Showing posts with label biệt kích lôi hổ. Show all posts
Showing posts with label biệt kích lôi hổ. Show all posts

Sunday, January 17, 2021

 

Biệt Kích Lôi Hổ Huỳnh Ngọc Thương và những lần tham chiến

Lâm Hoài Thạch

(NV) – Cuối năm 1969, Chuẩn Úy Huỳnh Ngọc Thương được nhậm chức trưởng toán Bắc Bình của đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ, trong đó có những toán khác như Thăng Long, Lê Lợi, Lê Lai, Bạch Đằng… Mỗi toán gồm một sĩ quan chỉ huy, một hạ sĩ quan phụ tá và khoảng bốn quân nhân Xung Kích Lôi Hổ. Song song đó cũng có những toán Biệt Kích Mũ Xanh của Hoa Kỳ.

Cựu Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương tại Westminster. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Cuối năm 1970, ông Thương được thăng cấp thiếu úy và vẫn giữ chức vụ trưởng toán Bắc Bình.

Ông Thương kể: “Sở Liên Lạc có ba chiến đoàn đều nằm dưới sự chỉ huy của Nha Kỹ Thuật, mà Nha Kỹ Thuật lại nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Đại Tướng Cao Văn Viên, tư lệnh Bộ Tổng Tham Mưu, và tư lệnh đã thường xuyên báo cáo tình hình quân sự với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Các toán Xung Kích Lôi Hổ của Nha Kỹ Thuật đều có ám số đặc biệt khi hành quân, trong đó có những toán viên bị thất lạc hoặc bị Cộng Sản bắt giữ. Vì thế, một số những ám số danh hiệu của các toán và những tổ chức của các đơn vị hành quân bị bại lộ.”

Ông Thương kể tiếp: “Tổng thống mới ký sắc lệnh cho đơn vị của chúng tôi là đơn vị ‘Hành Quân Tác Chiến Ngoại Lệ,’ cũng có nghĩa là những toán Xung Kích Lôi Hổ thuộc Nha Kỹ Thuộc không tác chiến trong lãnh thổ miền Nam, mà chỉ hành quân vượt biên giới của miền Nam. Cho nên những cuộc hành quân của Lôi Hổ được giữ kín hơn, sau khi công tác được hoàn tất cũng không được tiết lộ ra ngoài truyền thông báo chí để đăng tải. Vì thế sự mất còn, sự thành công hay thất bại đối với các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ đều không ai biết được, ngoại trừ cấp chỉ huy của họ.”

Tham chiến trận Lam Sơn 719, Hạ Lào

Những ngày đầu Tháng Hai, 1971, mặt trận Hạ Lào bắt đầu khởi động qua cuộc Hành Quân Lam Sơn 719, dưới sự chỉ huy của Tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I. Mục đích của cuộc hành quân này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) với trọng trách hành quân sang Lào để cắt đứt đường tiếp liệu đạn dược, lương thực của địch quân đang hiện diện tại Tchepone, Lào. Và đây cũng là điểm xuất phát của những sư đoàn chính quy Bắc Việt để xâm nhập vào miền Nam Việt Nam.

Cũng từ nhiệm vụ đó, Quân Đoàn I mới đem hết lực lượng sang Hạ Lào và có thêm lực lượng của tổng trừ bị như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn 1, Thiết Giáp, Pháo Binh kể cả Không Quân VNCH và Không Quân Hoa Kỳ sang Hạ Lào để tham chiến mặt trận này. Riêng các chiến sĩ của ba chiến đoàn Biệt Kích Lô Hổ có nhiệm vụ phá hủy các đường ống dẫn dầu của địch.

Thiếu Úy Huỳnh Ngọc Thương tại Căn Cứ Non Nước, Đà Nẵng. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Thiếu Úy Thương kể: “Toán Biệt Kích Lôi Hổ của chúng tôi được lệnh nhảy từ sông Tchepone rồi vượt qua Cánh Đồng Chum để đến điểm hành quân. Lúc đó, Lữ Đoàn 3 Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Nguyễn Văn Thọ đóng quân tại đồi 30 và đồi 31. Điểm của hai ngọn đồi này là từ Quảng Trị đi xuống đường 9 Nam Lào được cắt đứt tại Bản Đôn, tiếp giáp với tỉnh Quảng Trị.”

“Lúc đó, đơn vị của chúng dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Thế Nhã. Chúng tôi nhảy xuống một đỉnh cao cách đồi 31 khoảng sáu cây số. Nhiệm vụ của chúng tôi là chỉ quan sát tình hình của địch để báo cáo về Bộ Tổng Tham Mưu, rồi sau đó, họ mới báo lại cho Đại Tá Thọ,” ông cho biết thêm.

Cũng theo Thiếu Úy Thương, toán Biệt Kích Lôi Hổ của ông lúc đó chỉ có sáu người, nên không thể chạm địch quân đang di chuyển, và họ đã phát giác có chiến xa quân Bắc Việt đang xâm nhập vào vùng này. Khi mặt trận Hạ Lào bắt đầu khởi chiến, toán của ông Thương được lệnh rút về doanh trại Non Nước, Đà Nẵng.

Vài ngày sau, mặt trận Hạ Lào trở nên khốc liệt, trận đánh được kéo dài trên một tháng rưỡi. Quân Lực VNCH coi như đã thành công mặt trận này. Nhưng, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Trung Tá Phạm Văn Đính bị quân Cộng Sản bắt làm tù bình; Đại Úy Pháo Binh Nhảy Dù Nguyễn Văn Đương và nhiều vị sĩ quan khác đã hy sinh.

Toán Biệt Kích Quân Lôi Hổ của FOB-1. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Tham chiến trận Quảng Trị 1972

Vào khoảng gần cuối Tháng Ba, 1972, trước khi trận Quảng Trị khởi động, toán của ông Thương được lệnh nhảy xuống vùng phi quân sự tại Cửa Việt bên kia sông Bến Hải, để khảo sát lực lượng xâm nhập của quân Bắc Việt nhiều ít như thế nào. Vì phải nhảy xuống vùng phi quân sự thì mới phát hiện quân Bắc Việt vượt tuyến đến Lao Bảo, Gio Linh, Làng Vei…, và nhiều nơi khác để tấn công Cổ Thành Quảng Trị.

Cuối Tháng Ba, 1972, ba sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt tấn công vào các căn cứ phòng thủ của Quân Lực VNCH ở phía Bắc và phía Tây của tỉnh Quảng Trị.

Nhiệm vụ của toán Biệt Kích Lôi Hổ của ông Thương là bí mật bám theo sự điều quân của Cộng Sản Bắc Việt, và báo cáo về cho Bộ Tổng Tham Mưu. Đây cũng là dự kiến của Bộ Tổng Tham Mưu nhằm có khái niệm để điều quân tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Sau đó, toán ông Thương được lệnh trở về căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Cùng lúc sư đoàn Nhảy Dù được lệnh đánh tái chiếm cổ thành Quảng Trị, cùng nhiêu quân binh chủng khác. Đơn vị cuối cùng tham chiến trận này là Thủy Quân Lục Chiến.

Cùng lúc đó, ba sư đoàn khác của Cộng Sản tấn công vào An Lộc, Bình Long ở Vùng 3 Chiến Thuật.

Ông Thương cho biết: “Sau trận Quảng Trị, chúng tôi được lệnh bàn giao doanh trại Non Nước, Đà Nẵng cho Sở Công Tác. Sau đó, Hải Quân đưa chúng tôi đến Bến Bạch Đằng, Sài Gòn. Lúc đó tôi được thăng cấp Trung Úy.”

Cựu Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương (giữa) và hai cựu Đại Úy Nguyễn Hữu Thọ (trái), và Trần Nhung Nguyên. Họ đều là cựu trưởng toán Biệt Kích Lôi Hổ. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Tham chiến trận An Lộc, Bình Long

Cuối năm 1972, toán của ông Thương được lệnh nhảy xuống An Lộc. Nơi đóng quân đầu tiên là phi trường Quảng Lợi, Bình Long. Vì nơi này đã bị nhiều áp lực của địch quân nên đơn vị của ông phải di chuyển về trung tâm huấn luyện Quyết Thắng, Long Thành của Biệt Kích Lôi Hổ.

Ông Thương kể: “Không bao lâu, lệnh của Đại Tướng Cao Văn Viên cho đơn vị của chúng tôi về đóng quân ở bộ chỉ huy của Sở Liên Lạc gần Cổng Phi Long của phi trường Tân Sơn Nhứt để trực chiến ban đêm cho Bộ Tổng Tham Mưu, và ban ngày, toán vẫn tiếp tục đi công tác để thám sát các khu vực từ Đồng Xoài, Bù Gia Mập, Rừng Lạnh, Tống Lê Chân, Phú Riềng, Nha Bích, Bình Long, Phước Long…”

Vì trong năm 1972, đơn vị Biệt Kích Hoa Kỳ không còn nữa, nên đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ không được yểm trợ để hành quân ngoài biên giới, mà chỉ hành quân trong nội địa miền Nam. Lúc đó, các anh em Biệt Kích Quân cũng bị giải tán, có một số được thuyên chuyển về những đơn vị khác. Đơn vị Chiến Đoàn 1 Biệt Kích Lôi Hổ không còn được xem là chiến đoàn mà trở thành Đoàn 1 Biệt Kích Lôi Hổ, vì quân số một đoàn chỉ trên dưới 160 quân nhân của Quân Lực VNCH.

Gần cuối năm 1973, toán của Trung Úy Thương được lệnh nhảy xuống vùng Hậu Nghĩa, Châu Đốc, An Giang, nhiều nhất tại hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.

Đầu năm 1974, Đại Tá Lưu Yểm, tỉnh trưởng Biên Hòa, cho Đoàn 1 Biệt Kích Lôi Hổ trú quân tại Suối Máu, Biên Hòa.

Tháng Bảy, 1974, đoàn Đặc Công K-9 của địch đã tấn công đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ tại Suối Máu, đơn vị của ông đã chiến thắng trận này. Sau đó, đoàn của ông được di chuyển về đóng quân tại Chợ Sặc, Biên Hòa.

Cựu Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương (trái) và các chiến hữu tại Little Saigon. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Tham chiến trận cuối cùng ở Phan Rang

Đầu Tháng Ba, 1975, đơn vị của ông được lệnh ra hành quân tại Phan Rang, dưới sự chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân Đoàn 3. Ông Thương kể: “Chúng tôi được lệnh theo Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh bộ chỉ huy tiền phương để tham dự mặt trận Phan Rang, với nhiệm vụ lập trận tuyến để ngăn chặn quân Bắc Việt tiến vào Nam từ miền Trung. Nhưng lúc đó quân bố phòng không đủ để thực hiện công tác này, và Lữ Đoàn 2 Dù đang tham chiến trận Khánh Dương bị thất bại, nên đơn vị của tôi được lệnh đi đón những toán quân Nhảy Dù bị thất lạc về phi trường Thanh Sơn, Phan Rang.”

Ông Thương được thăng cấp đại úy vào ngày 8 Tháng Ba, 1975, tại Phan Rang.

Ngày 16 Tháng Tư, 1975, tuyến Phan Rang bị thất thủ! Đây cũng là trận chiến cuối cùng của Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương trong suốt hơn 10 năm chiến đấu.

Sau hơn tám năm trong trại “cải tạo” của chính quyền Cộng Sản, ông Thương được về Huế hành nghề Đông y và xem phong thủy, vì đây là nghề gia truyền lâu đời tại Huế của gia đình ông.

Năm 2002, ông được định cư tại Orange County, California cho đến bây giờ và đang sống bằng nghề xem phong thủy. (Lâm Hoài Thạch) [qd]

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/biet-kich-loi-ho-huynh-ngoc-thuong-va-nhung-lan-tham-chien/

Tuesday, March 3, 2020

Ðọc ‘Across the Fence’ để thương biệt kích Lôi Hổ
July 19, 2012
Hà Giang/Người Việt
“Trời nhập nhoạng tối. Toán lính Bắc Việt ngày càng đến gần hơn, vừa chĩa súng bắn chúng tôi, vừa nhắm lên chiếc trực thăng Kingbee mà nhả đạn xối xả.”
Cuốn “Across the Fence – The Secret War in Vietnam” của tác giả John Stryker Meyer, thuộc lực lượng đặc biệt SOG Hoa Kỳ, kể lại thời gian chiến đấu cùng VNCH. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
“Sáu và Hiệp bắn cản đường cho chúng tôi bò về hướng trực thăng trong tuyệt vọng. Phải mất hơn 10 phút chúng tôi mới đi hết được 9 mét cuối, đến gần được đến chiếc Kingbee đang bay lởn vởn cách mặt đất chừng 3 mét.”
“Kiểm nhanh lại vũ khí, tôi thấy mình chỉ còn một quả lựu đạn, một lựu đạn khói và hai băng đạn 15 viên. Nếu không thoát được, thì quả lựu đạn cuối cùng này tôi sẽ dành cho chính mình, vì tôi không thể chấp nhận số phận một tù binh, nhất là sau khi toán trinh sát ‘Idaho’ đã giết biết bao nhiêu là lính Bắc Việt. Nếu phải rút chốt để tự kết liễu đời mình, tôi sẽ cố gắng gây tổn thất tối đa cho kẻ địch.”
“Cuối cùng chúng tôi cũng đứng được ngay dưới bụng chiếc Kingbee. Wolken tiến lên, đứng đối mặt với tôi, lưng quay về đầu máy bay. Khi Davidson đến gần, Wolken và tôi nắm lấy anh rồi ném vào chiếc trực thăng vẫn đang bay là đà. Tiếp đó, chúng tôi đẩy Hiệp và Sáu vào. Vừa lọt vào bụng Kingbee, họ nhào ngay cạnh thủ xạ đang đứng cạnh cửa sổ máy bay, tiếp lấy vũ khí, nhắm vào đám lính Bắc Việt phía dưới mà xả đạn. Phước tiến đến, Wolken và tôi túm lấy rồi ném Phước vào trong.”
“Từ dưới đất ngước lên, tôi kinh ngạc khi thấy nét mặt người đại úy phi công Việt Nam tên Thịnh thật bình tĩnh, thản nhiên, như không hề thấy sự hỗn loạn phía dưới, và đám lính Bắc Việt đuổi sắp đến nơi. Chúng tôi đã chạm địch cả giờ đồng hồ, ai cũng nhếch nhác bẩn thỉu, mồ hôi vã như tắm, và gần như kiệt sức, thân máy bay mang đầy vết đạn, thế mà trông Thịnh vẫn bình chân như vại, như anh đang đón chúng tôi đi một cuộc du ngoạn. Hình ảnh này đã khắc ghi như in trong tâm trí tôi cho đến nhiều năm sau. Tôi nhớ đã thầm phục là không hiểu sao ngay trong khi lửa đạn đang trút xuống như mưa, cái chết gần trong gang tấc, mà Thịnh vẫn có thể vững vàng, thản nhiên, chăm chú điều khiển máy bay như thế.”
“Cuối cùng thì chỉ còn Wolken và tôi ở dưới đất. Vì là chỉ huy, Wolken là người cuối cùng được lên máy bay. Wolken vừa đẩy tôi vào, thì một lằn đạn nữa bắn gần đến rát cả màng tang. Tôi cúi rập người, nắm lấy chiếc áo khoác ngoài của Wolken và cố nhấc thân hình nặng hơn 100 kg của anh kéo vào khoang máy bay với mình. Bóng tối chợt ập xuống. Tôi nhả nguyên một băng đạn về hướng lính Bắc Việt đang bám theo sát nút.”
“Không để phí một giây, đại úy phi công, tên Thịnh, đưa chiếc Kingbee bay vụt lên, trong khi Hiệp và Sáu chăm chú bắn từ cửa sổ bên trái, Phước và Davidson bắn xuống từ bên phải, Wolken và tôi nhả những băng đạn cuối cùng vào bóng hàng chục, không, hàng trăm, bóng quân lính Bắc Việt nhấp nhô bên dưới.”
“Tôi ném lựu đạn khói vào kẻ thù. Khói trắng bay lên làm sáng một vùng rừng xanh thẳm phía sau và những lằn đạn lửa dọc ngang chi chít bầu trời trông như một cây Giáng Sinh thắp đèn rực rỡ. Wolken và Hiệp la lên mỗi khi nghe một tràng đạn bắn vào, rồi chỉ vào những lỗ thủng chi chít trên thân máy bay. Tôi như không nghe thấy gì nữa vì tai đã ù đi. Rồi máy bay vút đi, bỏ lại đám lính Bắc Việt lố nhố phía dưới.”
“Khi chiếc Kingbee chở chúng tôi biến vào đám mây, tôi cảm thấy lạnh. Hơi lạnh như lời chào mừng chiến thắng. Không có tiệc liên hoan, không có lời reo hò cổ vũ, cũng không có vòng tay thân nhân đón người sống sót trở về. Vẫn chỉ có Ðại Úy Thịnh vẫn chăm chú điều khiển chiếc Kingbee, nhưng hình như có một nụ cười mỉm rất mong manh trên môi anh. Không biết Thịnh mừng vì điệp vụ thành công, hay mừng là chúng tôi lại một lần nữa thoát chết.”
“Tôi nhìn trái lựu đạn cuối cùng trong tay mình, và rùng mình nghĩ nếu Thịnh không kịp đưa chúng tôi thoát hiểm, thì tôi đã ôm trái lựu đạn này và rút chốt. Thoát chết, có nghĩa là sáng mai lại nhìn thêm được một bình minh nữa, lại không biết có phải đó là bình minh cuối cùng trong đời mình không, và lại bắt đầu một điệp vụ mới.”
Ðó là vài đoạn trong cuốn “Across the Fence – The Secret War in Vietnam” của tác giả John Stryker Meyer, thuộc lực lượng đặc biệt SOG (Studies & Observation Group) Hoa Kỳ, kể lại thời gian cùng những người lính Việt Nam Cộng Hòa trong đội “Idaho,” một nhóm trinh sát sáu người (Mỹ và Việt Nam) cùng nhau vào sinh ra tử với nhiệm vụ len lỏi qua Cambodia, Lào và Bắc Việt, để theo dõi hành tung của lính Bắc Việt dọc đường mòn Hồ Chí Minh.
Trong cuốn sách dài hơn 300 trang, tác giả John Stryker Meyer kể lại một cách rất sống động sự nguy hiểm, đau đớn, giận dữ, tình huynh đệ và hoạt động bí mật của những người lính biệt kích Hoa Kỳ và Việt Nam trong thời gian từ năm 1968 đến 1970.
Với lối kể chuyện thật xuất sắc qua những chi tiết rõ ràng, và cách viết tỉ mỉ, tác giả đưa người đọc vào trận chiến, cùng ông sống những giây phút nghẹt thở, trái tim đập thình thình trong lồng ngực vì hồi hộp, lo sợ. Trong cuộc chiến bí mật này, John và những đồng đội biệt kích Lôi Hổ Việt Nam, là những anh hùng không tên tuổi, những chiến sĩ vô danh, không mặc quân phục, không đeo số quân, và nếu rủi ro phải hy sinh, xác họ trở thành những tử thi vô chủ. Họ sống sót vì tận tụy với nghĩa vụ, vì can đảm và hy sinh để bảo vệ nhau, và bằng những khả năng không học ở trường lớp.
Trong phần đề tặng (dedication) của cuốn sách, tác giả John Meyer cho biết ông viết cuốn sách này để riêng tặng cho thành viên các đội trinh sát thuộc lực lượng biệt kích Lôi Hổ SOG Hoa Kỳ và Việt Nam, những phi đoàn yểm trợ, đặc biệt là phi đoàn 219, đã ngày đêm sát cánh với ông và đồng đội, lăn lóc dưới đất, phía bên kia hàng rào, trong cuộc chiến bí mật của Mỹ.
Trong “Across the Fence – The Secret War in Vietnam,” tác giả John Meyer không chỉ tả lại một cách tỉ mỉ và sống động một cuộc chiến khốc liệt, mà còn bầy tỏ cảm tình và sự trân quý dành cho những đồng đội Việt Nam, mà ông cho là can đảm, kiêu hùng và gan dạ.
Ðọc “Across the Fence – The Secret War in Vietnam” để hiểu, để thương, để không bao giờ lãng quên những người anh dũng bỏ mình trong cuộc chiến, và để hãnh diện về những người lính VNCH, đặc biệt là nhóm biệt kích Lôi Hổ và phi đoàn 219.
––

Monday, April 1, 2019

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3160491577297980&set=pcb.3160489207298217&type=3&__tn__=HH-R&eid=ARD-7VactKftAFY0lG-AS0fG56CjAGvMlcevdR4pY9yDD_BJ0Np6Z8ESXlohOLBhV5qNAVx5jYn2WiaN
PHẦN 2 : 
Suốt một đêm không ngũ trọn giấc, Cộng quân với ưu thế pháo binh do các nước quốc tế Cọng Sãn hổ trợ ào ạt, còn bên phe ta QLVNCH thì kể từ năm 1972, các văn thư gởi đi từ Bộ TTM bắt phải gởi về các cấp số đạn pháo 105 ly , 106 ly không giật , cối 81 ly , gọi là đem về đổi , nhưng đạn gởi về thì có , mà đạn đổi lại thì không , Trời ơi , VC thì tha hồ bắn phá ; làm mưa làm gió, còn bên ta phải rút cấp số đạn, trước xin 100 tràn, thậm chí 2,3 trăm tràng có liền , nay phải chờ quyết đinh từ Sư Đoàn , rồi năm sau chờ Quân Đoàn chấp thuận , mà lại giãm xuống chỉ còn 30 tràng , rồi 20, như hồi 1973 tại Trảng Lớn - Tây Ninh .và năm 1974 tại Bình Long - An Lộc ...lý do được viết trong Văn Thư là các loại đạn không an toàn, yêu cầu đơn vị gởi về gấp, số phận của các loại đạn nầy đi về đâu thì tôi không biết, chỉ biết là chiến trường thiếu đạn , Xăng khan hiếm, các cơ phận quân cụ cho máy bay, xe tăng, thiết giáp, GMC,....đều không có trong bảng cấp số. Là một sĩ quan tác chiến hành quân tôi đâu biết gì hơn, nào Hiệp Định Paris , nào Liên Hiệp 4 bên ,....3 bên ...chi chì.... quá ư là rắc rối , tôi không đủ kiến thức trang bị để hiểu về chình trị . Bó tay ! Sáng hôm nay 7-4-75, tôi mượn đở bên Không Quân chiếc Jeep, kêu mấy ông Thuần , Đí và mấy nhân viên Toán như Hoàng Tăng ( Tăng răng vàng ) Trịnh Ngọc Cơ ( Cơ hồi chánh ) Phan Gia Thanh ( Thạnh mập ),T/S Nguyễn Văn Đại lên xe tìm đường ra thị xã Phan Rang tìm chút tươi mát (xin chớ hiểu chữ tươi mát nầy theo nghĩa trong nước bây giờ , ý tôi là tìm ít thức ăn như rau cải , cà mướp .....) ,vì phi trường mấy lâu nay bị vây kín do áp lực của du kích địa phương, nên vị Chuẩn tướng Tư Lệnh SĐ 6 /KQ ra lệnh nội bất xuất, ngoại bất nhập, còn ông Tỉnh Trưởng Phan Rang nghe đâu về SG họp, cơ số lính Điạ phương không ai điều động , nay ông mới trở về, chỉnh đốn các Tiểu Đoàn Điạ phương và an ninh Thị Xã Phan Rang được lặp lại, Ông Tướng cho phép chúng tôi được ra ngoài để tìm mua thức ăn tươi. Khi xe tôi chạy gần đến cổng số 1 thì gặp xe của Đ/u Bé với 6 lính dù trang bị đầy đủ, Bé vẩy tôi lại và nói : Ê, mấy tướng Biệt Kích đi đâu vậy . Tôi nói ra ngoài phố tìm mua thức ăn tươi. Bé nói đi qua Tháp Chàm không được đâu, tụi VC đang ở trong Tháp vừa dùng cối , và đạn bắn tỉa xưống đường , muốn đi thì tụi mầy với tụi tao phối hợp làm 2 mũi tấn công lên Tháp, quân số của tao chia ra sợ không đủ sức yểm trợ cho nhau . Mầy tính sao ? Tôi đang hội ý với Thuần và các anh em mình thì bị Bé chơi xỏ nói giọng khiêu khích : Mà thôi , Lôi Hổ thấy ngại thì để tụi tao xông lên làm thịt mấy thằng Vi Ci , còn bọn mầy cứ ở đây chờ xem Lính Dù tụi tao làm ...Nghe mà phát tức , tôi nói : Đánh lớn là sở trường tụi mầy , còn đánh gọn nhẹ là nghề của tụi tao nghe mầy , để tao lên trước cho. Thế là chúng tôi chia nhau làm 2 tốp , vừa tiến vừa quan sát tình hình . Bé cũng dàn lính thành 2 tổ tiến lên phía Đông. Chúng tôi băng qua đường rầy xe lửa thật nhanh và nép sát theo độ dốc của ngọn đồi, Bên quân của Bé vừa tiến vừa bắn làm nghi binh trước mặt nơi con đường dẫn lên Tháp , chúng tôi lẳng lặng 2 nhóm âm thầm tiến ở mặt sau. Khi gần đến chân ngọn Tháp thì Thạnh dùng M.79 lảy liên tiếp 3 trái vào ô trống của Tháp từ trên xuống dưới, tưởng cũng phải nói Thạnh mập vốn là tay xạ thủ M.79 , súng của hắn đã mài cơ bẩm ,vừa bắn vừa thảy vỏ đạn 1 tay , tay kia nạp đạn là bắn liền 3 quả đạn đi mà nghe đâu như nổ cùng một lúc .Thạnh Zăngô là biệt danh của hắn Hướng trước có nhiều tràng đạn M.16 của lính Dù, Trong Tháp Địch phản ứng yếu ớt , Tôi đưa điếu thuốc đang hút dở chuyền qua Trịnh Ngọc Cơ rồi tung người ném tiếp 2 trái Mini về hướng Tháp, Đại cũng xả súng nhắm vào một tên rồi 2 tên đang bị áp lực của lính Dù đánh phía trước chạy nộp mạng cho chúng tôi. , hướng bên kia Thuần và Tăng răng vàng cũng đang dùng lựu đạn thanh toán mấy tên du kích , Toán của Bé vào Tháp trước , hắn phất tay ra hiệu cho chúng tôi là đã thanh toán xong mục tiêu. Bây giò điếu thuốc cũng chuyền qua tay của Đại và về đến tay tôi .Thế là xong , cái chướng ngại mà mấy anh nghiã quân chưa kịp ra tay đã được Dù và Lôi Hổ phối hợp giãi toã như trò đùa. Bé lấy cây cối 82 ly đưa ra nói : Ông cần cái nầy không , trong đó còn mấy khẩuB.41 nửa. Chúng tôi cười : Lôi Hổ không cần chiến lợi phẩm ,cũng không cần ai nhắc đến tên, hay công trạng gì cả, Chiến Sĩ Vô Danh mà bạn , ông cứ lấy đi . Rồi ra phố kiếm mấy con Tắc Kè Nhông làm một bưã sum họp . Bé tiếc rẻ từ chối vì còn phải đi dẹp mấy cái chốt nữa , chưa xong công việc đâu bạn, ông Tướng gọt đầu tụi tao bây giờ ! Cũng từ đó đến nay tôi không có cơ hội gặp lại bạn ấy nữa,xin chúc mọi sự bình an cho bạn !( Đại úy Nguyễn Văn Bé, con của vị Thượng sĩ già Nhảy Dù , Cựu binh Điện Biên Phủ ) Chúng tôi ra phố tìm được quán nhậu xập xệ , trước cửa treo lũng lẵng mấy con Kè Nhông , Kêu 1 dĩa hắn chém đến 500 đồng Hưng Đạo .thêm một đứa một tô cháo và uống vội vài chai 33. Xong bang ra khu chợ chồm hổm mua mấy bó hành ngò, rau cải, khoai lang và bí rợ, vì trong phi trường mấy bữa cấm cung , ông Trung Tá Không Quân cho phép chúng tôi hạ mấy con bò làm lương thực , bò ăn ngon nhưng nóng quá . Khi đi ngang qua đám mấy người dân tụ tập chúng tôi hỏi thăm tình hình bà con , và được nghe họ kể một chuyện lạ tai : mấy anh biết không , mấy bữa nay không biết sâu róm ở đâu trong rừng cứ bò ra miết, từng đoàn từng đoàn như lính vậy , hết tốp nầy đến tốp khác như đi diễu binh vậy đó . Tôi hỏi : Thưa bác vậy có biết chúng bò đi đâu không ? , Thì cứ nhắm hướng biển mà bò ra , rồi cùng nhào xuớng biển sóng cuốn trôi hết trơn Thuần xen vào : Hôm qua tôi có nghe anh lính Địa Phương Quân vào kể chuyện nầy, tôi không tin thật , nên bây giờ nhân tiện ra xem cho biết thật hư , Tôi nói không chừng tụi VC dùng lối tuyên truyền xám để gây hoang mang cũng nên . Chị lớn tuổi đúng kế bên bảo : Các ông đa nghi thì thôi , tụi tôi đồng là vợ lính mình cả , không tin thì cứ ra quốc lộ thấy liền Chúng tôi cám ơn chị rồi lên xe nhắm hướng đường chạy tiếp . Năm phút sau thì quả thật, trên đường xác sâu róm nằm khô queo, xe của dân di tản chạy vào hướng Nam cán lên nát bấy mà chúng cũng cứ bò thản nhiên như không có chuyện gì xãy ra . Tôi muốn lần ra bờ biển xem cho biết ,nhưng T/s Tiến nói thôi đừng đi , ngoài đó chưa an ninh . Chúng tôi quay vào chợ mà lòng ngổn ngang suy nghỉ vẫn vơ.câu nói sâu róm đi từng đoàn như lính nhào xuống biển ...., tôi nhắc đi nhắc lại câu : Như lính nhào xuống biển ... Quay lại tìm một quán Cà Phê nhân tiện mua vài gói thuốc lá , thì lại nghe một câu chuyện lạ khác , một anh lính nghĩa quân nói cho chúng tôi nghe là tại làng Thanh Thủy , quê hương của TT Nguyễn Văn Thiệu có Hòn Núi DAO , tự nhiên cục đá Dao trên đỉnh núi sau một cơn mưa đã lăn nhào xuống chân núi , vở làm 2 mãnh , mặt trong của 2 mãnh vở có hình ngoằn ngèo như chữ viết của người CHĂM, Ông Xã Trưỡng cũng có nhờ mấy ông bô lão Chăm Pa ra tìm cách đọc , nhưng hình như không ai đọc được . Chúng tôi cũng hiếu kỳ muốn đi ra đó xem sao , nhưng trên đường xe cộ xuôi Nam quá nhiều , hơn nửa lại còn phải đi vào Phi Trường , sợ Ông Tướng Tư Lệnh cho đóng cổng thì bỏ mẹ. Hồi còn nhỏ tôi được truyền dạy ít kinh nghiệm về Phong Thủy, sau ngày vào lính nghe đâu có kỳ nhân dị sĩ là tôi vội sắm lễ vật đến yết kiến xin thọ giáo, nên tôi vận dụng những điều học được để khảo hạch , Như hồi cuối tháng 3/75 , đang tuần gác doanh trại thì đêm hôm đó trên bầu trời chợt xuất hiện sao Thái Bạch ( Sao Hôm và Sao Mai ) di chuyễn từ Đông sang Tây , nhưng lạc vào cung hắc đạo của vị trí Sửu - Mùi , phạm Trung cung , là Bạch Hổ nhập Trung , lại còn có tiếng khua vang len keng lập bập như đe dọa , Thiên Hổ Trướng Khưu Cơ của Đức Trần Hưng Đạo nói đó lả điềm Binh Tan Tướng Chết , ngày mai lại nghe tin tại BTL/QĐ.3 Tướng Nguyễn Văn Hiếu bị ám sát , sau đó là cuộc rút quân cao nguỳên, bây giờ lại thấy hiện tượng Sâu Róm bò ra biển , đá lăn trên Núi Dao, thật sự ngọn núi Dao theo phong Thủy là ngọn Bút Kình Thiên, nghe nói mộ tổ của TT Thiệu được an táng phương Đông Nam của ngọn núi nầy, Núi ở Phương Tây Bắc thuộc cung Càn là Thiên Môn , chân mộ hướng Đông Nam là Địa Hộ,chung quanh có cồn cát trải dài làm thế Long Hổ , lấy cửa biển làm Minh Đường tụ thủy . Tôi chưa có dịp đén tham quan . Hôm nay quả có điềm lạ xuất hiện là ứng sự không may cho quân mính, vì TT Thiệu là Nguyên Thủ Quốc Gia , nay lăng miếu bị phạm hung thì dân chúng miền Nam chắc cũng cùng chung số phận . Các bạn tôi thì vẫn tỉnh như rồi , bàn bạc về món thịt Tắc Kè Nhông của biển cát Phan Rang, hẹn nhau ngày về sẽ ghé vào xơi thêm lần nửa, nhưng đã hết cơ hội rồi bạn ơi. Lòng tôi cứ suy nghỉ miên mang, về đàn sâu , về hòn núi đá ....ôi , Phan Rang có thêm những điềm lạ ...(.còn tiếp ).....
Sức Cùng Lực Kiệt .......
( Lôi Hổ ...Huỳnh Ngọc ........ CĐ 1/XK/SLL/NKT )..