Showing posts with label tỉnh bình định. Show all posts
Showing posts with label tỉnh bình định. Show all posts

Saturday, March 14, 2026

 

HỒI ỨC VỀ TRẠI LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT VĨNH THẠNH*

*Thời điểm của sự kiện này, năm 1965, đại úy Từ Vấn, là chỉ huy trưởng các trại LLĐB trong tỉnh Bình Định, sau này ông là đại tá tư lịnh phó của sđ 5 bộ binh.

Chuyển ngữ từ sách: Protected Will Never Know của Leigh Wade.

=========

CHƯƠNG 8

. . .

Tối hôm đó, sau bữa ăn, chúng tôi đã họp toán và Durr và Emert đã nói với chúng tôi rằng họ đã biết phần nào về nhiệm vụ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ thay Toán A-122 của đại úy Myers. Toán này đang ở Trại Tuy Phước, trên quốc lộ (QL-19). Tính tới thời điểm đó, trại Tuy Phước của toán A-122 đã tham gia nhiều trận đánh nhằm khai thông quốc lộ 19, chạy từ thành phố Qui Nhơn ven biển tới tp Pleiku ở Cao nguyên Trung phần.

Quốc lộ 19, đặc biệt đoạn chạy ngang đèo Mang Yang nổi tiếng vì nguy hiểm, đã từng là địa điểm của nhiều trận đánh từ thời Pháp. Phần lớn các quân nhân của lực lượng đặc biệt (LLĐB) đều nghiên cứu thảm họa từng đổ ập xuống Chiến đoàn Lưu động 100 của Pháp khi họ bị phục kích trên đường này năm 1954. Chỉ 7 tháng trước khi chúng tôi đến vùng này vào tháng Mười, khu vực chung quanh Mang Yang lại lần nữa là bãi chiến trường ác liệt giữa biệt kích quân của LLĐB và quân chính quy CSBV và VC.

Trại Tuy Phước nằm ở phía đông của Đèo Mang Yang, trên một bình nguyên, trong một khu vực mà mùa hè 1965 được xếp hạng "đã bình định". SĐ 1 Không Kỵ vừa dời đến An Khê, và các phần tử của sđ Mãnh Hổ Đại Hàn đang bắt đầu tới Qui Nhơn. Trừ những cuộc phục kích có tính quấy rối thỉnh thoảng xảy ra trên QL-19, quân CSBV và VC, giờ đây đã bỏ ý định kiểm soát đường này và chuyển xa về phía bắc, sâu hơn vào núi và thung lũng.

Nhiệm vụ của chúng tôi, đại úy Durr nói, là sẽ giao trại Tuy Phước cho quân Đại Hàn, và lập một trại mới ở một địa điểm nguy hiểm hơn ở tây bắc An Khê. Khu vực này có tên chính thức là thung lũng Vĩnh Thạnh.

Ngày kế, toán chúng tôi tách làm hai, phân nửa bay trực thăng tới toán B ở Qui Nhơn, phần còn lại bay bằng C-130 tới toán C ở Pleiku. (Theo tổ chức của LLĐB, mỗi quân khu của VNCH có một toán C, chỉ huy các toán B đặt tại các tỉnh. Mỗi toán B chỉ huy các toán A (gồm 12 người), đặt tại các trại trong phạm vị tỉnh.--Người dịch). Những người tới Qui Nhơn sẽ gặp đại diện của toán A-122, để thuyết trình tại toán B, kế đó tất cả chúng tôi sẽ bay bằng trực thăng tới Pleiku, sau đó đi xe tải tới trại Tuy Phước.

Tôi đi với toán Qui Nhơn để tôi có ký một số văn kiện mật tại đó. Qui Nhơn là một tp ven biển khác, tôi đã thấy lần đầu vào mùa hè 1965, tp vẫn còn yên tỉnh, dù một vài dấu hiệu của việc đổ quân Mỹ đang diển ra. Qui Nhơn ko đẹp như Nha Trang, nhưng phong cảnh vẫn hữu tình, với một bãi biển đẹp cát trắng.

Chúng tôi đã gặp các đại diện của A-122 gồm đại úy Myers và trung sĩ nhứt Prinn ở BCH của toán B. Toán B nằm ngay trên đường chạy dọc bờ biển và kế trụ sở của chi nhánh của Phái bộ Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam, viết tắt là MACV. (Nói thêm: Theo BĐQ Nguyễn Tiến Qua, thời điểm 1965, đại úy Từ Vấn là chỉ huy các toán LLĐB của VN trong các trại trong lãnh thổ tỉnh Bình Định. Trong hồi ký Đường Về Gia Nghĩa của thiếu tá Vương Mộng Long, năm 1974, ông Vấn chỉ huy liên đoàn 24 BĐQ; năm 1975, ông là TL phó của SĐ 5 bộ binh. -- Người dịch). Muốn vào nơi làm việc của toán B LLĐB, chúng tôi phải đi qua cổng do MACV kiểm soát, và đây điều chúng tôi luôn khó chịu. Nhân viên của MACV tự coi họ là REMF, tiếng lóng trong quân đội Mỹ để mỉa mai những người lính làm việc ở văn phòng hay hậu cứ, và họ thích nghĩ rằng Qui Nhơn là một hậu cứ an toàn và ko cho phép người của họ ra vào khu vực này mà mang vũ khí. Toán B của chúng tôi, đang yểm trợ một số toán A đóng tại các khu vực rất nguy hiểm, và khi người chúng tôi về phố thị, họ mang theo súng đạn, lựu đạn, dao. Các nhân viên của LLĐB Mỹ thường tháp tùng bởi một toán lính Thượng ăn mặc lôi thôi (disreputable), võ trang đầy mình. Ít nhứt có một lần, chúng tôi nghe nói, xảy ra lộn xộn tại cổng MACV liên quan đến người của chúng tôi.

Toán A mà chúng tôi thay thế đã mướn một nơi gần biển cho các thành viên của họ ở khi họ đến tp này. Họ gọi những nơi này là "nhà an toàn" (safe house) và trung sĩ Prinn đã đưa chúng tôi đến nhà an toàn của họ, giới thiệu chúng tôi với bà chủ nhà, và chúng tôi ký hợp đồng.

Căn hộ này nằm trên tầng hai của một tòa nhà hai tầng, có rào. Bà chủ nhà và gia đình ở tầng trệt. Nhà có sân thượng và cầu thang lên sân thượng. Có một ga-ra nhỏ nơi một xe jeep có thể đậu an toàn mà ko bị đặt bom. Căn hộ có hai phòng ngủ và một nhà tắm, chứa được 2-3 người.

Các thành viên của A-122 cũng giới thiệu vài hạ sĩ quan làm việc cho một đv tiếp vận trong tp. Các hàng kỷ vật chiến tranh như cờ VC và vũ khí được xem là một món hàng ưa thích nhứt ở các đv lo về hậu cần và được trao đổi để lấy thực phẩm và thuốc lá. "Chúng tôi có một thợ may ở ngay bên ngoài cổng làm cờ cho chúng tôi,"Prinn nói,"do đó bạn ko bao giờ hết cờ. Bạn có thể có một thùng bò hầm (steak) cho hai lá cờ."

Nhưng chúng tôi ko ngủ đêm ở Qui Nhơn, nhưng đi trực thăng vào buổi chiều để đến Pleiku.

Sáng hôm sau, chúng tôi thực tập nhẩy dù, và buổi chiều dự thuyết trình. Khi chờ nghe chi tiết về trại dân sự chiến đấu (DSCĐ) Tuy Phước mà chúng tôi sắp đáo nhậm, tôi đã thất vọng khi nghe rằng sẽ ko làm việc với người Thượng, như tôi hy vọng. "Trại này sẽ xa hơn về phía đông,"Myers nói.

CHƯƠNG 9

Sáng ngày kế chúng tôi đã leo lên những xe GMC loại 2 tấn rưởi để theo quốc lộ (QL-19) về trại mới của chúng tôi. Sàn xe được lót bằng bao cát để chống mìn, và tất cả vãi bố và thành xe (sideboard) đã được gở. Một cây bằng thép (neck-wire catcher), xem hình, được hàn ở cản trước (frond end), để cắt dây kẽm do địch giăng ngang đường nhằm giết người ngồi hay đứng trên xe. Toán C đã cho một tiểu đội an ninh trại người Thượng tháp tùng chúng tôi trong chuyến đi này.

Chúng tôi đi ở cuối đoàn xe, vũ khí trong thế phản phục kích, xe bắt đầu hướng về phía đông đến đèo Mang Yang. Như tôi đã viết, dù đường lúc này được xem là "an toàn", thỉnh thoảng (occasionally) vẫn có những cuộc phục kích dọc đường này, và đường này từ lâu đã nổi tiếng là một cái bẫy chết người khiến chúng tôi luôn lo lắng.

Khi chúng tôi đi ngang căn cứ An Khê nơi đặt BTL của sđ 1 Không kỵ, đường bắt đầu đổ dốc xuống đèo, nguy hiểm càng lúc gia tăng. Đây là nơi lý tưởng để phục kích. Những ngọn đồi dốc đứng và đầy cây cối bị sương mù (mist) che lấp sừng sửng hai bên đường. Có nhiều khúc cua "cùi chỏ" (switchback) và những điểm mù khác nơi mà một người với một súng chống tăng có thể chận (hold off) một đội xe cơ giới. Thỉnh thoảng, chúng tôi đi qua những gì còn lại của các trận đánh trước, mà mới nhứt là một chiếc C-123 thả hỏa châu rơi vài tháng trước đó.

Khi qua khỏi đèo này, đường đã thẳng trở lại và lưu thông gia tăng. Chúng tôi đi ngang những toán lính chính phủ đóng ở nhiều đồn dọc theo đường, và dân địa phương ở những làng nhỏ mà chúng tôi đi qua có vẻ thân thiện, dù điều này phần nào là một ảo tưởng (illusion).

Chúng đã nghe trong một buổi thuyết trình về một biến cố (incident) gần đây liên quan đến một sĩ quan và hai hạ sĩ quan (NCO) Mỹ tại một trong những làng "thân thiện" này. Một buổi chiều cách đây vài tuần, họ đã đậu xe jeep trước một nhà hàng nằm trên đường này để ăn trưa. Khoảng nửa giờ sau, họ lên xe, chạy khoảng 200 mét thì xe nổ thành một quả cầu lửa, giết chết cả ba người.

"Điều mà Việt Cộng đã làm," viên sĩ quan Phòng 2 nói với chúng tôi, "là dùng băng keo dán chung quanh chốt an toàn của một quả lựu đạn, và thả lựu đạn vào bình xăng của xe quân sự Mỹ. Chỉ sau một lát, xăng sẽ làm lỏng keo của băng dán và chốt an toàn được nhả ra, khiến lựu đạn nổ. Chuyển động của xe gia tăng tác động của xăng đối với băng keo, do vậy thường có ai lái khi xe bị nổ."

Để chống lại điều này, lưới được hàn ở miệng bình xăng, nhưng phải cần thời gian để làm điều này. Trong khi đó, có khuyến cáo rằng ko xe nào đậu ở khu dân cư, mà ko có người bảo vệ, dù dân có mỉm cười và nói, "Number-one!" 

...

SJ ngày 14/3/2026.

Tài Trần


 

Sunday, February 27, 2022

 

Những Ngày Cuối Cùng


Lê Du Miên


(Có nhiều người ngồi nói chuyện với tôi họ hay hỏi; “Những ngày tháng cuối cùng của đất nước anh ở đâu?”. Xin thưa những ngày tháng ấy tôi chỉ là một cắc ké kỳ nhông, không biết nhiều về những tin tức chiến thuật, chiến lược, không biết nhiều về những âm mưu chính trị của các thế lực Quốc Tế và hầu như cũng chẳng quan tâm lắm đến anh Mỹ, anh Nga hay anh Tàu… Và cũng như tất cả các người lính VNCH chúng tôi vẫn miệt mài chiến đấu ở khắp các mặt trận cho tới giờ phút cuối cùng…)

***


Bữa tiệc dã chiến đã chấm dứt trong bầu không khí nửa buồn nửa vui. Buổi tối thật im lặng. Gió từ bờ sông Lại Giang thổi lên những hơi lạnh. Những con thiêu thân mỗi lúc một đông lao mình vào những bóng đèn điện được thắp sáng bằng những cục pin cuả máy PRC25 vàng vọt. Các nhà chung quanh căn cứ cửa đã đóng và những ánh đèn dầu le lói hắt ra yếu ớt từ những khe cửa hở.

Trung úy Bửu người được Tiểu Đoàn đưa ra tạm thời thay thế tôi coi trung đội, nhận bàn giao, xoa hai tay vào nhau nói lời chúc tôi thuận buồm xuôi gió, thượng lộ bình an. Cả trung đội hơn ba chục cái đầu ngồi im dường như mỗi người một ý nghĩ. Tôi nhìn qua một lượt những khuôn mặt thân thương đã cùng tôi rong ruổi những đoạn đường chiến binh suốt từ miền biển Qui Nhơn, Tam Quan, Bồng Sơn, Phù Mỹ tới vùng rừng núi tam biên Dakto, Tân Cảnh, Thanh An, Đức Cơ trong hai năm qua khi tôi nhận trách nhiệm trung đội trưởng 1B của Pháo Đội. Tôi thật sự không biết nói gì ngoài một tiếng cám ơn. Xin cám ơn tất cả đã cùng tôi vào sinh ra tử, đã cùng tôi vất vả gian nan, đã cùng tôi làm tốt mọi phận sự mà cấp trên giao phó. Đó là những ngày trung tuần tháng hai năm 1975 khi tôi nhận lệnh thuyên chuyển về nguyên quán sau gần sáu năm lênh đênh với rừng dừa Bình Định và núi rừng trùng điệp Pleiku Kontum. Nhìn hai nòng súng vươn cao trong ụ trông giống như hai mỏ chim non vươn ra trong tổ mà tôi đã quen từng mảng da từng vết xước, lòng tôi chùng xuống. Tôi sắp xa nó như sắp phải xa người thân, sắp phải xa một quãng đời mình. Các người lính của tôi đã đứng lên lầm lũi đi về hầm trú ẩn. Tôi và Trung uý Bửu bước ra ngoài căn cứ vào ngồi trong góc một quán cà phê. Một vài tiếng đại bác vọng về đâu đó từ căn cứ Đệ Đức của Trung Đoàn 40. Những âm thanh rất quen thuộc của người dân vùng này và cả những tiếng đại bác 130 ly hay tiếng rít nghe muốn đứt màng nhĩ của hoả tiễn 122 ly mà địch rót từ mật khu An Lão vào thành phố cũng chẳng làm cho họ bồn chồn. Họ vẫn câm lặng bám mảnh đất mà cha ông để lại với mồ mả tổ tiên chẳng muốn di dời dù cái chết luôn được treo sẵn trên đầu giữa bao nhiêu lằn đạn.

Bửu đốt một điếu thuốc Capstan. Hai ngón tay vụng về cầm điếu thuốc trông nhà quê không chịu nổi. Bửu ít khi hút thuốc. Búng cái tàn thuốc rơi xuống đất, giọng Bửu trầm buồn:

-Tao hút với mày một điếu thuốc hôm nay. Ngày mai ra sao đâu ai biết … Ừ… Biết mình có còn dịp để gặp lại nhau không?

- Chắc chắn tao sẽ trở lại đây thăm mọi người khi có dịp…

Câu hứa ấy đã không bao giờ được thực hiện. Nó đã bị cuốn đi với cơn cuồng phong. Nó đã bị dập vùi với đống khói súng ngút ngàn từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng lên tận cao nguyên và nó đã muôn đời nằm yên với Bửu trên bờ biển Qui nhơn những ngày cuối tháng ba năm ấy. Ngồi đối diện Bửu tôi đốt hết điếu thuốc này qua điếu thuốc khác. Những ngày đầu ra đơn vị quyện vào khói thuốc bay lên lởn vởn trong đầu tôi. Ngày tôi vác ba lô về trình diện Pháo đội trên đỉnh đèo Nhông, tôi đã gặp Bửu, nước da ngâm ngâm, sóng mũi cao và nhất là nụ cười múm mím đẹp như nụ cười con gái. Cuộc đời binh nghiệp dường như ưu đãi Bửu nhiều hơn bạn bè. Bửu được giao chức vụ trung đội trưởng sớm lắm trong khi các bạn cùng khoá vẫn còn khăn gói đi “DLO” mút chỉ cà tha. Về Pháo đội hôm trước thì sáng hôm sau tôi được Pháo đội trưởng Đại uý Nguyễn văn Vinh đưa xuống Phú Thọ đi DLO cho tiểu đoàn 1/41 của Đại uý Võ Ân thay thế cho Chuẩn uý Dư. Riêng phần tôi nằm trong nhóm con dì phước cùng với Tân, Quảng là những đứa mồ côi nên tối ngày lủi thủi trên rừng hứng chịu trên đầu mưa pháo, chân thì mìn bẫy, ngang hông thì tầm súng AK… Ăn cơm sấy ngủ võng đầy nước những đêm mưa. Nằm chơ vơ trên những đỉnh cao gió hú mơ về những hộp đêm xập xình ánh đèn màu. Mắt căng nhìn trong đêm như muốn rách toạc ra để canh giặc thù. Xã Phú Thọ thuộc quận Phù Mỹ là một xã hoàn toàn mất an ninh với cái hố mủ, hang động của bọn giặc phỉ trên dãy núi phía đông của đèo Nhông. Trên dãy núi đó có cả một bày bò hàng trăm con mà bọn Nông Trường 3 Sao Vàng thả nuôi. Ở Tiểu Đoàn 1/41 này tôi thường đi tiền sát theo Đại đội của Trung úy Thành khoá 22A võ bị Đà Lạt. Một đại Đội Trưởng gan dạ trong chiến đấu. Anh Thành sau này được vinh thăng Thiếu Tá và đã hy sinh tại chiến trường Bình Định.

Sáng sớm hôm sau tôi khăn gói quả mướp rời khỏi đơn vị về trình diện Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn đóng tại trại Nỏ Thần, Diêu Trì. Vác ba lô ra khỏi cổng trại mà lòng bịn rịn chẳng muốn chia tay. Nhìn lại doanh trại trống vắng lòng ngậm ngùi. Mọi người như thường lệ đã kéo súng đi từ sáng sớm. Từ mấy năm nay theo chiến thuật mới, đời pháo thủ vất vả hơn nhiều. Không để súng nằm ở vị trí cố định nữa mà ban ngày phải di chuyển đại pháo tới một địa điểm mới, tránh pháo kích và yểm trợ quân bạn hiệu quả hơn…

Tôi lững thững bước đi những bước bâng khuâng, mới đây một tuần lòng luôn mong muốn xuôi Nam về gần Mẹ già ngày đêm mong đợi, mà hôm nay lại bịn rịn … Tiếng đại bác 105 ly bắn đi ở một vị trí nào đó tôi nhận ra ngay tiếng Pháo quen thuộc của trung đội tôi không lạc vào đâu được. Nước mắt tôi muốn rơi. Đúng lúc đó bên kia đường một bóng dáng mảnh mai đứng dưới gốc cây trứng cá với đôi mắt buồn sũng. Tôi biết cô bé đứng đó với bao nhiêu điều muốn nói. Tôi dừng lại :

-Ở lại nhé… Chú đi…

-Chú đi bình an…

Tôi không dám nhìn cô bé bởi tôi biết nước mắt ấy sẽ níu kéo chân tôi. Giờ chia tay chẳng nên kéo dài, mủi lòng nhau …

-Nhớ biên thư cho Đông Nghi nhé…

Tôi gật đầu và bước vội lên chiếc Daihatsu đang chờ sẵn. Chiếc xe lăn bánh. Tôi liếc nhìn nhanh Đông Nghi đang đưa tay áo dụi mắt. Có những hạt bụi cũng vương trong mắt tôi trên suốt con đường Quốc Lộ số một dẫn về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn. Tôi thầm nghĩ thế là chia tay thật rồi. Xa rồi chiến trận miền Trung, xa rồi mùa hè đỏ lửa Tân Cảnh, năm 1972 thằng bạn cùng khoá Nguyễn hữu Dư đã nằm lại cùng với Tư Lệnh Sư Đoàn Lê Đức Đạt, xa rồi căn cứ 6, ngọn đồi 1001. Xa rồi mặt trận tái chiếm ba quận bắc Bình Định. Xa rồi những vườn dừa mát rượi nhưng cạm bẫy cũng nhiều lắm như rươi. Xa rồi Sa Huỳnh, Tam Quan, Bồng Sơn…

Xe đi ngang căn cứ Salem nơi mà bạn tôi Đinh Trọng Bình đã từng gọi pháo bắn trên đầu khi bị địch quân tràn ngập hồi mùa hè đỏ lửa. Hàm râu cá chốt và cái tẩu thuốc với những đụm khói Half and Half phì phà thơm râu lại như xuất hiện trước mặt làm tôi hoa cả mắt. Tôi đang đi dưới chân đèo Nhông nơi mà tôi cách đây hơn năm năm đã có một đêm trằn trọc của người lính trận xa quê, bơ vơ lạc lõng. Đêm đầu tiên nghe đạn réo và hoả châu soi sáng những chòi canh. Xa rồi những ngày quân hành trong vùng địch ở căn cứ điạ An Lão hiểm trở, căn cứ địa 226 đồi núi chập chùng. Tôi vẫy tay chào trại Nguyễn Hải Đằng nơi Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 41/SĐ22BB đặt bản doanh. Tôi cười buồn với cà phê Lãnh, cái quán nho nhỏ có cô chủ xinh xinh.

Khoảng 12 giờ trưa tôi về tới trại Nỏ Thần, vào trình diện Tiểu đoàn trưởng. Ông nhìn tôi nửa con mắt: “Trung uý Du hả… Tôi về nhận Tiểu đoàn gần một năm rồi mà chưa biết mặt anh. Mấy lần ra Bồng Sơn thăm trung đội anh mà cũng chẳng gặp… Gặp anh khó hơn gặp Tổng Thống Thiệu”. Tôi đứng như trời trồng chẳng muốn giải thích.

Tôi chào ông bước ra ngoài, đi gặp Trung uý Hoành trưởng ban một, nhận sự vụ lệnh về đơn vị mới Tiểu Đoàn 183/PB mà BCH tiền phương nằm tại Long Bình. Hoành nói với tôi: “ May cho mày cái quyết định này về kịp… Nếu không mày sẽ được bổ sung cho Pháo Binh dù rồi… Tên mày đã được gởi đi…”. Tôi cười thầm nghĩ … Tôi đâu có chết nhát như Hoành nghĩ… Tôi con bà phước mà thả chỗ nào tôi cũng sẽ chơi hết mình, chơi rất đẹp không như mấy ông con ông cháu cha đâu, chỉ biết ru rú ở hậu cứ văn phòng.

Sau bảy ngày phép vui với gia đình, tôi cứ yên trí là về đây gần nhà rồi cuộc đời sẽ đổi thay chút chút …Ít ra là cũng chuẩn bị lấy vợ cho bà cụ vui lòng. Bà cụ tôi luôn nhắc “ con đã hai mươi tám tuổi rồi… già rồi lo bề gia thất cho mẹ yên lòng... Coi chừng ế…”. Nhưng đời đâu có như mình muốn. Về đơn vị mới với những tin tức dồn dập. Mặt trận nơi tôi vừa dời chân đã bắt đầu sôi động. Việt cộng đã đánh chiếm đèo An Khê cắt đứt quốc lộ 19. Sư đoàn 22BB phải tung hai trung đoàn 47 và 42 để giải toả đường giao thông huyết mạch giữa vùng cao nguyên và duyên hải. Trung đội Pháo cũ của tôi đã được kéo về Bình Khê tham dự trận chiến. Tôi thật sự lo lắng cho những người anh em cũ… Rồi mặt trận Ban Mê Thuột bùng nổ dữ dội. Cuộc triệt thoái kinh hoàng trên tỉnh lộ số 7. Đài BBC với những tin tỉnh này bị tràn ngập, tỉnh kia bị thất thủ. Địch tiến quân như thế chẻ tre. Tôi thật sự hoang mang. Ruột gan nóng như lửa đốt. Qui Nhơn thất thủ. Những người lính trấn hải bình sơn của Sư Đoàn 22, trong đó có rất nhiều bạn bè tôi, bị dồn xuống bãi biển làm bia cho những họng súng đại liên 12ly 7 bắn trực xạ và những trái pháo 82ly nổ tung lên những xác người. Trung uý Nguyễn An Bửu đã nằm lại nơi đây. Điếu thuốc hôm nào Bửu hút cùng tôi như loé lên đốm lửa và làn khói quyện bay như khói nhang buồn. Vậy là hết rồi ước mơ một lần được về lại chốn xưa.

Đài BBC hằng ngày truyền đi những tin tức bất lợi, đâm những nhát dao trí mạng vào tử huyệt người lính VNCH… Nào là Sư Đoàn 1, 3, 23 tan hàng, Quân khu 2 tan rã… Huế đã lọt vào tay quân giải phóng… Quân đoàn 1 triệt thoái… Đà Nẵng thất thủ… Những tin tức dồn dập làm điên đầu mọi người. Dân chúng hoang mang tột dộ. Họ xôn xao tản cư chạy giặc. Những thành phố bỏ không trước khi bộ đội miền Bắc tới, cả chục ngày. Những chuyện lạ lùng như vậy đã xẩy ra không làm sao hiểu nổi. Vận nước tới hồi suy mạt. Cùng với những lao đao của người lính ở thời mạt vận, tôi theo Trung đoàn 48BB của Trung Tá Trần Minh Công trong cương vị là một Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh của Trung Tâm Phối Hợp Hoả Lực chiến đoàn 48 lên Gò Dầu, Tây Ninh. Tôi thật sự giật mình lo sợ khi đoàn quân rầm rộ với những khẩu đại pháo kéo nhau vào căn cứ Trâm Vàng, một căn cứ do quân đội Mỹ để lại giữa ban ngày ban mặt, một mục tiêu quá tốt cho địch nã những quả đạn pháo rất chính xác, không cần điều chỉnh. Đúng như sự lo ngại của tôi, chỉ mười lăm phút sau khi mà BCH trung đoàn còn rềnh rang chưa ổn định được vị trí thì hàng trăm trái pháo đủ loại bọn Việt cộng đã rót vào, khói lửa bốc lên mù mịt, pháo binh của ta không kịp trở tay. Thiếu uý Khải, một trung đội trưởng Pháo mới cùng tôi nhậu thịt chó hôm qua ở Long Bình nay đã bị chó đớp gẫy chân. Tôi theo chân các chiến sĩ Trung Đoàn 48 hành quân giải toả áp lực Chi khu Khiêm Hanh và tăng viện cho TĐ/ BĐQ trên đường lui binh từ phía căn cứ Tống Lê Chân. Chúng tôi ăn cối 82 ly và những chạm súng lẻ tẻ chung quanh. Gặp thằng Lưu bạn cùng khoá vừa thoát ra từ vùng tử thần, màu áo rằn ri biệt động lấm lem, chia nhau từng hớp cà phê bí tất trong chiếc ca nhôm ôm nhau mừng rỡ, hạnh ngộ trong hoàn cảnh đất nước cực kỳ nguy khốn. Bầu trời với từng đám mây vần vũ kéo qua thỉnh thoảng che khuất bóng mặt trời, dưới giao thông hào lom khom những tay súng đang giằng co từng tấc đất quê hương, những trái bích kích pháo nổ tung, những giọt máu thấm đất, bụi cát phủ đầu, ca cà phê pha thêm đất đá đắng môi.

Trung đoàn 48 lại được lệnh bỏ lại Gò Dầu và trực chỉ Long Khánh. Đó là những ngày cuối tháng ba cay nghiệt. Trung đoàn về dàn quân vùng núi Thị. Ở chưa nóng đít lại được lệnh kéo về ngã ba Tân Phong phòng thủ mặt Đông Bắc, vùng núi Chứa Chan, ngăn chận hướng tiến của T54 địch quân trên QL1, trấn giữ các xã ấp Bảo Bình, Bảo Định… Tôi nằm trong TOC tại rừng cao su Tân Phong, cạnh ngã ba đi Long Giao, lại một vị trí không thuận lợi cho một BCH lớn như cấp chiến đoàn. Phía ngả ba Dầu Giây là Trung Đoàn 52 BB và một Thiết đoàn Chiến xa trấn giữ. Thị xã Xuân Lộc được bảo vệ bởi Trung Đoàn 43 BB do người hùng Đại Tá Lê Xuân Hiếu làm Trung Đoàn Trưởng cùng với các Tiểu đoàn ĐPQ của Tiểu Khu Long Khánh.

Vào khoảng 6 giờ sáng ngày 9 tháng 4/75. Sự êm ả thường ngày của thị xã bị phá vỡ bởi những loạt đạn pháo kích của cộng quân kéo dài khoảng 2 tiếng đồng hồ. Những tiếng nổ làm đinh tai nhức óc. Đủ các loại đạn 130 ly, 122ly, súng cối 82… rớt vào khu chợ, nhà thờ, khu dân cư… Nhà cửa đổ nát bốc cháy… Người dân chết rất nhiều. Sau hàng ngàn trái pháo cường tập. Quân cộng ồ ạt xua quân tấn công biển người nhưng chúng bị hai Tiểu đoàn của Trung đoàn 43 và các chiến sĩ ĐPQ anh dũng đẩy lui. Những chiến xa T54 và PT76 bị hạ bởi M72, bởi Pháo binh và những đợt oanh kích của không quân nằm rải rác cùng những xác chết của bộ đội Bắc việt nằm vắt vẻo ngoài hàng rào phòng thủ. Qua ngày hôm sau chúng lại mở những đợt tấn công liên tục vào thị xã với cấp số quân đoàn. Đó là Quân Đoàn 4 của Việt cộng được tăng cường thêm Sư Đoàn 325 và trung đoàn 95B cùng một trung đoàn xe tăng và một trung đoàn Pháo do tướng Hoàng Cầm làm tư lệnh, quân số được ước tính khoảng 40.000 quân. Chúng dùng thịt đè người. Nhưng chúng vẫn bị đẩy bật ra khỏi thành phố với hàng trăm xác chết. Bốn ngày sau Xuân Lộc được tăng cường thêm Lữ Đoàn 1 Dù từ Trảng Bơm vào trận địa. Với tinh thần quyết chiến sắt đá của các chiến sĩ VNCH sau 12 ngày đêm Thị xã vẫn trụ vững vàng. Việt cộng bỏ ý định đánh chiếm Long Khánh, một khúc xương khó nuốt. Chúng hướng về Biên Hoà. Do đó SĐ18 lại được lệnh rút về phòng thủ cho vòng đai phía đông Sài Gòn. Tôi lại theo SĐ lui binh lúc đó với bao nhiêu thắc mắc ngỡ ngàng. Tại sao Long Khánh đã được giải toả áp lực, sinh hoạt của người dân gần như đã trở lại bình thường thì tại sao lại rút bỏ. Trước đó hai ngày chúng tôi những quân nhân công giáo đã đi lễ nhà thờ, sau lễ đã cùng nhau ghé chợ ăn phở và uống cà phê. Nói tới đây tôi lại nhớ tới Đại uý Pháo thủ Na, một buổi chiều vừa cùng nhau ăn cơm chiều trên chiếc bàn dã chiến trước hầm hành quân. Bữa cơm đã xong, tôi đứng lên chui vào Trung Tâm Hành Quân thì một tiếng nổ rất lớn do địch pháo kích, tôi thấy Đại uý Na lảo đảo ôm ngực té xuống trước cửa hầm, tôi chạy lại vực ông dậy nhưng ông đã tắt thở bởi một miểng đạn rất nhỏ xuyên vào tim.

Buổi chiều lui binh một hình ảnh oai hùng nhưng không kém phần làm cho tôi xúc động, đó là hình ảnh Trung tá Đỉnh trong quân phục hoa dù ông đứng trên bờ đai phòng thủ của TOC, tóc gió bay bay, ông nhìn theo đoàn quân lui binh, vì lính dù sẽ rút quân sau cùng. Không hiểu tại sao lúc đó tôi muốn chảy nước mắt. Một hình ảnh oai hùng của người lính chiến nhưng qua đó nó cũng thể hiện một nỗi cô đơn, một sự ảm đạm, một sự thương cảm khó tả đối với những đơn vị tổng trừ bị thiện chiến nhất của Quân Đội. Một điều nữa làm tôi cảm động và phấn chấn trong lòng khi được biết Thiếu tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo đã không dùng trực thăng mà cùng lui binh bằng đường bộ với các chiến sĩ của mình.

Về tới Long Bình hôm trước thì chiều hôm sau tôi lại theo BCH Trung đoàn 48 lên Trảng Bom. Trung đoàn vừa tới vườn cao su đang lui cui đào hầm hố cá nhân thì lại bị địch tiền pháo hậu xung. Sau một đêm quần thảo Trung đoàn đành lại phải rút quân theo một triền suối về lại Long Bình. Ở vị trí này tôi đã bị mất hết, cái mà tôi gọi là một chút “gia sản” đời lính, những hình ảnh thời tôi học Pháo Binh tại trường Pháo Binh Dục Mỹ, những hình ảnh sau những cuộc hành quân lớn tại Quân khu 2 mà tôi chụp lưu niệm cùng các bạn bè ở Pleiku, DakTo, Tân Cảnh, ở Qui Nhơn, Bồng Sơn, Tam Quan... Ở cửa biển Đề Gi khi trung đội tôi được hải vận, một điều hết sức khác thường, đại bác thường thì chỉ được không vận vào vùng yểm trợ khi đường bộ không cho phép, ít khi thấy được hải vận. Và nhất là những bức hình tôi chụp chung với Đông Nghi cùng với những bức thư tình của mối tình thơ mộng trong sáng… Tôi đã bỏ lại hết trên con mương thoát nước của rừng cao su Trảng Bom vào một đêm bất hạnh nhất của đời lính trận.

Kể từ những ngày tháng đó mỗi lần nhớ về em, nhớ về đời lính của mình, tôi tiếc những vật kỷ niệm đó vô cùng. Và bốn mươi năm rồi tôi chưa một lần được gặp lại em. Nhưng bù lại tôi rất hãnh diện được tham dự một trận chiến oanh liệt nhất và cũng là một chiến thắng vang dội cuối cùng của Quân Lực VNCH trong màu cờ sắc áo binh chủng Pháo Binh thuộc Sư Đoàn 18BB anh hùng.

Bây giờ tôi chỉ là một người lính già lưu vong nơi đất khách quê người, nhưng tinh thần chiến đấu và ước mơ cho một ngày đất nước thật sự thanh bình không cộng sản sẽ không bao giờ già trong tôi.

Lê Du Miên

(Oregon Thoi Bao 4/14)

Wednesday, February 3, 2021

 Liên Đòan 4 Biệt Động Quân Trận Đánh Lớn ở Đèo Bình Đê

* Liên đoàn 4 Biệt động quân: Từ miền Tây đến Phú Yên-Bình Định:
Như đã trình bày, từ năm 1967, bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH đã ban hành văn thư phát triển lực lượng Mũ Nâu. Theo đó, tại mỗi Vùng chiến thuật, thành lập một liên đoàn Biệt động quân đặt thuộc quyền điều động của bộ Tư lệnh Quân đoàn/Vùng chiến thuật. Tại Miền Tây Nam phần, liên đoàn 4 Biệt động quân được thành lập với sự tập hợp 5 tiểu đoàn Biệt động quân đang yểm trợ cho 3 Sư đoàn Bộ binh:
- Tiểu đoàn 32 Biệt động quân, hậu cứ tại Mỹ Tho và tiểu đoàn 41 Biệt động quân ở Kiến Hòa: yểm trợ cho Sư đoàn 7 Bộ binh. (Đến năm 1972, tiểu đoàn 32 Biệt động quân tách khỏi liên đoàn 4 BĐQ và bổ sung cho liên đoàn 7 Biệt động quân vừa được thành lập).
- Tiểu đoàn 43 Biệt động quân ở Sa Đéc yểm trợ cho Sư đoàn 9 Bộ binh.
- Tiểu đoàn 42 Biệt động quân ở Bạc Liêu và tiểu đoàn 44 Biệt động quân ở Sóc Trăng yểm trợ cho Sư đoàn 21 Bộ binh.
Trong hai năm 1970 và 1971, liên đoàn 4 Biệt động quân là một trong những nỗ lực chính của Quân đoàn 4 trong các cuộc hành quân ở Cam Bốt và dọc theo biên giới ở Miền Tây. Tháng 4/1972, liên đoàn được bộ Tổng tham mưu QL/VNCH điều động tăng viện cho chiến trường Quảng Trị. Tháng 5/1972, liên đoàn trở lại Miền Tây để cùng với các lực lượng Bộ binh của Quân đoàn 4 tham gia nhiều cuộc hành quân giải tỏa áp lực của Cộng quân tại Định Tường và các tỉnh biên giới.
Gần cuối năm 1973, sau chiến thắng tại Núi Dài ở Miền Tây, liên đoàn 4 Biệt động quân được điều động tăng viện cho Quân đoàn 2, hành quân tảo thanh Cộng quân tại Phú Yên. Đến dầu năm 1974, do tình hình Bắc Bình Định sôi động, liên đoàn 4 được bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 giao trách nhiệm giải tỏa áp lực Cộng quân tại khu vực Tam Quan, Bồng Sơn. Tại chiến trường này, sư đoàn 3 Sao Vàng CSBV đã điều động 1 trung đoàn đánh chiếm và tổ chức chốt chận dọc theo dãy núi phía Bắc Bình Định, bắn phá các xe cộ lưu thông trên Quốc lộ 1. Trong giai đoạn đầu, nhiệm vụ nhổ chốt được giao cho hai tiểu đoàn 42 và 44 Biệt động quân. Hai tiểu đoàn này mất gần một tháng, tung các đại đội ra "nhổ" từng chốt của Cộng quân. Nhưng do đối phương tận dụng địa thế đồi núi của đèo Bình Khê-một rặng thuộc dãy núi Trường Sơn đâm ra biển, đoạn đường đi ngang qua đèo quanh co khúc khuỷu-để tổ chức cụm chốt ngay trên đỉnh đèo cắt đứt Quốc lộ 1. Đèo Bình Đê gần địa giới hai tỉnh Quảng Ngãi-Bình Định là một trong những đèo chiến lược trên Quốc lộ 1.
* Tiểu đoàn 43 Biệt động quân và trận đánh trên đỉnh đèo Bình Đê:
Dể tái lập giao thông trên đoạn đường từ Tam Quan đến Sa Huỳnh, bộ chỉ huy liên đoàn 4 Biệt động quân giao nhiệm vụ "nhổ" chốt hiểm hóc này cho tiểu đoàn 43 Biệt động quân. Sau khi nghiên cứu địa thế, tiểu đoàn đã di chuyển ban chỉ huy lên sát mục tiêu, chỉ cách đỉnh đèo khoảng 300 mét để điều động các đại đội khởi động cuộc tấn công. Biết được nỗ lực của Biệt động quân là giải tỏa đèo, Cộng quân đã sử dụng Pháo binh từ hướng An Lão pháo kích vào bộ chỉ huy Tiểu đoàn 43 BĐQ. Cùng lúc đó, ở đỉnh đèo, từ các vị trí trú ẩn sau hốc đá, Cộng quân đã dùng AK, B 40 bắn xuống các trung đội Biệt động quân đang tìm cách vượt qua cánh đồng lầy dưới chân núi. Trong ba ngày liên tiếp, bộ chỉ huy tiểu đoàn bị pháo kích liên tục, các cánh quân bị dặc công CQ bò đến gần quấy rối, số thương vong của tiểu đoàn đã lên tới 20 người.
Qua đến ngày thứ 4, đại tá Vũ Phi Hùng, liên đoàn trưởng liên đoàn 4 Biệt động quân, đã liên lạc với chi khu Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi, nằm ở phía Bắc đèo Bình Đê) mượn đường cho đại đội Trinh sát của liên đoàn đổ quân xuống đỉnh một ngọn núi trong quận này cách cụm chốt của Cộng quân khoảng 2 km rồi từ đây âm thầm di chuyển về hướng mục tiêu. Trong khi đó, tiểu đoàn 43 Biệt động quân được lệnh gia tăng cường độ tấn công từ phía Nam lên để đánh lạc hướng địch. Nửa đêm ngày thứ 4, đại đội Trinh sát báo cáo cho đại tá Hùng là cánh quân đã đến vị trí ấn định. Vị liên đoàn trưởng liên đoàn 4 BĐQ ra lệnh cho pháo đội Pháo binh kéo các khẩu pháo 105 ly đến chân một hẻm núi chuẩn bị tác chiến khi có lệnh khai hỏa.
Kế hoạch sắp xếp xong thì trời vừa rạng sáng, liên đoàn trưởng liên đoàn 4 BĐQ đã có mặt dưới chân đèo và ra lệnh cho Pháo binh khai hỏa. Hàng trăm trái đạn 105 ly bắn trực xạ lên đỉnh đèo, khói bụi mịt mù, đá núi văng xuống chân đèo. Pháo binh kết thúc giai đoạn hỏa tập với quả đạn khói trắng tín hiệu để cho đại đội Trinh sát-đã bố trí sẵn từ khuya, nhào lên nhanh chóng thanh toán mục tiêu. Cùng với cuộc tấn công của Trinh sát, tiểu đoàn trưởng 43 Biệt động quân cho lệnh 2 đại đội tiến nhanh qua cánh đồng lầy, để tấn công lên đèo. Khoảng nửa giờ sau, đại đội Trinh sát đã làm chủ trận địa, báo cáo về bộ chỉ huy liên đoàn là đã hạ sát 32 Cộng quân tại chỗ. Hai đại đội của tiểu đoàn 43 Biệt động quân được lệnh tiếp tục truy kích đánh tràn xuống phía bên kia chân núi. Cánh quân này đã khám phá một vị trí đóng quân và kho quân lương của địch quân được ước định là cấp tiểu đoàn.
* Trinh sát Biệt động quân nhảy vào mật khu An Lão:
Sau khi bị đánh bật ra khỏi đèo Bình Khê, vào một đêm tháng Hai/1974, Cộng quân đã điều động 1 đơn vị khác thuộc sư đoàn 3 Sao Vàng tấn công chiếm lại đỉnh đèo chiến lược này. Quân trú phòng đã đẩy lùi đối phương, hạ sát hơn 30 Cộng quân và bắt tại trận 2 tù binh. Để thăm dò các hoạt động của địch quân trong thung lũng An Lão, trung úy Huỳnh Văn Thơm, đại đội trưởng Đại đội Trinh sát liên đoàn 4 BĐQ đã đích thân dẫn hai binh sĩ và 1 sĩ quan CQ hồi chánh vào tận mật khu của đối phương. Toán BĐQ và hồi chánh viên mặc quân phục CSBV. Sau ba ngày thám sát, trung úy Thơm đem về một xấp ảnh chụp lính CSBV, xe Molotova tiếp tế của CQ di chuyển ngang qua cầu bắc qua suối và ba tù binh CQ mới từ Bắc vào. Cũng cần ghi ràng mật khu An Lão là căn cứ địa của sư đoàn 3 Sao Vàng CSBV và cũng là khu trung chuyển của các đơn vị chủ lực CSBV trên đường xâm nhập vào chiến trường Quân khu 2.
* Trận tấn công từ bờ biển khu vực Bồng Sơn:
Khai thác lời khai của tù binh, liên đoàn 4 Biệt động quân mở cuộc hành quân tảo thanh một số làng đánh cá dọc theo ven biển trong địa hạt Bồng Sơn. Theo tin tức của ban Hai chi khu, khu vực mà liên đoàn 4 Biệt động quân sắp hành quân là khu bất khả xâm phạm của du kích CQ ở Bình Định. Lực lượng Địa phương quân Bồng Sơn đã tổ chức vài cuộc hành quân tảo thanh nhưng đều bị tổn thất do mìn bẫy của địch quân cài dày dặc từ Quốc lộ 1 ra đến ven biển. Để có đủ yếu tố khởi động cuộc hành quân, liên đoàn trưởng liên đoàn 4 Biệt động quân ra lệnh cho tiểu đoàn 44 BĐQ điều động các toán nhỏ đi thám sát địa thế. Các toán này báo cáo là không thể tổ chức tấn công từ Quốc lộ 1 vào được. Trong buổi họp hành quân, thiếu tá Nguyễn Văn Tước, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 43 Biệt động quân đề nghị liên đoàn ủy nhiệm cho tiểu đoàn của ông khởi động cuộc tấn công từ biển lên theo chiến thuật của Thủy quân Lục chiến.
Đêm hôm đó, đợi cho nước thủy triều rút xuống, tiểu đoàn 43 Biệt động quân rời tuyến xuất phát từ một bãi biển trong quận Tam Quan ở phía Bắc. Các đại đội của tiểu đoàn lợi dụng tiếng sóng biển vỗ vào bờ, âm thầm di chuyển dọc theo bờ biển về hướng Nam (Bồng Sơn). Khi mặt trời ló dạng, đại tá Hùng cùng ban tham mưu bay chỉ huy trên 1 trực thăng đã hướng dẫn hai trực thăng võ trang yểm trợ cho ba đại đội của tiểu đoàn 43 Biệt động quân dàn hàng ngang vượt qua sóng biển tiến vào khu làng đánh cá. Bị tấn công bất ngờ, Cộng quân kháng cự yếu ớt rồi tháo chạy. Tiểu đoàn 43 Biệt động quân tung quân lục soát khu vực, tịch thu được hơn 1000 bao gạo Trung Cộng hàn kín trong các bao nylon để trên các ghe chài lớn. Những bao gạo này được thả từ ngoài khơi, do sóng biển đưa vào, du kích Bình Định thu hồi rồi đợi đêm xuống tải vào thung lũng An Lão. Từ đó, bộ phận hậu cần của sư đoàn 3 Sao Vàng dùng Molotova chở lên Cao nguyên phân phối cho các đơn vị chính quy CSBV.
* Trung úy Huỳnh Văn Thơm, đại đội trưởng Trinh sát, tự sát ngay tại trận địa:
Tháng 4/1974, liên đoàn 4 Biệt động quân bàn giao khu trách nhiệm ở Bắc Bình Định cho liên đoàn 6 Biệt động quân, di chuyển xuống phía Nam giải tỏa phi trường Phù Cát. Sau một tuần giao tranh, liên đoàn 4 Biệt động quân đã loại ngoài vòng chiến hơn 200 Cộng quân rồi lập tuyến án ngữ ở phía Bắc quận Bình Định. Giữa năm 1974, sư đoàn 3 Sao Vàng CSBV tiếp tục áp lực các quận phía Bắc Bình Định, liên đoàn 4 Biệt động quân lại được lệnh tăng phái cho Sư đoàn 22 Bộ binh. Trong một trận giao tranh kéo dài 5 ngày, các chiến sĩ liên đoàn 4 Biệt động quân loại khỏi trận địa hơn 1 tiểu đoàn CQ, buộc đối phương phải rút về An Lão. Trong trận đánh này, phía Biệt động quân có 37 quân nhân tử trận, 50 bị thương, trong đó có trung úy Huỳnh Văn Thơm, đại đội trưởng Trinh Sát, sau khi biết mình sẽ phải cưa chân, đã dùng súng K 59 (tịch thu của CQ) bắn vào đầu tự sát. Trung úy Thơm đã vĩnh viễn ở lại với chiến trường Bình Định như một hiệp sĩ trong các phim truyện chiến tranh! (Viết theo tài liệu của cựu đại tá Vũ Phi Hùng, nguyên liên đoàn trưởng liên đoàn 4 BĐQ).

Tuesday, August 18, 2020

Liên đoàn 4 biệt động quân 

Kính tặng MN Hồ Viềt Lượng - Bạch Hổ Trần Văn Thanh - MN Hồ Công Bình - MN Phan Thái Bình

Nguyễn Phương Hùng SSMĐ/TĐ52/LĐ3/BĐQ/QLVNCH


Liên đoàn 4 là một đơn vị thiện chiến nhất của binh chủng BĐQ, với 3 tiểu đoàn nổi tiếng 42, 43 và 44. Riêng Tiểu đoàn 42 "Cọp Ba Đầu Rằn" được ân thưởng huy chương danh dự của Tổng Thống Hoa Kỳ 2 lần, đã làm rạng danh cho binh chủng, Tiểu đoàn 44 được 1 lần, cả 3 Tiểu đoàn đều lấy được nhiều chiến công với đủ loại huy chương của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa va Quân Lực Đồng Minh.

Năm 1973, Liên đoàn 4 BĐQ sau chiến thắng Núi Dài dưới vùng IV chiến thuật, được điều động lên tham chiến trên Quân đoàn II tại mặt trận Bắc Bình Định. Vùng này là giang sơn của địch quân với những địa danh quen thuộc nổi tiếng Tam Quan, Bồng Sơn. Ngoài ra sư đoàn 3 "Sao vàng" chính quy CSBV hoạt động rất mạnh trong thung lũng An Lão. Phía bắc tỉnh Bình Định, bên kia đèo Bình Đê là Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Sư đoàn 2 và 3 CSBV sau khi bị Liên đoàn 1 BĐQ "dũa" cho một trận tơi bời hoa lá trong trận Sa Huỳnh đã kéo về lại thung lũng An Lão để săn sóc vết thương (rửa mày rửa mặt) cho nhau... chờ đợi thời cơ (chờ nước đục thả câu). Sư đoàn 3 Sao Vàng đưa Trung đoàn 12 ra đóng chốt dọc theo dẫy núi phía bắc tỉnh Bình Định, bắn phá xe cộ lưu thông trên quốc lộ 1. Hai tiểu đoàn 42 và 44 mất gần 1 tháng tung các đại đội ra nhỗ từng "chốt" của địch. Tuy nhiên, quân cộng sản lợi dụng địa thế đồi núi nơi đèo Bình Đê, một rặng thuộc dẫy Trường Sơn đâm ra biển làm cho đường xá quanh co khúc khuỷu. Chúng đặt 1 "chốt" ngay trên đỉnh đèo cắt đứt quốc lộ 1.


Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân 10040813

Nhiệm vụ nhổ cái chốt hiểm hóc này được giao cho tiểu đoàn 43, tiểu đoàn "út" của liên đoàn 4 BĐQ. BCH liên đoàn 43 di chuyển lên sát tiền tuyến, còn cách khoảng chừng 300m để điều đọng các đại đội tấn công. Biết quân Biệt Động làm thiệt, CSBV dùng pháo binh trong thung lũng An Lão bắn ra trúng BCH tiểu đoàn 43. Trên đỉnh đèo, quân Bắc việt trú ẩn sau hốc đá, trong các công sự phòng thủ vững chắc, dùng AK, B40 bắn xuống các trung đội BĐQ đang tìm cách vượt qua cánh đồng lầy dưới chân núi. Trong ba ngày trời, số thương vong của BĐQ đã lên tới 20 người mà vẫn chưa giết được 1 tên giặc cộng. Ngoài ra BCH tiểu đoàn bị pháo kích, đặc công quấy rối hằng đêm.

Sang ngày thứ tư, Đại tá Vũ Phi Hùng, LĐT/LĐ4/BĐQ liên lạc với quận Đức Phổ, Quảng Ngãi, mượn đường cho đại đội Trinh sát đổ quân xuống đỉnh 1 ngọn núi trong quận Đức Phổ cách chốt của địch chừng 2 cây số rồi âm thầm di chuyển về hướng mục tiêu. Trong khi đó tiểu đoàn 43 được lệnh gia tăng cường độ tấn công từ phía nam lên để đánh lạc hướng của địch. Nửa khuya đêm đó, đại đội Trinh sát gởi báo cáo về là đã đến vị trí ấn định, đại tá Hùng ra lệnh cho Pháo binh bí mật kéo mấy khẩu 105 ly đến chân một hẻm núi chuẩn bị tác xạ khi có lệnh.

Mọi việc xếp đặt xong thì trời vừa rạng sáng. Mặt trời như một khối lửa khổng lồ nhô lên từ biển, đại tá Vũ Phi Hùng đã có mặt dưới chân đèo ra lệnh tấn công. Hàng trăm trái đạn 105 ly bắn trực xạ lên đỉnh đèo, khói bụi mịt mù, đá núi văng xuống đuôi chân đèo. Pháo binh chấm dứt nhiệm vụ với trái đạn khói trắng, ra dấu hiệu cho đại đội Trinh sát, đã bố trí sẵn từ khuya đêm qua nhào vô thanh toán mục tiêu. Cùng lúc tiểu đoàn 43 BĐQ ra lệnh cho hai đại đội tiến nhanh qua cánh đồng lầy, tấn công lên đèo. Chừng nửa giờ sau, đại đội trinh sát làm chủ tình hình trên đỉnh đèo, báo cáo giết 32 tên tại chỗ. Hai đại đội của tiểu đoàn 43 được lệnh truy kích đánh tràn xuống phía bên kia chân núi. Quân ta báo cáo khám phá nơi đóng quân, kho lương thực cho một đơn vị của địch cấp tiểu đoàn. Điều này chứng tỏ chốt được yểm trợ rất kỹ, chúng lúc nào cũng có quân và lương thực để tiếp tế cho những tên đóng chốt trên đỉnh đèo.

Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân 10040814

Vào một đêm cuối tháng hai, một đơn vị chính quy khác thuộc sư đoàn 3 Sao vàng tấn công mong chiếm lại ngọn đồi chiến lược. Kết quả để lại trên trận địa hơn 30 xác và 2 bị bắt làm tù binh. Để thăm dò các hoạt động của địch trong thung lũng An Lão, trung úy Huỳnh Văn Thơm, đại đội trưởng ĐĐ/TS/LĐ4/BĐQ đích thân dẫn 2 binh sĩ, một sĩ quân cộng sản hồi chánh mò vào tận sào huyệt của địch. Ba BĐQ và một hồi chánh viên mặc quân phục CSBV, võ trang AK47 đi nghênh ngang trong lòng địch. Sau 3 ngày công tác, trung úy Thơm đem về một xấp ảnh chụp lính CSBV, xe Molotova tiếp tế của địch di chuyển ngang qua cầu đặt ngầm dưới suối (không ảnh không thấy được) và ba anh "vi xi" mới từ Bắc vào.

Dựa vào lời khai của tù binh, liên đoàn 4 BĐQ mở cuộc hành quân tảo thanh mấy làng đánh cá dọc theo ven biển trong quân Bồng Sơn. Ban 2 (tình báo) chi khu cho biết khu vực sắp hành quân là sào huyệt gần như bất khả xâm phạm của du kích quân Bình Định. Địa Phương quân của ta đã thử vài lần nhưng đều bị thiệt hại do mìn bẫy của địch gài dầy đặc từ quốc lộ 1 ra tới ven biển. Đại tá Vũ Phi Hùng ra lệnh cho tiểu đoàn 44 gửi những toán nhỏ đi dò thám và được báo cáo là không thể đánh từ quốc lộ 1 vào. Trong buổi họp hành quân, thiếu tá Nhữ Văn Tước TĐT/TĐ43/BĐQ đề nghị và tình nguyện đem tiểu đoàn đánh từ biển lên theo chiến thuật của TQLC.


Đêm hôm đó, đợi cho nước thủy triều rút, tiểu đoàn 43 BĐQ rời tuyến xuất phát từ một bãi biển trong quân Tam Quan nơi phía Bắc. Tiểu đoàn này lợi dụng tiếng sóng biển vỗ vào bờ, âm thầm di chuyển dọc theo bờ biển về hướng nam (quận Bồng Sơn). Khi mặt trời vừa ló dạng, đại tá Liên đoàn trưởng cùng Bộ Tham mưu trên chiếc trực thăng chỉ huy thêm hai trực thăng võ trang bay hướng dẫn và yểm trợ cho ba đại đội BĐQ đang dàn hàng ngang cưỡi sống biển tiến vào mấy làng đánh cá của địch. Bị tấn công bất ngờ, địch quân kháng cự yếu ớt rồi bỏ chạy lấy thân. BĐQ lục soát trong làng, trên những ghe chài lớn lấy được 1000 bao gạo Trung cộng, hàn kín trong bao nylon. Những bao này được thả từ ngoài khơi, do sóng biển đưa vào, du kích Bình Định thâu hồi rồi đợi đêm xuống tãi vô thung lũng An Lão. Từ đó được hậu cần sư đoàn 3 Sao vàng dùng xe Molotova chở lên vùng cao nguyên nuôi các sư đoàn khác của CSBV.

Trong tháng 4 năm 1974, sư đoàn 3 Sao vàng phối hợp với lực lượng địa phương của chúng đồng loạt mở các cuộc tấn công vào nhiều nơi trong tỉnh Bình Định. Quân cộng sản bao vây, tấn công căn cứ Không quân Phù Cát và tạo áp lực trực tiếp lên thành phố Qui Nhơn. Liên đoàn 4 được lệnh bàn giao khu vực trách nhiệm Phan khu Bắc Bình Định cho Liên đoàn 6 BĐQ rồi di chuyển xuống phía nam đánh giải tỏa phi trường Phù Cát, giải vây cho thành phố Qui Nhơn. Sau một tuần lễ giao tranh, LĐ4/BĐQ loại khỏi vòng chiến hơn 200 địch quân rồi lập tuyến án ngữ nơi phía bắc quận Phù Mỹ, chận mũi tấn công của địch về Qui Nhơn.

Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân 10040812

Sư đoàn 3 Sao vàng tiếp tục tạo áp lực trong mấy quân nơi phía bắc tỉnh Bình Định. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II phải đưa sư đoàn 22 BB lúc đó đang hành quân trên vùng cao nguyên về giữ tỉnh Bình Định. Trong xếp đặt phối trí hành quân mới, liên đoàn 4 tăng phái cho sư đoàn 22 BB, trở nên một trong hai nỗ lực chính đánh lên mặt bắc. Trong một trận giao tranh kéo dài năm ngày, các chiến sĩ Mũ Nâu tiêu diệt hơn một tiểu đoàn chính quy CSBV, buộc chúng phải lui về thung lũng An Lão, dọn đường cho các đơn vị Bộ binh, Địa Phương quân tiến lên giải vây cho các quân ở phía bắc tỉnh Bình Định. Trong trận phản công này về phía BĐQ có 37 quân nhân tử trận, 50 người bị thương. Trong số BĐQ bị thương nặng có trung úy Huỳnh Văn Thơm, ĐĐT/ĐĐ Trinh Sát, sau khi biết sẽ phải cưa chân, trung úy Thơm dùng súng K59 (tịch thu của địch) bắn vào đầu tự sát, kết thúc một thiên anh hùng ca, dọc ngang ngang dọc.

Theo sách "Cuốn Theo Cơn Lốc" của cựu đại tá Vũ Phi Hùng, LĐT/LĐ4/BĐQ.


Tuyên dương Công Trạng trước QLVNCH.

Bạch Hỗ (Ben Het) - Cho ngày Quân Lực 1998

Saturday, February 9, 2019

BẢN đồ cao nguyên trung phần , tỉnh quảng đức , tỉnh darlac , tỉnh phú bổn , tỉnh phú yên , tỉnh bình định , tỉnh kontum , tỉnh pleiku ,