Showing posts with label nước đức. Show all posts
Showing posts with label nước đức. Show all posts

Monday, June 9, 2025

 Làm thế nào sự tử tế của một kẻ xa lạ trong đệ nhị Thế Chiến (TC) đã giúp chúng ta có lý thuyết Big Bang.

Lời nói đầu: Trong thời đại mà rất nhiều người ÍCH KỶ và VÔ CẢM trước nỗi đau hay khó khăn của kẻ khác thì có câu chuyện rất cảm động, đầy ấp tình người của một chủ tiệm sơn ở Mỹ đã bảo lãnh một gia đình mà y ko quen biết -- đang bị đàn áp bởi Đức Quốc Xã dưới thời Hitler. Sau đây là câu chuyện.
====
"Nhà vật lý gốc Đức Arno Penzias đã thoát khỏi Holocaust với sự giúp đỡ của một ân nhân mà ông chưa bao giờ gặp. Sự giúp đỡ bí mật này đã làm thay đổi đời ông--và hiểu biết của chúng ta về vũ trụ này.
Tạm dịch từ bài viết của Katie Sanders, đăng ngày 8/6/2022 trên National Geographic.
Vào một ngày trước đệ nhị TC, chủ một tiệm bán sơn ở Belleville, bang New Jersey nghe tiếng gõ cửa dồn dập (frantic). Đó là một di dân Đức 28 tuổi có tên Leo Gelbart, y đang đến từng nhà, khẩn cầu các thành viên của cộng đồng Do Thái (Jewish) trong TP. "Gia đình này cần ra khỏi Đức, và tôi ko đủ tiền để giúp. Ông có thể giúp ko?" Gelbart đã hỏi. Y đưa cho chủ tiệm một tấm ảnh trắng đen của bạn y tại Munich, Đức: một cặp đẹp đôi có tên Karl và Justine Penzias, với hai con trai Arno và Guenther, 6 và 4 tuổi. Với việc ngày càng gia tăng bức hại và bỏ tù người Do Thái của chế độ Đức Quốc Xã của Hitler, gia đình Penzias phải bỏ xứ (flee) hay đến trại tập trung. Nhưng để di cư đến Mỹ, họ cần vài tờ cam kết (affidavit) bảo trợ --đây là những giấy xác nhận (vouch) rằng họ có một thân nhân và một căn bản về tài chánh tại Mỹ. Gelbart sẽ khai gian (falsely state) rằng bạn y Karl Penzias là em họ (cousin). Nhưng là một kẻ hầu bàn, y ko đủ tiền để đủ điều kiện làm người bảo trợ (sponsor) cho gia đình bạn y. Do vậy y đang cố gắng tìm ai đó ký tờ cam kết thứ hai để nhận bảo trợ gia đình Penzias về tài chánh.
Người chủ tiệm sơn 52 tuổi này nói sẽ giúp. "Tôi vui lòng bảo trợ họ cho tới khi họ tự chủ về tài chánh," ông viết trên tờ cam kết. Từ Đức, Karl Penzias cực kỳ biết ơn, nhờ Gelbart chuyển lời tới ông chủ tiệm sơn, rằng gia đình họ chỉ cần bảo trợ trên giấy tờ và sẽ bày tỏ sự biết ơn bằng cách ko bao giờ tiếp xúc với ông.
Người anh của hai đứa nhỏ trong hình là Arno Penzias, nay đã 89 tuổi. Là một nhà thiên văn, từng được giải Nobel, nay đã nghỉ hưu và sống tại bắc Cali. Ông ra đời tại Đức năm 1933, khi Hitler nắm chính quyền. Năm 1938 gia đình ông và những người Do Thái khác, mang hộ chiếu (passport) Ba-Lan, buộc phải lên tàu để trục xuất tới Ba Lan. Những xe lửa đã hoãn lại, và Ba Lan đã vô hiệu hóa (invalidate) những hộ chiếu này trước khi xe lửa tới biên giới.
Năm 1939, họ đã vội vả sắp xếp mọi thứ để rời Đức tới Mỹ. Karl Penzias gửi hai con nhỏ tới Anh theo chương trình Kindertpassport -- một cố gắng của Anh nhằm chuyên chỡ 10.000 trẻ em, phần lớn là Do Thái, ra khỏi Đức.
Hai đứa trẻ sau đó đã được gửi từ một viện mồ côi toàn con gái ở London tới hai gia đình nhận con nuôi (foster family) khác nhau. Trong khi Đức Quốc Xã, còn gọi là Nazi, gia tốc chiến dịch diệt chủng, vợ chồng Karl và Justine Penzias, cuối cùng đã đến Anh để đoàn tụ với con và sau đó đến Mỹ bằng tàu. Gia đình họ đã gặp giông bão và tàu ngầm Đức khi vượt Đại Tây Dương. Ngày 3/1/1940, họ đã tới TP New York.
Gia đình Penzias đã định cư tại Bronx, nơi hai đứa nhỏ bắt đầu đi học. Arno tốt nghiệp trường trung học Brooklyn Technical và City College. Y phục vụ trong ngành truyền tin của Lục quân Mỹ, sau đó có bằng tiến sĩ về vật lý tại ĐH Columbia. Ông làm việc cho Bell Laboratories và, trong TN 1960, đã cùng đồng nghiệp Robert Wilson đồng khám phá bức xạ nền vi sóng vũ trụ (cosmic microwave background radiation), điều này đã xác nhận lý thuyết về vũ trụ học Big Bang (Big Bang theory of cosmology). Họ đã chia xẻ giải Nobel về vật lý năm 1978 về khám phá này.
. . .
Nhưng việc cảm ơn người mà chữ ký của y đã giúp gia đình này tới Mỹ ko dễ thực hiện (feasible). Cha của nhà bác học Arno Penzias đã hứa ko bao giờ tiếp xúc với người ký tờ cam kết, và ông giữ lời. Những chi tiết về người giúp ông vẫn là một bí mật.
Và năm 2012, David Penzias, con trai của nhà bác học đã tìm thấy một phong bì trong một số giấy tờ của gia đình. Bên trong là một bản sao của tờ cam kết ký bởi một người tên Barnet Yudin. David đã sốc khi đọc thông tin sau: Barnet có lợi tức 125 đô mỗi tuần và sống ở tầng trên của tiệm sơn và y có 2.000 đô trong tài khoản ngân hàng.
Con người này ko chỉ bảo lãnh cho một gia đình mà y ko quen biết, y còn cố gắng hết sức để làm điều đó. Vậy ông ta là ai?
Sau khi tìm kiếm trên mạng, David Penzias đã gọi một số phone có tên Robert Yudin tại New Yersey, mà y chắc chắn là cháu nội của Barnet Yudin. Qua tiếp xúc này, y biết Barnet đã chết vì ung thư năm 1950. Vợ ông, con trai và con gái cũng đã chết, và người cháu nội này ko có bất cứ giấy tờ gì của ông nội nói về việc đã giúp đỡ một gia đình Đức. Nhưng nhờ con trai nhà bác học tìm thấy phong bì mọi việc đã đưa ra ánh sáng.
Sở dĩ ông chủ tiệm sơn Barnet Yudin đã hết lòng giúp đỡ gia đình của nhà bác học Arno Penzias vì ông đã từng là di dân rời Nga vì là gốc Do Thái. Sanh năm 1886 tại Nga, ông đã hy vọng thành bác sĩ. Ông đã thi đậu vào trường y nhưng bị từ chối, vì gốc Do Thái. Ông rời Nga đi Mỹ bằng con đường Bắc Âu năm 1906. Sau khi định cư tại New Yersey, ông đã bán sơn bằng một xe đẩy (pushcart), và cuối cùng với vợ làm chủ một tiệm sơn phát đạt.
Cháu nội gái của Barnet là Sydney Neuwirth, một nghệ sĩ hồi hưu ở Princeton New Yersey, đã lớn lên trong một căn phòng của nhà ông nội, nằm ngay trên tiệm sơn. Trong khi lật xem những hình ảnh, thư từ, và những bài cắt từ báo (newspaper clipping) kể về cuộc đời của ông bà, cô càng hiểu rõ hơn về ông nội và gia đình mà ông đã giúp. "Ông đã biết rằng nếu ông ko giúp họ, sẽ giống như việc thấy kẻ sắp chết đuối mà ngó lơ," cô nói. "Đây là cách mà ông giúp. Ông đã luôn luôn muốn giúp đỡ kẻ khác." Trong khi cô đọc về cuộc chiến đang diển ra tại Ukraine -- và hậu quả là khủng hoảng về người tị nạn, lớn nhứt Âu Châu kể từ đệ nhị Thế Chiến -- cô càng thấy có nhiều triển vọng hơn.
Gần tám thập niên sau khi Barnet ký tờ cam kết, gia đình của ông nhận lời của David Penzias để họp mặt với nhau. Trừ nhà bác học ko có mặt vì lý do sức khỏe, người em trai và cháu của ông đã bay tới New Yersey để họp mặt tại nhà của cháu nội của Barnet. Trong buổi tiệc, cháu nội của nhà bác học Arno Penzias đã nói: "Cả gia đình chúng tôi đã ko có mặt tại Mỹ nếu ko có Barnet Yudin."

Saturday, June 11, 2022

I/ Làm thế nào sự tử tế của một kẻ xa lạ trong đệ nhị Thế Chiến (TC) đã giúp chúng ta có lý thuyết Big Bang.

Lời nói đầu: Trong thời đại mà rất nhiều người ÍCH KỶ và VÔ CẢM trước nỗi đau hay khó khăn của kẻ khác thì có câu chuyện rất cảm động, đầy ấp tình người của một chủ tiệm sơn ở Mỹ đã bảo lãnh một gia đình mà y ko quen biết -- đang bị đàn áp bởi Đức Quốc Xã dưới thời Hitler. Sau đây là câu chuyện.
====
"Nhà vật lý gốc Đức Arno Penzias đã thoát khỏi Holocaust với sự giúp đỡ của một ân nhân mà ông chưa bao giờ gặp. Sự giúp đỡ bí mật này đã làm thay đổi đời ông--và hiểu biết của chúng ta về vũ trụ này.
Tạm dịch từ bài viết của Katie Sanders, đăng ngày 8/6/2022 trên National Geographic.

Vào một ngày trước đệ nhị TC, chủ một tiệm bán sơn ở Belleville, bang New Jerrsey nghe tiếng gõ cửa dồn dập (frantic). Đó là một di dân Đức 28 tuổi có tên Leo Gelbart, y đang đến từng nhà, khẩn cầu các thành viên của cộng đồng Do Thái (Jewish) trong TP. "Gia đình này cần ra khỏi Đức, và tôi ko đủ tiền để giúp. Ông có thể giúp ko?" Gelbart đã hỏi. Y đưa cho chủ tiệm một tấm ảnh trắng đen của bạn y tại Munich, Đức: một cặp đẹp đôi có tên Karl và Justine Penzias, với hai con trai Arno và Guenther, 6 và 4 tuổi. Với việc ngày càng gia tăng bức hại và bỏ tù người Do Thái của chế độ Đức Quốc Xã của Hitler, gia đình Penzias phải bỏ xứ (flee) hay đến trại tập trung. Nhưng để di cư đến Mỹ, họ cần vài tờ cam kết (affidavit) bảo trợ --đây là những giấy xác nhận (vouch) rằng họ có một thân nhân và một căn bản về tài chánh tại Mỹ. Gelbart sẽ khai gian (falsely state) rằng bạn y Karl Penzias là em họ (cousin). Nhưng là một kẻ hầu bàn, y ko đủ tiền để đủ điều kiện làm người bảo trợ (sponsor) cho gia đình bạn y. Do vậy y đang cố gắng tìm ai đó ký tờ cam kết thứ hai để nhận bảo trợ gia đình Penzias về tài chánh.
Người chủ tiệm sơn 52 tuổi này nói sẽ giúp. "Tôi vui lòng bảo trợ họ cho tới khi họ tự chủ về tài chánh," ông viết trên tờ cam kết. Từ Đức, Karl Penzias cực kỳ biết ơn, nhờ Gelbart chuyển lời tới ông chủ tiệm sơn, rằng gia đình họ chỉ cần bảo trợ trên giấy tờ và sẽ bày tỏ sự biết ơn bằng cách ko bao giờ tiếp xúc với ông.
Người anh của hai đứa nhỏ trong hình là Arno Penzias, nay đã 89 tuổi. Là một nhà thiên văn, từng được giải Nobel, nay đã nghỉ hưu và sống tại bắc Cali. Ông ra đời tại Đức năm 1933, khi Hitler nắm chính quyền. Năm 1938 gia đình ông và những người Do Thái khác, mang hộ chiếu (passport) Ba-Lan, buộc phải lên tàu để trục xuất tới Ba Lan. Những xe lửa đã hoãn lại, và Ba Lan đã vô hiệu hóa (invalidate) những hộ chiếu này trước khi xe lửa tới biên giới.
Năm 1939, họ đã vội vả sắp xếp mọi thứ để rời Đức tới Mỹ. Karl Penzias gửi hai con nhỏ tới Anh theo chương trình Kindertpassport -- một cố gắng của Anh nhằm chuyên chỡ 10.000 trẻ em, phần lớn là Do Thái, ra khỏi Đức.
Hai đứa trẻ sau đó đã được gửi từ một viện mồ côi toàn con gái ở London tới hai gia đình nhận con nuôi (foster family) khác nhau. Trong khi Đức Quốc Xã, còn gọi là Nazi, gia tốc chiến dịch diệt chũng, vợ chồng Karl và Justine Penzias, cuối cùng đã đến Anh để đoàn tụ với con và sau đó đến Mỹ bằng tàu. Gia đình họ đã gặp giông bão và tàu ngầm Đức khi vượt Đại Tây Dương. Ngày 3/1/1940, họ đã tới TP New York.
Gia đình Penzias đã định cư tại Bronx, nơi hai đứa nhỏ bắt đầu đi học. Arno tốt nghiệp trường trung học Brooklyn Technical và City College. Y phục vụ trong nghành truyền tin của Lục quân Mỹ, sau đó có bằng tiến sĩ về vật lý tại ĐH Columbia. Ông làm việc cho Bell Laboratories và, trong TN 1960, đã cùng đồng nghiệp Robert Wilson đồng khám phá bức xạ nền vi sóng vũ trụ (cosmic microwave background radiation), điều này đã xác nhận lý thuyết về vũ trụ học Big Bang (Big Bang theory of cosmology). Họ đã chia xẻ giải Nobel về vật lý năm 1978 về khám phá này.
. . .
Nhưng việc cảm ơn người mà chữ ký của y đã giúp gia đình này tới Mỹ ko dễ thực hiện (feasible). Cha của nhà bác học Arno Penzias đã hứa ko bao giờ tiếp xúc với người ký tờ cam kết, và ông giữ lời. Những chi tiết về người giúp ông vẫn là một bí mật.
Và năm 2012, David Penzias, con trai của nhà bác học đã tìm thấy một phong bì trong một số giấy tờ của gia đình. Bên trong là một bản sao của tờ cam kết ký bởi một người tên Barnet Yudin. David đã sốc khi đọc thông tin sau: Barnet có lợi tức 125 đô mỗi tuần và sống ở tầng trên của tiệm sơn và y có 2.000 đô trong tài khoản ngân hàng.
Con người này ko chỉ bảo lãnh cho một gia đình mà y ko quen biết, y còn cố gắng hết sức để làm điều đó. Vậy ông ta là ai?
Sau khi tìm kiếm trên mạng, David Penzias đã gọi một số phone có tên Robert Yudin tại New Yersey, mà y chắc chắn là cháu nội của Barnet Yudin. Qua tiếp xúc này, y biết Barnet đã chết vì ung thư năm 1950. Vợ ông, con trai và con gái cũng đã chết, và người cháu nội này ko có bất cứ giấy tờ gì của ông nội nói về việc đã giúp đỡ một gia đình Đức. Nhưng nhờ con trai nhà bác học tìm thấy phong bì mọi việc đã đưa ra ánh sáng.
Sở dĩ ông chủ tiệm sơn Barnet Yudin đã hết lòng giúp đỡ gia đình của nhà bác học Arno Penzias vì ông đã từng là di dân rời Nga vì là gốc Do Thái. Sanh năm 1886 tại Nga, ông đã hy vọng thành bác sĩ. Ông đã thi đậu vào trường y nhưng bị từ chối, vì gốc Do Thái. Ông rời Nga đi Mỹ bằng con đường Bắc Âu năm 1906. Sau khi định cư tại New Yersey, ông đã bán sơn bằng một xe đẩy (pushcart), và cuối cùng cùng với vợ làm chủ một tiệm sơn phát đạt.
Cháu nội gái của Barnet là Sydney Neuwirth, một nghệ sĩ hồi hưu ở Princeton New Yersey, đã lớn lên trong một căn phòng của nhà ông nội, nằm ngay trên tiệm sơn.Trong khi lật xem những hình ảnh, thư từ, và những bài cắt từ báo (newspaper clipping) kể về cuộc đời của ông bà, cô càng hiểu rõ hơn về ông nội và gia đình mà ông đã giúp. "Ông đã biết rằng nếu ông ko giúp họ, sẽ giống như việc thấy kẻ sắp chết đuối mà ngó lơ," cô nói. "Đây là cách mà ông giúp. Ông đã luôn luôn muốn giúp đỡ kẻ khác." Trong khi cô đọc về cuộc chiến đang diển ra tại Ukraine -- và hậu quả là khủng hoảng về người tị nạn, lớn nhứt Âu Châu kể từ đệ nhị Thế Chiến -- cô càng thấy có nhiều triển vọng hơn.
Gần tám thập niên sau khi Barnet ký tờ cam kết, gia đình của ông nhận lời của David Penzias để họp mặt với nhau. Trừ nhà bác học ko có mặt vì lý do sức khỏe, người em trai và cháu của ông đã bay tới New Yersey để họp mặt tại nhà của cháu nội của Barnet. Trong buổi tiệc, cháu nội của nhà bác học Arno Penzias đã nói: "Cả gia đình chúng tôi đã ko có mặt tại Mỹ nếu ko có Barnet Yudin."

============================

II/ Chuyến công tác cuối cùng của tàu ngầm I-52.

Dịch từ: The Last Dive ở trang 114 - 133 trên tạp chí National Geographic tháng 10.1999.

                           


"Năm 1944.

Vào mùa xuân, khi những cây anh đào (cherry tree) nở gần Hoàng Cung, ông Satonobu Gamo, 34 tuổi rời nhà ở Tokyo trong một nhiệm vụ bí mật đến nỗi ông ko thể nói với vợ ông. Gamo là một kỹ sư, một người cha của 4 con. Ông đã được lịnh tới nhà máy Daimler-Benz ở Đức và học cách chế tạo máy cho tàu phóng lôi. 

Nhật đã cần trong tuyệt vọng (desperately) kỹ thuật mới về vũ khí từ Đức, và Đức đã cần vật liệu thô từ đế quốc Nhật. Nhưng hai nước thuộc phe Trục này cách nhau nửa vòng trái đất, và mọi con đường xuyên qua Tây Bá Lợi Á đã bị đóng. Nhật đã ký hiệp ước bất tương xâm với Liên Xô, nhưng Đức đang tuyên chiến với họ. Lúc đầu Đức định gửi một thương thuyền để lo vụ này nhưng sau đó hủy bỏ vì sợ phe Đồng Minh tấn công. 

Cách thay thế tốt nhứt là tàu ngầm và cả hai nước đều cải tiến tàu ngầm để có thể thực hiện kế hoạch đó. Tàu ngầm I-52, chế tạo tại cảng Kure năm 1943. Nó có thể mang khoảng 300 tấn hàng hóa và chạy 21.000 dặm Anh mà ko tiếp tế. 

Vào giữa tháng Ba 1944, dưới chỉ huy của hạm trưởng Kameo Uno, tàu I-52 rời cảng Kure. Nó đã ngừng ở Singapore để lấy nguyên lộ thô từ các thuộc địa vùng Đông Nam Á của Nhật -- 2,88 tấn thuốc phiện, 3 tấn ký-ninh để dùng trong y khoa, và 54 tấn cao su. Có 11 sĩ quan, 11 hạ sĩ quan và binh sĩ và 14 hành khách, gồm 6 của hải quân và 8 dân thường -- một thông dịch và 7 kỹ sư, bao gồm Satonobu Gamo. Khi tàu rời Singapore đã bị hải quân Mỹ phát hiện khi các mật điện giữa tàu và BTL hải quân Nhật đã bị nghe lén.

Khi vượt Ấn Độ Dương, để tránh phát hiện, tàu chỉ nổi lên vào ban đêm. Ban ngày, hành khách và quân nhân ko trực phải nằm để tiết kiệm dưỡng khí. 


Vào ngày 15/5, tàu I-52 đã đi vòng Phi châu và vào Đại Tây Dương. Nó được lịnh sẽ gặp một tàu ngầm Đức giữa đại dương, để nhận một hoa tiêu Đức và một máy phát hiện radar mới với 2 nhân viên điều khiển, để tàu có thể xâm nhập vào cảng Lorient của Pháp nhưng đang bị Đức kiểm soát. 

Nhưng vào lúc này, Đại Tây Dương lại là một cái hồ của phe Đồng Minh. Vì chung quanh đại dương này, các trạm nghe ngóng liên tục chuyển tiếp (relay) các vị trí của tàu phe Trục. Đồng minh đã giải được bộ mật mã có tên là Enigma của Đức, nên họ đã đọc được các mật điện của HQ Đức. 

Tin tình báo này đã khiến các tàu ngầm Đức hay U-boat phải lẩn trốn. Tình báo của Đồng minh giờ đây cũng biết những mật điện của tàu I-52.

Các sq tại BTL Mỹ ở Washington, D.C. đã xác định vị trí của I-52 cũng như các tàu ngầm địch tại đại dương này. 

I-52 vượt đường xích đạo vào ngày 4/6, hai ngày trước vụ đổ quân vào Normandy của Pháp và dự định gặp chiếc U-530 vào ngày 23/6, chiếc này đang chờ họ. 

Khi hai tàu đã nổi lên, hạm trưởng Đức, Kurt Lange, thả xuống một xuồng cao su có ba người gồm trung úy Schafer là hoa tiêu dẫn đường vào cảng và hai hiệu thính viên Schulze và Behrendt -- và một hộp gỗ đựng máy phát hiện radar mới. Vì sóng to, hộp này rơi xuống biển nhưng một thủy thủ Nhật vớt được. 

Hai giờ 15 phút sau khi hai tàu gặp nhau, chiếc U-530 chạy về hướng tây. Vì nghĩ rằng ban đêm nên hai tàu vẫn nổi trên mặt nước. 

Trong khi đó, cách đó 55 dặm Anh, phi công của chiếc máy bay phóng lôi Avenger xuất phát từ mẫu hạm USS Bogue. Đây là một tàu chỡ hàng cải biến thành mẫu hạm. 

Phi công Taylor, 28 tuổi, chỉ huy của phi đội 69, gồm 14 phi công của mẫu hạm này. Họ có thể bay liên tục những chuyến bay đêm, đáp máy bay xuống một bãi đáp nhỏ hẹp của mẫu hạm trong ánh sáng lờ mờ. 

"Chúng tôi đã công tác 7 tuần và sắp hết thức ăn và nhiên liệu. Đây là sứ mạng cuối cùng trước khi trở về căn cứ Norfolk ở Virginia."

Trong khi Taylor hướng về khu vực chỉ định, Ed Whitlock, một nhân viên radar của máy bay, đã ghi nhận một tiếng bíp. Khi bay gần tới, họ thả hai pháo khói và một phao màu tím. Phao này là một máy phát tín hiệu, mới được sáng chế, dùng để chuyển tiếp âm thanh dưới nước tới một máy thu trong phòng lái. 

Âm thanh mà họ nhận là từ một cánh quạt của tàu, và chẳng bao lâu họ đã đối diện một tàu ngầm lớn của địch, hoàn toàn nổi trên mặt nước, đang rẻ nước với tốc độ 10-12 hải lý.  

Trong khi tàu I-52 nhanh chóng lặn xuống, Taylor bay trước mũi tàu ngầm, làm thành số 8, và ném hai bom nổ sâu rất mạnh (depth bomb) vào mạn phải (starboard) của tàu. Bay vòng trở lại, ông ném vào chỗ nước xoáy (boil) tạo ra khi tàu lặn xuống, một thủy lôi âm học Mark 24.  Ba phút sau đó, âm thanh của hủy diệt đã được thu vào phao nổi sonobuoy. Xạ thủ Andy của chiếc máy bay phóng lôi nói rằng âm thanh giống "giấy bị vo thành cục trong nắm tay chúng ta."

45 phút sau, chỉ huy của mẫu hạm Bogue, A.B.Vosseller, ra lịnh cho một máy bay phóng lôi khác đến vị trí vừa kể. Phi công đã thả một thủy lôi sau khi ghi nhận tiếng động của cánh quạt tàu ngầm, và 17 phút sau ông nghe một tiếng nổ mạnh. 

Chiếc I-52 -- mà các chấn động từ những vụ nổ, đã khiến nước biển tràn vào phòng áp suất*, các vách ngăn bị sụp đổ, còi báo động phát liên tục, đèn đuốc mờ dần và cuối cùng tối đen -- và con tàu với 112 người nhanh chóng chìm xuống đáy biển. 

Ngày kế, các tàu hộ tống của mẫu hạm Bogue đã thấy những mảnh vụn và một vệt dầu lớn trên mặt biển. Chiếc USS Janssen, đã vớt được hơn một tấn cao su thô, cũng như một đôi dép và những hạt gạo. Một chiếc khác vớt được một cuộn chỉ thêu (silk thread) và những mảnh thịt (pieces of flesh). 

Năm 1944. Suốt mùa hè, TĐS Nhật ở Đức ngày càng lo lắng về chiếc tàu ngầm I-52, có ám danh là Momi. Các hàng hóa chiến lược cho Nhật đang nằm chờ ở cảng Lorient như: máy radar, máy ngắm để ném bom (bombsight), ống chân không, thủy tinh quang học, bạc đạn bằng thép, thủy ngân, đạn súng máy, thép hợp kim thấp (alloy steel) cho động cơ máy bay, hóa chất, bạch kim, và ít nhứt hai thủy lôi âm học T-5 mới phát triển. Các nhà ngoại giao cũng chờ để về Nhật bằng chiếc I-52.

Nhưng hạn kỳ của chiếc này, 25/6, đã qua, và hy vọng đã mờ dần khi, ngày 30/6, họ đã nhận được được một mật điện mã số QWF -- có vẻ phát đi từ chiếc I-52 nhưng cũng có thể là thông tin sai từ nước Anh -- với ý nghĩa tàu chỉ cách cảng Lorient 36 giờ. Viên phó tùy viên hải quân tại Berlin, Yoshikazu Fujimura, đã rời Berlin với 8 viên chức Nhật để đón tiếp tàu. Dựa vào mật điện có mã số QWF, họ đã đến cảng Lorient ngày 31/6.

"Điều ấn tượng nhứt là có khoảng 200 thành viên của Thanh niên Hitler tại Lorient," Fujimura nói với Seiichi Nakata, một viên chức về truyền hình Nhật vào năm 1986. "Đặc biệt... các cô gái Đức ở tuổi trên 20 có vẻ rất mơn mởn và đầy nghị lực (fresh and energetic). 

Một tàu chiến Đức rời bến để gặp tàu ngầm Nhật. Họ đã chờ (stand by) trong bốn ngày. Ngày 8/8, tùy viên hải quân của TĐS Nhật tại Đức, đô đốc Kojima, gửi điện cho Uno, hạm trưởng của I-52 từ Berlin. " Dù chúng tôi ko thể liên lạc với ông, chúng tôi cầu nguyện cho ông được an toàn. Vì rất nguy hiểm. . . khi vào Lorient hay các cảng khác dọc bở biển Pháp, cố gắng tiến tới cảng Trondheim hay Bergen ở Na Uy."

Và khi quân Đồng Minh bao vậy Lorient, Fujimura lâm vào tình thế khó khăn (quandary). "Không còn cách nào thoát ra trừ phi mổ bụng (hara-kiri). . . Khi tôi nói với cấp dưới, "Các ông nghĩ thế nào? họ đã xoa bụng và nói sẽ đau lắm."

Những người Nhật này đã quyết định nhanh chóng rời (make off) bằng xe bus. Sau một tuần di chuyển gian nan (harrowing) xuyên qua các phòng tuyến của xe tank Đồng minh, họ đã tới Paris ngày 8/8. 

Ba ngày sau đó phó đô đốc Abe, đại diện của Nhật tại Hội đồng Ba bên của phe Trục tại Berlin, điện về Tokyo: "Tai họa này đã ập xuống (befall) liên tiếp với các tàu ngầm liên lạc, ở một thời điểm mà những tàu này đóng một vai trò quan trọng trong việc liên lạc giữa Nhật và Đức, quả là một tổn thất cực kỳ đáng tiếc cho cả hai nước."

Khi được hỏi về số vàng, Fujimura bình luận,"Tôi ko luyến tiếc việc mất... vàng. Tôi chỉ tiếc là chúng ta đã mất 100 thủy thủ. Tôi cầu mong tôi có thể vớt được các thi thể."

Năm 1944. Trước khi chạy khỏi Lorient, quân Đức đã hủy hầu hết hàng hóa dành cho chiếc I-52. Nhưng một món ko có trong danh sách phá hủy, chỉ ghi vắn tắt, "--- oxide 500 kí."

"Dĩ nhiên đó là oxide uranium,"Tidwell nói, khi điền vào chỗ trống. Nếu chiếc I-52 nhận số hàng này, số uranium này sẽ tới Nhật vào mùa đông 1944 và được dùng để phát triển vũ khí, dù ko chế bom nguyên tử, như một số người đã lo sợ vào thời đó. 

Cả Đức và Nhật đã có các nghiên cứu bước đầu về nguyên tử, nhưng Hitler đã hủy bỏ các cố gắng của Đức vì y nghĩ rằng Đức sẽ nhanh chóng chiến thắng và chương trình này có thể quá tốn kém. Nhật đã cố gắng tìm một phương pháp để làm giàu uranium nhưng chỉ ở giai đoạn đầu của nghiên cứu. Không nước nào sắp chế tạo một quả bom nguyên tử. 

Tuy nhiên, Nhật vẫn muốn oxide uranium cao cấp và dựa vào Đức để có. Có một bằng chứng là năm 1944, một tàu ngầm Đức đã chuyển đến Nhật 500 kí nguyên liệu này, nhưng 500 kí khác đã mất trên biển trên đường tới Nhật. 

Chuyến chuyên chỡ uranium cuối cùng rời cảng Kiel ngày 25/3/1945, trong một tàu ngầm lớn, loại thả mìn của Đức mang số hiệu U-234, chỉ huy bởi hạm trưởng Johann-Heinrich Fehler. Nó chuyên chỡ khỏi Âu châu -- vũ khí, đạn được, kim loại, và một chiến đấu cơ phản lực Messerschmitt 262 đã được tháo rời. Thủy ngân và chì (lead) được dùng để tạo thăng bằng cho tàu (keel ballast), và ở mũi tàu là mười thùng chứa oxide uranium. 

Trong 12 hành khách có tướng Ulrich Kessler, tân tùy viên không quân của TĐS Đức ở Tokyo, cũng như hai sĩ quan kỹ thuật, Genso Shoji và Hideo Tomonaga, cùng đi với phái đoàn đến Lorient để đón tiếp chiếc I-52. 

Vào ngày 8/5, sau khi chiếc U-234 từ biển Na Uy đến bắc của Đại Tây Dương, nước Đức đã đầu hàng, và ra lịnh bảo tàu về Na Uy. Nhưng hạm trưởng Fehler thích ở Mỹ hơn và cho tàu chạy về hướng tây. 

Japan chưa chịu đầu hàng, nên Fehler đã buộc Tomonaga và Shoji phải ở tại phòng. Họ đã được tìm thấy, như Wolfgang Hirschfeld, một nhân viên truyền tin của U0234, mô tả trong hồi ký; "nằm trong ghế bố sát nhau, tay nắm tay, thở như rống (stertorously), và ko thể thức dậy."Một lọ thuốc ngủ Luminal trống rỗng được tìm thấy gần đó. Sau khi họ chết, Fehler đã bọc họ trong vãi võng với gươm của Tomonaga và thả xuống biển. 

                     




Monday, May 23, 2022

 Ước gì mạng sống của bất cứ ai trên trái đất này cũng được quí trọng như con sóc này

Một chú sóc đỏ mắc kẹt, đầu ló qua một nắp cống (poke through a manhole) tại tp Isernhagen, Đức. Cảnh sát đã giải thoát chú sóc bằng cách nhẹ nhàng đẩy tai nó về phía sau và xịt (drizzle) dầu olive lên cổ nó. Nhưng nỗi đau (ordeal) này đã quá căng thẳng, và chú sóc đã KHÔNG thể qua khỏi.
Nguồn: NGS tháng 6 2014.
                               

Monday, March 22, 2021

 Cô gái nhập lậu người Palestine đã nói bằng tiếng Đức lưu loát để xin bà Merkel cho ở lại nước Đức. Có thể xem clip này ở: https://www.facebook.com/dialog/share?app_id=180444840287&href=http%3A%2F%2Fwww.theguardian.com%2Fworld%2Fvideo%2F2015%2Fjul%2F16%2Fangela-merkel-consoles-sobbing-teenage-asylum-seeker-video&redirect_uri=http%3A%2F%2Fwww.theguardian.com%2Fworld%2Fvideo%2F2015%2Fjul%2F16%2Fangela-merkel-consoles-sobbing-teenage-asylum-seeker-video&picture=http%3A%2F%2Fstatic.guim.co.uk%2Fsys-images%2FGuardian%2FPix%2Faudio%2Fvideo%2F2015%2F7%2F16%2F1437049131844%2FKP_356808_crop_640x360.jpg


". . . 

"Có sự kiểm duyệt (tại Đức) về ngôn ngữ thù hận, do vậy những ý kiến có tính kỳ thị chũng tộc có thể khiến bạn bị phạt nhưng phần lớn điều này chỉ là một cấm kỵ (taboo) do xã hội áp đặt. Và điều này vượt quá căn bản luật pháp: mọi ý kiến chống di dân là cấm kỵ và khiến cho diễn giả bị xã hội ruồng bỏ (outcast) .

Nói rõ hơn, có sự thiếu vắng của chủ nghĩa ái quốc và một cấm kỵ về chủ nghĩa ái quốc. Phần lớn người Đức ko thể hay ko dễ chịu khi định nghĩa người Đức là gì. Không có giáo dục về ái quốc ở trường. Người dân Đức xem họ là công dân của vùng của họ và/hoặc của EU (Cộng đồng Âu châu), trong khi "nước Đức" hoàn toàn trừu tượng. Chủ nghĩa ái quốc được xem ko có ý nghĩa gì hết (được sanh tại nơi này hay nơi khác ko phải là một thành tựu) và lại còn được đặt ngang hàng với chủ nghĩa dân tộc hay bài ngoại! Tuy nhiên điều cấm kỵ, ví dụ, đối với sở hữu một lá cờ Đức hay các  biểu lộ tương tự về chủ nghĩa ái quốc được dễ dãi/cởi mở một chút trong hai thập niên qua. Tôi nghĩ đó là năm 1999 khi chúng tôi có một cuộc tranh luận công khai lớn lao về việc một chính trị gia nói "Tôi hãnh diện là người Đức" có phải là bài ngoại ko. Ông ta phải từ chức. Nhưng trong giải vô địch bóng đá thế giới 2006 tại Đức, người Đức đã ngạc nhiên khi các khán giả nước ngoài đã hãnh diện một cách ko mơ hồ (unambiguously) về nước Đức hơn cả (người Đức), điều này đã tạo ra một tranh luận và cởi mở về vấn đề này. Thời nay, một số đáng kể người Đức sẵn sàng nói họ hãnh diện là người Đức . . . 

//Ngày nay, một phần đáng kể dân số đã sẵn sàng để nói rằng họ tự hào là người Đức, mặc dù nhiều người sẽ âm thầm nói thêm, "Về cơ bản, Đức là quốc gia duy nhất đã công nhận lòng yêu nước là gốc rễ của nhiều điều xấu xa và đã loại bỏ nó." Nghịch lý như nó có thể. Nếu quan tâm, tác giả người Đức người Iran Navid Kermani đã xây dựng một chút về thương hiệu yêu nước rất đặc biệt này.

Trong các đảng ở QH Đức, ko đảng nào có đường lối chống di dân--như đảng Mặt trận Dân tộc (Front National) ở Pháp. Đảng lớn nhứt với lập trường chống di dân là AfD, chỉ được 3/100 ủng hộ trong các thăm dò. Trong các đảng có vai vế tại Đức, có lập trường chống di dân là đảng CSU (một đảng bảo thủ đặc biệt chỉ tồn tại ở bang Bavaria, có kết hợp với đảng CDU, của bà Merkel, ở cấp liên bang), với ý kiến rằng Đức sẽ trở nên kém Thiên Chúa giáo. Đảng này rất cẩn thận để ko bị "ném đá" (overshoot). Đảng này nói về German Leitkultur (văn hóa hướng dẫn của Đức) hay "văn hóa hướng dẫn Do Thái-Thiên Chúa giáo Tây phương", một chủ nghĩa đa văn hóa, đã bị đón nhận tiêu cực tại tranh luận công khai và mất nhiều phiếu. Vài người trong đảng CDU của bà Merkel đôi khi cũng nói như vậy, nhưng bà thì ko; bà đã nổi tiếng khi nói, "Hồi giáo ko nghi ngờ gì là một phần của nước Đức." Các đảng khác thì thân di dân hơn cả đảng CDU và CSU. Tiếng nói chống di dân thành công nhứt là Thilo Sarrazin, cựu GĐ của ngân hàng liên bang, từng viết nhiều sách bán rất chạy tiên đoán rằng sự xuống dốc của Đức như là kết quả của di dân từ các nước Hồi giáo cũng như sinh xuất cao từ di dân Hồi giáo. Ông còn nói thêm, di dân dễ phạm tội. Kết quả, ông bị mất chức tại ngân hàng này và bị đuổi khỏi đảng SPD. Tuy nhiên ông vẫn còn nhiều người ủng hộ từ lớp trung lưu.

Tôi ko nói người Đức muốn có láng giềng là người tị nạn Syria, vì điều ấy có thể làm giảm giá trị căn nhà của họ, và cũng có nhiều thành kiến với người Á rập, tạo nên bởi Thilo Sarrazin, nhưng người Đức hãnh diện đang giúp đỡ kẻ khác. Và trong khi bà Merkel và những người khác chỉ ra: rất thú vị và hãnh diện, dựa vào lịch sử, thì Đức đã trở nên một nước mà mọi người mơ ước được nhập cư-- một điểm đến rất nổi tiếng hơn Áo, Pháp, hay Anh. Nước Đức đang hưởng lợi sự thay đổi này: Trước đây, trong cuộc khủng hoảng Hy lạp, hầu như phần lớn của 70 năm qua, nước Đức đã là hung thần (bogeyman). Nay, nó lại là hải đăng (beacon of light)". 

Tạm dịch từ: http://www.slate.com/blogs/quora/2015/09/28/syria_migration_crisis_why_is_germany_taking_in_so_many_refugees.html

Sunday, August 18, 2019

Bà Angela Merkel : ảnh
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3543946612285806&set=pcb.3543948352285632&type=3&__tn__=HH-R&eid=ARAjqvCXghSOOc67DuWPux2CfoQ8itlAyXDrdfkagJvxkIxOBbg5zegiMknAiAJUDkYlTF6Fig_d65N1

Sunday, March 18, 2018

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1809075305772954&set=pcb.1809070549106763&type=3
phép lạ kinh tế của đức

Tuesday, February 20, 2018

Báo Đức: Người Việt Nam tại CHLB Đức bị An ninh VN hăm dọa và tấn công như thế nào?


Lê Nguyễn Hương TràTự do báo chí và đời sống người Việt Nam tại Đức sau vụ việc lùm xùm của Trịnh Xuân Thanh; được phản ánh qua bài viết về TBT của Thoibao.de anh Le Trung Khoa; bà Hoàng Thị Mỹ Lâm - Chủ Tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn và Blogger Người Buôn Gió Thanh Hieu Bui trên trang điện tử Die Zeit (Thời Đại), tuần báo danh tiếng của nước Đức! Bài hơi dài nhưng rất sít sao với tình hình thực tế ạ

(Hình) TBT Lê Trung Khoa và Blogger NBG tại hội thảo về tự do báo chí VN ở Berlin 2018. Nữ phóng viên Marina Mai (giữa) của báo TAZ, người theo sát vụ TXT.
VÀ RỒI CÓ THƯ MỜI ĂN…TIẾT CANH NGAN (*)

Tại Việt Nam nhà nước kiểm soát tất cả hệ thống truyền thông. Ngay tại nước Đức người Việt Nam cũng không nên nói và viết lên sự thật – bằng không sẽ bị hăm dọa và tấn công.

Nằm sâu trong lòng Đông Berlin, một hành lang tối và hẹp trong tòa nhà xây bằng gạch nung dẫn đến văn phòng làm việc của Lê Trung Khoa. Bức tường hai bên hành lang treo đầy các bảng quảng cáo cho những dịch vụ bán vé máy bay giá mềm và chuyển tiền về Việt Nam. Sau nhiều cánh cửa là những văn phòng nhỏ, nơi đó người ta đang gõ phím và gọi điện thoại.

Ông Lê đang làm việc trong một văn phòng nằm ở cuối dãy. COMD Softwareentwicklung (Phát triển phần mềm) được viết bằng những chữ cái lớn mầu đỏ trên cánh cửa. “Tôi phải bấm nút nào để thêm vào hai món khai vị? ”, một người đàn ông mặc áo khoác mùa đông màu đen hỏi. Lê kiếm tiền bằng kỹ thuật lập trình cho máy tính tiền của các tiệm ăn, siêu thị và tiệm làm móng. Nhưng đó không phải là nguyên nhân đã khiến cho ông ta khó chịu với nhà nước Việt Nam và đồng thời phải lo cho tính mạng của mình!
---

Lê còn là Tổng Biên Tập của Thời Báo, một tờ điện tử tiếng Việt được đọc nhiều nhất tại Âu Châu. Trong những năm đầu thập niên 90, Lê qua du học tại Weimar về thiết kế phương tiện truyền thông. Trong một dự án của Đại Học, Lê đã đem chương trình phát thanh Việt Nam vào nước Đức. Hồi đó hệ thống truyền thanh chỉ có ở dạng analog, Lê đã số hóa những chương trình phát thanh và đưa lên mạng. Qua việc này, Lê đã giúp người Việt sống tại Đức được nghe những tin tức mới nhất từ quê hương. Sau đó, Lê đã thành báo điện tử Thoibao.de, mong muốn tạo nhịp cầu đối thoại giữa hai nước với nhau!

Nhà nước Việt Nam hài lòng với tầm ảnh hưởng vượt qua biên giới này. Ở Việt Nam không có tự do báo chí. Mặc dầu hiến pháp đảm bảo tự do ngôn luận, nhưng nhà nước lại kiểm soát tất cả hệ thống truyền thông. Họ cũng đã nhanh chóng liên lạc với Lê và đề nghị một thỏa thuận. Lê Trung Khoa được phép chuyển tải những bản tin của truyền thông nhà nước như của Vietnamnet, đổi lại ông phải cung cấp cho họ những thông tin của các cơ quan nước Đức liên quan đến Việt Nam và người Việt.

Với niềm tin và không vụ lợi, suốt 10 năm Lê đã làm báo theo đúng ý của nhà nước Việt Nam. “Nhưng vẫn thiếu điều gì đó“, Lê cất tiếng nói sau khi giải thích cho người khách hàng về các nút bấm phối hợp, rồi ông đặt mình ngồi xuống cạnh cái bàn kính tròn nằm giữa văn phòng. “ Còn thiếu sự trung thực. Hệ thống truyền thông nhà nước không tường thuật những điều thực sự xảy ra“. Nhiều bài tường thuật từ Việt Nam đã tâng bốc mối quan hệ giữa hai nước và loan truyền những tin thất thiệt.

Một ví dụ, vào tháng bảy 2017 truyền thông Việt Nam đã đưa tin, bà Thủ Tướng Đức sẽ đón tiếp Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc trong dịp Hội Nghị Thượng Đỉnh G20 ở Hamburg. Làm như là ông Phúc là một trong những nhân vật vĩ đại. “Nhưng điều đó không trung thực. Một cuộc đón tiếp chính thức tại Dinh Thủ Tướng đã không hề được lên kế hoạch “.

Lần đầu tiên trong cuộc đời, Lê đã viết trên tờ Thời Báo điều trái ngược với truyền thông nhà nước bằng những lời quả quyết, khác với trước đây – nhiều lắm là ông chỉ dùng từ ngữ ám chỉ mà thôi.

Sự hồi đáp đến rất nhanh!

Lê thanh toán phần lớn chi phí cho tờ báo bằng tiền thu nhập từ Công ty phần mềm của mình. Chỗ làm việc của ông chỉ là một cái bàn viết nằm trong góc cửa hàng. Giữa những cành lan, những máy camera canh phòng và những màn hình cảm ứng của máy tính tiền, ông ngồi viết các bản tin.
Trên tờ báo, ông cũng cho đăng quảng cáo lấy tiền để chi phí cho sở thích của mình [tờ Thời Báo].
---

• Những quảng cáo bị dừng lại

Từ khi Lê đưa bản tin chính thức vào tháng bảy 2017 thì các khách hàng đăng quảng cáo thường xuyên lâu năm đã quay mặt với ông. “Những doanh nhân đã gọi điện thoại cho tôi bảo rằng họ không có vấn đề cá nhân gì với tôi. Nhưng họ không thể tiếp tục đăng quảng cáo lâu hơn trên báo của tôi“, ông Lê bảo vậy. Ông ta phỏng đoán: “Hình như người ta sợ rằng quảng cáo của họ sẽ bị xem như là một sự hỗ trợ cho việc làm của tôi“.

Đó mới chỉ là sự bắt đầu. Nhà nước Việt Nam đã hủy hợp đồng hợp tác với ông. Số truy cập vào xem báo từ Việt Nam, nơi ông có nhiều bạn đọc nhất, đã bị giảm hẳn. Giờ đây tại Việt Nam người ta muốn đọc được tờ Thời Báo thì phải sử dụng một số tiểu xảo kỹ thuật.

Ngoài ra, một nhân viên sứ quán đã gọi điện thoại cho ông Lê: Ông nên xóa bản tin lập tức, vì rất có thể sẽ có một cuộc tiếp kiến giữa Phúc và Merkel. Đòi hỏi này không được Lê đáp ứng. Ông giữ nguyên quan điểm của mình: Một cuộc đón tiếp chính thức không được lên chương trình và một cái bắt tay bên lề Hội Nghị Thượng Đỉnh lại là một việc hoàn tòan khác. Do đó, Đại Sứ Quán đã thu hồi giấy mời Lê đến tham dự buổi tổ chức trong khách sạn sang trọng Ritz-Carlton, nơi mà Thủ Tướng sẽ có bài nói chuyện với cử tọa.

Không những chỉ Sứ Quán không hài lòng về bản tin G20, qua Facebook ông Lê còn nhận được các lời lẽ xúc phạm và đe dọa giết chết. “Tao mời mày đến ăn tiết canh ngan“, một người đàn ông viết tin nhắn riêng đến Lê. Sau đó người này đã viết công khai [trên Facebook], mời ông Lê đi ăn tiết canh ngan. Ăn tiết canh ngan, đó là một cách người Việt nói ẩn ý là: tao giết mày!

• Viện Công Tố vào cuộc điều tra!

Người gửi tin nhắn không là xa lạ. Trên trang Facebook người này đã đăng tải rất nhiều hình ảnh mà chính người này đã chụp chung với ông Đại Sứ Việt Nam Đoàn Xuân Hưng. Hình cho thấy hoặc là họ đang cùng ngồi ăn tối hoặc vai kề vai với cốc bia trong tay hoặc đứng bên nhau với cây đánh Golf trên sân Golf. ZEIT ONLINE đã thỉnh ý Sứ Quán xin bình luận về những tấm hình này và hỏi ông Đại Sứ có biết về hoạt động của người này không. Sứ Quán đã không trả lời thư điện tử này!

• Dưới sự giám sát đặc biệt.

Không ngại sự đe dọa, Lê vẫn tiếp tục con đường phê phán. Ví dụ như ông đăng báo ý kiến riêng của ông về vụ Trịnh Xuân Thanh. Người cựu quan chức tham nhũng có lẽ đã bị bắt cóc tại Đức mang về Việt Nam. Tối thiểu là cũng có các nhân chứng khai rằng tại Công viên Tiergarten ở Berlin có một người đàn ông và một phụ nữ đã bị lôi kéo vào xe ô tô bằng vũ lực.

Khi ông Trịnh nói trên đài truyền hình nhà nước Việt Nam là mình tự nguyện từ Đức Quốc trở về để đầu thú tại Việt Nam, thì Lê là người đầu tiên công khai đặt câu hỏi về việc tự đầu thú này. Và ông ta đã cho đăng tải ý kiến phản bác của bà Luật Sư Đức của Trịnh Xuân Thanh.

Bài báo này cũng đưa tới một hệ quả: Một số người Việt tổ chức biểu tình sau khi xem chương trình truyền hình Việt Nam gây tranh cãi đó. Họ biểu tình ủng hộ những nguyên tắc của nhà nước pháp quyền, Lê đã tường thuật trên báo như thế. Không lâu sau đó xuất hiện trên mạng xã hội một số hình chụp lén ông Lê khi ông ta đứng quan sát cuộc biểu tình, khi ông rời khỏi cuộc biểu tình và khi ông liền sau đó ngồi trong quán cà phê để viết bài tường thuật. Rõ ràng đã có người nào đó bí mật theo dõi và chụp hình ông.

Cả hai trường hợp đều được Lê tố cáo với Cảnh Sát, ông cũng chỉ rõ ra rằng trong vụ đe dọa giết người có mối liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam. Hiện Viện Công tố viện đang điều tra. Cơ quan Bảo Vệ Hiến Pháp cũng được thông báo. Ít nhất là trường hợp Trịnh Xuân Thanh bị nghi bắt cóc cho thấy rằng, “mật vụ Việt Nam đặc biệt theo dõi một số người nhất định nào đó“, một phát ngôn viên của cơ quan Bảo Vệ Hiến Pháp đã trả lời câu hỏi của báo Zeit Online. Nhà chức trách đang điều tra và không thể cho biết thêm chi tiết.

• Bây giờ có cả sự đe dọa ngay trong nước Đức!

Lê không phải là người duy nhất bị đặt dưới sự theo dõi đặc biệt. Bà Hoàng Thị Mỹ Lâm là người tỵ nạn thuyền nhân đến nước Đức từ miền Nam Việt Nam cách đây 37 năm. Cho đến giờ bà vẫn công khai phản đối chế độ XHCN độc đảng. Lúc đầu bà chỉ là một “con cá nhỏ”, bà nói. Từ 2014 bà là Chủ Tịch của Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn gồm có 25 Hội địa phương trực thuộc.

Với chức danh đó bà Hoàng tổ chức biểu tình dưới lá cờ trước đây của miền Nam Việt Nam, màu vàng với ba sọc đỏ nằm ngang. Bà bảo rằng, trong tất cả mọi năm có thể người ta đã theo dõi bà vì tư tưởng đối kháng nhưng bà vẫn cảm thấy an toàn. “Công An Việt Nam có thể nhiều nhất là đe dọa những Hội Viên của chúng tôi khi họ về thăm quê hương hay là làm khó dễ với các thân nhân của những người này. Nhưng họ chưa bao giờ đi đến mức, can thiệp vào chúng tôi trên nước Đức“.

Nhưng điều này đã thay đổi từ khi vụ Trịnh Xuân Thanh xảy ra. “Nếu mật vụ Việt Nam đến mức độ bắt cóc ông ta bằng vũ lực - thì làm sao họ để chúng tôi yên?“, bà Hoàng đặt câu hỏi. Sau đó ít lâu thì thực sự bà ta bị tấn công trong một cuộc biểu tình do bà tổ chức.

Ngay khi bà Hoàng gửi thư mời cho cuộc biểu tình truyền thống hàng năm, bà đã nhận cả trang viết dài đe dọa. Kẻ đối thủ mắng bà bác sĩ vừa mới nghỉ hưu là “bác sĩ thất nghiệp“ là “chó” và “kẻ phản bội“.

Ngoài ra kẻ lạ mặt cũng đe dọa sẽ phá cuộc biểu tình. Hoàng và các Hội Viên của bà được Cảnh Sát hỗ trợ, nhưng vẫn bị lỳ lợm quấy phá. Một phụ nữ đã chửi thề và hất chiếc điện thoại khỏi tay một người tham dự biểu tình. Cảnh sát đã cảnh cáo và đuổi bà ta ra, sau cuộc biểu tình người đàn bà này trở lại, xô bà Hoàng và mắng chửi. Bà Hoàng nói: “Bây giờ chúng tôi phải cẩn thận hơn“. “Tôi không rõ, người đàn bà này ghét chúng tôi từ trong thâm tâm hay là bà ta được thuê bắng tiền để đe dọa chúng tôi”.

Cho tới bây giờ những kẻ trung thành với nhà nước chỉ theo dõi người bất đồng chính kiến, cao lắm là họ chỉ buông lời xúc phạm “bây giờ họ sẵn sàng sử dụng bạo lực”. Trong vụ này Viện Công Tố cũng đang điều tra.

• Việt Nam gia tăng sự đàn áp người bất đồng chính kiến

Một người thứ ba, mà sự đe dọa cũng không xa lạ gì là nhà văn Bùi Thanh Hiếu, tức blogger nổi tiếng Người Buôn Gió. Tới 2013, Bùi viết trên trang Blog ở Việt Nam về tham nhũng, cướp đất và các vụ xử án không công bằng. Ông lập tài liệu về những hành vi bất hợp pháp của Công An, cho phổ biến các tài liệu nhạy cảm, nêu tên kẻ có tội. Sau đó bị bỏ tù - và ông quyết định đào tẩu. Bây giờ Bùi viết Blog từ nước Đức.

Các độc giả trung thành của ông có từ 60.000 tới 70.000 truy cập vào trang mỗi ngày. Hiện nay ông Bùi Thanh Hiếu ở tại nước Đức nhưng cũng không cảm thấy an toàn trước các nguy cơ bị theo dõi.

Đặc biệt là trên các phương tiện truyền thông ông cảm nhận được sự đàn áp, theo lời Bùi. Trang Facebook của ông thường xuyên bị xóa và trang Blog bị khóa. Song song với khó khăn này là vô số các trang giả mang tên ông và hình của ông được dựng lên, việc này làm cho độc giả của ông rối loạn. “Cuối cùng thì độc giả của tôi vẫn tìm lại được trang của tôi”, Bùi nói.

Cuối 12.2017 nhà nước Việt Nam công bố, quân đội sẽ tăng đến 10.000 người chỉ để chiến đấu trên mạng Internet. “Cứ mỗi giờ mỗi phút và mỗi giây chúng ta phải sẵn sàng, tích cực chống lại khuynh hướng sai trên mạng thông tin”. Tướng Nguyễn Trọng Nghĩa đã tuyên bố với báo Tuổi Trẻ, “Việc bảo vệ Tổ Quốc không xảy ra ngoài biển và trên không nữa, mà ngay trên mạng Internet”.

Trên mặt chính thức thì nhà nước muốn ngăn chận các vi phạm hình sự trên Internet và sự tấn công của Hacker như nhiều quốc gia khác, tuy nhiên tại Việt Nam có những tội danh như “tuyên truyền chống lại nhà nước” hay là “lợi dụng tự do dân chủ để chống phá nhà nước”. Cơ quan Nhân quyền FIDH (Fédération internationale des ligues des droits de l’Homme) và VCHR (Vietnam Committee on Human Rights) nhìn nhận có một sự “leo thang đáng báo động về việc bắt giam người, xử án không công bằng và bạo lực thể chất đối với người bảo vệ Nhân Quyền, Blogger và Xã hội dân sự”.

Trong năm 2017 đã có ít nhất 46 người bị bắt vì nói ra tư tưởng chính trị của họ hoặc tham dự các cuộc biểu tình ôn hòa.

Cuối cùng lại còn tệ hại hơn, Bùi Thanh Hiếu nói. Sự đe dọa trên Internet, ngay cả sự chạm trán đôi khi trên đường đi ông có thể bỏ qua. Những chuyện đó so với việc xảy ra ở Việt Nam là không đáng kể. Vì vậy cố gắng không để tâm đến những sự cố này. Ông không có gì để sợ. Ở Việt Nam Bùi chỉ còn mẹ già, bà khai với cơ quan nhà nước là không biết gì cả.

• Cám ơn sự can đảm

Nhà báo Lê Trung Khoa không vô tư như vậy. Ông không để cho các con của mình đi bộ đến trường. Vợ bảo ông hàng ngày là nên ngưng chống đối lại nhà nước Việt Nam và hãy chỉ chăm lo cho văn phòng kinh doanh của mình.

“Nhưng tôi chỉ viết sự thật”, Lê nói. “Chúng ta đang sống trong một nhà nước pháp quyền CHLB Đức, chúng ta có tự do báo chí. Không ai có thể cấm tôi viết ra sự thật tại đây.” . Ông tin vào cơ quan có thẩm quyền của Đức, vào Cảnh Sát và vào nền Tư Pháp .“Nếu tôi bị ám sát thì kẻ sát nhân sẽ bị xử theo luật Đức”.

Và việc làm của ông đã có hiệu quả . Ngay khi có nhiều người xa lánh thì vẫn có nhiều độc giả đến văn phòng của Lê để bắt tay và cám ơn vì sự can đảm..

Cũng tại Chợ Đồng Xuân, Berlin nơi khuôn viên lớn nhất đầy hàng hóa Việt Nam và các dịch vụ trong nước Đức, Lê nhận thấy cũng có sự thay đổi. Xưa kia các quan chức được đón tiếp tốn kém với tiệc tùng long trọng và chụp hình công khai. Bây giờ không còn như vậy. Các buổi lễ ít hơn, các cửa hàng kinh doanh lớn cũng giảm bớt chi tiền quyên góp . “Họ đã nhìn thấy sự thật và bây giờ không muốn làm việc chung với những người đó nữa”.

Vanessa Vu

(*) Mời ăn tiết canh ngan = Tao giết mày = Cho xin tí huyết ;)

Bản Dịch: Kim Mi.

Nguồn: http://www.zeit.de/…/vietnamesen-in-deutschland-meinungsfre…. 

(FB Lê Nguyễn Hương Trà)

Sunday, February 18, 2018

Người Việt nào cần xấu hổ?





Nguồn : http://luuthuyhuongblog.blogspot.com/2016/12/nguoi-viet-o-uc-co-can-xau-ho.html
Bài viết của Nguyễn Doãn Đôn về các thói hư tật xấu của một bộ phận người Việt ở Đức là một sự thật không thể phủ nhận. Tuy nhiên, tôi cần phải đính chính với Nguyễn Doãn Đôn và độc giả của anh: "Chữ người Việt mà tác giả đề cập trong bài không là người Việt toàn nước Đức". Xuất xứ, quan điểm và phản ứng của người viết, cũng như tiêu đề "Xin người Việt ở Đức đừng làm người Việt xấu hổ!", hoàn toàn nằm trong khuôn khổ của một người Việt sống ở miền đông nước Đức, chính xác hơn nữa là của một người Việt gốc miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Nằm trong bối cảnh xã hội và chính trị hoàn toàn khác biệt, sự phát triển của hai cộng đồng người Việt bên Đông và bên Tây thế hệ thứ nhất có rất ít điểm tương đồng. Tôi nhấn mạnh "thế hệ thứ nhất" vì đây là thế hệ còn mang nặng di sản văn hóa, chính trị, chủng tộc... sự hội nhập và thành công của họ là tiêu chí để đánh giá mức độ văn minh và tiến bộ của cộng đồng.
Người Việt bên Tây là những người đến từ "nền văn minh" Việt Nam Cộng Hòa, thành phần chủ yếu là sinh viên du học trước 75, thuyền nhân tị nạn chính trị sau 75 và những người sang định cư hợp pháp. Họ có kiến thức - văn hóa, được đào tạo chuyên môn, có ý thức hội nhập và phấn đấu mãnh liệt, dựa trên một thuận lợi rõ ràng là quyền định cư vô thời hạn ở Đức. Họ sớm ổn định cuộc sống, lặng lẽ đi về phía trước và hội nhập tích cực vào xã hội Đức.
Trong khi đó, người Việt bên Đông là những người đến từ "chế độ man rợ" Việt Nam Cộng Sản (""cách dùng từ của Dương Thu Hương). Thành phần chính trước 1989 là người lao động giản đơn (thợ khách), một số ít sinh viên - nghiên cứu sinh diện con buôn. Sau 1989 cộng đồng người Việt miền Đông phát triển nhanh chóng cùng hàng loạt người tị nạn theo đường dây buôn người đổ sang Đông Âu. Không như người Việt bên Tây, người Việt bên Đông không có thuận lợi căn bản cho mục tiêu phấn đấu lâu dài là quyền định cư vô thời hạn, cuộc sống tạm bợ ở Đức của họ hướng đến mục tiêu thủ lợi ngắn hạn bằng mọi cách thức mọi mưu kế. Họ phải lăn lộn mưu sinh và tìm cách bám trụ với vốn kiến thức eo hẹp, ngôn ngữ hạn chế cùng nền văn hóa làng xã. Tiêu chí hội nhập là vấn đề không ai đặt ra trong hoàn cảnh định cư ngắn hạn. Bên cạnh những yếu tố không thuận lợi ngay từ khi khởi đầu, cộng đồng người Việt miền Đông phải tiếp tục gồng mình đón nhận làn sóng nhập cư chui ồ ạt từ những miền quê nghèo Bắc Trung bộ. Những người nhập lậu vào nước Đức này không mang theo kiến thức, khả năng ngoại ngữ và một ý thức để hội nhập, họ mang theo nền văn hóa của một "chế độ man rợ".
Khác hẳn với người miền Nam vốn dĩ thật thà ít bốc phét, người miền Bắc ở Đức hay nói, hay giãi bày và hay đặt mình vào trọng tâm của mọi vấn đề. Nhan nhản trên các trang báo trong và ngoài nước, mỹ từ "kiều bào ở Đức" hay "người Việt ở Đức" phần lớn đều được quan sát, đánh giá từ cái nhìn và trình độ văn hóa của người miền Bắc. Điều này từ lâu được xem như là lẽ đương nhiên. Bởi vì nhà cầm quyền miền Bắc sau 1975 đã ban cho người miền Bắc cái quyền ngồi xổm trên mọi phương tiện truyền thông. Từ phương ngữ, văn hóa, đạo đức, giáo dục... đến chính tả đều lấy phía Bắc làm chuẩn.
Trừ một số rất ít tay viết kỳ cựu và bản lãnh luôn rạch ròi khái niệm Đông - Tây như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Hà... người viết bên Đông thường áp đặt quan điểm của mình cho cả cộng đồng bên Tây. Người đọc do thiếu kiến thức lịch sử hay do bất cẩn cũng dễ dàng tin vào những bài viết hay bài nghiên cứu kiểu vơ đũa cả nắm: phần đông người Việt sang Đức đều làm kinh doanh nhiều người Việt ở Đức có tính "nổ"nước mắt hội nhập của người Việt ở Đứckiếp hồng nhan người Việt trên nước Đức... Bản thân tôi, khi gắn địa danh Berlin vào những trang viết của mình, tôi cũng thường xuyên được độc giả, bạn văn, nhà nghiên cứu phê bình gán cho lý lịch "người miền Bắc", "dân hợp tác lao động"... Chuyện hiểu lầm về một cá nhân là chuyện nhỏ, chỉ gây cảm giác ngạc nhiên và buồn cười, không cần phải giải thích ra đây. Nhưng chuyện hiểu sai về cả một cộng đồng, một đặc điểm lịch sử, một yếu tố địa lý... thì cũng nên đính chính.
"Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thành phố đã bị liên quân bốn nước chiếm đóng, và sau đó các khu vực do Anh, Pháp, Hoa Kỳ chiếm đóng được hợp nhất và trở thành Tây Berlin, được bao quanh bởi bức tường Berlin và phần còn lại do Liên Xô chiếm đóng trở thành Đông Berlin (thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Đức). Sau khi nước Đức thống nhất ngày 3 tháng 10 năm 1990, Berlin trở thành thủ đô của toàn liên bang Đức." Wikipedia
Tôi đồng ý với cái nhìn của Nguyễn Doãn Đôn về những mặt tiêu cực của cộng đồng người Việt - Đông Berlin, cảm ơn anh đã nêu ra vấn đề nhằm mục đích "gạn đục khơi trong" cộng đồng của anh. Nhưng tôi nghĩ, chúng ta cần xem xét bản chất vấn đề một cách nhân đạo hơn. Sản phẩm của "chế độ man rợ" này là hiện thực xã hội mang nguồn gốc sâu xa, không thể một sớm một chiều thay đổi được. Nó vẽ nên một bức tranh buồn bã về những người nhập cư đến từ những vùng quê nghèo đói, những vùng thành thị tha hóa và phải bắt đầu cuộc đời mình ở xứ sở xa lạ trong một điều kiện hoàn toàn khó khăn. Thảm cảnh đó làm người ta thương hại nhiều hơn là căm ghét.
Chúng ta có thể lên tiếng phê phán một sản phẩm kém chất lượng, nhưng xin đừng quên nhìn rõ bản mặt tội ác của những kẻ, những tập đoàn hay một chế độ đã tạo ra sản phẩm đó.
Câu hỏi được đặt ra: "Người Việt (nói chung) có cần xấu hổ về người Việt ở Đức?"
Câu trả lời của riêng tôi là: KHÔNG! Chúng ta đều phải bắt đầu cuộc sống tha phương bằng hai bàn tay trắng, tuy với những thuận lợi khác biệt ở hai miền, nhưng những thành quả mà chúng ta đạt được hiện nay cùng tương lai mà chúng ta đang gây dựng cùng người Đức phải là niềm an ủi, niềm tự hào cho toàn thể cộng đồng người Việt ở Đức. Tôi yêu những người đồng hương của tôi, bất kể bộ áo quần trên người họ dơ bẩn ra sao, bất kể họ ồn ào như thế nào ở chốn công cộng, bất kể chuyện họ phải bỏ làng bỏ xóm sang "ăn nhờ ở đợ" xứ người (!)... Chỉ cần họ đưa tay ra là tôi nắm lấy và mỉm cười: "Em là người Quảng Bình hay Nghệ Tĩnh?"
Vậy, ai là kẻ cần thấy xấu hổ? Đó là những kẻ đã đẩy hàng trăm ngàn người vô tội ra biển, mưu đồ chiến tranh - bần cùng hóa đất nước, bán rẻ biển đảo quê hương, đầu độc đời sống người dân, đánh đuổi người nghèo ra khỏi mảnh đất của ông bà tổ tiên.
Lưu Thủy Hương

*
* *

Xin người Việt ở Đức đừng làm người Việt xấu hổ !

Tác giả Nguyễn Doãn Đôn
Gần đây nhiều bài báo trên mạng đã dám mạnh dạn đề cập đến những mặt trái của một số ít người Việt sống ở đất nước văn minh này. Họ là số ít nhưng hệ lụy lại lớn lao khôn lường.


Chẳng hạn trong khu chợ Đồng Xuân, ngày càng có nhiều khách người Đức và người nước ngoài vào mua bán. Ở đây, mặc dù ban quản lý chợ đã có nhiều cố gắng trong khâu chấn chỉnh trật tự và vệ sinh, nhưng người Việt vẫn vứt rác hôi thối và đổ nước bẩn ra quanh khu nhà. Xe đỗ thiếu ý thức làm tắc nghẽn giao thông; Hội hè tổ chức thì quá đông, ồn ào, thiếu văn minh và bất lịch sự, vì tưởng lầm như thế là oai, là hay, là đàn anh, đàn chị…
Trên tầu xe, thì người Việt nói tiếng Việt oang oang, nói tẹt ga cho sướng cái mồm, nói như ở chỗ không người. Tư thế ngồi không ngay ngắn, quấn áo lôm nhôm, giày dép bẩn, có người còn đi nhầm đôi tất không đồng màu, để lộ rõ, chân bốc mùi hôi hám, làm cho khách ngồi cạnh phải bịt mũi quay đi, hay lánh sang chỗ khác ngồi. Có người còn cho tay lên ngoáy tai, ngoáy mũi, sì mũi không có khăn, ho nhiều lần không bịt miệng, bắn nước miếng vào người khác, mở nhạc và nói chuyện trên điện thoại quá to. Có rất nhiều cái xấu nhãn tiền mà không giấy bút nào tả cho thấu và cho hết được. Nhục và xấu hổ lắm !
Một số bà mẹ trẻ thì rủ nhau đẩy xe trẻ con, hai cái xe đã to và cồng kềnh lại đi dạo thành hàng ngang, sóng đôi choán hết phần đường của người đi xe đạp và đi bộ. Đã vậy họ còn nói chuyện và cười to vang cả một vùng. Cứ làm như đây là „Nam quốc sơn hà Nam Đế cư“ vậy.
Đi làm giấy tờ trong công sở, tiếc tiền không thuê phiên dịch, tiếng Đức đã kém, không biết cách trình bày, cộng thêm sự không hiểu biết, tính khí nóng nảy, cái đầu lại quay quay nên dẫn tới nhiều trường hợp chửi nhau với nhà chức trách và nghiêm trọng hơn còn đánh họ gây thương tích. Thật là ngu ngốc, tàn bạo và là sự nhục nhã, xấu hổ cho cộng đồng.
Nước mình có, không ở, sang nước người ta, ăn nhờ, ở đợ vào xã hội tươi đẹp của họ, do ông cha họ tạo dựng nên từ bao nhiêu thế kỷ; Thế mà không biết điều. Nhiều trường hợp, nếu dùng từ cho chuẩn là họ đang ăn bám.
Một số người tự hành nghề, khi nộp thuế tự khai đã không chính xác, họ làm mấy chục năm mua bao nhiêu đất ở Việt Nam, chưa bao giờ nộp thuế thu nhập cá nhân, ấy vậy đến lúc bất đắc dĩ phải nộp vài trăm thuế doanh thu đã huênh hoang, lên mặt, vỗ ngực là ta đây có công đóng góp to lớn cho nhà nước Đức, rồi tiếc mấy đồng thuế đó tìm cách này, cách khác để lấy lại.
Một số người tận dụng „hết công suất“ của xã hội, cố tìm và moi móc ra những kẽ hở để khai thác và lợi dụng. Lòng tham ở một số người thật vô đáy, vô cùng.
Người Việt mới sang chúng ta còn châm chước, nhưng một số vị sang Đức này „ từ lúc tóc còn xanh, nay họ đã phơ phơ đầu bạc“. Họ đã thành „cộng mốc“ lâu rồi mà xem chừng chỉ vì say mê đào tiền quá mà „bao năm rồi tiếng cuốc vọng năm canh“ hai chữ hội nhập vẫn mơ màng, chưa tỉnh ngộ.
Có người trả bảo hiểm cho cửa hàng vài năm, không bị phá, bị cháy. Lẽ ra phải mừng mới phải, đằng này họ lại tiếc, cho là mình trả bảo hiểm phí quá !!!???. Sao họ không nghĩ là nếu họ ốm đau phải qua một ca mổ tốn kém đến vài trăm nghìn, mà trong khi đó bảo hiểm ốm đau, họ chỉ phải trả có vài trăm hay vài chục và thậm chí không phải trả vì do ăn theo hoặc có thu nhập thấp?
Con người hơn con vật là do có ý thức về Xã hội và cộng đồng. Người Đức họ hơn ta phải chăng họ có „Đức tính“ còn chúng ta có „VIỆT TÍNH“ chăng?
Tôi thiết nghĩ đã đến lúc cộng đồng ta phải chấn chỉnh ngay những điều không đẹp mắt và những việc làm xấu của một số người. Ngay từ khi nước Đức thống nhất, chúng ta đã mang tiếng xấu liên quan tới „mafia thuốc lá“, người Việt giết người Việt. Giờ đây lại thêm người Việt trồng cần sa, buôn ma túy, người Việt đánh hay giết người Đức nữa; Một số người Đức còn cho rằng: Người Việt buôn bán trốn thuế nên vào chợ Đồng Xuân thấy nhiều xe sang đỗ khắp nơi…Chỗ nào cũng nhan nhản quán xá của người Việt, làm ăn nhỏ lẻ, chộp giật mà thuế nộp quá là “khiêm tốn.”
Trước đây đất nước ta trải qua chiến tranh khốc liệt, người Đức nhất là phía Đông Đức đã giúp đỡ rất nhiều và cũng rất có cảm tình với người Việt chúng ta. Họ thương chúng ta vì chúng ta nghèo và hiền lành…
Tại sao giờ đây họ lại giảm yêu, tăng ghét với người mình? Dù chúng ta có ngụy biện thế nào đi chăng nữa là do điều kiện khách quan hay chủ quan thì theo tôi, lỗi lớn vẫn là do từ phía mình là chính. „Tiên trách kỷ, hậu trách nhân“.
Mong cộng đồng chúng ta hãy gạn đục khơi trong, để lấy lại thiện cảm của người dân bản xứ. Hãy cùng nhau đấu tranh và góp ý về những việc làm ảnh hưởng xấu đến bộ mặt của người Việt, nếu không thì „con sâu làm rầu nồi canh“, từng người trong cộng đồng chúng ta sẽ gặp không ít khó khăn vì những ảnh hưởng xấu đó.
Chúng ta có điều bất lợi là một số không ít người Đức, khi đọc trên báo hay nhìn thấy những điều chướng tai gai mắt nào đó của người Việt gây ra là y như rằng họ „vơ đũa cả nắm“. Người châu Âu với nhau, về hình thức còn khó phát hiện là người nước nào. Còn người Việt Nam mình, do ngoại hình và màu da, màu tóc, nên cái hay hoặc cái dở bị họ phát hiện ngay từ xa và rất nhanh. Khi vào „bộ nhớ“ của họ rồi thì rất khó mà tẩy xóa được.
Mong mọi người đừng để LÒNG THAM vô đáy và cái VÔ MINH của mình gây ảnh hưởng xấu người khác. Đó là bổn phận của từng người dân sống ở nước ngoài. Vì ta không phải chỉ sống một mình.
Nguyễn Doãn Đôn, Thoibao.de

Nguồn : http://luuthuyhuongblog.blogspot.com/2016/12/nguoi-viet-o-uc-co-can-xau-ho.html