Showing posts with label BẾN HIÊN. Show all posts
Showing posts with label BẾN HIÊN. Show all posts

Thursday, June 11, 2020

Ruộng bậc thang Chuôr ôm ấp bản làng giữa đại ngàn Trường Sơn

10/10/2019 07:13 GMT+7

TTO - Dưới thung lũng nhỏ có con suối chảy quanh, ruộng bậc thang Chuôr hệt dải lụa vắt giữa hai thôn Arâng và thôn Ariing, xã Axan, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.

Ruộng bậc thang Chuôr ôm ấp bản làng giữa đại ngàn Trường Sơn - Ảnh 1.
Cánh đồng Chuôr hệt dải lụa e ấp dưới chân đại ngàn Trường Sơn - Ảnh: TẤN LỰC
Nằm khép giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, ruộng bậc thang Chuôr mùa lúa trổ đòng mơn mởn xinh xắn như nét đẹp cô gái Cơ Tu đương tuổi dậy thì.
Mùa tháng 10, sương mù còn đậm đặc thung lũng trong sáng tinh sương. Theo nhịp điệu mặt trời, những vạt ruộng bậc thang Chuôr mờ mờ ảo ảo dần hiện rõ hình hài từng giờ, từng khắc.
Mặt trời càng lên cao, sương mù dần tan biến nhường chỗ cho những vạt lúa xanh nhuộm màu nắng vàng trông thích mắt. Từ lưng chừng nhìn xuống, cánh đồng Chuôr như vòng cung xanh ôm lấy bản làng, nhà dân vào vòng tay bảo bọc của mình.
Người CơTTu ở Axan bảo rằng ruộng bậc thang Chuôr đã có từ rất lâu, có thể cùng thời điểm người Cơ tu biết làm đồ gốm ở làng Ki’noonh và trồng đôi cây đa sộp - cây di sản Việt Nam, tại làng Arâng.
Dù chỉ là cánh đồng nhỏ dưới chân núi vỏn vẹn 7,5 ha, ruộng bậc thang Chuôr là kết tinh từ sức lao động của nhiều thế hệ người Cơ Tu bản địa. Nơi đây cũng là một điển hình về cách thức trồng lúa nước ở vùng cao Quảng Nam.
Người Cơ Tu cho rằng thung lũng Chuôr là nơi hội tụ linh khí đất trời, sinh ra các thể hệ người Cơ Tu yêu núi rừng, sông suối, bản làng. Bởi vậy, ruộng bậc thang Chuôr có ý nghĩa đặc biệt trong tâm thức mỗi người dân bản địa.

Ruộng bậc thang Chuôr trong nắng sớm - Video: TẤN LỰC
Ruộng bậc thang Chuôr ôm ấp bản làng giữa đại ngàn Trường Sơn - Ảnh 3.
Ruộng bậc thang Chuôr như vòng tay ôm ấp bản làng, thôn xóm người Cơ Tu - Ảnh: TẤN LỰC
Ruộng bậc thang Chuôr ôm ấp bản làng giữa đại ngàn Trường Sơn - Ảnh 4.
Con suối chảy quanh làm nên sức sống cho ruộng bậc thang Chuôr - Ảnh: TẤN LỰC
Ruộng bậc thang Chuôr ôm ấp bản làng giữa đại ngàn Trường Sơn - Ảnh 5.
Nơi này gắn với lịch sử lâu đời của người Cơ tu tại Axan. Ruộng bậc thang Chuôr đã được UBND tỉnh Quảng Nam công nhận là Danh thắng cấp tỉnh năm 2010 - Ảnh: TẤN LỰC
Ruộng bậc thang Chuôr ôm ấp bản làng giữa đại ngàn Trường Sơn - Ảnh 6.
Những vạt ruộng không đồng nhất nhìn từ trên cao như một kiểu hoa văn độc đáo - Ảnh: TẤN LỰC
Ruộng cách Đà Nẵng hơn 150km đường rừng núi, hành trình đến đây tương đối khó khăn.
Từ Đà Nẵng, du khách có thể đi xe máy hoặc ô tô theo quốc lộ 14G xuyên khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa đến thị trấn Prao, huyện Đông Giang, Quảng Nam, di chuyển theo đường Hồ Chí Minh đến xã Bhalee rồi rẽ trái vào đường liên huyện đến xã A Tiêng - trung tâm huyện Tây Giang.
Tại đây, du khách nên dừng nghỉ, ăn uống và nạp xăng dầu trước khi chinh phục chặng đường gần 50 km được đánh giá là đẹp mắt nhưng cũng khó khăn nhất hành trình, khi đi xuyên qua rừng đại ngàn Tây Giang thuộc các xã Lăng, Tr'Hy và Axan.
Trên đường đi, du khách có thể dừng chân ngắm cảnh tại Đỉnh Quế - một đỉnh núi cao có quan cảnh tuyệt đẹp và khí hậu cực mát mẻ, trước khi vào Axan. Hành trình đi từ Đà Nẵng đến ruộng bậc thang Chuôr khoảng 4-5 giờ.
Bến Giằng, một địa danh đã đi vào lịch sử và văn học, ngày nay là huyện Nam Giang, phía tây tỉnh Quảng Nam. Đi theo đường Hồ Chí Minh hoặc QL14E từ QL1A lên, là ta đã đi xuyên qua nhiều di tích, thắng cảnh của vùng đất này.
Cuối đường 14E là cửa khẩu Đắc Óoc sang huyện Đắc Chưng, thuộc tỉnh Sê Công của nước Lào, nơi nổi tiếng với cây sa nhân và giống ngựa thồ. Trong Bài thơ về hạnh phúc, nhà thơ Dương Hương Lý từng viết: “Con sông Giằng gầm réo miên man”, nhà thơ Tố Hữu cũng có câu “Ôi làng Rô nhỏ của tôi”, chính là khu vực mà trước đó nhà văn Nguyễn Chí Trung đã có bút ký nổi tiếng Bức thư làng Mực… Ngày nay, Bến Giằng đã được thay thế bằng chiếc cầu sắt của hãng Effel chế tạo được tháo từ cây cầu De Lattre ở Đà Nẵng đưa lên… Qua cầu để lên biên giới, qua khỏi các làng Tà Bhing, Chà Vàl , làng Ving, Dốc Thờ, Bót Xít… ta sẽ bước vào những vùng đất mà Chu Cẩm Phong từng lăn lộn thời chiến tranh và ghi lại sinh động trong Nhật ký Chiến tranh của anh.

Trở lại Bến Giằng - ảnh 1
Cầu Bến Giằng  Ảnh: Nguyễn Sông Hàn

Trở lại Bến Giằng - ảnh 2
Các thiếu nữ Cơ tu qua suối - Ảnh: Nguyễn Sông Hàn
Ở Bến Giằng có các thác đẹp như thác Monica dọc đường Hồ Chí Minh (tương tuyền hoàng hậu Monique của cựu hoàng Sihanouk từng dừng chân và tắm ở đây trong chiến tranh), hay thác Gờ răng (cá Chiêng) ở làng Tà Bhing, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh nước trong xanh bốn mùa giữa đại ngàn.
Thăm thú vùng Bến Giằng ngày nay, có thể ghé ăn những món cơm lam nấu ống tre ở Chà vàl, uống rượu Tà vạt (rượu đoát), với món mồi cá Chiêng ở Tà Bhing trong những ngôi nhà gươl cùng các cô gái người Cơ tu luôn nở nụ cười tươi như hoa rừng. Trong men Tà Vạt ngây ngây, có thể xem những vũ điệu Đinh tuk, Ya ya… dưới ánh lửa bập bùng hoặc nghe các già làng hát lý. “Ngực em tròn như vầng trăng, chân em trắng như chiếc ngà voi” là những câu hát lý nghe từ hơn 20 năm trước, giờ tôi vẫn còn nhớ…
Từ Đà Nẵng đi Bến Giằng với đường dài khoảng 100 cây số và có thể về trong ngày. Nhưng để uống Tà Vạt hoặc hưởng cái hơi lạnh ở biên giới Cổng Trời trên độ cao hơn ngàn mét, tốt hơn là nên ở lại qua đêm.
Đi lại nhiều lần qua Bến Giằng, nhưng tôi tiếc vì chưa thấy đơn vị lữ hành nào thiết kế một tour du lịch đến đây, kết hợp với việc khám phá đường mòn Trường Sơn vẫn còn nhiều dấu vết giữa các khu rừng nguyên sinh.
Nguyễn Sông Hàn
Bến Giằng và bến Hiên ở Quảng Nam.
Hai vùng đất bến Hiên, bến Giằng trước đây nay thuộc huyện nào của tỉnh Quảng Nam? Trong tỉnh còn có địa danh nào bắt đầu từ bến nữa không? (Mỹ Trí, Hải Châu, Đà Nẵng)
- Bến Giằng, bến Hiên là tên gọi của hai vùng đất phía tây bắc tỉnh Quảng Nam, ngày nay ít người biết tới bởi cả hai đã được đổi tên.
Theo mục “Quảng Nam - Đà Nẵng qua các địa danh” trên Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng (danang.gov.vn), bến Giằng là vùng đất nơi ngã ba con sông Thanh đổ vào sông Nước Mỹ, có một bãi cát bằng phẳng nằm ở phía trên thác, làm nơi đậu của ghe thuyền có tên là bến Giằng Xay. Về sau bến Giằng Xay được rút gọn lại còn bến Giằng. Tháng 1 năm 1948, chính quyền cách mạng thành lập châu Bến Giằng theo quyết định của Ủy ban Kháng chiến - Hành chính tỉnh Quảng Nam, trên cơ sở các làng dân tộc miền núi tách ra khỏi huyện Đại Lộc. Đến tháng 6-1949, châu Bến Giằng đổi thành huyện Bến Giằng, sau rút gọn lại thành huyện Giằng. Nay đổi thành huyện Nam Giang.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn có một địa danh Giằng Xay nữa, đó là một con dốc làm ranh giới tự nhiên giữa thành phố Tam Kỳ và huyện Tiên Phước, phía đông là xã Tam Lộc, phía tây là xã Tiên Sơn, trên con đường Tam Kỳ đi Việt An.
Cũng theo trang web dẫn trên, bến Hiên là một bãi bồi rộng ở vùng đất nơi ngã ba sông Trăng chảy vào sông Con. Đầu thế kỷ XX, có một người miền xuôi lên đây vỡ hoang trồng lúa, bắp,... Ghe lái buôn chở hàng từ hạ lưu lên trao đổi với người dân tộc đều ghé vào đây. Người Cơ tu đem lâm sản từ các buôn làng đổi lấy muối, vải,… Năm 1950, đơn vị hành chính cấp huyện được thành lập lấy tên là huyện Hiên theo quyết định của Ủy ban Kháng chiến - Hành chính tỉnh Quảng Nam, trên cơ sở các xã miền núi phía tây bắc tách ra từ huyện Đại Lộc. Huyện Hiên ngày nay được chia thành hai huyện Đông Giang và Tây Giang.
Khi xưa, giao thông ở Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Nam nói riêng, chủ yếu là đường thủy, từ đó phát sinh ra các bến - là nơi tàu, thuyền đỗ lại để khách lên xuống và xếp dỡ hàng hóa.
Tỉnh Quảng Nam có nhiều địa danh bắt đầu từ bến. Cũng như bến Giằng, bến Hiên, các địa danh này đều có một “lịch sử” riêng.
Bến Trễ là bến sông nằm bên sông Cổ Cò, thuộc làng Thanh Hà, Hội An. Trễ từ cổ chỉ một loại xuồng, ghe nhỏ đan bằng tre, trét dầu rái, bề ngang từ 50 - 80cm, bề dài từ 4-5m, được ngư dân dùng để đánh bắt tôm, cá,… Bến Trễ là quê hương của Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu (Hường Hiệu), thủ lĩnh của Nghĩa hội Quảng Nam. Từ bến Trễ - Thanh Hà, ông đã đi ghe ngược sông Cổ Cò ra làng Hà Lộc (nay thuộc phường Điện Dương, thị xã Điện Bàn) để theo học Cử nhân Lê Tấn Toán.
Bến Cồn Chăm là một bến sông rộng ở làng Bàn Thạch, nay thuộc xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, là điểm hội tụ của ba dòng sông chính: Thu Bồn, Bà Rén (đoạn qua khu vực Duy Vinh gọi là sông Ly Ly), Trường Giang trước khi đổ ra Cửa Đại. Sở dĩ có tên là bến Cồn Chăm, bởi xưa đây là điểm cuối của đường bộ nối từ kinh đô Simhapura (Trà Kiệu) đến cửa Đại Chiêm, một bến cảng quan trọng của Vương quốc Chăm-pa.
Bến Dầu là một bến ghe thuyền, cũng là tên một chợ nằm ở tả ngạn sông Thu Bồn, nay thuộc xã Đại Thạnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Các nguồn hàng lâm thổ sản khai thác từ rừng phía tây vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mà mặt hàng đặc trưng là dầu rái, được tập trung về đây, rồi chở đi tiêu thụ ở Hội An, Đà Nẵng và các tỉnh.
Bến Ván là một bến thuyền (tên chữ là Bản Tân), nằm hữu ngạn con sông cùng tên. Ngày xưa gỗ khai thác từ nguồn Hữu Ban chuyển theo đường nước về đây, được xẻ thành ván cung cấp cho ngành đóng thuyền và làm đồ gia dụng. Bến Ván nay thuộc thị trấn Núi Thành, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
ĐNCT
Các tin khác
Hệ thống đào tạo y khoa
Thợ khắc bia nhà nước và thợ khắc bia dân gian
Bút đàm
Bờ biển Đà Nẵng dài bao nhiêu?
"Công tử bột"
Cầm ly rượu vang thế nào cho đúng cách?
Infographic
Tục "đi sim"
Về câu tục ngữ "Thả con săn sắt, bắt con cá rô"
Bói tuổi mẹ - con, đoán nghề con

Sunday, May 31, 2020

Tướng Ngô Quang Trưởng

(Bùi Đức Lạc) 

                                                

                                      



                                                 

 Có nhiều tác giả viết vể đề tài này, hôm nay không may cho tôi, phải đọc thêm những dòng chữ viết về ông, không mấy chỉnh cho lắm, ai mà biết được lòng người. Tôi không muốn nêu tên những tác giả này vì không đáng cho người lương thiện, phải đề cập đến họ. Có ông viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM. Chao ôi!
 Năm 1961; tôi là pháo đội phó cho Trung úy Phan văn Phúc, (sau này ông ấy là Chỉ huy trưởng pháo binh SĐ1BB), pháo đội A tiểu đoàn 2 pháo binh, dẫn hai khẩu đội lưu động tại Quảng Ngãi, mỗi lần hành quân như vậy, dọc đường thường là tự bảo vệ,  nhưng đôi khi cũng được đại đội Biệt Động Quân của trung úy Nguyễn thừa Du bảo vệ dọc đường, tới vị trí đóng quân chúng tôi tự phòng thủ, yểm trợ hỏa lực cho cuộc hành quân, đại đội BĐQ của trung úy Du tấn công vào mục tiêu, cuộc hành quân đôi lúc do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh chỉ huy,  có khi do Tiểu Khu Quảng Ngãi chỉ huy, khi chấm dứt hành quân lại kéo súng về rạng nhãn cạnh tòa án Quảng Ngãi nghỉ dưỡng quân. Cứ như vậy, ban ngày tiếp tục ứng trực hành quân, lên đường 15 phút sau khi nhận được lệnh, vì vậy ban ngày súng luôn mắc sau xe, đêm đến hạ súng xuống, để phòng thủ vị trí, vì đêm không có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực.
 Sau đó tôi được lệnh làm pháo binh vị trí, nói cho vui là đi đóng đồn, tại những vị trí này không có đơn vị bộ binh bảo vệ, vị trí pháo binh đầu tiên tôi thiết lập trên đồi cầu Cộng Hòa, Nghĩa Hành; tại vị trí này tôi được tướng tư lệnh quân đoàn khen thưởng, Tướng tư lệnh quân đoàn đưa nguyên đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga lên vị trí trên đồi cầu Cộng Hòa trình diễn thưởng cho đơn vị, lúc đó Đại úy Nguyễn văn Thiệu làm tiểu đoàn trưởng, Đại úy Lê văn Thân chỉ huy trưởng pháo binh sư đoàn, Thiếu tá Phan đình Soạn chỉ huy trưởng pháo binh quân đoàn,  sau đó làm vị trí pháo binh đầu tiên cho đồi Minh Long, thuộc quận Minh Long, Quảng Ngãi.
 Ngày 12 tháng 11 năm 1961. Tại đồi Minh Long tôi nhận được lệnh về làm pháo đội trưởng Pháo Đội B /TĐ2PB, do ý của tư lệnh sư đoàn, thay thế nhiệm vụ của Trung úy Trương duy Tài, (K4TĐ) trung úy Tài có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác. Lúc đó mỗi sư đoàn bộ binh chỉ có một tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu súng 105 ly kiểu  M101) mà thôi, như vậy mỗi pháo đội chỉ có 4 khẩu đội. Tiểu đoàn 2 Pháo binh trước năm 1954 là 5me GAVN, sau năm 1954 mới có tên là TĐ2PB và trực thuộc SĐ2BB từ đó, sau năm 1963 được đổi tên là TĐ21PB. Đọc (Nhật ký Hành Quân của đơn vị). Pháo đội B của 5me GAVN năm 1951 bắn về làng tôi, (Xuân Bảng, Xuân Trưởng, Nam Định) thi hành tác xạ theo lệnh của secteur (tiểu khu) Hành Thiện, căn cứ trên báo cáo của tình báo địa phương, địch quân đang đồn trú tại làng tôi một đơn vị lớn, thực tế không có một đơn vị nào của địch, tin tình báo gì lạ vậy, mà chỉ có dân lành nằm chết khắp nơi trong làng! Dưới cơn mưa pháo, mẹ tôi ôm chúng tôi dưới gầm giường, hy vọng che chở mảnh đạn pháo binh không làm hại cho đàn con dại, mẹ Việt Nam vùng quê đơn giản suy nghĩ như vậy đó, thời gian qua mau, không ngờ đúng 10 năm sau tôi lại chỉ huy pháo đội này. 1/2 quân số đơn vị đã tham dự cuộc pháo kích năm 1951, vẫn còn tại hàng.
 Vừa nhận bàn giao xong, sau không đầy một tuần làm quen đơn vị, mùa đông bắt đầu, cái lạnh giá buốt hành hạ, lần đầu tiên trong đời tôi thấy em bé gầy gò khoảng 6 tuổi, cõng một em khoảng 2 tuổi, cả hai không có đủ áo chống lạnh, oái oăm là cả hai cùng ngậm điếu thuốc cì gà rất lớn (Cẩm Lệ), hai điếu thuốc đang bốc khói, trông hai em rất hạnh phúc, cõng nhau đi ngoài trời gió lạnh tại ga xe lửa Tam Kỳ. 

 Tôi bắt đầu nhập cuộc trở lại. Rồi cũng lại kéo hai khẩu súng đại bác của pháo đội B lưu động tại tỉnh Quảng Nam, ai cũng sợ phải làm nhiệm vụ lưu động, vì sợ phải gần Đại Tá tư lệnh, tôi lại bằng lòng với nhiệm vụ lưu động, vì dù sao tối đến cũng hay được ở thành phố, chính vị tiểu đoàn trưởng Đại úy Nguyễn văn Thiệu, cũng muốn tôi làm nhiệm vụ này, ai cũng muốn được vô sự, tôi luôn mang vô sự đến cho ông. 
 Được lệnh đóng vị trí tại chân núi Bà Nà yểm trợ hỏa lực cho trung đoàn Địa Phương (?) trung đoàn phó là Đại úy Nguyễn văn Ngơi, vì Đại úy Ngơi là trưởng phòng an ninh Quân đội của SĐ5BB, lúc tôi là pháo đội phó pháo đội A tiểu đoàn 5 súng cối, hơn nữa ông hay sang pháo đội uống cà phê nên mới nhớ tên ông, thật sự quên tên vị trung đoàn trưởng, hình như là Đại úy Tất, cuộc hành quân chưa chấm dứt. Nhận lệnh kéo súng về hậu cứ, ngày hôm sau, lại nhận lệnh kéo súng đi Thường Đức, không có hộ tống dọc đường, đóng quân tại Thường Đức, yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 1, trung đoàn 4 (hay 6 ?) thuộc SĐ 2 BB do Đại Uý Võ Mạnh Đông làm tiểu đoàn trưởng, đơn vị này đang hành quân tại vùng Ben Hiên, Ben Hiên nổi tiếng là vùng nước độc, người ta đồn rằng: Qua suối là rụng hết lông chân, dưới lòng suối nước trong vắt, nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy suối, trông giòng suối thật hiền hòa, nào có ai biết giông bão đang chờ, hôm tiểu đoàn 1 băng qua suối, ba đại đội đầu vượt suối bình yên, nước chỉ tới trên đầu gối một chút mà thôi, không có một hiện tượng gì là nguy hiểm, nên an toàn, vô sự. Lúc đó Thiếu úy Nguyễn văn Lước là sĩ quan tiền sát của tiểu đoàn này, mỗi tiểu đoàn chỉ có một sĩ quan pháo binh đi để điều động hỏa lực pháo binh.
 Đại đội sau cũng vừa bắt đầu băng suối,  chỗ sâu nhất chỉ tới háng mà thôi. thì thình lình nước chảy cuồng loạn, đúng là như thác đổ, cuốn mất một trung đội, mà lúc đó trời đang trong sáng, sau mới biết là do mưa lũ từ thượng nguồn, nước trào dâng, tràn về nhanh như vậy, cuối cùng trung đội này chỉ bị chết đuối mất 2 người.
 Tôi có lội xuống suối thử một lần, thấy không rụng lông chân, mà nhổ lông chân không cảm thấy đau.  Đ/U Đông lúc ra trường về TĐ5ND, rồi luân lưu về SĐ2BB dưới quyền trung đoàn trưởng Thiếu Tá Võ Hữu Thu kiêm tỉnh trưởng Quảng Nam, cả hai ông này đều là anh ruột của anh hùng Võ Đại Tôn. Đó là thời Đại Tá Lâm Văn Phát Tư Lệnh SĐ2BB, ba trung đoàn trưởng kiêm ba tỉnh trưởng Quảng Nam Thiếu Tá Thu, sau này Quảng Tín Đại Uý Thọ, vì năm 1961 chưa có tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi Thiếu Tá Tụ.  Sau đó tôi kéo súng về Bến Giàng phía Tây của Thường Đức, cách Thường Đức khoảng 10 cây số đường chim bay, nhưng  đi đường bộ thì khoảng 14 cây số, rồi lại được lệnh kéo súng về Khâm Đức hướng Tây của Bến Giàng khoảng 10 cây số đường chim bay, đường bộ khoảng 15 cây số.
 Tại đây tôi gặp Đại Uý Vũ văn Giai, chi khu trưởng chi khu Khâm Đức, lại Tây tiến nữa Ngoktavak cách Khâm Đức khoảng 11 cây số đường chim bay, khoảng 16 cây số đường bộ, đây mới là vị trí nằm ngay trên đường mòn HCM. Ngoktavak nơi khỉ ho cò gáy, chúng tôi gặp Đại Đội trưởng Bộ Binh, Thiếu Úy Bùi Đức Cẩn khoá 17 võ bị Đà Lạt, mới ra trường, hiện nay tại San Jose. Lúc đó có Thiếu Úy Ninh (k10TĐ) sĩ quan trong đơn vị tôi; từ Ngoktavak tới ngã ba biên giới khoảng 15 cây số đường bộ. Tại đây tôi thiết lập vị trí pháo binh rất quy mô, vì nó nằm ngay trên đường mòn HCM. Phải rất thận trọng ấm ớ, là (chuối đó cưởng). Vị trí này nếu bay trên trời quí vị chỉ thấy vị trí hai khẩu pháo, trơ trọi trên đỉnh đồi, không thấy các cơ quan khác. Như nhà ở của các pháo thủ, hay hầm đạn đều nằm dưới mặt đất v v. Nhờ vậy tôi được tư lệnh sư đoàn khen thưởng.

 Tôi nói vòng vo Tam Quốc như vậy để quí vị đọc giả hiểu rõ tác giả, dù ở cấp bậc nào, viết về tướng Trưởng, không biết đọc bản đồ nào,  mà lại viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM, trong khi Thường Đừc nằm cách xa ĐM/HCM, khoảng gần 50Km, tôi không muốn biết tác giả có cấp bậc gì , trình độ nào, nhưng viết như vậy, thì bài viết này khả tín bao nhiêu? Tác giả viết nhiều điều buồn hơn vui, nhưng một điều hơi đè nặng trên vai vị tướng có nhiều điểm tốt hơn điểm xấu, tôi sợ nhiều người hiểu sai, không nên vì hằn học với hiện tại, mà làm mất đi sự cảm mến của hậu thế với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một vị tướng có nhiều điểm tốt hơn xấu mà bị bôi trét như vậy có chỉnh hay không? Ngay con cháu chúng ta, có còn coi trọng chúng ta hay coi thường chúng ta.
 Ôi một vị tướng có điểm cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy, vậy các quân nhân khác, sẽ bê tha tới mức nào đây! ! Đó chính là nguyên nhân tôi thấy phải có trách nhiệm viết, có đoạn tác giả viết đại để như thế này:
 (Khi nhận được tin nóng từ máy bay quan sát cho biết từ điểm X một đoàn xe địch rất đông đang từ đó di chuyển về hướng Quân Đoàn II).
Tư Lệnh Quân Đoàn I, lạnh lùng trả lời:
- Hãy để cho nó đi !
 Lời nói nhẹ nhàng! Nhưng nó biểu lộ một sự lựa chọn vô trách nhiệm, nhất là nó phát ra từ lồng ngực của một quân nhân có tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy! Ôi!  Có thể như vậy sao? Ông Trời tuy xa vời vợi, khó với tới, nhưng rất dễ cho mọi người cảm nhận được, trời ở nơi nao? Lời văn độc ác trời có thể thấy rất rõ, thấy rất chi tiết, thấy rất công bằng và phán xét rất công minh.
 Ra ngoại quốc ai mà không khắc khoải nhớ về quê hương thân yêu, tôi hoàn toàn chới với giữa giòng đời chen chúc bởi lòng vòng trong ghen tị, ôi chao với kẻ thù cũng có mà với bạn bè cũng khá nhiều, nhưng với bạn thì chan chứa độc ác, phát xuất từ ganh tỵ, cái ta cao chót vót, không dung tha một người nào, càng nhiều danh vọng, càng lắm tên bay, đạn lạc.
 Cả hàng tá tổ chức phục quốc, tôi không biết phải làm gì với sự mong muốn hèn mọn của mình, sau một thời gian suy diễn lung tung, tôi chỉ còn thấy tổ chức của ông Nguyễn ngọc Huy là chỗ dựa tinh thần vừa phải, nên phải bước vào lắng nghe, xem thực hư thế nào, một buổi chiều thứ tư đẹp, tháng tư, năm 1986.
 Thật lòng mà nói, trước năm 1975 tôi nhìn tướng Trưởng với con mắt thật bình thường, không ác cảm, mà cũng không có nhiều cảm mến.
 Trung tá Nguyễn văn Viên người anh quí mến của tôi, năm 1954 là quyền tiểu đoàn trưởng TĐ5ND lúc đó tướng Trưởng mới ra trường là trung đội trưởng, anh Viên rất tốt với ông Trưởng, mời về nhà dùng cơm nhiều lần. Nhưng rồi đường binh nghiệp của anh Viên lắm chuyện không hay, nên anh phải tự chọn con đường giải ngũ......Sau này lúc tướng Trưởng  (1 sao) làm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh Viên bị gọi tái ngũ với cấp bậc Thiếu Tá làm việc tại địa phương, chi khu, dưới quyền tướng Trưởng, anh Viên không muốn gặp ai cả, lại còn mặc cảm thông thường thế nhân, bất ngờ tướng Trưởng tới thăm đơn vị, nên anh Viên đành phải trình diện. Tướng Trưởng nhận ra cấp chỉ huy cũ của mình, nên tướng Trưởng mời gặp tại văn phòng lúc 11:00 ngày hôm sau.
 Anh Viên rất thận trọng, đến trước giờ ấn định, nhưng vẫn không được như ý, anh bắt buộc phải ra về, anh hơi buồn rồi bỏ luôn. Anh nghĩ rằng tướng Trưởng rất khó sắp xếp cho mình, anh rất thông cảm hoàn cảnh éo le, anh không muốn nhờ vả một ai, nếu anh muốn làm việc tại Sài gòn lúc bị gọi tái ngũ, cũng không khó khăn. Không may nay gặp phải tình trạng này, nên anh buộc lòng phải gọi về Sài gòn, gặp bạn cũ, xin về vùng lV, với mục đích chính, xa hẳn ảnh hưởng của tướng Trưởng. Trước khi đáo nhận đơn vị mới anh Viên có cùng chúng tôi hàn huyên tại Sài gòn. Anh không hề nói gì về việc anh xin thuyên chuyển. Mãi sau này khi gặp tướng Chinh tôi mới biết. Tướng Chinh cũng như tướng Giai đều nói, nếu biết anh Viên bị tái ngũ, thì anh Viên muốn về đâu,  hai vị này đều có thể lo cho anh Viên được như ý.
 Anh Viên được như ý, thuyên chuyển về quân đoàn lV,  không may tướng Trưởng lại về vùng lV, lần này may mắn không phải như trước do thời gian ngắn ngủi, nên chưa gặp mặt trực tiếp. Tướng Nam thay thế Tướng Trưởng. Tướng Nam muốn cất nhắc anh Viên. Anh từ chối và xin tướng Nam cho anh được an phận. Anh Viên lên Trung Tá thường niên rồi mất nước.
 Năm 1976 anh Viên xin được một chiếc máy đánh chữ và một chiếc máy quay ronéo, cả hai máy đều đã quá cũ, từ Tướng Đỗ kế Giai, (tướng Giai nổi tiếng như cụ Vương hồng Sển) anh in được một số truyền đơn, rải tại Sài gòn và Bà Rịa, không may bị lộ, Việt Cộng đã xử bắn anh Viên tại bến xe đò Bà Rịa năm 1976 - sau 1 tháng tra tấn dã man.
 Việc trên đây do tướng Đỗ kế Giai kể lại, cho tôi tại San Jose, có bác sĩ Trần lữ Y và Văn văn Của cùng nghe. Tại bàn tướng Giai không uống rượu, còn hai vị bác sĩ thì khỏi phải nói, tôi là bệnh nhân của bác sĩ Trần lữ Y tại Sài gòn, trước năm mất nước.
 Chúng tôi có được buổi gặp mặt, tại tư gia anh NQV, anh NQV là một người bạn tốt, mà còn là một thành viên cốt cán của giáo sư Huy, anh cư trú tại phía nam thành phố San Jose, tôi cố ý đến sớm hơn mọi người, để được nói vài câu chuyện, xa xưa, may mắn được gặp tướng Trưởng tại đây đúng như ý.
 Tôi (Bùi đức Lạc) uống bia, còn tướng Trưởng uống theo sở thích của ông, căn phòng rộng thênh thang, chỉ có hai chúng tôi. Đương nhiên tôi biết ông đã lâu, từ lúc sư đoàn Nhảy Dù thành lập Trung tâm huấn luyện quân sự, lúc đó thì tôi chưa đội nón Đỏ, cũng như chưa có tiểu đoàn Vương mộng Hồng, tinh thần làm việc của ông, tôi không sao có thể so sánh với bất kỳ một ai, riêng sức chịu đựng làm việc thì tôi có thể theo chân ông được. Theo sau thôi!
 Chúng tôi cũng có những câu xã giao với nhau thường lệ, như mọi người. Sức khỏe của ông lúc đó không có gì khác cho lắm, nhưng hình như ông bắt đầu vào thời kỳ suy thoái, là con người ai mà không phải chịu cảnh sinh, lão, bệnh, tử! Tôi nghĩ rằng: Lúc này đất nước còn đang cần những người như ông, tôi biết ông sẵn lòng đóng góp, thật tình không biết tổ chức nào, có sức hấp dẫn với ông.
 Mới đây một người bạn không thân thiết, so sánh tướng Trưởng với tướng Nguyễn chánh Thi, nhưng anh ta nặng đầu óc địa phương quá! Tôi mỉm cười cho qua chuyện, không bao giờ tôi lại đi so sánh hai vị niên trưởng, ở những lúc không cần thiết, tranh luận vô bổ, một người thì bày, một người thì dọn dẹp, một người thì to miệng, một người thì bé mồm; hãy để cho thế nhân bình luận cũng đủ lắm rồi!
 Thưa niên trưởng tôi có một thắc mắc, niên trưởng có thể trả lời, nếu không muốn niên trưởng có thể không trả lời.
 Cái gì mà nghiêm trọng vậy?
 Lúc sắp mất nước, Không Quân quan sát thấy...Tôi vừa nói tới đó, ông dơ tay cắt ngang, ông thở dài chậm rãi nói:
 Tôi hiểu rồi! Tôi tưởng việc gì trọng đại, tôi nghĩ việc này anh phải biết rồi chứ, pháo binh phải hiểu hơn ai hết...... Sau hiệp định Ba Lê quân đội ảnh hưởng nặng nề nhất, pháo binh chỉ được bắn mỗi ngày 20 viên đạn /một khẩu, trước đó bắn không hạn chế. Không phải chỉ có như vậy là thôi đâu, đến cuối năm thì chỉ còn 10 viên, rồi 5 viên...một khẩu..... Không Quân còn bi đát hơn nữa, hạn chế các phi vụ, hạn chế xăng nhớt, hạn chế bom đạn, nếu mình cho đánh bom đạn bừa bãi thì là hành động tự sát. Vì khi các Thành phố, cứ điểm của ta bị tấn công, lấy hỏa lực ở đâu để yểm trợ cho các đơn vị này, chúng ta bó tay, chịu đựng hay sao?
 Vấn đề này Quân đoàn đã tiên liệu từ lâu, nếu có sự kiện xảy ra như vậy, Quân đoàn có nhiệm vụ phải báo cáo ngay cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây có trách nhiệm điều động hỏa lực tiêu diệt lực lượng đich, như vậy việc tiêu diệt địch di chuyển bằng xe hay là di chuyển băng đồng, nếu không có đụng độ trực tiếp với các đơn vị cơ hữu của Quân đoàn, thì đều do sự điều động hỏa lực của  BTTM/QLVNCH. Quân đoàn bó tay, những sự kiện này xảy ra nhiều lúc rất đau đầu, tôi thấy đây cũng chính là một trong những lý do đưa chúng ta đến mất nước, lưu vong như ngày hôm nay. Vì thấy địch mà không được đánh, từ đâu ra nông nỗi này. Nhiều người không hiểu đã ăn nói bừa bãi, gây đau lòng nhau, không ích lợi gì, mà chỉ có lợi cho lòng tự tôn, tự đại của họ mà thôi, tôi thấy thương họ, hơn là oán hận họ, lúc này là giai đoạn cần phải thận trọng, thêm bạn bớt thù, đó mới chính là mục tiêu hàng đầu của chúng ta.
 Đã là con người ai cũng có những lúc lầm lẫn, tôi biết chính tôi đã có những lời nói, việc làm gây tổn thương người khác. Trong thời gian đó trăm ngàn dâu đổ đầu tằm, tôi chỉ còn biết công vụ và công vụ mà thôi; nội công vụ đã làm tôi quên hết mọi việc, gia đình xã hội tôi đều mắc lỗi, lỗi nặng, tôi rất ân hận vô cùng, xin gia đình, xin các chiến hữu hiểu, thông cảm và tha thứ tất cả hành động không vừa ý của tôi đã đối với họ . Tôi xin ngẩng cao đầu chịu tội. Trưởc linh hồn các chiến hữu đã khuất, trước ý chí cương cường các chiến hữu còn nuôi ý định quang phục quê hương, trước gia đình thân yêu của họ và của tôi.
 Cho nên khi Không Quân xin oanh tạc, tôi đành phải cắn răng mà nói, như anh đã nghe. Không lẽ mỗi khi có sự kiện xảy ra đau lòng như vậy! Tôi phải giải thích với từng người; về hoàn cảnh ê chề của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy hay sao? Thú thật tôi không có thì giờ, tôi cô độc lắm. Hoàn cảnh khó khăn, tàn độc mà chúng mình phải chịu chi có những người chung số phận, mới hiểu được, còn những vị chuyên ăn trên ngồi trốc làm sao hiểu được, họ là những người chuyên (ăn tục... nói phét..... Mà thôi! Càng không nên tranh luận với những người này). Lúc đó tôi có trăm ngàn việc phải lo, đâu phải chỉ có những việc đơn giản như vậy đâu! Chúng ta hãnh diện là những quân nhân vào sanh ra tử, không trốn tránh trách nhiệm khi đất nước cần đến sự hy sinh xương máu của chúng ta, không lẽ bây giờ chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm với đồng bào ruột thịt của chúng ta, tôi không muốn lên tiếng vì tôi thấy khó chịu khi phải nói chuyện với những chuyên viên như vậy!!! Anh nên cẩn thận khi nói chuyện với họ! Tôi không quên toán tiền trạm năm Mậu Thân, do anh điều động thay anh Lưỡng đã giải tỏa áp lực địch cho tôi.

 Thưa Niên trưởng, đó là chuyện bình thường thôi!
 Thưa quí vị,  sở dĩ có việc này là do, Tết  năm Mậu Thân, Cộng quân tấn công vào Huế, vì bất ngờ, nên đặc công đã chọc thủng hàng rào phòng thủ của trại Mang Cá, rồi lần mò vào tới sân cờ của BTL/SĐ1BB. Các đơn vị cơ hữu của SĐ1BB đều không thể điều động được.
 Tướng Trưởng không liên lạc được với Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù, tất cả hệ thống liên lạc chỉ huy của Chiến Đoàn Nhảy Dù, cũng như nhiều hệ thống chỉ huy khác trong vùng đều bị phá, không liên lạc được, bắt đầu từ thời điểm đó, hệ thống liên lạc, cũng như vũ khí, đồ trang bị của địch, hơn hẳn ta!

Nhưng trên hệ thống tác xạ của Pháo Binh, vì máy GRC5 dùng bình điện xe, ăn-ten dù 292 nên công xuất mạnh, nhờ vậy tổng đài của pháo binh vẫn liên lạc tốt, do đó tôi mới làm trung gian (nhận lệnh và chuyển lệnh) toán tiền trạm đã nhận lệnh của Chiến Đoàn Trưởng, do tôi chuyển lệnh, nhờ vậy toán tiền trạm đã có mặt kịp thời trợ giúp cho BTLSĐ1BB, tránh được điều đáng tiếc xảy đến. (xin xem Cơn Uất Hạ Lào. Cùng tác giả )
Tôi nhìn tướng Tưởng mờ mờ qua giòng lệ hiếm hoi, tôi tự thấy mình đã có điểm sai, tôi không còn đủ can đảm hỏi ông điều nào nữa. Chúng tôi như đang ôn lại thế ra cửa máy bay, dấu giầy saut in đậm trên áng mây trắng rất hiền hòa miền Hậu giang, miền Đông..v..v.. Trận mạc đâu còn ý nghĩa gì, hãy quên đi, nhưng thế ra cửa phi cơ phải khắc ghi trong tủy sống. Tiếng thở dài không biết phát xuất từ lồng ngực nào, hãy tha thứ cho họ, hãy vui đi, hãy cười lên, cho dù là nụ cười muộn màng, héo hon. Lúc đó mới.....Chợt nhận ra:
Người làm nhiều điều vô vụ lợi cho tha nhân! Là người ngu đần, dại dột. Người hy sinh nhiều! Là người u mê nhất trần gian.
Người giúp đỡ nhiều người! Là người muốn tự hủy hoại mình.....
Vì hậu quả sẽ nhận lại, chỉ có đắng cay mà thôi, chắc chắn sẽ được bồi hoàn không thiếu một chỉ ! ! ! Đời sống là như vậy đó, càng oán hận lại càng u u minh minh. Người quên ơn, là người bất nghĩa, liệu đường mà đi , không được oán hận, mà phải  đón nhận. Vui cười mà đi.
Đừng buồn chi ! Ai ơi ! ! ! Tôi không đủ can đảm nhìn lại bóng ngày qua .,.
Bùi đức Lạc năm 2018