Showing posts with label trận phụng dực. Show all posts
Showing posts with label trận phụng dực. Show all posts

Tuesday, March 16, 2021

 

TRẬN PHỤNG DỰC THỨ HAI Ở QUÂN KHU 3 KHI 11 XE TĂNG T-54 CỦA CSBV BỊ BẮN CHÁY TRONG CHÍN NGÀY


- Trong 9 ngày này, 4 tiểu đoàn BĐQ và một tiểu đoàn ĐPQ tại quận lỵ Chơn Thành, tỉnh Bình Dương, dù bị bao vây chặc chẻ, mọi tiếp tế đều bằng máy bay, đã anh dũng chống trả nhiều đợt tấn công của một sư đoàn tăng cường* của csbv có nhiều xe tăng, pháo mặt đất và pháo phòng không 37 ly hay 57 ly hỗ trợ. Theo hồi ký của nhiều cựu sq VNCH, bắc quân còn dùng pháo phòng không này để tấn công bộ binh VNCH. 

* Một sđ có trên ba trung đoàn được gọi là sđ cộng (+) hay sđ tăng cường (reinforced)--trong trận này là sđ 9 csbv + trung đoàn 273 của sđ 341 csbv.  

- Nhân danh một người từng phục vụ tại sđ 7 bộ binh VNCH, tôi xin ghi ơn các chiến sĩ BĐQ đã chết hay bị thương hay mất tích hay bị bắt trong những ngày tháng cuối của cuộc chiến vì các đv của họ, tuy dày dạn chiến trận, nhưng quân số và vũ khí thiếu thốn, lại rất cần để củng cố tinh thần những người lính bộ binh khác đang bị đẩy (hard-pressed) gần SG hơn. Vì lúc đó BĐQ đã được dùng như tổng trừ bị, ko thua gì Nhảy Dù hay TQLC--đặc biệt khi hai đại đv này đã bị cầm chân tại QK-1. Như đã nói trong các bài trước, do cấp số tổ chức, một liên đoàn bđq gồm ba TĐ, dù quân số bằng một trung đoàn bộ binh, nhưng hỏa lực và tiếp vận của họ thì ko bằng: vì một sđ bộ binh có ba TĐ pháo binh 105 ly cơ hữu, nên các đv bộ binh hành quân ở đâu cũng đều nằm trong tầm đạn yểm trợ của pháo binh của sđ họ hay sđ bộ binh khác; trong khi đó một liên đoàn bđq, chỉ được yễm trợ bởi pháo binh của sđ hay tiểu khu mà họ tăng phái--mãi sau này mỗi LĐ BĐQ mới có một pháo đội 105 ly cơ hữu của LĐ.


LỜI NÓI ĐẦU: Trong bài mới đây các bạn đã biết về 500 người anh hùng của trung đoàn 53 sđ 23 bộ binh ở sân bay Phụng Dực, hôm nay tôi xin giới thiệu một Phụng Dực thứ hai ở quân khu 3 diển ra từ ngày 24/3 đến 1/4/75. Trong ba ngày đầu tiên, BĐQ đã bắn cháy 11 xe tăng T-54 và hạ 240 lính csbv. Từ lâu BĐQ đã đào hào sâu quanh quận ly Chơn Thành, kế đó là tường làm bằng bao cát cao gần 2 m. Tuy nhiên, tôi nghĩ căn cứ này ko thể kiên cố bằng Phụng Dực vì sân bay này nguyên là một trại LLĐB của Mỹ với các hầm hào bằng bê tông cốt sắt. Nhờ vậy, dù chỉ có một TĐ và một đại đội mà các đv này của trung đoàn 53 sđ 23 bộ binh đã cầm cự được một tuần trước Bắc quân có xe tăng và pháo. Theo trung tá Ngô văn Xuân, chỉ huy trung đoàn 44, cũng thuộc sđ 23, chỉ đến ngày 16/3, khi có lịnh của thiếu tá Cẩm, trưởng phòng 3 sđ, ĐT Võ Ân và tàn quân mới rút lui; nghĩa là nếu ko có lịnh này, họ sẽ tiếp tục chiến đấu tới người cuối cùng.

Sau đây là chi tiết của chiến công này của BĐQ quân khu 3 qua chuyển ngữ từ trang 255-260 của sách Black April.

==

. . . 

"Trong khi tướng Nguyễn văn Toàn đã nghĩ rằng hai gọng kềm (pincer) của quân csbv tại bắc và nam của thị xã Tây Ninh sẽ cố gắng bắt tay với nhau tại Gò Dầu Hạ--giao điểm của QL-1 và quốc lộ 22, xem bản đồ, thực ra tướng csbv Trần văn Trà đã ra lịnh cho thành phần chủ lực (bulk) của sđ 303 csbv tiến về phía đối diện, đó là tỉnh Hậu Nghĩa. Sđ này chỉ để một trung đoàn tấn công Gò Dầu Hạ trong khi phần còn lại rời bỏ mục tiêu này. Vì không biết được chiến lược này của bắc quân, chuẩn tướng thiết giáp Trần Quang Khôi, đã ngừng mọi cố gắng để tái chiếm quận lỵ Trị Tâm của quận Dầu Tiếng mà tập trung bảo vệ Gò Dầu Hạ. 

                                 


(Nói thêm: Theo hồi ký của tướng Khôi, không giống các QK khác, QK-3 có Lực lượng Xung kích Quân đoàn 3, tương đương với một sđ cơ giới, dưới quyền chỉ huy của ông. Đây là một sáng kiến quý giá cuả trung tướng Đỗ cao Trí từ năm 1970, và được thực hiện nhuần nhuyễn bởi tướng quân, nhưng lực lượng đã bị giải tán thời tướng Nguyễn văn Minh, và chỉ phục hồi sau khi ông Khôi đi học ở Mỹ trở về. Vào năm 1973, khi QĐ-3 chỉ huy bởi tướng Phạm quốc Thuần, lực lượng này được tăng phái LĐ 33 BĐQ, TĐ 46 pháo binh 155 ly, TĐ 61 pháo binh 105 ly, và TĐ 302 công binh chiến đấu và hình thành ba chiến đoàn 315, 318 và 322--tổ chức giống nhau. Mỗi chiến đoàn (task force) có 2 chi đoàn M-113, một chi đoàn M-48, một tiểu đoàn BĐQ thuộc LĐ 33, một pháo đội 105 ly cơ động đặt trên xe xích M-548, xem hình, và một trung đội công binh. Lực lượng này còn có đại đội trinh sát và pháo đội 105 ly của lđ 33 bđq. Trong ngày 29/4/75, sau khi nghe tin tướng Toàn bay ra Vũng Tàu, tướng Khôi vẫn ở lại và đi tù 17 năm. Dù VNCH đã sụp đổ nhưng chúng ta ko thể quên những chiến tích lẫy lừng của lực lượng xung kích quân đoàn 3 đạt được từ thời tướng Trí đến những ngày cuối cùng.-- Người dịch). 

Nhờ những oanh kích liên tục của không quân, Khôi đã giữ vững Gò Dầu Hạ, dù bắc quân chỉ còn cách thành phố 1,6 km. Vì nghĩ rằng Khôi đã ngăn chặn tấn công của bắc quân, Toàn đã ra lịnh cho Khôi dùng trung đoàn 48 của sđ 18 để tái chiếm QL-1 đoạn từ Gò Dầu Hạ tới biên giới Cambodia. Nhờ nỗ lực tối đa của phi pháo, trung đoàn 48 đã từ từ bắt đầu tiến lên. Đối với bắc quân, hoạt động này của trung đoàn 48 dọc theo ql-1 sẽ đe dọa nguy hiểm cho hậu quân của sđ 303 trong khi sđ này tiếp tục tấn công Hậu Nghĩa. Để ngăn ngừa thảm họa này, sđ 303 gửi một TĐ đến Hậu Nghĩa để tăng cường cho trung đoàn đang làm nhiệm vụ ngăn cản bước tiến của nam quân. 

         

Chiến xa M-548 chở chiến cụ
                       

Ảnh minh họa: hai cô ca sĩ trong một buổi văn nghệ của Không quân. 

Dù có lịnh phải giữ ql-1, bắc quân đã rút lui (give ground). Trong một trận đụng độ, gần một đại đội bị đánh tan. Vì thấy nam quân tiến dọc ql-1, tướng Trà ra lịnh sđ 9 tấn công vào cạnh sườn khác của tướng Khôi gần quận lỵ Trị Tâm thuộc quận Dầu Tiếng để buộc tướng Toàn rút trung đoàn 48 về hỗ trợ cho thiết đoàn 3 của tướng Khôi. Ngày 23/3, một trung đoàn của sđ 9 csbv đã đẩy lui TĐ 2/7 tân lập của sđ 5 vnch (đv này đã từng tan rả trong trận Phước Long đầu năm 1975) khỏi tp Truông Mít gần tỉnh lộ 22. Khoảng 3/4 đv này bị giết, bị thương, hay mất tích. 

Khôi lập tức phản ứng bằng cách gửi hai đv gồm thiết kỵ và bđq để tái chiếm Truông Mít. Họ đã đụng với sđ 9 csbv vào ngày 24/3. Sau trận ác chiến, lực lượng của Khôi đánh tan bắc quân và chiếm lại Truông Mít, giết hơn 100 tên và lấy nhiều vũ khí. Vì thấy lực lượng địch chung quanh tp này còn mạnh nên Khôi rút trung đoàn 48 về Gò Dầu Hạ.

Một cách tổng quát, đây là một trò chơi trong tuyệt vọng của Toàn và Khôi, với Khôi giống như người lính chữa lửa (fireman), khi phải dập tan các đám cháy tại hai nơi xa nhau trong tỉnh Tây Ninh. Đây là một phối hợp nhuần nhuyễn giữa người và cơ giới, một phối hợp đòi hỏi phải giỏi về tham mưu và kế hoạch tốt về tiếp liệu. Nhưng khi các đv lần lượt bị đánh tan như TĐ 2/7 kể trên, Toàn càng lúc càng ít chọn lựa. 

Nói rõ hơn, Toàn cần thêm trừ bị. Trước đó, trong cuộc họp hội đồng an ninh quốc gia ngày 13/3, TT Thiệu đã cho phép Toàn tái phối trí các đv biệt động quân. Tại QK-3 có ba liên đoàn bđq: 31, 32, và 33. Liên đoàn 33 tăng phái cho thiết đoàn 3, đã kể ở trên. Liên đoàn 31 dầy dạn chiến trận vì trước đây là lđ 3 bđq từng tử thủ ở An Lộc năm 1972. Hiện họ bảo vệ quận lỵ Chơn Thành trên ql-13, nhưng bị bao vây bởi bắc quân và mọi tiếp đều bằng máy bay. Tiền đồn vnch gần nhứt cách quận lỵ này 16 km về hướng nam là Lai Khê. LĐ 32 bđq, đóng lại tỉnh lỵ An Lộc của tỉnh Bình Long, 19.2 km bắc của Chơn Thành, lại còn bị cô lập hơn. An Lộc cũng là nơi đặt  bch bđq của QK-3, nhưng tầm quan trọng về tâm lý của thị xã này còn lớn hơn: việc tử thủ tại An Lộc năm 1972 đã là chiến tích vẻ vang nhứt của nam VN trong chiến tranh. Nhưng giờ đây, cả An Lộc và Chơn Thành ko còn giá trị quân sự nữa. Mỗi LĐ có ba TĐ, và những đv dày dạn chiến trận này rất cần để củng cố tinh thần những người lính đang bị đẩy (hard-pressed) gần SG hơn. Ý nói BĐQ sẵn sàng gửi tới những nơi mà tình hình nguy ngập. 

Đoán biết từ lâu một tấn công khác của bắc quân vào An lộc, ĐT Nguyễn thành Chuẩn, chỉ huy trưởng bđq qk-3, đã chuẩn bị rất kỹ. Ông đã cho dự trữ 90 ngày nhiên liệu, lương thực và đạn dược. Ông ko bao giờ nghĩ rằng phải bỏ một nơi mà hàng ngàn lính vnch đã chết để bảo vệ. Do vậy ông rất ngạc nhiên khi tướng Vỹ, TL của sđ 5 đi trực thăng đến báo tin: tướng Toàn ra lịnh phải rút bỏ An lộc. Chuẩn có năm ngày để chuẩn bị rút về Chơn thành. 

Chuẩn và sq các cấp rất bực mình nhưng phải tuân lịnh. Chuẩn sẽ rút theo ba giai đoạn. Giai đoạn một, rút pháo binh, di tản thường dân, và đốt mọi tiếp liệu và trang bị. Khi việc này đã xong, trực thăng sẽ chở bch bđq qk-3, bch tiểu khu, và một TĐ của lđ 32 bđq. Giai đoạn ba, hai TĐ còn lại của lđ này và đpq sẽ di tản bằng đường bộ và bắt tay với một TĐ của LĐ 31 đi từ Chơn thành, hai bên gặp nhau ở giữa đường. Bí mật được giữ tối đa, vì nếu bắc quân biết được sẽ là tai họa cho đoàn quân di tản.

Cuộc di tản đã vô sự trong hai giai đoạn đầu. TĐ bđq cuối cùng rời An lộc khi trời tối, họ bắt đầu đi bộ xuyên khu vực rừng rậm do bắc quân kiểm soát. Dù có vài cuộc chạm súng nhỏ, những bđq này đã tới Chơn thành vô sự ngày 20 tháng ba. Một lý do của thành công này là tướng Trà đã rút quân chính quy quanh An lộc về Tây ninh, chỉ còn du kích ở ql-13. Hay tin này, Trà nổi giận đã ra lịnh cho sđ 9 csbv phải tiêu dịêt Chơn Thành ngay.

Đoán trước bắc quân sẽ tấn công Chơn thành, Chuẩn đã nhanh chóng lập phòng tuyến mới với một TĐ địa phương quân và sáu TĐ bđq, cộng với 11 xe tăng M-41 và pháo binh. Từ lâu bđq đã biến Chơn thành thành một pháo đài. Một hào sâu bao quanh căn cứ, kế đó là một bức tường làm bằng bao cát cao 1,82 m. Trên bức tường có những lổ để đặt súng đại liên hay súng đại bác của xe tăng. Với hai lđ này gồm 6 TĐ, Chuẩn nghĩ rằng sẽ chống đỡ mọi tấn công nhưng giờ chót, Toàn ra lịnh tăng phái LĐ 32 bđq cho Tây ninh. Quá bất ngờ (flabbergasted), Chuẩn xin Toàn cho giữ lại ít nhứt một TĐ, Toàn đồng ý. Như vậy tại căn cứ này sẽ chỉ còn bốn TĐ BĐQ--gồm ba TĐ của LĐ 31 và một TĐ của LĐ 32 --và một TĐ ĐPQ. 

Sđ 9 csbv gửi phần lớn của hai trung đoàn, cộng với quân địa phương và một TĐ xe tăng tấn công quận lỵ này. Họ ko có thời giờ để thám sát địa thế hay tấn công thăm dò vì Trà muốn có kết quả lập tức. Kế hoạch rất đơn giản: tấn công chính diện bởi xe tăng, theo sau là bộ binh. Lúc 9:30 giờ SÁNG NGÀY 24/3, cuộc tấn công bắt đầu. Pháo binh bắn mở đường, kế đó là xe tăng. BĐQ đã chờ đợi họ. Khi xe tăng bắc quân tới gần, bđq đã bắn dữ dội bằng M-72 và súng không giựt 57 ly. Đầu tiên một chiếc, rồi ba chiếc, rồi bảy chiếc T-54 bị cháy. Khi bộ binh bắc quân tiến lên, Chuẩn đã tấn công họ với phi pháo. Vào đầu buổi chiều, trận đánh chấm dứt. Bảy T-54 bị hủy diệt hay hư, và hơn 100 bắc quân chết hay bị thương. Bắc quân đã trả giá đắc do sự vội vả của Trà.

Khi nhận ra quân vnch tại Chơn Thành mạnh hơn họ tưởng, quân đoàn 4 csbv ra lịnh cho trung đoàn 273 sđ 341, đang đóng chốt trên ql-13 ở nam Chơn Thành, gửi hai TĐ tăng phái cho sđ 9 tấn công tp này. Một tđ ở lại để chặn viện quân từ Lai Khê. Trong khi đó sđ 9 sẽ tấn công vào NGÀY 27/3. Có vẻ các tư lịnh bắc quân quá tự tin vì họ ko thay đổi chiến thuật. Họ vẫn bắt đầu với pháo mở đường, kế đó là xe tăng và bộ binh. Kết quả lần này tệ hơn lần trước. Các cánh quân của csbv đã bị dập khi tới gần quận lỵ. Sau hai đợt tấn công, có 240 bắc quân bị giết và 11 tăng T-53 bị hủy diệt, lực lượng của Chuẩn chết và bị thương gần 50 người. 

TL của sđ 9 csbv giờ đây nghĩ rằng phải thêm quân mới chiếm tp này. Ông rút một trung đoàn ở Tây Ninh về Chơn Thành. NGÀY 30/3, ba trung đoàn của sđ 9 csbv, cộng với trung đoàn 273, số xe tăng còn lại, mười lăm đại bác, trong đó có ba khẩu 130-ly, đã có mặt tại vị trí để chờ giờ nổ súng vào quận lỵ Chơn thành. RẠNG ĐÔNG NGÀY 31/3, họ bắt đầu tấn công. Trong vòng hơn hai giờ, ba ngàn đạn đại bác và cối rớt xuống các vị trí bđq, phá hủy các bãi mìn và hầm trú ẩn. Kế đó là xe tăng xuất hiện, theo sau bởi bộ binh, tiến từ nhiều hướng. Dù bị áp đảo về quân số (heavily outnumbered), những người lính bđq vẫn ko nao núng (did not yield). Bắc quân chọc thủng phòng tuyến ba lần, nhưng đều bị đẩy lui bởi những người lính bđq với quyết tâm sắt đá. Dù thiếu quân số và kiệt sức, lính bđq đã chận đứng một sđ tăng cường và diệt thêm nhiều xe tăng. 

Tuy nhiên, niềm vui của Chuẩn ko kéo dài lâu. Một sq bđq sau này kể lại rằng dù tiếp tế của không quân vẫn tiếp tục, "số lượng tiếp tế giảm dần do hàng rào phòng không dầy đặc. Hỏa lực phòng không và pháo dội xuống quận lỵ nhỏ bé này có vẻ còn nặng hơn trận An Lộc. Với quân số và đạn dược ngày càng tiêu hao, ko có viện binh... áp lực này rất lớn. Bắc quân đã quyết tâm chiếm quận này để dễ dàng tiến quân theo QL-13 về SG. Vào ngày thứ chín của cuộc bao vây này, ko còn máy bay đến tải thương hay tiếp tế. Trực thăng ko thể đáp, dù cho phi công đầy kinh nghiệm. Nhận thức khó khăn này, VÀO BUỔI CHIỀU NGÀY 31/3, Chuẩn xin rút về Lai Khê. Toàn đồng ý vì nghĩ rằng họ sẽ bị tràn ngập và ông rất cần họ cho mặt trận khác. Nói thêm: theo hồi ký của cựu chiến binh csbv, họ đã dùng pháo phòng không 37 và 57 ly do xe kéo, xem hình, trong trận đánh Chơn Thành.-- người dịch. 

                       


Pháo cao xạ 57 ly 

Lúc 10 giờ đêm, Chuẩn họp các sq để bàn về di tản. Đối với bđq, lịnh di tản lần thứ hai này là một nỗi đau cùng cực. Nói thêm: lần di tản thứ nhứt là từ An lộc về Chơn thành.--người dịch. Họ đã giữ vững vị trí với quyết tâm sắt đá chống lại một kẻ thù mạnh hơn về quân số và hỏa lực. Phải rút lui trong lúc chưa thua trận là điều ko thể tưởng tượng--tuy nhiên là người lính, họ phải tuân lịnh. Theo sách Vietnam from cease-fire to capitulation, ngày 1/4, không quân đã ném bom dữ dội với 52 phi xuất vào các vị trí đóng quân và tập trung của bắc quân, nhờ vậy LĐ 32 được trực thăng bốc khỏi Chơn Thành và chỡ tới Khiêm Hạnh.--người dịch). Cuộc rút quân diển ra trong đêm 1/4, trong khi bắc quân đang tập trung để tấn công sáng hôm sau. Không quân đã ném bom dữ dội để nghi binh trong khi bđq hủy diệt các chiến xa và đại bác của họ và sau đó rút lui xuyên qua phòng tuyến bắc quân. Mỗi TĐ rút theo một hướng nhưng điểm đến vẫn là Bầu Bàng và Lai Khê. TĐ 52 bđq đi lạc, lọt vào một ổ phục kích và thiệt hại trung bình. TĐ đpq cũng cùng số phận. Tuy nhiên, phần còn lại của liên đoàn 31 bđq đã rút lui trong trật tự và sau khi bổ sung quân số đạn được, họ đã được tái phối trí cho mặt trận khác. Nói thêm: Theo BĐQ Nguyễn Quốc Khuê, cựu trưởng ban ba của LĐ 31 BĐQ, họ đã chiến đấu trong ba ngày đêm mới đến vùng quốc gia kiểm soát sau khi rút khỏi Chơn Thành; sau khi chỉnh trang quân số tại hậu cứ Phan Hạnh ở Biên Hòa, khoảng đầu tháng 4/75 LĐ 31, gồm các TĐ 52, 31 và 36, dưới quyền chỉ huy của ĐT Nguyễn văn Biết, đã được không vận bằng C-130 ra Phan Rang để đánh trận cuối cùng từ ngày 13-16/4 trước khi tan rả.--người dịch. Bắc quân giờ đây đã chiếm toàn tỉnh Bình Long và đẩy phòng tuyến của vnch về gần SG hơn. Sau khi mất Chơn Thành, phòng tuyến xa nhứt của vnch trên Ql-13 là Lai Khê, nơi đặt BTL sđ 5 của tướng Lê nguyên Vỹ.

Dịch từ trang 255-260 của sách đã dẫn.

San Jose ngày 23/3/21. 


Friday, May 4, 2018

Cận cảnh trận phản kích Phước An-Nông Trại-Chư Cúc

Tháng Tư 30, 2013
Sau khi giải quyết xong cơ bản  nhiệm vụ tác chiến, đánh chiếm thị xã Buôn mê Thuột, sân bay Hòa Bình, BCH chiến dịch Tây Nguyên đã tính trước việc địch nhất định sẽ tổ chức phản kích chiếm lại. Tuy nhiên, do ta đã sớm “ gạn lọc” tình huống, cắt đứt các đường huyết mạch lên cao nguyên, như đường 19, 21. Chiếm giữ các địa thế hiểm yếu dọc trục giao thông đường 14, nối Nam với Bắc Tây Nguyên, nên ta phán đoán lúc này địch chỉ có thể đổ quân bằng trực thăng (là chủ yếu).
Trên địa bàn rộng, dự kiến địch đổ quân  ở đâu, phía đông hay Tây Buôn Mê Thuột? Đó là cả một nghệ thuật phán đoán, tiên lượng và dự kiến. Với đường kính hàng trăm cây số, chọn điểm chặn kích không “trúng” sẽ nguy hại bởi tổ chức tác chiến sẽ chuyệch choạc, phối hợp hỏa lực với bộ binh, bộ binh với bộ binh khó khăn, lại còn việc khóa vùng trời của phòng không… Địch ở gần tiến hành phản kích là ai, nhiều khả năng là hai trung đoàn từ Plei-cu về! Liệu sư đoàn dù ở Vùng 1 chiến thuật có đổ về đây phản kích không? Đó cũng là dự báo xa của cấp chiến dịch, chiến lược. Tuy nhiên về mặt chiến lược, Tổng hành dinh đã phối hợp chiến trường Trị Thiên rất nhịp nhàng, khiến sư đoàn dù phải sa lầy, “treo chân” ở vùng 1 chiến thuật, ít có khả năng trở về.
Vừa đánh địch, tiến công căn cứ Đức Lập, với khoảng 5 cụm cứ điểm lớn, ngày 11-3, sư đoàn 10 Quân giải phóng lập tức phải cơ động về gần Buôn Mê Thuột làm nhiệm vụ dự bị chiến dịch, sẵn sàng đánh địch phản kích. Một lực lượng thiết giáp, pháo binh cùng trung đoàn 48 bộ binh của sư 10 (thiếu), được lệnh gấp gáp tiến về phía đông Buôn Mê Thuột.
Ta dự kiến đón lõng ở quanh Phước An, Nông Trại, Tại sao không là nơi khác? Nơi đây là hậu cứ cũ của hai trung đoàn chủ lực thuộc sư đoàn 23 Ngụy, có cấu trúc công sự sẵn, có hậu cần, kho đạn…cạnh đó có điểm cao 581, khoảng cách cơ động phản kích hợp lý với quy mô trung đoàn…
Ngày 11 tháng 3 trong khi các trận đánh trong thị xã còn tiếp diễn, tiểu đoàn 6, trung đoàn 24 (sư đoàn 10) đã tấn công cứ điểm Chư Nga và căn cứ 45 phía Đông thị xã. Việc để mất căn cứ 45 và cứ điểm Chư Nga đã buộc các trung đoàn 44 và 45 QLVNCH không có lựa chọn nào tốt hơn phải đổ quân đến Nông Trại – Phước An !!!  Sau này, tài liệu của các sĩ quan QLVNCH cũng thừa nhận, các căn cứ quanh Buôn Mê Thuột đã vào tay đối phương, đổ quân xuống đây là “hợp lý”.
Quả nhiên tin tình báo có sớm:  Ngày 12-3, Tướng Phú, Tư lênh quân đoàn 2 chủ trương: Điều động toàn bộ hai trung đoàn còn lại của sư đoàn 23 (44 và 45) dùng trực thăng vận đổ bộ xuóng khu vực Nông Trại – Phước An (phía Đông Buôn Ma Thuột), hình thành cánh quân phản kích chủ yếu đánh thẳng vào thị xã.
Sử dụng liên đoàn 21 biệt động quân (thiếu) phối hợp với số quân còn lại của trung đoàn 53 tại trại B50 (hậu cứ sư đoàn 23) hình thành một cánh quân tại chỗ để phản kích
Huy động tối  đa các sư đoàn không quân, sư đoàn 6 (thuộc Quân đoàn II), sư đoàn 1 (tại Đà Nẵng), sư đoàn 4 (tại Cần Thơ) yểm trợ tối đa cho cuộc hành quân.
Trận phản kích được mô tả:   Chiều ngày 12 tháng 3, sau trận oanh kích dọn bãi của 81 máy bay cuờng kích A-1, A-37, F-5; hai tiểu đoàn của trung đoàn 45 và một đại đội thám báo của sư đoàn 23 do trung tá Phùng Văn Quang, trung đoàn truởng chỉ huy, đổ quân xuống Phước An.
Trực thăng của các sư đoàn không quân QLVNCH đổ quân
Hơn 100 máy bay trực thăng đủ loại, kể cả CH-47 Chinook đuợc huy động cho cuộc chuyển quân. Lúc 13 giờ 10 phút chiều 12 tháng 3, đích thân thiếu tướng Phạm Văn Phú bay trên phi cơ hạng nhẹ U-17 lên vùng trời Buôn Ma Thuột chỉ huy cuộc phản kích. Từ trên máy bay, tướng Phú điện cho trung tá Võ Ấn đang chỉ huy các lực lượng giữ sân bay Hòa Bình biết cuộc đổ quân xuống Phước An – Nông Trại đã bắt đầu và động viên các đơn vị này cố gắng giữ vững.
Sang ngày 13 tháng 3, có 145 chiếc trực thăng đã đổ trung đoàn 45, pháo đội 232 và tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 44 xuống khu vực điểm cao 581, Nông Trại, Phước An, Chư Cúc dọc đường 21.
Từ chiều 13 tháng 3, các trung đoàn 24 và 28 (sư đoàn 10) được tăng cường hai đại đội xe tăng và một tiểu đoàn pháo binh đã hành quân suốt đêm và áp sát quận lỵ Phước An vào rạng sáng. 7 giờ 7 phút sáng 14 tháng 3, trong khi các đơn vị của hai trung đoàn 44 và 45 QLVNCH còn chưa triển khai đội hình, trung đoàn 24 (sư đoàn 10 ) có hai tiểu đoàn của trung đoàn xe tăng 273 yểm hộ đã từ hai phía nổ súng tấn công trung đoàn 45 tại điểm cao 581.
Đến 12 giờ trưa ngày 14 tháng 3, các tiểu đoàn 1 và 2 của trung đoàn 45 cùng tiểu đoàn bảo an tại điểm cao 581 hầu như bị đánh tan. Tiểu đoàn còn lại vừa đánh vừa lùi về khu vực Nông Trại. Bây giờ thì nhiệm vụ trước mắt của trung đoàn 44 (sư đoàn 23 QLVNCH) chưa phải là giải toả Buôn Ma Thuột mà là ứng viện cho trung đoàn 45 đang bị vây ép. Kẻ đi phản kích lại bị chính đối phương vây ép!
Ngày 15 tháng 3, cánh quân còn lại của sư đoàn 23, trong đó có Sở chỉ huy nhẹ của sư đoàn đổ quân xuống Phước An. Ngày 16 tháng 3, cả hai cụm quân của sư đoàn 23 tại Phước An và Nông Trại cùng lúc bị tấn công. Đến 8 giờ 15 phút, tiểu đoàn 3, đơn vị cuối cùng của trung đoàn 45 (sư đoàn 23 QLVNCH) bị áp lực, tan rã, trung tá Phùng Văn Quang và toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn bị bắt làm tù binh cùng với chiếc trực thăng đã nổ máy định bốc họ lên không.
Ngày 17 tháng 3, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên điều tiếp trung đoàn 28 (sư đoàn 10) và tiểu đoàn xe tăng còn lại của trung đoàn 273 tăng cường cho trung đoàn 24 tấn công Phước An. Cùng ngày, trung đoàn 66 (sư đoàn 10) và trung đoàn đặc công 198 mở đợt tổng công kích vào cụm quân còn lại của trung đoàn 53 và liên đoàn 21 biệt động quân tại sân bay Hòa Bình (Phụng Dực). 11 giờ 30 sáng 17 tháng 3, sân bay Hòa Bình bị chiếm. Trung đoàn 53 bị xóa sổ.
Trong ngày 17 tháng 3, trung đoàn 44 bị tấn công liên tục tan rã tại Phước An. Đại tá Đức (tư lệnh mới của sư đoàn 23) đưa sở chỉ huy nhẹ sư đoàn và hơn 700 quân còn lại về Chư Cúc. Ngay lập tức, ngày 18-3 xe tăng, pháo binh ta mãnh liệt tiến đánh trị trấn này. Sức tiến công áp đảo cộng uy lực lớn từ xe tăng đột phá các cứ điểm,của trung đoàn 28 (sư đoàn 10) và một tiểu đoàn của trung đoàn xe tăng 273 trở thành một mũi tiến đánh rất mạnh, gần 12 giờ tàn quân phải bỏ Chư Cúc chạy về Pleiku. Sư đoàn 10 bắt tại đây hơn 1500 lính. Trận phản kích của QLVNCH với ý định tái chiếm Buôn Ma Thuột thất bại.
*  *  *
Điều gì quân đội VNCH không lường được trong phản kích, cho dù họ biết rõ đối phương sẽ quyết liệt  “chống phản kích”. Đó là sư đoàn 10 lập tức quay trở lại, trở thành lực lượng dự bị chiến dịch mạnh. Sư  đoàn này có pháo chiến dịch yểm trợ, có xe tăng đột kích tiến đánh. Bản thân họ chiếm thêm 14 khẩu pháo từ trận Đức Lập trước đó vài ngày. Đạn pháo dồi dào. Họ có cơ giới hành quân công khai ban ngày….
Pháo binh của Quân Giải phóng có thêm đạn bổ  sung, lại linh hoạt tổ chức nhiều trạm quan sát, thực hành bắn nhiều mục tiêu đột xuất, chia cắt đội hình phản kích, uy hiếp tinh thần binh lính. Trong khi lực lượng phản kích không có thiết giáp mạnh che chắn, việc chế áp hỏa lực đối phương của pháo binh QLVNCH hầu như không làm được.
Máy bay chiến đấu là thế mạnh của bên phản kích, nhưng bị lực lượng phòng không khống chế bằng pháo cao xạ, tên lửa vác vai A-72, do vậy chi viện không hiệu quả cho bộ binh.
Có xe tăng, thiết giáp làm lực lượng đột kích. Có xe cơ giới chở quân, có cao xạ khóa bầu trời, sư đoàn 10 tiến đánh các mục tiêu theo phương thức hành tiến, thọc sâu, áp đảo…Nên hiệu suất chiến đấu cao.
TUẤN KHẢI
qdnd.vn

Đập tan cuộc phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột

Sau khi ta làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột, lực lượng Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy ở Bắc Tây Nguyên và duyên hải Trung Bộ tuy còn đông nhưng mọi con đường đổ về Buôn Ma Thuột đã bị cắt đứt, buộc phải đổ bộ bằng trực thăng. Chuẩn tướng Lê Trung Tường - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 tình nguyện nhận nhiệm vụ chỉ huy lực lượng phản kích buộc phải đổ quân xuống khu vực không xác định trước ở Nông Trại - Phước An trên quốc lộ 21 (nay là quốc lộ 26) cách thị xã Buôn Ma Thuột khoảng 30 km về phía đông.
Từ chiều ngày 12 đến hết ngày 13-3-1975, địch huy động máy bay ném bom dọn bãi, dùng trực thăng đổ bộ Trung đoàn 45 và Pháo đội 232 xuống trục đường 21 từ điểm cao 581, Nông Trại đến Phước An, Chư Cúc. Tiếp đó, chúng lại đổ thêm Trung đoàn 44 và dựng Sở Chỉ huy Sư đoàn 23 xuống vùng này. Địch hy vọng với lực lượng Sư đoàn 23 con cưng “Nam bình, Bắc phạt, Tây Nguyên trấn” và bọn tàn quân Liên đoàn 21 biệt động quân có thể “đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Việt Nam” (Theo lời đại sữ Mỹ Matin) ở phía đông Buôn Ma Thuột để xin viện trợ Mỹ, tiếp tục kéo dài chiến tranh.

Bộ binh và xe tăng Mặt trận Tây Nguyên tiến công tiêu diệt địch trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh Tư liệu Bảo tàng BĐTN
Chủ động đón đầu và nắm chắc thời cơ, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên kịp thời đưa Trung đoàn 24, Trung đoàn 28 (Sư đoàn 10) và lực lượng xe tăng, pháo binh, phòng không vào chiến đấu trên hướng đường 21. Đêm 13 rạng ngày 14-3, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24 có xe tăng phối thuộc lợi dụng ánh sáng đèn dù vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công. Đúng 7 giờ 7 phút ngày 14, trận tiến công địch ở điểm cao 581 mở màn.
Ngay từ phút đầu, pháo chiến dịch bắn dồn dập, chính xác vào các mục tiêu. 8 giờ 45 phút, bộ binh và xe tăng đồng loạt xung phong và làm chủ hoàn toàn trận địa sau hai giờ tiến công. Thấy Tiểu đoàn 2 ở phía trước bị tiêu diệt, lực lượng còn lại của Trung đoàn 45 ngụy co về khu vực đồn điền cà phê ngã ba Nông Trại nhập với tàn quân của Liên đoàn 21 bảo vệ mặt phía tây quận lỵ Phước An. Ngày hôm sau, địch đổ bộ tiếp Trung đoàn 44 xuống khu vực này, nâng quân số của chúng ở Nông Trại - Phước An lên 5600 tên.
Địch tuy đông, nhưng công sự sơ sài, hỏa lực chi viện hạn chế, tinh thần quân lính rệu rã. Nhận thấy thời cơ thuận lợi, Trung đoàn 24 được lệnh phát triển tiến công ở Nông Trại - Phước An, đồng thời Trung đoàn 28 cơ động về hướng này đánh địch. Sau một đêm chuẩn bị, sáng ngày 16-3, pháo cối của ta bắn dồn dập vào các mục tiêu địch trong vòng 25 phút. Hỏa lực chuyển làn, lập tức bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp dũng mãnh tiến công, nhanh chóng đập tan sự kháng cự của Tiểu đoàn 3, rồi chọc thẳng vào Sở Chỉ huy Trung đoàn 45 ngụy. Đúng 8 giờ 15 phút, ta làm chủ hoàn toàn khu vực Nông Trại. 
Sáng 17-3, Trung đoàn 24 làm chủ Phước An, Sở Chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy đã rút về Chư Cúc. Sau bốn ngày tiến công, Trung đoàn 24 và lực lượng tăng cường đã đánh tan Trung đoàn 45 ngụy, loại khỏi vòng chiến gần 1000 tên địch, thu nhiều phương tiện chiến tranh, giải phóng một vùng rộng lớn dọc trục đường 21, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiếp tục phát triển tiến công.
 
Các chiến sỹ Sư đoàn 10 truy kích địch tại Phước An. Ảnh Tư liệu Bảo tàng BĐTN.
Trước diễn biến thuận lợi, Bộ Tư lệnh chiến dịch và Sư đoàn 10 dùng Trung đoàn 28 và một lực lượng xe tăng, pháo phòng không tiếp tục đánh địch trong hành tiến theo dọc trục đường 21 về hướng Khánh Dương. 
Từ chiều ngày 18 đến sáng ngày 19-3, Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 2 xe tăng, Trung đoàn 273 hiệp đồng đánh tan Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 44 ngụy, rồi tiếp tục truy kích đến cầu số 13. Tại đây, địch đánh sập cầu và lập tuyến chốt chặn bên bờ đông, kết hợp với máy bay, pháo binh hòng chặn bước tiến quân của ta. Nhưng trước sức tiến công mạnh mẽ của Trung đoàn 28, lực lượng địch chốt chặn nhanh chóng bị quét sạch, thừa thắng đội hình tiến công binh chủng hợp thành đánh chiếm chi khu quân sự Chư Cúc và làm chủ hoàn toàn khu vực thị trấn lúc 12 giờ. 
Trong cơn hoảng loạn, Chuẩn tướng Lê Trung Tường chạy tháo thân, song chiếc máy bay trực thăng bị trúng đạn, y được đồng bọn lôi ra khỏi máy bay và đưa đi trốn. Tàn quân địch từ Chư Cúc chạy về hướng đông đã bị Trung đoàn 25 tiêu diệt. Trong khoảng 20 giờ tiến công hành tiến, Trung đoàn 28 và lực lượng tăng cường đã vượt chặng đường dài 40 km, đánh nhiều trận làm tan rã hoàn toàn Trung đoàn 44 ngụy, tàn quân Liên đoàn 21 biệt động quân và lực lượng bảo an, thu được nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh, giải phóng một vùng đất rộng lớn dọc trực đường 21, tạo điều kiện cho các lực lượng chiến dịch phát triển về hướng đông.
Trong khi tập trung một lực lượng mạnh đánh bại quân địch phản kích trên đường 21, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng Trung đoàn 66 (Sư đoàn 10) và Trung đoàn 149 (Sư đoàn 316) tiến công tiêu diệt căn cứ 53. Nằm trên trục đường 27, cách trung tâm thị xã Buôn Ma Thuột 8 km về phía đông nam, căn cứ 53 có hình chữ nhật chiều dài 1,2 km, rộng 1 km, có hệ thống công sự kiên cố, hầm ngầm chỉ huy ở giữa bằng bê tông, xung quanh có tuyến tường hộp dày 1,5 m, cao 2 m và 4 đến 6 hàng rào thép gai.

Chiến sỹ Trung đoàn 66 đánh chiếm sân bay Hòa Bình (Buôn Ma Thuột). Ảnh Tư liệu Bảo tàng BĐTN.
Từ 17 giờ 10 phút ngày 16-3, hai Trung đoàn 66 và 149 tổ chức tiến công. Quân địch ngoan cố chống trả quyết liệt, gọi máy ném bom vào các khu vực cửa mở. Nhưng trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, chúng suy yếu nhanh buộc phải tháo chạy. Đến 8 giờ ngày 30-3, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ 53.
Trong hơn năm ngày tiến công, Sư đoàn 10 và các đơn vị xe tăng, pháo binh, phòng không chiến dịch đã lập chiến công vang dội, hoàn thành xuất sắc trận then chốt thứ hai của chiến dịch Tây Nguyên: Đập tan cuộc phản kích “tái chiếm” Buôn Ma Thuột của Quân đoàn 2 ngụy, xóa sổ Sư đoàn 23 và Liên đoàn 21 biệt động quân; diệt và bắt 5.266 tên, thu 3.718 súng các loại, 305 xe quân sự và 1 máy bay trực thăng; giải phóng hoàn toàn vùng đông bắc tỉnh Đắc Lắk. Chiến thắng trên đường 21 đã góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển, tạo thế chia cắt địch về chiến lược, đẩy Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy ở Bắc Tây Nguyên đến nguy cơ tan vỡ và bị tiêu diệt nhanh chóng khi tháo chạy trên đường số 7, mở đầu bước suy sụp không thể cứu vãn nổi của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.
Thắng lợi của trận đánh khẳng định sự trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, về trình độ tổ chức và thực hành tiến công địch trong hành tiến tiêu diệt lực lượng lớn quân địch phản kích bằng đổ bộ đường không và tinh thần chiến đấu rất dũng cảm của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên./.


Source: Danh Hiệp - Bảo tàng Binh đoàn Tây Nguyên
 13-06-2017