Showing posts with label llđb. Show all posts
Showing posts with label llđb. Show all posts

Monday, September 28, 2026

 Hard to Believe . . . It's been 50 years! by

Tom Ross
Major (Retired)
U.S. Army Special Forces

To all of my friends at the 281st. I invite all of you to share the following with your families and friends. I don't believe any of you fully understand what you faced or what you accomplished 50 years ago . . . this week.

My very best to all of you.
Tom

On August 3, 1968, in the Republic of South Vietnam, three abused, but determined, mountain villagers escaped their Viet Cong and North Vietnamese Army captors and ran in search of help for their families and village.

After running and walking for almost two days, the three worn men found the remote My Loc Outpost belonging to American Special Forces (Green Berets) Detachment A-502. There, the men told stories of slavery, torture, and worse. Mang Quang, leader of the three, begged for help and told the Americans his family would be killed if he were not back in the village the next day.

An urgent radio call was placed to 1st Lieutenant, Tom Ross, A-502’s Operations and Intelligence Officer. Upon arriving at the outpost and after an in-depth debriefing of the three men, Lt. Ross determined that a rescue attempt by allied forces was warranted. However, if, as he had been told by Mang Quang, the family would be killed the next day and if it had taken the men two days to reach the outpost on foot . . . there was only one unit to which Lt. Ross could turn for help. The rescue team would have to be flown to the village and that would require the assistance of the 281st Assault Helicopter Company.

Lt. Ross immediately radioed the 281st with his rescue mission support request. In describing the mission, he didn’t hide any of the many dangers the men of the 281st would face if they accepted the mission. He explained that the rescue team would be flying far out into mountainous enemy territory into an undetermined landing zone where they would face an enemy unit of unknown size and strength. Among other things, he also explained that the only immediate support the team would have would be . . . whatever they could take with them.

After learning that the lives of innocent tribal Montagnard families were at risk, did any of the dangers described to the 281st scare them . . . not a chance! These were all men with deeply held family values. The response given to Lt. Ross’s request for assistance was immediate and clear . . . “Tell us where and at what time you need us. We’ll be there.” And, at sunrise on the morning of August 4, 1968 . . . they were there! Then, because the rescue mission became complicated with more families emerging from the thick jungle, they were there again on August 5th and yet again on August 10th.

On August 13, 1968, Walter Cronkite reported on the rescue in “The Valley of the Tigers” during his CBS Evening News program. When the mission was complete, the 281st had rescued 165 mountain villagers (men, woman, and children) from pain and suffering.

What members of the 281st may not know even today is that the Montagnard village served as an important relay station for the North Vietnamese Army’s infamous 18B Regiment. Only weeks after the rescue was complete, intelligence reports indicated that a company size element (125 – 150 men) arrived in the area of the village as the last few remaining members of the rescue team were being extracted after becoming stranded due to weather.

So, unknown to any of us at the time, it is extremely likely that the two Green Beret advisors along with 10 other South Vietnamese soldiers and the CBS TV crew would have been overrun and wiped out by the enemy unit had the 281st not flown through a storm to reach and rescue the stranded team.

Question: What can you say about men like these who so boldly disregard their own safety to save the lives of others?

Answer: I have been trying, quite literally, for 50 years to answer that question adequately. I was the rescue team commander, one of the two advisors left stranded in enemy territory, and the last one off the landing zone that day . . . thankful to be alive.

Over the half century since “The Rescue” . . . I have had the great privilege to speak to and about the men of the 281st Assault Helicopter Company. One of the many, many things I enjoy saying about them, each and every one, is that I am extremely proud to have seen them in action because they represent the very best our country has to offer when a call for help is received.

Tomorrow, August 10th, will be exactly 50 years since the men of the 281st risked their lives for a third time to rescue a village of primitive mountain tribesmen. Who they were didn’t matter. What mattered was that they were being hurt. The 281st ended that hurt. On the 50th anniversary of the rescue, these men deserve recognition for who and what they are . . . fearless American heroes. I feel quite certain that, because of their selfless courage, I owe them my life.

With great sincerity,

Thomas A. (Tom) Ross
Major, US Army Special Forces

rescued
The "after" photo at A-502 by Tom Ross.

___________________________________


Thật khó tin... Đã 50 năm trôi qua! –


Tom Ross

Thiếu tá (đã nghỉ hưu)

Lực lượng Đặc nhiệm Lục quân Hoa Kỳ


Gửi tất cả bạn bè tại Đơn vị 281. Tôi mong các bạn hãy chia sẻ những điều dưới đây với gia đình và bạn bè của mình. Tôi tin rằng không ai trong số các bạn thực sự hiểu hết những gì mình đã đối mặt hay những chiến công mình đã đạt được vào đúng tuần này của 50 năm về trước...


Chúc tất cả các bạn những điều tốt đẹp nhất.

Tom

Vào ngày 3 tháng 8 năm 1968, tại Việt Nam Cộng hòa, ba dân làng miền núi – những người đã chịu nhiều ngược đãi nhưng vẫn đầy quyết tâm – đã trốn thoát khỏi sự giam giữ của Việt Cộng và Quân đội Bắc Việt để đi tìm sự giúp đỡ cho gia đình và ngôi làng của mình.


Sau gần hai ngày di chuyển vất vả, ba người đàn ông kiệt sức đã tìm thấy Trạm tiền tiêu Mỹ Lộc hẻo lánh, nơi đóng quân của Biệt đội A-502 thuộc Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ (Mũ Nồi Xanh). Tại đây, họ đã kể lại những câu chuyện về cảnh nô lệ, tra tấn và những điều tồi tệ hơn thế. Mang Quang, người dẫn đầu nhóm, đã khẩn khoản cầu xin sự giúp đỡ và nói với phía Mỹ rằng gia đình anh sẽ bị sát hại nếu anh không kịp quay về làng vào ngày hôm sau.


Một cuộc gọi vô tuyến khẩn cấp đã được thực hiện tới Trung úy Tom Ross, Sĩ quan Tác chiến và Tình báo của Biệt đội A-502. Sau khi đến trạm tiền tiêu và thẩm vấn kỹ lưỡng ba người đàn ông này, Trung úy Ross nhận định rằng cần phải tổ chức một cuộc giải cứu với sự tham gia của lực lượng đồng minh. Tuy nhiên, nếu đúng như lời Mang Quang nói – rằng gia đình anh sẽ bị giết vào ngày mai – và xét đến việc ba người này đã mất tới hai ngày đi bộ mới đến được trạm tiền tiêu... thì chỉ có một đơn vị duy nhất mà Trung úy Ross có thể cậy nhờ. Đội giải cứu cần được vận chuyển bằng đường hàng không đến ngôi làng, và điều đó đòi hỏi sự hỗ trợ từ Đại đội Trực thăng Tấn công số 281.


Trung úy Ross lập tức liên lạc qua vô tuyến với Đại đội 281 để đề nghị hỗ trợ cho nhiệm vụ giải cứu. Khi mô tả về nhiệm vụ, ông không hề giấu giếm những hiểm nguy mà các thành viên của Đại đội 281 sẽ phải đối mặt nếu họ chấp nhận tham gia. Ông giải thích rằng đội giải cứu sẽ phải bay sâu vào vùng núi do địch kiểm soát, đổ bộ xuống một bãi đáp chưa xác định và đối đầu với một đơn vị địch chưa rõ quy mô cũng như sức mạnh. Ngoài ra, ông cũng làm rõ rằng sự hỗ trợ tức thời duy nhất mà đội có được chỉ là... bất cứ thứ gì họ có thể mang theo bên mình.


Liệu những hiểm nguy được mô tả có khiến các thành viên Đại đội 281 chùn bước khi biết rằng tính mạng của những gia đình người dân tộc thiểu sản (Montagnard) vô tội đang bị đe dọa? ... Hoàn toàn không! Họ đều là những người đàn ông luôn coi trọng các giá trị gia đình. Phản hồi trước lời đề nghị hỗ trợ của Trung úy Ross rất nhanh chóng và dứt khoát... "Hãy cho chúng tôi biết địa điểm và thời gian cần đến. Chúng tôi sẽ có mặt." Và, vào lúc bình minh ngày 4 tháng 8 năm 1968... họ đã thực sự có mặt! Sau đó, khi nhiệm vụ giải cứu trở nên phức tạp hơn do có thêm nhiều gia đình bước ra từ cánh rừng rậm rạp, họ lại tiếp tục có mặt vào ngày 5 tháng 8 và một lần nữa vào ngày 10 tháng 8.


Vào ngày 13 tháng 8 năm 1968, Walter Cronkite đã đưa tin về cuộc giải cứu này trong phóng sự "Thung lũng của loài Hổ" (The Valley of the Tigers) thuộc chương trình *CBS Evening News*. Khi nhiệm vụ hoàn tất, Đại đội 281 đã giải cứu được 165 dân làng miền núi (bao gồm cả nam giới, phụ nữ và trẻ em) khỏi cảnh đau thương và khốn khổ.


Điều mà các thành viên của Đại đội 281 có thể chưa biết cho đến tận ngày nay là ngôi làng của người Montagnard này từng đóng vai trò như một trạm trung chuyển quan trọng cho Trung đoàn 18B khét tiếng của Quân đội Bắc Việt. Chỉ vài tuần sau khi cuộc giải cứu kết thúc, các báo cáo tình báo cho thấy một đơn vị cấp đại đội (khoảng 125 – 150 người) đã tiến vào khu vực ngôi làng, đúng vào thời điểm những thành viên cuối cùng của đội cứu hộ đang được rút ra sau khi bị mắc kẹt vì thời tiết xấu.


Như vậy, dù không ai trong chúng tôi hay biết vào thời điểm đó, nhưng rất có khả năng hai cố vấn thuộc lực lượng Mũ Nồi Xanh (Green Beret), cùng 10 binh sĩ miền Nam Việt Nam và ê-kíp truyền hình CBS, đã có thể bị đơn vị địch tràn qua và tiêu diệt hoàn toàn nếu Đại đội 281 không bay xuyên bão để tiếp cận và giải cứu đội đang bị mắc kẹt.


Câu hỏi: Bạn có thể nói gì về những người đàn ông như vậy—những người dám bất chấp sự an toàn của bản thân để cứu mạng sống của người khác?


Trả lời: Tôi đã thực sự nỗ lực suốt 50 năm qua để tìm ra câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi đó. Tôi chính là chỉ huy đội cứu hộ, một trong hai cố vấn bị mắc kẹt trong vùng địch, và là người cuối cùng rời khỏi bãi đáp vào ngày hôm đó... với lòng biết ơn vì mình vẫn còn sống sót.


Trong suốt nửa thế kỷ kể từ "Cuộc Giải Cứu" ấy... Tôi vô cùng vinh dự khi được trò chuyện cùng và chia sẻ về những người lính thuộc Đại đội Trực thăng Tấn công số 281 (281st Assault Helicopter Company). Một trong những điều tôi luôn tự hào khi nói về họ – từng người một – là tôi đã tận mắt chứng kiến ​​họ làm nhiệm vụ; họ chính là hiện thân cho những phẩm chất tốt đẹp nhất của đất nước ta mỗi khi có lời kêu gọi cứu viện.


Ngày mai, 10 tháng 8, đánh dấu tròn 50 năm kể từ khi các chiến sĩ thuộc Đại đội 281 chấp nhận hiểm nguy – lần thứ ba – để giải cứu một ngôi làng của người dân tộc thiểu số sống ở vùng núi. Họ là ai không quan trọng; điều quan trọng là họ đang phải chịu đau thương, khốn khổ. Đại đội 281 đã chấm dứt nỗi đau đó. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuộc giải cứu, những người lính này xứng đáng được tôn vinh đúng với con người và những gì họ đã thể hiện... họ là những người hùng Mỹ quả cảm. Tôi tin chắc rằng, chính nhờ lòng dũng cảm quên mình ấy, tôi đã được họ cứu mạng.


Trân trọng,


Thomas A. (Tom) Ross

Thiếu tá, Lực lượng Đặc nhiệm Lục quân Hoa Kỳ


Tuesday, August 4, 2026

BẢN ĐỒ QUẬN LỴ CHƯƠNG NGHĨA, KON TUM













TỪ ĐỊA ĐIỂM Ở GÓC TRÁI DƯỚI CỦA BẢN ĐỒ, PHẢI ĐI THÊM 22 KM MỚI TỚI KON SOM LUK. TỪ ĐỊA ĐIỂM NÀY, MUỐN ĐI CHƯƠNG NGHĨA, PHẢI QUA NHIỀU ĐÈO CÙI CHỎ.







Monday, August 3, 2026

 NHỮNG ĐẶC TÍNH ĐỘC ĐÁO CỦA MÁY BAY VẬN TẢI C-7 CARIBOU DO ÚC CHẾ TẠO.


Given the availability of an Army 6 by, this was the standard method of loading and unloading a Caribou. Unfortunately, we rarely had the use of the truck in the boonies. This photo was taken at Ham Tan.
This photo was taken at Dalat Cam Ly in the Central Highlands
The prop hub of the mighty Pratt & Whitney R-2000 7M2.
The mighty Pratt & Whitney R2000 7M2. This particular one was sick enough that I had to throttle it back to idle and fly a single engine approach. Picture taken on the ramp at Bien Hoa.
VÌ ĐỘNG CƠ NÀY HƯ, NÊN CHỈ BAY BẰNG 1 MÁY. 
This picture, taken on the ramp at Cam Ranh Bay, shows the flaps at full extension. One can clearly see that the entire trailing edge of the wing is part of the flap system. One can also understand why one had to point the nose at the ground to get the thing down with the flaps fully extended.
The augmentor tubes on the top of the Caribou engine nacelle.  These large tubes served to collect the 14 individual exhaust stacks and direct the exhaust gas out over the rear edge of the wing.  Since  they were open at the front where the stacks entered, a venturi effect resulted which drew in outside air to mix with the exhaust gas.  This served not only to help cool the very hot exhaust, but also actually added a little extra thrust.
This is the Petester fueling his own airplane.  Actually, it was a major nuisance and the crew members each took turns.  The fuel tanks were filled with an open cell foam material to make them less likely to explode if penetrated by a projectile, so the fuel would not run in at the rate the fuel truck would pump.  The fueller had to constantly stop the flow to allow the gas to seep out through the foam.  Since it took quite a while and the top surface of that wing was very hot, this was not the most desirable of jobs.
Long range flying wasn't exactly uppermost in the minds of the Caribou's designers.   When long overwater flights were necessary, additional fuel and oil was carried in the cargo compartment.  The rubber fuel bladders were filled with avgas and then pressurized with the deicing pumps.  As fuel was burned from the wing tanks, more could be added by operating the valves shown at the right.  This particular picture was taken somewhere along the route from Cam Ranh Bay to Kadena AFB in Okinawa (by way of Clark AB in the Philippines).

 

MỘT CARIBOU ĐỔ HÀNG TẠI TRẠI LLĐB GIA NGHĨA (TỈNH QUẢNG ĐỨC). CÁC THÙNG MÀU ĐỎ ĐỰNG DẦU. SÂN BAY NÀY RẤT ĐỘC ĐÁO -- KHI NGƯỜI MỸ PHẢI CẮT BỎ ĐỈNH CỦA MỘT NGỌN ĐỒI NHỎ ĐỂ TRÁNH NGUY HIỂM CHO MỘT SÂN BAY DÀI 2.000 FEET CHO LOẠI MÁY BAY NÀY. 

Off loading at Gia Nghia after the first sortie of the day. Gia Nghia was the site of an Army Special Forces camp that needed the fuel we brought in the red drums. The airport was unique - they had      knocked the top off a small mountain to provide a generous (for a Caribou) 2000' foot dirt strip. The red soil visible in the foreground was typical of Central Vietnam and was called "laterite" because of its tendency to harden (laterize) into a rock-like surface once defoliated and exposed. When the Caribou's engines were reversed during landing at fields like this, the airplane would disappear into a large red cloud of dust.

      


Saturday, July 18, 2026

 

TRẬN PLEI ME 1965: LÍNH MỸ NGẠC NHIÊN TRƯỚC SỰ KIÊN CƯỜNG CỦA KẺ THÙ

Chuyển ngữ từ bài The Siege at Pleime: Americans Marvel at Toughness of Foe trên báo New York Times ngày 28/10/1965.

-  Lời nói đầu: Nhật báo New York Times là một trong những tờ báo hàng đầu của Mỹ. Tôi đã cố gắng bám sát nội dung dưới đây của bài viết vì biết rằng nội dung này có thể gây tranh cãi nơi người đọc. Nhưng cũng nhờ đó, chúng ta cũng biết QUAN ĐIỂM CỦA BÁO CHÍ MỸ VÀO NĂM 1965, mà tờ báo này là một ví dụ điển hình. Năm 1965 là năm mà người Mỹ đã bắt đầu đổ quân ồ ạt vào VNCH với đầu tiên là TQLC Mỹ đổ bộ vào Đà Nẳng, sau đó là lữ đoàn 173 Dù, và kế đó là sđ 1 Không kỵ, v.v... vì trước đó chỉ có CỐ VẤN MỸ đi theo các đơn vị VCNH. Theo tổ chức của QĐ Mỹ, TQLC, Nhảy Dù, và LLĐB là thiện chiến nhứt vì toàn dân tình nguyện; trong khi đó, các đơn vị khác gồm lính quân dịch và tình nguyện. 

--- Thiếu tá Beckwith, người thành lập Project Delta vào năm 1964 tại Nha Trang, (với các toán viễn toán (recondo team), viết tắt là RT, chỉ có sáu người -- ND), đã gọi quân tấn công là “những người lính giỏi nhứt mà tôi thấy trên thế giới, ngoài lính Mỹ. Tôi mong ước, tôi có thể tuyển mộ họ. Tôi mong ước, tôi biết họ đã uống thuốc gì đã khiến họ chiến đấu như vậy. Họ có động lực rất cao và chiến đấu hết mình." (Thiếu tá Beckwith và thiếu tá Phạm duy Tất đã chỉ huy khoảng hai đại đội Biệt Cách Dù (BCD) thuộc Project Delta đến tiếp cứu trại Plei Me. Do cấp bậc lớn hơn trưởng trại nên Beckwith đã nắm quyền chỉ huy trại.—ND).

    Sau đây là phần chuyển ngữ từ nhật báo này, với hình ảnh lấy từ nhiều nguồn trên mạng. 

-

Trại Plei Me có hình tam giác đều.

Trại gia binh ở bên ngoài trại, nhưng khi chiến sự bùng nổ, gia đình binh sĩ đã chạy vào trại để trú ẩn.

-     

" Plei Me, Nam VN, ngày 27/10/1965 – Hôm nay một Tiểu đoàn (TĐ) thuộc sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ đã nhảy từ trực thăng xuống một sườn núi bị đốt cháy và đầy hố do bom đạn gây ra, nằm bên ngoài hàng rào của trại LLĐB Plei Me, đã bị tấn công 8 ngày. Lính của sư đoàn 1 Không kỵ, đã tiến quân qua hố bom và các hố chiến đấu cá nhân chứa những xác cháy đen của quân du kích và lục soát chung quanh mặt tây của trại. Nhưng họ đã ít chạm súng với kẻ thù. Nhưng dường như trận Plei me đã kết thúc vào buổi trưa hôm qua khi 17 lính LLĐB Mỹ, râu mọc xồm xàm, phủ đầy bụi đất, ngồi nghỉ chung quanh ngôi nhà của toán. Nhưng súng đã đột ngột nổ vang, và những lính Mỹ này, từng huấn luyện về chiến tranh chống du kích, nay trải qua 1 giờ dưới hầm hố khi khoảng 2.000 đạn súng trường và liên thanh bắn phá doanh trại của họ. Sau đó họ đã chứng kiến lính Không Kỵ đổ quân và đưa xác lính Nam VN lên trực thăng.

Khi một phóng viên đến trại ngày thứ Hai, y hỏi một trung sĩ LLĐB rằng thiếu tá Charles Beckwith ở đâu. “Khi bạn thấy một người to lớn đang la hét ‘tiếp tục tiến lên’, đó là ổng,” trung sĩ nói.  Cảm giác đầu tiên và nổi bật nhất ở Plei Me là mức độ sâu sắc của sự tôn trọng mà người Mỹ dành cho kẻ thù của họ, trong số đó có hàng trăm bộ đội chánh quy bắc VN. Thiếu tá Beckwith đã gọi quân tấn công là “những người lính giỏi nhứt mà tôi thấy trên thế giới, ngoài lính Mỹ. Tôi mong ước, tôi có thể tuyển mộ họ. Tôi mong ước, tôi biết họ đã uống thuốc gì đã khiến họ chiến đấu như vậy. Họ có động lực rất cao và chiến đấu hết mình." Trận Plei Me đã bắt đầu vào tối ngày thứ ba 19/10 khi tấn công xảy ra vào căn cứ hình tam giác này, khoảng 350 km, đông bắc của Sài Gòn, được bảo vệ bởi 350 lính Thượng với 9 cố vấn LLĐB Mỹ. Trại đã cầm cự và ngày thứ Sáu đã được tăng cường bởi 14 lính LLĐB Mỹ và khoảng 250 lính biệt kích nam VN. (Trong trận này, trại được tăng cường bởi khoảng 2 đại đội biệt cách dù VNCH thuộc Project Delta, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Beckwith và thiếu tá Phạm duy Tất – ND).

Trong 4 ngày kế, quân chánh quy CSBV và quân trú phòng đã đụng độ sát bên ngoài hàng rào kẽm gai. Suốt ngày thứ Bảy những đơn vị của quân csbv đã phục kích và phần nào tràn ngập một đơn vị (đv) lớn quân tiếp viện gồm thiết giáp và bộ binh ở cách trại Plei Me gần 9 km. Hai hàng rào phòng thủ và mặt đất của Plei me đã loang lổ những hố bom và hố đại bác, phủ đầy đất đỏ, và lớp bụi đỏ này đã khiến lớp da đầy mồ hôi của quân trú phòng có màu đồng đỏ. Sự bẩn thỉu của căn cứ bị bao vây này đang gây kinh hoàng (appal). Mỗi tối, cả trăm con chuột quấy rối (scuttle) giấc ngủ của quân trú phòng, và chấy rận chui vào đồng phục chưa giặt sạch của họ.

Những thùng đạn rỗng và những cánh dù màu sắc sáng chói nằm rải rác khắp trại.

QUÁ ÍT NƯỚC ĐỂ TẮM GIẶT

Nước được thả dù bằng máy bay, quá hiếm hoi để cho quân trú phòng tắm rửa và cạo râu. Một buổi tối, hai người lính vừa làm một ấm cà-phê lớn thì địch tấn công khiến họ chạy nhanh đến hầm trú ẩn để lấy võ khí. Khi họ trở lại thì ấm cà-phê đã nguội lạnh. Họ dùng nước cà phê này để rửa chân.

Ban ngày, lính Mỹ rời trại để tấn công các vị trí súng máy và hầm trú ẩn của địch, xem ảnh minh họa.

Lính Mỹ thuộc lữ đoàn 173 Dù núp trong

1 bunker của quân csbv tại Dakto,

ngày 22/11/1967. Các bunker này có nắp

ngang mặt đất, trên phủ lá cây còn tươi nên đã bị bỏ sót trong lúc lục soát, do đó dễ bị đánh bọc hậu. Theo BĐQ Vương Mộng Long, các TĐ BĐQ đã bị thiệt hại khi bỏ sót các hầm trú ẩn loại này khi hành quân ở tây nam của Dakto cùng năm.

 

Hai lính Mỹ lục soát một bunker tại gần Qui Nhơn năm 1967.

Nhưng vào ban đêm, họ ngồi dựa vào những bao cát và nói chuyện vãn (chat). Một trung sĩ gầy ốm nói: “Tôi sẽ ko làm công việc này nữa. Tôi sắp trở thành một thư ký đánh máy nhanh nhất thế giới.” Khi một quân nhân nghiêm chỉnh nói về những gánh nặng không bình đẳng của một quốc gia thời chiến, thiếu tá Beckwith đã lập tức gầm lên (growl): “Câm miệng. Đây là thứ mà chúng ta được trả lương để làm.” “Vâng”, ai đó cười trong bóng tối, “những ai ko thích món ăn này có thể ra khỏi cổng.”

NÓI VỚI ÔNG TA RẰNG CHÚNG TA ĐANG BỊ SA LẦY.

Vào tối thứ Hai, đài phát thanh nói rằng Tổng thống Johnson đã “bày tỏ quan tâm” về Pleime và rằng các tướng Mỹ ở SG đã muốn 1 báo cáo mới về tình hình để trình lên Johnson. Một số người đã cười rộ. “Hãy nói với ổng rằng chúng ta đang sa lầy,” một người lính nói. Nhưng cũng đêm thứ Hai này, cường độ tấn công của địch sút giảm nhiều, và ko người lính LLĐB Mỹ nào để ý đến 5 phát đạn ko giựt và 8 đạn cối rơi vào trại. Ngoài những nguy hiểm này từ địch, có những nguy hiểm từ các đơn vị bạn. Chẳng hạn, hai người đã chết vì thùng tiếp tế do máy bay thả dù rơi trúng, và mái nhà của phòng ăn bị thủng một lổ do nguyên nhân như trên.

Suốt thời gian trại bị bao vây, máy bay của Không quân, Hải quân và TQLC Mỹ đã thả hàng trăm tấn bom rất gần trại, đến nổi miểng rơi khắp trại. Hai lính phòng thủ bị thương vì bom. Nhưng vị trưởng trại, thiếu tá Charles Thompson đã nói trong lúc không kích: “Tôi thích lắm, tôi thích lắm, không quân đã cứu chúng ta.” Nhưng không quân cũng có giới hạn. Lính phòng thủ đã nói rằng oanh kích không làm câm họng súng liên thanh của địch.

“VC đã đứng trong hố của chúng và tiếp tục bắn vào Không quân,” một người nói. Hai trực thăng bị phòng không bắn rơi và 8 người chết. Hai máy bay A-1E Skyraider và một máy bay không ảnh RB-66 bị rơi. Trong những ngày đầu, trung sĩ nhứt Joseph Bailey, mượn 1 lá cờ Mỹ nhỏ có rìa (fring) vàng của binh nhứt Eugene Tafoya và treo nó bên dưới là cờ vàng 3 sọc đỏ của nam VN. “Nếu chúng ta sắp chết, chúng ta sẽ chết dưới lá cờ của chúng ta,” trung sĩ Bailey nói. Một giờ sau đó, y đã chết.

Lúc 5:40 chiều thứ hai, đoàn xe thiết giáp cứu viện đã xuất hiện ở chỏm núi (crest) của đồi bắc và ồ ạt tiến về trại. Lính Thượng và biệt cách Dù Nam VN (đã đến trại vào ngày thứ Sáu) đã chào mừng họ và vẩy khăn cổ màu vàng. Trẻ con của lính Thượng đang chơi trong giao thông hào hay bám vào váy của mẹ chúng. Hơn 100 vợ lính Thượng và một số ko thể xác định con em lính Thượng đang sống trong giao thông hào hay hầm trú ẩn với chồng và cha họ. Nhiều đứa trẻ còn mang cả súng. Nổi tiếng nhứt là 1 đứa bé mới 12 tuổi tên John, đội nón sắt, mặc quân phục và trang bị lựu đạn và súng cạc-bin. Sáng thứ Hai, một trẻ em Thượng đã chết trong 1 hố súng cối. Và khi đoàn thiết giáp tiếp viện tới trại, chiến tranh có vẻ chấm dứt ở Pleime. Sáng ngày hôm qua, LLĐB và hai đại đội biệt cách dù Nam VN đã tiến về sườn phía bắc, nơi từng có 6 vị trí đại liên của địch. Trong 4 lần xuất kích trước đây, lính Mỹ đã chết khi chiếm 3 khẩu 12.7 ly, và những kẻ sống sót phải rút về trại. Họ ko thể quên trận đánh vào ngày thứ Bảy khi một tên lính VC đơn độc đã nhô lên từ hố cá nhân, tấn công hai tiểu đội lính Thượng chỉ với 1 quả lựu đạn, khiến họ rút lui.

Thiếu tá Beckwith đã bắn 7 phát đạn vào lưng tên địch này, nhưng ông đã nói, “Đó là một chiến sĩ thực sự.”

Trong lục soát hôm qua, xác của khoảng 40 VC được tìm thấy. Một số tên núp trong những hầm hàm ếch (L-shaped hole) được đào trong lớp hàng rào kẻm gai dài gần 60 mét của trại, và ko ai có thể giải thích làm thế chúng có thể đào những hố như vậy mà ko bị phát hiện.

Trong rừng, quân phòng thủ trại đã bắt 1 tiểu đội trưởng (thuộc 1 trung đoàn csbv) đã bị bỏ lại vì bịnh. Y rung rẩy nhưng đã được đối xử tử tế và cho thuốc lá.

Một người Mỹ nói: “Chúng ta nên đặt gã này ở hàng rào phía bắc của trại và đuổi những binh lính Chính phủ này đi. Có lẽ một mình hắn cũng có thể giữ được nó. Nếu chúng ta có thể kiếm thêm hai người nữa, tất cả các hàng rào sẽ được bảo vệ." (Trại Pleime hình tam giác – ND).

Cuộc hành quân này đã chấm dứt đột ngột khi 1 tên bắn sẻ bắn trúng 1 lính nam VN. Trong khi đó, đoàn xe thiết giáp tiếp viện và bộ binh cũng đã tự tin tiến ra lục soát phía nam của trại. Nhưng một toán du kích đã bắt đầu bắn vào trại, và đoàn xe thiết giáp tiếp viện, gồm 16 tăng, nhiều thiết vận xa M-113 và khoảng 800 lính bộ binh VNCH, buộc phải rút về Pleime trước một quân số ít ỏi nhưng có hầm hố vững chắc của VC. Năm cố vấn bị thương, được khiêng vào trại, 1 người sắp chết. Xác 19 lính VNCH và nhiều kẻ bị thương được mang vào trại. Cuộc bao vây Pleime chưa thực sự chấm dứt. Trong buổi chiều, lính bắn sẽ VC đã tiếp tục bắn gục (pick off) một lính VNCH. Trực thăng cứu thương bắt đầu kéo đến, nữ đại úy quân y Lanny Hunter của LLĐB Mỹ phải cố gắng xua đuổi nhiều lính nam VN, (có lẽ là lính Thượng, vì lính BCD rất có kỷ luật – ND), dù ko bị thương hay bị thương rất nhẹ, đã dành lên trực thăng với kẻ bị thương nặng. Buổi tối đã trở lại yên tỉnh khi chỉ có 5 đạn cối bắn vào trại. Hôm nay chuyên viên bậc 7 Leo Drake, cũng là y tá của trại nói đã tìm thấy 240 xác VC. Phe VNCH nói có thêm 124 VC bị giết sau khi họ phục kích đoàn xe thiết giáp VNCH vào ngày thứ Bảy, và phía Mỹ lại nói ko thể kiểm chứng con số này. Lính phòng thủ đã cười và nói rằng tin của VNCH về xác VC “treo trên hàng rào kẻm gai” tại Pleime là tin giả. Tổn thất của quân chánh phủ khá cao, nhưng thấp hơn con số do VC đưa ra".

San Jose ngày 8 July 2026. Cập nhựt ngày 18 July 2026.

Tài Trần

Saturday, June 28, 2025

 “There was only one MIKE Force battalion activated as it was, by COMUS MACV [Commander U.S. MACV] letter order,” said retired Brigadier General Stringham. “The order was sent from 5th Group that directed C-3 to form one reaction force battalion.”19 Time was critical. A-302 was given less than two weeks to train the new unit. Filling the ranks with new recruits, issuing equipment, and training had to be accomplished by 22 June 1965. After that date, the battalion was to be on call to respond to emergencies in the hotly disputed III CTZ

LTC Miguel “Mike” de la Peña
LTC Miguel “Mike” de la Peña

“The unit was named the MIKE Force. This came from LTC Miguel ‘Mike’ de la Peña. ‘Mike’ was his code name,” said Stringham.20 The MIKE Force was composed of three 150-man companies. With 348 Company as the nucleus, A-302 recruited Nungs to fill the ranks of the other companies. Nungs were also hired to form the reconnaissance platoon.21 There were no Vietnamese CIDG or Special Forces in the first MIKE Force. The strong family ties among the Nungs made the recruitment easy and virtually eliminated the security problems.

“Nepotism was the name of the game,” said Stringham. “Most of the older Nungs were ex-French Foreign Legion [French Colonial Army] guys and they would vouch for the younger ones. It was kind of a ‘self-vetting process,’ but we didn’t have a lot of time.”22 New recruits were given a cursory physical by the A-302 team medics to check for diseases and fitness. The troops were issued one set of tiger-stripe fatigues and M-2 carbines. Each company weapons platoon had three M-1919A1 .30 caliber machine guns and three 60 mm mortars.23 For communications, they were issued PRC-25 radios. The equipment for the MIKE Force came from the 5th SFG logistics base at Nha Trang. Being on the MIKE Force was economically advantageous for the troops. MIKE Force Nungs were paid considerably more than their CIDG counterparts. Each man received 6600 piastres ($55.00) per month as opposed to the 1500 p ($12.00) that was the CIDG monthly wage.24

A U.S. Air Force B-52D Stratofortress dropping 500 pound bombs over Vietnam. The first MIKE Force mission was to conduct a bomb damage assessment following a B-52 strike.
A U.S. Air Force B-52D Stratofortress dropping 500 pound bombs over Vietnam. The first MIKE Force mission was to conduct a bomb damage assessment following a B-52 strike.

“I was the battalion commander,” said Stringham. “Two NCOs [non-commissioned officers] worked with each company. The guys lived with their companies.”25 A-302 focused on marksmanship and infantry small-unit tactics to get the MIKE Force operational. That test came on 22 June 1965.

“The first mission was to take three 6-man teams by helicopter into an area between Highway 13 and the Michelin Rubber Plantation to do a [bomb damage] assessment after a B-52 strike,” recalls Stringham. “The B-52s came out of Guam, but due to a mid-air collision during refueling, they missed the target. All they did was knock down enough stuff to make it hard to move through. We got inserted, ran around a while and got picked up. Not a great beginning for the MIKE Force.”26 The real combat evaluation came a month later.

On 19 July 1965, orders came from the C detachment to prepare a MIKE Force company to aid the SF team at the CIDG camp at Bu Ghia Map under attack by two VC battalions. The Mike Force mission was to evacuate the SF team and their CIDG strikers. 348 Company, the new 4th Nung company and the recon platoon were trucked to Tan Son Nhut Airbase to load two C-123 aircraft for the flight that night to Bu Ghia Map near the Cambodian border.27

The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.
The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.
The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.
The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.
Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.
Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.

“We went in very light, no rucksacks or food. We landed and it was very dark,” said Stringham. “ I ran off the plane and straight into a ditch. When we got into the camp, I put my people on the perimeter, and got theirs [the camp occupants] off the wall, since they were likely compromised. There was half an A detachment and a handful of strikers there.”28 There was little contact the rest of the night. The arrival of the MIKE Force had prompted the VC to switch their main attack to the nearby Bu Dop camp. In the early morning the C Team ordered Bu Ghia Map abandoned and the MIKE Force to move to reinforce Bu Dop.

At daylight on 20 July, the C-123s began to arrive to evacuate the CIDG, the MIKE Force and their SF advisors. Stringham’s team placed explosive charges throughout the camp, on a five-minute delay. After the MIKE Force was flown out to Song Be, CPT Stringham and two NCOs, SSG William Parnell and SSG Elliot Wilson, were to detonate the charges.29 A helicopter picked up the three Americans, just before the explosives went off. Bu Dop had been hit hard the previous night. Two SF advisors and twenty CIDG strikers had been killed.30


USASF Organization

USASF Organization

Arriving at Bu Dop in the afternoon of 20 July, Stringham positioned his MIKE Force personnel on the south side of the camp perimeter and relocated the CIDG defenders onto the north side. The assumption of the A-302 members was that a good percentage of the CIDG strikers were turncoats and would give the VC access to the camp. The enemy did attack the camp again that night, but could not penetrate the defenses. In the morning, CPT Stringham, now in command at Bu Dop, sent a reconnaissance platoon under SSGs Parnell and Collins out to find the enemy. Since Bu Dop was very close to the Cambodian border, locating the enemy escape route to safety across the border was not difficult. But there were still problems inside the camp.

The team discovered that the claymore mines emplaced on the perimeter defenses had been reversed during the night aiming them into the camp. Based on this, the SF soldiers began to thoroughly interrogate the civilians and CIDG personnel in the camp. Not surprisingly, there was a mass exodus from Bu Dop. With the MIKE Force to strengthen the defenses and the Communist sympathizers driven off, the threat of further attack was minimal.31 This established the pattern for the employing the MIKE Force that was used at Dong Xoai.32

The Nungs, whose loyalty to the Americans was unquestioned, became a major force multiplier. By November 1965, CPT Stringham and most of the members of A-302 involved in the formation of the original MIKE Force had completed their tours and rotated back to the United States. Their legacy, the III CTZ MIKE Force composed of Nungs, was the genesis of one of the most successful Special Forces initiatives in the Vietnam War.

Drawing on the combat experience and loyalty of the Nungs, the original MIKE Force was a reliable, well-trained hard-hitting combat unit that could be rapidly moved to reinforce or relieve CIDG camps when they were attacked by overwhelming enemy forces. The Special Forces C Teams in the other Corps Tactical Zones were soon directed by 5th SFG Headquarters to establish MIKE Force battalions.33 These MIKE Force elements caused a major shift in CIDG operations from defense to offense against the VC and NVA. Mobile Strike Groups and other variations of the original MIKE Force model quickly proliferated enabling Special Forces and their CIDG strikers to aggressively seek out and destroy the enemy.

The purpose of this article was to show how several successful VC attacks against the III CTZ CIDG camps prompted the organization of the first MIKE Force. The loyal, high-quality Nungs of the 348th Company became the nucleus of the MIKE Force. LTC Miguel “Mike” de la Peña, whose nickname became associated with the original MIKE Force battalion, saw his moniker attached to reaction forces countrywide. As the Vietnam War evolved, the term “MIKE Force” came to be applied to a variety of units at different times and places. Future articles will examine the varied and complex history of these units that were labeled MIKE Forces.

The author would like to thank BG (ret) Joseph Stringham, LTC (ret) Miguel de la Peña, the other former MIKE Force members who reviewed the article, and especially Roy Jacobson for their invaluable assistance.

Friday, November 29, 2024

 Sáu giờ trong địa ngục trần gian.

Bài của Kaleena Fraga.

Mũ Xanh Roy Benavidez được Huy chương Danh dự (huy chương cao quý nhứt của quân đội Mỹ) khi y lao vào đạn thù mà chỉ trang bị 1 con dao để cứu đồng đội, trong lúc chịu đựng những vết thương nặng đến nỗi các bác sĩ bỏ y vào túi xác.

Khi Roy Banavidez đến VN trong nhiệm kỳ 2 vào năm 1968, ông đã chứng tỏ sự kiên cường (fortitude). Chỉ 3 năm trước đó, Benavidez đã dẫm 1 quả mìn trong lúc phục vụ lần đầu tại VN, và các bác sĩ đã nói ông ko thể đi được. Ông đã thách thức những ý kiến của họ -- nhưng thử thách lớn nhứt của ông vẫn chưa tới.

Trong 1 ngày rất nóng (sizzle) của tháng Năm 1968, Benavidez đã nghe 1 lời cầu cứu trong tuyệt vọng. Một toán LLĐB Mỹ bị phục kích gần biên giới Cam-bốt, và Benavidez lao nhanh vào hành động. Ko cần lịnh lạc và chỉ trang bị 1 con dao, ông trèo lên 1 trực thăng.

Qua hơn "sáu giờ trong địa ngục", Benavidez đã lại lần nữa thách đố cái chết. Phóng nhanh vào rừng để cứu các đồng đội gục ngả và thông tin tối mật mà họ mang theo, Benavidez đã đánh nhau với kẻ thù, cứu các đồng đội, và suýt chết.

Sanh ngày 5/8/1935 tại Cuero Texas, có cha là người Mỹ gốc Mễ và mẹ thuộc bộ lạc bản địa Yaqui, Raul Perez "Roy" Benavidez đã gặp vất vả từ nhỏ. Lúc 7 tuổi, ông mất cả cha lẫn mẹ và nuôi dạy bởi bà con.

Bị chế nhạo (taunt) tại trường học vì gốc Mễ, ông thường đánh nhau với các trẻ em khác vì chúng gọi ông "thằng Mễ đần độn".

Vì những chế nhạo này -- Benavidez đã quyết định tự mình làm một điều gì. Sau khi bỏ học ở tuổi 15 để giúp đỡ gia đình, ông đăng vào Vệ binh Quốc gia bang Texas. Năm 1955, ông chuyển qua Lục quân Mỹ.

Nhưng sau khi Benavidez phục vụ tại Triều tiên và tại Đức, và được gửi sang VN, cuộc đời binh nghiệp của ông dường như đã dừng lại một cách vừa sốc vừa đột ngột. Vì năm 1965, khi phục vụ ở Sở Quan sát SOG của MACV Benavidez đã dẫm một quả mìn. Khi tỉnh dậy ông biết mình tê liệt từ hông trở xuống. Mặc dù dường như rằng Roy sẽ không bao giờ đi lại, nguời lính trẻ này đã quyết định phấn đấu. Trong bóng đêm, khi nhân viên của bịnh viện đã nghỉ, ông đã bò suốt phòng bịnh bằng khuỷu tay tới bức tường gần đó và dùng khuỷu tay để đứng dậy. Nhờ tập luyện như vậy cả năm, người lính Mũ Xanh này cuối cùng đã có thể đi mà ko cần giúp đỡ.

Ông trở lại VN năm 1968.

Ko thể tin được, ông đã trở về sđ 82 Dù và đến VN. Trở lại chiến trường, ông sẽ sớm chứng minh sự gan dạ (grit) của mình một lần nữa.

Ngày 2 tháng 5 1968, trong khi đi ngang một công sự của CS tại Lộc Ninh, một khu vực trên biên giới vN và Cam-bốt, Benavidez đã nghe 1 tiếng kêu cầu cứu từ máy truyền tin. Một toán LLĐB Mỹ gồm 12 người trong 1 nhiệm vụ tối mật đã lọt ổ phục kích. Họ bị địch áp đảo với quân số gần 100 đánh 1, và ba trực thăng đã ko thể cứu họ.

Một người trong số họ là trung sĩ nhứt (sergeant first class) Leroy Wright, một người lính mà Benavidez biết rõ và từng cứu Banavidez chỉ 1 tháng trước đó. 

Khi đó, Benavidez -- mà những người lính khác hay gọi là Tango Mike Mike, chụp vội 1 túi cứu thương và 1 con dao và lao nhanh vào 1 trực thăng để cứu Wright và đồng đội của y. 

Hành động ko cần lịnh lạc, Benavidez đã vượt biên giới vào Cam-bốt. Trực thăng ko thể tiếp đất vì ko an toàn -- nên Benavidez đã nhảy xuống đất và chạy khoảng 70 mét xuyên qua hỏa lực địch hướng về đồng đội bị phục kích. Bị trúng đạn ở mặt và trúng miểng từ một lựu đạn, Benavidez vẫn ko chùn bước (nevertheless made it). 

Ông vẫn chưa biết điều đó, nhưng "sáu giờ trong địa ngục" của ông đã vừa bắt đầu.

Dù bị những thương tích, Benavidez đã nắm quyền chỉ huy. Ông đã điều động những kẻ sống sót và chăm sóc kẻ bị thương, và hướng dẫn những kẻ bị phục kích tới những trực thăng đang chờ họ, ngay cả ông bị bắn trúng bụng và bị nhiều miểng đạn.

Trong vài giờ kế, Benavidez đã mang kẻ bị thương tới nơi an toàn, thu thập tài liệu mật từ người chết -- trong đó có người bạn Wright -- và dùng cận chiến để bảo vệ mình. Khi một lính du kích dùng lưởi lê đâm Benavidez, ông đã kéo lưởi dao từ tay y và đẩy dao vào ngực y khiến y gục ngả. 

Nhưng ông cũng trả giá rất đắc. Một người lính nhận thấy Benavidez đã lấy một tay chận đùm ruột của mình khỏi đổ ra ngoài, và có nhiều máu ở mặt khiến mắt ông gần như ko thể mở được do máu khô đóng vảy. Tuy nhiên ông đã kiểm tra lần nữa các tài liệu mật trước khi lên trực thăng.

Roy Benavidez đã cứu ít nhứt 8 đồng đội. Nhưng ông đã bị đâm và trúng đạn 37 lần, và các chiến hữu đã nghĩ rằng ông sẽ gục ngả vì những vết thương này. Các y tá nghĩ rằng Benavidez đã chết nên họ đã kiểm tra nhịp tim trước khi bỏ ông vào túi đựng xác. 

"Khi tôi cảm thấy 1 bàn tay trên ngực mình, tôi đã biết mình cực kỳ may mắn vì vẫn còn sống, Benavidez nói. "Và đã khạc máu vào mặt của bác sĩ."

Dù Benavidez đã sống sót qua "6 giờ trong địa ngục", sau đó ông phải trải qua gần một năm để phục hồi từ các vết thương. Trong thời gian đó, ông đã được trao tặng Bảo quốc Huân chương (Distinguished Service Cross hay DSC). 

Tại sao lúc đầu Benavidez được trao tặng Bảo quốc Huân chương mà ko là Huân chương Danh dự (Medal of Honor) vẫn là một điều tranh cãi. Brian O'Connor, một lính Mũ Xanh, đã chứng kiến sự dũng cảm của Benavidez, tin tưởng rằng chính phủ Mỹ đã ko muốn thế giới để ý đến các hoạt động bí mật của họ tại Cam-bốt. 

Dù sao đi nữa, Benavidez cần một nhân chứng sống cho việc làm anh hùng của mình, và phải chờ đến năm 1980 chính phủ đã tìm được người đó -- đó là O'Connor. Thế là tháng hai 1981, Roy Benavidez đã được trao tặng Bảo quốc Quân chương bởi tổng thống Ronald Reagan.

"Khi thấy các đồng đội của mình đang gặp nguy hiểm, TS Benavidez đã tình nguyện xông vào lửa đạn của kẻ thù, và mặc dù bị nhiều vết thương nặng, vẫn ko từ bỏ đồng đội để cuối cùng cứu sống 8 người."

"Khả năng lãnh đạo không sợ hãi, tận tụy bền bỉ với nhiệm vụ và những hành động cực kỳ dũng cảm khi đối mặt với quân số áp đảo của địch đã phù hợp với truyền thống cao nhất của quân đội Mỹ và phản ánh sự tín nhiệm tối đa đối với ông và Quân đội." Tổng thống Reagan đã phát biểu trong lễ gắn huy chương cho ông.

Tổng thống Ronald Reagan trao tặng Bảo quốc Huân chương cho TS Roy Benavidez 
ngày 24/2/1981 tại Ngũ Giác Đài. Có chứng kiến của bộ trưởng QP Caspar Weinberger. 


Ông đã từ trần ngày 29/11/1998 ở tuổi 63.