Monday, September 28, 2026

 Hard to Believe . . . It's been 50 years! by

Tom Ross
Major (Retired)
U.S. Army Special Forces

To all of my friends at the 281st. I invite all of you to share the following with your families and friends. I don't believe any of you fully understand what you faced or what you accomplished 50 years ago . . . this week.

My very best to all of you.
Tom

On August 3, 1968, in the Republic of South Vietnam, three abused, but determined, mountain villagers escaped their Viet Cong and North Vietnamese Army captors and ran in search of help for their families and village.

After running and walking for almost two days, the three worn men found the remote My Loc Outpost belonging to American Special Forces (Green Berets) Detachment A-502. There, the men told stories of slavery, torture, and worse. Mang Quang, leader of the three, begged for help and told the Americans his family would be killed if he were not back in the village the next day.

An urgent radio call was placed to 1st Lieutenant, Tom Ross, A-502’s Operations and Intelligence Officer. Upon arriving at the outpost and after an in-depth debriefing of the three men, Lt. Ross determined that a rescue attempt by allied forces was warranted. However, if, as he had been told by Mang Quang, the family would be killed the next day and if it had taken the men two days to reach the outpost on foot . . . there was only one unit to which Lt. Ross could turn for help. The rescue team would have to be flown to the village and that would require the assistance of the 281st Assault Helicopter Company.

Lt. Ross immediately radioed the 281st with his rescue mission support request. In describing the mission, he didn’t hide any of the many dangers the men of the 281st would face if they accepted the mission. He explained that the rescue team would be flying far out into mountainous enemy territory into an undetermined landing zone where they would face an enemy unit of unknown size and strength. Among other things, he also explained that the only immediate support the team would have would be . . . whatever they could take with them.

After learning that the lives of innocent tribal Montagnard families were at risk, did any of the dangers described to the 281st scare them . . . not a chance! These were all men with deeply held family values. The response given to Lt. Ross’s request for assistance was immediate and clear . . . “Tell us where and at what time you need us. We’ll be there.” And, at sunrise on the morning of August 4, 1968 . . . they were there! Then, because the rescue mission became complicated with more families emerging from the thick jungle, they were there again on August 5th and yet again on August 10th.

On August 13, 1968, Walter Cronkite reported on the rescue in “The Valley of the Tigers” during his CBS Evening News program. When the mission was complete, the 281st had rescued 165 mountain villagers (men, woman, and children) from pain and suffering.

What members of the 281st may not know even today is that the Montagnard village served as an important relay station for the North Vietnamese Army’s infamous 18B Regiment. Only weeks after the rescue was complete, intelligence reports indicated that a company size element (125 – 150 men) arrived in the area of the village as the last few remaining members of the rescue team were being extracted after becoming stranded due to weather.

So, unknown to any of us at the time, it is extremely likely that the two Green Beret advisors along with 10 other South Vietnamese soldiers and the CBS TV crew would have been overrun and wiped out by the enemy unit had the 281st not flown through a storm to reach and rescue the stranded team.

Question: What can you say about men like these who so boldly disregard their own safety to save the lives of others?

Answer: I have been trying, quite literally, for 50 years to answer that question adequately. I was the rescue team commander, one of the two advisors left stranded in enemy territory, and the last one off the landing zone that day . . . thankful to be alive.

Over the half century since “The Rescue” . . . I have had the great privilege to speak to and about the men of the 281st Assault Helicopter Company. One of the many, many things I enjoy saying about them, each and every one, is that I am extremely proud to have seen them in action because they represent the very best our country has to offer when a call for help is received.

Tomorrow, August 10th, will be exactly 50 years since the men of the 281st risked their lives for a third time to rescue a village of primitive mountain tribesmen. Who they were didn’t matter. What mattered was that they were being hurt. The 281st ended that hurt. On the 50th anniversary of the rescue, these men deserve recognition for who and what they are . . . fearless American heroes. I feel quite certain that, because of their selfless courage, I owe them my life.

With great sincerity,

Thomas A. (Tom) Ross
Major, US Army Special Forces

rescued
The "after" photo at A-502 by Tom Ross.

___________________________________


Thật khó tin... Đã 50 năm trôi qua! –


Tom Ross

Thiếu tá (đã nghỉ hưu)

Lực lượng Đặc nhiệm Lục quân Hoa Kỳ


Gửi tất cả bạn bè tại Đơn vị 281. Tôi mong các bạn hãy chia sẻ những điều dưới đây với gia đình và bạn bè của mình. Tôi tin rằng không ai trong số các bạn thực sự hiểu hết những gì mình đã đối mặt hay những chiến công mình đã đạt được vào đúng tuần này của 50 năm về trước...


Chúc tất cả các bạn những điều tốt đẹp nhất.

Tom

Vào ngày 3 tháng 8 năm 1968, tại Việt Nam Cộng hòa, ba dân làng miền núi – những người đã chịu nhiều ngược đãi nhưng vẫn đầy quyết tâm – đã trốn thoát khỏi sự giam giữ của Việt Cộng và Quân đội Bắc Việt để đi tìm sự giúp đỡ cho gia đình và ngôi làng của mình.


Sau gần hai ngày di chuyển vất vả, ba người đàn ông kiệt sức đã tìm thấy Trạm tiền tiêu Mỹ Lộc hẻo lánh, nơi đóng quân của Biệt đội A-502 thuộc Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ (Mũ Nồi Xanh). Tại đây, họ đã kể lại những câu chuyện về cảnh nô lệ, tra tấn và những điều tồi tệ hơn thế. Mang Quang, người dẫn đầu nhóm, đã khẩn khoản cầu xin sự giúp đỡ và nói với phía Mỹ rằng gia đình anh sẽ bị sát hại nếu anh không kịp quay về làng vào ngày hôm sau.


Một cuộc gọi vô tuyến khẩn cấp đã được thực hiện tới Trung úy Tom Ross, Sĩ quan Tác chiến và Tình báo của Biệt đội A-502. Sau khi đến trạm tiền tiêu và thẩm vấn kỹ lưỡng ba người đàn ông này, Trung úy Ross nhận định rằng cần phải tổ chức một cuộc giải cứu với sự tham gia của lực lượng đồng minh. Tuy nhiên, nếu đúng như lời Mang Quang nói – rằng gia đình anh sẽ bị giết vào ngày mai – và xét đến việc ba người này đã mất tới hai ngày đi bộ mới đến được trạm tiền tiêu... thì chỉ có một đơn vị duy nhất mà Trung úy Ross có thể cậy nhờ. Đội giải cứu cần được vận chuyển bằng đường hàng không đến ngôi làng, và điều đó đòi hỏi sự hỗ trợ từ Đại đội Trực thăng Tấn công số 281.


Trung úy Ross lập tức liên lạc qua vô tuyến với Đại đội 281 để đề nghị hỗ trợ cho nhiệm vụ giải cứu. Khi mô tả về nhiệm vụ, ông không hề giấu giếm những hiểm nguy mà các thành viên của Đại đội 281 sẽ phải đối mặt nếu họ chấp nhận tham gia. Ông giải thích rằng đội giải cứu sẽ phải bay sâu vào vùng núi do địch kiểm soát, đổ bộ xuống một bãi đáp chưa xác định và đối đầu với một đơn vị địch chưa rõ quy mô cũng như sức mạnh. Ngoài ra, ông cũng làm rõ rằng sự hỗ trợ tức thời duy nhất mà đội có được chỉ là... bất cứ thứ gì họ có thể mang theo bên mình.


Liệu những hiểm nguy được mô tả có khiến các thành viên Đại đội 281 chùn bước khi biết rằng tính mạng của những gia đình người dân tộc thiểu sản (Montagnard) vô tội đang bị đe dọa? ... Hoàn toàn không! Họ đều là những người đàn ông luôn coi trọng các giá trị gia đình. Phản hồi trước lời đề nghị hỗ trợ của Trung úy Ross rất nhanh chóng và dứt khoát... "Hãy cho chúng tôi biết địa điểm và thời gian cần đến. Chúng tôi sẽ có mặt." Và, vào lúc bình minh ngày 4 tháng 8 năm 1968... họ đã thực sự có mặt! Sau đó, khi nhiệm vụ giải cứu trở nên phức tạp hơn do có thêm nhiều gia đình bước ra từ cánh rừng rậm rạp, họ lại tiếp tục có mặt vào ngày 5 tháng 8 và một lần nữa vào ngày 10 tháng 8.


Vào ngày 13 tháng 8 năm 1968, Walter Cronkite đã đưa tin về cuộc giải cứu này trong phóng sự "Thung lũng của loài Hổ" (The Valley of the Tigers) thuộc chương trình *CBS Evening News*. Khi nhiệm vụ hoàn tất, Đại đội 281 đã giải cứu được 165 dân làng miền núi (bao gồm cả nam giới, phụ nữ và trẻ em) khỏi cảnh đau thương và khốn khổ.


Điều mà các thành viên của Đại đội 281 có thể chưa biết cho đến tận ngày nay là ngôi làng của người Montagnard này từng đóng vai trò như một trạm trung chuyển quan trọng cho Trung đoàn 18B khét tiếng của Quân đội Bắc Việt. Chỉ vài tuần sau khi cuộc giải cứu kết thúc, các báo cáo tình báo cho thấy một đơn vị cấp đại đội (khoảng 125 – 150 người) đã tiến vào khu vực ngôi làng, đúng vào thời điểm những thành viên cuối cùng của đội cứu hộ đang được rút ra sau khi bị mắc kẹt vì thời tiết xấu.


Như vậy, dù không ai trong chúng tôi hay biết vào thời điểm đó, nhưng rất có khả năng hai cố vấn thuộc lực lượng Mũ Nồi Xanh (Green Beret), cùng 10 binh sĩ miền Nam Việt Nam và ê-kíp truyền hình CBS, đã có thể bị đơn vị địch tràn qua và tiêu diệt hoàn toàn nếu Đại đội 281 không bay xuyên bão để tiếp cận và giải cứu đội đang bị mắc kẹt.


Câu hỏi: Bạn có thể nói gì về những người đàn ông như vậy—những người dám bất chấp sự an toàn của bản thân để cứu mạng sống của người khác?


Trả lời: Tôi đã thực sự nỗ lực suốt 50 năm qua để tìm ra câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi đó. Tôi chính là chỉ huy đội cứu hộ, một trong hai cố vấn bị mắc kẹt trong vùng địch, và là người cuối cùng rời khỏi bãi đáp vào ngày hôm đó... với lòng biết ơn vì mình vẫn còn sống sót.


Trong suốt nửa thế kỷ kể từ "Cuộc Giải Cứu" ấy... Tôi vô cùng vinh dự khi được trò chuyện cùng và chia sẻ về những người lính thuộc Đại đội Trực thăng Tấn công số 281 (281st Assault Helicopter Company). Một trong những điều tôi luôn tự hào khi nói về họ – từng người một – là tôi đã tận mắt chứng kiến ​​họ làm nhiệm vụ; họ chính là hiện thân cho những phẩm chất tốt đẹp nhất của đất nước ta mỗi khi có lời kêu gọi cứu viện.


Ngày mai, 10 tháng 8, đánh dấu tròn 50 năm kể từ khi các chiến sĩ thuộc Đại đội 281 chấp nhận hiểm nguy – lần thứ ba – để giải cứu một ngôi làng của người dân tộc thiểu số sống ở vùng núi. Họ là ai không quan trọng; điều quan trọng là họ đang phải chịu đau thương, khốn khổ. Đại đội 281 đã chấm dứt nỗi đau đó. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuộc giải cứu, những người lính này xứng đáng được tôn vinh đúng với con người và những gì họ đã thể hiện... họ là những người hùng Mỹ quả cảm. Tôi tin chắc rằng, chính nhờ lòng dũng cảm quên mình ấy, tôi đã được họ cứu mạng.


Trân trọng,


Thomas A. (Tom) Ross

Thiếu tá, Lực lượng Đặc nhiệm Lục quân Hoa Kỳ


 

Thể hàn, thể nhiệt – sử dụng thực phẩm sao cho đúng?

Tham vấn chuyên môn: PGS.TS Nguyễn Duy Thuần

Thể hàn và thể nhiệt là hai trạng thái thể chất phổ biến theo quan điểm Đông y, ảnh hưởng trực tiếp đến cách lựa chọn thực phẩm hàng ngày. Hiểu đúng thể trạng sẽ giúp bạn ăn uống phù hợp, cân bằng âm dương, tăng cường sức khỏe và phòng tránh bệnh tật hiệu quả.

Thể hàn, thể nhiệt - sử dụng thực phẩm sao cho đúng? 1

Người thể hàn và người thể nhiệt

Trong Đông y, cơ thể con người được phân loại theo hai thể trạng chính là thể hàn và thể nhiệt. Theo lương y Đinh Công Bảy, Hội Dược liệu TP.HCM:

  • Người thể hàn thường có cơ thể hơi gầy, tính cách hướng nội, dễ bị lạnh ở chân tay, nhạy cảm với sự thay đổi thời tiết. Họ thường có sắc mặt nhợt nhạt, ít uống nước, khả năng tiêu hóa kém, dễ gặp các vấn đề về tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa và buồn nôn.
  • Người thể nhiệt thường có thể trạng hơi mập, tính cách hướng ngoại, sợ nóng, da dẻ thường nóng bừng, bốc hỏa, hay khát nước và thích uống nước mát. Người thể nhiệt thường bị táo bón, tinh thần dễ bị kích thích, thường đổ nhiều mồ hôi và có dấu hiệu bốc hỏa trong cơ thể.

Mỗi người đều có thể trạng riêng biệt. Việc hiểu rõ cơ thể mình thuộc thể nào sẽ giúp lựa chọn chế độ ăn uống và sinh hoạt phù hợp, từ đó duy trì cân bằng âm dương, phòng tránh bệnh tật hiệu quả hơn. Bởi vì, mỗi loại thực phẩm khi vào cơ thể đều mang đặc tính riêng, nên việc sử dụng đúng loại thực phẩm phù hợp với thể trạng sẽ góp phần điều hòa sức khỏe tổng thể.

Thực phẩm cho người thể hàn

Thực phẩm nên ăn

Người thể hàn nên ưu tiên các loại thực phẩm có tính ôn, ấm hoặc nhiệt để giúp làm ấm cơ thể, hỗ trợ tuần hoàn máu, cải thiện tiêu hóa và nâng cao thể lực. Những thực phẩm này có tác dụng tăng dương khí, loại hàn, từ đó giúp ổn định sức khỏe.

Thịt cá và các loại đạm

Thực phẩm nên ăn 1

Một số loại thịt có tính ấm rất phù hợp với người thể hàn như:

  • Thịt dê: Tính ôn, bổ khí huyết, rất phù hợp để hầm hoặc nấu với gừng.
  • Thịt bò: Bổ trung ích khí, giúp làm ấm tỳ vị.
  • Thịt gà (đặc biệt là gà ta): Có tính ấm, tăng cường sinh lực.
  • Trứng gà: Dễ tiêu hóa, giàu dinh dưỡng.
  • Cá mè, cá diếc: Là những loại cá nước ngọt có tính ôn, giúp dễ tiêu, hỗ trợ bổ máu.

Lưu ý: Nếu sử dụng các loại thực phẩm có tính hàn như tôm, ốc, lươn, thịt vịt… thì cần chế biến kèm các gia vị ấm như gừng, tỏi, ớt, sả để trung hòa tính lạnh.

Ngũ cốc và tinh bột

Người thể hàn nên chọn những loại ngũ cốc có tính ấm, giàu năng lượng, dễ tiêu hóa:

  • Gạo nếp, gạo tẻ: Dễ tiêu, giúp bổ khí huyết.
  • Bột mì, ngô, khoai lang: Có tính ấm, tốt cho hệ tiêu hóa.
  • Đậu đỏ, đậu đen: Tính ấm nhẹ, hỗ trợ lợi tiểu, bổ máu.

Rau củ

Thực phẩm nên ăn 2

Các loại rau củ có tính ôn hoặc trung tính, hỗ trợ tỳ vị, giúp tăng cường năng lượng, cải thiện tuần hoàn:

  • Cà rốt: Tính ấm, giúp sáng mắt, bổ máu.
  • Hẹ: Có tính ôn, tốt cho tiêu hóa, chống lạnh bụng.
  • Rau diếp cá: Mặc dù có tính hàn nhẹ, nhưng nếu ăn chín hoặc xào với gừng thì có thể sử dụng được, giúp thanh lọc cơ thể.

Trái cây

Một số loại trái cây có thể sử dụng được cho người thể hàn khi ăn điều độ:

  • Dứa: Giàu enzyme bromelain hỗ trợ tiêu hóa protein, chứa nhiều vitamin C, giúp chống viêm.
  • Nho: Giàu chất chống oxy hóa (OPC), tăng cường miễn dịch.
  • Mận, dừa: Dùng được ở mức vừa phải, nhất là khi kết hợp với gia vị ấm.

Thực phẩm nên tránh

Người thể hàn nên hạn chế hoặc tránh hoàn toàn những thực phẩm có tính hàn, lạnh vì chúng có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng như lạnh bụng, tiêu hóa kém, rối loạn tiêu hóa, đau bụng đi ngoài.

Thịt cá và đạm động vật

Thực phẩm nên tránh 1

Một số loại thực phẩm dù giàu đạm nhưng có tính hàn, người thể hàn nên tránh hoặc chế biến kỹ:

  • Lươn, ốc, tôm, cua, thịt vịt: Dễ gây lạnh bụng, tiêu chảy nếu ăn nhiều.
  • Các loại hải sản nước lạnh: Như sò, nghêu, hến… cũng có tính hàn cao.

Gợi ý: Nếu bắt buộc phải ăn, nên chế biến cùng các gia vị có tính ấm như hành, gừng, tiêu, tỏi để giảm bớt tính hàn.

Ngũ cốc và các loại hạt

Một số loại ngũ cốc có tính hàn, cần hạn chế như kiều mạch, ý dĩ, đậu xanh,… dù có lợi cho sức khỏe nói chung nhưng dễ làm mất cân bằng thể trạng nếu người thể hàn sử dụng thường xuyên.

Trái cây

Thực phẩm nên tránh 2

Nhiều loại trái cây có tính lạnh, khi ăn sẽ làm suy yếu dương khí, dễ gây đầy bụng, khó tiêu: Chuối tiêu, mía, dưa hấu, sung, bưởi, hồng, thị,… cần hạn chế tối đa.

Rau củ

Một số loại rau củ có tính hàn mạnh, dễ gây lạnh bụng, tiêu chảy hoặc giảm chuyển hóa: rau muống, mướp đắng, rong biển, măng tre,… tuy tốt cho người nhiệt nhưng rất bất lợi cho người thể hàn.

Lưu ý khi sử dụng thực phẩm cho người thể hàn

Người tạng hàn cần chú ý đến cách chế biến thực phẩm để không làm mất cân bằng âm dương:

  • Khi ăn các món có tính hàn, nên kết hợp với gia vị ấm như gừng, sả, tiêu, tỏi để trung hòa.
  • Không lạm dụng thực phẩm quá nhiệt, vì sẽ gây mất cân bằng ngược lại, sinh nhiệt thừa, dẫn đến táo bón, nóng trong.
  • Theo dõi phản ứng của cơ thể sau khi ăn: Nếu có dấu hiệu khó tiêu, buồn nôn, lạnh bụng thì cần điều chỉnh lại chế độ ăn ngay lập tức.
  • Ngoài ra, nên ăn uống đúng giờ, nhai kỹ, ăn ấm nóng để hỗ trợ tiêu hóa, tránh uống nước lạnh hoặc ăn thực phẩm lấy trực tiếp từ tủ lạnh.

Thực phẩm với người thể nhiệt

Thực phẩm nên ăn

Người thể nhiệt cần tăng cường những thực phẩm có tính mát, thanh nhiệt, giải độc, dễ tiêu hóa, đồng thời giàu vitamin và khoáng chất. Những thực phẩm này giúp làm dịu cơ thể, hỗ trợ bài tiết, giảm nhiệt trong máu và cải thiện các triệu chứng như bốc hỏa, nóng trong, táo bón.

Rau củ

Thực phẩm nên ăn 1

Các loại rau củ nên có mặt thường xuyên trong bữa ăn:

  • Rau má, rau dền, mồng tơi, rau cải, bắp cải, rau ngót: Thanh nhiệt, bổ huyết, nhuận tràng.
  • Bí xanh, bí đỏ, khổ qua (mướp đắng), củ cải trắng, dưa leo, mướp: Giúp làm mát gan, lợi tiểu, hỗ trợ tiêu hóa và giảm nhiệt.
  • Cà chua: Tính mát, giàu vitamin C và lycopene, chống oxy hóa mạnh, tốt cho làn da và hệ tim mạch.

Những loại rau này không chỉ hỗ trợ giải độc mà còn cung cấp chất xơ, khoáng vi lượng và enzyme tự nhiên giúp làm dịu tình trạng viêm nhiễm trong cơ thể.

Trái cây

Người thể nhiệt nên chọn các loại trái cây có tính mát, ít ngọt:

  • Dưa hấu, thanh long, cam, bưởi, chanh, táo xanh: Giúp thanh nhiệt, giải khát, bổ sung vitamin C và khoáng chất.
  • Lê, mận, dưa gang, kiwi: Làm mát phổi, nhuận trường, hạn chế nổi mụn.
  • Chuối tiêu, nho tươi: Cân bằng điện giải, giúp điều hòa tiêu hóa.

Ưu tiên trái cây tươi, ăn nguyên quả thay vì nước ép để giữ lại chất xơ và giảm đường huyết.

Ngũ cốc và các loại hạt

Thực phẩm nên ăn 2

Người thể nhiệt vẫn cần năng lượng, nhưng nên chọn:

  • Gạo lứt, ý dĩ, yến mạch, đậu xanh, hạt sen: Có tính mát, giúp làm dịu tỳ vị, hỗ trợ tiêu hóa và bài tiết.
  • Đậu đen, đậu đỏ: Thanh nhiệt, lợi tiểu, hỗ trợ giải độc gan.

Các món ăn thanh đạm, dễ tiêu

  • Cháo, súp rau củ, canh thanh nhiệt (canh mướp đắng, canh rau ngót, canh bí đao).
  • Thịt nạc, cá đồng, tôm nước ngọt: Ăn vừa phải, hạn chế chiên xào.
  • Nước nha đam, nước đậu xanh, nước atiso: Uống mát, hỗ trợ chức năng gan và giảm nóng trong.

Thực phẩm nên tránh

Người thể nhiệt nên tránh các thực phẩm có tính nóng, cay, nhiều năng lượng, chế biến nhiều dầu mỡ hoặc có khả năng sinh nhiệt nội tạng, bởi chúng sẽ khiến nhiệt tích tụ, sinh ra mụn, táo bón, bứt rứt và mất ngủ.

Gia vị và thực phẩm cay nóng

Thực phẩm nên tránh 1

Tránh các loại gia vị có tính kích thích nhiệt: ớt, tiêu, tỏi, gừng, quế, đại hồi, sả,… những gia vị này tuy tốt cho người thể hàn nhưng sẽ gây phản tác dụng với người thể nhiệt, dẫn đến nóng trong, nhiệt miệng, nổi mẩn.

Thực phẩm chiên xào, nhiều dầu mỡ

Người thể nhiệt nên hạn chế các món:

  • Chiên rán, xào nhiều mỡ, món nướng, đặc biệt là mỡ động vật, bơ, phomai, kem béo.
  • Các loại đồ ăn nhanh, thức ăn chế biến sẵn, snack nhiều dầu, thực phẩm đóng hộp có phụ gia, bảo quản.

Thực phẩm có tính “nhiệt cao”

Thực phẩm nên tránh 2

  • Sầu riêng, nhãn, mít, xoài chín: Đây là những loại quả có tính nóng mạnh, dễ làm tăng nhiệt khí, sinh mụn, táo bón, bứt rứt.
  • Socola, đậu phộng, sữa đặc, nước ngọt có gas, cà phê: Tăng đường huyết, sinh nhiệt, mất cân bằng âm dương.
  • Thịt đỏ nhiều mỡ, nội tạng động vật: Dễ gây tích tụ nhiệt, khó tiêu, tăng gánh nặng gan.

Các thực phẩm trên nếu dùng thường xuyên hoặc kết hợp sai cách có thể gây ra các biểu hiện nhiệt độc như: nổi mẩn ngứa, nóng gan, mất ngủ, nổi mụn trứng cá.

Lưu ý khi sử dụng thực phẩm cho người thể nhiệt

Người thể nhiệt cần chú ý những điều dưới đây:

  • Chế biến thanh đạm: Ưu tiên hấp, luộc, nấu canh. Hạn chế nướng, chiên, xào nhiều dầu.
  • Ăn vừa đủ, không ăn quá no, không bỏ bữa, hạn chế ăn khuya.
  • Bổ sung đủ nước lọc, nước mát từ thảo dược như trà atiso, nước rau má, nước sâm, nước đậu đen.
  • Kết hợp vận động nhẹ nhàng như yoga, đi bộ để tăng tuần hoàn và giúp cơ thể tự điều hòa nhiệt.
  • Tránh căng thẳng và thức khuya, vì đây là yếu tố làm tăng nội nhiệt rất rõ rệt.

Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất để duy trì sức khỏe toàn diện, bất kể bạn thuộc thể hàn hay thể nhiệt, chính là đảm bảo chế độ ăn uống cân bằng và đa dạng. Không nên quá lạm dụng một nhóm thực phẩm, cũng không nên loại bỏ hoàn toàn bất kỳ loại thực phẩm nào nếu không có lý do y khoa rõ ràng. Điều cốt lõi là hiểu rõ thể trạng của bản thân để điều chỉnh liều lượng, cách kết hợp và phương pháp chế biến sao cho phù hợp. Khi biết lắng nghe cơ thể và lựa chọn thực phẩm đúng cách, bạn sẽ từng bước xây dựng được nền tảng thể chất khỏe mạnh, ổn định và bền vững theo thời gian.

Sunday, September 27, 2026

 

Hello, You can submit the cancellation and refund requests separately through Cleverbridge. To cancel your CCleaner Premium subscription and stop future renewal charges: 1. Open the [subscription cancellation request form](https://cancellation-flow.cleverbridge.com/). 2. Enter the email address used for the purchase, your order reference number, and the reason for cancellation. 3. Open the confirmation email from Cleverbridge and select **Complete Cancellation**. You will receive a confirmation email once the cancellation has been processed. Please note that cancellation stops future billing renewals but does not automatically refund the recent charge. 

To request a full refund for the recent charge: 1. Complete the [refund request form](https://www.cleverbridge.com/refund) using the email address associated with the purchase, your order reference number, and the reason for the refund request. 2. If the order is eligible, you will receive an email asking you to confirm the refund. Open that email and select **Start Refund**. Refund eligibility depends on the product, purchase date, and payment method. If approved and completed, the refund will deactivate the license and cannot be reversed. Not having downloaded or installed the software can be included as the reason for your request, but it does not by itself confirm eligibility. Kind regards, CleverBot

Wednesday, September 23, 2026

NƯỚC MỸ CHỈ LÀ THIÊN ĐƯỜNG CHO KẺ MAY MẮN.

Rất nhiều người ở Mỹ đã sống trong đau khổ TRIỀN MIÊN, nước mắt nhiều hơn nụ cười, có người nói với tôi, hôn nhân của họ là ĐỊA NGỤC, v.v... Với những người như vậy, cuộc đời rất buồn chán (boring), không còn sinh khí (lifeless).

Trong hơn 25 năm ở Mỹ, qua việc giúp đỡ (cho nhiều thanh niên thất nghiệp, sa cơ thất thế)... dạy Toán và Anh văn cho trẻ em mới sang Mỹ... giúp đỡ bạn bè hay láng giềng làm đơn từ, dịch thuật Anh-Việt, điện thoại thông minh, v.v... tôi nhận thấy rất nhiều người Việt kém may mắn hay không thích ứng với cuộc sống tại Mỹ vì: 1/ Qua Mỹ khi đã lớn tuổi trong khi tiếng Anh rất kém, ko tìm được nghề hợp với năng khiếu hay kiến thức của mình, v.v... 2/ Có người dù đến Mỹ dưới 10 tuổi nhưng chỉ học hết trung học rồi nghỉ nên họ phải làm các nghề tay chân, tương lai mờ mịt, thường xuyên thất nghiệp. 3/ Có người, do NGHIỆP QUẢ (karma) xấu nên hôn nhân của họ là địa ngục. 4/ Những đau khổ sau khi miền Nam sụp đổ (như sĩ quan và công chức VNCH đi tù, đổi đời, đổi tiền, cải tạo tư sản, v.v... các thảm cảnh của vượt biên như cướp biển, gia đình ly tán, v.v... những hậu quả của hố sâu về thế hệ * (generation gap). 

SJ ngày 23.9.2020. Cập nhựt ngày 23.9.2006.


Monday, September 21, 2026


Phái Đoàn của vua nước Thái Rama IV yết kiến hoàng đế Napoléon III vào ngày 27/6/1861, họ chấp nhận quỳ gối trước Napoléon để đổi lấy sự hoà bình, sự tự do, tránh được chiến tranh với nước Pháp.



- Để thoát khỏi sự xâm lược của các nước phương Tây, người Thái phải chấp nhận quỳ gối, tuy giữ được độc lập nhưng người Thái phải nhân nhượng nhiều quyền lợi , cắt đất cho Anh và Pháp, Năm 1888 và 1893, Thái Lan phải cắt một số vùng đất phía đông cho Campuchia (thuộc quyền cai trị của Pháp). Năm 1904 và 1907 phải tiếp tục cắt đất, tổng cộng hơn 20.000 km2 cho Pháp. Năm 1909 phải cắt nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Bắc cho Anh. Năm 1909, lại phải cắt vùng đất trên 40.000 km2 tại bán đảo Malacca cho Anh .Tổng cộng, trong 50 năm, Thái Lan đã bị mất đi 352.877 km2 lãnh thổ ,những vùng này ngày nay thuộc về Campuchia, Myanmar và Malaysia, coi như là bị mất hẳn. Lãnh thổ Thái Lan ngày nay chỉ còn rộng bằng 60% so với trước năm 1867 (514.000 km2 so với 867.000 km2)

Sunday, September 20, 2026

 Số 10, 13 và 23 và nước Mỹ




- Có lần tôi nói đùa với bạn bè: Nếu nước Mỹ sẽ chìm như tàu Titanic, tôi sẽ là người cuối cùng rời tàu.

1/ Như đã viết nhiều lần, số 13* đã xuất hiện rất nhiều trong lịch sử Mỹ với 13 bang tiên khởi, 13 mủi tên trong chân của chim ưng và 13 lá nguyệt quế trên đồng đô la, v.v... Theo LTS, các quốc phụ của Mỹ cũng là các chiêm tinh gia nên họ áp dụng thuật phong thủy tại thủ đô, xem hình.
Trong ảnh: National Mall là hồ chứa nước hình chữ nhựt, với Đài Kỷ Niệm Lincoln ở đáy của chữ nhựt, ở giữa là Tượng Đài Washington có hình kim tự tháp* (theo các nhà phong thủy, tượng đài này dùng để trấn yểm), và cuối là Điện Capitol - nơi họp của QH Mỹ.
2/ Tôi dùng LTS để phân tách:
UNITED = 6 5 1 4 5 4 = 25 = 7
STATES = 3 4 1 4 5 3 = 20 = 2
OF = 7 8 = 15 = 6
AMERICA = 1 4 5 2 1 3 1 = 17 = 8
Cộng lại: 7 2 6 8 = 23 = CỰC KỲ MAY MẮN
Sau đây là ý nghĩa của số này
Số 23 – Ngôi Sao Của Sư Tử Vua (The Royal Star of the Lion)
Đây là số may mắn do hưởng phước đã tạo từ kiếp trước (karmic reward number) (1). Số 23 ban cho (bestow), không những chỉ là một hứa hẹn sẽ thành công trong những nỗ lực (endeavor) thuộc về cá nhân và nghề nghiệp, mà còn bảo đảm có sự giúp đỡ từ thượng cấp (help from superiors) và sự che chở/bảo vệ từ những người có địa vị cao (protection from those in high places). Đây là một số rất may mắn, và số này ban phát (bless) dồi dào hồng ân (abundant grace) cho người hoặc thực thể (entity) tượng trưng bởi số này. Số này, cũng nên được xem xét với những số khác (như ngày sanh hay tên) để có một sự phân tách toàn diện dựa theo lý thuyết số (full numerological analysis), điều này có thể đưa đến một kết quả không hoàn toàn may mắn. Nhưng trong những giai đoạn khó khăn, những số khác không có nhiều cơ hội tạo ra (bring about) sự rắc rối nghiêm trọng (serious trouble) khi có sự hiện diện của Ngôi Sao Huy Hoàng này của Sư Tử. Không số nào có thể thách thức với sức mạnh (strength) của Sư Tử và thắng được nó./.
(Dịch từ trang 259 của quyển Linda Goodman’s Star Signs).
Chú thích: (1) Từ Karmic xuất phát từ danh từ Karma, tiếng Sanskrit có nghĩa là hành động /số mệnh/nghiệp. Ấn độ giáo và Phật giáo tin rằng nghiệp là những hành động/việc làm của con người trong những kiếp trước, và (nghiệp này) sẽ quyết định số mạng của con người đó trong những kiếp sống sau này.
* Theo LTS, số 13 tượng trưng cho TRẢ NỢ DỒN. Rất may cho tôi, ngày sanh và tên ko dính gì đến trả nợ dồn.
3/ Nhưng tên tôi lại bằng 10 (bánh xe định mạng, hạnh phúc và đau khổ thường đi kế nhau). Tên USA = 6 + 3 + 1 = 10, cũng có ý nghĩa tương tự. Do vậy tôi RẤT HỢP VỚI NƯỚC MỸ: cũng đúng thôi, có ai cở tuổi 15-16 ăn cắp tiền cha mẹ để mua một bộ nguyệt san Mỹ gồm mấy trăm quyển kèm bản đồ. Kiến thúc của tôi đã phát triển nhờ bộ sách này.
Đăng ngày 10/5/2020, cập nhật ngày 20/9/26.

 

VỤ KIỆN CÀ PHÊ MCDONALD GÂY PHỎNG CHO KHÁCH HÀNG

Ngày 27/2/1992, bà Stella Liebeck, 79 tuổi, đã mua 1 ly cà phê nóng giá 49 cent từ quày drive-through, xem hình, của 1 nhà hàng McDonald’s, tại Albuquerque bang New Mexico.

Bà Liebeck ngồi ghế hành khách của một xe Ford Probe đời 1989, loại ko có thiết bị giữ ly nước. Đứa cháu nội đậu xe để bà bỏ thêm kem và đường vào cà phê. Bà đặt ly cà phê giữa đầu gối và mở nắp ly cà phê, và đã làm đổ hết ly cà phê lên đùi. Do bà mặt quần dài (sweatpant) bằng cô-tông loại tập thể dục, xem hình, nên cà phê thấm vào da, gây phỏng đùi, mông, và vùng xương chậu (groin hay pelvic region).

Bà được đưa vào bv cấp cứu. Bà bị phỏng cấp độ 3 trên 6/100 của cơ thể và phỏng cấp độ thấp hơn ở 16/100 cơ thể. Bà phải ở bv 8 ngày để ghép da. Trong thời gian này bà sụt 9.1 kí, chỉ còn nặng 38 kí. Sau khi xuất viện bà được con gái chăm sóc 3 tuần. Bà đã bị biến dạng vĩnh viễn và phần nào tàn phế trong 2 năm.

CÁC LẦN THƯA KIỆN

Lúc đầu bà chỉ yêu cầu McDonald’s chi trả 20 ngàn đô về chi phí hiện tại hay sắp tới (anticipated). Gồm có chi phí trị phỏng là 10,500; chi phí sắp tới khoảng 2.500; con gái mất thu nhập vì chăm sóc bà khoảng 5.000; tổng cộng khoảng 18.000 đô. McDonald’s chỉ chịu trả 800 đô.

Khi McDonald’s từ chối tăng tiền bồi thường, bà Liebeck nhờ luật sư Reed Morgan, thuộc Tòa Quận hạt New Mexico. Ông này buộc tội McDonald’s đã TẮC TRÁCH NGHIÊM TRỌNG do bán cà phê đã “nguy hiểm một cách vô lý” (unreasonably dangerous) và “chế biến đầy khiếm khuyết” (defectively manufactured). Morgan đề nghị bồi thường 300 ngàn đô, và 1 nhà hòa giải đề nghị 225 ngàn, nhưng McDonald’s đã từ chối.

PHIÊN TÒA

Phiên tòa diển ra từ 8-17/8/1994, tại Tòa án Quận hạt New Mexico.  Các LS của bà Liebeck đã khám phá rằng McDonald’s yêu cầu các đại lý phải giữ cà phê từ 82-88 độ C. Các LS nói rằng cà phê ko nên nóng quá 60 độ C, một số đại lý đã cung cấp cho khách cà phê thấp hơn nhiệt độ do McDonald yêu cầu. Các LS trưng bằng chứng cà phê khắp thành phố được phục vụ cho khách ở nhiệt độ 11 độ C thấp hơn so với cà phê của McDonald.

Họ còn trưng cho bồi thẩm đoàn ý kiến của 1 chuyên gia. Ông này nói rằng cà phê nóng 88 độ C có thể gây phỏng cấp 3 (cần phải ghép da) trong khoảng 3 giây và nếu nóng 82 độ sẽ có thể gây phỏng trong khoảng 12 tới 15 giây. Nếu giảm nhiệt độ xuống còn 71 độ C, thời gian gây phỏng sẽ là 20 giây. Giúp cho nạn nhân có thể có đủ thời gian lau sạch cà phê nóng, tránh gây bỏng thêm.

McDonald’s đã lập luận rằng hãng cung cấp cà phê nóng như vậy cho khách hàng drive-thru vì nghĩ rằng họ sẽ mang cà phê một đoạn xa mới uống; khi đó nhiệt độ sẽ thấp hơn lúc mới mua. Tuy nhiên, người ta tìm tìm thấy một khảo sách của hãng này cho thấy khách uống liền khi lái xe. Hãng này cũng nhận khuyến cáo từ các chuyên gia rằng nhiệt độ cao giúp cà phê toát hết hương vị.

Một số văn bản khác cho thấy, từ 1982 đến 1992, hãng này đã nhận hơn 700 báo cáo về phỏng bởi cà phê, và đã bồi thường hơn nửa triệu đô. Quản lý về kiểm tra chất lượng của hãng, ông Christopher Appleton cho rằng con số trên ko đủ để khiến hãng đánh giá việc pha cà phê. Ông nhấn mạnh mọi thực phẩm nóng hơn 54 độ C đều có nguy cơ gây bỏng và các nhà hàng đều ý thức điều đó.

Các nguyên đơn nói rằng Appleton đã thừa nhận cà phê McDonald’s có thể gây phỏng miệng và uống họng nếu khách hàng uống liền khi nhân viên bưng ra bàn.

PHÁN QUYẾT CỦA TÒA

Bồi thẩm đoàn 12-người đã đi đến phán quyết (reach a verdict) vào ngày 18/8/94. Dựa trên các nguyên tắc “hai bên ít nhiều đều có lỗi” (comparative negligences), bồi thẩm đoàn thấy rằng McDonald’s trách nhiệm 80/100 cho tai nạn này và bà Liebeck chịu 20/100. Dù rằng có cảnh báo trên ly cà phê, họ nghĩ điều đó ko đầy đủ. Họ đề nghị bà Liebeck được 200.000 đô bồi thường thiệt hại, nhưng được giảm 20/100 còn 160.000 đô. Bà còn được 2.7 triệu đô do McDonald bị phạt vạ. Bồi thẩm đoàn đã đưa con số này vì LS Morgan đề nghị phải phạt 2 ngày lợi tức của hãng, khoảng 1.3 triệu mỗi ngày.

Nhưng chánh án đề nghị chỉ phạt McDonald’s 480.000 đô, và bồi thường 160.000 đô cho bà Liebeck, tổng cộng là 640 ngàn đô. Quyết định này đã bị hai bên chống án vào tháng 12/1994, nhưng hai bên đã đồng ý giải quyết ngoài tòa án với số tiền ko được tiết lộ.

Dịch xong buổi sáng ngày 20.9.26 từ bài Liebeck v. McDonald's Restaurants trên Wikipedia.

Friday, September 18, 2026

    


NĂM 1975 CHỊ 25 TUỔI VÀ CÓ 2 CON. NGÀY 30.4.75, DÙ EM CHỒNG LÀ HẢI QUÂN NHƯNG ANH VẪN Ở LẠI VÌ KHÔNG THỂ BỎ ĐƠN VỊ. ANH ĐI TÙ 9 NĂM VÀ GIA ĐÌNH ĐỊNH CƯ TẠI MỸ.  

Monday, September 14, 2026

 TRẬN ĐỖ XÁ ĐỢT 1 NĂM 1964.

… Trong những ngày cuối tháng 4, bộ tổng tham mưu QLVNCH ra lịnh cho trung tá Lê nguyên Khang thành lập một chiến đoàn gồm 2 TĐ và một pháo đội cho QĐ 2. Khi đó TQLC sẽ cùng các thành phần của sđ 2 và 25 VNCH để mở một tấn công gồm nhiều trung đoàn vào rừng núi hiểm trở ngay phía nam của ranh giới QĐ 1 và 2. Được đặt tên BẠCH PHƯỢNG 10, cuộc hành quân này nhầm xâm nhập vào Đỗ Xá, một căn cứ địa bất khả xâm phạm của CS. Căn cứ này nằm trên dãy Trường Sơn, tại một nơi mà 3 biên giới của 3 tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngải, và Kontum gặp nhau, xem hình. Trước 1954, quân Pháp chưa bao giờ đến đây.

 

Các tù binh CS bị bắt vào đầu thập niên 1960 khai rằng các cán binh bắc VN đã đi qua Đỗ Xá trước khi đến những bình nguyên ven biển dân cư đông đúc thuộc các tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngải. Hơn nữa, khu vực này được cho là nơi đặt bộ tư lịnh (BTL) của quân khu 5 (QK-5).

Sau khi ra lịnh cấm trại đối với TĐ 2 và 4, một pháo đội sơn pháo, xem hình, 1 trung đội viễn thám, và một BCH nhẹ, Khang bay cùng với trung tá Moody tới Pleiku để bàn kế hoạch với thiếu tướng Nguyễn Khánh và BTM của QĐ 2. Theo kế hoạch, trực thăng của TQLC và lục quân Mỹ sẽ bốc bộ binh và pháo binh của VNCH để lập vòng đai bao vây khu vực tình nghi của căn cứ Đỗ Xá. Theo từng giai đoạn, các đv VNCH sẽ bắt đầu thu nhỏ vòng vây, sau đó (whereupon), đv TQLC sẽ được bốc vào khu vực tình nghi, để lục soát.

Ảnh: Sơn pháo 75 ly, tầm xa 8.8 km, tốc độ 6 viên phút, súng nặng 653 kg. Do Mỹ sản xuất, nhưng quân đội VM và CSBV cũng có (do TC chuyển giao cho VMCS sau khi chiếm được của quân Tưởng giới Thạch trước 1949).

Để kiểm soát toàn bộ chiến dịch, tướng Khánh sẽ lập BCH tiền phương tại Plateau GI, một làng Thượng, ở bờ nam của khu vực hành quân, ở 25 dặm đông bắc Kontum.

Ngày 1/5/1963, các C-123 của Không quân Mỹ chở 2.000 lính TQLC từ SG đến thị xã Quảng Ngải. Trung tá Moody và thiếu tá Croft, cố vấn phó và cố vấn pháo binh, đi theo TQLC. Ngày kế, một đoàn xe tải chở các TQLC này chạy khoảng 40 dặm về phía bắc tới Tam Kỳ, tỉnh lỵ của Quảng Tín. TĐ 2 TQLC, cố vấn bởi đại úy Taylor, xuống xe và tập họp ở phi đạo Tam Kỳ, trong khi phần còn lại của đoàn xe quay về phía tây, theo con đường đất chật hẹp vòng quanh các ngọn đồi để tiến sâu vào rừng núi Trường Sơn.

Ảnh: trực thăng H-21. Tốc độ đường trường 158 km/h, tối đa 204 km/h, tầm xa 426 km. Vỏ trang: 1 hay 2 khẩu 12.7 ly hay M-60. Chở 20 lính hay 12 băng ca.

Trong khi đó, các H-21, còn gọi là trực thăng “trái chuối”, xem hình, từ Pleiku đã đáp xuống Tam Kỳ, bốc các thành phần của TĐ 2, và đã bắt đầu trực thăng vận họ vào một bãi đáp hay LZ nằm cạnh một dòng suối, khoảng 30 dặm tây nam của tỉnh lỵ. Đoàn xe chở TQLC tiếp tục  chạy theo hướng tây nam cho tới khi gặp 1 tiền đồn nhỏ của vnch ở Trà My. Tại đây, khoảng 24 dặm tây nam của Tam Kỳ, Khang đã lập BCH trong một trường học kế cận một phi đạo thô sơ bằng đất nện. Pháo đội sơn pháo 75-ly, cố vấn bởi thiếu tá Croft, được đặt gần đấy trong khi trung đội viễn thám  và các thành phần của TĐ 4, cố vấn bởi đại úy Christensen, làm công tác an ninh. Sau đó, các trực thăng H-34 của TQLC mỹ từ Đà Nẳng chở một bong bóng đựng xăng (fuel bladder), xem hình, và máy bơm sân bay này. Một khi cuộc đổ quân của TĐ 2 hoàn tất, các H-21 của lục quân Mỹ, được nhận xăng từ các bồn chứa này, đã bắt đầu bốc TĐ 4 vào LZ của TĐ 2, ở vài dặm phía nam của Trà My.

Một khi hoạt động này đã hoàn tất, hai TĐ này bắt đầu lục soát một thung lũng sâu và những núi kế cận để kiếm các căn cứ địa CS. Sau vài ngày TQLC của Khang đã tìm được một căn cứ nhưng ko gặp bất cứ kháng cự nào khi tiến vào vị trí này. Lại một lần nữa, đối phương, có lẽ được cảnh báo trước đó bởi hoạt động của các đv VNCH, đã rút lui.  Quân ta chỉ bắt một y sĩ bắc VN và một y tá. Những ngày kế, sau khi lục soát những túp lều và hệ thống địa đạo, TQLC đã tìm thấy 1 kho tiếp liệu gồm vài súng, 6 máy đánh chữ, 3 máy may, một máy truyền tin, 44 bản đồ, một bảng tính bằng tiếng Pháp cho pháo binh, và nhiều pin cho đèn bấm.

 

Ảnh trên: Bong bóng đựng xăng; ảnh dưới: bong bóng chứa 10.000 gallon xăng, bốn phía là bao cát, chụp tại căn cứ Cửa Việt, Quảng Trị.

 

 SAN JOSE NGÀY 14 THÁNG 9 2026.

TÀI TRẦN

 

QUÂN PHÁP TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT THÁNG 11 NĂM 1945.

                           

ĐÂY LÀ MỘT XE RENAULT VIVA 4, MÀ CHỈ HUY CỦA VM TẠI ĐỊA PHƯƠNG ĐÃ DÙNG. XE NÀY TRƯỚC ĐÓ CỦA CHỦ ĐỒN ĐIỀN CAO SU. QUÂN PHÁP NHỜ XE NÀY ĐÃ QUA MẶT CÁC TRẠM KIỂM SOÁT CỦA VM TRÊN ĐƯỜNG TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT. (C’est un véhicule identique à celui-ci (Renault Viva 4) que le chef régional viet-minh s’était approprié (sûrement en le prenant au propriétaire d’une plantation) et que la colonne a pu récupérer pour tromper les sentinelles des postes VM dans la dernière ligne vers Buôn Ma Thuột). 

LỜI NÓI ĐẦU:

Tưởng cũng nên nhắc lại: Tháng 9/1940, quân Nhật đã xâm chiếm phía bắc của Đông Dương sau khi nước Pháp rơi vào tay Đức Quốc Xã. Chánh quyền thuộc địa của Pháp tại Đông Dương (dưới thời Vichy) lúc đầu vẫn nắm quyền, nhưng cho phép quân Nhật hiện diện.

Tháng 7/1941, quân Nhật tiến vào phía nam Đông Dương, dùng khu vực này để làm bàn đạp tấn công Malaya, Singapore, và vùng Đông Ấn (Dutch East Indies).

Tháng 3/1945: Sợ rằng người Pháp sẽ nổi dậy khi chiến tranh trở nên thất lợi cho Nhật, họ đã làm đảo chánh Pháp, bắt giam các viên chức Pháp, và buộc các thủ lãnh địa phương phải tuyên bố độc lập trên danh nghĩa, dưới sự bảo hộ của Nhật.

Tháng 8/1975, Nhật đầu hàng, tạo ra 1 khoảng trống quyền lực dẫn đến Chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhứt. Lợi dụng tình hình này, VM đã dành chánh quyền tại Hà Nội và một số khu vực trên toàn quốc, bao gồm tại Nam Kỳ và Trung Kỳ. Sau đó, quân Pháp theo chân quân Anh, để tái chiếm Nam Kỳ và Trung Kỳ. Ở Bắc Kỳ, quân của Trung Hoa Dân Quốc vào giải giới quân Nhật…

Sau là là phần chuyển ngữ.

Chú ý: Để tôn trọng nguyên bản, tôi xin giữ những danh xưng đã dùng trong bài viết.

“Trong khuôn khổ của việc người Pháp trở lại Nam Kỳ (Cochinchina), và Trung Kỳ (Annam), họ đã thực hiện các cuộc hành quân tảo thanh (lục soát) và bình định. (Nam Kỳ và Trung Kỳ, sau này được chúng ta gọi Nam phần và Trung phần – ND)

BẢN ĐỒ CỦA HÀNH QUÂN TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT (BMT).

 

Ngày 25/11/1945, đại đội A của Trung đoàn 5 Bộ binh Thuộc địa (5th RIC) nhận lịnh phải tiến hành một hành quân xa 350-km vào Cao nguyên Trung Kỳ để bất ngờ chiếm Ban Mê Thuột.  (Nói thêm: Trung đoàn này là một đơn vị cảm tử hay thám kích thành lập tại An-giê-ri năm 1943 trong Đệ Nhị Thế chiến, lúc đầu có tên là Đoàn Can thiệp Cơ động (Corps Léger d’Intervention hay CLI) và được tái xử dụng (repurpose) để hoạt động tại Viễn Đông, và cuối cùng tái cấu trúc ngày 1/5/1945 ở Tích Lan, nay là Sri Lanka, với tên mới là Trung đoàn 5 Bộ binh Thuộc địa (5th RIC) để giúp quân Pháp tái chiếm Đông Dương. (Trung đoàn này được thiết kế như 1 đơn vị bộ binh nhẹ, họ xử dụng chiến thuật du kích/thám sát, hoạt động sau phòng tuyến của đối phương, dựa trên những kinh nghiệm của các đơn vị đặc biệt của Đồng Minh như SAS của Anh, v.v… Đến Sài Gòn vào cuối 1945, họ đã chiến đấu từ Nam Kỳ đến Lào và bờ biển Trung Kỳ. Đơn vị này đã chính thức giải tán vào ngày 1/7/1946 tại Lào, với các cán bộ kinh nghiệm sau này trở thành nòng cốt của các TĐ Dù và thuộc địa của Pháp – ND).

ẢNH: HUY HIỆU CỦA TRUNG ĐOÀN 5 BỘ BINH THUỘC ĐỊA, TRƯỚC ĐÓ CÓ TÊN LÀ ĐOÀN CAN THIỆP CƠ ĐỘNG (CLI).

Đơn vị này đã đến sân bay Tân Sơn Nhứt ngày 12/9/1945, dưới quyền của đại úy Noirtin, bên cạnh là trung tá Rivier—một đại biểu quân sự lâm thời, từng phục vụ trước đây trong TĐ lính Thượng.

Nay chỉ huy bởi đại úy Lataste, đại đội (đ.đ.) được chia thành 3 trung đội chiến đấu và hai toán chỉ huy và võ khí nặng, bao gồm 8 sĩ quan (sq), 4 dự bị sq, 48 hạ sq, và 61 binh sĩ (bs). Họ được tăng cường bởi khoảng 30 người từ Trung đoàn 5 bộ binh thuộc địa và 1 nhóm các cựu tù binh Pháp, cũng như vài dân thường quen thuộc với địa thế trong vùng hành quân. Liên đoàn khinh chiến của sư đoàn 2 thiết giáp, viết tắt là GM/2e DB, đã cung cấp hai xe thiết giáp nhẹ M8 (Greyhound), xem hình, và 1 trung đội của trung đoàn 501 chiến xa, viết tắt là 501e RCC, cùng với xe tải như xe GMC hay xe Dodge 6x5; trong khi đó trung đoàn 5, lại trang bị bởi Sư đoàn 20 Ấn độ của thiếu tướng Anh quốc Douglas Gracey với các xe tải hiệu Chevrolet C MP 15-cwt do Canada sản xuất, xem hình. Toàn bộ lực lượng này dưới quyền chỉ huy của trung tá Rivier.

 

ẢNH CHIẾN XA M-8: Khi bị phục kích trên QL-19 năm 1954, chiến đoàn 100 của Pháp có xài chiến xa này, sản xuất từ 1942, có đại bác 37 ly (80 viên), 1 đại liên 12.7 ly 400 viên và 1 đại liên 7.62 ly 1.500 viên. Trong trận Đồng Xoài 1965, có 2 xe này bị VC chiếm, gây thương vong cho quân trú phòng, nhưng sau đó bị máy bay phá hủy.

ẢNH của chiến xa Cadillac V-100, sản xuất năm 1963, do chạy bánh nên được ĐPQ VNCH dùng để tuần tiểu các quốc lộ như QL-4 cho tới năm 1975. Trang bị 1 đại bác tự động 20 ly, 1 phóng lựu 40 ly, 1 đại liên 12.7 ly và một đại liên 7.62 ly.  

 

ẢNH TRÊN VÀ DƯỚI, XE TẢI CHEVROLET 15 CWT CMP DO CANADA SẢN XUẤT, TRƯỚC ĐÂY THUỘC SƯ ĐOÀN 20 ẤN ĐỘ CỦA TƯỚNG GRACEY, NAY TRANG BỊ CHO TRUNG ĐOÀN 5 BỘ BINH THUỘC ĐỊA.

ẢNH XE DODGE 6X6 DO MỸ SẢN XUẤT GẶP TRỞ NGẠI.

ẢNH: TỚI TRẠI LE ROLLAND, TRÊN ĐẤT CAM-BỐT.

ẢNH: TỚI NGÃ BA TAM BIÊN.

ẢNH TRÊN: TRỤ ĐỊNH VỊ CỦA NGÃ BA BIÊN GIỚI,

CHỤP NĂM 1945, VÀ ẢNH DƯỚI, CHỤP BÂY GIỜ.

ẢNH: DO TỪNG TRANG BỊ CHO SƯ ĐOÀN 20 ẤN ĐỘ, LÚC ĐÓ VẪN CÒN LÀ THUỘC ĐỊA CỦA ANH, NÊN XE NÀY MANG CỜ ANH. ẤN ĐỘ ĐỘC LẬP NGÀY 15.8.1947.

ẢNH TRÊN: CẦU 14 HAY CẦU SÊ RÊ PÔC, GẦN BMT, CHỤP NĂM 1945, VÀ BÂY GIỜ, ẢNH DƯỚI.

ẢNH BẢNG HIỆU TRƯỚC BAN TÀI CHÁNH CỦA VM, Ở BMT.

ẢNH TRÊN: KHẨU ĐẠI LIÊN Ở SAU XE LÀ HOTCHKISS 1914; ẢNH DƯỚI, RÕ HƠN. (TRƯỚC NGÀY NHẬT ĐẢO CHÁNH PHÁP 9/3/1945, BMT VẪN CÒN DƯỚI QUYỀN CỦA PHÁP).

 

Lực lượng khởi hành ngày 27/11. Dự định sẽ đi qua Bù Đốp, trại Le Rolland (trên đất Cam-bốt), và đồn “Tam Biên”, xem bản đồ; các chướng ngại – như đường và cầu hư—ngày càng nhiều khi đi khỏi Bù Đốp (khiến phải tốn 36 giờ để sửa chữa sau vùng Tam Biên. Rất may cho quân Pháp khi họ đã chận bắt một viên chức địa phương của VM; và dùng xe của y (hiệu Renault Viva 4, xem hình) mà trước đó VM tịch thu của chủ đồn điền. Quân Pháp cho xe này chạy trước đoàn xe để đánh lừa và tiêu diệt từng chốt kiểm soát của VM. Chiến thuật này đã cho phép quân Pháp tới BMT mà không đánh động quân VM ở đó và gần như chiếm thị trấn này mà ko cần chiến đấu. Quân Pháp có sáu bị thương; trong đó có chuẩn úy Fabrège, sau này chết ở binh viện Grall hay Đồn Đất ở SG. Một số lớn súng đạn bị tịch thu, và khoảng 30 con tin Pháp được giải thoát.

Thay vì phát huy sự thành công này để làm suy yếu khả năng của VM tại địa phương, Rivier quyết định trở lại Bù Đốp ngày kế-- có lẽ do hiểu lầm lịnh của cấp trên—dù có phản đối của cấp dưới. Ngay khi tới Bù Đốp, ông lại nhận lịnh phải trở lại BMT; quân Pháp đã tái chiếm BMT ngày 5/12 sau khi bị phục kích nhiều lần—khi phải chiếm lại các trạm kiểm soát của VM trên đường từ Bù Đốp đến BMT. Họ cũng đụng độ dữ dội ngay trong thị xã. Tổn thất nặng hơn kỳ trước rất nhiều: 6 chết—trong đó quân y sĩ Nouaille-Degorce, thiếu úy Hérichier, và binh nhứt Geoffroy—và sáu biệt kích bị thương, gồm thiếu úy Icart, trung sĩ Guinet, và binh nhì Gross.

Tường trình của trung sĩ Pierre Guinet:  ”Đó là ngày 5/12/1945. Trung đội của Martin dẫn đầu. Xe thiết giáp đi cuối lần nữa bị hư. Khoảng trưa, khi sắp tới 2 km cuối cùng, súng tự động nổ vang. Quân phục kích, với quân đông đảo núp sâu trong rừng, tấn công những xe đi đầu. VM vô hình trong rừng rậm hai bên đường. Trung sĩ Aubert, ngồi kế tôi, bị trúng đạn vở đầu. Gross, thủ khẩu 12.7, bị trúng đạn ở cổ, trong khi chúng tôi phóng xuống đất giữa tiếng đạn rít (whin). Icart bị trúng ở đùi. Tôi trở lại xe tải và điều khiển khẩu 12.7. Giờ chỉ bắn từng phát 1. Aubert đã chết, Gross đang hấp hối, và máu khắp nơi”.  

 9

Chuyển ngữ bản tiếng Anh, dịch bằng Google Dịch từ nguyên bản bằng tiếng Pháp từ nguồn:

(4) Facebook

San Jose ngày 8 Aug 2026, cập nhật ngày 29/8/2026, và cập nhật lần 2 ngày 14/9/2026.

Tài Trần