Showing posts with label llđb. Show all posts
Showing posts with label llđb. Show all posts

Saturday, July 18, 2026

 

TRẬN PLEI ME 1965: LÍNH MỸ NGẠC NHIÊN TRƯỚC SỰ KIÊN CƯỜNG CỦA KẺ THÙ

Chuyển ngữ từ bài The Siege at Pleime: Americans Marvel at Toughness of Foe trên báo New York Times ngày 28/10/1965.

-  Lời nói đầu: Nhật báo New York Times là một trong những tờ báo hàng đầu của Mỹ. Tôi đã cố gắng bám sát nội dung dưới đây của bài viết vì biết rằng nội dung này có thể gây tranh cãi nơi người đọc. Nhưng cũng nhờ đó, chúng ta cũng biết QUAN ĐIỂM CỦA BÁO CHÍ MỸ VÀO NĂM 1965, mà tờ báo này là một ví dụ điển hình. Năm 1965 là năm mà người Mỹ đã bắt đầu đổ quân ồ ạt vào VNCH với đầu tiên là TQLC Mỹ đổ bộ vào Đà Nẳng, sau đó là lữ đoàn 173 Dù, và kế đó là sđ 1 Không kỵ, v.v... vì trước đó chỉ có CỐ VẤN MỸ đi theo các đơn vị VCNH. Theo tổ chức của QĐ Mỹ, TQLC, Nhảy Dù, và LLĐB là thiện chiến nhứt vì toàn dân tình nguyện; trong khi đó, các đơn vị khác gồm lính quân dịch và tình nguyện. 

--- Thiếu tá Beckwith, người thành lập Project Delta vào năm 1964 tại Nha Trang, (với các toán viễn toán (recondo team), viết tắt là RT, chỉ có sáu người -- ND), đã gọi quân tấn công là “những người lính giỏi nhứt mà tôi thấy trên thế giới, ngoài lính Mỹ. Tôi mong ước, tôi có thể tuyển mộ họ. Tôi mong ước, tôi biết họ đã uống thuốc gì đã khiến họ chiến đấu như vậy. Họ có động lực rất cao và chiến đấu hết mình." (Thiếu tá Beckwith và thiếu tá Phạm duy Tất đã chỉ huy khoảng hai đại đội Biệt Cách Dù (BCD) thuộc Project Delta đến tiếp cứu trại Plei Me. Do cấp bậc lớn hơn trưởng trại nên Beckwith đã nắm quyền chỉ huy trại.—ND).

    Sau đây là phần chuyển ngữ từ nhật báo này, với hình ảnh lấy từ nhiều nguồn trên mạng. 

-

Trại Plei Me có hình tam giác đều.

Trại gia binh ở bên ngoài trại, nhưng khi chiến sự bùng nổ, gia đình binh sĩ đã chạy vào trại để trú ẩn.

-     

" Plei Me, Nam VN, ngày 27/10/1965 – Hôm nay một Tiểu đoàn (TĐ) thuộc sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ đã nhảy từ trực thăng xuống một sườn núi bị đốt cháy và đầy hố do bom đạn gây ra, nằm bên ngoài hàng rào của trại LLĐB Plei Me, đã bị tấn công 8 ngày. Lính của sư đoàn 1 Không kỵ, đã tiến quân qua hố bom và các hố chiến đấu cá nhân chứa những xác cháy đen của quân du kích và lục soát chung quanh mặt tây của trại. Nhưng họ đã ít chạm súng với kẻ thù. Nhưng dường như trận Plei me đã kết thúc vào buổi trưa hôm qua khi 17 lính LLĐB Mỹ, râu mọc xồm xàm, phủ đầy bụi đất, ngồi nghỉ chung quanh ngôi nhà của toán. Nhưng súng đã đột ngột nổ vang, và những lính Mỹ này, từng huấn luyện về chiến tranh chống du kích, nay trải qua 1 giờ dưới hầm hố khi khoảng 2.000 đạn súng trường và liên thanh bắn phá doanh trại của họ. Sau đó họ đã chứng kiến lính Không Kỵ đổ quân và đưa xác lính Nam VN lên trực thăng.

Khi một phóng viên đến trại ngày thứ Hai, y hỏi một trung sĩ LLĐB rằng thiếu tá Charles Beckwith ở đâu. “Khi bạn thấy một người to lớn đang la hét ‘tiếp tục tiến lên’, đó là ổng,” trung sĩ nói.  Cảm giác đầu tiên và nổi bật nhất ở Plei Me là mức độ sâu sắc của sự tôn trọng mà người Mỹ dành cho kẻ thù của họ, trong số đó có hàng trăm bộ đội chánh quy bắc VN. Thiếu tá Beckwith đã gọi quân tấn công là “những người lính giỏi nhứt mà tôi thấy trên thế giới, ngoài lính Mỹ. Tôi mong ước, tôi có thể tuyển mộ họ. Tôi mong ước, tôi biết họ đã uống thuốc gì đã khiến họ chiến đấu như vậy. Họ có động lực rất cao và chiến đấu hết mình." Trận Plei Me đã bắt đầu vào tối ngày thứ ba 19/10 khi tấn công xảy ra vào căn cứ hình tam giác này, khoảng 350 km, đông bắc của Sài Gòn, được bảo vệ bởi 350 lính Thượng với 9 cố vấn LLĐB Mỹ. Trại đã cầm cự và ngày thứ Sáu đã được tăng cường bởi 14 lính LLĐB Mỹ và khoảng 250 lính biệt kích nam VN. (Trong trận này, trại được tăng cường bởi khoảng 2 đại đội biệt cách dù VNCH thuộc Project Delta, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Beckwith và thiếu tá Phạm duy Tất – ND).

Trong 4 ngày kế, quân chánh quy CSBV và quân trú phòng đã đụng độ sát bên ngoài hàng rào kẽm gai. Suốt ngày thứ Bảy những đơn vị của quân csbv đã phục kích và phần nào tràn ngập một đơn vị (đv) lớn quân tiếp viện gồm thiết giáp và bộ binh ở cách trại Plei Me gần 9 km. Hai hàng rào phòng thủ và mặt đất của Plei me đã loang lổ những hố bom và hố đại bác, phủ đầy đất đỏ, và lớp bụi đỏ này đã khiến lớp da đầy mồ hôi của quân trú phòng có màu đồng đỏ. Sự bẩn thỉu của căn cứ bị bao vây này đang gây kinh hoàng (appal). Mỗi tối, cả trăm con chuột quấy rối (scuttle) giấc ngủ của quân trú phòng, và chấy rận chui vào đồng phục chưa giặt sạch của họ.

Những thùng đạn rỗng và những cánh dù màu sắc sáng chói nằm rải rác khắp trại.

QUÁ ÍT NƯỚC ĐỂ TẮM GIẶT

Nước được thả dù bằng máy bay, quá hiếm hoi để cho quân trú phòng tắm rửa và cạo râu. Một buổi tối, hai người lính vừa làm một ấm cà-phê lớn thì địch tấn công khiến họ chạy nhanh đến hầm trú ẩn để lấy võ khí. Khi họ trở lại thì ấm cà-phê đã nguội lạnh. Họ dùng nước cà phê này để rửa chân.

Ban ngày, lính Mỹ rời trại để tấn công các vị trí súng máy và hầm trú ẩn của địch, xem ảnh minh họa.

Lính Mỹ thuộc lữ đoàn 173 Dù núp trong

1 bunker của quân csbv tại Dakto,

ngày 22/11/1967. Các bunker này có nắp

ngang mặt đất, trên phủ lá cây còn tươi nên đã bị bỏ sót trong lúc lục soát, do đó dễ bị đánh bọc hậu. Theo BĐQ Vương Mộng Long, các TĐ BĐQ đã bị thiệt hại khi bỏ sót các hầm trú ẩn loại này khi hành quân ở tây nam của Dakto cùng năm.

 

Hai lính Mỹ lục soát một bunker tại gần Qui Nhơn năm 1967.

Nhưng vào ban đêm, họ ngồi dựa vào những bao cát và nói chuyện vãn (chat). Một trung sĩ gầy ốm nói: “Tôi sẽ ko làm công việc này nữa. Tôi sắp trở thành một thư ký đánh máy nhanh nhất thế giới.” Khi một quân nhân nghiêm chỉnh nói về những gánh nặng không bình đẳng của một quốc gia thời chiến, thiếu tá Beckwith đã lập tức gầm lên (growl): “Câm miệng. Đây là thứ mà chúng ta được trả lương để làm.” “Vâng”, ai đó cười trong bóng tối, “những ai ko thích món ăn này có thể ra khỏi cổng.”

NÓI VỚI ÔNG TA RẰNG CHÚNG TA ĐANG BỊ SA LẦY.

Vào tối thứ Hai, đài phát thanh nói rằng Tổng thống Johnson đã “bày tỏ quan tâm” về Pleime và rằng các tướng Mỹ ở SG đã muốn 1 báo cáo mới về tình hình để trình lên Johnson. Một số người đã cười rộ. “Hãy nói với ổng rằng chúng ta đang sa lầy,” một người lính nói. Nhưng cũng đêm thứ Hai này, cường độ tấn công của địch sút giảm nhiều, và ko người lính LLĐB Mỹ nào để ý đến 5 phát đạn ko giựt và 8 đạn cối rơi vào trại. Ngoài những nguy hiểm này từ địch, có những nguy hiểm từ các đơn vị bạn. Chẳng hạn, hai người đã chết vì thùng tiếp tế do máy bay thả dù rơi trúng, và mái nhà của phòng ăn bị thủng một lổ do nguyên nhân như trên.

Suốt thời gian trại bị bao vây, máy bay của Không quân, Hải quân và TQLC Mỹ đã thả hàng trăm tấn bom rất gần trại, đến nổi miểng rơi khắp trại. Hai lính phòng thủ bị thương vì bom. Nhưng vị trưởng trại, thiếu tá Charles Thompson đã nói trong lúc không kích: “Tôi thích lắm, tôi thích lắm, không quân đã cứu chúng ta.” Nhưng không quân cũng có giới hạn. Lính phòng thủ đã nói rằng oanh kích không làm câm họng súng liên thanh của địch.

“VC đã đứng trong hố của chúng và tiếp tục bắn vào Không quân,” một người nói. Hai trực thăng bị phòng không bắn rơi và 8 người chết. Hai máy bay A-1E Skyraider và một máy bay không ảnh RB-66 bị rơi. Trong những ngày đầu, trung sĩ nhứt Joseph Bailey, mượn 1 lá cờ Mỹ nhỏ có rìa (fring) vàng của binh nhứt Eugene Tafoya và treo nó bên dưới là cờ vàng 3 sọc đỏ của nam VN. “Nếu chúng ta sắp chết, chúng ta sẽ chết dưới lá cờ của chúng ta,” trung sĩ Bailey nói. Một giờ sau đó, y đã chết.

Lúc 5:40 chiều thứ hai, đoàn xe thiết giáp cứu viện đã xuất hiện ở chỏm núi (crest) của đồi bắc và ồ ạt tiến về trại. Lính Thượng và biệt cách Dù Nam VN (đã đến trại vào ngày thứ Sáu) đã chào mừng họ và vẩy khăn cổ màu vàng. Trẻ con của lính Thượng đang chơi trong giao thông hào hay bám vào váy của mẹ chúng. Hơn 100 vợ lính Thượng và một số ko thể xác định con em lính Thượng đang sống trong giao thông hào hay hầm trú ẩn với chồng và cha họ. Nhiều đứa trẻ còn mang cả súng. Nổi tiếng nhứt là 1 đứa bé mới 12 tuổi tên John, đội nón sắt, mặc quân phục và trang bị lựu đạn và súng cạc-bin. Sáng thứ Hai, một trẻ em Thượng đã chết trong 1 hố súng cối. Và khi đoàn thiết giáp tiếp viện tới trại, chiến tranh có vẻ chấm dứt ở Pleime. Sáng ngày hôm qua, LLĐB và hai đại đội biệt cách dù Nam VN đã tiến về sườn phía bắc, nơi từng có 6 vị trí đại liên của địch. Trong 4 lần xuất kích trước đây, lính Mỹ đã chết khi chiếm 3 khẩu 12.7 ly, và những kẻ sống sót phải rút về trại. Họ ko thể quên trận đánh vào ngày thứ Bảy khi một tên lính VC đơn độc đã nhô lên từ hố cá nhân, tấn công hai tiểu đội lính Thượng chỉ với 1 quả lựu đạn, khiến họ rút lui.

Thiếu tá Beckwith đã bắn 7 phát đạn vào lưng tên địch này, nhưng ông đã nói, “Đó là một chiến sĩ thực sự.”

Trong lục soát hôm qua, xác của khoảng 40 VC được tìm thấy. Một số tên núp trong những hầm hàm ếch (L-shaped hole) được đào trong lớp hàng rào kẻm gai dài gần 60 mét của trại, và ko ai có thể giải thích làm thế chúng có thể đào những hố như vậy mà ko bị phát hiện.

Trong rừng, quân phòng thủ trại đã bắt 1 tiểu đội trưởng (thuộc 1 trung đoàn csbv) đã bị bỏ lại vì bịnh. Y rung rẩy nhưng đã được đối xử tử tế và cho thuốc lá.

Một người Mỹ nói: “Chúng ta nên đặt gã này ở hàng rào phía bắc của trại và đuổi những binh lính Chính phủ này đi. Có lẽ một mình hắn cũng có thể giữ được nó. Nếu chúng ta có thể kiếm thêm hai người nữa, tất cả các hàng rào sẽ được bảo vệ." (Trại Pleime hình tam giác – ND).

Cuộc hành quân này đã chấm dứt đột ngột khi 1 tên bắn sẻ bắn trúng 1 lính nam VN. Trong khi đó, đoàn xe thiết giáp tiếp viện và bộ binh cũng đã tự tin tiến ra lục soát phía nam của trại. Nhưng một toán du kích đã bắt đầu bắn vào trại, và đoàn xe thiết giáp tiếp viện, gồm 16 tăng, nhiều thiết vận xa M-113 và khoảng 800 lính bộ binh VNCH, buộc phải rút về Pleime trước một quân số ít ỏi nhưng có hầm hố vững chắc của VC. Năm cố vấn bị thương, được khiêng vào trại, 1 người sắp chết. Xác 19 lính VNCH và nhiều kẻ bị thương được mang vào trại. Cuộc bao vây Pleime chưa thực sự chấm dứt. Trong buổi chiều, lính bắn sẽ VC đã tiếp tục bắn gục (pick off) một lính VNCH. Trực thăng cứu thương bắt đầu kéo đến, nữ đại úy quân y Lanny Hunter của LLĐB Mỹ phải cố gắng xua đuổi nhiều lính nam VN, (có lẽ là lính Thượng, vì lính BCD rất có kỷ luật – ND), dù ko bị thương hay bị thương rất nhẹ, đã dành lên trực thăng với kẻ bị thương nặng. Buổi tối đã trở lại yên tỉnh khi chỉ có 5 đạn cối bắn vào trại. Hôm nay chuyên viên bậc 7 Leo Drake, cũng là y tá của trại nói đã tìm thấy 240 xác VC. Phe VNCH nói có thêm 124 VC bị giết sau khi họ phục kích đoàn xe thiết giáp VNCH vào ngày thứ Bảy, và phía Mỹ lại nói ko thể kiểm chứng con số này. Lính phòng thủ đã cười và nói rằng tin của VNCH về xác VC “treo trên hàng rào kẻm gai” tại Pleime là tin giả. Tổn thất của quân chánh phủ khá cao, nhưng thấp hơn con số do VC đưa ra".

San Jose ngày 8 July 2026. Cập nhựt ngày 18 July 2026.

Tài Trần

Saturday, July 11, 2026

 

GẶP Ổ KIẾN LỬA: THẤT BẠI NẶNG NỀ CỦA VIỄN THÁM DELTA TẠI THUNG LŨNG AN LÃO.

Bài này chuyễn ngữ từ nhiều nguồn khác nhau.

Bồng Sơn là một làng nằm dọc theo con sông lớn nhưng ko sâu, có tên Sông Lại Giang. QL-1 băng qua sông này ở đây với 2 cầu. Bồng Sơn là một ổ (hotbed) của VC trong 20 năm trước khi quân Mỹ tới đây mùa thu năm 1965. Ảnh chụp năm 1969.

THUNG LŨNG AN LÃO

Đây là một căn cứ địa vững chắc của VC/CSBV. Thung lũng đặt theo tên con suối chạy dọc theo thung lũng. Lữ đoàn 173 Dù từng hoạt động nhiều lần ở đây, với căn cứ đặt tại bãi đáp English, hay Đệ Đức, khoảng 10 km đông bắc của đầu phía nam của thung lũng.

 

1/ Phần nói đầu: Project Delta, với các toán viễn thám 6 người, là một đơn vị về Hành quân Đặc biệt thành công nhất trong chiến tranh VN. Tuy vậy rất ít người Mỹ biết đơn vị (đv) này, và họ là tiền thân của Delta Force sau này.

Thành lập từ năm 1964 tại Nha Trang, nhiệm vụ của Project Delta, mà tên chính thức là Toán B-52, là thực hiện các nhiệm vụ thám sát đặc biệt khắp VNCH theo lịnh của MACV và Bộ Tổng Tham mưu VNCH.

Họ làm theo yêu cầu của cấp sư đoàn (sđ) hay quân đoàn (qđ). Khi đó họ sẽ dưới quyền chỉ huy của đv đã yêu cầu.

Nhiệm vụ của họ rất đa dạng gồm việc thám sát vào các khu vực của VC để thu lượm tin tức tình báo chiến thuật hay chiến lược; hướng dẫn không kích vào những mục tiêu bình thường khó tiếp cận hay phát hiện 1 tập trung đông đảo của đối phương; tiến hành việc Đánh giá Thiệt hại do oanh kích gây ra, viết tắt là BDA trên vùng địch kiểm soát; giải cứu tù binh đồng minh và phi công lâm nạn; bắt tù binh để khai thác; đặt máy nghe lén vào dây điện thoại của địch; đặt mìn trên đường chuyển quân của địch; chụp hình bằng không ảnh và công tác tâm lý chiến. Họ thường hoạt động gần các căn cứ địa hay đường xâm nhập ở khu vực biên gới. Hoạt động của họ chỉ được giải mã năm 1996.

Quân số của Project Delta hay B-52 thay đổi theo thời gian, nhưng thông thường gồm 11 sĩ quan và 82 hạ sĩ quan của lực lượng đặc biệt (LLĐB) Mỹ; một đại đội an ninh gồm 105 lính dân sự chiến đấu (DSCĐ) gốc Nùng – canh giữ doanh trại; một toán Đánh giá Thiệt hại do Oanh kích gây ra gồm 4 người Mỹ và 20 DSCĐ, 20 sĩ quan và 78 hạ sĩ quan/binh sĩ của LLĐB VNCH; một đại đội Roadrunner gồm 123 lính DSCĐ; và TĐ 81 Biệt Cách Dù gồm 43 sĩ quan và 763 hạ sĩ quan/binh sĩ VNCH. TĐ này là lực lượng phản ứng của Project Delta. Trong Tết 1968, họ đã chiến đấu trong tỉnh Gia Định.

Trong phần lớn các trường hợp, các thành phần của Đại đội 281 Trực thăng Tấn công (AHC) được lịnh yểm trợ cho họ. Các tiền sát viên không quân hay FAC cũng phối hợp với họ.

Các toán viễn thám, viết tắt là RT, gồm LLĐB Mỹ và VNCH; và các toán Roadrunner (thuộc LLĐB VNCH với trang bị quần áo và vũ khí địch) là nguồn cung cấp tình báo chánh của Project Delta. Việc xâm nhập lúc đầu thực hiện bởi Trung đội 145 Không vận của Mỹ, viết tắt là 145 AVN PLT và sau này bởi đại đội 281 Trực thăng Tấn công của Mỹ.

2/ Sau đây là cuộc hành quân viễn thám vào thung lũng An Lão tháng 1/1966.

Ảnh: Trung sĩ nhứt (SSGT) Frank Neil Badolati (tử trận trong trận này), là một thành viên của Project Delta, Liên đoàn 5 LLĐB Mỹ.

                

 (Nói thêm: Trong trận Pleime từ 19 đến 25/10/1965, sáng 21/10, một lực lượng 175 người, phần lớn là BĐQ VNCH thuộc Project Delta, dưới quyền của thiếu tá Charles Beckwith và Phạm duy Tất đã được trực thăng đổ xuống cách trại khoảng 5 km. Ngày hôm sau, đơn vị này tiến ra khỏi trại nhưng bị đẩy lui, chết 14 người, và phải lui về trại – ND).

Hành quân Masher (24-1 tới 6-3-1966), xem bản đồ, là một cuộc hành quân lùng và diệt lớn nhứt vào thời điểm đó. Project Delta được giao nhiệm vụ thám sát phía bắc của thung lũng An Lão. (Trên bản đồ ta thấy lữ đoàn 2 và 3 của 1 Không kỵ Mỹ hoạt động phía bắc thung lũng; TĐ 2/40 VNCH án ngữ ở phía nam. CCHL Brass và Steel và bãi đáp Papa yểm trợ cho cuộc hành quân, mà BCH tiền phương đặt tại Bồng Sơn. SĐ 3 CSBV hoạt động ở vùng này. Hương lộ 514, có từ đời Pháp, chạy suốt thung lũng. Quận lỵ An Lão, tượng trưng bởi chấm đen lớn, đã bị CS, đánh chiếm tháng 12/1964 – ND).

 

Khu vực này của thung lũng An Lão được che phủ bởi thảm thực vật rậm rạp, phần lớn là cỏ voi, cao từ 9 tấc đến 1,2 mét, và xen kẻ với các ruộng lúa. Các sườn dốc bao quanh 2 bên của thung lũng với các vị trí phòng không của VC. Tin tình báo cho biết hai trung đoàn csbv đóng trong thung lũng, với yểm trợ của quân nổi dậy VC. Với tình hình như vậy, cựu chỉ huy của Project Delta, thiếu tá Art Strange, đã cảnh báo người kế nhiệm của mình, thiếu tá Beckwith vào tháng 7/1965 “Tránh xa thung lũng An Lão. Chúng có nhiều hệ thống báo động tinh vi và chó săn.”

Người lập kế hoạch cho hành quân Masher và Beckwith đã coi thường ý kiến này. Họ yêu cầu viễn thám thám sát thung lũng nhưng nhiều rắc rối đã xảy ra. Beckwith không muốn có người VN trong toán viễn thám -- dù phải có trong bảng cấp số tổ chức; tình báo thực địa chưa được xác nhận, thời tiết xấu, yểm trợ của trực thăng và gunship bị giới hạn do súng phòng không, và, như đã nói trước đây, VC đã kiểm soát thung lũng này. Lần cuối cùng mà quân VNCH ở đây là năm 1958.

Beckwith đã cho 3 toán xâm nhập gồm toàn lính LLĐB Mỹ. Trung sĩ nhứt Badolati đi với toán ROADRUNNER cùng với trung sĩ nhứt (SFC) Marcus Huston (trưởng toán), trung sĩ Billy McKeith, trung sĩ Wiley Gray, trung sĩ Ron Terry và trung sĩ Cecil Hodgson (mỗi toán sáu người).

Nhiệm vụ của họ đã nhanh chóng thất bại. Toán ESKIMO phải hủy bỏ với 1 người bị thương. Toán CAPITOL bị 1 người lấy củi trông thấy nên bị phục kích, mất 4 người và 2 bị thương.

Toán ROADRUNNER chạm địch lúc 09:00 ngày 28/1 và lần hai lúc 12:30. Trưa hôm đó, Badolati đã trúng đạn ở phần trên của tay trái, khiến tay gần như bị cắt đứt (sever). Trung sĩ Hodgson buộc ga-rô cho Badolati trong khi toán bị tấn công. Toán đã đoạn chiến và di chuyển khoảng 550 mét, sau đó ngừng lại để chăm sóc cho Badolati. Họ lập tức bị tấn công. Toán phải tách làm hai để tránh đối phương đuổi theo.

Nhóm 1 gồm Gray, Hodgson và Terry và nhóm 2 gồm Badolati, Huston và McKeith. Nhóm 2 của Badolati cố gắng núp dọc theo sườn dốc và sau tối đã đi trên lòng suối để mất dấu. Cuối cùng Badolati đã nói y “ko thể đi nữa” và để y ở lại. Huston và McKeith ko đồng ý, và dừng ở 1 vị trí kín đáo ở cách bờ suối khoảng 1 mét. Dù vết thương ở tay được chăm sóc cẩn thận, tình trạng của Badolati tiếp tục suy sụp và chết vào lúc sáng sớm ngày 29/1/1966. Hai người còn lại trong nhóm đã dấu xác của Badolati dưới những bụi cây bên cạnh những tảng đá lớn, với hy vọng toán Tìm kiếm (SAR) sẽ tìm thấy. Họ đã được trực thăng cứu sau đó.

Nhóm 1 của Gray, Hodgson và Terry đã lẩn trốn suốt ngày và tìm chỗ núp để qua đêm. Khi trời vừa sáng của ngày 29, ba người đã bắt đầu di chuyển và ko chạm địch cho tới 4:30 giờ chiều. Trong khi núp trong cỏ voi, họ đã thấy bảy VC đứng cách họ khoảng 1,2 mét ở bên phải và phía sau họ. Họ nổ súng, giết ba tên. Ngay sau đó, Gray đã nghe Terry hét lên rằng y trúng đạn và thấy Terry cong người khi trúng đạn lần nữa; viên đạn này đã kết liểu cuộc đời Terry.

Gray ko biết Hodgson núp ở đâu và quyết định di chuyển khoảng 6 mét tới 1 vị trí tốt để phục kích. Một lát sau, y nghe súng nổ và sau đó im lặng. Gray tiếp tục lẩn trốn và được trực thăng cứu ngày hôm sau.

Thiếu tá Beckwith bị thương trong khi ngồi trên gunship và rời Project Delta tuần kế. Trong 17 người vào thung lũng An Lão, có 7 chết và 3 bị thương.

=======

3/ Sau đây là tường trình của 1 cơ trưởng trực thăng về việc cứu toán viễn thám này.

 Biến cố ở thung lũng An Lão 

Trung đội không vận 145, đã kể ở trên, đã hoạt động vài ngày ở trại LLĐB Bồng Sơn để yểm trợ cho Project Delta đang viễn thám Thung lũng An Lão. Tôi là cơ trưởng của 1 trực thăng chở quân hay "slick", với số đuôi là 62045, danh hiệu truyền tin là "Mardi Grass 6". Xạ thủ là Rusell Issaacs. Trung đội trực thăng có sáu chiếc chở quân, hai chiếc võ trang, và một chiếc UH-1C trang bị đầy đủ, còn gọi là "hog" (con heo); trong khi chiếc thứ 10 phải trở về phi trường Nha Trang do trục trặc. Nhiệm vụ của chúng tôi là bí mật đưa toán Delta này vào thung lũng, yểm trợ họ bằng gunship, và bốc họ khi được lịnh. Nhiệm vụ của toán này là tìm vị trí của một lực lượng lượng lớn của VC và CSBV, để sau đó một lữ đoàn của sư đoàn 1 không kỵ, đang hành quân ở vùng nông thôn Bồng Sơn gần đó, sẽ được đổ xuống để tiêu diệt.

Các toán Delta đã bị lâm nguy (compromise) ngay từ phút đầu và tôi được Phi Dũng Bội Tinh nhờ thả dây và yểm trợ để bốc 5 người ở sườn núi vào ngày 28/12/1966.

Vào sáng ngày 29.2, phần lớn trung đội đang hoạt động trong và chung quanh thung lũng. Thiếu tá Kevin Murphy, trung đội trưởng đã đến trại LLĐB Bồng Sơn để gặp thiếu tá Charlie Beckwith. Trực thăng của tôi đậu gần đấy trong 1 nghĩa trang - nơi mà chúng tôi đã qua vài đêm ở đó; tôi và Isaacs đang kiểm tra máy móc và vũ khí. Đột nhiên thiếu tá Murphy xuất hiện và nói với chúng tôi "cho máy nổ". Một toán viễn thám đã đụng và cần triệt xuất gấp. Thiếu tá Beckwith đã đến với 3 thành viên Delta khác gồm 1 trung sĩ nhứt, một âm thoại viên, và 1 sĩ quan khác, tôi nghĩ như vậy. Chúng tôi lập tức mở máy và thiếu tá Murphy gọi các trực thăng còn lại của trung đội. Họ có thể đã đổ quân hay bay về trại LLĐB Bồng Sơn để đổ xăng hay nạp thêm đạn, nên ko thể đi cùng chúng tôi. Thế là chiếc 045 của tôi phải bay lập tức và nhanh chóng tìm toán viễn thám lâm nạn. Chúng tôi sẽ trở thành máy bay C-and-C trong khi các chiếc khác sẽ bốc viễn thám hay yểm trợ họ. Phi hành đoàn có 4 người gồm thiếu tá Murphy, co-pilot là chuẩn úy Southwell, Issaacs và tôi; và 4 thành viên Delta.

Lúc đó trời lạnh, mây thấp với trần mây dưới 300 mét, và có mưa.

Do trần mây quá thấp, chúng tôi bay ở độ cao khoảng 90 tới 120 mét phía trên khu vực ngay bên ngoài trại SF rồi tiếp tục bay qua một số cánh đồng, đồng thời tăng tốc khi bay. Ngồi ở cửa khoang (phía phi công), tôi mặc áo khoác dã chiến, bên ngoài của áo giáp đạn (flak jacket) và tấm giáp che ngực (chicken plate), xem hình.

Và tôi hạ tấm kính che trên nón visor, xem hình, để cố giữ ấm và che mưa.

Mỗi giọt mưa rơi trúng người đều đau rát. Dù trang bị như trên, tôi vẫn bị mưa vẫn tạt vào tay và cằm tôi, trong khi nước chảy dọc visor, cổ và chui vào trong áo. Tầm nhìn không tốt, nhưng từ độ cao đó tôi vẫn có thể nhìn khá rõ mặt đất. Ít người xuất hiện trong tầm nhìn, nhưng những người mà tôi thấy trông như nông dân đang trên đường đi đâu đó. Không xa sân bay Bồng Son và trước khi chúng tôi vào phần hẹp của thung lũng, chúng tôi bất ngờ thấy vài khu ruộng lúa trống trải. Độ cao của chúng tôi vẫn chỉ vài trăm feet, và phía trước hơi lệch về bên trái là một bờ ruộng có hàng dừa cao, cùng một bờ ruộng khác ở xa bên trái. Tôi không thấy ai cả.

Gần như ngay lập tức, tôi nghe thấy tiếng nổ chát chúa, của súng bộ binh và súng tự động, và tôi nhận ra rằng chúng tôi đang bị bắn từ hàng cây dọc theo bờ ruộng mà chúng tôi đang bay tới theo góc khoảng 30 độ. Tôi bắt đầu khai hỏa bằng khẩu M-60 vào hàng cây, quét từ phải sang trái. Thiếu tá Beckwith, người ngồi cạnh tôi, bắt đầu bắn M-16 qua vai phải tôi, và Trung sĩ nhất, người ngồi dưới sàn trước mặt tôi, cũng bắt đầu khai hỏa. Tôi nghiêng người về phía trước trên ghế, hai tay giữ khẩu M-60, khuỷu tay phải tựa lên đầu gối phải và tay trái đỡ bên dưới súng để ổn định khi bắn. Tôi chỉ kịp bắn khoảng 20 hoặc 30 viên thì “RẦM!”—tay phải tôi bị hất văng khỏi tay cầm của súng M-60 và tôi cảm thấy một cú va chạm gần như tương tự ở đùi phải. Cả thế giới hình như đầy những chấm đỏ, và cơn đau vượt quá khả năng diễn tả của tôi. Khoảnh khắc đó, thời gian như chậm lại.

Tôi nhìn xuống tay mình và thấy khói bốc ra từ vết thương. Tôi liếc sang thiếu tá Beckwith và lập tức nhận ra ông ấy bị thương ở bụng và nặng hơn tôi rất nhiều. Sau đó tôi nhìn lên Trung sĩ nhất, và thấy vẻ kinh ngạc tột độ trên mặt ông ấy; cùng với những vết đỏ khắp mặt và đầu ông ấy khiến tôi bật cười, không phải vì buồn cười mà vì đau đớn. Tôi đưa tay ra phía ông ấy vì muốn ông cầm máu giúp tôi. Tôi chắc ông ấy không hiểu tôi đang làm gì, nhưng cuối cùng ông ấy cũng siết chặt cánh tay tôi và làm chậm việc mất máu.

Sau đó mọi thứ bắt đầu trở nên rối loạn đối với tôi. Khói và hỗn loạn tràn ngập trong trực thăng, cùng với mạng lưới truyền tin đang hoạt động rất mạnh mẻ. Tôi nghĩ rằng Southwell bị mảnh đạn bắn vào mông khi có thứ gì đó xuyên lên từ sàn trực thăng, nhưng tôi không hoàn toàn chắc chuyện gì xảy ra sau khi tôi bị bắn. Trực thăng rung lắc dữ dội khi tiếp tục bay, hơi nghiêng sang phải. Tôi nghe thấy khẩu M-60 của Isaac hoạt động, và cơn đau ở tay cùng nỗi sợ bị bắn thêm hoặc tệ hơn là rơi máy bay khiến tôi quyết định tiếp tục chiến đấu. Tôi dùng tay trái cầm súng và bắt đầu bắn lại, một tay, về phía chân hàng cây, lúc này đã rất gần. Khi chúng tôi lượn qua hàng cây dọc bờ ruộng, tôi thấy những người mặc quân phục đang chĩa vũ khí về phía chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều bắn dữ dội, nhắm vào bất cứ thứ gì chuyển động. Beckwith nằm nửa người trên ghế và đau đớn hơn tôi rất nhiều, và tôi nghe thuộc cấp của ông ấy bảo ông cố gắng chịu đựng. Sĩ quan lực lượng đặc biệt (LLĐB) nói với ông: “Cố lên sếp, ông bị thương nặng rồi. Chúng ta phải đưa ông quay về.” Sau đó ông ta liên lạc vô tuyến và cùng Thiếu tá Murphy quyết định hủy nhiệm vụ và quay thẳng về trại LLĐB.

Chúng tôi bay trở lại Bồng Sơn và hạ cánh ngay bên ngoài hàng rào dây thép của trại LLĐB. Họ đưa Beckwith xuống, và Issacs đi đến bên tôi và đỡ tôi dậy, đặt tay trái tôi lên vai anh ta. Anh ta cõng tôi qua con đường hẹp dẫn vào hàng rào thì gặp một nhà báo đang chặn lối đi. Russell bắt đầu quát anh ta tránh ra, nhưng người đó chỉ đứng đó há hốc miệng, lúng túng với máy ảnh, có lẽ đang cố lấy ra để chụp hình. Khi chúng tôi đến gần, Russell xô anh ta qua hàng dây thép gai, khiến anh ta ngã ngửa lên thêm một lớp dây và rơi xuống đất.

Sau đó Issacs đưa tôi vào trạm cứu thương và ở lại một lúc trong khi một y tá tiêm morphine cho tôi. Mọi thứ bắt đầu trở nên mờ ảo và tôi nhớ họ đang làm việc hết mình cho Beckwith. Một lúc sau tôi nghe Thiếu tá Murphy bắt đầu la hét. Có vẻ ông ấy rất tức giận vì họ không chăm sóc tôi trước, và trực thăng tải thương vẫn chưa đến. Tôi cũng nhớ có người đang cố trấn an ông ấy. Cuối cùng, một trực thăng cấp cứu đến và đưa tôi tới bệnh viện ở Qui Nhơn.

Khi tôi tỉnh lại sau ca phẫu thuật, Đại tá McKean, chỉ huy liên đoàn 5 Lực lượng Đặc biệt, đang ngồi bên giường tôi cùng các thành viên trong ban tham mưu đứng phía sau. Tôi còn khá choáng váng nhưng điều tôi nhớ được trong cuộc trò chuyện là đại đội 145 không vận đã làm tốt nhiệm vụ và đã cứu những người sống sót của toán viễn thám. Thương vong chung của toán viễn thám là rất nặng, nhưng họ đã tìm thấy một số lượng lớn quân VC và McKean đã yêu cầu một không kích bằng B-52 trước khi đối phương kịp rút lui. Khi tôi hỏi về lực lượng yểm trợ mà chúng tôi được hứa, ông nói rằng Sư đoàn 1 không kỵ không thể thực hiện nhiệm vụ của họ vì đang bị kẹt trong một trận đánh ở nơi khác. Tôi cũng nhớ đã hỏi về ông một số thành viên Delta và bày tỏ sự tức giận lớn về việc phải chịu tổn thất như vậy để truy tìm một kẻ địch rồi lại để họ thoát.

Sau này, tôi nghĩ rằng tôi thực sự trân trọng chuyến thăm của ông ấy. Ông khiến tôi cảm thấy mình đã góp phần vào một nhiệm vụ quan trọng và được những người (mà tôi xem là dũng cảm nhất tôi từng gặp) tôn trọng. Đây cũng là lần duy nhất trong cuộc chiến đó có người dành nhiều thời gian giải thích cho tôi các nỗ lực của chúng tôi phù hợp với bức tranh chiến dịch lớn hơn và tại sao nó lại đáng giá.

 Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn không biết mình bị bắn bằng gì! Trong bệnh viện, Russell Issacs nói với tôi rằng đó là một viên đạn xuyên giáp cỡ 7.62 ly và nó đã trúng Beckwith. Vì Beckwith ngồi ngay phía sau tôi, bắn qua vai tôi, và viên đạn xuyên qua tay tôi rồi sượt qua đùi phải, nên đó hẳn là cùng một viên đã bắn trúng ông ấy ở bụng. Chúng tôi đều bị trúng cùng một lúc, và trong cuốn sách của mình, Charlie nói rằng ông bị trúng đạn cỡ 12,8 ly. Viên đạn tạo ra một lỗ cỡ M-16 ở mu bàn tay tôi và một vết thoát đạn lớn hơn ở cổ tay. Nếu là đạn 12,8 ly thì có vẻ như tôi đã mất cả bàn tay.

 Dù đã qua một thời gian kể từ sự cố này, tôi vẫn thường xuyên nghĩ về nó. Tôi đã trải qua một năm tại Bệnh viện Quân y Madigan ở Tacoma, bang Washington để phẫu thuật và phục hồi bàn tay. Sau đó tôi trở lại đại học, tốt nghiệp, đi làm, kết hôn và có con. Cuộc sống của tôi đã tốt đẹp, nhưng mỗi ngày tôi vẫn nhớ đến những người tôi đã phục vụ cùng trong Trung đội Vận tải đường không 145.

Tái dựng từ ký ức cách đây 35 năm 

Bởi cựu binh nhất Duane D. Vincent 

Ngày 19 tháng 11 năm 2000

 

========

4/ Bài này đăng trên FB về trận này.

“Hôm nay chúng tôi xin được tưởng nhớ 7 người thuộc toán B-52 (Project Delta) đã tử trận ngày 29/1/1966 tại thung lũng An Lão thuộc tỉnh Bình Định, 12 dặm tây của Tam Quan. Thung lũng này dài và hẹp với những đồng lúa xen kẻ với những cụm cỏ voi. Những núi đầy rừng rậm nằm 2 bên của thung lũng. Lúc đó Toán B-52 được chỉ huy bởi thiếu tá Charlie Beckwith. Ba toán viễn thám sau khi xâm nhập đều bị thiệt hại, khiến Project Delta phải nghỉ một thời gian để tái huấn luyện. Thiếu tá Beckwith đã bị thương khi bay trên trực thăng C-and-C, nhưng sống sót.

Nhiệm vụ của họ là yểm trợ sư đoàn 1 không kỵ với các toán viễn thám, viết tắt là RT. Vùng hoạt động của họ là đầu phía bắc của thung lũng. Họ có nhiệm vụ quan sát các đường di chuyển dẫn đến khu vực này để xác định VC hay CSBV có dùng để tăng cường hay rút lui khi TQLC Mỹ đánh xuống từ phía bắc hay từ sđ 1 Không kỵ và quân VNCH đánh lên từ phía nam.

Tình báo thực địa ko được kiểm chứng, thời tiết rất xấu, hạn chế về không yểm và truyền tin, và điều mọi người người biết là CS đã kiểm soát thung lũng từ 1958. Bộ tham mưu của Delta đã họp ba toán và chỉ nhận người tình nguyện cho nhiệm vụ. 17 người của 3 toán đều tình nguyện và âm thầm xâm nhập lúc chiều tối của ngày 27/1/1966. Kết quả của cuộc viễn thám: 5 chết, 3 bị thương, và hai mất tích. Chi đây là chi tiết:

==

Lúc 0930 ngày 28, toán 1 chạm súng hạ sát 1 VC, 2 tên bị thương, 1 lính Mỹ bị thương.

Toán 2 cũng chạm súng lúc 0930 cùng ngày, và lần hai lúc 1205. Khi ấy trung sĩ Badolati bị trúng dạn ở phần trên của tay trái, khiến tay bị xé nát (mangle), gần như bị cắt đứt (sever). Trung sĩ Hodgson lập tức buộc chặt vết thương (tourniquet) và toán này đoạn chiến. Họ di chuyển khoảng 600 m trước khi ngừng để săn sóc vết thương của Badolati. Ngay khi ngừng, họ lại bị tấn công. Toán nhanh chóng bắn trả và chia làm 2 nhóm (mỗi nhóm 3 người) để lẩn trốn. Trung sĩ Marcus Huston và Billy McKeith ở lại với Badolati. Suốt buổi chiều và tối, họ vừa chăm sóc Badolati vừa di chuyển trên địa thế hiểm trở để né tránh VC. Thỉnh thoảng họ phải ngừng để điều chỉnh dây buộc vết thương ở tay của Badolati. Nếu dây buộc lỏng, máu sẽ trào ra.

Trong bóng đêm, họ đã gặp một lòng suối xuất phát từ phía tây Sông An Lão. Họ đi trên lòng suối, để tránh để lại dấu vết. Cuối cùng, Badolati nói rằng y “ko thể đi nữa” và yêu cầu để y ở lại. Hai người kia đã kiếm 1 vị trí cách bờ suối khoảng ba bộ Anh rất lý tưởng để ẩn náo vì có các bụi cây và đá tảng. Họ đã ở chỗ này từ 0300 đến 0515 giờ sáng. Thời gian đó, hai người đã chăm sóc cánh tay bị thương nặng của Badolati, tuy nhiên tình trạng của y tiếp tục xấu đi. Họ tin rằng y đã chết sáng sớm ngày 29/1/1966. Sau đó, họ buộc phải dấu xác của Badolati tại chỗ để tiếp tục lẩn trốn. Huston và McKeithe đã được triệt xuất sau đó cùng ngày.

Nhóm thứ hai gồm các trung sĩ Wiley Gray, Cecil Hodgson và Ronald Terry đã lẩn trốn suốt ngày 28. Sáng sớm ngày 29, họ đã vào một vị trí phòng thủ, và ngay sau đó (whereupon) đã chạm súng với địch.  Terry bị trúng đạn, và họ đã nghĩ y chết. Sau đó Hodgson biến dạng. Lần cuối mà họ gặp y với súng lục 9 ly cầm tay trong đám cỏ voi, cách Gray và Terry một tầm tay, khi họ nổ súng một một đơn vị địch đang chận đường rút của họ, và mạnh ai nấy chạy. Có nhiều tiếng súng nổ.

Cả toán viễn thám ko thể tìm kiếm Hodgson vì hỏa lực mạnh mẻ của CS, và buộc phải đến điểm tập họp để trực thăng bốc. Họ đã lẩn trốn suốt ngày hôm đó, và cuối cùng được bốc đi. Cuộc tìm kiếm 3 người mất tích kéo dài trong 4 ngày kế nhưng ko kết quả. Hodgson được xếp loại Mất tích trong Chiến đấu (MIA). Badolati được xếp loại Tử trận/Không tìm được xác.

Charles Hiner là thành viên của toán 2 kể lại. “Toán xâm nhập vào thung lũng vào chập tối của ngày 27/1/1966. Hai ngày sau đó mưa lớn, toán chúng tôi gồm 6 người đang ngồi nghỉ chân thì bị một lực lượng lớn của VC tấn công.

Trong những loạt súng đầu, Cook, Webber, và Hoaglund bị trúng đạn, và tôi ko biết, nhưng nghĩ rằng Dotson và Hancock cũng trúng đạn. Tôi ko chắc lắm vì hai người này bảo vệ cạnh sườn.

Tôi trúng đạn khi lên tới đỉnh đồi để đề phòng địch chiếm đỉnh đồi để khống chế chúng tôi.

Hiệu thính viên Cook bảo vệ sườn trái nhưng ko thể xài máy truyền tin do bị thương bất động. Y gọi tôi xuống phía dưới để lấy máy khỏi người y. Có một đống dá ở giữa khu rừng thưa nên tôi đã đưa máy đến đó để gọi. Tôi gọi mọi người bằng tên mẹ của họ để dễ nhận dạng, trong khi đối phương tiếp tục bắn chúng tôi.

Sau khi chúng tôi gặp sĩ quan tiền không thám hay FAC trên máy, tôi cảm thấy an tâm đôi chút và bắt đầu nhìn chung quanh. Tôi có thể nghe Dotson: y bị trúng đạn ở ngực rất nặng. Một kẻ khác, Hancock nằm chết cách tôi khoảng 9 mét. Y đươc băng bó từ cổ chân đến đầu. Hoaglund vẫn còn sống. Cơn hấp hối của Cook có thể kéo dài đến 1 hay 2 giờ trưa hôm đó.

Webber bị trúng 4 viên đạn vào tay, ngay từ loạt đạn đầu tiên và sau đó tôi bị 1 viên vào đầu. Tên VC thủ khẩu AK-47 và tôi nổ súng một lượt vào nhau. Y giật nẩy người (jerk up) trong khi đạn y chỉ cách da đầu tôi khoảng 6 ly. Đạn vào xương, để lại một rãnh sâu.

Tôi đã gọi không yểm ngay vào vị trí để khỏi bị tràn ngập. Vì thà chết còn hơn bị tràn ngập.

Chúng tôi đang chiến đấu, ở lúc gần nhứt, chỉ cách đối phương 10 bộ Anh. Tình hình thật căng. Do đó khi tôi tung lựu đạn và bảo FAC đánh bom chung quanh đó; phi công nói “Tôi ko thể làm như vậy vì bom sẽ rơi xuống anh.” Tôi trả lời, thà như vậy còn hơn bị tràn ngập.

Ở lúc ngưng chiến gần cuối trận đánh kéo dài 4 giờ này, Hiner bò xuống núi để tháo gở đạn dược từ người chết, gồm Hoaglund, Dotson và Hancock, vì y và Webber sắp hết đạn.

Khi tôi bò tới xác của Hoaglund, tôi thấy y nằm ngửa, bên cạnh một gốc cây, với mủi súng chỉa vào đầu. “Y đã mất một tay, tay kia cũng gần đứt lìa.”

Trong những giờ phút cuối của trận đánh, hai đơn vị tiếp viện đã cuống cuồng di chuyển xuyên qua các bụi rậm để tới vị trí của Hiner. Đơn vị đầu thuộc 1 Không kỵ, và đơn vị kia thuộc Project Delta, chỉ huy bởi trung úy Holland và thượng sĩ nhất (sergeant major) Walt Shumate, người sau này là huyền thoại trong LLĐB khi làm thượng sĩ nhất cho Charlie Beckwith trong các hành quân của LLĐB.

Tường trình của Don Valentine, cựu chiến binh của Toán B-52:

Thiếu úy Guy Holland là sĩ quan trực (OIC) về viễn thám của Project Delta vào lúc đó. Sau khi gọi hết hơi để 1 Không kỵ để cứu toán viễn thám đang nguy ngập, y cần người tình nguyện để vào đó và cứu toán 2 ra.

21 người tình nguyện lấy súng và trang bị và nhảy lên 3 chiếc UH-1. Trong số đó có vài người Nùng. Tôi nhớ 1 người Nùng ngồi cạnh tôi trên máy bay. Khi thấy chúng tôi chạy nhanh ra trực thăng, vũ khí trang bị “tận răng”, y đã hành động như vậy, dù chẳng biết điều gì sắp xảy ra.

Chuyển ngữ từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến trận đánh này.

San Jose ngày 3 tháng 7 2026, cập nhật ngày 11/7/26.

Tài Trần.

Saturday, June 28, 2025

 “There was only one MIKE Force battalion activated as it was, by COMUS MACV [Commander U.S. MACV] letter order,” said retired Brigadier General Stringham. “The order was sent from 5th Group that directed C-3 to form one reaction force battalion.19 Time was critical. A-302 was given less than two weeks to train the new unit. Filling the ranks with new recruits, issuing equipment, and training had to be accomplished by 22 June 1965. After that date, the battalion was to be on call to respond to emergencies in the hotly disputed III CTZ

LTC Miguel “Mike” de la Peña
LTC Miguel “Mike” de la Peña

“The unit was named the MIKE Force. This came from LTC Miguel ‘Mike’ de la Peña. ‘Mike’ was his code name,” said Stringham.20 The MIKE Force was composed of three 150-man companies. With 348 Company as the nucleus, A-302 recruited Nungs to fill the ranks of the other companies. Nungs were also hired to form the reconnaissance platoon.21 There were no Vietnamese CIDG or Special Forces in the first MIKE Force. The strong family ties among the Nungs made the recruitment easy and virtually eliminated the security problems.

“Nepotism was the name of the game,” said Stringham. “Most of the older Nungs were ex-French Foreign Legion [French Colonial Army] guys and they would vouch for the younger ones. It was kind of a ‘self-vetting process,’ but we didn’t have a lot of time.22 New recruits were given a cursory physical by the A-302 team medics to check for diseases and fitness. The troops were issued one set of tiger-stripe fatigues and M-2 carbines. Each company weapons platoon had three M-1919A1 .30 caliber machine guns and three 60 mm mortars.23 For communications, they were issued PRC-25 radios. The equipment for the MIKE Force came from the 5th SFG logistics base at Nha Trang. Being on the MIKE Force was economically advantageous for the troops. MIKE Force Nungs were paid considerably more than their CIDG counterparts. Each man received 6600 piastres ($55.00) per month as opposed to the 1500 p ($12.00) that was the CIDG monthly wage.24

A U.S. Air Force B-52D Stratofortress dropping 500 pound bombs over Vietnam. The first MIKE Force mission was to conduct a bomb damage assessment following a B-52 strike.
A U.S. Air Force B-52D Stratofortress dropping 500 pound bombs over Vietnam. The first MIKE Force mission was to conduct a bomb damage assessment following a B-52 strike.

“I was the battalion commander,” said Stringham. “Two NCOs [non-commissioned officers] worked with each company. The guys lived with their companies.25 A-302 focused on marksmanship and infantry small-unit tactics to get the MIKE Force operational. That test came on 22 June 1965.

“The first mission was to take three 6-man teams by helicopter into an area between Highway 13 and the Michelin Rubber Plantation to do a [bomb damage] assessment after a B-52 strike,” recalls Stringham. “The B-52s came out of Guam, but due to a mid-air collision during refueling, they missed the target. All they did was knock down enough stuff to make it hard to move through. We got inserted, ran around a while and got picked up. Not a great beginning for the MIKE Force.26 The real combat evaluation came a month later.

On 19 July 1965, orders came from the C detachment to prepare a MIKE Force company to aid the SF team at the CIDG camp at Bu Ghia Map under attack by two VC battalions. The Mike Force mission was to evacuate the SF team and their CIDG strikers. 348 Company, the new 4th Nung company and the recon platoon were trucked to Tan Son Nhut Airbase to load two C-123 aircraft for the flight that night to Bu Ghia Map near the Cambodian border.27

The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.
The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.
The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.
The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.
Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.
Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.

“We went in very light, no rucksacks or food. We landed and it was very dark,” said Stringham. “ I ran off the plane and straight into a ditch. When we got into the camp, I put my people on the perimeter, and got theirs [the camp occupants] off the wall, since they were likely compromised. There was half an A detachment and a handful of strikers there.28 There was little contact the rest of the night. The arrival of the MIKE Force had prompted the VC to switch their main attack to the nearby Bu Dop camp. In the early morning the C Team ordered Bu Ghia Map abandoned and the MIKE Force to move to reinforce Bu Dop.

At daylight on 20 July, the C-123s began to arrive to evacuate the CIDG, the MIKE Force and their SF advisors. Stringham’s team placed explosive charges throughout the camp, on a five-minute delay. After the MIKE Force was flown out to Song Be, CPT Stringham and two NCOs, SSG William Parnell and SSG Elliot Wilson, were to detonate the charges.29 A helicopter picked up the three Americans, just before the explosives went off. Bu Dop had been hit hard the previous night. Two SF advisors and twenty CIDG strikers had been killed.30


USASF Organization

USASF Organization

Arriving at Bu Dop in the afternoon of 20 July, Stringham positioned his MIKE Force personnel on the south side of the camp perimeter and relocated the CIDG defenders onto the north side. The assumption of the A-302 members was that a good percentage of the CIDG strikers were turncoats and would give the VC access to the camp. The enemy did attack the camp again that night, but could not penetrate the defenses. In the morning, CPT Stringham, now in command at Bu Dop, sent a reconnaissance platoon under SSGs Parnell and Collins out to find the enemy. Since Bu Dop was very close to the Cambodian border, locating the enemy escape route to safety across the border was not difficult. But there were still problems inside the camp.

The team discovered that the claymore mines emplaced on the perimeter defenses had been reversed during the night aiming them into the camp. Based on this, the SF soldiers began to thoroughly interrogate the civilians and CIDG personnel in the camp. Not surprisingly, there was a mass exodus from Bu Dop. With the MIKE Force to strengthen the defenses and the Communist sympathizers driven off, the threat of further attack was minimal.31 This established the pattern for the employing the MIKE Force that was used at Dong Xoai.32

The Nungs, whose loyalty to the Americans was unquestioned, became a major force multiplier. By November 1965, CPT Stringham and most of the members of A-302 involved in the formation of the original MIKE Force had completed their tours and rotated back to the United States. Their legacy, the III CTZ MIKE Force composed of Nungs, was the genesis of one of the most successful Special Forces initiatives in the Vietnam War.

Drawing on the combat experience and loyalty of the Nungs, the original MIKE Force was a reliable, well-trained hard-hitting combat unit that could be rapidly moved to reinforce or relieve CIDG camps when they were attacked by overwhelming enemy forces. The Special Forces C Teams in the other Corps Tactical Zones were soon directed by 5th SFG Headquarters to establish MIKE Force battalions.33 These MIKE Force elements caused a major shift in CIDG operations from defense to offense against the VC and NVA. Mobile Strike Groups and other variations of the original MIKE Force model quickly proliferated enabling Special Forces and their CIDG strikers to aggressively seek out and destroy the enemy.

The purpose of this article was to show how several successful VC attacks against the III CTZ CIDG camps prompted the organization of the first MIKE Force. The loyal, high-quality Nungs of the 348th Company became the nucleus of the MIKE Force. LTC Miguel “Mike” de la Peña, whose nickname became associated with the original MIKE Force battalion, saw his moniker attached to reaction forces countrywide. As the Vietnam War evolved, the term “MIKE Force” came to be applied to a variety of units at different times and places. Future articles will examine the varied and complex history of these units that were labeled MIKE Forces.

The author would like to thank BG (ret) Joseph Stringham, LTC (ret) Miguel de la Peña, the other former MIKE Force members who reviewed the article, and especially Roy Jacobson for their invaluable assistance.

Friday, November 29, 2024

 Sáu giờ trong địa ngục trần gian.

Bài của Kaleena Fraga.

Mũ Xanh Roy Benavidez được Huy chương Danh dự (huy chương cao quý nhứt của quân đội Mỹ) khi y lao vào đạn thù mà chỉ trang bị 1 con dao để cứu đồng đội, trong lúc chịu đựng những vết thương nặng đến nỗi các bác sĩ bỏ y vào túi xác.

Khi Roy Banavidez đến VN trong nhiệm kỳ 2 vào năm 1968, ông đã chứng tỏ sự kiên cường (fortitude). Chỉ 3 năm trước đó, Benavidez đã dẫm 1 quả mìn trong lúc phục vụ lần đầu tại VN, và các bác sĩ đã nói ông ko thể đi được. Ông đã thách thức những ý kiến của họ -- nhưng thử thách lớn nhứt của ông vẫn chưa tới.

Trong 1 ngày rất nóng (sizzle) của tháng Năm 1968, Benavidez đã nghe 1 lời cầu cứu trong tuyệt vọng. Một toán LLĐB Mỹ bị phục kích gần biên giới Cam-bốt, và Benavidez lao nhanh vào hành động. Ko cần lịnh lạc và chỉ trang bị 1 con dao, ông trèo lên 1 trực thăng.

Qua hơn "sáu giờ trong địa ngục", Benavidez đã lại lần nữa thách đố cái chết. Phóng nhanh vào rừng để cứu các đồng đội gục ngả và thông tin tối mật mà họ mang theo, Benavidez đã đánh nhau với kẻ thù, cứu các đồng đội, và suýt chết.

Sanh ngày 5/8/1935 tại Cuero Texas, có cha là người Mỹ gốc Mễ và mẹ thuộc bộ lạc bản địa Yaqui, Raul Perez "Roy" Benavidez đã gặp vất vả từ nhỏ. Lúc 7 tuổi, ông mất cả cha lẫn mẹ và nuôi dạy bởi bà con.

Bị chế nhạo (taunt) tại trường học vì gốc Mễ, ông thường đánh nhau với các trẻ em khác vì chúng gọi ông "thằng Mễ đần độn".

Vì những chế nhạo này -- Benavidez đã quyết định tự mình làm một điều gì. Sau khi bỏ học ở tuổi 15 để giúp đỡ gia đình, ông đăng vào Vệ binh Quốc gia bang Texas. Năm 1955, ông chuyển qua Lục quân Mỹ.

Nhưng sau khi Benavidez phục vụ tại Triều tiên và tại Đức, và được gửi sang VN, cuộc đời binh nghiệp của ông dường như đã dừng lại một cách vừa sốc vừa đột ngột. Vì năm 1965, khi phục vụ ở Sở Quan sát SOG của MACV Benavidez đã dẫm một quả mìn. Khi tỉnh dậy ông biết mình tê liệt từ hông trở xuống. Mặc dù dường như rằng Roy sẽ không bao giờ đi lại, nguời lính trẻ này đã quyết định phấn đấu. Trong bóng đêm, khi nhân viên của bịnh viện đã nghỉ, ông đã bò suốt phòng bịnh bằng khuỷu tay tới bức tường gần đó và dùng khuỷu tay để đứng dậy. Nhờ tập luyện như vậy cả năm, người lính Mũ Xanh này cuối cùng đã có thể đi mà ko cần giúp đỡ.

Ông trở lại VN năm 1968.

Ko thể tin được, ông đã trở về sđ 82 Dù và đến VN. Trở lại chiến trường, ông sẽ sớm chứng minh sự gan dạ (grit) của mình một lần nữa.

Ngày 2 tháng 5 1968, trong khi đi ngang một công sự của CS tại Lộc Ninh, một khu vực trên biên giới vN và Cam-bốt, Benavidez đã nghe 1 tiếng kêu cầu cứu từ máy truyền tin. Một toán LLĐB Mỹ gồm 12 người trong 1 nhiệm vụ tối mật đã lọt ổ phục kích. Họ bị địch áp đảo với quân số gần 100 đánh 1, và ba trực thăng đã ko thể cứu họ.

Một người trong số họ là trung sĩ nhứt (sergeant first class) Leroy Wright, một người lính mà Benavidez biết rõ và từng cứu Banavidez chỉ 1 tháng trước đó. 

Khi đó, Benavidez -- mà những người lính khác hay gọi là Tango Mike Mike, chụp vội 1 túi cứu thương và 1 con dao và lao nhanh vào 1 trực thăng để cứu Wright và đồng đội của y. 

Hành động ko cần lịnh lạc, Benavidez đã vượt biên giới vào Cam-bốt. Trực thăng ko thể tiếp đất vì ko an toàn -- nên Benavidez đã nhảy xuống đất và chạy khoảng 70 mét xuyên qua hỏa lực địch hướng về đồng đội bị phục kích. Bị trúng đạn ở mặt và trúng miểng từ một lựu đạn, Benavidez vẫn ko chùn bước (nevertheless made it). 

Ông vẫn chưa biết điều đó, nhưng "sáu giờ trong địa ngục" của ông đã vừa bắt đầu.

Dù bị những thương tích, Benavidez đã nắm quyền chỉ huy. Ông đã điều động những kẻ sống sót và chăm sóc kẻ bị thương, và hướng dẫn những kẻ bị phục kích tới những trực thăng đang chờ họ, ngay cả ông bị bắn trúng bụng và bị nhiều miểng đạn.

Trong vài giờ kế, Benavidez đã mang kẻ bị thương tới nơi an toàn, thu thập tài liệu mật từ người chết -- trong đó có người bạn Wright -- và dùng cận chiến để bảo vệ mình. Khi một lính du kích dùng lưởi lê đâm Benavidez, ông đã kéo lưởi dao từ tay y và đẩy dao vào ngực y khiến y gục ngả. 

Nhưng ông cũng trả giá rất đắc. Một người lính nhận thấy Benavidez đã lấy một tay chận đùm ruột của mình khỏi đổ ra ngoài, và có nhiều máu ở mặt khiến mắt ông gần như ko thể mở được do máu khô đóng vảy. Tuy nhiên ông đã kiểm tra lần nữa các tài liệu mật trước khi lên trực thăng.

Roy Benavidez đã cứu ít nhứt 8 đồng đội. Nhưng ông đã bị đâm và trúng đạn 37 lần, và các chiến hữu đã nghĩ rằng ông sẽ gục ngả vì những vết thương này. Các y tá nghĩ rằng Benavidez đã chết nên họ đã kiểm tra nhịp tim trước khi bỏ ông vào túi đựng xác. 

"Khi tôi cảm thấy 1 bàn tay trên ngực mình, tôi đã biết mình cực kỳ may mắn vì vẫn còn sống, Benavidez nói. "Và đã khạc máu vào mặt của bác sĩ."

Dù Benavidez đã sống sót qua "6 giờ trong địa ngục", sau đó ông phải trải qua gần một năm để phục hồi từ các vết thương. Trong thời gian đó, ông đã được trao tặng Bảo quốc Huân chương (Distinguished Service Cross hay DSC). 

Tại sao lúc đầu Benavidez được trao tặng Bảo quốc Huân chương mà ko là Huân chương Danh dự (Medal of Honor) vẫn là một điều tranh cãi. Brian O'Connor, một lính Mũ Xanh, đã chứng kiến sự dũng cảm của Benavidez, tin tưởng rằng chính phủ Mỹ đã ko muốn thế giới để ý đến các hoạt động bí mật của họ tại Cam-bốt. 

Dù sao đi nữa, Benavidez cần một nhân chứng sống cho việc làm anh hùng của mình, và phải chờ đến năm 1980 chính phủ đã tìm được người đó -- đó là O'Connor. Thế là tháng hai 1981, Roy Benavidez đã được trao tặng Bảo quốc Quân chương bởi tổng thống Ronald Reagan.

"Khi thấy các đồng đội của mình đang gặp nguy hiểm, TS Benavidez đã tình nguyện xông vào lửa đạn của kẻ thù, và mặc dù bị nhiều vết thương nặng, vẫn ko từ bỏ đồng đội để cuối cùng cứu sống 8 người."

"Khả năng lãnh đạo không sợ hãi, tận tụy bền bỉ với nhiệm vụ và những hành động cực kỳ dũng cảm khi đối mặt với quân số áp đảo của địch đã phù hợp với truyền thống cao nhất của quân đội Mỹ và phản ánh sự tín nhiệm tối đa đối với ông và Quân đội." Tổng thống Reagan đã phát biểu trong lễ gắn huy chương cho ông.

Tổng thống Ronald Reagan trao tặng Bảo quốc Huân chương cho TS Roy Benavidez 
ngày 24/2/1981 tại Ngũ Giác Đài. Có chứng kiến của bộ trưởng QP Caspar Weinberger. 


Ông đã từ trần ngày 29/11/1998 ở tuổi 63.