Monday, September 14, 2026

 

QUÂN PHÁP TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT THÁNG 11 NĂM 1945.

                           

ĐÂY LÀ MỘT XE RENAULT VIVA 4, MÀ CHỈ HUY CỦA VM TẠI ĐỊA PHƯƠNG ĐÃ DÙNG. XE NÀY TRƯỚC ĐÓ CỦA CHỦ ĐỒN ĐIỀN CAO SU. QUÂN PHÁP NHỜ XE NÀY ĐÃ QUA MẶT CÁC TRẠM KIỂM SOÁT CỦA VM TRÊN ĐƯỜNG TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT. (C’est un véhicule identique à celui-ci (Renault Viva 4) que le chef régional viet-minh s’était approprié (sûrement en le prenant au propriétaire d’une plantation) et que la colonne a pu récupérer pour tromper les sentinelles des postes VM dans la dernière ligne vers Buôn Ma Thuột). 

LỜI NÓI ĐẦU:

Tưởng cũng nên nhắc lại: Tháng 9/1940, quân Nhật đã xâm chiếm phía bắc của Đông Dương sau khi nước Pháp rơi vào tay Đức Quốc Xã. Chánh quyền thuộc địa của Pháp tại Đông Dương (dưới thời Vichy) lúc đầu vẫn nắm quyền, nhưng cho phép quân Nhật hiện diện.

Tháng 7/1941, quân Nhật tiến vào phía nam Đông Dương, dùng khu vực này để làm bàn đạp tấn công Malaya, Singapore, và vùng Đông Ấn (Dutch East Indies).

Tháng 3/1945: Sợ rằng người Pháp sẽ nổi dậy khi chiến tranh trở nên thất lợi cho Nhật, họ đã làm đảo chánh Pháp, bắt giam các viên chức Pháp, và buộc các thủ lãnh địa phương phải tuyên bố độc lập trên danh nghĩa, dưới sự bảo hộ của Nhật.

Tháng 8/1975, Nhật đầu hàng, tạo ra 1 khoảng trống quyền lực dẫn đến Chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhứt. Lợi dụng tình hình này, VM đã dành chánh quyền tại Hà Nội và một số khu vực trên toàn quốc, bao gồm tại Nam Kỳ và Trung Kỳ. Sau đó, quân Pháp theo chân quân Anh, để tái chiếm Nam Kỳ và Trung Kỳ. Ở Bắc Kỳ, quân của Trung Hoa Dân Quốc vào giải giới quân Nhật…

Sau là là phần chuyển ngữ.

Chú ý: Để tôn trọng nguyên bản, tôi xin giữ những danh xưng đã dùng trong bài viết.

“Trong khuôn khổ của việc người Pháp trở lại Nam Kỳ (Cochinchina), và Trung Kỳ (Annam), họ đã thực hiện các cuộc hành quân tảo thanh (lục soát) và bình định. (Nam Kỳ và Trung Kỳ, sau này được chúng ta gọi Nam phần và Trung phần – ND)

BẢN ĐỒ CỦA HÀNH QUÂN TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT (BMT).

 

Ngày 25/11/1945, đại đội A của Trung đoàn 5 Bộ binh Thuộc địa (5th RIC) nhận lịnh phải tiến hành một hành quân xa 350-km vào Cao nguyên Trung Kỳ để bất ngờ chiếm Ban Mê Thuột.  (Nói thêm: Trung đoàn này là một đơn vị cảm tử hay thám kích thành lập tại An-giê-ri năm 1943 trong Đệ Nhị Thế chiến, lúc đầu có tên là Đoàn Can thiệp Cơ động (Corps Léger d’Intervention hay CLI) và được tái xử dụng (repurpose) để hoạt động tại Viễn Đông, và cuối cùng tái cấu trúc ngày 1/5/1945 ở Tích Lan, nay là Sri Lanka, với tên mới là Trung đoàn 5 Bộ binh Thuộc địa (5th RIC) để giúp quân Pháp tái chiếm Đông Dương. (Trung đoàn này được thiết kế như 1 đơn vị bộ binh nhẹ, họ xử dụng chiến thuật du kích/thám sát, hoạt động sau phòng tuyến của đối phương, dựa trên những kinh nghiệm của các đơn vị đặc biệt của Đồng Minh như SAS của Anh, v.v… Đến Sài Gòn vào cuối 1945, họ đã chiến đấu từ Nam Kỳ đến Lào và bờ biển Trung Kỳ. Đơn vị này đã chính thức giải tán vào ngày 1/7/1946 tại Lào, với các cán bộ kinh nghiệm sau này trở thành nòng cốt của các TĐ Dù và thuộc địa của Pháp – ND).

ẢNH: HUY HIỆU CỦA TRUNG ĐOÀN 5 BỘ BINH THUỘC ĐỊA, TRƯỚC ĐÓ CÓ TÊN LÀ ĐOÀN CAN THIỆP CƠ ĐỘNG (CLI).

Đơn vị này đã đến sân bay Tân Sơn Nhứt ngày 12/9/1945, dưới quyền của đại úy Noirtin, bên cạnh là trung tá Rivier—một đại biểu quân sự lâm thời, từng phục vụ trước đây trong TĐ lính Thượng.

Nay chỉ huy bởi đại úy Lataste, đại đội (đ.đ.) được chia thành 3 trung đội chiến đấu và hai toán chỉ huy và võ khí nặng, bao gồm 8 sĩ quan (sq), 4 dự bị sq, 48 hạ sq, và 61 binh sĩ (bs). Họ được tăng cường bởi khoảng 30 người từ Trung đoàn 5 bộ binh thuộc địa và 1 nhóm các cựu tù binh Pháp, cũng như vài dân thường quen thuộc với địa thế trong vùng hành quân. Liên đoàn khinh chiến của sư đoàn 2 thiết giáp, viết tắt là GM/2e DB, đã cung cấp hai xe thiết giáp nhẹ M8 (Greyhound), xem hình, và 1 trung đội của trung đoàn 501 chiến xa, viết tắt là 501e RCC, cùng với xe tải như xe GMC hay xe Dodge 6x5; trong khi đó trung đoàn 5, lại trang bị bởi Sư đoàn 20 Ấn độ của thiếu tướng Anh quốc Douglas Gracey với các xe tải hiệu Chevrolet C MP 15-cwt do Canada sản xuất, xem hình. Toàn bộ lực lượng này dưới quyền chỉ huy của trung tá Rivier.

 

ẢNH CHIẾN XA M-8: Khi bị phục kích trên QL-19 năm 1954, chiến đoàn 100 của Pháp có xài chiến xa này, sản xuất từ 1942, có đại bác 37 ly (80 viên), 1 đại liên 12.7 ly 400 viên và 1 đại liên 7.62 ly 1.500 viên. Trong trận Đồng Xoài 1965, có 2 xe này bị VC chiếm, gây thương vong cho quân trú phòng, nhưng sau đó bị máy bay phá hủy.

ẢNH của chiến xa Cadillac V-100, sản xuất năm 1963, do chạy bánh nên được ĐPQ VNCH dùng để tuần tiểu các quốc lộ như QL-4 cho tới năm 1975. Trang bị 1 đại bác tự động 20 ly, 1 phóng lựu 40 ly, 1 đại liên 12.7 ly và một đại liên 7.62 ly.  

 

ẢNH TRÊN VÀ DƯỚI, XE TẢI CHEVROLET 15 CWT CMP DO CANADA SẢN XUẤT, TRƯỚC ĐÂY THUỘC SƯ ĐOÀN 20 ẤN ĐỘ CỦA TƯỚNG GRACEY, NAY TRANG BỊ CHO TRUNG ĐOÀN 5 BỘ BINH THUỘC ĐỊA.

ẢNH XE DODGE 6X6 DO MỸ SẢN XUẤT GẶP TRỞ NGẠI.

ẢNH: TỚI TRẠI LE ROLLAND, TRÊN ĐẤT CAM-BỐT.

ẢNH: TỚI NGÃ BA TAM BIÊN.

ẢNH TRÊN: TRỤ ĐỊNH VỊ CỦA NGÃ BA BIÊN GIỚI,

CHỤP NĂM 1945, VÀ ẢNH DƯỚI, CHỤP BÂY GIỜ.

ẢNH: DO TỪNG TRANG BỊ CHO SƯ ĐOÀN 20 ẤN ĐỘ, LÚC ĐÓ VẪN CÒN LÀ THUỘC ĐỊA CỦA ANH, NÊN XE NÀY MANG CỜ ANH. ẤN ĐỘ ĐỘC LẬP NGÀY 15.8.1947.

ẢNH TRÊN: CẦU 14 HAY CẦU SÊ RÊ PÔC, GẦN BMT, CHỤP NĂM 1945, VÀ BÂY GIỜ, ẢNH DƯỚI.

ẢNH BẢNG HIỆU TRƯỚC BAN TÀI CHÁNH CỦA VM, Ở BMT.

ẢNH TRÊN: KHẨU ĐẠI LIÊN Ở SAU XE LÀ HOTCHKISS 1914; ẢNH DƯỚI, RÕ HƠN. (TRƯỚC NGÀY NHẬT ĐẢO CHÁNH PHÁP 9/3/1945, BMT VẪN CÒN DƯỚI QUYỀN CỦA PHÁP).

 

Lực lượng khởi hành ngày 27/11. Dự định sẽ đi qua Bù Đốp, trại Le Rolland (trên đất Cam-bốt), và đồn “Tam Biên”, xem bản đồ; các chướng ngại – như đường và cầu hư—ngày càng nhiều khi đi khỏi Bù Đốp (khiến phải tốn 36 giờ để sửa chữa sau vùng Tam Biên. Rất may cho quân Pháp khi họ đã chận bắt một viên chức địa phương của VM; và dùng xe của y (hiệu Renault Viva 4, xem hình) mà trước đó VM tịch thu của chủ đồn điền. Quân Pháp cho xe này chạy trước đoàn xe để đánh lừa và tiêu diệt từng chốt kiểm soát của VM. Chiến thuật này đã cho phép quân Pháp tới BMT mà không đánh động quân VM ở đó và gần như chiếm thị trấn này mà ko cần chiến đấu. Quân Pháp có sáu bị thương; trong đó có chuẩn úy Fabrège, sau này chết ở binh viện Grall hay Đồn Đất ở SG. Một số lớn súng đạn bị tịch thu, và khoảng 30 con tin Pháp được giải thoát.

Thay vì phát huy sự thành công này để làm suy yếu khả năng của VM tại địa phương, Rivier quyết định trở lại Bù Đốp ngày kế-- có lẽ do hiểu lầm lịnh của cấp trên—dù có phản đối của cấp dưới. Ngay khi tới Bù Đốp, ông lại nhận lịnh phải trở lại BMT; quân Pháp đã tái chiếm BMT ngày 5/12 sau khi bị phục kích nhiều lần—khi phải chiếm lại các trạm kiểm soát của VM trên đường từ Bù Đốp đến BMT. Họ cũng đụng độ dữ dội ngay trong thị xã. Tổn thất nặng hơn kỳ trước rất nhiều: 6 chết—trong đó quân y sĩ Nouaille-Degorce, thiếu úy Hérichier, và binh nhứt Geoffroy—và sáu biệt kích bị thương, gồm thiếu úy Icart, trung sĩ Guinet, và binh nhì Gross.

Tường trình của trung sĩ Pierre Guinet:  ”Đó là ngày 5/12/1945. Trung đội của Martin dẫn đầu. Xe thiết giáp đi cuối lần nữa bị hư. Khoảng trưa, khi sắp tới 2 km cuối cùng, súng tự động nổ vang. Quân phục kích, với quân đông đảo núp sâu trong rừng, tấn công những xe đi đầu. VM vô hình trong rừng rậm hai bên đường. Trung sĩ Aubert, ngồi kế tôi, bị trúng đạn vở đầu. Gross, thủ khẩu 12.7, bị trúng đạn ở cổ, trong khi chúng tôi phóng xuống đất giữa tiếng đạn rít (whin). Icart bị trúng ở đùi. Tôi trở lại xe tải và điều khiển khẩu 12.7. Giờ chỉ bắn từng phát 1. Aubert đã chết, Gross đang hấp hối, và máu khắp nơi”.  

 9

Chuyển ngữ bản tiếng Anh, dịch bằng Google Dịch từ nguyên bản bằng tiếng Pháp từ nguồn:

(4) Facebook

San Jose ngày 8 Aug 2026, cập nhật ngày 29/8/2026, và cập nhật lần 2 ngày 14/9/2026.

Tài Trần

No comments:

Post a Comment