Showing posts with label ngân hàng vnch. Show all posts
Showing posts with label ngân hàng vnch. Show all posts

Thursday, May 2, 2024

 

Cựu binh kể thời khắc mở cửa hầm, tiếp quản 16 tấn vàng ngày giải phóng

VOV.VN - Ký ức hiện về như thước phim quay chậm, khung cảnh ngày bàn giao - tiếp quản kho vàng của gần năm thập kỷ trước mở ra trước mắt cựu binh Hoàng Minh Duyệt...

 - Mời các anh vào! 

Nói rồi, ông Huỳnh Bửu Sơn, lãnh đạo Nha phát hành Ngân hàng Quốc gia dịch người qua trái, cánh cửa cuối cùng dẫn vào hầm vàng được mở toang. Trước mắt, hàng nghìn thỏi vàng với vô số tiền bạc xếp lớp, hầm rộng như sân bóng. 

Đó là một buổi chiều ngày đầu tháng 5 năm 1975. 

Tiến về Sài Gòn

Ngày ấy, Sài Gòn còn hỗn loạn. Nếu không phải là người trong cuộc, trực tiếp kiểm kê, "mắt thấy, tay sờ" thì chính cựu binh Hoàng Minh Duyệt, nguyên là Chỉ huy phó của Đơn vị tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ngày giải phóng cũng khó tin rằng, 16 tấn vàng vẫn được nhân viên của Ngân hàng Quốc gia quản lý an toàn đến vậy. 

Trong những năm 1973 - 1974, ông Hoàng Minh Duyệt là một trong những chiến sỹ hăng hái của C282Q Công an nhân dân vũ trang tại đơn vị B17 tại Hà Tĩnh. Với sức trẻ và lòng yêu nước, tháng 12/1974, các chiến sỹ C282Q được nhận lệnh hành quân vào Nam chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. 

Đoàn hành quân do Thượng úy Đặng Hồng Minh làm đoàn trưởng, ông Hoàng Minh Duyệt hồi đó là Chuẩn úy làm đoàn phó, cùng 32 chiến sỹ khác. Tất cả 34 người đều ở tuổi đôi mươi, mới chỉ vài người lập gia đình. 

Thời điểm đó, Huế và Đà Nẵng vẫn đang bị bom đạn xối xả ngày đêm. Để không bị địch chú ý, các chiến sỹ phải tính toán thời gian, sắp xếp hành quân chủ yếu vào đêm tối.  Sau nhiều ngày vượt qua những con đường bị bom đạn cày xới, qua bạt ngàn thi thể xếp lớp giữa mùi súng ống, đoàn hành quân kịp đến Trung ương Cục miền Nam nhận nhiệm vụ. 

Ngày 2/4/1975, Chiến dịch 275 (chiến dịch Tây Nguyên) thành công mở đầu cho những thất bại quân sự không thể cứu vãn của quân lực Việt Nam Cộng hoà. Sau khi giải phóng Tây Nguyên, Trung ương Cục miền Nam lập tức phổ biến kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng để tiếp quản các căn cứ tại Sài Gòn. 

Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Các chiến sỹ C282Q được giao nhiệm vụ đi đầu để bảo vệ đoàn của Trung ương Cục miền Nam tiến về Sài Gòn. 14 giờ 30 phút, trong niềm hân hoan chiến thắng và háo hức của những người lính trẻ lần đầu tận thấy một đô thị lớn, đoàn về tới Ngã tư Bảy Hiền (Phường 4, quận Tân Bình). 

Cũng như các chiến sỹ khác trong đoàn, cậu thanh niên Hoàng Minh Duyệt hồi đó dù đói khát, vẫn còn e dè với những đòn bánh tét, chai nước ngọt của người dân thành phố đem cho. 

"Người dân thành phố vừa được giải phóng, thấy bộ đội đi vào nên cho đồ ăn nhiều lắm. Chúng tôi nhận nhưng thú thật không dám ăn, vì vừa giải phóng, ai biết địch có trà trộn, cài cắm hay không", ông Hoàng Minh Duyệt nhớ lại. 

Đêm hôm đó, cùng với các cán bộ Ban Kinh tài, Trung ương Cục, đoàn C282Q tập kết về Trường Cao Thắng (phường Bến Nghé, Quận 1) tạm nghỉ, chờ phân công nhiệm vụ. Trường Cao Thắng lúc các chiến sỹ tiến vào có khoảng 20 người đang ẩn nấp. Thấy quân giải phóng, họ cuống cuồng chui xuống gầm giường, vào nhà vệ sinh "lánh nạn".

"Họ run rẩy, sợ hãi, lại có người đói khát sắp ngất đi. Thấy vậy, chúng tôi trấn an, cho biết mình là quân giải phóng, chỉ muốn gắn kết đồng bào", ông Duyệt kể. 

Sau khi được các chiến sỹ chia đồ ăn, nước uống, nỗi lo sợ vơi đi, họ "khai" mình là người dân ở các tỉnh dạt vào Sài Gòn. Để xoá bỏ khoảng cách, ông Duyệt khởi xướng màn giao lưu văn nghệ. Tiếng hát cất lên, những tráng pháo tay giòn giã, quân và dân thực sự hoà làm một. 

4 giờ ngày 1/5, đoàn nhận lệnh rời Trường Cao Thắng, xuất phát đến Ngân hàng Quốc gia Việt Nam số 17 Bến Chương Dương (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chi nhánh TP.HCM số 8 đường Võ Văn Kiệt, Quận 1) canh giữ, tiếp quản kho vàng.

Vào hầm 

4 giờ, trời Sài Gòn bóng tối đen đặc, súng ống vẫn ngổn ngang trước cửa Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Trong khi nhiều toà nhà và trụ sở lân cận bị cướp phá, ngân hàng vẫn được bảo vệ dưới sự chỉ huy của một thiếu tá Việt Nam Cộng hoà và vài cảnh sát. 

Ông Hoàng Minh Duyệt cùng 33 chiến sỹ C282Q tiến tới trên 3 chiếc ô tô Zin 157. Khẩu súng máy đại liên vốn định sử dụng để khống chế lực lượng cũ chưa kịp dùng tới thì đối phương đã buông súng đầu hàng. Ngay sau đó, đoàn triển khai đội hình bảo vệ tòa nhà. 

Đúng 8 giờ, trước mặt hàng trăm nhân viên ngân hàng, ông Lữ Minh Châu, Phó Ban Tài chính đặc biệt của Trung ương Cục (có thời gian dài sống trong vỏ bọc là cán bộ một ngân hàng Sài Gòn) công bố lệnh tiếp quản và lệnh cho các ngân hàng ngưng hoạt động. 

Trong lúc công bố lệnh tiếp quản, ông Châu cũng công bố các chính sách về quyền lợi và nghĩa vụ trong quan hệ đối nội, đối ngoại của các ngân hàng chế độ cũ. Trong đó bao gồm cả việc xác nhận nợ, tiếp quản các kho thế chấp, trả lại tiền gửi cho nhân dân và các tổ chức trong ngoài nước.  

Công bố lệnh tiếp quản hoàn tất, những người có liên quan trực tiếp đến việc quản lý, bảo vệ tài sản được giữ lại làm việc, những người còn lại được cho về, khi cần sẽ gọi. 

Có mặt trong buổi sáng hôm đó, chánh sự vụ Lê Minh Khiêm và kiểm soát viên Huỳnh Bửu Sơn, hai người nằm trong Ban lãnh đạo Nha phát hành Ngân hàng Quốc gia được giữ lại. Ông Khiêm là người giữ mã số các hầm bạc, còn ông Sơn giữ chìa khóa kho vàng. 

Sau khi vãn hồi trật tự, chiều cùng ngày, quân ta bắt đầu thực hiện lệnh mở hầm, kiểm đếm và tiếp quản tài sản của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Lối đi xuống hầm chỉ vừa một người. Ông Huỳnh Bửu Sơn dẫn đầu, phía sau là các đại diện Ban Quân quản và đơn vị tiếp quản ngân hàng. Ông Hoàng Minh Duyệt là Chỉ huy phó của đơn vị tiếp quản nên tham gia và chứng kiến toàn bộ quá trình bàn giao. 

"Lối đi xuống hầm nếu đi 2 người thì bị chật, đi một người thì vừa vặn, thoải mái. Hầm được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước. Còn cửa hầm thì bằng thép, nặng hàng tấn, có ổ khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ", cựu binh Hoàng Minh Duyệt kể. 

Từng cánh cửa lần lượt được mở ra. Tới cánh cửa cuối cùng, tất cả đều im lặng, tập trung cao độ để ông Huỳnh Bửu Sơn mở khoá. 

"Chúng tôi lúc đó gần như không ai động đậy, vì hồi hộp. Sau khoảng 3 giây tra khoá vào ổ, một tiếng tách bật lên, ông Sơn dùng sức đẩy toang cánh cửa rồi nói 'Mời các anh vào!'. Thật sự chúng tôi chưa từng tưởng tượng đến việc có một căn hầm đồ sộ và hoành tráng đến vậy.

Hầm rộng như một sân bóng, sáng choang, mát lạnh dù không gắn điều hoà. Vô số thùng vàng và tiền bạc xếp lớp khiến cả đoàn ai nấy đều sửng sốt, choáng ngợp", ông Duyệt nhớ lại thời khắc cửa hầm bật mở. 

Cửa hầm mở, Ban Quân quản và đơn vị tiếp quản ngân hàng bước vào. Thời khắc đơn vị mới chuẩn bị tiếp quản toàn bộ tài sản nơi mình làm việc và canh giữ, các nhân viên ngân hàng vẫn tiếp tục công việc, nghiêm túc như không hề có bất cứ sự thay đổi nào. 

16 tấn vàng

Vào hầm, ông Huỳnh Bửu Sơn tiến về các tủ sắt khổng lồ và cho biết đây là những tủ chứa vàng. Mỗi tủ sắt được trang bị hai lớp khoá, ông Sơn lần lượt mở từng tủ.

Những cánh cửa sắt lần lượt được mở toang. Hàng nghìn thỏi vàng xếp lớp trên các kệ bằng thép, có một vài kệ võng xuống theo thời gian. Có nhiều thùng gỗ cũng được đặt trong tủ, bên trong chứa vô số đồng tiền vàng cổ.Đó có là cảnh tượng mà khó ai có thể một lần thấy trong đời.

"Vì hiếu kỳ, tôi thử cầm một thoi lên thì ông Bửu Sơn cười trêu 'không nhấc được đâu, phải lấy thế'. Sau khi được ông Sơn chỉ cho cách đứng dạng hai chân, dùng sức cả hai tay, tôi mới nhấc nổi một thỏi vàng", khung cảnh 49 năm trước hiện về rõ mồn một trong ký ức của cựu binh Hoàng Minh Duyệt. 

Khó nhấc nổi cũng dễ hiểu, bởi mỗi thoi vàng lúc đó đều nặng từ 12 - 14kg. Tất cả đều là vàng nguyên chất, trên mỗi thoi được khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Từ các số hiệu, vàng được xác định có nguồn gốc từ Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), Công ty Montagu (ở Nam Phi) và Công ty Kim Thành (đúc tại Việt Nam).  

Về đồng tiền vàng, tất cả được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau. Ngoài thỏi vàng và đồng tiền vàng cổ, hầm còn có nhiều thùng chứa trang sức và giấy bạc. 

"Tôi nhớ riêng tiền mặt lúc đó là 625 tỷ đồng tiền Việt Nam Cộng hoà. Mỗi thùng ghi rõ mệnh giá, loại giấy bạc, số lượng. Mệnh giá cao nhất lúc đó là 1.000 đồng", ông Hoàng Minh Duyệt nói. 

Toàn bộ số vàng đều được bộ phận điện toán của ngân hàng theo dõi chi tiết từng đơn vị, bất cứ sự thay đổi vào về xuất hay nhập kho đều được ghi lại. Do đó, công việc kiểm kê khá đơn giản. Chỉ trong một buổi sáng, đoàn đã kiểm kê xong số lượng giấy bạc dự trữ.

Việc kiểm kê số vàng chiếm nhiều thời gian hơn vì phải kiểm kê từng thỏi để xem trọng lượng, tuổi vàng và số hiệu có khớp đúng với sổ sách hay không. 

Chỉ trong hai ngày, cuộc kiểm kê kết thúc. Số lượng tiền vàng tại thời điểm kiểm đếm khớp hoàn toàn với sổ sách của chính quyền Việt Nam Cộng hoà lưu lại. 

"16 tấn vàng. Ngoài những người cũ của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam thì con số này khiến tất cả chúng tôi kinh ngạc. Thú thật là những ngày đầu chúng tôi không hề biết trong hầm có 16 tấn vàng, chúng tôi chỉ biết đây là mục tiêu cần bảo vệ nghiêm ngặt, sẽ bàn giao - tiếp quản khi tình hình vãn hồi", ông Duyệt nói và cho biết, con số 16 tới tận bây giờ vẫn là một điều đặc biệt đối với ông. 

Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới hoàn tất, ông Huỳnh Bửu Sơn và Lê Minh Khiêm cùng ký vào biên bản kiểm kê. Cựu binh Hoàng Minh Duyệt cũng không quên nhắc đến cảm xúc của chính mình khi đứng giữa bạt ngàn vàng thỏi và bạc giấy ngày ấy.

Ông nói, hơn bao giờ hết, lúc đó bản thân phải ngay thẳng, phải làm gương trước những người chế độ cũ. 

"Lúc đó chỉ nghĩ là làm sao để không mất đồng xu cắc bạc nào của Nhà nước. Với cả, mình đứng giữa các nhân viên chế độ cũ mà lại có gì không đàng hoàng thì họ sẽ khinh thường cho", ông Duyệt nói thêm. 

Sau giải phóng, đơn vị C282Q của ông Duyệt được phân bổ đi khắp nơi. Riêng ông Duyệt được điều về làm trợ lý tại Cục Chính trị Công an vũ trang, sau đó về Trường Sỹ quan Biên phòng II làm giáo vụ. Năm 1983, ông Duyệt chuyển ngành về Bộ Thương mại và nghỉ hưu. 

Wednesday, November 18, 2020

 KHI NGƯỜI DÂN TIN TƯỞNG VÀO CHÍNH QUYỀN

Người Mỹ phần lớn luôn nghĩ rằng, ngày mai không khác nhiều so với ngày hôm nay lắm, vì họ luôn tin tưởng vào chế độ Pháp Trị hay Nhà Nước Pháp Quyền (cai trị bằng pháp luật) của họ. Ai lên làm tổng thống hay thống đốc hay thị trưởng thì cũng theo Hiến pháp và luật để điều hành đất nước.

Đối chiếu vào cuộc sống, ta thấy đúng như vậy:
1/ Những ng tị nạn VN mới qua Mỹ, trong giai đoạn đầu (đặc biệt trong thập niên 1970, 1980), do quán tính có sẵn từ VN (ko tin vào chính sách của nhà nước CS), nên họ không dám để tiền trong ngân hàng (NH) và cứ giữ tiền mặt trong nhà. Lúc đó đã xảy các vụ cướp của, tra khảo chủ nhà (để chỉ chỗ giấu tiền), v.v...; phần lớn nạn nhân là người Việt và thủ phạm cũng là băng đảng người Việt.
Nay những vụ ăn cướp như vậy đã giảm rất nhiều, gần đến chỗ biến mất.
2/ Ở VN hiện nay, những ng giàu có đều biến của cải của mình thành dollar hay vàng và để trong nhà; vì đồng VN ngày càng mất giá và họ cũng ko tin tưởng lắm ở NH. (Tôi chưa nói tới các QUAN THAM, vì họ ko ngu gì gửi số tiền lớn ở NH vì ko khác gì 'lạy ông tôi ở bụi này'.) Cũng vậy mọi việc mua bán nhà cửa, xe cộ đắc giá, v.v... đều qui ra đô hay vàng.
3/ Nguyên tắc về tài chính, một nước ko nên để hai đồng tiền lưu hành song song vì đồng tiền mạnh sẽ đẩy đồng tiền yếu ra khỏi thị trường.
a/ Trước 1975 ở miền Nam VN, dân hay công chức hay quân nhân giữ đô trong người hay trong nhà là PHẠM PHÁP: chỉ có những ng có nhu cầu xuất ngoại để du lịch, du học, v.v... mới được quyền giữ đô; nhưng phải có GIẤY PHÉP của bộ tài chánh hay NH quốc gia Việt Nam.
b/ Và phần lớn, các việc mua bán nhà cửa, xe cộ đắc tiền, v.v... đều dùng chi phiếu (CP). Ng ta chỉ dùng tiền mặt để mua sắm lặt vặt. Theo thống kê của chính phủ VNCH, trước 1975, hoạt động của các NH (công và tư) rất tốt đẹp và lượng tiền lưu thông qua NH không THUA gì các nước tư bản khác, dù VN đang có chiến tranh.
Ví dụ: bạn ký một CP trị giá 100.000 đồng trả cho một khách hàng A (hồi đó CP ko ghi tên ng nhận như bây giờ). Ông A lại dùng CP này để trả cho ông B, và ông B dùng nó để trả cho ông C... Như vậy CP đó đã qua tay nhiều ng.
(Lúc đó, chưa có máy ATM, nhưng với CP, bạn có thể rút tiền ở bất cứ NH nào ở các tỉnh - mà bạn làm việc hay du lịch).
(Đã đăng năm 2015).

Monday, March 26, 2018

ĐỜI TÔI BỊ LỪA GẠT NHIỀU LẦN NHƯNG LẦN LỚN NHỨT VÀ SUÝT MẤT MẠNG KHI BỊ CS LỪA GẠT SAU NGÀY 30.4.75 . 

Hôm qua , 1 bà nói , 'tôi cho 1 ng bạn mượn 4.000 đô nhưng họ quỵt luôn' . Tôi nói , 'nhằm nhò gì , gđ tôi đã mất nhiều nhà cửa tài sản , bản thân tôi thì đi tù 6 năm' .
Tới đây bà kể , 'tôi đâu có thua anh , tôi mất 7 căn nhà tại Ban Mê Thuột . Chồng tôi sau 30.4.75 bị bắt vì làm thông dịch cho mỹ . Nhà cửa thì phường/quận bảo tôi ký giấy cho họ "mượn" . Năm 1977 , tôi dẫn các con vượt biên , chồng tôi bị giam tới năm 1987 mới về , sau đó mấy tháng , sợ quá nên gấp rút lập thủ tục đi mỹ' .
Tôi nói , 'do tại quá sợ , nên anh sớm rời bỏ vn : nếu anh ở lại , đòi nhà , CS sẽ trả vì khoảng đầu TN 1990 đã có chính sách "trả lại nhà đã bị tịch thu sau 1975 với điều kiện chủ vẫn còn ở VN"' .
1/ Tôi có quen 1 ng , trước 75 , làm ở một ngân hàng tại SG . Mỗi tháng NH chuyển 1 phần từ tiền lương của ông vào 1 trương mục (tài khoản) đặc biệt : TM này hưởng lãi xuất cao hơn bình thường và chỉ được rút ra toàn phần hay từng phần khi ông nghỉ việc hay về hưu hay có nhu cầu quan trọng như quan hôn tang tế . Sau 30.4.75 , vừa bị mất việc , ông cũng mất luôn số tiền này !!!
2/ Ba tôi vừa là 1 trong những ng sáng lập và PCT hội đồng quản trị của Trung Nam Ngân Hàng ở SG . Sau 30.4.1975 , NH này bị đóng cửa , số tiền trong NH bị mất trắng ; nhưng sau khi họ coi sổ sách thì biết ba tôi có nợ 1 số tiền của NH Việt Nam Thương tín - một chi nhánh của NH Quốc gia Việt Nam . Trong kinh doanh phải có mượn qua mượn lại , chứ ko ai đủ có tiền mặt để làm những công trình lớn . Thế là ba tôi phải bán căn nhà đang ở , bề ngang bằng 3 căn phố và cao 3 tầng , để trả nợ .
3/ Do trong nghề xây dựng , ông đã xây nhà tại nhiều nơi để làm văn phòng giao dịch hay cho thuê. Sau 30.4 , ông đã hiến hay bán rất rẻ vì người ở địa phương đó cho biết : nếu ba tôi ra nhận nhà sẽ đi tù vì tội "tư sản mại bản" ; thà bán lấy vài chỉ vàng hay hiến còn hơn vừa mất của lại đi tù . Lúc đó , GIÀU LÀ TỘI LỖI , không như bây giờ họ thi nhau khoe nhà hàng triệu đô từ Nam chí Bắc . Thế là của cải , tạo lập suốt đời người (lúc đó ba tôi 55 t) , lần lượt ra đi .
Ảnh 1 lấy từ mạng về việc Hồng Quân tiến vào "giải phóng" các tp ở TQ năm 1949 , ảnh 2 là chú thích của ảnh 1 .

Thursday, August 31, 2017

I/ Các bank tại Sài gòn, tính tới tháng 3/1968, chiến cuộc Mậu Thân. 
1/ Bank of China, 11, Bến Chương Dương, Tel 91.692
2/ Bank of Communications, 87, Hàm Nghi, Tel 91.549
3/ Banque Francaise de l'Asie (Ngân hàng Pháp-Á), 29, Bến Chương Dương, Tel 23.434
4/ Banque Franco-Chinoise (Ngân hàng Pháp-Hoa), 32, Hàm Nghi Tel 90.065
5/ Bank of America, góc Nguyễn văn Thinh - Phan văn Đạt, Tel 90.052-23.682
6/ B.N.C.I. (Banque Nationale de Commerce et Industrie (Ngân hàng Quốc Gia Kỹ Thương, 36 Tôn thất Đạm, Tel 21.902
7/ Chartered Bank, của Anh quốc, 3, Võ Di Nguy, Tel 90.041
8/ Commercial Credit Bank, 17, Bến Chương Dương, Tel 23.521.
9/ Ngân hàng Việt nam Thương Tín 93, Hàm Nghi Tel 91.528, xem hình.
                                     

10/ Hongkong and Shanghai Banking Corporation (HSBC), 9, bến Chương Dương Tel 90.036
11/ Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, 17 bến Chương Dương, Tel 23.521.
12/ Ngân hàng Saigon, 102, Nguyễn Huệ, Tel 90.073 - 91.506
13/ Tokyo Bank của Nhật Bản, 12-22 Hàm Nghi, Tel 25.897
14/ Việt Nam Ngân hàng, Tel 91.326.
II/ Một số tổ chức dân sự (civic organizations).
Lions Club 16, Tự Do, Tel 23.164
Rotary Club (Phù Luân Hội), 134 Tự Do, Tel 22.444
Red Cross, 201 Hồng Thập Tự, Tel 22.289
Hội Nghiên cứu Đông Dương c/o Viện Bảo tàng Quốc gia, Tel 21.603
Việt Nam Jaycee (Thanh thương hội VN), 387, Võ Tánh, Tel 25.160
Hội Việt Mỹ, 55 Mạc Đỉnh Chi, Tel 25.771
III/ Các TĐS và LS nước ngoài ở Sài gòn.
Mỹ, Úc, Anh, Bỉ, Trung hoa Dân quốc, Cambodia, Đan mạch, Pháp, Đức, Hy lạp, Ý, Ấn độ, Nhật, Hàn quốc, Lào, Malaysia, Tân tây lan, Na uy, Philippines, Bồ đào nha, Thụy điển, Thụy sỉ, Thái.
IV/ Hối xuất
1 usd = 118 vnd
1 bảng Anh = 329 vnd
1 franc Pháp = 24.10 vnd
Du khách có thể đổi tiền tại các bank, VP du lịch hay KS không có bất cứ hạn chế.
Khi du khách rời VN, những tiền VN chưa xài sẽ đổi ra tiền của nước họ dựa vào tờ khai khi đổi tiền của nước họ ra vnd khi vừa đến VN.
Dịch từ: tuần báo Saigon Round-up, phát hành tại SG khoảng tháng 3/1968.

Monday, September 12, 2016



ẢNH SÀI GÒN VÀ VŨNG TÀU TRƯỚC 1975.

BỊNH VIỆN NÀY NẰM Ở NGÃ TƯ PHÚ NHUẬN, SÀI GÒN - DO HỘI THÁNH CƠ ĐỐC PHỤC LÂM (SEVENTH DAY ADVENTIST) CỦA MỸ XÂY DỰNG. SAU NÀY HỘI THÁNH MUA VÀ SỬA CHỮA MỘT BV BA TỪNG (NGUYÊN LÀ BV DÃ CHIẾN CỦA QĐ MỸ) Ở ĐỐI DIỆN BỘ TTM QLVNCH, ĐANG LÀM DỞ DANG THÌ CS VÀO.  MỚI ĐÂY MỘT ANH BẠN Ở GẦN ĐÓ KỂ LẠI: SAU NGÀY 30.4.75, LÁNG GIỀNG CỦA ANH, MỘT Y TÁ CỦA BV NÀY PHẢI HƯỚNG DẪN NGƯỜI MỚI. VÌ NGOÀI HỘ LÝ, Y TÁ MIỀN BẮC KHÔNG CÓ KIẾN THỨC VỀ Y KHOA ĐẦY ĐỦ SO VỚI Y TÁ VNCH. MỘT NỮ Y TÁ CỦA BV NÀY DI TẢN QUA MỸ NĂM 1975, CÓ 5 ĐỨA CHÁU, KÊU BẰNG CÔ, CÓ ĐỨA SAU NÀY TỐT NGHIỆP Y KHOA Ở UCSF. QUA MỸ, TUY BẢ THẤP BÉ NHƯNG LẤY CHỒNG MỸ CAO LÊU NGHÊU, GẦN NHƯ TUẦN NÀO CŨNG KÊU NGƯỜI CHỊ Ở SJ LÀM MỘT NỒI BÚN RIU ĐỂ GIA ĐÌNH 4 NGƯỜI ĂN MÓN ĂN ĐẶC SẢN NÀY CỦA VN. 

 

CHỤP TẠI BÃI SAU VŨNG TÀU TRƯỚC 1975 

 

KS TAM THẮNG TẠI VŨNG TÀU, NẰM TẠI BÃI TRƯỚC.

 

NGÂN HÀNG PHÁP HOA TẠI CHỢ CŨ 

 

MỘT QUÁN BAR

 

CHỢ VŨNG TÀU





===



Wednesday, January 27, 2016

Phụ nữ VN từ nổi tiếng tới dân thường . Các bank Mỹ tại VNCH .

Bà Thiệu tới Đài Bắc , Đài Loan trong cuối tháng 4/75 . Ra đón bà là vợ của Ngoại trưởng Cộng hòa Dân quốc . Ông Thiệu đã đến Đài Loan trước đó mấy ngày . 
Thượng đỉnh Manila 1966 .
Bà Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn thị Hậu , thị trưởng Đà Lạt , ảnh dưới .
Cô gái này , hình như là Thanh niên Cộng hòa thời ông Diệm , đang học quân sự 
Nạn nhân chiến cuộc 

Nhân viên sở Mỹ , 1967 .

Ảnh này và hai ảnh dưới là các bank của Mỹ tại Sài Gòn .