Showing posts with label hỏi ngã. Show all posts
Showing posts with label hỏi ngã. Show all posts

Wednesday, November 11, 2020

 "Sao bác dùng toàn dấu NGÃ ko vậy!" 


- Hiểu là nhớ lại -- Triết gia cổ Hy Lạp Platon. 

- Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định (Một cái ăn, một cái uống đều đc định trước). 

Lúc học đệ Thất của chế độ cũ (lớp 6 bây giờ) tôi rất dở về Việt Văn. Có lần thày ra đề "tả cái cày": vì gần như từ nhỏ ở Sài Gòn, chưa bao giờ về vùng quê, nên tôi đã tả cái cày có MƯỜI RĂNG! (vì lộn với cái bừa). Thày giáo đã đem bài của tôi ra "khen" trước lớp làm tôi rất quê! (Tôi ra đời tại đồn điền cao su Đất Đỏ ở Quản Lợi tỉnh Thủ Dầu Một thời Pháp thuộc, dưới chế độ VNCH là tỉnh Bình Long, và bây giờ thuộc tỉnh Bình Phước. Sau đó tôi về sống tại Sài Gòn tới lớn. Khoảng năm 1972-73, nhờ đi lính tác chiến, mới phân biệt giữa lúa và cỏ!)

Khoảng năm đệ Tứ hay đệ Tam, ba tôi đã mời một gia sư, học ở Pháp, về ở trong nhà để dạy Pháp văn cho anh em chúng tôi. Do đó, dù học theo chương trình* của bộ Giáo Dục VNCH, Pháp văn (sinh ngữ chánh) của tôi rất khá, đứng đầu lớp Pháp văn của thày Hoàng Cung ở trường tư Bồ Đề Sài Gòn. Đã vậy, tôi còn được chú Thể, đang học kỹ sư Điện, hướng dẫn dùng sách Toán của Pháp nên tôi rất khá Toán.

Sau khi học hết năm đệ Tam, do bị bịnh, mỗi năm tôi chỉ học lớp đệ Nhị trong vài tháng rồi nghỉ nên ba má tôi rất buồn. Sau khi học đệ Nhị kiểu đó trong BA năm, tôi thi đậu Tú Tài I.

...

Qua Mỹ, tôi bắt đầu viết blog (có tới ba blog) nhưng lỗi về hỏi ngã rất nhiều, đến độ các nơi nhận bài quở trách! Tuy nhiên, nhờ lời khuyên của một học trò (sic), tôi tham gia Facebook nên cải tiến rất nhiều về hỏi ngã bằng cách đặt câu hỏi trên mạng. Tôi còn nhớ, sau khi ra tù năm 1981, khi dạy về Anh văn (nặng về văn phạm và ngữ vựng) cho cháu gái; có lần nó nói: "Sao bác dùng toàn dấu NGÃ ko vậy!" 

* Vì lúc đó có những trường dạy theo chương trình Pháp như Jean-Jacques Rousseau, Marie-Curie, Regina Mundi, Regina Pacis, Taberd, v.v...


 Kiến thức là sức mạnh

Lúc học đệ Thất của chế độ cũ (lớp 6 bây giờ) tôi rất dở về Việt Văn. Có lần thày ra đề "tả cái cày": vì gần như từ nhỏ ở Sài Gòn, chưa bao giờ về vùng quê, nên tôi đã tả cái cày có MƯỜI RĂNG! (vì lộn với cái bừa). Thày giáo đã đem bài của tôi ra "khen" trước lớp làm tôi rất quê! (Tôi ra đời tại đồn điền cao su Đất Đỏ ở Quản Lợi tỉnh Thủ Dầu Một thời Pháp thuộc, dưới chế độ VNCH là tỉnh Bình Long, và bây giờ thuộc tỉnh Bình Phước. Sau đó tôi về sống tại Sài Gòn tới lớn. Khoảng năm 1972-73, nhờ đi lính tác chiến, mới phân biệt giữa lúa và cỏ!)

Khoảng năm đệ Tứ hay đệ Tam, ba tôi đã mời một gia sư, học ở Pháp, về ở nhà để dạy Pháp văn cho anh em chúng tôi. Do đó, dù học theo chương trình của bộ Giáo Dục VNCH*, Pháp văn (sinh ngữ chánh) của tôi rất khá, đứng đầu lớp Pháp văn của thày Hoàng Cung ở trường tư Bồ Đề. Đã vậy, tôi còn được chú Thể, đang học nghành kỹ sư Điện, hướng dẫn dùng sách Toán của Pháp để học thêm về Toán. 

Khoảng 15-16 tuổi, do một thúc đẩy VÔ HÌNH, tôi đã ĐAM MÊ tạp chí của Hội Địa lý Quốc gia Mỹ, từ đó trở đi tôi đã đọc sách báo tiếng Anh rất nhiều, phần lớn là KHKT như cơ học, điện, điện tử, cơ khí xe hơi, xây dựng, kiến trúc (do ba tôi làm nghề thầu xây dựng), y khoa (do nhiều bịnh)... khảo cổ và tử vi của dân Mỹ bản địa!

Nhờ đam mê các trang màu tím ở giữa tự điển Larousse của Pháp, tôi học thêm tiếng La-Tinh. 

Sau khi học hết năm đệ Tam, do bị bịnh, mỗi năm tôi chỉ học lớp đệ Nhị trong vài tháng rồi nghỉ nên ba má tôi rất buồn. Sau khi học đệ Nhị kiểu đó trong BA năm, tôi thi đậu Tú Tài I. Sang năm 68, do có lịnh tổng động viên, nên tôi đã nhập ngũ dù thể chất rất yếu, vác cây súng trường Garant M-1 ko nỗi! 

...

Khi ở tù, vì khá Anh văn, tôi chơi ô chữ (crosswords) ko thua các giảng viên văn hóa của trường Võ bị Đà Lạt - họ đã có Cử nhân Khoa học ở ngoài đời nên khi vào QĐ làm giảng viên ở trường Võ bị và đc gửi đi Mỹ để lấy Cao học (MS) để sau đó về dạy.

Qua Mỹ, tôi bắt đầu viết blog (có tới ba blog) nhưng lỗi về hỏi ngã rất nhiều, đến độ các nơi nhận bài quở trách! Tuy nhiên, nhờ lời khuyên của một học trò, tôi tham gia Facebook nên cải tiến rất nhiều về hỏi ngã bằng cách đặt câu hỏi trên mạng. Tôi còn nhớ, sau khi ra tù năm 1981, khi dạy về Anh văn (nặng về văn phạm và ngũ vựng) cho cháu gái; có lần nó nói: "Sao bác dùng tôi dấu NGÃ ko vậy!"  





Vì lúc đó có những trường dạy theo chương trình Pháp như Jean-Jacques Rousseau, Marie-Curie, Regina Mundi, Regina Pacis, Taberd, v.v...

Các bạn nhớ quy tắc này để tránh việc sai chính tả nhé.

Hỏi — Sắc — Ngang
Ngã — Huyền — Nặng
“Chữ Việt” Thời Sài Gòn xưa
DÙNG DẤU HỎI – NGÃ
chỉ nhắc cái cơ bản dễ nhớ để viết chính tả tương đối ổn và hạn chế lỗi ở mức thấp nhất .
1 . DÙNG TỪ LÁY THEO QUI ƯỚC :
– Dấu Hỏi đi với Sắc và Ngang .
– Dấu Ngã đi với Huyền và Nặng .
HỎI + SẮC :
– Gởi gắm , thổn thức , rải rác , khoảnh khắc , rẻ rúng , tử tế , cảnh cáo , sửng sốt , hảo hán , phản phúc , phản kháng , rửa ráy , quả quyết , khủng khiếp , khỏe khoắn , nhảm nhí , lở loét , lảnh lót , bảo bối , thưởng thức , thẳng thắn , thảng thốt , hiển hách , nhỏ nhắn , chải chuốt , rả rích , phảng phất , lả lướt , bổ báng , sản xuất .
– Mát mẻ , sắc sảo , mắng mỏ , vất vả , hối hả , hớn hở , xối xả , bóng bẩy , nóng nảy , sắp sửa , sắm sửa , hớt hải , lấp lửng , khúc khuỷu , tá lả , rác rưởi , trống trải , cứng cỏi , sáng sủa , sến sẩm , xấp xỉ , lém lỉnh , láu lỉnh , ngắn ngủi , chống chỏi , hốt hoảng , rắn rỏi , tức tưởi , chúi nhủi , nhắc nhở , nức nở , sấn sổ , ngất ngưởng , thắc thỏm , thấp thỏm , trắc trở , tráo trở , béo bở , ngái ngủ , gắt gỏng , kém cỏi , khấp khểnh , cáu kỉnh , kháu khỉnh , thất thểu , khốn khổ , tán tỉnh , ngúng nguẩy .
HỎI + NGANG :
– Nhỏ nhen , nhởn nhơ , ngẩn ngơ , vẩn vơ , lẳng lơ , lẻ loi , hỏi han , nở nang , nể nang , ngổn ngang , dở dang , giỏi giang , sửa sang , thở than , mỏng manh , chỉn chu , dửng dưng , trả treo , tả tơi , bỏ bê , mải mê , chở che , bảnh bao , hẩm hiu , phẳng phiu , khẳng khiu , rủi ro , mỉa mai , trẻ trung , nghỉ ngơi , ngủ nghê , tỉ tê , xỏ xiên , ngả nghiêng , đảo điên , hiển nhiên , lẻ loi , thảnh thơi , sản sinh .
– Dư dả , chăm chỉ , năn nỉ , thư thả , thon thả , thoang thoảng , trong trẻo , trăn trở , vui vẻ , thơ thẩn , thanh thản , mơn mởn , xăm xỉa , lêu lổng , hư hỏng , căng thẳng , dai dẳng , xây xẩm , san sẻ , xoay sở , hăm hở , xa xỉ , ngoe nguẩy , phe phẩy , đông đủ , tanh tưởi , chưng hửng , tiu nghỉu , sang sảng , nham nhở , chao đảo , gây gổ , sơ hở , cơ sở , tin tưởng , năng nổ , cưa cẩm , thăm thẳm , đưa đẩy , tưng tửng , say xỉn
NGÃ + HUYỀN :
– Bẽ bàng , vẫy vùng , nõn nà , vững vàng , đẫy đà , phũ phàng , bão bùng , sỗ sàng , vỗ về , rõ ràng , vẽ vời , sững sờ , ngỡ ngàng , hỗn hào , hãi hùng , sẵn sàng , kỹ càng , não nề , khẽ khàng , mỡ màng , lỡ làng .
Gần gũi , liều lĩnh , lầm lỗi , gìn giữ , buồn bã , tầm tã , suồng sã , rầu rĩ , thờ thẫn , hờ hững , sàm sỡ , xoàng xĩnh , phè phỡn , bừa bãi , thừa thãi , nghề ngỗng , lừng lẫy , ruồng rẫy , lờ lững , đằng đẵng , mò mẫm , lầm lũi , nhàn nhã, bằng hữu.
NGÃ + NẶNG :
– Lãng mạn , lũ lụt , hãm hại , nhẫn nhịn , lễ lộc , lỗi lạc , rũ rượi , lưỡng lự , chễm chệ , nhã nhặn , mẫu mực , chững chạc , dõng dạc , dữ dội , cãi cọ , nhão nhoẹt , kẽo kẹt , kĩu kịt , nhễ nhại , rõ rệt , lẫn lộn
– Gọn ghẽ , ngạo nghễ , vạm vỡ , lặng lẽ , lạnh lẽo , bạc bẽo , sặc sỡ , rực rỡ , rộn rã , vội vã , nghiệt ngã , hậu hĩ , hậu hĩnh , ngộ nghĩnh , gạt gẫm , hụt hẫng , dựa dẫm , nhẹ nhõm , bập bõm , chập chững , mạnh mẽ , chặt chẽ , sạch sẽ , ngặt nghẽo , khập khiễng , đục đẽo , ruộng rẫy , giặc giã , giặt giũ , giận dỗi , bụ bẫm , dạy dỗ , gặp gỡ , dụ dỗ , lạ lẫm , rộng rãi , tục tĩu , nhục nhã , dạn dĩ , rạng rỡ , rệu rã .
* TỪ KÉP LÀ TỪ THƯỜNG ĐI MỘT CẶP DẤU HỎI HOẶC NGÃ .
– Lã chã , bỗ bã , bẽn lẽn , bỡ ngỡ , mỹ mãn , dễ dãi , cũn cỡn , lững thững , ngẫm nghĩ , lỗ lã , lẽo đẽo , nhõng nhẽo , mũm mĩm , mẫu mã , vĩnh viễn , nhễu nhão .
– Thỏ thẻ , đỏng đảnh , lẻ tẻ , của cải , lẩm bẩm , lẩm cẩm , lảm nhảm , hể hả , kể lể , nhỏng nhảnh , lủng củng , thỉnh thoảng , lảo đảo , tỉ mỉ , thủ thỉ , lảng vảng , rủng rỉnh , loảng xoảng , hổn hển , lủng lẳng , lỏng lẻo , lải nhải , tủm tỉm , bủn rủn , xởi lởi , tẩn mẩn , lẩn quẩn , thỏn mỏn , chỏn lỏn , giả lả , bải hoải , bổi hổi , lẩn thẩn , lởm chởm , rỉ rả , thủng thẳng , bỏm bẻm , nhỏm nhẻm , xiểng niểng , lẩy bẩy
2 . TỪ NGUYÊN ÂM : DẤU HỎI
Ủa , ổi , ổng , ẩu , ủng , ỷ , ổn , ửng , ổ , ủy , ỏn ẻn , ong ỏng , im ỉm , âm ỉ , ấp ủ , ảo ảnh , ăn ở , êm ả , oi ả , yên ả , óng ả , ẩn ý , an ủi , ỉ ôi , ẩm ướt , ủ ê , uể oải , ít ỏi , ủn ỉn , oan uổng , ăng ẳng , ư ử , oẳn tù tì , ẻo lả , ủ rũ , yểu điệu , ỉu xìu , ảm đạm , uyển chuyển , quan ải , oản xôi , yểm trợ ( trừ : ễnh , ưỡn , ẵm , ỡm )
3 . TỪ HÁN VIỆT BẮT ĐẦU LÀ M , N , NH , L , V , D , NG THÌ DẤU NGÃ , CÁC CHỮ KHÁC DẤU HỎI .
Ghi nhớ 7 chữ này bằng câu “ Mình Nên Nhớ Là Viết Dấu Ngã “
– M : Mỹ nhân , Mẫu giáo , Mã đáo , Mãn nguyện , Mãng xà , Mãnh lực , Mẫn cán , Miễn nhiệm , Mão mũ
– N : Não bộ , Nữ nhi , Noãn hoa , Nỗ lực , Nã ( truy nã )
– NH : Nhẫn tâm , Nhãn tiền , Nhiễu loạn , Nhũ mẫu , Nhã nhạc , Nhã nhặn , Nhuyễn thể , Nhĩ ( mộc nhĩ ) , Nhưỡng ( thổ nhưỡng)
– L : Lão gia , Lễ nghi , Lĩnh hội , Lỗi lạc , Lữ khách , Lãng tử , Lưỡng tính , Lãnh địa , Luỹ thành , Lãm nguyệt , Lẫm liệt
– V : Vãn hồi , Viễn xứ , Vĩ đại , Võ sư , Vũ trang , Vĩnh hằng , Vững chãi
– D : Diễm phúc , Dũng khí , Dưỡng dục , Dĩ nhiên , Dõng dạc , Diễu hành , Dã ngoại , Dã tâm , Diễn thuyết
– NG : Nghĩa hiệp , Ngũ cốc , Ngữ hệ , Ngẫu nhiên , Nghiễm nhiên , Ngưỡng mộ , Ngã ( bản ngã )
4 . HỌ VÀ TRẠNG TỪ : DẤU NGÃ
– Họ Nguyễn , Võ , Vũ , Đỗ , Doãn , Lữ , Lã , Mã , Liễu , Nhữ
– Cũng , vẫn , sẽ , mãi , đã , những , hỡi , hễ , lẽ ra , mỗi , nữa , dẫu …
5 . DÙNG DẤU BẰNG CÁCH SUY LUẬN THEO NGHĨA . Ví dụ :
NỔI – NỖI :
– Chỉ sự trổi lên hơn mức bình thường thì dấu hỏi ( nổi trội , nổi bật , nổi danh , nổi tiếng , nổi mụn , nổi gân , nổi điên , nổi giận , nổi xung , nổi hứng , nổi sóng , nổi bọt , nổi dậy , chợ nổi , nông nổi , làm nổi , trôi nổi , hết nói nổi , chịu hết nổi , gánh không nổi )
– Cái nào mang tính biểu cảm thì dấu ngã ( khổ nỗi , đến nỗi nào , làm gì nên nỗi , nỗi lòng , nỗi niềm , nỗi ước ao , nỗi nhục , nỗi oan , nỗi hận , nỗi nhớ )
NGHỈ – NGHĨ :
– Liên quan đến sự dừng lại một hoạt động thì dấu hỏi ( nghỉ ngơi , nghỉ học , nghỉ việc , nghỉ hè , nghỉ lễ , nghỉ mệt , nghỉ dưỡng , nghỉ chơi , nghỉ mát , nghỉ thở , nghiêm nghỉ , nhà nghỉ , an nghỉ )
– Thể hiện cảm xúc suy nghĩ thì dấu ngã ( nghĩ ngợi , suy nghĩ , ngẫm nghĩ , nghĩ cách , thầm nghĩ , nghĩ quẫn , nghĩ bậy , cạn nghĩ )
MẢNH – MÃNH :
– Cái nào gợi hình dáng thì dấu hỏi ( mảnh trăng , mảnh ruộng , mảnh vườn , mảnh đất , mảnh xương , mảnh sành , mảnh vỡ , mảnh khảnh , mảnh mai , mảnh khăn , mảnh áo , mảnh vá , mảnh tình , mỏng mảnh )
Thể hiện tính chất thì dấu ngã ( dũng mãnh , mãnh liệt , ranh mãnh , ma mãnh , mãnh hổ , mãnh thú , mãnh lực ..)
KỶ – KỸ :
– Gắn với bản thân con người thì dấu hỏi ( kỷ vật , kỷ niệm , kỷ luật , kỷ lục , kỷ yếu , ích kỷ , tự kỷ , vị kỷ , tri kỷ , thế kỷ , thập kỷ )
– Gắn với kỹ thuật , trình độ thao tác thì dấu ngã ( Kỹ nghệ , kỹ năng , kỹ xảo , kỹ thuật , kỹ sư , kỹ nữ , kỹ lưỡng , kỹ càng , kỹ tính , nghĩ kỹ , giấu kỹ , tuyệt kỹ )
CHÚ Ý :
Qui ước cơ bản chứ không tuyệt đối , vẫn có một số từ ngoại lệ không theo qui ước trên như :
HỎI + NẶNG : – Hủ tục, hủ bại.
chữ “nữa” viết dấu ngã trong đa số trường hợp, chỉ khi nói về số lượng chia hai như ” phân nửa”, “một nửa”, thì viết dấu hỏi.
Bài viết có thể hữu ích cho những ai thường phạm lỗi chính tả “hỏi ngã”. Tuy nhiên, phải nên nói rõ hơn là luật “trắc, bằng” thường đi kèm theo với dấu “hỏi” và “nặng huyền” thì thường đi kèm với dấu “ngã” thì chỉ nên áp dụng với chữ kép “thuần” Việt mà thôi. Còn nếu là những từ kép Hán Việt thì “quy luật” đó không có được hiệu nghiệm cho lắm. Tôi xin cho thí dụ:
Ví dụ như chữ “sản xuất” ở trên là tiếng Hán Việt và “tình cờ” nó đi theo cái luật “bằng, trắc”. Tuy nhiên, nếu là “cộng sản” hay “tài sản” thì nó lại không có hợp với luật “huyền nặng”!
Lý do là vì chữ Hán Việt không hề thay đổi từ “hỏi” sang “ngã” hay ngược lại, khi cái chữ đó đi kẹp với những chữ có những dấu khác nhau.
Một khi chữ “sản” đã được viết với dấu “hỏi” rồi thì cho dù nó có đi kẹp với dấu gì đi nữa thì nó vẫn phải viết với dấu hỏi mà thôi.
Giống như chữ “phản ứng” thì là đúng với quy luật, dấu “hỏi” đi kèm với dấu “sắc”, nhưng “phản hồi” thì không theo quy luật vì viết với dấu hỏi, nhưng lại đi kèm theo với dấu “huyền” !