Showing posts with label sông bé. Show all posts
Showing posts with label sông bé. Show all posts

Sunday, May 17, 2026

 

TỪ SÔNG BÉ 1965 ĐẾN PHƯỚC LONG 1975

Tác giả: Trần Lý
(Phước Long đã được ghi trong lịch sử Việt Nam như khởi đầu cho sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà, rất nhiều bài báo, sách vở đã được viết về Trận Phước Long 1975 từ những bài của các tác giả Việt Nam Cộng Hoà đến các bài “quân sử” của cộng sản bắc Việt.. Bài này chỉ xin ghi nhận một số chi tiết tại Phước Long trước tháng 12/1975)
● Vài chi tiết về Phước Long: Tỉnh Phước Long phía Bắc giáp Kampuchea, phía Đông giáp hai Tỉnh Quảng Đức và Lâm Đồng, phía Nam giáp Tỉnh Phước Thành, phía Tây giáp Tỉnh Bình Long, Phước Long chiếm diện tích 7.490 cây số vuông. Tỉnh lỵ đặt tại Phước Bình còn gọi là Sông Bé.
Các thay đổi hành chánh:
- 1958: Khu vực Bù Gia Mập thành Quận Phước Hoà, nhưng sau đó bị hủy bỏ. Khu vực Bù Đăng thành Phước Tân và sau đó đổi thành Đức Phong
- 1961: khu vực Đồng Xoài thành Quận Đôn Luân. Tóm lại cho đến 4/75 Phước Long có 4 Quận: Bố Đức, Phước Bình, Đức Phong và Đôn Luân ​(theo Đông Tiến trong Nước Tôi, Dân Tôi trang 507).
● Sông Bé: Địa danh Sông Bé trong chiến sử Việt-Mỹ thường được hiểu (theo Lực Lượng Đặc Biệt) thì là: Doanh trại Lực Lượng Đặc Biệt của Specia lForce (5thSF) thành lập vào tháng 4 năm 1965. Trại (hay chính xác là Cơ sở hành chánh) được bảo vệ riêng trong vòng rào phòng thủ, nằm cách Tỉnh lỵ Phước Bình khoảng 2 km về phía Tây-Nam. Tên “Song Be Base camp” còn được gọi là Song Be Airfield, Farley Field hay LZ Buttons (FSB Buttons)
Phi trường Sông Bé có phi đạo dài 1036 m, lót vỉ sắt, các C-130 có thể đáp được. Trại này sau đó phát triển rộng trở thành Căn Cứ đóng quân tạm của nhiều đơn vị Hoa Kỳ và khi Hoa Kỳ rút quân, Căn Cứ được giao lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
- Tháng 4/1966: Lữ Đoàn 173 Dù Hoa Kỳ trú đóng tại đây trong cuộc hành quân Denver.
- Tháng 12/1966 đến tháng 2/1967: Lữ Đoàn Bộ Binh 199th (Light Infantry) - Tháng 5, 6/1969: nơi đóng quân của Lữ Đoàn 1 / Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ - Tháng 4/1970 Lữ Đoàn 2 / Sư Đoàn 1 Không Kỵ trú đóng đến tháng 3/1971. Trận Sông Bé (Tháng 5/1965). Cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963 và sau đó là các cuộc chỉnh lý tranh giành quyền lực của các phe phái trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà và các đảng phái chính trị đã làm suy yếu khả năng chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Cộng sản bắc Việt nhân cơ hội đã tập trung quân địa phương và đưa quân từ miền Bắc xâm nhập trang bị các võ khí mới của khối Cộng, sửa soạn cho một chiến dịch tấn công vào Phước Long…
Ngày 16 tháng 4 năm 1965, toán B-34 của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ được gửi đến Phước Long, để giúp lực lượng Việt Nam Cộng Hoà, tại đây đang có một toán cố vấn quân sự của MAC-V ngụ tại Toà hành chánh Tỉnh. Toán B-34 bắt đầu xây dựng một doanh trại hay căn cứ tiền đồn tại một ngọn đồi gần đó… Căn cứ này có thêm 120 địa phương quân Việt Nam và vài xe bọc thép cũ (thiết giáp Mã lai) bảo vệ. (Gọi là “doanh trại” vì đây không phải là một Căn Cứ Biên Phòng tiêu chuẩn, nơi đóng quân của các Dân Sự Chiến Đấu, quân số 3 đến 400 người, do một toán A Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, cùng một toán Lực Lượng Đặc Biệt Việt giữ nhiệm vụ Chỉ Huy Căn Cứ).
Lúc 1 giờ 45 sáng ngày 10 tháng 5, hai Trung Đoàn 761 và 763 cộng sản bắc Việt, gồm trên 2500 quân đã mở cuộc tấn công vào Thị xã từ nhiều hướng, bắt đầu bằng tiền pháo (súng cối) và sau đó… hậu xung… Quân sử của 5th SF ghi lại về trận này như sau:
“… trong khi Toán B-34 được xếp để ở chung toà nhà đủ tiện nghi với Toán 94 Cố vấn MAC-V, địa điểm này chỉ được phòng ngự sơ sài… Các quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt thuộc Toán B-34 di chuyển ra đóng ngoài tiền đồn, Thiếu Tá Mitchell Sakey theo linh tính đã đặt thêm nhiều vị trí súng máy và súng cối quanh tiền đồn… Công cuộc chuẩn bị đang tiến hành thì cộng quân đã tấn công và họ cũng không ngờ SF lại bố trí hoả lực thật mạnh tại đây! Cộng quân pháo kích cả vào khu vực hành chánh của Tỉnh lẫn doanh trại của B-34. Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân đang trú đóng tại Tỉnh, bị cộng quân đẩy dạt sang một phía và chúng tiến thẳng vào nơi cư trú của các quân nhân Mỹ: tại đây có 22 quân SF và 14 người Mỹ khác chia nhau trú tại 2 toà nhà…
Pháo cộng quân phá hủy các toà nhà ngay trong đợt pháo kích đầu… Chỉ huy toán B-34, Trung Tá Alton Parks bị thương… Thiếu Tá Sakey thay quyền chỉ huy chống trả… Các quân nhân SF kháng cự trong bóng đêm… cộng quân bị chặn tại vòng ngoài hàng rào gốc phía Tây-Nam, chúng dùng bộc phá, phá một khu vực rào giữa Trại và đặc công tiến vào dùng lựu đạn tấn công các giao thông hào… Các quân nhân Hoa Kỳ chống trả quyết liệt kể cả cận chiến bằng dao, lưỡi lê. Các quân nhân của MAC-V và của Đại Đội 120th không vận Army cũng giúp chống đỡ.
Các trực thăng võ trang đã đến yểm trợ chỉ 2 giờ sau khi cộng quân tấn công, nhưng trần mây thấp và khói súng che khuất tầm quan sát của trực thăng… Các trực thăng phóng rocket và bắn phá khu vực phía Tây Tỉnh lỵ giúp khoá các ổ súng cối của cộng quân. Thiếu Tá Sakey điều khiển các đợt không kích và loại dần các ổ súng máy của cộng quân… Trực thăng tải thương đã đáp được xuống lúc 8 giờ sáng và 16 thương binh được di tản. Cuộc chống trả quyết liệt của các quân nhân SF đã ngăn cộng quân tràn ngập khu hành chánh Tỉnh, cộng quân chỉ ở trong khu vực đến trưa… Ngay từ sáng Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân đã phản công giải toả khu vực Chợ và Nhà thờ Tỉnh lỵ, nhưng Đại Úy Nghĩa (?) Tiểu Đoàn Trưởng đã hy sinh… Các cuộc không kích tiếp tục và Tiểu Đoàn 34 Biệt Động Quân tăng viện đã đến và tái chiếm toàn Tỉnh lỵ…”
Tổn thất:
Tử thương: 5 quân nhân Mỹ; 49 binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà. Cộng quân bỏ lại 85 xác.
● Các đụng độ tại Sông Bé sau 1965:
- 29 tháng 9 năm ​1967: Quân Đội Mỹ mở cuộc hành quân Shenandoah II sử dụng 2 Lữ Đoàn Bộ Binh khai thông Quốc lộ 13, cuộc hành quân sau đó mở rộng sang địa phận Bình Long và Phước Long khi tìm được các bằng chứng Sư Đoàn 9 cộng quân đang sửa soạn tấnc ông Thị xã Sông Bé – 27 tháng 10 năm ​1967 Trung ương Cục Miền Nam (cộng sản Việt Nam) đã mở các đợt tấn công nhằm vào khu vực Bình Long - Phước Long. Tấn công vào một căn cứ do một Tiểu Đoàn Bộ Binh / Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam trấn đóng tại Đông-Nam Sông Bé. Khoảng 200 quân Việt Nam Cộng Hoà trấn giữ tại đây. Cộng quân bị đẩy lui nhờ sự yểm trợ oanh kích của Không Quân Hoa Kỳ. Cộng quân bỏ lại 134 xác và 2 cán binh bị thương, bị bắt. Quân Việt Nam Cộng Hoà tịch thu được 73 súng cá nhân, 10 súng cộng đồng và 3 súng phun lửa. Việt Nam Cộng Hoà có 12 tử trận.
Những ngày sau Việt Nam Cộng Hoà đưa 1 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân và Hoa Kỳ đưa Tiểu Đoàn 1/18 thuộc Sư Đoàn 1 Hoa Kỳ vào tảo thanh khu vực nhưng cộng quân đã chuyển về hướng Bố Đức nhưng cũng bị đánh tan… Các đơn vị nhỏ của cộng quân tiếp tục các hoạt động quấy rối… và tấn công vào Lộc Ninh…​ (Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ - 1954-75 Tập V - Thiếu Tá Nguyễn văn Vinh) – Ngày 6 tháng 11-​ năm 1967: ​các đơn vị của Trung Đoàn 275 cộng sản bắc Việt đã phục kích 1 Đại Đội Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đang hoạt động tại Nam Sông Bé. Quân tiếp viện Việt Nam Cộng Hoà được gửi đến và cộng quân áp sát quân Việt Nam Cộng Hoà, nên Không Quân và Pháo binh không thể oanh kích yểm trợ. Kết quả cộng quân bỏ lại 265 xác; bên Việt Nam Cộng Hoà có 54 tử trận, 55 bị thương và 15 mất tích​ (Periodic Intel Report No 45/IIFPV).​
Tướng Weygand nghi ngờ cộng quân có thể mở các cuộc tấn công quy mô hơn nên đưa 2 Tiểu Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 25 Bộ Binh Mỹ vào tảo thanh các khu vực quanh Thị xã Sông Bé… Sau hai tuần hoạt động các Tiểu Đoàn này về lại đơn vị, nhưng ngay sau đó, thám kích đã tìm ra dấu vết của Trung Đoàn 271 cộng sản bắc Việt vừa di chuyển vào khu vực và cộng quân tập trung quanh Bù Gia Mập một Ấp bỏ hoang cách Sông Bé 28 km về phía Đông-Bắc… có thể sửa soạn cho một trận đánh mới vào Sông Bé?
Ngày 25 tháng 11, Trung Đoàn 275 cộng sản bắc Việt tấn công thăm dò một trại quân của Việt Nam Cộng Hoà phía Nam Sông Bé… Trận đánh kéo dài 4 tiếng và cộng quân rút lui bỏ lại gần 100 xác! Sau đó cho thấy đây chỉ là trận cầm chân quân Việt Nam Cộng Hoà khi cộng quân tấn công vào Bố Đức (29 tháng 11)! ​(Periodic Intel Report No 47II/FFV) ​(Xin đọc bài Bù Đốp của Trần Lý) –Trong năm 1967, SF mở thêm nhiều trại hành quân giữa những khu vực mật khu của cộng quân và ven biên, dùng các lực lượng biệt kích lưu động (Mike force) và toán thám sát hoạt động ngăn chặn các đường xâm nhập và chuyển vận quân và tiếp liệu dùng Chiến khu D để di chuyển vào vùng ven đô Sàigòn. Các Trại có mục đích lâu dài và gặp nguy hiểm nhất là Prek Klok và Tống Lê Chân tại Chiến khu C, trại Bunard (xem bài về Bunard của Trần Lý) tại Chiến khu D và các trại của Sông Bé gây trở ngại cho các cuộc xâm nhập của cộng quân từ Kampuchea…
- Năm​ 1968, cộng quân tránh các cuộc tấn công trực tiếp vào Tỉnh lỵ nhưng vẫn liên tục quấy phá các Trại Lực Lượng Đặc Biệt thuộc Tỉnh… Các lực lượng hậu cần của cộng quân như Đoàn 86, tìm cách tránh các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà, dùng các đường vòng…
- Ngày 26 tháng 2: một toán Dân Sự Chiến Đấu (CIDG) từ Bù Đốp (A-341) đã phục kích tại một địa điểm cách Tỉnh lỵ 32 km về phía Đông. Toán đã chặn đánh một chiếc xe vận tải quân sự bắc Việt (Molotova 2.5 tấn). Xe chở đầy quân bắc Việt chạy xuống phía Nam về vùng Kampuchea. Xe lọt ổ phục kích của CIDG và bị tiêu diệt hoàn toàn: 17 cộng quân bị hạ, 2 bị thương; tịch thu 16 võ khí cá nhân và 2 súng cộng đồng. Phía CIDG có 1 bị thương cùng 1 SF Mỹ.
- Ngày 28/2 Trại Bunard (A-344) bị pháo kích 20 quả 82 ly… 15 CIDG bị thương.- (Trong những tháng đầu năm 1965, cộng quân đã xây dựng một con đường chiến lược tại vùng phía Đông Sông Bé, có thể sử dụng cho xe vận tải, đường chạy từ biên giới Miên đến gần Quốc lộ 14… Không Quân Việt Mỹ và các toán CIDG đã liên tục oanh kích và ngăn chặn các cuộc chuyển vận của cộng quân…)
- Ngày 16 tháng 3: Dân sự chiến đấu Bù Đốp tiếp tục phục kích cộng quân xâm nhập: tại 33 km Đông-Bắc Tỉnh lỵ Sông Bé: 2 xe vận tải ¾ tấn bị tấn công; cộng quân bỏ chạy vào rừng, 2 xe bị hủy , bỏ lải 2 xác…
- Hành quân trực thăng vận “Tamatta Shanee” từ 23 đến 28 tháng 3, tảo thanh khu vực Tây Nam Phước Long. Lực lượng hành quân tiến theo hai hướng… cộng quân tránh đụng độ.. Phá hủy được nhiều kho tiếp liệu: 16,000 lbs gạo trong bao, 1 quả bom 500 lbs, 12 xe đạp thồ,.. 6 cộng quân bị hạ, 1 bị bắt cùng 30-40 hầm hố, lô cốt bị san bằng…
- Nhiều đơn vị Hoa Kỳ đã từng trú đóng tại Sông Bé (Xem phần trên)
● Sông Bé: 1969
Năm 1969 có một vài trận đánh giữa cộng quân và lực lượng Hoa Kỳ trú đóng tại Phước Long trong đó đáng kể nhất là trận đụng độ tại Căn cứ Hoả lực Buttons. Căn cứ hoả lực Buttons (Fire Support Base = FSB) nằm về phía Bắc và hơi chếch về phía Tây của núi Bà Rá (Phước Long), cách Phước Bình 1.5 km về hướng Tây. Tỉnh lộ 310 nồi liền Sông Bé và Phước Bình. Hai tỉnh lộ 310 (chạy Đông-Tây) và 311 (Bắc-Nam) gặp nhau tại Liên tỉnh lộ 1A. Tỉnh lộ 310 nối FSB Buttons với phi trường Sông Bé và FSB nằm ven lộ 310… Núi Bà Rá cách FSB Buttons chừng 1 km về phía Nam. FSB Buttons là nơi đặt Bộ chỉ huy của Tiểu Đoàn 5/7 Không Kỵ, tại đây có một Pháo Đội 6 khẩu 105 và nơi trú đóng của một lực lượng thám kích Delta. Pháo Đội 105 yểm trợ cho các cuộc hành quân của Tiểu Đoàn 5/7 Không Kỵ và các toán thám kích Delta…
Tiểu Đoàn 5/7 do Trung Tá Thomas Healy chỉ huy (ông này sau lên Tướng Hoa Kỳ) và sau đó FSB Buttons do Đại Tá Meyer chỉ huy (Tướng Meyer, năm 1980 là Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ) cộng quân đã tấn công vào FSB Buttons ngày 4 tháng 11 năm 1969. Cộng quân sử dụng 2 Tiểu Đoàn Đặc công với trên 500 quân với ý định đột kích căn cứ cố gây tổn hại cho quân Mỹ và rút thật nhanh. Ngay 1 giờ sáng sớm cộng quân pháo kích vào Căn Cứ với đủ loại pháo 107, 120 và cối 82… và đặc công cắt rào xâm nhập…
Cuộc tấn công hoàn toàn thất bại trước hoả lực rất mạnh của các thiết quân vận AC AV và chiến xa Sheridan của Tiểu Đoàn 5/7 Không Kỵ (mỗi AC AV được gắn 1 đại liên 0.50 cal, với 1500 viên đạn, 2 đại liên M-60 với 12 ngàn viên chưa kể M-79, súng cá nhân…) cộng quân rút chạy lúc 5 giờ sáng sau khi gần như toàn bộ đặc công cộng sản xâm nhập bị bắn hạ, ngoài ra Hoa Kỳ còn có thêm các trực thăng võ trang và AC-47 yểm trợ. Cộng quân bỏ lại 172 xác, đổi lại phía Mỹ có 2 chết và 26 bị thương…
Các tài liệu tịch thu được ghi lại: cộng quân đã dùng Đoàn đặc công tinh nhuệ nhất của COS Việt Nam - J-16 và 1 Tiểu Đoàn thuộc Trung Đoàn 141/Sư Đoàn 7 cộng sản bắc Việt trong trận đánh (Xin đọc thêm “Incursion" của J.D Coleman trang 165-166). Ngày 14 tháng 11 năm 1969, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 7 cộng sản bắc Việt đã tấn công vào Căn cứ hoả lực Jerri (Đây là một Cứ Điểm bảo vệ một bãi đáp trực thăng và pháo binh, cách Trại SF Bù Đốp khoảng 4 km, do vài đơn vị Hoa Kỳ thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ trấn giữ). Cộng quân pháo kích dữ dội vào căn cứ bằng súng cối và hoả tiễn trong suốt 30 phút. Cộng quân rút chạy ngay khi quân Hoa Kỳ phản pháo… Bên Mỹ có 5 quân nhân tử thương… Các Căn cứ hoả lực Buttons và Jerry sau này được Quân Đội Hoa Kỳ trong cuộc tấn công vượt biên giới qua đất Miên ngày 1 tháng 5 năm 1970.
● Sông Bé: Hè 1972
Trong mùa Hè 1972: Cộng quân tập trung lực lượng tấn công vào An Lộc (Bình Long). Khu vực lãnh thổ trách nhiệm của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà (Tư lệnh là Chuẩn Tướng Lê văn Hưng) gồm các Tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long (Tỉnh Trưởng là Đại Tá Lưu Yểm): Tại Phước Long có Tiểu Đoàn 1/9 đóng quân tại Bố Đức, chịu trách nhiệm bảo vệ Thị xã phối hợp với Địa Phương Quân và Nghĩa Quân cơ hữu của Tình… Cộng quân chỉ tấn công quấy rối Sông Bé, dùng các lực lượng địa phương phục kích các đường lộ và pháo kích vào các cứ điểm phòng thủ để cầm chân các lực lượng trú phòng.
● Sông Bé: Sau Hiệp định Paris
Hiệp định Paris được ký ngày 27 tháng Giêng 1973, các vùng đất cộng quân chiếm đươc trong Trận Tổng tấn công Mùa Hè 1972 được xem là Vùng “giải phóng”. Quân Việt Nam Cộng Hoà không thể tấn công tái chiếm. Cộng quân kiểm soát hầu như toàn bộ Tỉnh Bình Long, ngoại trừ Thị xã An Lộc và Cứ điểm Chơn Thành. Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cố gắng khai thông Quốc lộ 13 phía Bắc Lai Khê nhưng việc tiếp tế cho An lộc và Chơn Thành rất khó khăn và phải dùng không vận.
Cộng quân cũng kiểm soát các vùng đất quanh Phước Bình (Sông Bé), Thị xã của Phước Long! Cho đến cuối năm 1972, cộng quân thay đổi các bố trí lực lượng: Sau An Lộc, cộng quân chỉ để lại Trung Đoàn 95 C trong khu vực.
Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà giao việc phòng thủ An Lộc lại cho Biệt Động Quân Quân Khu 3 (có 8 Tiểu Đoàn trong đó Tiểu Đoàn 92 lo phòng thủ Căn cứ Tống Lê Chân). cộng quân đưa Trung Đoàn 272 về vùng quanh Bố Đức và vùng Tây Bắc Phước Long để phá rối, đồng thời dưỡng quân; Trung Đoàn 271 chuyển về Đông Bắc Chơn Thành, chặn Quốc lộ 13 giữa An Lộc và Chơn Thành, đồng thời dự trú tấn công các Căn Cứ Chí Linh (thuộc Bình Long) và Đồng Xoài (thuộc Phước Long). Các căn cứ này do Địa Phương Quân trấn giữ và được tiếp tế bằng không vận.
Đồng Xoài được nối với Phú Giáo bằng Quốc lộ 1A (Phú Giáo là căn cứ của Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Việt Nam Cộng Hoà). Đầu tháng Giêng 1973, Trung Đoàn 7/5 hành quân khai thông Quốc lộ và một đoàn xe tiếp tế đã đến được Đồng Xoài, nhưng Quốc lộ 14 phía Bắc Đồng Xoài vẫn bị chặn nên Thị xã Sông Bé và các căn cứ quân sự tại Sông Bé phải được tiếp vận bằng phi cơ và nếu dùng đường bộ phải đi vòng ngõ Quảng Đức…
Đề phòng thủ Phước Long, Trung Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đã đến trú đóng tại Sông Bé Năm​ 1973​: là năm “Giành dân-Giữ đất” (Land Grab) trước khi các bên ký Hiệp định Đình chiến: Cộng quân lo củng cố các vùng họ đã chiếm đóng sau cuộc tiến công Hè 72. Bên Việt Nam Cộng Hoà tìm cách lấy lại các Xã Ấp bị mất. Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vẫn cố giữ Sông Bé: một căn cứ phòng thủ mới, được xây dựng thêm cạnh phi trường. Việc chống giữ Sông Bé chỉ có giá trị “chính trị” vì Sông Bé không phải là một “tiền đồn” nhằm ngặn chống lại cộng quân trong các cuộc tiến công về Sàigòn.
Từ đầu năm 1974, TỈnh lỵ Sông Bé (Phước Bình) chỉ nối kết với bên ngoài bằng đường bộ qua ngã Kiến Đức (Tỉnh Quảng Đức): đường rất xa và khúc khuỷu vì qua nhiều vùng đồi núi: từ Nha Trang đi Ban Mê Thuột, qua Gia Nghĩa đến Kiến Đức và rẽ về phía Tây để đến Sông Bé: đoạn Quốc lộ 14 lưu thông được nhờ quân trú phòng tại Đức Phong canh giữ (giữa Kiến Đức và Sông Bé). Có thể đi từ Đức Phong qua lối Bù Na để đến Sông Bé nhưng không an toàn. Từ giữa tháng 3/74 đường 14 lưu thông từ Bắc Đồng Xoài cũng bị cắt đứt… Việc tiếp tế cho Sông Bé tùy thuộc vào khả năng của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà sử dụng các C-130 A, Chinook và trực thăng UH-1.
Không Quân Việt Nam Cộng Hoà bị mất 2 chiếc C-130 A tại Phi trường Sông Bé:
- 18 tháng 12 năm 1974: Chiếc S/N 55-000521 trúng đạn pháo kích khi đang lên-xuống hàng. Phi cơ hư hại hoàn toàn. Phi Hành Đoàn: Thiếu Tá Nguyễn Chánh Mỹ và Trung Uý Châu Vĩnh Khải vô sự và được trực thăng bốc về Biên Hoà.
- 25 tháng 12 năm 1974: Chiếc S/N 55-0016 bị bắn hạ khi đang đáp.
Trong thời gian đình chiến, cộng quân đã lo xây dựng các kho tiếp liệu quân sự, các kho thực phẩm, làm đường xá, thiết lập các ổ phòng không. Cộng quân đưa thêm các xe tăng… lập các trung tâm huấn luyện tại khu vực Lò Gò (Tây Ninh) và Bù Đốp (Phước Long) cộng quân cô lập hoá Thị xã Sông Bé, dùng pháo các loại pháo kích và dùng bộ binh tấn công các tiền đồn của Việt Nam Cộng Hoà dọc suốt 75 km đường lộ, kéo dài từ Phú Giáo đến Sông Bé. Cộng quân pháo kích phi trường Sông Bé và tấn công Đồng Xoài, cắt đường bằng cách phá cây cầu bắc ngang sông Sông Bé, Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, trong các ngày 14 đến 22 tháng 11 năm 1974, đã tập trung 122 phi vụ khu trục oanh kích các vị trí phòng không, pháo binh và kho hàng của cộng quân tại Phước Long để ngăn chặn các cuộc tập trung quân của cộng quân trong vùng. Tại Bù Đốp ngày 5 tháng 12, Không Quân dùng 23 chiếc A-1, 17 chiếc F-5 và 18 chiếc A-37 oanh kích phá hủy 45 toà nhà, 2 vị trí phòng không, một kho đạn, kho xăng dầu gây nhiều đám cháy và nhiều vụ nổ phụ
● Những diễn biến trước cuộc tấn công lấn chiếm Phước Long:​
(Theo The Last Christmas: Phuoc Long của William E Le Gro trong “VietNam from Cease-Fire to Capitulation, trang 132-133) Tỉnh Phước Long, do vị trí khá xa Sàigòn nên không nằm trong các kế hoạch phòng thủ Sàigòn từ xa của Bộ Tỗng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Sau Hiệp định Paris (1973), Phước Long có là “biểu tượng chính trị” để cho thấy Phe Cộng không chiếm đươc “trọn” một Tỉnh nào của Việt Nam Cộng Hoà hơn nữa sự hiện diện của các “tiền đồn” Việt Nam Cộng Hoà trong các khu vực bị cộng quân chiếm vẫn là những cái “gai” gây khó khăn cho cộng quân về cả chính trị lẫn quân sự. Nhiều đơn vị hậu cần và chiến thuật của Trung Ương Cục Miền Nam cộng sản bắc Việt (COS Việt Nam) đã di chuyển vào các khu vực an toàn tạm chiếm tại vùng đồn điền cao su Bố Đức – Bù Đốp. Bộ Chỉ huy Thiết giáp M-26 của cộng quân, có 3 Tiểu Đoàn xe tăng đóng tại Phi trường Bù Đốp, chỉ cách Căn Cứ quân Việt Nam Cộng Hoà tại Sông Bé có 25 km. Bộ Chỉ huy Công binh của COS Việt Nam cũng đặt tại Bố Đức với 3 Tiểu Đoàn, mở rộng các đường lưu thông giữa Lộc Ninh và Bù Gia mập. Các Tiểu Đoàn Phòng không, Vận tải, Tiếp liệu… di chuyển vào Khu tạm chiếm, nằm trong tầm bắn của Pháo Binh Việt Nam Cộng Hoà đóng tại Phước Bình (Sông Bé). Ngoài ra 4 con đường tiếp liệu, xâm nhập chiến lược của cộng quân, đi qua Phước Long, từ Bắc xuống Nam, vòng qua các Cứ Điểm nơi quân Việt Nam Cộng Hoà trấn đóng và vượt các đoạn đường mà quân Việt Nam Cộng Hoà tuần tiễu!
Mùa Hè 1974, Phước Long yên ổn. Tháng 8/1974 một hồi chánh viên, ra hàng tại Tiểu Khu Phước Long cung khai cho biết cộng quân đã gửi 2 toán trinh sát thăm dò các Căn Cứ của Việt Nam Cộng Hoà: một toán trinh sát Sông Bé và một toán thăm dò Đức Phong. Vì sau đó không thấy cộng quân tấn công nên Đại Tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh Trưởng cho rằng các hoạt động trinh sát này của cộng quân chỉ nhẳm mục đích tìm đường vận chuyển tiếp liệu quân sự và lương thực… hơn nữa theo tin tức tình báo thì cộng quân chưa tập trung đủ quân trong vùng để đe doạ trực tiếp Phước Long (?), tuy vẫn có thể gây trở ngại cho các cuộc di chuyển của quân Việt Nam Cộng Hoà trên các đường lộ dẫn đến Tỉnh lỵ Sông Bé: như Quốc lộ 14 đi Quảng Đức, và các Tỉnh lộ nối Sông Bé với Bù Na.
Sư Đoàn 7 cộng sản bắc Việt cắt đường giữa Buna đi Đồng Xoài nên phải dùng lối Quảng Đức rất xa và nhiều trở ngại. Đồng Xoài chỉ nhận tiếp vận bằng trực thăng… Cộng quân đóng chốt liên tục trên Quốc lộ 14, phía Đông Phước Bình - Sông Bé nên quân Việt Nam Cộng Hoà phải mở các cuộc hành quân khai thông mỗi khi muốn chuyển vận tiếp liệu và thực phẩm vào Thị xã Sông Bé. Nhu cầu gạo của Tỉnh mỗi tháng khoảng 500 tấn, địa phương chỉ tự canh tác được chừng 200 tấn, phần còn lại phải vận chuyển vào Tỉnh bằng xe vận tải. Lực lượng trú phòng giữ mức tồn trữ đạn đủ dùng trong một tuần trong trường hợp đánh lớn và đạn dự trữ phải được cung cấp liên tục…
Việt Nam Cộng Hoà phải dùng các C-130 để phụ thêm cho nhu cầu… (xem tổn thất C-130 phần trên). Để dự trù chuyến tiếp liệu vào tháng 11 năm 1974, Đại Tá Thành cho khai thông Quốc lộ. Để bảo vệ các Cứ Điểm trong lúc các đơn vị Địa Phương Quân trú phòng tham dự cuộc hành quân mở đường, Quân Đoàn III, không còn quân Bộ Binh trừ bị, đành gửi cho Phước Long 3 Đại Đội Trinh sát, lấy từ quân số của 3 Sư Đoàn (5, 18 và 25) thống thuộc Quân Đoàn, Các lực lượng Địa Phương Quân của Đức Phong gồm Tiểu Đoàn 362 Địa Phương Quân, 4 Trung Đội Nghĩa quân, một Trung Đội Pháo 105 phối hợp cùng 2 Đại Đội của Tiểu Đoàn 340 Địa Phương Quân (Sông Bé) được rải dọc Quốc lộ 14. Trong một cuộc đụng độ gần biên giới Quảng Đức, lực lượng này hạ được 4 cộng quân thuộc Trung Đoàn 201 bắc Việt, tân lập (thuộc Sư Đoàn 3 cộng sản bắc Việt cũng tân lập riêng cho Phước Long)… Tuy cuộc hành quân mở đường thành công nhưng dấu hiệu có mặt của một Trung Đoàn cộng quân trong vùng Đức Phong đã đặt một câu hỏi nghiêm trọng! Ngoài hai Tiểu Đoàn 340 và 362 Địa Phương Quân trên, Đại Tá Thành còn có Tiểu Đoàn 341 Địa Phương Quân tại Đồng Xoài và Tiểu Đoàn 363 Địa Phương Quân tại Bù Na, thêm vào đó là 34 Trung Đội Nghĩa quân phòng vệ cho các Ấp quanh Sông Bé, trong đó 14 Trung Đội lo phòng thủ 8 Ấp thuộc Chi Khu Đức Phong, 9 Trung Đội phòng vệ các Xã Ấp quanh Đồng Xoài… Toàn Tỉnh được yểm trợ bởi 4 khẩu 155 và 16 khẩu 105… mỗi Chi Khu còn có 2 khẩu 105… cộng quân chính thức tấn công Phước Long ngày 13 tháng 12, 1974… và Phước Long thất thủ ngày 6 tháng Giêng 1975.
Trần Lý 1/2020
Le Yen
sau Paris 73 miền nam VN yếu dần : cắt viện trợ, không quân Mỹ hết yểm trợ, các chiến thuật chiến lược vụn vặt, tướng tá kém vì ô Thiệu ô Viên thụ động , vài sq giỏi bị trói tay

Sunday, March 10, 2019


Những kỷ niệm về trung đoàn 7 sư đoàn 5 bộ binh .


Lộ trình từ Sài Gòn đi Phước Long qua Phú Cường , Bến Cát , Lai Khê , Chơn Thành , Đồng Xoài , Phú Riềng , Hiếu Phong  . 


Để tưởng nhớ Phạm Văn Thẩm và Tôn Thất Nguyện
Kỳ 1: TRÌNH DIỆN ĐƠN VỊ

Đã 38 năm từ ngày rời mái trường mẹ!
Chúng tôi, khóa 2: 7 người được thuyên chuyển về Trung đoàn 7, Sư đoàn 5 bộ binh gồm Lý Văn Tài, Phạm Văn Thẩm, Đinh Văn Chương, Tôn Thất Nguyện, Nguyễn Văn Hoàng (Tarzan), Huỳnh Ngọc Thành (Laba) và tôi.

Sau hai tuần lễ ở Bộ tư lệnh Sư đoàn để đi tham quan sinh hoạt tại một số đơn vị cho chúng tôi có một khái niệm về thực tiễn, chúng tôi được cấp sư vụ lệnh về trình diện Trung đoàn.

Sư đoàn 5 Bộ binh, một trong ba sư đoàn chủ lực của Quân đoàn III, ngoài Sư đoàn 18 và 25, phụ trách một vùng trách nhiệm gồm ba tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long, với những mật khu nổi tiếng Hố Bò, Long Nguyên, Tam giác Sắt... Đây cũng là cứ địa Chiến khu D, sào huyệt của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam với nhiều ngõ ngách giao liên chằng chịt. Chúng lợi dụng địa thế hiểm trở, rừng núi chập chùng, để chuyển vận binh lính và vũ khí xâm nhập từ Kampuchia vào miền Nam Việt Nam.

Cũng nên nhấn mạnh, Sư đoàn 5 Bộ binh là sư đoàn đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tiếp nhận các sĩ quan CTCT khóa I như một thí điểm xử dụng tại đơn vị tác chiến. Mặc dù có bỡ ngỡ bước đầu, những con chim đầu đàn của trường mẹ đã thích ứng nhanh chóng với chiến trường, tạo những thành tích vẻ vang khiến các đơn vị trưởng đã phải thay đổi cái quan niệm đánh giá về sĩ quan CTCT trước đây. Cho tới ngày mất nước, một số niên trưởng tại SĐ5BB đã anh dũng hy sinh để không làm hổ thẹn mái trường thân yêu đã đào tạo họ như Nguyễn Hữu Cung, Lê Bách Việt, Quách Kế Nhơn...

Có lẽ thời gian đã quá lâu, một số kỷ niệm không còn chính xác lắm. Bảy đứa chúng tôi về trình diện hậu cứ Trung đoàn 7, sau khi thỏa thuận tự gia hạn cho mình thêm một tuần lễ phép, lúc đó còn đóng tại một căn cứ cũ tại Bình Dương, sau chuyển về Phú Giáo. Chỉ huy hậu cứ, Đại úy Mão, một người bề ngang thì có bề dài thì không, nhìn chúng tôi với cặp mắt không mấy thiện cảm, đám sĩ quan vừa mới ra trường đã ba gai, ông chờ chúng mày cả tuần lễ rồi chả thấy đứa nào, vậy là “ba gai tập thể “ đấy. Được rồi, ông ta cất giọng:
- Tôi nhận công điện cả tuần lễ rồi, sao bây giờ các anh mới trình diện?
Im lặng một lúc, thấy không ai lên tiếng tôi đành vả lả:
- Đại úy thông cảm, chúng tôi học ở quân trường quá lâu, mãn khóa chỉ có hai tuần phép, ít quá. Ra đơn vị tác chiến, không biết khi nào mới có dịp nữa...
Có lẽ không muốn mất thì giờ nghe tôi giải thích, ông ta cắt ngang:
- Các anh lên trình bày với Trung đoàn trưởng, bây giờ cho tôi xem căn cước quân nhân.
Nói xong, ông bước lại góc phòng, nơi có đặt một máy liên lạc truyền tin báo về trung đoàn gì đó. Tôi nghĩ ông ta cần căn cước quân nhân để ghi chép các chi tiết vào hồ sơ cá nhân nên móc bóp lấy. Sáu người còn lại cũng vội vàng làm theo. Thu bảy cái căn cước xong, ông ta lấy một sợi giây thun cột chung mấy cái căn cước bỏ vào ngăn kéo và bảo:
- Các anh xuống dãy nhà phía sau kiếm chỗ ngủ. Tôi đã điện lên Trung Tâm Hành Quân, nay mai, khi nào có trực thăng, các anh lên Phước Long.
Một ý nghĩ thoáng nhanh trong đầu, tai sao ông ta không coi căn cước của chúng tôi nếu cần ghi lại những chi tiết gì đó vào hồ sơ cá nhân? Tôi phản ứng ngay:
- Đại úy làm ơn cho chúng tôi xin lại căn cước.
- Không được, lệnh của Trung đoàn trưởng.
Mặc dù không để ý ông ta đã liên lạc với trung đoàn những gì, nhưng tôi suy đoán không thể có cái lệnh đó. Ông ta sợ chúng tôi, với cái tính bai gai cố hữu, có thể dọt bất cứ lúc nào vì trực thăng chưa chắc gì đã có trong vòng vài ngày nữa! Nếu chờ đợi vài ngày không có phương tiện, tụi tôi buồn buồn có thể biến dạng như chơi. Ông ta sẽ trả lời sao với trung đoàn? Nhưng đó là việc của ông ta, chúng tôi cũng cần thể diện. Lịch sự nhưng vẫn dõng dạc, dù chả ai trong nhóm cử tôi làm đại diện, tôi cất tiếng:
- Thưa Đại úy, chúng tôi không phải tân binh quân dịch. Chúng tôi, những sĩ quan hiện dịch, xuất thân từ trường Đại Học CTCT Đà Lạt, không vì bất cứ lý do gì Đại úy lại giữ căn cước quân nhân của chúng tôi.
- Tôi chỉ làm theo lệnh trung đoàn. Muốn gì các anh lên đó khiếu nại.
Nóng mặt, chả cần suy nghĩ, tôi phạng lại:
- Xin lỗi Đại úy, đã đến đây, chúng tôi cũng muốn nhanh chóng có phương tiện để về đơn vị mới, thời gian với gia đình cũng đã đủ. Nhưng vì Đại úy đã coi chúng tôi giống như những tân binh quân dịch, nên chúng tôi xin báo cho Đại úy biết, chúng tôi sẽ đi thêm một tuần nữa. Đại úy đừng tưởng không có căn cước chúng tôi sẽ không dám đi đâu.
Không cần để ý tới phản ứng của ông Đại úy chỉ huy hậu cứ trung đoàn, tôi quay sang các bạn:
- Chúng mình về chơi thêm. Đúng ngày này tuần sau gặp lại ở đây.
Câu nói của tôi phát ra nhanh quá, các bạn nhìn tôi rồi quay sang nhìn nhau như dọ hỏi ý kiến lẫn nhau. Không để cho họ bày tỏ thái độ trước mặt lão Đại úy, tôi kéo bọn họ ra khỏi phòng. Cái phong cách dõng dạc nhưng không kém phần quyết liệt của tôi có lẽ làm anh em ngạc nhiên phần nào, nhưng trước sự việc đã rồi, họ đành chấp nhận!

Chia tay nhau để rồi sau đúng một tuần chúng tôi lại gặp lại ở đây. Lần này chúng tôi thiếu một người: Lý Văn Tài. Lúc đó tôi chỉ cho rằng Tài còn muốn nghỉ thêm. Sau này được biết Tài đã thu xếp sao đó để được về phục vụ tại một đơn vị Hành chánh tài chánh nào đó.

Ông chỉ huy hậu cứ trung đoàn có lẽ đã quá chán ngán với đám sĩ quan ba gai tụi tôi nên cũng chẳng thèm nói chuyện. Cho một tay trung sĩ xuống bảo tụi tôi chuẩn bị sẵn sàng, sáng hôm sau sẽ có GMC chở bằng đường bộ lên Phước Long thay vì trực thăng bốc như lần trước.

Đúng 6 giờ sáng, còn đang ngái ngủ, chúng tôi bị đánh thức bởi tiếng xe hai chiếc GMC đang nổ máy, tiếng con nít khóc, tiếng léo nhéo của mấy bà vợ lính kêu réo nhau lên xe đi thăm chồng, tiếng chuyển đồ đạc lịch kịch lên xe... Chúng tôi lật đật thu xếp ba lô, làm vệ sinh cá nhân thật nhanh và kéo ra sân. Trong cảnh mờ sáng mờ tối, tôi chỉ kịp nhận thấy hai chiếc xe nhà binh mười tám bánh, một mới một cũ đang nổ máy, khói phun mù mịt, không kịp tan trong sương lạnh vẫn còn dày đặc. Chiếc xe trước, còn mới toanh, gia đình vợ con lính đã leo lên ngồi đầy chặt. Chiếc sau coi thật bệ rạc, chất hàng chuyển lên trung đoàn cũng gần đầy ắp, chúng tôi đành leo lên. Chỉ còn được ba chỗ ngồi. Thẩm, Chương và Nguyện may mắn, còn lại ba đứa đành đứng vịn thành xe!

Đường bộ từ Bình Dương lên Phước Long theo quốc lộ 13 vế phía bắc, ra khỏi châu thành độ mười cây số đến ngã Ba Sở Sao, chạy thẳng thì lên Bến Cát, Lai Khê (Căn cứ Bộ Tư Lệnh SĐ5BB), Chơn Thành, Bình Long, Lộc Ninh..., tách ra bên phải là Liên tỉnh lộ 13A, đi về Phú Giáo (Hậu cứ trung đoàn 7BB sau này), Đồng Xoài, Bù Nho, Phước Bình, Phước Long, Bù Gia Mập...

Lô trình dài khoảng hơn hai trăm cây số, hai bên là cao su. rừng tre, rừng già... cây cối nhiều đoạn thò ra tận ngoài đường lộ. Đường tráng nhựa chỉ tới được Phú Giáo, Phước Vĩnh, còn lại là đất đỏ, nắng thì bụi mịt mù, mưa thì sình lầy trơn trượt, thật nguy hiểm khi chạy qua những khúc lên đồi xuống dốc, uốn khúc quanh co. Đoàn xe chạy khoảng một tiếng, đang qua ấp Nhà Đỏ, gần cầu Sông Bé, chiếc đầu còn mới nên chạy khá nhanh, bỏ xa xe chúng tôi cả gần cây số vì đường lộ khúc này Mỹ làm rất tốt, thình lình, vì đứng và nhìn về phía trước, tôi thấy chiếc xe trước đảo qua đảo lại rồi lộn tung hai ba vòng lật văng vào lề đường. Qua đám bụi mờ từ xa, tôi thấy bóng đàn bà, con nít tung lên ra khỏi thành xe, rớt xuống, cùng với mớ hành lý bay còn cao hơn!

Khi xe chúng tôi vừa tới, không kịp chờ xe thắng lại hẳn, chúng tôi cùng một số binh sĩ trên xe nhảy vội xuống. Ngoài tài xế bất tỉnh, nhưng người còn lại đều trầy trụa xây sát nhưng cũng may không có ai trầm trọng. Đồ đạc trên xe chúng tôi được vất xuống lấy chỗ khiêng những người bị thương chở về bệnh viện Bình Dương. Còn lại, chúng tôi ngồi bên vệ đường chờ hơn hai tiếng sau, cũng chiếc xe cũ kỹ đó quay lại đón chúng tôi về lại hậu cứ.
Sáng hôm sau nữa, cũng bằng phương tiện GMC, chúng tôi được chở lên Bộ chỉ huy trung đoàn, lúc đó đóng tại một căn cứ dã chiến, sát sân bay Phước Bình, dưới chân núi Bà Rá. Tới nơi đã gần 5 giờ chiều. Ban 1 trung đoàn giao chúng tôi cho hai niên trưởng khóa I: Minh “Móm” và Chiếu “Mù” thuộc khối CTCT trung đoàn tiếp nhận chờ ngày sau trình diện Trung đoàn trưởng.

Lần đầu tiên từ khi ra trường, khóa I có được mấy chú đàn em về tiếp sức, hai niên trưởng Minh và Chiếu tiếp đãi chúng tôi thật ân cần. Sau khi về phòng bỏ tạm hành lý, hai niên trưởng dẫn chúng tôi ra câu lạc bộ dã chiến trung đoàn.

Gọi là phòng cho lịch sự, thật ra đó là dãy những thùng đạn pháo binh được sắp xếp chồng lên nhau, bên ngoài phủ những lớp bao cát để chống pháo kích, diện tích chưa tới năm mét vuông, chỉ vừa kê đủ hai chiếc ghế bố và một cái bàn bằng những thùng đạn pháo binh gá ghép lại!
Câu lạc bộ dã chiến trung đoàn còn thê thảm hơn. Rộng khoảng mười thước vuông, cũng bằng những thùng đạn pháo binh xếp chung quanh, ngoài phủ bao cát, mái là một tấm tăng lớn, chống lên cao nhờ một cây cột ở giữa, tứ phía là những sợi giây để căng tấm bạt cột vào những cọc sắt đóng sát mặt đất. Nhân viên phục vụ chả ai khác hơn ba anh lính thuộc đại đội công vụ trung đoàn dưới sự điều hành của tay Thượng sĩ thường vụ.

Biết chúng tôi đói bụng qua một đoạn đường dài vất vả, hai niên trưởng gọi cho chúng tôi mấy tô mì gói vì hủ tíu chỉ sáng sớm mới có. Qua trao đổi chuyện trò trong lúc ăn, chúng tôi được biết còn một số niên trưởng khác cũng thuộc trung đoàn nhưng đang ở ngoài các tiểu đoàn tác chiến 1, 2, 3 và 4. Niên trưởng Minh trước ở đại đội 7 trinh sát, niên trưởng Chiếu mới được đưa về từ TĐ2/7, niên trưởng Rang TĐ3/7, niên trưởng Việt đã xuất ngành đang giữ chức vụ đại đội trưởng ở TĐ3/7, niên trưởng Vững trưởng ban 5 TĐ4/7, niên trưởng Thiện TĐ1/7 và niên trưởng Thành trưởng ban 5 TĐ2/7, niên trưởng Cung vừa tử trận tại Snoul. Chúng tôi rất yên tâm khi đã có những đàn anh đi trước hướng dẫn tình hình.

Bữa ăn chấm dứt sau đó vì chúng tôi cũng đã mệt với cuộc hành trình một phần, nhưng cũng vì cảnh nghèo nàn thực phẩm của cái câu lạc bộ dã chiến nên xin từ chối phần nhậu kế tiếp. Theo sự sắp xếp của trung đoàn, hai niên trưởng dẫn chúng tôi về một cái bunker nổi kế vọng gác ngoài cổng căn cứ thu xếp chỗ ngủ. Căn hầm đủ rộng cho sáu người trải poncho xuống nằm. Tôi trằn trọc suy nghĩ về những ngày mới lạ đang chờ đón rồi cũng thiếp đi trong giấc ngủ lúc nào không hay.

Bảy giờ sáng hôm sau, niên trưởng Minh đánh thức chúng tôi dậy dẫn lên câu lạc bộ, niên trưởng Chiếu đã có mặt. Chúng tôi ai ăn gì gọi nấy. Nửa tiếng cà phê thuốc lá chưa chấm dứt, một anh trung sĩ bước vào bảo chúng tôi lên trình diện Trung đoàn trưởng. Theo chân anh ta, bước vào phòng, chúng tôi đứng nghiêm chào tay và trình diện tên họ, số quân, cấp bậc từng người. Chờ chúng tôi chấm dứt, Trung tá trung đoàn trưởng Phan Đình Niệm, đanh sắc mặt, phán cho chúng tôi một tràng huấn thị. Đã quá lâu, tôi không còn nhớ được từng chi tiết. Đại khái chúng tôi làm hổ danh sĩ quan hiện dịch, vô kỷ luật, làm sao có thể chỉ huy thuộc cấp sau này... Ông không lớn giọng, không quát tháo nhưng thật thấm thía. Và cuối cùng, để cảnh cáo, dù không muốn phạt trọng cấm, ông ra lệnh nhốt chúng tôi bẩy ngày trước khi phân phối đơn vị.

Cũng anh trung sĩ đưa chúng tôi về lại căn hầm ngoài vọng gác. Lần này, anh ta sau khi đóng cánh cửa, lấy ra một ổ khóa, khóa lại bên ngoài. Chúng tôi chẳng biết làm gì hơn, nằm tán dóc cho qua thời giờ. Mười hai giờ trưa, có tiếng mở cửa, một anh lính đem đến cho chúng tôi những dĩa cơm phần từ câu lạc bộ rồi trở ra khóa cửa lại sau khi dặn sẽ trở lại thu dọn, ai cần mua gì đưa tiền anh sẽ mua hộ. Buổi chiều, đúng năm giờ, cảnh này tái diễn, nhưng lần này có thêm hai niên trưởng Minh, Chiếu xuất hiện. Họ an ủi chúng tôi đừng lo, họ sẽ tìm cách cho chúng tôi ra ngoài ngày mai chứ bữa nay chưa được vì 44 (danh hiệu Trung đoàn trưởng) còn đang nóng giận.

Thực tình mà nói, những anh lính làm nhiệm vụ ở đây, họ rất lễ phép với chúng tôi dù chúng tôi đang bị phạt. Sau này tôi hiểu được, họ phòng xa, lỡ một ngày đẹp trời nào đó... họ bị đì ra các đại đội tác chiến, chắc chắn họ sẽ gặp lại một trong những ông thần đang nằm tại đây!

Quả thực như hai niên trưởng khóa I đã nói, sáng hôm sau, không biết bằng cách nào, đến bảo chúng tôi chuần bị ra ngoài thị xã Phước Long chơi. Chúng tôi leo lên một chiếc xe dodge của toán chính huấn thuộc đại đội 301 CTCT Biên Hòa, đang công tác tại trung đoàn 7BB. Từ căn cứ dã chiến này ra tới thị xã độ khoảng 6, 7 cây số đường đất đỏ, nhà dân rải rác thưa thớt, có những đoạn rất quanh co nguy hiểm. Chính trên con đường này, niên trưởng Rang, TĐ 3/7, đã bị bấm mìn tử nạn chỉ cách căn cứ độ hơn cây số vài tháng sau đó.

Thị Xã Phước Long, chu vi chưa tới vài cây số vuông, dăm ba con lộ chính trải nhựa, còn lại vẫn đất đỏ. Mùa mưa thì lầy lội, nắng bụi bay mù mịt, nhà cửa tiệm tùng lúc nào cũng phủ một màu đỏ đất. Dân số, trừ một ít buôn bán làm ăn lên đây lập nghiệp, đa số là vợ con công chức, quân nhân thuộc tiểu khu, vì vậy rất thưa thớt nếu không kể đến một số đồng bào thượng với nhiều sác dân sống rải rác chung quanh, hàng ngày vẫn tụ họp về thị xã mua bán đổi chác các vật dụng cấn thiết. Ngoài căn chợ nhỏ, sinh hoạt thị xã tóm gọn với những quán ăn, tiệm cà phê nhạc, vài tụ điểm bi da và mấy quán nhậu. Đó là nơi lính tráng thường lui tới để tìm khuây sau những ngày hành quân dài trong rừng rậm, dù những ngày này cũng chẳng được bao nhiêu!

Chúng tôi trải qua một ngày đầu tiên tại vùng đất mới, sau một chầu ăn sáng hủ tíu, mì... Ghé vào một quán cà phê, tiếp đãi không ai khác hơn là một cô gái, con chủ, nhan sắc không sắc sảo lắm, nhưng ở cái tỉnh lỵ nhỏ bé thế này thì cũng được liệt vào hạng hoa khôi rồi. Chả có ai phụ bàn vì có lẽ khách cũng chả lắm khi đông đúc! Được cái cà phê khá ngon vì đưa thẳng từ Ban Mê Thuột về qua đường Quảng Đức rất gần. Đến trưa, chúng tôi ghé vào một quán nhậu cách đó vài căn. Món nhậu ở đây khá phong phú, đũ các loại thịt rừng: nhím, heo, chồn, rắn, trúc... Hai món tôi rất thích là chồn hương nướng và trúc xào lăn. Thịt chồn hương tự nó đã có một mùi thơm khó tả, còn trúc xào lăn, da của nó dòn sần sật cũng thật là độc đáo, nuốt miếng nào khoái khẩu miếng đó! Chúng tôi, đứa nào cũng có một ít tiền thủ túi vì chưa biết chứng nào mới được phát lương, thế là vung vít gọi món ăn với một két bia 33 chai lùn. Vì là ngày thường, quán chỉ có mỗi bàn chúng tôi. Vừa nhậu, chúng tôi vừa hỏi thăm tình hình chiến sự, nhân số các niên trưởng khóa I phân phối về trung đoàn... Ngoại trừ Thành Laba uống cô ca, chúng tôi ai cũng uống bia. Bữa nhậu qua đi thật nhanh nhưng không thể kéo dài. Bốn giờ chiều chúng tôi phải trở về căn cứ, trễ hơn tình hình an ninh không bảo đảm trên đoạn đường xa 6, 7 cây số. Sau khi chia nhau trả tiền chúng tôi theo hai niên trưởng leo lên xe quay về căn cứ.

Sáng hôm sau, niên trưởng Minh sắp xếp cho chúng tôi đi một vòng ngoạn cảnh với toán Chính Huấn của Đại đội 301 CTCT. Toán trưởng, một Thiếu úy đón chúng tôi bằng chiếc xe Dodge cơ hữu, phụ tá là một trung sĩ với một hạ sĩ tài xế, tôi đã quên tên tất cả vì đã quá lâu. Sau khi ăn sáng, uống cà phê ở một tiệm hủ tíu mì, chúng tôi lên xe đi thăm thác Đức Mẹ cách thị xã khoảng 4 cây số theo lộ trình đi Bù Gia Mập, về hướng đông bắc. Lúc đó độ khoảng hơn 10 giờ, xe chạy phon phon vì giao thông rất vắng, đường lại đang đổ dốc. Tay thiếu úy ngồi phía trước cạnh tài xế. Sáu đứa chúng tôi chia nhau hai hàng ghế phía sau với anh trung sĩ phụ tá ngồi sát trên cùng ngay sau lưng tài xế.
Thình lình, chúng tôi nghe tiếng đạp thắng gấp và cảm thấy chiếc xe trợt bằng bốn bánh trên lớp sỏi, lao khá nhanh xuống dốc. Chỉ quan sát được phía đàng sau chiếc xe, tôi thấy cát bụi cuộn lên mù mịt hút ngược lên thùng xe chỗ chúng tôi ngồi và rồi chiếc xe lộn đi mấy vòng không biết nữa, chúng tôi bị quẳng ra khỏi xe la liệt trên mặt đất. Tôi may mắn ngồi ngoài, cuối cùng nên văng ra khỏi xe đầu tiên. Vừa định hồn đứng dậy, tôi thấy bóng Chương mờ mờ, vì cặp kính cận đã văng đâu mất, đang kẹt dưới một bánh xe phía sau của chiếc Dodge, phản ứng không suy nghĩ, tôi lao lại nắm hai chân lôi ra trước khi cái trớn dốc có thể đẩy chiếc xe lùi lại đè Chương bẹp dí! Một vài phút sau tỉnh táo, dáo dác đảo mắt tìm được cái kính đeo vào, kiểm điểm tình hình, tôi mới nhận ra chúng tôi còn quá may mắn! Anh tài xế lái khá nhanh, gặp khúc quanh hơi gấp nên thắng bớt, không ngờ đường đổ dốc, bánh xe không lăn mà cứ thế trượt trên những lớp sỏi sạn của đường núi đất đỏ và bị hất tung ra khỏi con đường.
Cái may tôi muốn nói ở đây, nhờ cái xe tuột quá nhanh nên bị hất văng vào một bãi đất trống cạnh thác Đức Mẹ. Chỉ cần chậm hơn một chút cả chiếc xe đã lao xuống vực thẳm của thác và chắc chắn chúng tôi không có mạng nào nguyên vẹn. Chúng tôi, ngoại trừ Chương bị choáng váng còn năm yên trên mặt đất, những người khác chỉ xây sát nhẹ. Toán chính huấn không may mắn như vậy. Trưởng toán bị kính phía trước bể khiến đầu và mặt nhiều chỗ trầy trụa. Anh tài xế bị tay lái ép mạnh vào lồng ngực còn đang bất tỉnh. Anh trung sĩ phụ tá là người xấu số nhất, bị một thanh gỗ ngang trên nóc xe gẫy, khi xe lộn mấy vòng, đâm sâu vào đầu đã tử nạn tại chỗ.

Khoảng mười lăm phút sau, một chiếc Honda từ hướng Bùi Gia Mập chạy qua. Chúng tôi chận lại nhờ ghé qua bệnh viện tiểu khu báo tin xin xe cứu cấp. Chờ thêm nửa tiếng nữa xe cứu thương mới xuất hiện. Cùng với nạn nhân chúng tôi cũng leo lên xe theo về thị trấn. Tới sân bệnh viện tiểu khu, hai niên trưởng Minh, Chiếu đã có mặt cùng với thiếu tá Tăng, trưởng ban 3 trung đoàn. Chương được đưa vào phòng cấp cứu cùng với tay thiếu úy trưởng toán chính huấn.
Mười phút sau Chương trở ra, không có gì nghiêm trọng. Không biết ông thiếu tá trưởng ban 3 bàn nhỏ gì với hai niên trưởng khóa I, niên trưởng Minh quay sang dặn tụi tôi coi như không có chuyện gì xảy ra và bảo tụi tôi lên xe về căn cứ ngay sau đó.
Thì ra, các sĩ quan ban tham mưu trung đoàn cũng thông cảm với chúng tôi, dấu Trung đoàn trưởng, để chúng tôi lén ra ngoài thoải mái ít ngày trước khi được bổ nhiệm đơn vị chính thức. Nào ngờ tai nạn xảy ra. Các ngài phải dấu nhẹm và đồng thời dặn chúng tôi không được hó hé! Có lẽ vì thế, sáng hôm sau, còn đang ngồi nhâm nhi cà phê tại câu lạc bộ, chúng tôi được gọi lên văn phòng nhận lệnh bổ nhiệm. Thẩm về TĐ1/7, Nguyện và Chương TĐ3/7, Thành Laba, Hoàng Tarzan TĐ4/7, tôi TĐ2/7.

Tất cả ba tiểu đoàn kia đang hoạt động tại Phước Long. Riêng TĐ2/7 tăng phái cho chiến đoàn 8 (Trung đoàn 8, SĐ5BB cộng thêm thiết giáp, pháo binh...) đang hành quân tại Snoul, Kampuchia. Thẩm may mắn nhất, về làm đại đội phó cho một thiếu úy trẻ gốc người Nùng, tên Châu Cẩm Sáng, đại đội này đang giữ an ninh vòng đai phi trường Phước Bình ngay sau lưng căn cứ dã chiến trung đoàn. Sở dĩ tôi còn nhớ được tên họ của tay đại đội trưởng này vì cái họ khá đặc biệt.
Sau này tôi mới rõ, SĐ5BB từ khi thành lập, đã có rất nhiều binh sĩ người Nùng gia nhập vì họ thù cộng sản. Do đó tinh thần chiến đấu của họ rất cao, cộng thêm sự gan dạ, sức chịu đựng dẻo dai bền bỉ của dân tộc miền sơn cước, Sư đoàn 5 Bộ Binh đã khiến cộng quân phải gờm mặt sau nhiều lần đụng độ. Sáng lái xe đón Thẩm về đại đội chỉ mười lăm phút sau khi bổ nhiệm.
Buổi trưa, TĐ3/7 cho người về đón Chương và Nguyện. Trên xe Jeep bước xuống một trung úy trẻ măng, dây ba chạc mang trên người nhưng để lỏng không cài, nón sắt với một lớp vải ngụy trang bằng vải rằn ri, bó lại bởi một sợi thun dẹp màu xanh cùng với một hộp chữ nhật nhỏ phía trong, hộp băng cứu thương cá nhân. Cặp chiếc nón sắt dưới nách ông trung úy trẻ bước lại gần chúng tôi, miệng cười cười tự giới thiệu:
- Tôi, Lê Bách Việt, khoá I...
Chúng tôi cùng một lúc khép mạnh hai chân, giơ tay lên chào vị niên trưởng thứ ba mà chúng tôi gặp tại trung đoàn. Sau một lúc trò chuyện, chúng tôi được biết niên trưởng Việt đang giữ chức vụ đại đội trưởng tại TĐ3/7. Chương và Nguyện đưa mắt nhìn nhau. Biết ý, niên trưởng Việt quay sang họ bảo:
- Hai anh đều là đàn em. Tôi không muốn thiên vị, vả lại tôi cũng không biết riêng gì hai anh trước đây nên đã trình tiểu đoàn trưởng để ông ấy quyết định. Kết quả là anh Nguyện về làm đại đội phó cho tôi, đại đội 9, còn Chương về đại đội 10. Tiểu đoàn còn một niên trưởng nữa, niên trưởng Rạng, đang làm trưởng ban 5. Tiểu đoàn đang đóng ở Bù gia mập, cách đây hai chục cây số.
Thêm một lúc hỏi han chuyện vãn, niên trưởng Việt cáo từ hẹn có dịp sẽ gặp sau vì đường về khá xa, dẫn theo Chương và Nguyện.

Khoảng hơn một tiếng sau, TĐ4/7 cho xe tới đón Thành và Hoàng. Tiểu đoàn này đang đóng tại Bù Nho, phía nam quận Phước Bình khoảng 8 cây số. Người đón là một thượng sĩ ban 1. Sau khi dọ hỏi chúng tôi được biết tiểu đoàn này cũng có một niên trưởng khóa I: Vương Trọng Thiện, trưởng ban 5.

Mọi người đi hết, tôi nằm lại một mình trong cái bunker cạnh cổng chờ đợi có trực thăng bốc về đơn vị mới. Ba ngày ròng rã trôi qua, chả thấy ai réo gọi. Ban ngày, tôi leo lên xe lam chở khách ra thị xã, lang thang cho đỡ buồn, vì hai niên trưởng Minh, Chiếu đều có công việc của họ. Tối kéo nhau ra câu lạc bộ hoài cũng nhàm chán. Buổi tối, nằm vắt tay lên trán suy nghĩ miên man. Những ngày đám khóa 2 tụi tôi tụ họp ở đây thật ngắn ngủi, chưa biết khi nào có dịp gặp lại nhau tuy cùng chung một trung đoàn. Những ngày ngắn ngủi này cho tôi một ấn tượng về từng người một. Chương lầm lì ít khi mở miệng, tính khí có vẻ cọc cằn, khó thân cận. Thành Laba, miệng lúc nào cũng oang oang, cái gì cũng biết, nhưng có lẽ trăm voi không được bát nước xáo! Nguyện hơi bộp chộp, gần như nhanh nhẩu đoảng, nhưng thẳng thắn tốt bụng. Hoàng Tarzan, có lẽ cái biệt danh anh em trên trường đặt cũng khá chính xác. Hoàng rất nóng tính, có lẽ bản chất thật thà bộc trực của người nam bộ, nhưng sức chịu đựng thì rất khá. Bằng cớ là hôm bị lật xe, Thành la bai bải, Nguyện nhăn nhăn nhó nhó, Chương luôn miệng kêu đau. Tôi nghĩ Thẩm, Hoàng và tôi không có gì. Tối về Hoàng vén áo, chỉ cho tôi thấy, nguyên một mảng da lưng bị trầy trụa khá nặng! Riêng Thẩm, một mẫu người khá đặc biệt. Da ngăm ngăm đen, đôi môi hơi thâm giống như dân hút thuốc phiện lâu đời, nhưng miệng lúc nào cũng chúm chím mở nụ cười, thêm vào hàm răng không đều đặn lắm nhưng lại làm lộ cái răng khểnh khá có duyên. Có thể nói, Thẩm là tay tẩm ngẩm tầm ngầm chết voi. Không biết có em gái nào ở vùng hoạt động của chúng tôi chết vào tay Thẩm chưa, vì thực tình, tuy chung một trung đoàn, hầu như rất ít khi chúng tôi có dịp gặp nhau sau đó.

Hai hôm sau nữa, quá buồn, tôi ra thị xã, ghé trạm hàng không Air Việt Nam mua vé leo lên máy bay vù về Sàigon chơi thêm một tuần. Ngày tôi lên hậu cứ tiểu đoàn, một chiếc GMC về lấy đồ tiếp liệu cho tiểu đoàn, tôi tháp tùng theo. Trên xe, tôi gặp một niên trưởng nữa, niên trưởng Thành. Niên trưởng Thành, trưởng ban 5 tiểu đoàn, người trắng trẻo, tròn trịa tính tình vui vẻ. Hèn chi các niên trưởng ở đây gọi là Thành sữa. Sữa chỉ là vẻ bên ngoài, sống và tồn tại ở một đơn vị tác chiến hai năm trời không dễ dàng. Vả lại không phải tự dưng mà về làm trưởng ban 5. Niên trưởng Thành cũng đã từng có thời gian dài lặn lội ngoài các đại đội tác chiến. Sau khi trình diện tiểu đoàn trưởng, ở đây tất cả mọi người đều gọi bằng danh hiệu 92, mặc dù sau lưng cũng có một biệt danh “Cù lũ” Giảng. Nếu có bạn nào từng binh xập xám, chắc thừa hiểu cù lũ chỉ có thua mậu binh! Có lẽ ông tiểu đoàn trưởng này cũng thuộc loại có cựa.

Đó là một Đại úy, người to lớn bệ vệ, đầu gần như hói. Ông tiếp tôi trong căn hầm chỉ huy tuy không lớn lắm, nhưng dù ngồi, đầu ông cũng gần đụng tới nóc. Có lẽ trong thời gian vừa qua tiểu đoàn đụng địch liên miên. Tình hình chiến sự bên đây rất sôi động. Ta vừa phải bung quân lục soát, vừa phải giữ các yếu điểm, rải mỏng quân giữ trục lộ từ biên giới tới đây hơn chục cây số. Địch thì rình, đợi ta sơ hở tập trung lực lượng tập kích, lấy đông đánh ít. Sự tổn thất không thể tránh khỏi. Mới hai tuần trước khi tôi về đây, một niên trưởng đã ra đi vĩnh viễn: Nguyễn Hữu Cung. Tiểu đoàn trưởng, hỏi tôi vài câu lấy lệ, công điện từ trung đoàn đã đến từ lâu. Tôi cũng không phải là sĩ quan CTCT đầu tiên về đơn vị. Sau khi khuyên tôi cố gắng để nhanh chóng thích ứng, ông cho tôi về làm đại đội phó đại đội 7. Nhờ niên trưởng Thành dẫn tôi ra đại đội, ông với đưa cho tôi lệnh phạt 15 ngày trọng cấm của Trung đoàn trưởng!

Tôi theo niên trưởng Thành ra ngoài vành đai căn cứ, nơi đại đội tôi đang làm nhiệm vụ giữ an ninh. Cái căn cứ này rất nhỏ. Chu vi chưa tới 100 mét vuông, được xe công binh ủi thành hai vòng tròn đồng tâm, vách đất cao chừng hai mét, cách nhau độ hơn mười thước. Vòng trong là bộ chỉ huy tiểu đoàn, một trung đội pháo binh 105 ly với hai khẩu súng và một hầm đạn nổi chứa khoảng hai ngàn trái pháo. Vòng ngoài được tô điểm với những lô cốt nổi, cấu tạo bởi những thùng đạn pháo binh và bao cát, đó cũng là nơi lính trú ngụ. Phía ngoài là vài hàng concertina thả vòng quanh căn cứ. Xa chút nữa, trong khoảng chu vi hơn hai trăm thước, đất trống trải nhờ xe ủi đã san bằng để phe ta dễ dàng quan sát nếu địch dám bén mảng tiếp cận.

(Tiếp theo kỳ tới: Trên Chiến Trường Sôi Động)