "bác", làm như chỉ có "bác" của họ mới độc đáo đi nước ngoài. Ở Sài Gòn, có một dinh thự to tát và tráng lệ của thực dân Pháp bỏ lại bến Nhà Rồng, đáng lẽ thuộc về nhân dân đang thiếu nhà ở, thì đảng lại làm thành ngôi nhà kỷ niệm nơi xuất xứ đi ra nước ngoài của lãnh tụ. Để thờ những vật vớ vẩn! Sao không thờ bao nhiêu bậc tiền hiền cách mạng trước "bác" hoặc đồng thời với "bác", tài ba hơn và sự hy sinh cống hiến nhiều hơn?

Cổ nhân bảo: luận anh hùng, chớ luận vào thành công hay thất bại, phải luận vào sự tiên phong khởi đầu. Những người thắp sáng, những nhà khai hoang, trong lãnh vực thương nước yêu nòi mới thực hiển hách. Cũng như nơi tuyến đầu, người lính trước tiên nhận diện được quân thù mà cảnh giác cho bạn đồng ngũ, dù có bị bắn ngã chết, vẫn giữ công đầu! Tổ quốc Việt Nam không quên ơn những người con ấy. Dầu hiện nay, họ bị bôi nhọ, hay xuyên tạc. Trong số đó có ông Đạo Dừa. Với một năm ở tù chung ở khám Cần Thơ, tôi mới thật sự biết ông. Khâm phục ông nhẫn nại, kiên quyết và bất khuất hơn người.

Trước kia, tôi chỉ biết ông có chí hướng hơn người. Ông tìm con đường tranh đấu riêng. Ông không theo phe này, lập hội kín nọ. Ông làm cách mạng quần chúng. Lấy số đông dân chúng làm hậu thuẫn. Ông pha màu tôn giáo vào chính trị, và ông đã khởi xướng lên một mình. Một loại tôn giáo hòa đồng. Thực chất là lấy tình thương bao la để khuyến dụ và cảm hóa mọi người. Ông đã gặt hái ít nhiều thành công. Lúc bấy giờ, tôi vẫn còn cho ông là một con người đáng tôn kính, song có phần lập dị.

Nhân một dạo, tôi có dịp đi đò máy từ bến bắc Rạch Miễu sang tỉnh lỵ Bến Tre, khi con đò chạy ngang qua một cái cồn đất nọ, người đi đò cùng trầm trồ trỏ tay bảo:

- Ông Đạo Dừa ngồi trên đọt dừa đó, thấy không? Ổng ngồi mấy năm nay rồi. Mặc nắng mưa, trưa tối!

Một bà lão già nói bằng giọng cung kính:

- Ai cũng tưởng ổng chịu không nổi, mà chết rồi! Nhưng người ta vẫn thấy ông ngồi trơ trơ đó. Mà ông phải nhà nghèo hèn gì, con nhà giàu sang, danh giá. Vậy mà ông lại đi tu. Nói là để độ đời!

Tôi hỏi lại:

- Tây để cho ông làm như vậy sao? Ông ra vẻ chống đối như vậy, bỉ mặt cho người Pháp ở Đông Dương lắm.

- Mèn ơi, họ bắt ổng giam vô tù mấy lần. Ổng tịnh khẩu, không thèm nói chuyện. Nhưng viết giấy hỏi Tây là ổng có tội gì mà bị bắt? Đụng chạm nhân quyền sao đó! Tây cãi không lại lý của ổng, phải thả ổng ra. Ổng lại trèo lên cây dừa mà ngồi. Tây giận lắm, sai người đốn bỏ cây dừa của ổng. Mất cây dừa đó, ổng lại trèo lên cây dừa khác. Mèn ơi, ai trông thấy ổng trèo dừa mà hổng thương đứt ruột! Tây lại sai người đốn dừa nữa, ổng lại ngồi trên cây khác. Đốn hết dừa cù lao này, thì ổng sang qua cù lao kia. Bến Tre là xứ dừa mà. Không lẽ Tây đốn hết dừa của tỉnh? Thằng Tây đành chịu thua ổng luôn.

- Rồi ổng ăn gì?

- Ổng chỉ uống nước dừa, có khi ăn thêm vài trái chuối để sống. Vậy nên người ta mới kêu ổng là ông Đạo Dừa.

- Thời buổi lộn xộn, ổng ngồi hoài như vậy, không sợ nguy hiểm?

- Ổng hổng sợ. Mà dân cũng thương ổng, ngấm ngầm bảo vệ cho ổng.

- Ổng tịnh khẩu hoài, không mở miệng nói chuyện? Không thuyết pháp sao? Vậy làm sao truyền đạo?

- Ổng không nói. Chỉ viết ra trên giấy. Nói chuyện cũng bằng giấy tờ. Vậy mà đệ tử đông lắm. Ở khắp nơi, đâu cũng có. Cả ở Lục tỉnh, ở miền Trung nữa. Vì đạo của ông tốt một cái là thờ kính ông bà, tôn trọng lễ nghĩa và ăn ở hòa mục với mọi người.

Tôi chăm chú nhìn lên ngọn dừa khi phà chạy ngang mé cồn. Trên ngọn một cây dừa cao, một hình bóng người nhỏ thó, mặc áo vải vàng, ngồi thu lu trên một giạt bằng cây to, trông thấy bấp bênh lơ lửng. Trời trưa nắng như hun đốt, mắt nhìn lên lóe sao. Thế mà bóng người nọ vẫn ngồi xếp bằng an tọa, tịnh nhiên. Ông ngồi như thế đã mấy năm trời? Gương kiên nhẫn của ông thật đáng phục!

Tôi vì bận việc ở Bến Tre, đến xế chiều mới xuống phà trở sang tỉnh Mỹ Tho. Ông Đạo Dừa vẫn ngồi trên ngọn dừa nơi cồn đất nọ. Ngọn gió chiều thổi lộng lòng sông rộng. Cây dừa trông từ xa thấy chao đảo. Thế nhưng ông đạo vẫn ngồi bằng an, tâm tư vắng lặng vào cõi hư vô nào? Hay ông đang nghiền ngẫm một thế cờ hay để giải thoát cho đất nước, cho con người? Bên kia bờ tỉnh lỵ Mỹ Tho đang sáng choang ánh đèn phồn hoa, lại có tiếng ca nhạc từ đài phát thanh nào đó phát ra âm điệu xa vời quyến rũ, mê ly. Như tất cả giục giã con người đừng hoài phí tuổi xuân, cứ quyện hồn vào những hoan lạc, say sưa... Tôi bất giác ngước nhìn hình bóng ông Đạo Dừa ngồi nơi hoang tịch nọ. Cái bóng dáng gầy còm của người trí thức ngậm câm tiếng nói ấy lại có một sức mạnh huyền vi rọi xuống lương tâm con người. Cảnh giác người đời đừng mê bả béo mồi thơm mà quên hờn mất nước!
Sau đó, tôi bị kẹt! Mãi lâu sau tôi mới lại có dịp về miệt Tiền Giang. Thỉnh thoảng tôi gặp trên đường những người đàn ông có, đàn bà có, già có, trẻ có, mặc quần áo bằng vải màu vàng hoặc màu già, áo thì là áo bà ba gài nút ở giữa hay là vạt miễng, có người để tóc dài chít khăn màu vàng. Những người ấy ăn nói lễ phép, từ tốn và thân thiện. Tôi hỏi ra mới biết đấy là đệ tử của ông Đạo Dừa. Ông Đạo chủ trương hòa đồng tôn giáo. Ông thờ các bậc sáng thế. Phật Thích Ca ông cũng trọng, Chúa Ki Tô ông cũng kính, cả đến Lão Tử ông cũng theo, Khổng Tử ông cũng học... Tất cả các vị có lòng từ bi, bác ái, yêu thương nhân loại, xả thân vì chúng sanh, ông đều phụng thờ. Đó là tình thương yêu phải học tập, phải noi theo. Đệ tử của ông rải rác khắp nơi. Họ hành đạo và truyền đạo với lòng tin vững chắc, dù phải gặp rất nhiều khó khăn, cả những hiểm nguy. Vì trong cái thế giới nhiễu nhương, còn lắm người nhắm mắt chạy theo thế lực kim tiền, thì trái tim thương yêu của người thiện lương dù mở rộng mấy cũng ít có người cảm thông. Rồi sau đó, tôi lại gặp một số đệ tử của ông Đạo Dừa trong cảnh nhà tù! Hỏi đến Thầy họ, Thầy họ chắc cũng bị cầm giữ đâu đó. Họ vẫn không rời chiếc áo bà ba vạc miễng của họ. Sau lưng áo, họ vẽ hai chữ Tu Tù thật lớn. Họ lặng thinh, không nói gì. Ai muốn hiểu sao hiểu. Có thể bảo là vì tu nên mới bị tù. Có thể có nghĩa ở tù vẫn cứ tu. Lại có nghĩa lấy việc ở tù làm công quả học thành đạo. Theo họ, họ bảo tu cho đất nước hòa bình, con người thương yêu con người hơn. Chỉ có tình thương yêu mới khai trừ họa chiến tranh. Chỉ có tình thương yêu, mới san sớt đồng đều, mới thông cảm nhau, không cần đấu tranh giai cấp!

Tôi hỏi người đệ tử của ông Đạo Dừa:

- Nghe nói Thầy anh muốn làm người hòa giải?

- Phải. Cậu Hai yêu nước thương dân, không nỡ nhìn triệu triệu thanh niên ở hai phía bị nướng thiêu trong nạn nồi da xáo thịt. Chiến tranh đã hơn ba mươi năm, dân chúng điêu linh, xã hội tàn hoại, đất nước nghèo khổ lắm rồi, sao người ta lại không chịu ngưng tay?

- Thấy anh tin là hai bên có thể ngồi lại với nhau?

- Cậu Hai tin ai cũng có lòng yêu nước thật sự. Lòng yêu nước đứng trên quyền lợi của bè cánh, đảng phái.

- Và Thầy anh tin "bác Hồ" sẽ từ bỏ đảng cộng sản? Hay đặt quyền lợi của đảng, của Nga Sô, của Trung cộng ra ngoài để cứu nước cứu dân?

- Nếu ông Hồ yêu nước, ông phải làm như vậy!

Tôi khẽ thở dài:

- Thầy anh chủ trương tốt, nhưng tình hình chính trị phức tạp lắm, lại thêm lòng dạ tham lam của con người, tham vọng của quốc tế... Không như việc Thầy anh nuôi con mèo chung với con chuột một lồng...

- Thú vật còn biết dung nhau, con người lại không thể sao? Việc nước nhà mình đã đến lúc mình phải tính với nhau, không cần đến anh Mỹ, anh Nga, anh Tàu chen vào nếu họ không có thiện chí giúp đỡ!

- Tôi sợ Thầy anh ôm mãi cái không tưởng ấy. Giá mà thành được như thế, người dân Việt nào lại không thích?

Về sau, tôi lại nghe tin ông Đạo Dừa trở về Cồn Phụng, tức là cái cồn đất ông trèo lên ngồi trên cây dừa mấy mươi năm về trước. Khi ấy cồn đã có đông dân cư tụ tập. Nhà ở khang trang. Dân tình dễ sống. Có văn hóa. Có tình người. Có trật tự. Có cả mấy người Mỹ tu ở đấy. Ai trông thấy tướng đi lênh khênh của họ trong bộ quần áo bà ba màu vàng may rộng khổ mà vẫn thấy túm bó, với đôi bàn chân đi đất rón rén của họ, đều phải che miệng cười. Nhưng là cái cười đầy thiện cảm, thân ái. Họ gặp ai cũng chắp tay cúi đầu, nói trọ trẹ:

- Chào ông!... Chào bà!... Chào anh!... Chào chị!... Mạnh giỏi!

Nơi Cồn Phụng còn treo một biểu ngữ to Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Đó là một câu sấm xưa từ mấy trăm năm, mà người ta cho là trong bài sấm Trạng Trình, tiên đoán về hậu vận nước nhà. Nhưng không ai hiểu câu sấm ấy ứng vào thời kỳ nào? Sao không đánh nhau mà thành? Và cái thành ấy có lợi cho phe nào? Tôi thầm nghĩ ông Đạo Dừa đưa lên câu biểu ngữ để kêu gọi ngưng chiến.

Nơi bến cồn có đậu một chiếc tàu sắt mà ông Đạo Dừa cho trang trí theo mỹ thuật Việt Nam và đặt tên là thuyền Bát Nhã. Trên con thuyền rộng lớn ấy, nơi phía trước, ông bầy ra nhiều hàng ghế sắt cho du khách ngồi. Nhiều phái đoàn ngoại quốc đến phỏng vấn ông, thu băng, quay phim. Ông ngồi nơi chiếc ghế đặt phía trước, có hai đệ tử đứng hai bên. Chính hai đệ tử nọ trả lời những câu hỏi của khách, thỉnh thoảng ông mới biên vào giấy cho họ phát biểu thêm những chi tiết.

Tôi đến nhằm lúc hết giờ phỏng vấn, nhưng cũng được đệ tử của ông nói về chánh kiến của đạo. Ông nhận ra tôi, chỉ mỉm cười. Nụ cười hiền hòa và thân thiết. Ông vẫn không ngớt tay lẫy những hột bắp, để sau đó tự ông nấu lấy ăn. Trước kia ông chỉ uống nước dừa. Dạo sau này, vì làm việc nhiều, vì đệ tử khuyên lơn, ông mới ăn thêm buổi ngọ (buổi trưa) bằng bắp nấu. Tôi trông thấy ông gầy ốm quá, thân hình nhỏ thó, đôi tay khẳng khiu, mặt thỏn như trẻ nít, song đôi mắt tinh anh sáng rực khác thường. Các phóng viên truyền hình ngoại quốc không ngớt tỏ vẻ kinh ngạc và thán phục trước một ông già ốm tong teo như cây sậy mà lại có một mãnh lực chịu đựng kiên cường. Tự ông làm ra thức ăn cho ông, tuy rằng đệ tử của ông rất đông. Nếu ông để cho họ phục dịch, chắc họ sung sướng lắm. Nhưng ông chủ trương có làm mới có ăn, ông phải tự tay làm lấy thức ăn cho ông. Nếu ông bị rủi ro nằm bệnh ngày nào, ngày đó ông nhịn đói. Không ai khuyên lơn, năn nỉ ông được một miếng nào. Tôi trông thấy những việc ông làm, lòng vơi bớt đi những thành kiến thắc mắc về ông. Ông thật sự thể hiện tình thương yêu to lớn. Ông xót xa đau đớn khi thấy chiến tranh kéo dài, dân tộc điêu linh tang tóc, đất nước kiệt quệ tài nguyên, lẽ ra có thể làm dân giàu, nước mạnh! Nhưng giữa khi đôi bên say chiến, nhất quyết một được một thua, tiếng gọi hòa bình của ông chỉ là tiếng gào khản trong sa mạc! Rồi đây, Cồn Phụng của ông, nơi ông tạo được một xã hội kiểu mẫu nho nhỏ ấy có được yên? Thân phận của ông và bầy đệ tử rồi sẽ nổi trôi, chìm ngụp thế nào trong cảnh biến loạn tang thương của đất nước?

Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, cái ngày uất hận của người Việt tự do ! Cộng sản đã thôn tính được miền Nam Việt Nam, và chỉ qua một thời gian ngắn đã làm cho toàn quốc đói rách và sa đọa hơn bao giờ hết! Tôi lại gặp ông Đạo Dừa trong ngục thất Cần Thơ. Đầu tiên, tôi trông thấy ông, cũng như tôi, bị liệt kê vào thành phần tối nguy hiểm và bị biệt giam. Tức là nhốt trong co-nét, thùng sắt to tướng đựng đồ viện trợ của Mỹ hồi xưa. Mỗi người một co-nét. Nằm ngồi, ăn uống, ỉa đái -- xin lỗi độc giả -- cũng tại chỗ. Cửa co-nét đóng lại, mình một mình trong tối bưng, trơ trọi và... thối bung! Không trông thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Không biết ngày tháng, thời khắc. Thỉnh thoảng mới được chúng mở cửa co-nét dọn dẹp vệ sinh. Ôi mừng ơi là mừng. Mừng trông thấy được ánh sáng. Trông thấy những vật cử động sao lạ mắt quá chừng! Mới biết rằng mình còn sống ở nhân gian !

Bọn cai tù, bọn cán bộ, đối xử rất tàn nhẫn. Chúng ngoài miệng nói khoan hồng mà lòng thâm như rắn độc. Vô cớ cũng chửi rủa hạ nhục. Chúng như thể rửa hờn giai cấp bằng trút lên đầu kẻ sa cơ, thất thế dưới tay chúng. Chúng oán ghét ông Đạo Dừa vô cùng. Chỉ có ổng thản nhiên và coi thường chúng. Chúng càng đọa đầy ông bao nhiêu, ông càng quyết liệt và quật cường bấy nhiêu. Quyết không chịu thua chúng. Và lắm lần hành hạ ông mãi không xong, chúng phải chịu thua ông. Ông phản đối chúng bằng cách gõ cái ca uống nước vào cửa co-nét... xèng xèng... xèng xèng... có khi cả ngày không ngớt tiếng...

Tên lính gác bực mình quát hỏi:

- Làm gì om sòm thế? Giờ này khuya rồi, làm thế ai ngủ được?

Tiếng nói chậm rãi và rắn rỏi của ông Đạo Dừa đưa ra sau cửa co-nét:

- Cậu ơi, tôi thương cậu lắm...

- Tôi chả cần ông thương!

- Có ai ngăn trở được tình thương? Cậu không cần tôi thương là quyền cậu. Còn tôi thương cậu là quyền tôi. Tôi thương cậu chỉ là một kẻ tay sai. Như thiên lôi, lịnh trên bảo đánh đâu là phải làm vậy thôi. Thương cậu chiến đấu mấy năm trời, vào sanh ra tử biết bao lần, rốt cuộc cũng chỉ là anh lính gác, thương cậu chức vụ bé nhỏ quá, không làm sao giải quyết nổi chuyện của tôi...

- Nhưng ông muốn gì?

- Thương cậu quá! Cậu không giải quyết nổi, hỏi làm gì. Cậu kêu người lớn hơn cậu lại cho tôi nói chuyện.

- Giờ này mấy đồng chí cán bộ ngủ cả rồi.

- Tôi thương cậu quá! Nhưng khỏi cần nói chuyện với cậu.

Ông Đạo Dừa lại gõ lanh canh... lanh canh... Gõ nhịp đều như tiếng mõ hồi một. Mấy người bạn tù gần đấy giật mình thức giấc, thì thầm bảo nhau:

- Cậu Hai lại tranh đấu nữa rồi Bọn quản giáo, cán bộ rồi đây khổ sở với cậu không ít!

Những người bị "học tập cải tạo" bất đắt dĩ ấy tuy phải làm lụng cực nhọc ban ngày, ban đêm cần giấc ngủ cho lại sức, song không phiền hà khi phải thức giấc vì tiếng khua lon của ông Đạo Dừa. Trái lại, họ rất thích cảnh ông Đạo Dừa chống báng lại bọn hung tàn giết người không gớm tay ấy. Chỉ có ông Đạo Dừa mới dám làm, mới không biết sợ, không khuất phục trước uy vũ. Ông gõ lon gọi mãi cho đến khi tên lính canh phải đi gọi tên cán bộ cai tù đến. Tên này quát tháo lên:

- Ông muốn gì?

Giọng nói của ông Đạo Dừa từ trong co-nét đưa ra, mềm mỏng, ngọt ngào:

- Tôi thương chú cán bộ quá. Thương chú đang ngủ ngon giấc mà bị dựng dậy vì tôi. Nhưng đành phải gọi chú nửa đêm, nửa hôm như thế này là vì tôi bị... bỏ đói!

Bọn quản giáo, thường ngày hay sừng sộ, mắng chửi phạm nhân. Với ai dầu già lão, bạc phơ tóc trắng, chúng cũng gọi là anh, tức là tử tế lắm rồi. Song đặc biệt chúng lại gọi ông Đạo Dừa là ông.

Tên cán bộ bực tức bảo:

- Ai bỏ đói ông?

- Không bỏ đói tôi, sao không cho tôi uống nước dừa?

Tên cán bộ mở cửa co-nét, chỉ tay về ổ bánh mì và lon sữa:

- Không có nước dừa nhưng có bánh tây và sữa đây thôi!

- Tôi không ăn những thứ đó. Tôi chỉ uống nước dừa.

Ông trả lời rất quả quyết. Tên cán bộ cầm ổ bánh mì lên xem có bị cắn mất miếng nào hay chăng? Lại bưng lon sữa xem xét tỉ mỉ. Hắn nghi ông Đạo Dừa giả bộ không ăn, nhưng kỳ thật đã nhấp nháp chút ít rồi giả bộ làm khó. Nhưng ổ bánh mì vẫn y nguyên, cả lon sữa cũng vẫn còn đầy. Mùi bánh và mùi sữa đưa vào mũi hắn, thơm ngon đến nỗi hắn phải nuốt nước bọt đến đánh ực một cái trong cổ họng. Hắn ăn no đầy đủ thế mà thấy ổ bánh và sữa ngọt bùi, béo bổ phải thèm rỏ dãi, thế mà lão già ốm nhom kia lại có gan cóc tía, đã đói rã ruột, vẫn chẳng thèm rớ tới.

Gã dằn ổ bánh mì và lon sữa xuống nền sắt co-nét, sầm nét mặt bảo:

- Ngon bổ thế này mà ông chê. Chả có thứ khác đâu!

Ông Đạo Dừa vẫn ngọt ngào:

- Tôi thương chú cán bộ! Chú nhỏ chức quá, không giải quyết được vấn đề của tôi. Thương đã làm mất giấc ngủ của chú. Thôi chú về ngủ lại đi. Để tôi gọi cấp trên của chú. Tôi thương chú ít quyền quá !...

Và rồi ông lại gõ lanh canh... lanh canh... Gõ đến sáng vẫn không dứt tiếng. Tên trưởng trại phải đến gặp ông:

- Ông đòi hỏi chuyện ngoài luật lệ của nhà tù.

- Mấy chú bỗng dưng giam cầm tôi, giam cầm hàng ngàn người vô tội, có theo luật lệ nào không?

- Mấy người có nợ máu với nhân dân. Còn ông là tay sai của CIA.

- Chú có biết CIA là thế nào mà mở miệng ra là buộc tội cho mọi người. Ai làm sở Mỹ là CIA? Tiếp xúc với người Mỹ là CIA? Biết tiếng Ăng-lê cũng là CIA? Học thức một chút cũng CIA. Chỉ có bần cố nông mới không là CIA? Thế hồi Việt Minh còn ở chiến khu Việt Bắc, có Mỹ trợ lực cho cũng là CIA? Bác Hồ lúc ấy cũng CIA?

- Này ông đừng nói bậy mà khốn!... Cứ nói đến việc ông kêu đói. Tại ông chê thức ăn đặc biệt của nhà tù cho ông dùng....

- Ê, không phải à. Thức ăn đó Tín hữu của tôi gởi cho. Tôi thương chú Trưởng trại nói sai. Cố tình bóp méo sự thật. Tín hữu của tôi sợ tôi bị bỏ đói chết nên mới gởi vào cho dừa nước, bánh mì, sữa... Tôi không ăn bánh mì sữa, chỉ muốn nước dừa thôi. Tôi thương Trưởng trại không giải quyết nổi việc này, thì tôi gọi cấp Đảng ủy của quản giáo vậy!

Và ông lại gõ lanh canh... lanh canh.... Bọn cai tù nghiến răng căm tức lắm mà không làm gì đặng ông. Chúng không muốn ông bị chết đói để khỏi bị mang tiếng. Nhưng ông Đạo Dừa cũng biết như vậy, vẫn kiên trì mà sống. Như thể thi gan luôn cả đến cái chết. Trưởng trại và bọn quản giáo phải họp khẩn cấp. Dừa trái thì có sẵn do đệ tử của ông Đạo Dừa gởi vào, nhưng ai chặt cho ông uống? Lũ răng đen mã tấu chặt đầu người thì sành, nhưng chặt quả dừa đâu có biết! Chúng đâu dám phát dao cho ông. Nhỡ ông lấy dao rạch bụng tự tử thì sao? Bàn cãi mãi, chúng mới nẩy ý kiến tìm trong số tù gốc người Bến Tre ra chặt dừa cho ông. Chúng gọi anh NVA ra, bảo đem dừa đến cho ông uống. Anh này ngơ ngác, bảo:

- Tôi có biết chặt dừa đâu?

- Anh là dân Bến Tre mà không biết chặt dừa ư?

- Tôi chèo đò. Có vườn dừa đâu mà biết chặt.

Có anh TVT tình nguyện ra. Anh này trước có bán dừa, biết cách thức. Anh chỉ cần dựng đứng trái dừa, bổ ba nhát dao, chặt xéo nơi núm dừa thành tam giác, bật tung núm dừa ra, không một giọt nước sóng sánh ra ngoài. Anh bưng quả dừa đến bên ông Đạo. Tuy anh không phải là đệ tử, anh cũng cung kính bảo nhỏ:

- Cậu Hai uống đi để mà sống.

- Cám ơn em. Tụi này bạo phát, bạo tàn. Qua sẽ không sống đến ngày đó. Qua biết chúng quyết làm cho qua chết. Nhưng thể xác thời chết chứ tinh thần thời không!

Bọn Việt cộng hành hạ ông Đạo Dừa đủ cách. Chúng lôi ông ra để tắm rửa cho ông:

Ông ở dơ quá không chịu tắm rửa, không thay đổi quần áo, hôi hám kinh tởm quá. Lại chí rận, bọ chét cùng mình, lây bịnh nguy hiểm cho cả khám!

Chúng cầm vòi nước xịt vào ông. Nước xịt rất mạnh, làm ông té lăn lốc. Ông cố gắng bò dậy. Lại bị nước bắn tung người đi, lăn cuồng như bông vụ. Ông không hề rên rỉ, than van một tiếng. Vẫn gượng ngồi dậy, lại té lăn. Chúng cười ầm lên. Ông vẫn cương quyết không khuất phục. Bọn tù chúng tôi nhìn ông, xót thương biết mấy, và khâm phục ông không lời nào cho xiết. Ông bao giờ cũng ngẩng cao đầu không cúi luồn. Cả đời ông bị tù đầy cũng lắm, ông sợ gì lũ trẻ ranh muốn giết ông mà khỏi mang tiếng này! Chả bù trong khám, biết bao kẻ xưa kia giầu sang danh giá, oai quyền hống hách, bây giờ khúm núm sợ sệt trước lũ cán bộ ngu dốt:

- Dạ bẩm thưa cán bộ, em lỡ lầm, lần sau không dám. Xin cán bộ rộng lòng tha thứ một phen.

Một điều dạ thưa, vâng bẩm, khúm núm, sợ sệt, như muốn thun người nhỏ bớt đi. Uốn lưng khòm cong lại, cầu an, tắc trách, thủ phận mình, quên đồng bạn. Lại còn một hạng khác, ti bỉ hơn, cam làm ăng-ten cho thù. Phản bạn, bội tình đồng ngũ, nghĩa bạn bè, để được một lời hứa sẽ cứu xét cho về sớm, hoặc được một vài ân huệ cỏn con... Ôi, điếm nhục!

Tôi nhìn gương can cường của ông mà lại xấu hổ cho mình. Mới bị tù đầy vài bận thôi mà tôi tưởng rằng hãnh diện lắm. Tù Pháp thuộc tôi có ở. Tù Nhật Bổn tôi cũng đã nếm mùi. Rồi lại tù Việt Minh vào măn 1945, lại còn hai năm vướng mắc trong nhà tù của chế độ trước vì chống nạn độc tài tham nhũng nữa! Nay lại vào khám Cần Thơ, bị liệt vào thành phần biệt giam nguy hiểm, biết chừng nào được ra? So với các bậc cách mạng xả thân tranh đấu thời trước, tôi nào có ăn nhằm gì?

Trừ lúc ở tù Việt cộng những năm ấy ra, cảnh ngồi tù Nhật Bổn là đáng nhớ nhất. Năm ấy 1942, tôi bị Hiến binh Nhật bắt giam ở "Chambre de Commerce" ở bến sông Sài gòn, sau này là Thượng Nghị Viện của chế độ trước. Vì tội rải truyền đơn chống thực dân, cả Pháp lẫn Nhật, mà bọn Hiến binh nghi tôi là gián điệp Trùng Khánh. Chúng giam vào phòng Thương Mại ấy, hai bên là chỗ giam người có song gỗ chắn trước mặt, chừa một lối đi ở giữa. Mỗi sáng, 7 giờ, tụi Nhật cho chúng tôi đem thùng vệ sinh ra đổ xong lại bưng vào căn phòng giam hẹp của mình. Chúng bắt ngồi xếp bằng, thẳng lưng lên, tay để nơi đầu gối, không được nhúc nhích. Sáng ngồi tới 12 giờ trưa, được nghỉ ngơi cơm nước. Cơm thì được phát một chén gạo Thái Lan dẻo như nếp, có nêm tí muối. Chiều 2 giờ ngồi đến 6 giờ mới được nghỉ ngơi, cơm nước như khi trưa. Tối lại phải ngồi từ 7 giờ đến 9 giờ mới có quyền nằm xuống. Khi ngồi, phải ngồi yên như pho tượng. Nếu mỏi mệt khom lưng, nghiêng quẹo người, hay lệch đầu qua bên là bị một côn gỗ gõ đánh cốp trên đầu như bị sét đánh, tá hỏa tam tinh! Đó là thằng đội Trâu, thân hình trùng trục như con trâu nước, đầu vấn khăn lông trắng, dưới bẹn thắt cái khố, đi qua lại nơi khoảng đường giữa, vai vác cây gậy gỗ tròn và nặng. Nó thường đập chẩy máu đầu tội nhân. Đấy là chỉ trừng phạt sơ sài về tội ngồi không thẳng thắn thôi. Còn khi bọn Nhật tra khảo để lấy lời cung khai thì thật kinh khủng rởn cả tóc gáy. Cứ hai thằng Nhật thân hình như hộ pháp quần một phạm nhân; vật, ném, tung, hứng... nạn nhân của chúng như quả bóng rổ! Thường thì có máu đổ, nạn nhân chết giấc năm ba phen mới tạm được buông tha cho về khám. Khi ấy tôi còn trẻ, háo động, làm sao ngồi yên tĩnh như thế từ giờ này sang giờ khác được. Nên cũng đã nếm mùi côn gỗ bao nhiêu phen.

Một hôm tôi trông thấy có một con gián bò ở kẹt song gỗ. Tôi mừng như bắt được vàng. Có được một sự sống động dưới mắt. Trông nó chạy tới chạy lui, cũng đỡ buồn trong cảnh hoang lương, tịch mịch. Dầu rằng khít bên đó cũng có nhiều bạn đồng cảnh, nhiều pho tượng sống! Tôi khi ấy chưa biết trầm tĩnh, nhẫn nhục của người luyện công tĩnh tọa. Dẫu có nén lắm, lòng vẫn xôn xao không định.

Đến nay, trông thấy ông Đạo Dừa nhẫn nại, trầm tĩnh và xem thường bạo tàn, vũ lực của chúng, tôi mới thấy đó làm gương cho mình. Quyết không ủy mị, buồn rầu, khổ đau, rên rỉ dưới bạo tàn. Ông Đạo Dừa bị xịt nước ướt loi ngoi, nằm im trong vũng nước lênh láng, da thâm tím lại. Nhưng một lát sau ông lại lồm cồm bò dậy. Lại ngồi xếp bằng ngay ngắn, ngẩng cao đầu. Trông thấy hình dáng gầy gò, ốm nhom của ông, da bọc trơ xương như cái xác ướp khô mà đôi mắt vẫn linh động, vẫn ảnh hiện tình nhân đạo, vị tha bao la...

Ông thường chống đối bọn Việt cộng:

- Các anh mà cách mạng cái gì? Cách mạng gì không biết thương dân, yêu nước, cam làm tay sai ngoại bang. Cách mạng gì mà giam cầm hàng triệu người vô tội? Làm hằng triệu người tán gia bại sản, tan nát gia đình? Làm cho sáu mươi triệu đồng bào phải rách rưới đói nghèo, không trông thấy ánh sáng hy vọng nào, một tương lai tốt đẹp nào. Thiên đường hứa hẹn của cộng sản các anh là hố thẳm muôn đời chôn vùi dân tộc!

Bọn chúng giam nhốt ông vào chuồng chó. Đó là một nơi nhỏ hẹp bên vòng rào, có mái thiếc che thấp, có giây chì gai bao quanh. Trước kia nơi đó nhốt chó nên có danh từ chuồng chó. Ban ngày nắng rọi xuống mái thiếc nung nóng như lò lửa. Đêm đêm về, gió khuya lạnh buốt như cắt da. Đến chó ở đấy còn chịu không nổi huống chi con người. Nhưng ông Đạo Dừa vẫn bền bỉ chịu đựng. Mềm dẻo như cây sậy giữa phong ba. Dầu cho cuồng phong, nghịch khí đến đâu, cây sậy tạm thời phải cong, phải ngả nghiêng, oằn oại trước bạo lực đàn áp hung tàn, nhưng không đổ gẫy!

Bọn Cộng sản chỉ muốn ông Đạo Dừa khuất phục chúng, thốt ra lời hứa hẹn với chúng không tranh đấu nữa, không chống đối nữa. Chúng chẳng những buông tha ông, còn cho ông những ơn huệ đặc biệt, hậu hĩ hơn người. Xưa kia, Pháp không mua nổi ông, Nhật không dụ dỗ ông nổi, Việt cộng nào đáng gì để ông nghe theo!

Cuối năm đó tôi bị chuyển trại. Khi đi ngang qua chỗ ông ngồi, tôi khẽ cúi đầu như chuyển lời nói qua tâm tưởng với ông:

- Cậu Hai ráng gượng sống...

Ông mỉm cười nhân hậu. Nụ cười ngậm ngùi vĩnh biệt!

Mấy năm sau, tôi được trả tự do. Không tội gì, mà mất tự do rồi được trả! Và sau ba chuyến vượt biên cam go, tôi thoát ra được nơi vùng trời tự do. Nhờ vẫn đeo đuổi chí hướng phục quốc, tôi lê một giò qua nhiều nơi Âu, Mỹ, cả Á Châu. Khi đến địa phương nào có trồng cây dừa, tôi bất giác nhìn lên ngọn cây, liên tưởng đến ông Đạo Dừa. Hình bóng của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Thành Nam hiện ra mờ ảo trước mắt tôi. Gầy gò ốm yếu, tưởng chừng gió thổi cũng bay như ông, ngờ đâu lại có lòng sắt đá kinh người! Tôi nghe như văng vẳng bên tai những lời nhỏ nhẹ của ông:

- Tôi thương mấy chú lắm, mấy chú Việt Cộng ơi. Mấy chú ngu dại lắm. Mấy chú không biết bạo tàn, bạo diệt! Chỉ có nhân nghĩa mới trường tồn!

Năm 1988, tôi gặp một người bạn mới vượt biên sang, bảo rằng ông Đạo Dừa đã tịch! Tôi bỗng nhiên cay xè mắt, đôi giòng lệ tiếc thương chan hòa... Cộng sản Việt Nam phạm rất nhiều lỗi lầm đối với Quốc gia, Dân tộc, trong đó có sự giết hại nhà chí sĩ hiếm có Nguyễn Thành Nam. Ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam là người trí thức cuối cùng đã hạ mình xuống tin tưởng vào thiện chí của Việt Cộng, dẫu sao cũng có lòng xúc động trước cảnh huynh đệ tương tàn... Nhưng ông đã mang mối thất vọng đấy xuống tuyền đài...

*

Đến hôm nay, trong cộng đồng người Việt hải ngoại, có một thiểu số trí thức thơ ngây cụ hoặc hoạt đầu, đang toan luồn lưng, cụp gối hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản Việt Nam bá quyền và ngoan cố. Các vị ấy có biết chăng đang vô tình nối giáo cho giặc? Cùng a tòng vào tội phản dân, hại nước? Xin hãy xem gương chiến đấu can cường của ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam và vô số chiến sĩ cách mạng đã bị Việt cộng hãm hại chết, để làm đài soi lại lương tâm mình!

Kẻ hèn này, cùng đồng bào trong và ngoài nước, rất mong được vậy lắm thay!