Showing posts with label HUẾ. Show all posts
Showing posts with label HUẾ. Show all posts

Tuesday, September 23, 2025

 CON ĐƯỜNG MÀ TT DIỆM ĐÃ ĐI TỪ THƯỜNG ĐỨC TỚI HUẾ.

Như đã viết trên FB, theo lịnh ông Diệm, nhà thầu Phan Quang Khánh tự Phục, ở Đà Nẳng, khoảng năm 1956-57, đã làm con đường từ quận lỵ Thường Đức (Quảng Nam) để đến A Shau, sau đó theo TL 547 tới Huế. Theo tôi biết đường này (tỉnh lộ 548) và TL 547 đều được người Pháp xây trước 1954, nhưng sau đó bỏ hoang vì chiến tranh. Theo bản đồ của Hội Địa lý Quốc gia Mỹ, in năm 1967, đường từ Huế đến Bình Điền Thôn thì tốt, từ đó trở đi là đường đang xây dựng (các vạch đứt quảng); đoạn từ Kon Tom tới A Shau lại tốt và ngừng ở đây. Riêng tỉnh lộ 14, từ Điện Bàn chỉ chạy tới Thường Đức rồi ngừng. Từ Thường Đức tới Dak Peh thuộc QL-14 cũng bị bỏ hoang sau 1954, nghĩa là cũng có mặt trước 1954. Xe cộ chỉ chạy từ Dak Peh qua Dak To, Kontum, Plei Ku, Ban Mê Thuột, tới Đồng Xoài hay Chơn Thành thì hết QL-14. 






Saturday, March 1, 2025

TRẬN MẬU THÂN TẠI HUẾ

PHẦN 2: LỮ ĐOÀN 3 CỦA SĐ 1 KHÔNG KỴ GIẢI CỨU HUẾ.                      

Mặt nam Huế ở hữu ngạn sông Hương.

 

Lời nói đầu: Tôi viết bài này để TRẢ LỜI vài "còm" trên bài "Mùng ba Tết đẫm máu tại sân bay Tân Sơn Nhứt (TSN)" khi cho rằng tác giả Erik Villard "NÓI PHÉT":

Hai trận đánh này, do Villard mô tả, đã xảy ra gần như cùng lúc, khoảng 03:30 sáng ngày 31/1/1968 hay mùng ba Tết Mậu Thân: 1/ Tại sân bay TSN, chỉ từ khoảng 3 g sáng đến tối, nghĩa là chưa tới 24 GIỜ, bộ đội VC và CSBV đã chết TRÊN 600 NGƯỜI. Phía Mỹ có 22 chết và 82 bị thương, phía VNCH có 29 chết và 15 bị thương. 2/ Nhưng tại Huế, nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng với ít nhứt là 14 TĐ tham dự, gồm nhiều binh chủng khác nhau, chỉ trong HAI NGÀY ĐẦU, GẦN NHƯ NGƯỜI Cộng Sản ĐÃ LÀM CHỦ Huế, trừ thành Mang Cá và sân bay ở tả ngạn, và BCH tiểu khu và doanh trại MACV ở hữu ngạn. Tác giả Erik Villard đã TRUNG THỰC khi viết về trận đánh tại sân bay TSN khi khoảng 5 hay 6 tù binh vc/csbv đã bị chi đội C của chi đoàn 3 của thiết đoàn 4 Mỹ HÀNH QUYẾT. Có lẽ do trận đánh quá ÁC LIỆT nên lính Mỹ đã vi phạm Quy ước Genève về Tù binh. Trong khi đó tại Huế, trong kinh thành chỉ có trung đội thám báo 36 người và đại đội Hắc Báo của VNCH thiếu vì 1 trung đội của đ.đ. này sang hữu ngạn để bảo vệ BCH Tiểu khu (TK). Còn lại là lính văn phòng và tiếp liệu, ko có kinh nghiệm tác chiến. Bốn xe tăng VNCH từ phía nam Huế tiếp viện đều bị trúng B40. TĐ 7 Dù, cùng xe M113 về tiếp cứu, bị chận đánh tơi tả khi cách kinh thành khoảng 400 m về phía tây bắc và thiệt hại phân nữa. Sau đó được TĐ 2 Dù tăng viện và cả hai TĐ Dù kéo vào Mang Cá. Bốn TĐ của trung đoàn 3 thuộc sđ 1 VNCH ko thể tiếp cứu vì bị chận đánh trước khi tiếp cận Huế, chỉ có 1 TĐ đi ra biển, nhờ tàu HQ, chạy vào sông Hương và sau đó đến Mang Cá. TL của quân Mỹ tại khu vực Huế chỉ có thể gửi 1 đại đội TQLC ko đủ quân số để giải cứu doanh trại MACV tại hữu ngạn Huế. Sợ bị phục kích trước khi đến MACV, họ xin cứu viện. Sau đó 1 đại đội TQLC với xe tăng M-48 dẫn đầu, 4 giờ sau đã tới MACV với thiệt hại nhẹ. Sau đó đ.đ. này cho hai trung đội vượt sông để cứu tướng Trưởng ở Mang Cá nhưng bị tấn công khi đang ở trên cầu. Vì bị thương vong 1/3 quân số, 2 trung đội rút về MACV. Vậy tại sao có thể bảo rằng tác giả Villard nói phét?

Nói thêm về sđ 1 Không kỵ:

* Lực lượng trực thăng Mỹ chia làm trực thăng TẤN CÔNG (assault copter) và trực thăng KHÔNG KỴ (air calvary copter). Những đv này thi hành nhiệm vụ hơi khác nhau. Các đại đội trực thăng tấn công có trách nhiệm chánh là tấn công mục tiêu mặt đất của địch, nhưng họ cũng thực hiện việc tiếp tế, tải thương (medevac), và hỗ trợ hỏa lực cho đv bạn khi đụng địch.

Các nhiệm vụ không kỵ thường có nhiệm vụ không thám các vị trí địch với vài trực thăng thám thính và trực thăng võ trang (gunship), rồi không vận một trung đội bộ binh thuộc đv không kỵ này vào chiến trường. Các trực thăng không kỵ khác yểm trợ hỏa lực cho trung đội này, giống như các đại đội trực thăng tấn công yểm trợ cho bộ binh khi giao chiến. Không kỵ cũng có thể chở những đv lớn tới chiến trường nếu cần.Ngoài những nhiệm vụ như trên, các toán không kỵ tiến hành những nhiệm vụ không thám tổng quát và đánh giá kết quả của các cuộc ném bom, đặc biệt do B-52 gây ra cho đối phương.

Một PHI ĐOÀN (squadron) không kỵ điển hình gồm ba TOÁN không kỵ (air calvary troup hay ACT) và một toán chỉ huy. Một toán ACT gồm một TRUNG ĐỘI (platoon) có từ 6 tới 8 trực thăng chở quân (trực thăng UH-1 Iroquois hay "Huey" do hãng Bell sản xuất) và một trung đội từ 8 hay 9 chiếc trực thăng võ trang, có tên là Cobra (ký hiệu AH-1 Cobra do Bell sản xuất). Mỗi toán ACT cũng có một trung đội thám thính từ 8 hay 9 trực thăng quan sát nhẹ, thường gọi là "Loach" (ký hiệu OH-6 Cayuse do Hughes sản xuất). 

Đơn vị không kỵ đầu tiên có mặt tại VN là sđ 1 Không Kỵ năm 1965. Có tổng cộng có NĂM phi đoàn không kỵ, bao gồm phi đoàn 1/9 Không kỵ nổi tiếng của sđ 1 Không kỵ. Ngoài ra, khoảng 20 phi đoàn không kỵ phục vụ trong các đv bộ binh, thiết giáp và cơ giới (mechanized). Phi đoàn không kỵ cuối cùng rời VN đầu năm 1973.

 Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 401 - 412 của quyển Staying The Course của Erik Villard. 

 Từ 2- 10/2/1968: Lữ đoàn 3 của sđ 1 Không kỵ nhập trận

...

“Khi trung tướng Hoàng xuân Lảm và trung tướng Cushman, xem hình, tư lịnh (TL) của lực lượng 3 thủy bộ họp tại Đà Nẳng vào đêm 1/2/1968 để thảo luận tình hình Huế, họ đã đồng ý rằng quân nam VN sẽ trách nhiệm giải tỏa thành nội Huế, còn TQLC Mỹ giải tỏa hữu ngạn sông Hương hay Khu Tam giác. (Nói thêm: lực lượng 3 thủy bộ là một lực lượng gồm nhiều binh chủng khác nhau, đặt dưới quyền của TQLC – người dịch). Họ cũng đồng ý hạn chế tối đa sự thiệt hại gây ra cho thành phố lịch sử này. Để tạo áp lực vào hướng tiếp tế của CS từ hướng tây, Cushman được lịnh của Westmoreland là dùng sđ 1 không kỵ. TL của sđ này, tướng Tolson, giao trách nhiệm cho lữ đoàn 3 của ĐT Campbell, xem bản đồ 35.  

 

            Phù hiệu của Lực lượng 3 Thủy bộ        

Tướng Trưởng nói chuyện với tướng Tolson, TL của sđ 1 Không kỵ và tướng Đống.

 

 

BẢN ĐỒ SỐ 35. TÌNH HÌNH BẠN, 2-10/2/1968.

 

Tình huống đã khiến Campbell điều quân với thận trọng. Một cuộc đổ quân bằng trực thăng chống lại tường thành phía tây của Kinh thành Huế thì không được vì hỏa lực từ mặt đất chung quanh Huế quá dữ dội và pháo binh của lữ đoàn tại trại Evans thì quá xa để yểm trợ. (Trại Evans này cách Huế 24 km về phía tây bắc -- ND). 

Campbell biết rằng Bắc quân rất đông trong TP nhưng ko biết quân số và cách bố trí. Một cuộc thám sát bằng trực thăng cho thấy họ ở khắp nơi. Một phi công trực thăng và một trung đội trưởng thuộc TĐ 299 trực thăng, sau này cho biết cờ VC bay phất phới khắp các làng dọc QL1 từ km số 17 tới Huế. Campbell ko muốn mạo hiểm khi thả một hay hai TĐ để chống lại 1 đối phương vượt trội về sức mạnh. Hơn nữa, dù đổ quân xuống nơi nào, rất khó tiếp tế cho họ bằng trực thăng vì thời tiết xấu và hỏa lực phòng không dày đặc của bắc quân. 

Điều ông lo nhứt là ko đủ thực phẩm, nhiên liệu, và đạn dược để hỗ trợ cuộc hành quân (HQ). Địch làm chủ Huế đã cắt đứt (sever) liên lạc đường bộ giữa sđ 1 không kỵ và Phú Bài. Các đ.đ. vận tải phục vụ cho sđ 1 không kỵ có căn cứ tại Phú Bài, hiện ko thể chạy tới trại Evans và Đà Nẳng. Ống dẫn dầu ở một kho xăng từ bờ biển tới Phú Bài đã bị cắt. Với tình hình này, phải mất vài tuần để mở lại QL1 giữa Đà Nẳng và trại Evans. 

Đặc công đã đặt mìn phá đường QL1 ở phía bắc trại Evans, khiến xe ko thể đi tới Đông Hà. Các đ.đ. vận tải đồn trú ở Đông Hà thì phải lo cho sđ 3 TQLC Mỹ. Tình hình càng khó khăn khi các hoạt động của VC trên sông Thạch Hản đã tấn công 1 số tàu tiếp tế từ Cửa Việt tới Đông Hà, làm giảm số xăng dầu và đạn dược chứa tại căn cứ TQLC này. Do đó ĐT Campbell phải dùng máy bay C-130 và CH-47 bay tới Đông Hà để tiếp tế cho lữ đoàn của ông tại trại Evans. Tuy nhiên do thời tiết xấu và khả năng của C-130 đã hạn chế nhu cầu của lữ đoàn. Vì trên toàn quốc chỉ có khoảng 80 máy bay C-130. Với tình hình trên ĐT Campbell bắt đầu kế hoạch giải cứu TP này. 

Vì thiếu trực thăng và xăng máy bay tại trại Evans, ông phải đổ quân làm nhiều đợt. Chiều hôm đó, TĐ 2/12 không kỵ, lên trực thăng dưới trời nhiều mây (overcast) và bay tới km số 17. Binh sĩ phải để lại ba-lô -- sẽ chở sau -- để có thể chở được nhiều người. Mỗi ba-lô đều có poncho và áo sweater. Sau khi đổ quân, trời bắt đầu mưa. Sau khi ăn một bữa ăn lạnh lẻo, họ trải qua 1 đêm trên cánh đồng đầy bùn gần km số 17. 

Vào sáng 3/2, 400 lính của TĐ 2/12 không kỵ đã tập hợp nghe lịnh. Họ phải dùng 1 lộ trình quanh co (circuitous) để tới Huế bằng cách đi về phía nam và rẻ về hướng đông, thay vì đi theo QL1 vì sợ mìn bẫy và phục kích. Ông cũng lo vì pháo đội 105-ly thường tăng phái cho TĐ cũng chưa tới km số 17 -- có lẽ do thời tiết và thiếu trực thăng CH-47 -- nhưng nếu may mắn, quân của ông sẽ tới kinh thành trước khi trời tối. 

Xuất phát lúc 0700, TĐ đi về phía nam khoảng 1.500 m và rẻ về phía đông nam để tới Huế, với QL1 ở bên trái trục tiến quân. Trong vài giờ kế, họ ko thấy dấu hiệu của VC trừ 1 tên bắn sẻ vài phát trước khi biến dạng. Lúc 0945, khi còn khoảng 4 km về phía tây bắc của kinh thành Huế, họ gặp một ấp nhỏ có tên thôn Liễu Cốc Thượng. Khi quân Mỹ vào ấp, dân đã chạy vào một khu rừng cây ở cách đó 200 m về phía đông nam. Trong ấp lính Mỹ thấy giao thông hào và hố chiến đấu mới đào cũng như hàng trăm lá cờ nhỏ của CSBV -- nhưng hình như địch rất gần họ. 

Khi lính lục soát ấp, từ khu rừng cây ở phía nam, lính bắn sẻ VC bắt đầu bắn vào quân Mỹ. Tham khảo bản đồ, trung tá Richard Sweet biết rằng khu rừng cây này tương ứng với làng Thôn Quế Chữ và phía nam là làng Thôn La ChữNói thêm: năm 1969, khi hành quân ở TĐ 53 ĐPQ thuộc tiểu khu Gia Định, tôi đã xài bản đồ không ảnh, rất chính xác, vì do máy bay chụp từng đoạn và ráp lại, khu nào nhiều nhà dân hay nhiều rừng đều hiện rõ trên bản đồ này -- ND). 

                        

Bản đồ không ảnh

Ông liền gọi 2 khẩu 105-ly của VNCH ở km 17. Vì ko có thông dịch viên để điều chỉnh pháo binh, nên ko hiệu quả. Do trần mây thấp nên không quân ko thể can thiệp, lữ đoàn đã gửi gunship để bắn phá Thôn Quế Chữ trong khoảng 1 giờ cho tới khi bắn lầm vào TĐ 2/12 không kỵ, giết chết 1 và làm bị thương 4. Trung tá Sweet gọi trực thăng ngừng bắn. Dù trực thăng bắn phá ko làm đối phương nao núng, nhưng tướng Tolson TL của 1 không kỵ vẫn yêu cầu Sweet chiếm Thôn Quế Chữ càng nhanh càng tốt. Trung tá Sweet trình bày với TL nên chờ khi pháo binh Mỹ có mặt tại km 17 để giúp ông, nhưng TL ko đồng ý. Vì hết cách nên Sweet phải tấn công TRỰC DIỆN vào Thôn Quế Chữ. 

Y hệt như một cuộc tấn công thời đệ Nhứt thế chiến, khoảng 150 lính Mỹ xung phong xuyên qua đồng trống giữa họ và Thôn Quế Chữ. Lính CSBV núp trong hàng cây ở bìa làng bắn đạn liên thanh và cối vào quân Mỹ, đã bắn gục một số lính đi đầu, ko có gì che chở ngoài 1 nghĩa địa nhỏ giữa cánh đồng. Trực thăng OH-6, có biệt danh Loach, xem hình, đã xuất hiện để tấn công đối phương. Quân Mỹ đã tới hàng cây một lúc sau trưa, khiến địch rút sâu vào Thôn Quế Chữ. Chín lính Mỹ chết, vì đạn bắn sẻ trúng đầu, và 48 bị thương.

                              

 

Khi vượt khỏi hàng cây, lính Mỹ đã phát hiện một mạng lưới các giao thông hào và hố chiến đấu đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Điều này chứng tỏ đối phương đã bỏ nhiều công sức và thời gian để đón đánh quân Mỹ. Hàng rào bằng tre và dừa bao quanh mỗi nhà cũng là tuyến phòng thủ thiên nhiên, xem hình.

Thôn La Chữ: trực thăng mang tiếp tế cho lính của sđ 1 không kỵ, ảnh trên; lính Mỹ đang chiến đấu trong làng, ảnh dưới.

 

Vào giữa buổi chiều, phần còn lại của TĐ đã vào làng. Vì trời sắp tối nên trung tá Sweet đã quyết định phòng thủ qua đêm. Chỉ 1 thời gian ngắn sau khi lính vừa đào xong hố cá nhân thì địch đã phản công. Súng nhỏ và liên thanh bắn từ mọi hướng, và chẳng bao Sweet đã nhận ra rằng TĐ đã bị bao vây với quân số đông hơn. Họ bị bắn bằng cối 82-ly, súng không giựt (SKZ) 75-ly, và đại liên 12.8 ly, vũ khí thường trang bị cho cấp trung đoàn. TĐ 2/12 đã đẩy lui vài đợt thăm dò và bắn gục một số lính bắn sẻ VC. Hỏa lực của VC đôi khi dữ dội đến độ gần như lính Mỹ ko dám ngóc đầu khỏi hố cá nhân trong 1 hay 2 giây. Tuy nhiên VC ko thể phá thủng tuyến phòng thủ, và trận chiến từ từ giảm và chấm dứt. Lính Mỹ trèo lên khỏi hố và nhận thấy hầu như mọi thứ nằm trên mặt đất đều bị xé rách (shred). Khi chuyên viên bậc 4 Steven Johnson mở hộp ration-C, xem hình, y thấy hộp này găm đầy mảnh đạn, nên ko ăn được. 

             

 

 

Sau đó vài trực thăng đã có thể đáp xuống khoảng đất trống giữa làng để tải thương. Khi TĐ bắt đầu sắp hết đạn, sĩ quan ban 4 lo về tiếp liệu của lữ đoàn, thiếu tá William Scudder vơ vét mọi đạn và lựu đạn mà ông có thể tìm ở trại Evans và năn nỉ vài phi công gan dạ bay tới Thôn Quế Chữ, vì nếu ko tiếp tế, TĐ có thể hết đạn trong đêm.

Vào lúc này, trung tá Sweet ko biết quân số và tên hiệu của đv đối phương bao vây TĐ. Sweet đã phỏng đoán (surmise) rằng ông đã lọt vào một khu tập kết (staging area) người, vũ khí, v.v... để đánh Huế, và địch sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nó. Sau này ông mới biết Thôn Quế Chữ và Thôn La Chữ là nơi đóng quân của BCH của Mặt trận Thành phố Huế, cũng như TĐ 416 của trung đoàn 5 csbv và ba TĐ của trung đoàn 29 sđ 325C csbv, đv cuối cùng vừa đến từ Khe Sanh.   

Trước đó vào buổi chiều, khoảng thời gian mà TĐ 2/3 đang tiến đánh vào Thôn Quế Chữ, ĐT Campbell và BCH của lữ đoàn 3 dời từ trại Evans về km 17. Tướng Tolson cũng bay từ trại Evans đến km 17 để theo dỏi diễn tiến của TĐ 2/3. Rõ ràng rằng TĐ 2 đang gặp nguy hiểm. Trừ phi được yểm trợ đầy đủ, TĐ ko thể chịu đựng đợt tấn công quyết định kế tiếp. Theo yêu cầu của ĐT Campbell, 1 đoàn xe từ trại Evans đã tới km 17 khoảng gần 1800 g tối, mang theo đạn cho 2 khẩu 105 ly đã đến trước đó trong ngày. Với đạn pháo vừa chở tới km 17, sq tiền sát viên pháo binh của TĐ, còn gọi là sq đề-lô, và trung tá Sweet, và toàn thể binh sĩ đã nâng cao tinh thần chiến đấu, giữ vững tay súng suốt đêm

TĐ đã đối diện đợt tấn công vào sáng 4/2. Ngay trước 0700 g, một loạt đạn 82-ly và hỏa tiển 122 ly đã trúng các vị trí Mỹ tại Thôn Quế Chữ. Sau đó bộ binh CSBV tấn công chu vi phòng thủ từ mọi hướng. Phần lớn diễn ra trong tầm dưới 20 m. BCH lữ đoàn 3 gửi 1 trực thăng trang bị rốc-két để giúp TĐ, nhưng nó đã bị bắn rơi trước khi tới Thôn Quế Chữ. Vì ko thấy điểm yếu trên tuyến phòng thủ của TĐ, bắc quân đã đoạn chiến sau 15 phút, gây cho 11 lính Mỹ chết và 51 bị thương. 

Trong khi y tá chăm sóc thương binh, trung tá Sweet duyệt xét tình hình. Ông biết rằng TĐ ông sẽ bị tràn ngập nếu ở lại Thôn Quế Chữ vì chỉ còn khoảng 200 tay súng. Phần lớn chỉ ngủ chưa tới sáu giờ trong 2 ngày qua, và họ gần như sắp hết nước. Đơn vị gần nhứt có thể giúp họ là TĐ 5/7 không kỵ, vừa đến km 17 và cần ít nhứt 24 g để tới Thôn Quế Chữ. Dù cho thiếu tá Scudder (của ban tư lữ đoàn) đã dùng một trực thăng cứu thương mang đạn đến làng để tiếp tế và thiếu tá cũng rút súng lục để cảnh cáo một sĩ quan khác khi ông này định cất dở hàng từ máy bay; nhưng tiếp liệu còn rất ít do đánh nhau suốt ngày. 

Vào cuối chiều của ngày 4/2, TĐ trưởng Sweet thảo luận với các đ.đ. trưởng. Sau khi xem xét các giải pháp, ông quyết định TĐ sẽ phá vòng vây vào buổi tối. Dù khó khăn của đv, Sweet ko muốn rút về km 17 mà ko hoàn tất nhiệm vụ của ông (nghĩa là tiếp viện cho kinh thành Huế). Ông định di chuyển TĐ về 1 khu vực ở cách đó 1.500 m về hướng đông nhưng đã bỏ ý định này sau khi máy bay quan sát suýt bị bắn rơi vì các súng phòng không csbv. Nghĩ tới một điều mà đối phương ko ngờ được, trung tá cho TĐ tiến sâu vào khu vực do địch kiểm soát, tới 1 ngọn đồi nhỏ có tên Nhà Nhãn, mọc lên giữa cánh đồng vài km tây nam của Thôn Quế Chữ. Trong khi đv cạn kiệt (deplete) của ông chỉ còn khả năng tấn công giới hạn vào lúc này, Sweet biết rằng đỉnh của đồi này sẽ là 1 vị trí lý tưởng để quan sát Cộng quân khi họ di chuyển vào Huế. Sau khi lữ đoàn trưởng đồng ý kế hoạch, trung tá Sweet quyết định rằng TĐ sẽ di chuyển lúc 2000 giờ. Ông suy luận rằng lúc đó trời sẽ hoàn toàn tối và kẻ thù, sẽ lo nấu nướng và sửa chữa trang bị.

TĐ 2 đã chuẩn bị để thoát vòng dây khi trời tối. Binh sĩ đặt những trang bị dư thừa thành 1 đống để lính công binh cột chất nổ vào, canh giờ cho nổ sau đó trong buổi tối. Hai chiếc trực thăng UH-1 bay vào Thôn Quế Chữ để tải vài chục thương binh, nhưng ko đủ chỗ để bốc 11 xác chết. Trung tá phải chôn họ ở bãi cát để sẽ thu hồi những ngày sau đó.

Khi trời sụp tối, binh sĩ đã im lặng lập thành hai đoàn quân, dùng băng keo và vải vóc để cột các trang bị hầu ko gây tiếng động khi di chuyển. Một lúc sau 2000 g, TĐ đã tiến về hướng tây bắc tới một khe hở trên phòng tuyến của kẻ thù, có chiều rộng khoảng 75 m. Lính canh của csvn đã ko phát hiện họ. Sau khi tới 1 nghĩa địa ở giữa Thôn Quế Chữ và Thôn Liễu Cốc Thượng, TĐ đi theo hàng một, với lính thám báo đi đầu, và bắt đầu đi về phía nam. Vài phút sau đó, các lính thám báo đã gần như "đứng tim" (freeze) khi âm thanh ko thể lầm lẩn của ai đó đang lên đạn (gun bolt being drawn). Hóa ra lính Bắc quân đang lau súng, nên ko thấy lính Mỹ đang bò cách đó vài mét. Lính thám báo bò trở lại và dẫn TĐ đi vòng quanh ổ súng liên thanh của Bắc quân mà ko bị phát giác. 

Khoảng 30 phút sau đó, trong khi đoàn quân vượt 1 con suối nằm phía tây nam của Thôn La Chữ, họ nghe 1 tiếng nổ lớn ở 1 khoảng cách xa khi vài cân Anh plastic đã biến đống quân cụ dư thừa thành 1 quả cầu lửa. Tới giờ phút đã định trước, các đại bác 105 ly từ km 17 đã bắn đạn nổ mạnh và phốt-pho trắng vào Thôn Quế Chữ và Thôn La Chữ để che chở việc rút quân  của TĐ 2. Tuần dương hạm USS Canberra, đã dự trận, bằng cách bắn các thôn mà csbv làm chủ với đạn 203 ly. Trong khi đó binh sĩ của TĐ âm thầm lê bước (trudge) trong bóng đêm, người sau bám gót người trước. Phần lớn họ bước đi loạng choạng (stagger) vì mệt lả, và nhiều người còn bị thương nhẹ. Khi TĐ đến gần các làng theo cs, các lính canh CS lại nghĩ rằng đó là 1 đoàn quân cs tiến về Huế, nên chúng dùng đèn pin để chỉ đường cho họ. Có lúc, 1 đv lớn của VC trên đường vào Huế đã đi ngang họ, khiến họ im lặng và bất động cho tới khi nguy hiểm đi qua. 

Cuối cùng TĐ đã đến Nhà Nhãn sau khi hừng sáng của ngày 5/2 một lúc, họ mệt nhọc trèo lên đỉnh, hóa ra đây là 1 tiền đồn của 1 trung đội VNCH. Với bức tranh toàn cảnh của Huế trải rộng bên dưới họ -- trông có vẻ yên bình ngoài những cột khói bốc lên và thỉnh thoảng tia sáng màu trắng cam của một vụ nổ ở xa -- lính Mỹ đóng quân và nghỉ ngơi.

Ngay khi trung tá Sweet bắt đầu điều khiển pháo binh và hải pháo vào những mục tiêu mà họ thấy ở đồng bằng bên dưới, đối phương đã ngừng chuyển quân và tiếp liệu vào Huế vào ban ngày. Để ngăn chận cộng quân tiến gần đồi vào ban đêm, sđ 1 không kỵ gửi cho TĐ một khẩu 12.7 ly và một đèn pha cực mạnh. Dù Bắc quân ko định tấn công đồi Nhà Nhãn, họ đã cố gắng cắt đường tiếp tế cho TĐ bằng cách bắn vào trực thăng tiếp tế. Một lính bắn sẻ của đ.đ. B của TĐ, chuyên viên bậc 4 Carl Johnson, đã kể rằng hỏa lực phòng không đã làm hư hại nặng hay bắn rơi ít nhứt 4 trực thăng. Để tránh hỏa lực phòng không, các phi công trực thăng thay vì đáp xuống, đã đạp các thùng đồ khi bay ngang đồi.

Ngày 5/2, lữ đoàn trưởng đã chuyển hai đ.đ. của TĐ 2/501 của sđ 101 Dù, đang tăng phái cho sđ 1 không kỵ, từ trại Evans đến km 17 để lập 1 căn cứ mới, có tên bãi đáp Sally, ở phía tây của km 17. Với lính Dù ở giữa trại trại Evans và các rừng núi đầy CS ở phía tây, lữ đoàn trưởng Campbell ko còn giao TĐ 5/7 Không kỵ nhiệm vụ bảo vệ trại Evans, mà di chuyển 4 km về phía nam để thám sát ấp Nhơn Trung vì trước đây chúng đặt cối để bắn vào trại Evans.

Khi 2 đ.đ. đi đầu tiến gần làng này khoảng 1030 g, họ bị bắn bằng súng nhỏ và cối. Cùng lúc, một trực thăng chỉ huy C-n-C của TĐ 2/12 không kỵ, đã trúng nhiều phát (riddle) bởi các súng máy của cộng quân ở 1.500 m về phía đông nam, khiến phải đáp khẩn cấp trên đất địch. Một lúc sau đó, 1 chiếc khác đáp xuống để bốc phi hành đoàn, nhưng quân Mỹ cần thu hồi máy bay lâm nạn. TĐ 5/7 không kỵ, được lịnh đổi mục tiêu và phải tiến tới máy bay lâm nạn, nhưng bị địch đánh chận.

TĐ này tiếp tục tiến quân ngày kế, 6/2. Sau 1 chạm súng ngắn ngủi, họ đã đến nơi máy bay rơi và sau đó trở lại Thôn Trung. Họ đã chiếm làng và thấy 1 kho tiếp liệu lớn đến nổi cần cả ngày để phá hủy. TĐ 5/7 không kỵ qua đêm tại Thôn Trung và tiếp tục tiến về Thôn Quế Chữ sáng ngày 7/2.

Khoảng 1100, khi đ.đ. đầu vào một ấp nằm giữa Thôn Trung và Thôn Liễu Cốc, 1 trực thăng đáp xuống để dở hàng. Sau khi cất cánh, nó bay thấp ngang qua Thôn Quế Chữ, hình như ko biết gì (oblivious) về nguy hiểm bên dưới. Súng liên thanh và súng nhỏ bắn lên từ khu rừng khiến máy bay bị thiệt hại nặng phải đáp khẩn cấp phía bên kia của Thôn Liễu Cốc Thượng. Trung tá Vaught, TĐ trưởng, dù đã định sau đó sẽ tấn công Thôn Quế Chữ, đã cho TĐ tiến về phía đông tới nơi máy bay rơi. Sau khi chờ đợi pháo binh và hải pháo dọn bãi, TĐ tấn công Thôn Liễu Cốc Thượng. Họ khám phá hàng chục vị trí chiến đấu chưa hoàn tất và dây điện thoại dầy đặt nhưng ko gặp tên VC nào. Binh sĩ đã cứu phi hành đoàn, trong khi gunship trấn áp hỏa lực rời rạc (smattering) của liên thanh và cối từ Thôn Quế Chữ. Với buổi tối sắp tới, TĐ trưởng cho đóng quân qua đêm. Ông cho lập một chỗ để chứa đạn dược và tiếp tế, và chuẩn bị dụng cụ y tế để chờ đánh lớn.

Sáng ngày 8/2, ông cho hai đ.đ. thăm dò Thôn Quế Chữ. Một đ.đ. đã nhanh chóng vượt cánh đồng trống, nhưng đ.đ. đi hông phải, cách đó khoảng 300 m, gặp hỏa lực mạnh, ngừng cách khu rừng 50 m. Trung tá gửi 2 trung đội từ 1 đ.đ. khác để giúp và gọi 1.500 quả đại bác từ km 17; vài giờ sau đó đ.đ. này mới đoạn chiến, sau khi có 2 chết và 7 bị thương. Thấy rằng Thôn Quế Chữ đã được phòng thủ kỹ lưỡng và có thể ko thể tấn công bởi 1 TĐ, trung tá Vaught ra lịnh cho đ.đ. đầu tiên rút về Thôn Liễu Cốc Thượng để phòng thủ đêm.

Sau khi nghe Vaught trình bày rằng ko thể tấn công trực diện, lữ đoàn trưởng Campbell bắt đầu tìm cách khác. Ngày 9/2, Campbell ra lịnh TĐ của Sweet từ Nhà Nhãn thăm dò Thôn La Chữ từ hướng nam. Khi TĐ 2/12 này, rời khỏi ngọn đồi Nhà Nhãn, theo sau là trung đội nam VN từng đóng trên đồi, họ bị chận đánh bởi 1 tiểu đội bắn sẻ và ngụy trang rất kỹ của csbv ở chân đồi. Đạn cối và đạn súng nhỏ của bắc quân đã giết 2 lính Mỹ và làm bị thương 12 người khác trước khi 1 toán của lính Không kỵ đánh bọc sườn (outflank) đối phương, giết ít nhứt ba tên bắn sẻ. Khó khăn vẫn còn ở phía trước. Khi TĐ đang vượt qua 1 cánh đồng lúa dẫn tới làng Thôn Bôn Trị, một làng nhỏ có rừng cây bao quanh ở 1.500 m nam của Thôn La Chữ, một TĐ hay đông hơn của quân csbv nổ súng từ hàng cây. Lính Mỹ chết 2 và bị thương 10. Không thể tiến và trời tối nhanh, trung tá Sweet rút TĐ về đồi Nhà Nhãn để qua đêm.

Lữ đoàn trưởng Campbell cần thêm quân vào chiến trường, nhưng ông ko đủ xăng máy bay, phụ tùng, và đạn pháo, mặc dù (notwithstanding) những cố gắng can đảm của Không quân để giúp ông. Máy bay vận tải chở lương thực, nhiên liệu, và đạn dược tới trại Evans, phải nhờ radar hướng dẫn vì trần mây rất thấp, ít khi quá 91 m và đôi khi thấp hơn. Đôi khi tầm nhìn kém đến độ người dưới đất ko thấy máy bay, mà chỉ thấy dù tiếp tế xuất hiện từ mây thấp. Chỉ từ ngày 4 đến 8 tháng 2, C-130 đã bay 34 chuyến, mang khoảng 1 triệu cân Anh tiếp tế. Dù như vậy, lữ đoàn trưởng cần QL1 khai thông giữa trại Evans và căn cứ TQLC Mỹ tại Đông Hà trước khi ông có thể dùng cả lữ đoàn.

Vấn đề tiếp vận tại phía bắc QK-1 ko chỉ ảnh hưởng đến lữ đoàn 3. Tướng Palmer, chỉ huy Tổng cục Tiếp vận của Quân đội Mỹ (USARV) đặt tại Long Bình đã báo với tướng Harold Johnson tham mưu trưởng Lục quân Mỹ ngày 5/2 rằng "vấn đề khẩn cấp tại Vùng 1 chiến thuật (I CTZ) là khai thông QL 1 ở bắc Đà Nẳng. Việc lực lượng 3 thủy bộ của TQLC hiện ko thể khai thông QL có lẽ là yếu tố tiếp vận chính đã hạn chế việc hành quân ở bắc Vùng 1." (Nói thêm: Theo như báo chí thời đó, 1 người lính tác chiến sẽ cần 6-7 lính tiếp vận cho họ vì lính Mỹ chỉ uống nước chai hay Coca-Cola, ko uống nước sông/suối như lính VNCH. Ở những nơi có điều kiện, họ ko ăn khẩu phần ration-C, mà ăn thức ăn nóng, chở tới bằng trực thăng. Ở các căn cứ như trại Evans, phải có trực thăng chở nước tới cho lính tắm. Còn về đạn dược, lính Mỹ bắn thoải mái, ko tiết kiệm như lính VNCH. Lấy ví dụ, chỉ từ ngày 4-8/2/68, C-130 đã chở khoảng 1 triệu cân tiếp tế tới trại Evans -- ND).

Ngày 8/2, tướng Tolson TL của 1 không kỵ đã nói với Palmer rằng vấn đề tiếp tế đã hạn chế hoạt động của sđ 1 không kỵ tại Thừa Thiên và Quảng Trị. Tướng Tolson "đã rõ ràng nghi ngờ khả năng yểm trợ về mặt tiếp liệu cho một lữ đoàn của sđ 101 Dù trong khu vực này bây giờ, dù tình hình rất cần lữ đoàn này." Ông chỉ gửi pháo 105 ly đi kèm 1 TĐ bộ binh tới sân bay C-130 ở tp Quảng Trị cho tới khi tình hình tiếp tế cải thiện. Cùng ngày, TL của MACV tại VN đã thông báo với Đô đốc Sharp TL quân Mỹ ở Thái Bình Dương và tướng Wheeler Tham mưu Trưởng liên quân, rằng cố gắng để đưa các thành phần của sđ 101 Dù tới phía bắc của Vùng 1 sẽ "tạo một thách thức lớn lao về tiếp liệu trong lúc thời tiết xấu và hỏa lực địch." Trong 1 thông báo gửi tướng Johnson ngày 8/2, tướng Palmer đã viết "tình hình tiếp vận nguy cấp. Ngoài không vận, nguồn tiếp vận chánh yếu cho phía bắc Vùng 1 phải bằng đường thủy từ Cửa Việt, đang bị quấy rối bởi kẻ thù. Thời tiết xấu cũng cản trở hành quân."

 

 

 

 









Thursday, February 13, 2025

TRẬN MẬU THÂN TẠI HUẾ

PHẦN IHAI NGÀY "NGÀN CÂN TREO SỢI TÓC” TẠI BTL CỦA TƯỚNG NGÔ-QUANG-TRƯỞNG

Lời mở đầu 

- Tôi viết bài này để nhớ ơn những người đã chết trong lúc bảo vệ tổ quốc: nếu ko có những hy sinh của họ, miền Nam đã mất từ năm 1968, chứ ko đợi đến năm 1975. 

 - Lạc nước hai xe đành bỏ phí,

Gặp thời một tốt cũng thành công.

- Nhất tướng công thành, vạn cốt khô.                                

                                

- Chiến tranh là một công việc mà người tham dự có thể chỉ thấy chiến thắng sau khi y đã chết. Kinh nghiệm cá nhân. 

- Nếu QLVN VNCH ko chịu chiến đấu thì miền Nam đã mất từ năm 1968. Vì chỉ riêng mặt trận Huế, theo báo chí CS, họ đã "đầu tư" rất kỹ lưỡng về quân số (ít nhứt là 14 TĐ), vũ khí, đạn dược, v.v... bao gồm "cả ngàn tấn gạo, 15 tấn đường, 1,2 tấn sữa, 79 tấn muối, 1,5 tấn bột trứng, 590 kg bột ngọt, v.v... điển hình gần 1.000 tấn gạo để rải rác tại vùng giáp ranh và căn cứ miền núi Thừa Thiên-Quảng Trị, hơn 1.100 tấn gạo để trong nhân dân vùng đồng bằng hai tỉnh này. 

Trước giờ tấn công, quân khu Trị-Thiên có 4 trung đoàn và 4 TĐ bộ binh, 4 TĐ đặc công, 15 đội biệt động thành và 1 số đv binh chủng. Các đv tập dượt đánh Huế đều ko chọn người địa phương ra, chỉ lấy người ở quê xa tới để họ ko biết mục tiêu là gì, ở đâu. Họ được tập dược công phu, và tuyệt đối ko ai biết được sắp "đánh Huế"

- Theo bài chuyển ngữ dưới đây, trong 2 ngày đầu của năm Mậu Thân (31/1 và 1/2/68), người CS đã làm chủ TP Huế trừ đồn Mang Cá và sân bay Tây Lộc ở tả ngạn, và BCH tiểu khu và MACV ở hữu ngạn; (theo báo chí CS, họ đã phá ngục, giải thoát 2.000 tù nhân và trang bị võ khí cho 1.000 người tại trại giam Thừa Phủ, ở kế BCH/Tiểu khu), nhưng 28 ngày sau, họ đã bị đánh bật khỏi Huế. Trong khi đó trong kinh thành chỉ có một trung đội thám sát 36 người và đ.đ. Hắc Báo (thiếu quân số) của sđ 1 bộ binh -- vì 1 trung đội đã đi bảo vệ BCH tiểu khu ở hữu ngạn sông Hương. Còn lại là lính văn phòng và tiếp vận của BTL sđ, mà một số đã đi phép trước Tết. Ở MACV tại hữu ngạn chỉ có khoảng 100 cố vấn Mỹ, nhân viên dân sự và vài lính TQLC Mỹ làm cảnh vệ. Các đv tiếp cứu Huế như TĐ 7 Dù và thiết giáp VNCH đều bị chận đánh tơi tả khoảng 12 g trưa của ngày 31/1 khi tới gần 1 nghĩa địa, cách Kinh thành Huế khoảng 400 m về phía tây bắc -- vì máy bay ko thể hoạt động do thời tiết rất xấu và lại ngoài tầm pháo binh. Sau đó TĐ 2 Dù đã xuất phát từ km 17 để tiếp cứu TĐ 7 Dù và sau đó cả hai tiến vào thành nội. Một chi đoàn thiết giáp VNCH, chỉ còn 2 chiếc M41 và 2 chiếc M113 khả dụng, khi tiếp cứu Huế, đã bị chận đánh sau khi qua cầu An Cựu ở nam Huế (bị B40 bắn trúng cả 4 chiếc, chi đoàn trưởng bị thương nặng). Các đv Mỹ chung quanh Huế cũng bị cầm chân, đến độ họ chỉ có thể gửi một đ.đ. ko đủ quân số để cứu MACV ở hữu ngạn sông Hương. Mãi đến chiều 1/2, thành phần còn lại của các TĐ 2 và 7 Dù, các phần tử của Hắc Báo và một ít xe tăng, xuất phát từ đồn Mang Cá, tiến về sân bay Tây Lộc, vẫn còn cố thủ bởi một nhóm lính quân cụ. Cũng chiều này, TĐ 1/3 của sđ 1 bộ binh mới đến được đồn Mang Cá, và được giữ lại làm trừ bị; đến gần tối trực thăng CH-46 của Mỹ, xem hình, xuất phát từ Đông Hà, chỉ thả xuống hai đ.đ. của TĐ 4/2, cũng của sđ 1 bộ binh, thay vì cả TĐ, vì hỏa lực phòng không dữ dội và trời tối.                       

CH-46

Thế mà chỉ 7 năm sau, CS đã chiếm Huế mà gần như ko phải nổ 1 phát súng. Để hiểu chiến thắng của họ, xin đọc phần sau đây:

- ĐT Patton, chỉ huy trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ, đã yêu cầu người đại úy CSBV lên một trực thăng với một loa phóng thanh và ra lịnh cho lính của y đầu hàng. Tên này đã nhanh chóng từ chối, và Patton nói với y, "Nếu anh ko lên trực thăng với tôi và yêu cầu họ đầu hàng, anh đã đích thân ký giấy khai tử cho họ, vì tôi sẽ buộc lòng xóa sạch vị trí này." Tên đại úy CSBV đã lần nữa từ chối, và sự thất vọng của Patton đã hiển nhiên. Mắt ông đỏ rực và nói, "Đồ chết tiệt, vậy ai đang thắng cuộc chiến này?" "Đó là ông," tên đại úy trả lời. "Vậy trong trường hợp này," Patton hét lên, "tại sao ông ko chịu cứu mạng sống của lính anh và để chúng tôi bốc họ ra và cho ăn uống và chữa trị họ?" "Thưa ông," y nói,"ông đã ko hỏi ai sẽ thắng cuộc chiến này." "Theo anh, ai sẽ thắng cuộc chiến này?" Patton khịt mũi. "Chúng tôi sẽ," người tù binh đã trả lời mạnh mẽ, "bởi vì ông sẽ mệt mỏi/chán nản về điều đó trước khi chúng tôi mệt mỏi/chán nản."

Trích trao đổi giữa Patton và một sĩ quan Bắc VN trong tháng 12/1968, dịch từ trang 167-168 sách Growing up Patton. Trung đoàn 11 đã từng đặt căn cứ tại Trại Long Giao, Long Khánh mà sau 75, tôi đã ở tù khoảng 1 năm ở đây trước khi ra Bắc. 

- Câu chuyện về Chiến tranh Việt Nam có thể được tóm tắt bằng nhận xét của Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng, khi ông trả lời phỏng vấn của sử gia Pháp Bernard Fall vào năm 1962, ba năm trước khi lính Mỹ đổ bộ ào ạt vào Việt Nam và gần sáu năm trước khi Mậu Thân nổ ra:

“Người Mỹ không thích những cuộc chiến dài và không kết quả – mà cuộc chiến này sẽ chính là một cuộc chiến kiểu như thế, dài và không kết quả. Vì vậy, chắc chắn rằng đến cuối cùng chúng tôi sẽ chiến thắng”.

 Sau đây là 1 số ảnh của nữ ký giả Pháp Catherine Leroy chụp tại Huế và đăng trên báo LIFE số ngày 16/2/1968 (năm đó tôi đã mua số báo này). Cô ta là ký giả Tây phương duy nhứt được người CS cho phép vào vùng do họ kiểm soát tại Huế năm Mậu Thân để chụp hình.   

         



Những ảnh dưới do phóng viên khác chụp
Một bà cụ ở Huế cho lính Mỹ ăn cơm





Giải giao tù binh VC 
                                 Sân bay Tây Lộc
Bến tàu của hải quân Mỹ tại Huế
Trụ sở MACV ở Huế
Ảnh trên và dưới: MACV ở Huế, nằm bên phải của QL1, đường dẫn tới cầu Nguyễn Hoàng. 

BTL của sđ 1 bộ binh







Sau đây là phần chuyển ngữ:

"Cố đô Huế của Việt Nam tới nay vẫn chưa bị chiến tranh tàn phá. Thỉnh thoảng kẻ thù đã bắn cối vào thành phố (tp) Huế, và các đặc công của Đơn vị Đặc công Thành thỉnh thoảng ném lựu đạn, đặt chất nổ hay ám sát nhưng chưa có đv lớn nào xâm nhập vào tp Huế. 

Trước Tết Mậu Thân, quân số của nam VN tại Huế chưa tới 1 ngàn người. Một số đã đi phép, họ ở tại nhà trong thành nội hay các quận lân cận. BTL của sđ 1 bộ binh Nam VN, chỉ huy bởi chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng, đóng tại đồn Mang Cá, nằm ở góc phía bắc của Kinh thành (Citadel). Ngoài các quân nhân thuộc BTL và một số đv yểm trợ, các đv tác chiến duy nhứt đóng trong Kinh thành là trung đội thám sát 36-người của sđ  lực lượng phản ứng nhanh của sđ, tức là đ.đ. Hắc Báo. Các đv trừ bị khác của Trưởng gồm một chi đoàn xe tăng nhẹ M41, đóng trên QL-1, hai km nam của Kinh thành. Ngoài ra còn có hai TĐ Dù và một chi đội thiết giáp hoạt động ở bắc Huế tại Km 17 trên QL1.

Người Mỹ tại Huế rất ít, với khoảng 200 cố vấn và nhân viên hành chánh người Mỹ và vài TQLC Mỹ đóng tại một doanh trại canh gác lỏng lẻo của MACV ở cách phía nam Sông Hương một khu phố rưởi. Doanh trại này ở phía đông của QL1, bên kia đường là Viện ĐH Huế. Các cố vấn Mỹ và Úc thay phiên làm việc trong doanh trại của sđ 1 bộ binh hay đi theo đv mà họ làm cố vấn. (Trừ cố vấn của Nhảy Dù và TQLC VNCH, các cố vấn khác chỉ có mặt ở đv khi hành quân và khi hành quân xong thì về doanh trại MACV nghỉ ngơi -- ND). 

ĐV tác chiến gần nhứt của Mỹ đóng tại tây nam Huế. Đó là TĐ 2/503 thuộc lữ đoàn 2 sđ 101 Dù, đang tăng phái cho sđ 1 Không kỵ (mà TL là tướng Tolson), bảo vệ căn cứ tiếp vận của sđ này, còn gọi là bãi đáp El Paso, nằm trên QL1, 7 km đông nam Huế. Các thành phần của trung đoàn 1 và 5 TQLC, hành quân chung quanh Phú Bài, 15 km đông nam Thành nội, dưới quyền của lực lượng đặc nhiệm (LLĐN) X-Ray, một đv cấp lữ đoàn của sđ 1 TQLC Mỹ

X-Ray có nhiệm vụ bảo vệ sân bay C-130 và căn cứ tiếp liệu tại Phú Bài, và con đường dài 50 km từ Phú Bài đến Đèo Hải Vân. Mỗi ngày có đoàn xe chở hàng hóa từ Cảng Đà Nẳng, trên con đường dài 20 km, ngoằn ngoèo khi vượt đèo Hải Vân, để tới Phú Bài và Bãi đáp El Paso. Một đoàn xe khác từ bãi đáp này chở hàng đến tp Quảng Trị để tiếp tế cho các căn cứ tiền phương của sđ 1 Không kỵ, trong đó có lữ đoàn 3, BCH đặt tại Trại Evans, 25 km tây bắc của Kinh thành Huế. 

Lữ đoàn 3 này đang trong tình trạng chưa sẵn sàng chiến đấu trước tết. Khi ĐT Campbell, lữ đoàn trưởng, di chuyển BCH và hai TĐ từ thung lũng Quế Sơn về trại Evans ngày 26/1/68, ông nhận ra rằng mảnh đất từng là nơi đóng quân của các đv của sđ 3 TQLC Mỹ, ko chứa sẵn đạn dược hay xăng dầu. Những thứ này sẽ đến 5 ngày sau. Vì tướng Westmoreland đã triển khai sđ 1 không kỵ về phía bắc Vùng 1 hầu như hai tháng trước dự trù, lực lượng 3 thủy bộ của TQLC Mỹ đã ko kịp thời lập một kho bãi ở trại Evans và ko đủ xe tải đúng nhu cầu cho sđ này. Phi đạo quá ngắn với C-130. Nay với cả ba TĐ tác chiến, một TĐ pháo, và phần còn lại của lữ đoàn tập trung tại Evans, ĐT Campbell ko đủ xăng cho 150 trực thăng để hoạt động bình thường, cũng như ko đủ đạn đại bác cho hoạt động yểm trợ bình thường. Tóm lại phải cần ít nhứt là một tuần để lữ đoàn 3 hoạt động bình thường với đầy đủ đạn dược và xăng dầu.

Tướng Trưởng đang trông chờ lữ đoàn này có đầy đủ sức mạnh. Trong khi đó có những dấu hiệu rằng trung đoàn 6 csbv và TĐ 12 đặc công, từng hoạt động ở rừng núi tây bắc Huế, có ý định tấn công Huế. Điều mà tướng Trưởng ko biết là gần đây đối phương đã di chuyển thêm vài trung đoàn và các đv yểm trợ vào khu vực này và đã lập một BCH chiến thuật, có tên Mặt trận Thành phố Huế, để chỉ huy họ. Trong những đv mới này có TĐ 7 của trung đoàn 29 sđ 325 C csbv, mà gần đây hoạt động gần Khe Sanh. Trung đoàn 5 csbv đến từ căn cứ địa 101 và trung đoàn 4 csbv đến từ vùng phía nam của tỉnh Thừa Thiên. Những đv tăng viện khác gồm một TĐ pháo trang bị hỏa tiển 122 ly, hai TĐ đặc công, hai đ.đ. cối 82 ly, hai đ.đ. súng ko giật 75 ly, và hai đ.đ. đại liên 12.7 ly. Tổng cộng các đv VC hoạt động gần đế đô Huế có quân số ít nhứt là 14 TĐ. (Theo Tống Hồ Trinh, trong sách Hướng Tiến Công và Nổi Dậy Tết Mậu Thân ở Trị-Thiên-Huế 1968, do Viện Quân sử VN ở Hà Nội in, trang 21-22 -- ND). 

Đạo quân này chia thành hai cánh. Cánh phía nam gồm các TĐ 804, 815, và 818 của trung đoàn 4; TĐ 1 và 2 đặc công; và vài đ.đ. vũ khí nặng. Cánh phía bắc gồm TĐ 800, 802, và 806 của trung đoàn 6; TĐ 12 đặc công; TĐ 416 của trung đoàn 5; TĐ 7 của trung đoàn 29; và hai đ.đ. vũ khí nặng. Đạo quân này rời các căn cứ trên rừng núi để tiến về Huế vào tối 29/1/1968. 

Dù tướng Trưởng ko biết việc điều quân này của đối phương, nhưng những đợt tấn công tại vùng 2 và phía nam vùng 1 vào đêm đó đã cho ông thấy Huế đang bị nguy hiểm. Ông đã hủy bỏ việc đi phép của mọi quân nhân và ra lịnh cho các đv ĐPQ và NQ gần Huế phải trực chiến mỗi đêm. Ông ra lịnh cho BTM phải trực chiến tại đồn Mang Cá trong các ngày Tết và gửi phân nửa của đ.đ. Hắc Báo qua hữu ngạn sông Hương để bảo vệ BCH tiểu khu. Ông cũng gửi trung đội thám báo 36 người đi dọc sông Hương về phía bắc 4 km vì nghĩ rằng các đv của VC có thể dùng con đường này để tiến về Huế. 

Suy nghĩ của tướng quân đã đúng khi 22:00 g đêm, lính ĐPQ báo cáo thấy VC lén lút vượt qua 1 ấp gần góc phía tây của Kinh thành. (Nói thêm: Kinh thành Huế, xây ở tả ngạn sông Hương, có hình vuông, nhưng các cạnh lại ko song song với đường vĩ tuyến và kinh tuyến, có lẽ dựa vào phong thủy; do đó bốn góc thành hướng về bốn hướng đông tây nam bắc. Cạnh phía nam nằm sát sông Hương, nối liền hữu ngạn bằng cầu sắt Bạch Hổ và cầu Nguyễn Hoàng -- ND). 

ĐPQ lập tức nổ súng, các bóng đen bỏ chạy vào bóng đêm. Hai giờ sau, trung đội thám báo kể trên đã báo cáo rằng vài TĐ Việt cộng đã đi ngang điểm phục kích của họ để tiến về Huế. Tướng quân đã ra lịnh cho đv này trở về Thành nội ngay lập tức; ông rất cần nhiều tay súng để chống trả cuộc tấn công sắp tới. 

Ngày 31/1 và 1/2/1968: "Chỉ mành treo chuông" tại BTL của tướng Trưởng. 

Lúc 03:33 giờ sáng ngày 31/1, một hỏa châu VC đã phụt sáng trên bầu trời ở Huế. Các đội viên của đội Đặc công Thành, giả trang dân thường nhưng mang súng tự động và súng lục, xuất phát từ các nhà an toàn trong tp. Một số tên đã cắt dây điện thoại dẫn tới BTL của tướng Trưởng. Những số khác giết lính canh tại một trong những cổng ở tây nam của Kinh thành để mở đường xâm nhập vào Huế cho các TĐ 800, 802, và TĐ 12 đặc công đã ẩn nắp trước đó trong các cánh đồng gần đó. Sau khi tràn qua cổng này, TĐ 800 chuyển hướng (veer) về phía bắc để tấn công sân bay Tây Lộc, trong khi các đv còn lại tiến về phía đông vào trung tâm của tp, xem bản đồ 33. (Theo trang 29 của sách của Tống Hồ Trinh).                               

                               Bản đồ số 33





 Trong khi đó, một đ.đ. của TĐ 806 chiếm cầu An Hòa, bắt ngang hào nước gần góc phía tây của Kinh thành. Bốn chục đặc công, đã xâm nhập trước đó trong đêm, trèo qua bức tường phía tây bắc của Kinh thành và chiếm một cổng để tạo cửa mở cho 1 đ.đ. khác xâm nhập thành nội. Hai lực lượng này sau đó tiến về hướng đông để tấn công BTL của tướng Trưởng. Hai đ.đ. còn lại của TĐ 806 chiếm 1 nghĩa địa khoảng 1 km về phía bắc để chận QL1. (Cũng theo trang này).
Nhưng mọi việc ko diễn tiến thuận lợi cho họ khi TĐ 800 không thể khống chế 50 lính Hắc Báo và một số lính Quân cụ tại sân bay Tây Lộc. Dù TĐ 802 đã xâm nhập đồn Mang Cá nhưng đã nhanh chóng bị đẩy lui bởi một lực lượng lỏng lẻo (ad hoc) gồm lính văn phòng và tiếp liệu của BTL sđ 1 bộ binh. Kẻ thù có lẽ ko muốn chiếm sân bay, mà chỉ nhắm vào BTL của sđ 1. 
Tướng Trưởng đã quyết định ko để điều ấy xảy ra. Ông ra lịnh cho bốn TĐ bộ binh kéo về tp càng nhanh càng tốt. Trong khi đó, ông gọi lính Hắc Báo đang đóng ở sân bay Tây Lộc và chi đội xe tăng M41 đang đóng ở nam Huế kéo về bảo vệ BTL. Lính Hắc Báo và hơn 100 lính nam VN đang đi phép kéo về trình diện BTL, giúp tướng Trưởng đủ người để giữ BTL. Trong khi đó, từ hậu cứ của một chi đoàn thiết giáp ở đông nam Huế, chi đoàn trưởng tiến về phía bắc với hai xe M41 và hai M113 -- khả dụng vào lúc đó. Kẻ thù đã phục kích, phá một xe M41 và một xe M113 khi họ qua Cầu An Cựu để vào phía nam Huế. Chạy thêm vài trăm mét, khi tới gần tòa nhà của MACV, một loạt đạn B40 đã phá hủy thêm hai xe. Tướng Trưởng ko còn hy vọng về tiếp viện từ phía nam. (Cũng theo trang 34 của sách đã dẫn). 
Trong khi lính phòng thủ của đồn Mang Cá đang cố gắng cố thủ, cánh quân phía nam của Mặt trận Thành nội Huế tấn công vào khu tam giác
(NÓI THÊM: Phía nam Huế, ở hữu ngạn sông Hương, có một khu vực bằng phân nửa Kinh thành, được người Mỹ đặt tên Khu Tam giác (the Triangle) vì nó giống một tam giác ko đều mà phía nam là Kinh Phú Cam, phía đông là một con sông có tên Phát Lạc, và phía tây bắc là sông Hương. Hai cây cầu nối Khu Tam giác này với Kinh thành. Cầu Nguyễn Hoàng, trước đây gọi là cầu Trường Tiền, bắt qua Sông Hương ở gần góc phía đông của Hoàng Thành, cầu đã bị đánh sập trong trận Mậu Thân bởi VC.
 1.500 mét về phía tây nam là cầu đường sắt Bạch Hổ. Một cầu khác, rất quan trọng về mặt quân sự là Cầu An Cựu, nằm trên QL, bắt qua Kinh Phú Cam. 
Trong khu này có cơ ngơi rất nguy nga của ĐH Huế, BCH tiểu khu và trại giam Thừa Phủ, gần đó là bịnh viện toàn khoa, và kho bạc. Gần đó là doanh trại MACV của tiểu khu, xem hình -- ND.
                            
Khu tam giác
Một đ.đ. tăng cường của TĐ 2 đặc công tấn công doanh trại của cố vấn Mỹ hay MACV. Quân phòng thủ đã đẩy lui nhiều đợt xung phong và sau 2 giờ TĐ này đã hướng về những mục tiêu dễ hơn trong tp. Trong khi đó, trung đoàn 4 và 5 chiếm những tòa nhà chính phủ khắp khu tam giác. Mục tiêu gai góc của VC là BCH tiểu khu, nơi mà một trung đội của đ.đ. Hắc Báo cầm cự đến cuối ngày. 
Sau khi cuộc tấn công bắt đầu, các cố vấn Mỹ ở Huế đã báo cáo với BTL TQLC Mỹ ở Phú Bài và xin tiếp cứu. TL của Lực lượng Đặc nhiệm X-Ray, chuẩn tướng Foster C. LaHue, đã đồng ý gửi 1 đ.đ. quân số ko đầy đủ để cứu cố vấn. Ông ko có quân trừ bị khi các tiền đồn của ông từ Đèo Hải Vân tới Phú Bài đều bị tấn công, và các toán đặc công đã đặt mìn hay đắp mô tại nhiều nơi trên đoạn đường 50 km trên QL1. Con đường đi Đà Nẳng đã bị chận, và ưu tiên số 1 của tướng LaHue là tái lập an ninh để các đoàn xe có thể tiếp tế cho lực lượng X-Ray và sđ 1 không kỵ. Ở giai đoạn này, ko có TL của TQLC hay ai khác ở Lực lượng 3 Thủy bộ có thể đánh giá (appreciate) tầm mức của khủng hoảng này. Vài ngày sẽ trôi qua trước khi các TL Mỹ ngoài tp có thể nắm vững tình hình ở đây. Do vậy, các TQLC mà LaRue gửi tới doanh trại MACV chỉ là một cuộc mạo hiểm.
Lúc 08:30, một đ.đ. ko đủ quân số của sđ 3 TQLC Mỹ nhảy lên xe tải ở Phú Bài để đi Huế, hộ tống bởi 2 xe tải của Lục quân trang bị đại liên 12.7 ly loại bốn nòng. Trên đường, đám quân này gặp bốn xe tăng M48 của TQLC Mỹ đang đậu vệ đường. Đám lính xe tăng nói rằng trên đường đến bến tàu của hải quân ở phía bắc của MACV thì được biết Huế bị tấn công. Cả hai bên cùng tiến vào Huế. 
Đoàn xe vượt cầu An Cựu vô sự, và nghe tin hai xe của Nam VN bị phá hủy ven đường. Vài phút sau, họ tới nơi mà hai xe thiết giáp của nam VN bị hư hại nằm ven đường, với vị chi đoàn trưởng bị thương nặng. Đưa kẻ bị thương lên xe, đoàn xe hướng về Huế. Họ tới một nơi toàn là đồng lúa kéo dài 500 m hai bên đường. Nơi đây rất trống trải và đường rất hẹp, nghĩa là chỉ cần 1 xe hư hỏng là đoàn quân phải dừng lại. Sợ bị phục kích trước khi tới doanh trại MACV, chỉ huy đoàn xe gọi Phú Bài xin viện binh.
Sau đó ít lâu 1 đ.đ. TQLC được gửi tới: với xe tăng dẫn đầu, đoàn xe tiến về Huế. Đúng như dự đoán, đoàn xe đã bị bắn chận bằng đủ loại súng, nhưng với hỏa lực của xe tăng và bộ binh, bốn giờ sau đó, đoàn xe đã tới MACV với thiệt hại nhẹ. Tình hình cho thấy là lực lượng VC tại Huế mạnh hơn và quyết tâm hơn những điều mà BCH của lực lượng đặc nhiệm X-Ray đã nghi ngờ, xem bản đồ số 34.             
Bản đồ 34
Biết rằng BTL của tướng Trưởng nguy ngập, tướng LaHue ra lịnh cho đoàn quân TQLC trên đây vượt sông để tới đồn Mang Cá. Xe tăng M48 của quân Mỹ quá nặng nên ko dám qua cầu, còn xe tăng M41 của quân nam VN thì ko dám qua. Hai trung đội TQLC đành tiến lên. Ngay khi lính Mỹ ở trên cầu, các loại súng lớn nhỏ bắn đi từ bức tường của Hoàng thành. Vài TQLC bị thương hay chết. Khi họ tới bờ sông bên kia, họ khám phá các lều của dân đánh cá (fishing shack) nằm ven sông thì đầy lính bắn sẻ BV. Với 1/3 quân số chết và bị thương, 2 trung đội này rút về doanh trại MACV mang theo thương binh. 
Tối hôm đó, TQLC và cố vấn Mỹ đã trải qua 1 đêm gần như ko ngủ trong doanh trại, trong khi tướng LaHue và BCH của lực lượng 3 thủy bộ cố gắng tìm hiểu (piece together) những gì xảy ra ở Huế. 
Những người lính TQLC trên đây chỉ là 1 trong đv đồng minh cố gắng tiếp cứu BTL của Trưởng trong ngày 31/1/1968. Một lúc sau 0900 giờ, chi đoàn 3 của thiết đoàn 7, và TĐ 7 Dù của nam VN đã bắt tay ở cây số 17 và cùng tiến về đông nam trên QL1. Gần trưa, khi đoàn quân tới gần 1 nghĩa địa cách 400 m từ Hoàng thành, bộ đội của TĐ 806 núp trong các hố chiến đấu kế các mộ bia bắn vào họ bằng B40 và súng tự động. Đợt súng đầu đã phá hủy hai M113, trong số 12 chiếc của đoàn xe, khiến đoàn quân phải dừng . 
Chỉ huy đoàn quân duyệt xét tình hình. Họ ở ngoài tầm yểm trợ của pháo binh và thời tiết quá xấu khiến không thể ném bom, nhưng ông được lịnh phải tới BTL của Trưởng càng nhanh càng tốt. Họ chỉ còn cách xung phong trực diện. Với hỏa lực tối đa của 12.7 ly của M113, lính Dù xung phong vào phòng tuyến của kẻ thù. Gần 1/2 lính Dù đã chết hay bị thương khi xung phong. Những kẻ sống sót đã tới giữa nghĩa địa và tìm chỗ núp, ko thể tiến hay lùi. Chỉ huy của TĐ dù gọi Quân Đoàn cầu cứu và tướng Lãm tung ra TĐ 2 Dù, đang làm trừ bị ở cây số 17. Tiến theo QL1, TĐ 2 Dù đánh về mặt đông của QL1, vào cạnh sườn của TĐ 806. Điều này đã giảm bớt áp lực cho TĐ 7 Dù nhưng ko thể bứng được TĐ 806 ở phần phía nam của nghĩa địa. 
Cuộc chạm súng đã giảm dần (taper off) khi trời bắt đầu tối. Lính Nam VN trải qua một đêm co ro lạnh lẻo bên các bia mộ, nhưng sáng hôm sau, họ phát hiện TĐ 806 đã rút vào Hoàng thành. (Nói thêm: Kinh thành rộng sáu km 2 xây dựng trong hai thập niên của thế kỷ 19. Tường thành bằng đá cao tám mét và dầy vài mét, bên ngoài là hào sâu đầy nước. Tường thành phía đông nam song song với sông Hương và cách một khoảng ngắn. Tường phía này có 4 cổng, 6 cổng còn lại trên ba tường thành còn lại. Một con kinh hơi nông chạy cong queo (crooked) từ giữa tường thành phía tây nam tới giữa tường thành phía đông bắc. Hai cống nước (culvert) nối kinh này với kinh bên ngoài. Trong thời bình, thuyền đi trên sông Hương có thể vào Kinh thành theo đường này, nhưng giờ đây đã bị rào bằng kẽm gai. Khu đông nam của Kinh hoàng là Hoàng cung (Imperial Palace), một cung điện có tường cao và hào nước bao quanh, rộng gần 1 km2, nơi ở của hoàng gia từ 1802 tới 1945 -- ND).
Vào khoảng trưa, vài lính của đ.đ. Hắc Báo đã gặp lính Dù và thiết giáp và dẫn họ vượt đồng ruộng để vào Kinh thành, đến đồn Mang Cá gặp BTM của tướng Trưởng.
Tướng quân cũng cố gắng hết mức để đưa bốn TĐ của trung đoàn 3 thuộc sđ 1 về cứu viện. Đang làm công tác Bình định Nông thôn ở khu vực phía tây của tp, TĐ 2 và 3 được lịnh đã tiến về góc phía nam của Kinh thành, nơi mà cầu sắt Bạch Hổ bắt qua sông Hương vào buổi chiều 31/1/1968, nhưng họ ko vượt qua tường thành và các cổng do VC chiếm giữ. TĐ 4, đang hành quân ở nông thôn phía đông nam Huế, đã bị VC ngăn chận khiến họ tới ngày 5/2/1968 mới vào Kinh thành. Riêng TĐ 1, đóng ở phía đông Huế, cũng bị các đv địa phương VC chận đường. Họ tiến ra bờ biển, gặp tàu Hải quân Nam VN, chở họ trên sông Hương tới đồn Mang Cá vào trưa 1/2/1968. Với số quân tăng viện gồm Dù, bộ binh, thiết giáp, tướng Trưởng giờ đây đủ quân để bắt đầu phản công có giới hạn. 
Vào chiều 1/2/1968, TĐ 2 và 7 Dù, đã xuất phát từ đồn Mang Cá, cùng với đ.đ. Hắc Báo và một số xe thiết giáp. Lực lượng hỗn hợp này tiến về tây và ngoặt xuống phía nam và chỉ gặp chống cự yếu ớt của đối phương tại sân bay Tây Lộc, và cứu được 1 nhóm nhỏ lính Quân cụ vẫn còn cố thủ ở phía nam của phi đạo (phi đạo nằm theo hướng bắc nam). Tướng Trưởng giữ TĐ 1/3, vừa đến bằng tàu làm trừ bị. Ngay trước trời tối, trực thăng CH-46 của TQLC Mỹ, xuất phát từ Đông Hà, mang đến cho ông hai đ.đ. của TĐ 4/2 bộ binh. Tình hình quân sự tồi tệ và trời sắp tối khiến trực thăng ko thể bốc phần còn lại của TĐ này. 
Vì thời tiết ở tỉnh Thừa Thiên trở nên tồi tệ (take a turn for the worse) vào ngày 1/2, tướng LaHue và BTM ở Phú Bài đã bắt đầu lập kế hoạch tái chiếm phía nam Huế. Dù ko có tin tình báo về sức mạnh của đối phương, vị TL này của lực lượng X-Ray đã chọn giải pháp tấn công, bằng cách ra lịnh sĩ quan cao cấp của TQLC ở MACV Huế là trung tá Marcus Gravel, chỉ huy TĐ 1/1 TQLC, tiến về phía tây dọc theo bờ nam của sông Hương với hai đ.đ. và vài xe tăng. TQLC Mỹ đã tiến rất chậm vì bắc quân có mặt ở mọi góc phố và hẻm và bắn vào họ bằng vũ khí liên thanh và B40. Tới trưa, quân số của họ chỉ còn khoảng 1/2 so với lúc xuất phát. Rút về doanh trại của MACV, trung tá Gravel cho lính bị thương nặng lên xe để đưa gấp về Phú Bài. Khi đoàn xe tới Phú bài, một trung úy bẩn thỉu (unwash) vì ko tắm từ chiến trường báo cáo tình hình cho tướng LaHue. Tướng quân, giờ đây mới bắt đầu đánh giá (appreciate) tầm quan trọng của cuộc tấn công của CS, đã dùng trực thăng gửi 1 đ.đ. của TĐ 2/5 TQLC và hứa sẽ gửi thêm quân tiếp viện./."
Chuyển ngữ từ trang 387 tới trang 400 của quyển Staying The Course tháng 10 1967 tới tháng 9 1968 của Erik Villard, in năm 2017.
San Jose ngày 18/02/2025, lúc 07 pm, nhằm ngày 21 tháng Giêng năm Ất Tỵ).
Tài Trần.