Saturday, July 11, 2026

 

GẶP Ổ KIẾN LỬA: THẤT BẠI NẶNG NỀ CỦA VIỄN THÁM DELTA TẠI THUNG LŨNG AN LÃO.

Bài này chuyễn ngữ từ nhiều nguồn khác nhau.

Bồng Sơn là một làng nằm dọc theo con sông lớn nhưng ko sâu, có tên Sông Lại Giang. QL-1 băng qua sông này ở đây với 2 cầu. Bồng Sơn là một ổ (hotbed) của VC trong 20 năm trước khi quân Mỹ tới đây mùa thu năm 1965. Ảnh chụp năm 1969.

THUNG LŨNG AN LÃO

Đây là một căn cứ địa vững chắc của VC/CSBV. Thung lũng đặt theo tên con suối chạy dọc theo thung lũng. Lữ đoàn 173 Dù từng hoạt động nhiều lần ở đây, với căn cứ đặt tại bãi đáp English, hay Đệ Đức, khoảng 10 km đông bắc của đầu phía nam của thung lũng.

 

1/ Phần nói đầu: Project Delta, với các toán viễn thám 6 người, là một đơn vị về Hành quân Đặc biệt thành công nhất trong chiến tranh VN. Tuy vậy rất ít người Mỹ biết đơn vị (đv) này, và họ là tiền thân của Delta Force sau này.

Thành lập từ năm 1964 tại Nha Trang, nhiệm vụ của Project Delta, mà tên chính thức là Toán B-52, là thực hiện các nhiệm vụ thám sát đặc biệt khắp VNCH theo lịnh của MACV và Bộ Tổng Tham mưu VNCH.

Họ làm theo yêu cầu của cấp sư đoàn (sđ) hay quân đoàn (qđ). Khi đó họ sẽ dưới quyền chỉ huy của đv đã yêu cầu.

Nhiệm vụ của họ rất đa dạng gồm việc thám sát vào các khu vực của VC để thu lượm tin tức tình báo chiến thuật hay chiến lược; hướng dẫn không kích vào những mục tiêu bình thường khó tiếp cận hay phát hiện 1 tập trung đông đảo của đối phương; tiến hành việc Đánh giá Thiệt hại do oanh kích gây ra, viết tắt là BDA trên vùng địch kiểm soát; giải cứu tù binh đồng minh và phi công lâm nạn; bắt tù binh để khai thác; đặt máy nghe lén vào dây điện thoại của địch; đặt mìn trên đường chuyển quân của địch; chụp hình bằng không ảnh và công tác tâm lý chiến. Họ thường hoạt động gần các căn cứ địa hay đường xâm nhập ở khu vực biên gới. Hoạt động của họ chỉ được giải mã năm 1996.

Quân số của Project Delta hay B-52 thay đổi theo thời gian, nhưng thông thường gồm 11 sĩ quan và 82 hạ sĩ quan của lực lượng đặc biệt (LLĐB) Mỹ; một đại đội an ninh gồm 105 lính dân sự chiến đấu (DSCĐ) gốc Nùng – canh giữ doanh trại; một toán Đánh giá Thiệt hại do Oanh kích gây ra gồm 4 người Mỹ và 20 DSCĐ, 20 sĩ quan và 78 hạ sĩ quan/binh sĩ của LLĐB VNCH; một đại đội Roadrunner gồm 123 lính DSCĐ; và TĐ 81 Biệt Cách Dù gồm 43 sĩ quan và 763 hạ sĩ quan/binh sĩ VNCH. TĐ này là lực lượng phản ứng của Project Delta. Trong Tết 1968, họ đã chiến đấu trong tỉnh Gia Định.

Trong phần lớn các trường hợp, các thành phần của Đại đội 281 Trực thăng Tấn công (AHC) được lịnh yểm trợ cho họ. Các tiền sát viên không quân hay FAC cũng phối hợp với họ.

Các toán viễn thám, viết tắt là RT, gồm LLĐB Mỹ và VNCH; và các toán Roadrunner (thuộc LLĐB VNCH với trang bị quần áo và vũ khí địch) là nguồn cung cấp tình báo chánh của Project Delta. Việc xâm nhập lúc đầu thực hiện bởi Trung đội 145 Không vận của Mỹ, viết tắt là 145 AVN PLT và sau này bởi đại đội 281 Trực thăng Tấn công của Mỹ.

2/ Sau đây là cuộc hành quân viễn thám vào thung lũng An Lão tháng 1/1966.

Ảnh: Trung sĩ nhứt (SSGT) Frank Neil Badolati (tử trận trong trận này), là một thành viên của Project Delta, Liên đoàn 5 LLĐB Mỹ.

                

 (Nói thêm: Trong trận Pleime từ 19 đến 25/10/1965, sáng 21/10, một lực lượng 175 người, phần lớn là BĐQ VNCH thuộc Project Delta, dưới quyền của thiếu tá Charles Beckwith và Phạm duy Tất đã được trực thăng đổ xuống cách trại khoảng 5 km. Ngày hôm sau, đơn vị này tiến ra khỏi trại nhưng bị đẩy lui, chết 14 người, và phải lui về trại – ND).

Hành quân Masher (24-1 tới 6-3-1966), xem bản đồ, là một cuộc hành quân lùng và diệt lớn nhứt vào thời điểm đó. Project Delta được giao nhiệm vụ thám sát phía bắc của thung lũng An Lão. (Trên bản đồ ta thấy lữ đoàn 2 và 3 của 1 Không kỵ Mỹ hoạt động phía bắc thung lũng; TĐ 2/40 VNCH án ngữ ở phía nam. CCHL Brass và Steel và bãi đáp Papa yểm trợ cho cuộc hành quân, mà BCH tiền phương đặt tại Bồng Sơn. SĐ 3 CSBV hoạt động ở vùng này. Hương lộ 514, có từ đời Pháp, chạy suốt thung lũng. Quận lỵ An Lão, tượng trưng bởi chấm đen lớn, đã bị CS, đánh chiếm tháng 12/1964 – ND).

 

Khu vực này của thung lũng An Lão được che phủ bởi thảm thực vật rậm rạp, phần lớn là cỏ voi, cao từ 9 tấc đến 1,2 mét, và xen kẻ với các ruộng lúa. Các sườn dốc bao quanh 2 bên của thung lũng với các vị trí phòng không của VC. Tin tình báo cho biết hai trung đoàn csbv đóng trong thung lũng, với yểm trợ của quân nổi dậy VC. Với tình hình như vậy, cựu chỉ huy của Project Delta, thiếu tá Art Strange, đã cảnh báo người kế nhiệm của mình, thiếu tá Beckwith vào tháng 7/1965 “Tránh xa thung lũng An Lão. Chúng có nhiều hệ thống báo động tinh vi và chó săn.”

Người lập kế hoạch cho hành quân Masher và Beckwith đã coi thường ý kiến này. Họ yêu cầu viễn thám thám sát thung lũng nhưng nhiều rắc rối đã xảy ra. Beckwith không muốn có người VN trong toán viễn thám -- dù phải có trong bảng cấp số tổ chức; tình báo thực địa chưa được xác nhận, thời tiết xấu, yểm trợ của trực thăng và gunship bị giới hạn do súng phòng không, và, như đã nói trước đây, VC đã kiểm soát thung lũng này. Lần cuối cùng mà quân VNCH ở đây là năm 1958.

Beckwith đã cho 3 toán xâm nhập gồm toàn lính LLĐB Mỹ. Trung sĩ nhứt Badolati đi với toán ROADRUNNER cùng với trung sĩ nhứt (SFC) Marcus Huston (trưởng toán), trung sĩ Billy McKeith, trung sĩ Wiley Gray, trung sĩ Ron Terry và trung sĩ Cecil Hodgson (mỗi toán sáu người).

Nhiệm vụ của họ đã nhanh chóng thất bại. Toán ESKIMO phải hủy bỏ với 1 người bị thương. Toán CAPITOL bị 1 người lấy củi trông thấy nên bị phục kích, mất 4 người và 2 bị thương.

Toán ROADRUNNER chạm địch lúc 09:00 ngày 28/1 và lần hai lúc 12:30. Trưa hôm đó, Badolati đã trúng đạn ở phần trên của tay trái, khiến tay gần như bị cắt đứt (sever). Trung sĩ Hodgson buộc ga-rô cho Badolati trong khi toán bị tấn công. Toán đã đoạn chiến và di chuyển khoảng 550 mét, sau đó ngừng lại để chăm sóc cho Badolati. Họ lập tức bị tấn công. Toán phải tách làm hai để tránh đối phương đuổi theo.

Nhóm 1 gồm Gray, Hodgson và Terry và nhóm 2 gồm Badolati, Huston và McKeith. Nhóm 2 của Badolati cố gắng núp dọc theo sườn dốc và sau tối đã đi trên lòng suối để mất dấu. Cuối cùng Badolati đã nói y “ko thể đi nữa” và để y ở lại. Huston và McKeith ko đồng ý, và dừng ở 1 vị trí kín đáo ở cách bờ suối khoảng 1 mét. Dù vết thương ở tay được chăm sóc cẩn thận, tình trạng của Badolati tiếp tục suy sụp và chết vào lúc sáng sớm ngày 29/1/1966. Hai người còn lại trong nhóm đã dấu xác của Badolati dưới những bụi cây bên cạnh những tảng đá lớn, với hy vọng toán Tìm kiếm (SAR) sẽ tìm thấy. Họ đã được trực thăng cứu sau đó.

Nhóm 1 của Gray, Hodgson và Terry đã lẩn trốn suốt ngày và tìm chỗ núp để qua đêm. Khi trời vừa sáng của ngày 29, ba người đã bắt đầu di chuyển và ko chạm địch cho tới 4:30 giờ chiều. Trong khi núp trong cỏ voi, họ đã thấy bảy VC đứng cách họ khoảng 1,2 mét ở bên phải và phía sau họ. Họ nổ súng, giết ba tên. Ngay sau đó, Gray đã nghe Terry hét lên rằng y trúng đạn và thấy Terry cong người khi trúng đạn lần nữa; viên đạn này đã kết liểu cuộc đời Terry.

Gray ko biết Hodgson núp ở đâu và quyết định di chuyển khoảng 6 mét tới 1 vị trí tốt để phục kích. Một lát sau, y nghe súng nổ và sau đó im lặng. Gray tiếp tục lẩn trốn và được trực thăng cứu ngày hôm sau.

Thiếu tá Beckwith bị thương trong khi ngồi trên gunship và rời Project Delta tuần kế. Trong 17 người vào thung lũng An Lão, có 7 chết và 3 bị thương.

=======

3/ Sau đây là tường trình của 1 cơ trưởng trực thăng về việc cứu toán viễn thám này.

 Biến cố ở thung lũng An Lão 

Trung đội không vận 145, đã kể ở trên, đã hoạt động vài ngày ở trại LLĐB Bồng Sơn để yểm trợ cho Project Delta đang viễn thám Thung lũng An Lão. Tôi là cơ trưởng của 1 trực thăng chở quân hay "slick", với số đuôi là 62045, danh hiệu truyền tin là "Mardi Grass 6". Xạ thủ là Rusell Issaacs. Trung đội trực thăng có sáu chiếc chở quân, hai chiếc võ trang, và một chiếc UH-1C trang bị đầy đủ, còn gọi là "hog" (con heo); trong khi chiếc thứ 10 phải trở về phi trường Nha Trang do trục trặc. Nhiệm vụ của chúng tôi là bí mật đưa toán Delta này vào thung lũng, yểm trợ họ bằng gunship, và bốc họ khi được lịnh. Nhiệm vụ của toán này là tìm vị trí của một lực lượng lượng lớn của VC và CSBV, để sau đó một lữ đoàn của sư đoàn 1 không kỵ, đang hành quân ở vùng nông thôn Bồng Sơn gần đó, sẽ được đổ xuống để tiêu diệt.

Các toán Delta đã bị lâm nguy (compromise) ngay từ phút đầu và tôi được Phi Dũng Bội Tinh nhờ thả dây và yểm trợ để bốc 5 người ở sườn núi vào ngày 28/12/1966.

Vào sáng ngày 29.2, phần lớn trung đội đang hoạt động trong và chung quanh thung lũng. Thiếu tá Kevin Murphy, trung đội trưởng đã đến trại LLĐB Bồng Sơn để gặp thiếu tá Charlie Beckwith. Trực thăng của tôi đậu gần đấy trong 1 nghĩa trang - nơi mà chúng tôi đã qua vài đêm ở đó; tôi và Isaacs đang kiểm tra máy móc và vũ khí. Đột nhiên thiếu tá Murphy xuất hiện và nói với chúng tôi "cho máy nổ". Một toán viễn thám đã đụng và cần triệt xuất gấp. Thiếu tá Beckwith đã đến với 3 thành viên Delta khác gồm 1 trung sĩ nhứt, một âm thoại viên, và 1 sĩ quan khác, tôi nghĩ như vậy. Chúng tôi lập tức mở máy và thiếu tá Murphy gọi các trực thăng còn lại của trung đội. Họ có thể đã đổ quân hay bay về trại LLĐB Bồng Sơn để đổ xăng hay nạp thêm đạn, nên ko thể đi cùng chúng tôi. Thế là chiếc 045 của tôi phải bay lập tức và nhanh chóng tìm toán viễn thám lâm nạn. Chúng tôi sẽ trở thành máy bay C-and-C trong khi các chiếc khác sẽ bốc viễn thám hay yểm trợ họ. Phi hành đoàn có 4 người gồm thiếu tá Murphy, co-pilot là chuẩn úy Southwell, Issaacs và tôi; và 4 thành viên Delta.

Lúc đó trời lạnh, mây thấp với trần mây dưới 300 mét, và có mưa.

Do trần mây quá thấp, chúng tôi bay ở độ cao khoảng 90 tới 120 mét phía trên khu vực ngay bên ngoài trại SF rồi tiếp tục bay qua một số cánh đồng, đồng thời tăng tốc khi bay. Ngồi ở cửa khoang (phía phi công), tôi mặc áo khoác dã chiến, bên ngoài của áo giáp đạn (flak jacket) và tấm giáp che ngực (chicken plate), xem hình.

Và tôi hạ tấm kính che trên nón visor, xem hình, để cố giữ ấm và che mưa.

Mỗi giọt mưa rơi trúng người đều đau rát. Dù trang bị như trên, tôi vẫn bị mưa vẫn tạt vào tay và cằm tôi, trong khi nước chảy dọc visor, cổ và chui vào trong áo. Tầm nhìn không tốt, nhưng từ độ cao đó tôi vẫn có thể nhìn khá rõ mặt đất. Ít người xuất hiện trong tầm nhìn, nhưng những người mà tôi thấy trông như nông dân đang trên đường đi đâu đó. Không xa sân bay Bồng Son và trước khi chúng tôi vào phần hẹp của thung lũng, chúng tôi bất ngờ thấy vài khu ruộng lúa trống trải. Độ cao của chúng tôi vẫn chỉ vài trăm feet, và phía trước hơi lệch về bên trái là một bờ ruộng có hàng dừa cao, cùng một bờ ruộng khác ở xa bên trái. Tôi không thấy ai cả.

Gần như ngay lập tức, tôi nghe thấy tiếng nổ chát chúa, của súng bộ binh và súng tự động, và tôi nhận ra rằng chúng tôi đang bị bắn từ hàng cây dọc theo bờ ruộng mà chúng tôi đang bay tới theo góc khoảng 30 độ. Tôi bắt đầu khai hỏa bằng khẩu M-60 vào hàng cây, quét từ phải sang trái. Thiếu tá Beckwith, người ngồi cạnh tôi, bắt đầu bắn M-16 qua vai phải tôi, và Trung sĩ nhất, người ngồi dưới sàn trước mặt tôi, cũng bắt đầu khai hỏa. Tôi nghiêng người về phía trước trên ghế, hai tay giữ khẩu M-60, khuỷu tay phải tựa lên đầu gối phải và tay trái đỡ bên dưới súng để ổn định khi bắn. Tôi chỉ kịp bắn khoảng 20 hoặc 30 viên thì “RẦM!”—tay phải tôi bị hất văng khỏi tay cầm của súng M-60 và tôi cảm thấy một cú va chạm gần như tương tự ở đùi phải. Cả thế giới hình như đầy những chấm đỏ, và cơn đau vượt quá khả năng diễn tả của tôi. Khoảnh khắc đó, thời gian như chậm lại.

Tôi nhìn xuống tay mình và thấy khói bốc ra từ vết thương. Tôi liếc sang thiếu tá Beckwith và lập tức nhận ra ông ấy bị thương ở bụng và nặng hơn tôi rất nhiều. Sau đó tôi nhìn lên Trung sĩ nhất, và thấy vẻ kinh ngạc tột độ trên mặt ông ấy; cùng với những vết đỏ khắp mặt và đầu ông ấy khiến tôi bật cười, không phải vì buồn cười mà vì đau đớn. Tôi đưa tay ra phía ông ấy vì muốn ông cầm máu giúp tôi. Tôi chắc ông ấy không hiểu tôi đang làm gì, nhưng cuối cùng ông ấy cũng siết chặt cánh tay tôi và làm chậm việc mất máu.

Sau đó mọi thứ bắt đầu trở nên rối loạn đối với tôi. Khói và hỗn loạn tràn ngập trong trực thăng, cùng với mạng lưới truyền tin đang hoạt động rất mạnh mẻ. Tôi nghĩ rằng Southwell bị mảnh đạn bắn vào mông khi có thứ gì đó xuyên lên từ sàn trực thăng, nhưng tôi không hoàn toàn chắc chuyện gì xảy ra sau khi tôi bị bắn. Trực thăng rung lắc dữ dội khi tiếp tục bay, hơi nghiêng sang phải. Tôi nghe thấy khẩu M-60 của Isaac hoạt động, và cơn đau ở tay cùng nỗi sợ bị bắn thêm hoặc tệ hơn là rơi máy bay khiến tôi quyết định tiếp tục chiến đấu. Tôi dùng tay trái cầm súng và bắt đầu bắn lại, một tay, về phía chân hàng cây, lúc này đã rất gần. Khi chúng tôi lượn qua hàng cây dọc bờ ruộng, tôi thấy những người mặc quân phục đang chĩa vũ khí về phía chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều bắn dữ dội, nhắm vào bất cứ thứ gì chuyển động. Beckwith nằm nửa người trên ghế và đau đớn hơn tôi rất nhiều, và tôi nghe thuộc cấp của ông ấy bảo ông cố gắng chịu đựng. Sĩ quan lực lượng đặc biệt (LLĐB) nói với ông: “Cố lên sếp, ông bị thương nặng rồi. Chúng ta phải đưa ông quay về.” Sau đó ông ta liên lạc vô tuyến và cùng Thiếu tá Murphy quyết định hủy nhiệm vụ và quay thẳng về trại LLĐB.

Chúng tôi bay trở lại Bồng Sơn và hạ cánh ngay bên ngoài hàng rào dây thép của trại LLĐB. Họ đưa Beckwith xuống, và Issacs đi đến bên tôi và đỡ tôi dậy, đặt tay trái tôi lên vai anh ta. Anh ta cõng tôi qua con đường hẹp dẫn vào hàng rào thì gặp một nhà báo đang chặn lối đi. Russell bắt đầu quát anh ta tránh ra, nhưng người đó chỉ đứng đó há hốc miệng, lúng túng với máy ảnh, có lẽ đang cố lấy ra để chụp hình. Khi chúng tôi đến gần, Russell xô anh ta qua hàng dây thép gai, khiến anh ta ngã ngửa lên thêm một lớp dây và rơi xuống đất.

Sau đó Issacs đưa tôi vào trạm cứu thương và ở lại một lúc trong khi một y tá tiêm morphine cho tôi. Mọi thứ bắt đầu trở nên mờ ảo và tôi nhớ họ đang làm việc hết mình cho Beckwith. Một lúc sau tôi nghe Thiếu tá Murphy bắt đầu la hét. Có vẻ ông ấy rất tức giận vì họ không chăm sóc tôi trước, và trực thăng tải thương vẫn chưa đến. Tôi cũng nhớ có người đang cố trấn an ông ấy. Cuối cùng, một trực thăng cấp cứu đến và đưa tôi tới bệnh viện ở Qui Nhơn.

Khi tôi tỉnh lại sau ca phẫu thuật, Đại tá McKean, chỉ huy liên đoàn 5 Lực lượng Đặc biệt, đang ngồi bên giường tôi cùng các thành viên trong ban tham mưu đứng phía sau. Tôi còn khá choáng váng nhưng điều tôi nhớ được trong cuộc trò chuyện là đại đội 145 không vận đã làm tốt nhiệm vụ và đã cứu những người sống sót của toán viễn thám. Thương vong chung của toán viễn thám là rất nặng, nhưng họ đã tìm thấy một số lượng lớn quân VC và McKean đã yêu cầu một không kích bằng B-52 trước khi đối phương kịp rút lui. Khi tôi hỏi về lực lượng yểm trợ mà chúng tôi được hứa, ông nói rằng Sư đoàn 1 không kỵ không thể thực hiện nhiệm vụ của họ vì đang bị kẹt trong một trận đánh ở nơi khác. Tôi cũng nhớ đã hỏi về ông một số thành viên Delta và bày tỏ sự tức giận lớn về việc phải chịu tổn thất như vậy để truy tìm một kẻ địch rồi lại để họ thoát.

Sau này, tôi nghĩ rằng tôi thực sự trân trọng chuyến thăm của ông ấy. Ông khiến tôi cảm thấy mình đã góp phần vào một nhiệm vụ quan trọng và được những người (mà tôi xem là dũng cảm nhất tôi từng gặp) tôn trọng. Đây cũng là lần duy nhất trong cuộc chiến đó có người dành nhiều thời gian giải thích cho tôi các nỗ lực của chúng tôi phù hợp với bức tranh chiến dịch lớn hơn và tại sao nó lại đáng giá.

 Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn không biết mình bị bắn bằng gì! Trong bệnh viện, Russell Issacs nói với tôi rằng đó là một viên đạn xuyên giáp cỡ 7.62 ly và nó đã trúng Beckwith. Vì Beckwith ngồi ngay phía sau tôi, bắn qua vai tôi, và viên đạn xuyên qua tay tôi rồi sượt qua đùi phải, nên đó hẳn là cùng một viên đã bắn trúng ông ấy ở bụng. Chúng tôi đều bị trúng cùng một lúc, và trong cuốn sách của mình, Charlie nói rằng ông bị trúng đạn cỡ 12,8 ly. Viên đạn tạo ra một lỗ cỡ M-16 ở mu bàn tay tôi và một vết thoát đạn lớn hơn ở cổ tay. Nếu là đạn 12,8 ly thì có vẻ như tôi đã mất cả bàn tay.

 Dù đã qua một thời gian kể từ sự cố này, tôi vẫn thường xuyên nghĩ về nó. Tôi đã trải qua một năm tại Bệnh viện Quân y Madigan ở Tacoma, bang Washington để phẫu thuật và phục hồi bàn tay. Sau đó tôi trở lại đại học, tốt nghiệp, đi làm, kết hôn và có con. Cuộc sống của tôi đã tốt đẹp, nhưng mỗi ngày tôi vẫn nhớ đến những người tôi đã phục vụ cùng trong Trung đội Vận tải đường không 145.

Tái dựng từ ký ức cách đây 35 năm 

Bởi cựu binh nhất Duane D. Vincent 

Ngày 19 tháng 11 năm 2000

 

========

4/ Bài này đăng trên FB về trận này.

“Hôm nay chúng tôi xin được tưởng nhớ 7 người thuộc toán B-52 (Project Delta) đã tử trận ngày 29/1/1966 tại thung lũng An Lão thuộc tỉnh Bình Định, 12 dặm tây của Tam Quan. Thung lũng này dài và hẹp với những đồng lúa xen kẻ với những cụm cỏ voi. Những núi đầy rừng rậm nằm 2 bên của thung lũng. Lúc đó Toán B-52 được chỉ huy bởi thiếu tá Charlie Beckwith. Ba toán viễn thám sau khi xâm nhập đều bị thiệt hại, khiến Project Delta phải nghỉ một thời gian để tái huấn luyện. Thiếu tá Beckwith đã bị thương khi bay trên trực thăng C-and-C, nhưng sống sót.

Nhiệm vụ của họ là yểm trợ sư đoàn 1 không kỵ với các toán viễn thám, viết tắt là RT. Vùng hoạt động của họ là đầu phía bắc của thung lũng. Họ có nhiệm vụ quan sát các đường di chuyển dẫn đến khu vực này để xác định VC hay CSBV có dùng để tăng cường hay rút lui khi TQLC Mỹ đánh xuống từ phía bắc hay từ sđ 1 Không kỵ và quân VNCH đánh lên từ phía nam.

Tình báo thực địa ko được kiểm chứng, thời tiết rất xấu, hạn chế về không yểm và truyền tin, và điều mọi người người biết là CS đã kiểm soát thung lũng từ 1958. Bộ tham mưu của Delta đã họp ba toán và chỉ nhận người tình nguyện cho nhiệm vụ. 17 người của 3 toán đều tình nguyện và âm thầm xâm nhập lúc chiều tối của ngày 27/1/1966. Kết quả của cuộc viễn thám: 5 chết, 3 bị thương, và hai mất tích. Chi đây là chi tiết:

==

Lúc 0930 ngày 28, toán 1 chạm súng hạ sát 1 VC, 2 tên bị thương, 1 lính Mỹ bị thương.

Toán 2 cũng chạm súng lúc 0930 cùng ngày, và lần hai lúc 1205. Khi ấy trung sĩ Badolati bị trúng dạn ở phần trên của tay trái, khiến tay bị xé nát (mangle), gần như bị cắt đứt (sever). Trung sĩ Hodgson lập tức buộc chặt vết thương (tourniquet) và toán này đoạn chiến. Họ di chuyển khoảng 600 m trước khi ngừng để săn sóc vết thương của Badolati. Ngay khi ngừng, họ lại bị tấn công. Toán nhanh chóng bắn trả và chia làm 2 nhóm (mỗi nhóm 3 người) để lẩn trốn. Trung sĩ Marcus Huston và Billy McKeith ở lại với Badolati. Suốt buổi chiều và tối, họ vừa chăm sóc Badolati vừa di chuyển trên địa thế hiểm trở để né tránh VC. Thỉnh thoảng họ phải ngừng để điều chỉnh dây buộc vết thương ở tay của Badolati. Nếu dây buộc lỏng, máu sẽ trào ra.

Trong bóng đêm, họ đã gặp một lòng suối xuất phát từ phía tây Sông An Lão. Họ đi trên lòng suối, để tránh để lại dấu vết. Cuối cùng, Badolati nói rằng y “ko thể đi nữa” và yêu cầu để y ở lại. Hai người kia đã kiếm 1 vị trí cách bờ suối khoảng ba bộ Anh rất lý tưởng để ẩn náo vì có các bụi cây và đá tảng. Họ đã ở chỗ này từ 0300 đến 0515 giờ sáng. Thời gian đó, hai người đã chăm sóc cánh tay bị thương nặng của Badolati, tuy nhiên tình trạng của y tiếp tục xấu đi. Họ tin rằng y đã chết sáng sớm ngày 29/1/1966. Sau đó, họ buộc phải dấu xác của Badolati tại chỗ để tiếp tục lẩn trốn. Huston và McKeithe đã được triệt xuất sau đó cùng ngày.

Nhóm thứ hai gồm các trung sĩ Wiley Gray, Cecil Hodgson và Ronald Terry đã lẩn trốn suốt ngày 28. Sáng sớm ngày 29, họ đã vào một vị trí phòng thủ, và ngay sau đó (whereupon) đã chạm súng với địch.  Terry bị trúng đạn, và họ đã nghĩ y chết. Sau đó Hodgson biến dạng. Lần cuối mà họ gặp y với súng lục 9 ly cầm tay trong đám cỏ voi, cách Gray và Terry một tầm tay, khi họ nổ súng một một đơn vị địch đang chận đường rút của họ, và mạnh ai nấy chạy. Có nhiều tiếng súng nổ.

Cả toán viễn thám ko thể tìm kiếm Hodgson vì hỏa lực mạnh mẻ của CS, và buộc phải đến điểm tập họp để trực thăng bốc. Họ đã lẩn trốn suốt ngày hôm đó, và cuối cùng được bốc đi. Cuộc tìm kiếm 3 người mất tích kéo dài trong 4 ngày kế nhưng ko kết quả. Hodgson được xếp loại Mất tích trong Chiến đấu (MIA). Badolati được xếp loại Tử trận/Không tìm được xác.

Charles Hiner là thành viên của toán 2 kể lại. “Toán xâm nhập vào thung lũng vào chập tối của ngày 27/1/1966. Hai ngày sau đó mưa lớn, toán chúng tôi gồm 6 người đang ngồi nghỉ chân thì bị một lực lượng lớn của VC tấn công.

Trong những loạt súng đầu, Cook, Webber, và Hoaglund bị trúng đạn, và tôi ko biết, nhưng nghĩ rằng Dotson và Hancock cũng trúng đạn. Tôi ko chắc lắm vì hai người này bảo vệ cạnh sườn.

Tôi trúng đạn khi lên tới đỉnh đồi để đề phòng địch chiếm đỉnh đồi để khống chế chúng tôi.

Hiệu thính viên Cook bảo vệ sườn trái nhưng ko thể xài máy truyền tin do bị thương bất động. Y gọi tôi xuống phía dưới để lấy máy khỏi người y. Có một đống dá ở giữa khu rừng thưa nên tôi đã đưa máy đến đó để gọi. Tôi gọi mọi người bằng tên mẹ của họ để dễ nhận dạng, trong khi đối phương tiếp tục bắn chúng tôi.

Sau khi chúng tôi gặp sĩ quan tiền không thám hay FAC trên máy, tôi cảm thấy an tâm đôi chút và bắt đầu nhìn chung quanh. Tôi có thể nghe Dotson: y bị trúng đạn ở ngực rất nặng. Một kẻ khác, Hancock nằm chết cách tôi khoảng 9 mét. Y đươc băng bó từ cổ chân đến đầu. Hoaglund vẫn còn sống. Cơn hấp hối của Cook có thể kéo dài đến 1 hay 2 giờ trưa hôm đó.

Webber bị trúng 4 viên đạn vào tay, ngay từ loạt đạn đầu tiên và sau đó tôi bị 1 viên vào đầu. Tên VC thủ khẩu AK-47 và tôi nổ súng một lượt vào nhau. Y giật nẩy người (jerk up) trong khi đạn y chỉ cách da đầu tôi khoảng 6 ly. Đạn vào xương, để lại một rãnh sâu.

Tôi đã gọi không yểm ngay vào vị trí để khỏi bị tràn ngập. Vì thà chết còn hơn bị tràn ngập.

Chúng tôi đang chiến đấu, ở lúc gần nhứt, chỉ cách đối phương 10 bộ Anh. Tình hình thật căng. Do đó khi tôi tung lựu đạn và bảo FAC đánh bom chung quanh đó; phi công nói “Tôi ko thể làm như vậy vì bom sẽ rơi xuống anh.” Tôi trả lời, thà như vậy còn hơn bị tràn ngập.

Ở lúc ngưng chiến gần cuối trận đánh kéo dài 4 giờ này, Hiner bò xuống núi để tháo gở đạn dược từ người chết, gồm Hoaglund, Dotson và Hancock, vì y và Webber sắp hết đạn.

Khi tôi bò tới xác của Hoaglund, tôi thấy y nằm ngửa, bên cạnh một gốc cây, với mủi súng chỉa vào đầu. “Y đã mất một tay, tay kia cũng gần đứt lìa.”

Trong những giờ phút cuối của trận đánh, hai đơn vị tiếp viện đã cuống cuồng di chuyển xuyên qua các bụi rậm để tới vị trí của Hiner. Đơn vị đầu thuộc 1 Không kỵ, và đơn vị kia thuộc Project Delta, chỉ huy bởi trung úy Holland và thượng sĩ nhất (sergeant major) Walt Shumate, người sau này là huyền thoại trong LLĐB khi làm thượng sĩ nhất cho Charlie Beckwith trong các hành quân của LLĐB.

Tường trình của Don Valentine, cựu chiến binh của Toán B-52:

Thiếu úy Guy Holland là sĩ quan trực (OIC) về viễn thám của Project Delta vào lúc đó. Sau khi gọi hết hơi để 1 Không kỵ để cứu toán viễn thám đang nguy ngập, y cần người tình nguyện để vào đó và cứu toán 2 ra.

21 người tình nguyện lấy súng và trang bị và nhảy lên 3 chiếc UH-1. Trong số đó có vài người Nùng. Tôi nhớ 1 người Nùng ngồi cạnh tôi trên máy bay. Khi thấy chúng tôi chạy nhanh ra trực thăng, vũ khí trang bị “tận răng”, y đã hành động như vậy, dù chẳng biết điều gì sắp xảy ra.

Chuyển ngữ từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến trận đánh này.

San Jose ngày 3 tháng 7 2026, cập nhật ngày 11/7/26.

Tài Trần.