Showing posts with label quân khu 1. Show all posts
Showing posts with label quân khu 1. Show all posts

Wednesday, March 31, 2021

 Trận chiến sau cùng tại Quảng Tín


 


Huy Văn


 


 


(Chân thành cảm ơn:


Trung Tá Hoàng Phổ, Liên Đoàn Phó LĐ12 BĐQ


Thiếu Tá Hồ Văn Hạc, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 39/LĐ12 BĐQ


Đại Úy Nguyễn Trung Tín, Y sĩ Trưởng LĐ12 BĐQ


Đại Úy Trần Văn Quy, Tiểu Đoàn Phó TĐ 37/LĐ12 BĐQ


Đại Úy Trần Văn Vương, Đại Đội Trưởng ĐĐ3/37/LĐ12 BĐQ


Trung Úy Võ Văn Hiền, Đại Đội Trưởng ĐĐ2/37/LĐ12 BĐQ


Trung Úy Nguyễn Duy Tân, Đại Đội Trinh Sát TrĐ 5/SĐ 2BB


Thiếu Úy Đỗ Văn Tuấn, Đại Đội Phó ĐĐ2/TĐ2/TrĐ 5/SĐ 2BB


đã góp thêm chi tiết về tình hình chiến sự và những địa danh liên quan tới các trận đánh.)


 


 


Đầu tháng 3-1975


 


    Tướng Trưởng cho lệnh rút Liên Đoàn 12 BĐQ từ Quảng Ngãi về hậu cứ tại Đà Nẵng (thôn Phú Lộc, xã Hòa Minh) để tái trang bị và bổ sung quân số. Đây là lần hành quân dai dẳng nhứt của Liên Đoàn, khi hành quân liên tục suốt từ đầu tháng 4/1974 trong các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Tín, rồi đến các quận trong địa bàn phía tây của tỉnh Quảng Nam (phần lớn là bảo vệ quận Đức Dục trong trận tái chiếm Nông Sơn tháng 7/1974). Sau đó, Liên Đoàn có nhiệm vụ giữ an ninh sườn trái, khu vực đồng bằng Hà Nha thuộc quận Đại Lộc, để Nhảy Dù rồi Thủy Quân Lục Chiến rảnh tay cự địch tại Hà Nha và cao điểm 1062 vào tháng 10/1974) và cuối cùng là trở vào Quảng Ngãi từ đầu tháng giêng 1975 (bảo vệ quận Minh Long và mặt tây bắc của Tiểu Khu) cho đến sau Tết.


 


   Một tuần trôi qua thật nhanh, nhưng cũng vừa đủ để chỉnh đốn và nhận thêm quân số bổ sung. Đây cũng là khoảng thời gian kỷ lục để Liên Đoàn nhận lại tất cả những quân nhân cơ hữu vốn đã có mặt ở Saigon, Dục Mỹ hay Vũng Tàu để học các khóa huấn luyện chuyên môn về Tiếp Liệu, Tổng Quản Trị, Truyền Tin, Quân Báo, Bộ Binh Cao Cấp và cả Viễn Thám.


 


   Thời gian một tuần cũng vừa đủ để Liên Đoàn 12 BĐQ triệu hồi Đại Đội Trinh Sát 12 từ Dục Mỹ và những sĩ quan ưu tú của các Tiểu Đoàn được gởi đi học, trong số những vị này có Đại Úy Trần Văn Vương của Tiểu Đoàn 37 BĐQ, Đại Úy Thông thuộc Ban 4 Liên Đoàn và Đại Úy Trần Văn Quy, người chịu trách nhiệm dẫn bốn Đại Đội Trinh Sát của các Liên Đoàn BĐQ thuộc Quân Khu 1 về thụ huấn ở quân trường BĐQ tại Dục Mỹ. Ngoại trừ Đại Úy Quy chuyển qua làm Tiểu Đoàn Phó TĐ 37 BĐQ, những vị khác đều trở lại vị trí cũ của mình như trước khi được gởi đi học các khóa chuyên môn.


 


   Tuần lễ đầu tháng 3-1975 cũng là mốc thời gian khai mào cho một cuộc quyết đấu sinh tử giữa Quân Lực VNCH và bộ đội chính quy Bắc Việt, vì bỗng dưng áp lực địch gia tăng một cách trầm trọng trên toàn lãnh thổ của Quân Khu 1 và trên vùng Hoàng Triều Cương Thổ thuộc Quân Đoàn II và Quân Khu 2. Tin tức chiến sự mỗi ngày một căng thẳng suốt từ Quảng Trị đến Quảng Đức.


 


   Ngay khi địch tung quân vào Quảng Đức (tấn công tỉnh lỵ Gia Nghĩa, và quận Kiến Đức) vào ngày 08-03-1975, thì Liên Đoàn 12 BĐQ đã có mặt tại vùng tiếp giáp giữa quận Thăng Bình của tỉnh Quảng Tín và quận Quế Sơn của Quảng Nam, để vừa góp phần bảo vệ khu vực phía tây bắc thị xã kiêm tỉnh lỵ Tam Kỳ, vừa cùng với Trung Đoàn 56/ SĐ3BB đề phòng địch quân dùng hành lang Hiệp Đức- Quế Sơn lấn chiếm về phía đông, tức quốc lộ 1 và ven biển.


 


   Lúc đầu không thấy động tĩnh của địch trong vùng thung lũng Quế Sơn và phần đất giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín, nhưng chiều ngày 08-03-1975, sơn pháo của địch rót đạn liên tục vào vị trí của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 12 BĐQ đóng tại căn cứ Hương An thuộc quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Tín. Không có thiệt hại nhân mạng, nhưng kho đạn của căn cứ bị trúng một quả 122 ly làm nổ tung một số lớn đạn dược tồn trữ. Không có cách để dập tắt ngọn lửa vì đạn nổ liên tục .


 


   Cột khói đen ngòm, nghi ngút, dựng cao trên nền mây càng làm lộ rõ mục tiêu. Hương An bị pháo kích cho đến tối, nhưng mối lo ngại nghiêng về phía Tam Kỳ vì tin tình báo cho biết toàn bộ Sư Đoàn 2 CSBV cùng với một lực lượng tăng cường gồm các Trung Đoàn biệt lập của quân khu 5 CS và cả thành phần chủ lực tỉnh cũng đã có mặt trong vùng núi của hai quận Tiên Phước và Hậu Đức của tỉnh Quảng Tín. Thêm một lần nữa, người Lính QLVNCH lại lâm vào thế bị động và chỉ biết chờ địch chọn địa thế và mục tiêu để bày cuộc chơi.


 


Thứ hai 10-03-1975


   Tờ mờ sáng, địch đồng loạt tấn công Chi Khu Tiên Phước và Hậu Đức. Sau thời gian chừng hơn nửa năm được sống trong yên bình, người dân khốn khổ của hai quận miền núi này lại phải gồng gánh nhau tản cư và các cao điểm cũng như những căn cứ trọng yếu quanh các chi khu và dọc theo hai bên Tỉnh Lộ 533 nối Tam Kỳ- Tiên Phước, lại trở thành chiến trường đẫm máu.


 


  Địch tung lực lượng hùng nhậu nhứt của quân khu 5 là Sư Đoàn 2 CSBV với nòng cốt là Trung Đoàn 31 và 38, cộng với Lữ Đoàn 52 cùng một tiểu đoàn đặc công tăng cường. Ngoài ra, còn có hai Trung Đoàn pháo 368, 572 cùng với Trung Đoàn cao xạ 573 và Trung Đoàn 574 thiết giáp. Tất cả mọi nỗ lực của địch đều tập trung vào chiến trường Tiên Phước - Phước Lâm (Hậu Đức) để làm bàn đạp tràn xuống đồng bằng và tiến chiếm thị xã Tam Kỳ.


 


   Không có gì khác lạ trong ý đồ hành quân của địch. Vẫn là những màn thí quân, bất chấp phi pháo thường xuyên hỗ trợ cho các đơn vị trú phòng. Tuy nhiên, đến xế trưa cùng ngày thì tin tức chiến sự tại các vùng núi Tiên Phước đều lâm vào tình trạng nguy ngập, khi trung đoàn 38 CSBV đã bắt đầu trực xạ bằng đại bác 122 ly và 85 ly không giựt vào quận lỵ Phước An. Trong khi đó, Lữ Đoàn 52 CSBV bắt đầu xung phong tại các chốt chiến lược ở phía tây và tây nam của Chi Khu Tiên Phước là núi Tú Sơn (căn cứ 211) và núi Phú Mỹ (cao điểm 300).


 


   Mặc dù được sự hỗ trợ tối đa của Không Quân (từ Đà Nẵng vào oanh kích) và của pháo binh diện địa, các đơn vị trấn thủ tại Tiên Phước và Hậu Đức vẫn bị địch tràn ngập sau gần một ngày cố thủ. Các Liên Đoàn ĐPQ 912 và 916 mở đường máu rút lui khỏi khu vực giao tranh để bảo toàn lực lượng (và sau đó đảm trách nhiệm vụ ngăn chặn địch tại phía đông của thị xã Tam Kỳ, tức bên kia quốc lộ 1, về phía biển).


 


   Để ngăn cản bước tiến quân của địch, Trung Đoàn 5/ SĐ2 BB đang hành quân trong tỉnh Quảng Ngãi được điều động trở về Quảng Tín để giải tỏa khu vực Suối Đá, Bàn Quân và rải quân dọc theo tỉnh lộ 533, cũng như tại các cao điểm chiến lược tại tỉnh lộ 531, bên phía hữu ngạn (hướng Bắc) của sông Tam Kỳ. Cùng lúc đó Liên Đoàn 12 BĐQ nhập cuộc sau gần một năm tạm xa Quảng Tín.


 


   Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 12 BĐQ vào đóng chung với Tiểu Khu, còn hậu trạm thì nằm trong Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận ngay kề bên. Các Tiểu Đoàn 21BĐQ và 37BĐQ được tung ngay vào vùng đồi Đức Tân, núi Khánh Thọ Đông, núi Cấm và rải dài bên cánh phải, về hướng bắc của trung đoàn 5/ SĐ 2BB. Tiểu Đoàn 39 BĐQ án ngữ dọc theo tỉnh lộ 586 (Kỳ Phú, Cẩm Khê, Phú An , Phú Thứ, Ngọc Nam ...), trên vùng núi Dương Côn và núi Ngọc. Cao điểm 400 mét này là chốt quan sát trọng yếu, để kiểm soát toàn bộ khu vực đồng bằng phì nhiêu của phía tây bắc thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Tín.


 


Thứ ba 11/03/1975 - Thứ bảy 15/03/1975.


   Trung Đoàn 5/SĐ 2 BB vừa vào vùng là chạm địch dữ dội tại khu vực Phước Lâm, Suối Đá (tỉnh lộ 533) và tại Dương Lâm (núi Yon), núi Lân cùng  các cao điểm dọc theo tỉnh lộ 531. Cuộc phản kích của các đơn vị VNCH gặp phải sức kháng cự khá mãnh liệt của địch quân. Tuy Quân Lực VNCH đang trong tình trạng khan hiếm đạn dược và quân dụng một cách trầm trọng, các đơn vị tham chiến tại Quảng Tín vẫn nhận được sự yểm trợ tối đa của pháo binh cơ hữu Sư Đoàn 2 BB và của Không Quân Đà Nẵng với những phi vụ oanh tạc bằng A-37 ngay từ ngày đầu nhập trận.


 


   Cùng lúc đó, địch không ngớt pháo kích vào thị xã Tam Kỳ gây thương vong và thiệt hại tài sản cho nhiều người dân vô tội tại khu vực chung quanh Tiểu Khu và Bệnh Viện Quảng Tín.  Cuộc chiến giằng co hầu như bất kể đêm hay ngày tại Quảng Tín, đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Tướng Ngô Quang Trưởng nên ông ra lệnh cho tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh SĐ 3BB, điều động Trung Đoàn 2/Sư Đoàn 3BB, từ Quảng Nam vào tăng cường cho mặt trận Tam Kỳ trong ngày 13/03/1974.


 


    Như biết được kế hoạch điều binh của Quân Đoàn I, Quân Khu 5 của địch gom các lực lượng từ Quế Sơn và Hiệp Đức (gồm một tiểu đoàn chủ lực tỉnh, các tiểu đoàn biệt lập và một trung đoàn chính quy lấy từ lực lượng đang kiểm soát vùng Nông Sơn- Trung Phước) tấn công để tạo áp lực tại phía tây Thăng Bình và ngay ranh giới hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín trong hai ngày 14 và 15/3/1975.


 


    Do đó, Trung Đoàn 2/SĐ3BB - thay vì xuống Quảng Tín để tiếp viện cho mặt trận Tam Kỳ- đã phải chuyển hướng để hành quân khẩn cấp vào khu vực thung lũng Quế Sơn và chạm địch ngay lập tức tại vùng đồng bằng trải dài giữa hai tỉnh lộ 535 (Quảng Nam) và 534 (Quảng Tín). Ngoài một tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 4/ SĐ 2BB từ Chu Lai, được tăng viện khẩn cấp cho trung đoàn 5/ SĐ2 BB, thì không còn đơn vị nào khác để tiếp ứng cho Tam Kỳ kể từ ngày 15-03-1975.


 


   Tuy nhiên, dù phải đương đầu với một lực lượng đông gấp 3 lần về mặt quân số, các đơn vị của SĐ2 BB và LĐ12 BĐQ cũng đã oanh liệt tái chiếm và giữ vững vị trí tại các trọng điểm Suối Đá, Đức Tân, Dương Lân (cao điểm 90, trong vùng núi Yon) Phú Ninh, Khánh Thọ Đông và núi Dương Côn. Chiến tranh về gần làm Tam Kỳ rúng động, ngoài các trường học đã phải đóng cửa từ ngày 10/03/75 (vì tính mạng của học sinh bị đe dọa trầm trọng khi địch pháo kích bừa bãi vào thị xã) thì Tam Kỳ vẫn sinh hoạt bình thường trong tiếng súng lớn, nhỏ liên tục vọng về hoặc tiếng đạn pháo nổ ngay trong phố.


 


Chúa nhựt 16/03/1975 - Thứ năm 20/03/1975.


   Để dễ dàng theo sát diễn tiến của các trận đánh và cũng để thu ngắn thời gian tiếp nhận quân nhu và đạn dược, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 12 BĐQ dời bản doanh từ trong Tiểu Khu ra khu vực nhà ga xe lửa cũ, ở ngoại ô, phía tây bắc Tam Kỳ, còn hậu trạm của các tiểu đoàn thì được đưa vào trung tâm thị xã và đóng tại khu nhà dành cho Uỷ Ban Liên Hiệp 4 Bên trước đây.


 


    Dãy nhà này chỉ cách trường trung học công lập Trần Cao Vân- nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh tiền phương SĐ 2 BB- chừng 2, 3 khu phố. Nhịp độ giao tranh bắt đầu tăng dần từ ngày 16/03/1975 nên đã có thêm nhiều đơn vị hành chánh và công sở phải đã phải ngưng hoạt động. Không khí chiến tranh đã thật sự tràn về thị xã vốn bình yên nằm trên quốc lộ 1 bấy lâu nay, với các màu áo trận và quân xa thường xuyên qua lại nhiều hơn.


 


   Tuy vậy, vẫn còn sinh khí trong sinh hoạt hằng ngày, nhờ hàng quán mở cửa buôn bán bình thường và các phương tiện giao thông công cộng vẫn được duy trì trên đường phố. Trong khi tình hình ở hướng đông của quốc lộ 1- tức phần lãnh thổ dọc theo ven biển- chỉ rộn lên vài cuộc chạm súng giữa du kích với các đơn vị ĐPQ và Nghĩa Quân, thì bên hướng tây và tây nam của Tam Kỳ đã xảy ra những trận giao tranh khốc liệt giữa bộ đội chính quy Bắc Việt và các đơn vị của Bộ Binh và BĐQ tại các trọng điểm Suối Đá, Đức Tân, Dương Lân, Phú Ninh (SĐ 2BB) Khánh Thọ đông, núi Dương Côn và núi Ngọc (LĐ 12BĐQ)


 


   Ý đồ của địch quân đã bộc lộ rõ ràng khi đánh tốc chiến để dứt điểm Tam Kỳ, sau khi đã làm chủ được toàn vùng phía tây (Tiên Phước) và tây nam (Hậu Đức- Phước Lâm) một tuần trước đó. Các đơn vị VNCH bị lâm vào tình trạng thiếu hụt quân số và đạn dược một cách trầm trọng. Con đường vào Chu Lai thường xuyên bị du kích của địch quấy phá dọc theo đoạn Kỳ Liên - Lý Tín nên các đoàn công voa tải đạn đã hết sức vất vả trong hành trình hầu như từng ngày.


 


   Trong khi Trung Đoàn 5/ SĐ 2 BB và Liên Đoàn 12 BĐQ dốc hết toàn lực để chống giữ tại phòng tuyến phía tây và tây nam để bảo vệ Tam Kỳ, thì địch cũng ra sức cô lập tỉnh Quảng Tín bằng cách thường xuyên quấy rối rồi tấn công quận Lý Tín, cắt đường tiếp vận ở phía nam và gây áp lực để cầm chân Sư Đoàn 3BB và Thiết Kỵ 11 tại Thăng Bình, quận cực bắc của tỉnh Quảng Tín.


 


Ngày thứ sáu 21/03/1974 và thứ bảy 22/03/1975


   Vào lúc rạng đông ngày 21/03/1975, địch tấn công các căn cứ 175 tại Suối Đá và tại cao điểm 375 (trên đỉnh Bàn Quân), cũng như tại núi My (cao điểm 78), Dương Lâm (cao điểm 97) và trên vùng núi Yon (nơi có căn cứ 83). Ngoài ra, trung đoàn Ba Gia của địch, được thiết giáp và 2 tiểu đoàn chủ lực tăng cường, cũng tấn công các đơn vị khác của Trung Đoàn 5/SĐ2 BB tại núi Tân Lợi, đồi Phú Ninh và khu vực núi Cốc, Núi Lân, dọc theo hành lang của tỉnh lộ 531 và con sông Tam Kỳ.


 


   Trong khi Trung đoàn 5 vất vả chống đỡ tại phía tây nam, thì tình hình chiến sự tại phòng tuyến của Liên Đoàn 12 BĐQ ở hướng tây và tây bắc của Tam kỳ, cũng sôi động không kém. Địch mở đầu trận chiến bằng cách cho đặc công giựt sập cầu Kỳ Phú, trên tỉnh lộ 586 ở phía tây bắc Tam Kỳ đêm 21/03/1975. Sau đó, các lực lượng thuộc tỉnh đội (D72) và huyện đội Tam Kỳ (V12) đồng loạt tấn công núi Cấm, núi Kỳ Phước (cao điểm 104)


 


   Đồng thời, địch tung lực lượng chủ lực tỉnh uy hiếp khu vực Cẩm Khê và núi An Hà, để Sư Đoàn 2 CSBV tung toàn lực tấn công phòng tuyến của các Tiểu Đoàn 21 và 37 BĐQ tại vùng đồi Đức Tân, Thạnh Đức (Kỳ Ngọc, Kỳ Long , Kỳ An) Khánh Thọ Đông (cao điểm 110), cũng như tại tuyến đóng quân của Tiểu Đoàn 39 BĐQ trên núi Dương Côn, núi Ngọc và tại xã Kỳ Phú.


 


Các đơn vị tham chiến tại Quảng Tín đã cạn quân trừ bị và không còn đường tiếp ứng , vì sau khi đoàn xe phối hợp của sư đoàn 2 BB và LĐ12 BĐQ tải chuyến đạn cuối cùng từ Chu Lai về Tam Kỳ vào trưa ngày 22/03/1975, thì trung đoàn 36 của bộ đội cộng sản đã thành công trong việc tấn công và cô lập quận Lý Tín ngay đêm hôm đó, để cắt đứt quốc lộ 1 và ngăn chặn ý định tăng cường cho Tam Kỳ hai tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 4/SĐ2 BB theo lệnh của Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh SĐ 2 BB.


 


Cường độ giao tranh tại Quảng Tín đã lên đến mức tử chiến trong hai ngày 21 và 22/03/1975. Báo cáo thương vong từ các nơi gọi về đã lên đến mức báo động và trong khi đó thì phi pháo cũng bị hạn chế về mặt số lượng. Chỉ riêng pháo đội (gồm 4 khẩu 105 ly) của liên đoàn 12 BĐQ vừa nhận tiếp tế ngày 22/03, thì ngay buổi tối hôm đó, đã gọi về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn xin thêm đạn.


 


Bộ Tư Lệnh tiền phương của Sư Đoàn 2BB cũng rối rắm không kém, khi ban 4 của LĐ12 BĐQ vào tận bản doanh đặt trong trường trung học tỉnh lỵ (trường Trần Cao Vân), để xin thêm đạn dược và các loại tiếp liệu phẩm cần thiết. Mang tiếng là tăng phái cho sư đoàn 2BB, nhưng Phòng 4 của sư đoàn cũng rất công bằng với BĐQ trong việc phân phối đạn dược. Phải nói là cả hai đơn vị đang "đồng cam cộng khổ", vì tiếp liệu thì như mưa rào tưới ruộng khô, mà nhu cầu chiến trường lại đang bước vào giai đoạn xả láng của một canh bạc. Thật là buồn lòng khi mọi thứ đều phải tiết kiệm, kể cả xương máu của chiến sĩ QLVNCH.


 


   Từng đơn vị của sư đoàn 2BB và BĐQ lần lượt bể tuyến. Các căn cứ của BĐQ trên Dương Côn, núi Ngọc, Khánh Thọ cùng với vùng đồi Thạnh Đức tiếp theo nhau rơi vào tay địch quân. Dưới áp lực của cộng quân, tiểu đoàn 21 và 37 BĐQ đành rút về cố thủ tại vùng Xuân An, Chiên Đàn, Phú Trạch, còn Tiểu Đoàn 39 BĐQ thì bảo vệ mặt bắc dọc theo tỉnh lộ 586. Sư đoàn 2BB ra sức phá vòng vây, rồi lui binh từ Bàn Quân, núi Cốc, Kỳ Tân, Dương Lâm về tận Trường Xuân, Khánh Tân, sau đó tái tổ chức lại đội hình và tuyến phòng thủ tại vòng đai quanh Xuân Trung, Phú Trà, Kỳ Nghĩa là những xã, thôn, ấp phía tây nam, ngay cạnh phi trường Tam Kỳ.


 


    Một số quân nhân bị lạc đơn vị nên đã di tản qua phòng tuyến của bạn, như trường hợp của nhiều quân nhân thuộc các toán trinh sát của Trung Đoàn 5 đã theo BĐQ rút về Chiên Đàn, Phú Trạch. Có người còn về tận thị xã Tam Kỳ trình diện ngay tại bản doanh Bộ Tư Lệnh tiền phương Sư Đoàn 2BB đặt tại trường Trung Học công lập Trần Cao Vân. Ngược lại, đã có khá nhiều chiến sĩ Biệt Động Quân từ cao điểm Charo (Khánh Thọ đông) và vùng đồi Đức Tân- sau khi tan hàng-  cũng đã dạt về phía Dương Lâm và kẹt luôn tại đó với các thành phần của Tiểu Đoàn 2/5/SĐ 2BB còn đang cố thủ.


 


Chúa nhựt 23/03/1975


   Địch bày thế trận, chọn sân chơi. Ta lâm vào thế bị động ngay từ phút đầu giao tranh. Địch chiếm đâu, giữ đó. Ta cạn láng lần hồi, nên đành quặn lòng để đất rơi vào tay địch. Dân cũng cùng đường lánh nạn. Đa số phải ở lại nơi chôn nhau cắt rốn, vì không thể theo chân của Lính, như trường hợp dân lành của vùng núi Tiên Phước- Hậu Đức đã làm trong những ngày vừa qua.


 


   Trên đường lui quân vội vã, đã có nhiều tử sĩ phải nằm lại trên tuyến đầu. Trong giờ phút quyết liệt nhứt của chiến trận, sự di tản của toàn thể thương binh đã là một cố gắng tột cùng của các đơn vị. Việc bỏ lại xác của đồng đội các cấp tại mặt trận là việc chẳng đặng đừng. Chưa nói đến sự quyết tử của Tiểu Đoàn 2/5/ SĐ 2BB khi gọi phi pháo dập ngay trên hố chiến đấu, khi họ đã "cài răng lược" với quân địch.


 


   Hành động anh hùng này đã chặn đứng sự di chuyển của cộng quân tại tỉnh lộ 531 và 533 trong đêm 22/03/75. Nhờ đó mà ngày hôm sau, Trung Đoàn 5 mới có cơ hội chỉnh đốn lại đội hình và dàn trận tuyến mới, chỉ cách Tam Kỳ chừng một tầm đạn hiệu quả của súng cối 61 ly (1km). Sự hy sinh nào cũng kèm theo nỗi đau lòng khôn tả. Dân không còn Lính để bảo vệ làng thôn nên đành mang danh phận "vùng giải phóng". Lính không còn Dân thì chẳng khác gì con cá thiếu nước hay con người thiếu dưỡng khí.


 


   Hậu phương của địch là rừng núi thâm sâu, là Trường Sơn ngút ngàn cây lá. Hậu phương của Lính là thôn trang phú túc và thành thị muôn màu. Nay thôn trang đã lọt vào tay địch, nên người Lính co về bảo vệ phố xá của phần đất tự do, bây giờ đã trở thành một ốc đảo. Tam Kỳ vẫn gượng sống từng ngày và gần như bị tê liệt hoàn toàn khi đến thứ bảy 22/03/75 thì Ty Bưu Điện Tam Kỳ cũng phải chính thức ngừng hoạt động.


 


   Bỗng dưng tiếng súng vang trời từ hai tuần qua thưa dần rồi im hẳn vào buổi xế trưa của ngày 23/03/1975. Các đơn vị tham chiến hối hả chấn chỉnh nhân lực. Việc tái phối trí cũng như di chuyển thương binh được thực hiện trong tình trạng khẩn cấp. Chỉ đáng buồn hơn hết là đạn dược đã cạn. Sau mấy ngày cao điểm vừa qua, ai cũng đau lòng vì chuyện đánh đấm mà phải dè xẻn, tính toán về mặt yểm trợ và tiếp vận.


 


   Người Lính QLVNCH chưa bao giờ lâm vào tình trạng bi đát như lúc này. Trong khi cường độ của cuộc chiến mỗi ngày một leo thang, thì phi pháo đều bị hạn chế, vì không phải chỉ có Quảng Tín mà các đơn vị trên toàn cõi Quân Đoàn I và Quân Khu 1- từ Quảng Trị vào tới Quảng Ngãi- đều có nhu cầu yểm trợ và yểm trợ ngang nhau. Thì cũng đành tới đâu hay tới đó. Lính mà Em!


 


   Chiến trường lắng dịu không có nghĩa là tình hình đã yên ổn. Trong hoàn cảnh của Tam Kỳ chiều nay thì câu hỏi lảng vảng trong đầu mọi người là đối phương đang toan tính những gì. Địch cũng đang gom quân chuẩn bị cho cú tấp dứt điểm, hay đang say men chiến thắng và chỉ lo vơ vét chiến lợi phẩm hoặc bận khoác lác với người dân hôm qua còn thuộc quốc gia, bây giờ đã nằm trong sự cai trị của nón cối và dép râu.


 


   Tam Kỳ đang sinh hoạt trong tình trạng người dân đã bỏ đi quá nửa. Trên gương mặt của từng người còn ở lại là nỗi bất an mặc dù quán xá vẫn bán buôn như thường lệ. Lính vẫn còn đây, Dân chưa tuyệt vọng. Chiều nay yên lắng nhưng ngày mai sẽ ra sao?!  Tam Kỳ đang hồi hộp từng giờ và không khí ngộp thở không khác gì đang ở ngay trong mắt bão.


 


  Sự tĩnh lặng rợn người trong toàn thị xã, càng chùng xuống khi hoàng hôn gác núi. Bóng tối dày đặc hơn thường lệ vì đã có nhiều nhà trống, sân không và phố xá thưa thớt xe cộ di chuyển trên đường phố. Đêm lại về trong đặc quánh thinh không. Đêm dài nhứt của Tam Kỳ đang bắt đầu với câu hỏi rồi mai sẽ ra sao?! Câu trả lời chỉ biết dành cho định mệnh!


 


 


Huy Văn


 


(Kính dâng hương linh Tử Sĩ các cấp của QL/VNCH đã hy sinh trong trận chiến sau cùng tại Quảng Tín, tháng 3/1975)

Friday, February 12, 2021

Tuesday, January 12, 2021

 Bãi biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt


MX Lê Đình Đơn



Khoảng giữa tháng 3 năm 1975 Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) với các Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 6 và Tiểu Đoàn 9 di chuyển đến Thường Đức, Đà Nẵng để thay thế các đơn vị Nhảy Dù. Cổ Thành và các vị trí đóng quân ở phía Tây Quốc Lộ 1 bàn giao lại cho Biệt Động Quân và các Tiểu Đoàn Địa Phương Quân trấn giữ.


Nhìn đoàn quân xa chuyển quân cùng các đơn vị Truyền Tin, Pháo Binh nối đuôi nhau theo Quốc Lộ 1 (QL1 ) xuôi Nam người dân Quảng Trị đã thảng thốt kêu lên: Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quảng Trị rồi! Đường từ thị xã Huế đến chân đèo Hải Vân đông nghẹt xe cộ. Những chiếc xe đò chất đầy khách trong xe, đồ đạc cao ngất ngưởng trên mui, đang hối hả, chen chúc, chờ qua đèo.


Đại đội của tôi được lệnh sẽ thay thế vị trí đóng quân của đại đội Nhảy Dù đang trấn đóng ở cao điểm 1062.


Đoàn xe đưa chúng tôi đến điểm đổ quân ngay trên con đường ủi sát chân núi chạy dài theo hướng Tây Nam mà từ xa đã nhìn thấy. Từ đó chúng tôi sẽ di chuyển theo con đường này cho đến khi gặp đơn vị Dù. Báo cáo xuống xe, bố trí, chờ lệnh di chuyển, thì ngay tức khắc địch quân đã chào đón bằng những tràng thượng liên dòn dã cùng những quả súng cối rải rác rất gần. Bám theo từng mô đá, bụi cây sát chân núi, đại đội di chuyển thật chậm, nắng chiều đã tắt, địch ngưng bắn, chúng tôi đến được điểm đóng quân thì trời đã tối.

Tôi cho đại đội bố trí dọc theo đường tiến quân, vào gặp đại đội trưởng để nhận vị trí bàn giao. Đại đội trưởng Đại Đội 2 Tiểu Đoàn 6 Dù là một niên trưởng khóa 22 VKTĐ. Thật nhanh, anh cho tôi biết đã chuẩn bị sẵn những liên lạc viên của 15 vị trí để thay thế cùng những cao điểm trọng yếu đã được đánh dấu trên bản đồ. Anh nói: “Tôi biết quân số đại đội của bạn dư sức để trám tuyến đại đội của tôi và anh cũng cho biết thêm với kinh nghiệm hoán đổi nhau nhiều lần ở đây, địch quân lúc nào cũng sẵn sàng rình rập tìm cơ hội phản công, đặc biệt là những lần đổi quân.”

Các trung đội, từng toán lần lượt theo liên lạc viên đến vị trí bàn giao với lời dặn : việc trước tiên là phải báo động tại vị trí tác chiến, không được làm gì khác, quan sát động tĩnh, canh gác cẩn thận đề phòng địch tấn công bất ngờ. Một cao điểm vô cùng quan trọng ở xa, là nơi địch luôn quấy phá, được tăng cường gấp đôi quân số (14 người ) có máy truyền tin được giao cho trung sĩ Điểu, một hạ sĩ quan dày dạn kinh nghiệm đảm trách.

Bàn giao hoàn tất, người đại đội trưởng Dù bắt tay từ giã “Chúc bạn may mắn, chúng tôi được lệnh về Sàigòn” . Người về hậu phương yên bình, kẻ vào vùng binh lửa hiểm nguy đối với chúng tôi quá quen thuộc. Biết bao lần hoán đổi như thế này trong những ngày tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị giữa các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) với nhau và giữa TQLC và Nhảy Dù.

Nhưng người niên trưởng Dù không về Sàigòn như anh nói, đơn vị của anh đổ vào Khánh Dương, Nha Trang, quần thảo khốc liệt cùng địch quân và anh may mắn thoát hiểm trở về được Vũng Tàu gặp lại tôi khi đại đội tôi chịu trách nhiệm tuần tiễu thị xã Vũng Tàu.

Tiểu Đoàn 6 TQLC đóng giáp tuyến với tôi về phía Tây Nam đụng nặng. Địch quân tấn công mỗi đêm. Người bạn cùng khóa Võ Đăng Tâm vào được tần số nội bộ của đại đội tôi cho biết “tình hình không được sáng sủa, mày với tao ráng giữ liên lạc để có gì còn cứu nhau!”. Tôi cho biết tình hình chỗ tôi vẫn yên tĩnh, địch cố bám sát, thăm dò nhưng bị phát giác, giao chiến nhỏ rồi rút lui, không có tổn thất. Tuy nhiên chúng nhảy vào tần số truyền tin của mình khiêu khích, tuyên truyền, hăm doạ, mặc dù mình thay đổi tần số nhiều lần vẫn bị chúng bám theo. Trong những giờ phút thật rảnh rang chờ địch, bỗng dưng chợt nhớ: hôm nay là ngày 27 tháng 3, sinh nhật của người mình thương yêu! Thật buồn! Nhưng biết làm sao bây giờ!

Người hiệu thính viên báo cáo tiểu đoàn vừa ra lệnh tất cả các đại đội sẵn sàng giấy bút nhận công điện. Nghe và ghi chép thật kỹ, không được gọi lại hỏi tới, lui! Tôi linh cảm sẽ có chuyện quan trọng xảy đến. Công điện nhận được gần nửa trang giấy. Chi tiết của một Lệnh rút quân!

Tuyến phòng thủ Tiểu Đoàn 6 TQLC lại đụng nặng, tôi nghe được tiếng đạn nổ liên tục. Tôi cũng biết pháo binh, không yểm rất khó khăn, hạn chế trong lúc này!

Còn 2 tiếng nữa đúng giờ G, tôi sẽ kéo Trung Đội 2 ở xa nhất về đại đội. Khó khăn nhất là vị trí của trung sĩ Điểu. Địch từ những cao điểm gần đó luôn canh chừng, theo dõi, quấy phá, để tìm cách nhổ cho được trọng điểm tiền đồn này. Phải làm cách nào để địch không phát giác được. Chỉ có cách duy nhất là dùng liên lạc viên để chuyển lệnh đến từng trung đội trưởng rồi cứ theo đó tiến hành, tuyệt đối không được dùng máy truyền tin. Còn vị trí của trung sĩ Điểu đành phải bỏ lại lều chõng!

Thời gian như dài thêm từng giây phút từ lúc trung đội 2 bắt đầu di chuyển. Sự yên lặng, căng thẳng hiện trên từng khuôn mặt, bất cứ một tiếng súng nổ nào từ hướng đó là dấu hiệu kế hoạch rút quân bị lộ.

Tôi thở dài nhẹ nhõm khi người khinh binh trung đội 2 vừa đến tuyến đại đội. Xiết chặt tay Th/u Lê Kim Minh Cảnh, người trung đội trưởng trẻ nhưng quá phong trần, đêm nào cũng trắng đêm chờ địch tại giao thông hào, tôi cho trung đội vượt qua đại đội bố trí tại điểm tiếp tế chờ đại đội.

Trung đội 3 của Ch/u Hào cũng đã đến trám vị trí đại đội.

Bây giờ Trung đội 1 của Th/u Lê Viễn Hồng trở thành tuyến đầu, sẵn sàng khi có lệnh sẽ đoạn hậu, rồi nối đuôi theo đại đội. Tôi cũng đã chuẩn bị sẵn toán quân sẽ quay ngược lại chiến đấu cùng Trung đội 1 và đại đội sẽ phòng thủ chu vi tại điểm tiếp tế để chờ Trung đội 1 nếu bị tập kích.

Rất may, đúng theo lệnh rút quân, toàn bộ đại đội rút ra khỏi vùng đóng quân suông sẻ. Giờ đây nếu đối mặt giao chiến với địch quân, tôi có toàn bộ đại đội để đánh nhau chứ không phải phân tán hơn 15 vị trí, mỗi một vị trí chỉ khoảng 8 đến 10 người!

Rời vị trí đóng quân được khoảng 3 cây số thì được lệnh tiểu đoàn tìm một chỗ đóng quân gần đường rồi gởi số nhà về tiểu đoàn. Qua đêm, tình hình vô sự, chúng tôi được lệnh tiếp tục di chuyển về Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn (BCHLĐ) 369.

Đến chiều vượt qua vị trí đóng quân của đại đội Trương Chí Công Tiểu Đoàn 9 đang giữ mấy khẩu pháo dọc theo đường. Thấy tôi anh nói : “Anh chơi vậy, chơi với ai, đi trước bỏ đàn em ở lại.” Nhưng đấy chỉ là giỡn chơi với nhau mà thôi. Cảnh gặp nhau như thế này, kẻ ở lại chịu trận, người rút ra vùng an toàn đối với chúng tôi như một chấp nhận rất tự nhiên. Thản nhiên như đến phiên trung đội lãnh trách nhiệm đi đầu trong thời gian hành quân ở Giồng Trôm, Kiến Hòa. Mìn bẫy khắp nơi, dẫm theo bước chân người khinh binh mở đường mà đi. Chệch một bước chân có thể đạp lên khối nổ của trái đạn 105 ly.

Đại đội đến BCHLĐ 369 thì trời vừa sập tối. Toàn bộ lữ đoàn đã di chuyển. Tôi được lệnh đóng quân tại vị trí BCHLĐ. Vừa hoàn tất rải quân trám tuyến phòng thủ thì được báo Tiểu Đoàn 9 đang đến. Tôi gặp Tân An (Đ/u Đoàn Văn Tịnh) Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 9. Anh nói “bạn sắp di chuyển, cho tôi gởi mấy thằng em theo, tụi nó bị thương đi không nổi.” Tôi nói chưa được lệnh, thì lập tức ngay sau đó tiểu đoàn báo sẵn sàng tại chỗ, xe sẽ đón ra Đà Nẵng.

Ngày 29 tháng 3 năm 1975

Xe chạy suốt đêm, vào thành phố Đà Nẵng khoảng 3 giờ sáng. Tiểu đoàn cho biết tôi sẽ gặp tiểu đoàn tại bãi biển Non Nước.

Cầu Trình Minh Thế đã bị giật sập, chúng tôi phải lên tàu nhỏ để đến bãi biển. Khi đại đội tập trung đầy đủ thì trời vừa sáng. Trời càng sáng tỏ, tôi thảng thốt khi nhìn thấy suốt dọc theo bãi biển đông nghẹt là người! Quân lính đủ mọi binh chủng, dân chúng đông không đếm xuể.


Có một chiếc tàu cặp sát bờ khoảng 100 mét đang kéo một số người lên tàu bằng lưới, xong từ từ lui ra biển. Trên bờ số đông nhốn nháo đang lội theo, một đợt sóng lớn dập tới đánh bật mọi người té lăn trở lại bãi!


Một chiếc thiết vận xa chìm nghỉm còn nhô pháo tháp cách bờ khoảng 100 mét, sợi giây thừng từ pháo tháp kéo vào bờ vẫn còn dập dềnh trên mặt nước.

Tàu đã rời xa bãi biển, thả neo, im lìm, bất động.
Người trong bờ ngóng nhìn, mong đợi!

Một chiếc trực thăng xuất hiện, đảo một vòng bãi biển, ai cũng thấy rõ phi công ở trần, mặc quần đùi. Trực thăng bay thấp gần tàu, cả phi công và trực thăng đều lao xuống biển!

Đại bác 130 ly đã pháo tới. Đạn rớt ngoài biển, trên bờ ,mọi người chạy tới, chạy lui vô cùng hỗn loạn.

Tôi nhìn thấy Đại Bàng Phúc Yên ( Trung tá Nguyễ Xuân Phúc ) LĐT/LĐ369. Đại Bàng Thái Dương ( Trung tá Đỗ Hữu Tùng ) LĐP/LĐ369. Đại Bàng Hà Nội (Thiếu tá Trần Văn Hợp ) TĐT/TĐ2 đang ngồi trên bãi biển, cạnh một chiếc xe jeep, đang viết, vẽ những gì trên bãi cát. Tôi tiến lại gần chào, các vị ngẩng đầu nhìn tôi im lặng.

Tôi đã từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của Đại Bàng Thái Dương khi ông giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 5. Đại đội tôi có lần về trình diện Đại Bàng Phúc Yên để nhận trách nhiệm phòng thủ Lữ Đoàn. Cho nên cả hai vị đều biết tôi.

“Thưa Thiếu tá, pháo đã bắn tới nơi, xin cho tôi đem đại đội đi tìm chỗ bố trí!”

Cả 3 vị đều im lặng, cho đến khi Thiếu tá Hợp bảo tôi: “Ông muốn làm gì thì làm!”

Bây giờ thì tôi đã hiểu rõ. Tàu sẽ không bao giờ vào bờ để đón người nữa vì sóng gần bờ quá lớn. Người phải bằng cách nào ra tới ngoài kia, nơi tàu đang bỏ neo để lên tàu!

Tôi nhìn đại đội vẫn còn đang tập họp trong đội hình để chờ lên tàu mà ứa nước mắt. Bao nhiêu gian khổ, khó nhọc, còng lưng để mang đủ vũ khí, đạn dược, mặt nạ, áo giáp…một chốc nữa đây sẽ vất bỏ tất cả xuống biển.

Từng toán trở ngược lại phi trường Non Nước để lấy ruột xe làm phao. Có toán đi dọc theo biển đến xóm chài đế tìm thuyền.

Trên mặt biển nhấp nhô không biết bao nhiêu người. Pháo đã được điều chỉnh chính xác hơn. Tiếng kêu la, than khóc vang dội!


Trung úy Hiền rủ tôi tìm phao bơi ra tàu. Tôi nói tàu xa quá tôi chỉ biết bơi bì bõm chắc ra không nổi! Anh bảo “ đừng lo, tôi sẽ cột phao ông chung với phao tôi, tôi là dân miền biển bơi rất giỏi, chúng ta sẽ bơi được ra tới tàu.” Chúng tôi 4 người, Tôi,Tr/u Hiền, Dũng, Nam, đi dọc theo bãi biển về phía xóm chài, xa chỗ tập trung đông người khoảng hơn cây số thì gặp một anh công binh TQLC đang loay hoay với chiếc xuồng đã bị lật úp gần bờ. Anh đang cố gắng lật trở lại nhưng không nổi. Chúng tôi phụ lật trở lại, tát nước và kéo lên bờ. Anh cho biết sáng nay toán công binh 6 người dùng xuồng để ra biển nhưng mấy lần không qua nổi đợt sóng gần bờ, lần nào cũng bị sóng đánh lật úp! Các bạn của anh nản chí đã bỏ đi hết rồi!

Chúng tôi rủ anh mình làm thử lần nữa biết đâu thoát được. Cũng may, ngoài tôi ra ai cũng bơi rất giỏi. Tất cả đồng ý cho tôi lên trước ngồi ở giữa xuồng, còn lại mỗi bên 2 người, bơi đẩy xuồng cố gắng vượt qua được đợt sóng lớn rồi mới lên xuồng. Sóng dập mạnh phủ chụp lên xuồng, con xuồng lắc lư sắp lật mấy lần, nhưng nhờ các anh kềm nổi, chúng tôi qua được đợt sóng lớn, tất cả reo lên: thoát rồi! Cả bọn thi nhau tát nước, mỗi bên một chèo, thay phiên chèo tay hướng về tàu, anh công binh thì cố gắng để sửa máy tàu.

Trời đã về chiều, khoảng cách đến tàu còn quá xa. Nhưng lại một lần nữa, sự may mắn lại đến với chúng tôi, cuối cùng máy đã nổ, chiếc xuồng phăng phăng lướt sóng đến tàu.

Lên được tàu, chúng tôi được hướng dẫn thẳng xuống hầm tàu đã đông nghẹt lính. Chỉ khác với chúng tôi, họ còn quân phục chỉnh tề, giày trận đầy đủ. Tôi không biết họ lên tàu lúc nào và bằng cách nào!

Xa xa nhấp nhô trên mặt biển rất nhiều người đang ôm phao bơi đến. Những chiếc thuyền nhỏ không biết phát xuất từ nơi nào trên bãi biển, đưa người ra tàu rồi quay trở lại để tiếp tục làm chuyến khác. Đèn pha trên tàu bật sáng cả một vùng biển, là cái đích để mọi người đang bơi trên biển tìm tới.

Cho đến khuya thì không còn thấy ai nữa!

Tàu nhổ neo xuôi Nam. Bãi biển Non Nước, thành phố Đà Nẵng xa khuất dần cho đến khi mất hẳn!

Bộ đồ trận thấm ướt nước biển đã khô, toàn thân vô cùng ngứa ngáy khó chịu. Tôi được cho vào phòng tắm để tắm rửa, giặt bộ đồ duy nhất để mặc lại. Các bạn Hải Quân trên tàu đã lo cho mọi người thật chu đáo, từ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh với một số người quá đông đảo. Tôi và Hiền len lỏi trong đám đông người để tìm kiếm có ai trong đại đội, tiểu đoàn lên được tàu. Tôi gặp Trần Đình Công ĐĐT/ĐĐ4, tôi hỏi người bạn cùng khóa: “mày có gặp được ai khác?”. Có Đại úy Nghiêm ĐĐT/ĐĐCH và Thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Nó đã quần khắp mọi nơi tìm kiếm nhưng không còn ai khác!

Tiểu đoàn 2 TQLC đã tan tác rồi! Không đánh nhau mà tan hàng trong nỗi cay đắng, uất nghẹn!

Trên đường từ Thường Đức di chuyển ra Đà Nẵng, Trung úy Thanh ĐĐT/ĐĐ1 liên lạc với tôi nhờ báo với tiểu đoàn là đại đội của anh lạc mất tiểu đoàn và giờ này còn kẹt trong núi. Anh đã cố gắng liên lạc với tiểu đoàn và các đại đội khác mà không được. Tôi báo ngay cho tiểu đoàn biết và liên lạc nhiều lần với anh sau đó nhưng không được!

Thiếu tá Tiểu đoàn phó, Đại úy Huỳnh Văn Trọn ĐĐT/ĐĐ5 chắc còn kẹt lại trên bãi biển.

Tàu đổ xuống quân cảng Cam Ranh tiếp nhận tân binh, vũ khí, quân trang, quân dụng.
Tiểu đoàn 2 TQLC bây giờ chỉ có tiểu đoàn trưởng, trưởng ban 3 và 2 đại đội trưởng.

Bãi biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt!



MX Lê Đình Đơn

Sunday, January 10, 2021

 LÀM THẾ NÀO TÔI CÓ THỂ BỎ VÙNG ĐẤT SỎI ĐÁ NÀY? -- Trung tướng Ngô Quang Trưởng. 

- Bằng cách nghi binh, nghĩa là gửi đi các mật điện giả, csbv đã làm QK 1 VNCH nghĩ rằng sđ 308 và 341 đã có mặt tại Quảng Trị, dù sđ 308 vẫn còn ở gần Hà Nội và sđ 341 đang ở QK 3 VNCH.

- Họ đã bí mật chuyển cả sđ 325 bộ binh gồm xe pháo, đang đóng quân ở bắc Sông Thạch Hản, xuống phía nam Huế, mà tình báo VNCH ko hay biết. Đây là hậu quả của cắt giảm quân viện khiến không quân VNCH ko đủ xăng dầu bom đạn để tìm kiếm hay theo dỏi các cuộc chuyển quân của csbv. Tướng Trưởng, trong một hồi ký đã trả lời, cũng vì lý do vừa kể, hỏa lực của VNCH chỉ dành để đánh trả các cuộc tấn công của đối phương vào các đồn bót hay tp, v.v...

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 264-274 của Black April của George Veith.

"Khi chiến tranh ở Vùng I bùng nổ trở lại năm 1974, trận chiến ác liệt này đã báo trước (portend) một cuộc tấn công lớn trong mùa xuân 1975. Với sức mạnh ngày càng gia tăng của quân csbv, đây sẽ là một cuộc tấn công mà Nam Việt nam ko chắc chắn có thể đánh bại, đặc biệt vì vùng đất này thuận lợi với kẻ tấn công, ý nói csbv. Một rặng núi (ridgeline) lớn giữa Huế và Đà Nẳng chia khu vực này thành hai khu khác nhau. Đây là một nhánh của rặng Trường Sơn và chấm dứt ở Đèo Hải Vân trên bờ biển. Đèo này là một vùng đất quan trọng tại Quân Khu 1. Chỉ cần quân số ít để chiếm và giữ nó, sẽ cắt đường rút lui của ba sđ giỏi nhứt của Nam VN. Phía bắc của đèo là tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên và TP Huế, nơi đặt cung đình cuối cùng của VN. Phía nam của đèo là tỉnh Quảng Nam và Đà Nẳng, TP lớn thứ hai và hải cảng chiến lược của Nam VN. Tiếp tục về phía nam là các tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngải. Địa thế của Vùng 1 phần lớn là núi, che phủ bởi rừng rậm giáp giới (abut) một đồng bằng ven biển nhỏ hẹp. 

Khi năm 1975 bắt đầu, dân số vùng này đã hơn ba triệu, đại đa số là người Việt sống ở đồng bằng hay các tp. Về mặt kinh tế, đây là vùng nghèo nhứt nước, tuy vậy do di sản lãng mạn và văn hóa của Huế, cộng với cảng nước sâu của Đà Nẳng, nó có tầm quan trọng chỉ sau Sài Gòn. Dù Tổng thống Thiệu đã nhiều lần xem xét bỏ rơi khu vực này trong năm qua, ông đã biết rằng đó là một công việc khó thực hiện về mặt chính trị, cảm xúc, và tiếp vận. Do đó (accordingly), Thiệu đã buộc lòng đầu tư một lực lượng quân sự đáng kể để bảo vệ một phần của đất nước đang làm hao hụt tiềm lực kinh tế (của đất nước) hơn là đóng góp. 

Quảng Trị và Thừa Thiên đã từng là chiến trường ác liệt nhứt, phần lớn do nằm kế Bắc VN. Vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển này nằm kế những rặng núi đã khiến nó trở thành một khu vực mà Nam VN khó bảo vệ. Bây giờ càng khó bảo vệ hơn. Trước đây, các cuộc tấn công của Bắc quân đã phải xuất phát từ biên giới Lào hay xuyên qua vùng phi quân sự hay DMZ. Cuộc tổng tấn công 1972 đã khiến Bắc quân kiểm soát vùng núi non phía tây từ biên giới tới đồng bằng, cộng thêm khu vực từ vùng phi quân sự tới tp Quảng Trị. Nam VN chỉ giữ những vùng đồng bằng dọc theo một phòng tuyến, đi từ biển qua tp Quảng Trị, chạy dọc Sông Thạch Hản và tiếp tục về hướng tây tới núi, và từ đó đi về phía nam tới Đèo Hải Vân. Vì Hiệp định Paris đã quy định (stipulate) một ngưng bắn tại chỗ, phe CS đã bắt đầu giao bóng, đã được mô tả một cách tài tình bởi ĐT Mỹ Le Gro, trên "đường 30-yard" của quân lực VNCH. 

Một yếu tố khác của những cuộc tấn công trước đây là việc thiếu đường xá đã khiến Bắc quân ko thể thiết lập những kho tiếp liệu đầy đủ để duy trì tấn công lâu dài, trong khi cũng cung cấp cho các đv VNCH có thời gian để phát hiện và phản ứng với những cuộc chuyển quân của csbv. Vì những khu do VNCH kiểm soát có đường xá tốt và khoảng cách ngắn, quân lực VNCH đã có thể di chuyển viện binh nhanh hơn CS. Để giảm nhẹ (mitigate) thuận lợi này của VNCH, sau ngưng bắn, CS đã đầu tư mạnh mẻ bằng cách xây dựng một mạng lưới đường xá dầy đặc trong khu vực mà họ đã chiếm năm 1972. Giờ đây quân csbv đã có thể tập trung quân và tiếp liệu tại nhiều điểm ở Vùng 1. Vì không còn hải và không quân Mỹ để ngăn ngừa chúng, VNCH đã ko thể bảo vệ cạnh sườn của mình.

Đó cũng là một vấn nạn của Nam VN tại BTL tiền phương Quân đoàn 1 (tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên). CS có thể tung ra một cuộc tấn công bất ngờ từ vùng núi với lực lượng áp đảo chống lại một vị trí phòng thủ yếu ớt, rồi nhanh chóng di chuyển một đoạn ngắn để cắt QL-1. Vì vùng đồng bằng ven biển này chỉ rộng từ 16 km đến 24 km tại bất cứ điểm nào. Một cuộc phòng thủ thành công phải dựa trên ba yếu tố: tình báo chính xác về ý định của địch, sức mạnh của đv và hỏa lực đầy đủ để làm cùn bước (blunt) cuộc tấn công đầu tiên của địch, và quân trừ bị để phản công và chận đứng mọi lổ thủng trên phòng tuyến.

Tuy nhiên, TL của BTL tiền phương QĐ 1, trung tướng Lâm Quang Thi, đã đối diện những hạn chế của ba yếu tố này. Không thể có được tình báo chính xác. Đây cũng là vấn đề mà tướng Trưởng đã nhận ra sau trận chiến Thường Đức THÁNG TÁM 1974. ĐT Nguyễn Thành Trí, TLP của TQLC, đã giải thích rằng "vì chúng tôi ko còn tiếp cận thông tin tình báo, trước đây được cung cấp bởi Mỹ, khả năng hiểu biết tình hình địch của chúng tôi rất hạn chế. Trong nhiều trường hợp chúng tôi đã lầm lẩn và mơ hồ về kế hoạch và khả năng của đối phương." Điều mà tình báo QK 1 có thể làm, cũng như các QK khác, là cung cấp một ước tính ban đầu hơi chính xác về ý định tổng quát của đối phương. Điều mà họ ko thể làm là cung cấp  những cảnh báo sớm và rõ ràng (clear-cut) về vị trí hay khung thời gian của các cuộc tấn công, đặc biệt khi các tư lịnh quân csbv đột ngột thay đổi kế hoạch của họ, như tướng Giáp thường làm. 

Hơn nữa, cắt giảm quân viện của Mỹ đã giảm mạnh hỏa lực, và nhân lực đã bị hao hụt nặng do trận chiến ác liệt tại QK 1 năm 1974, ý nói trận chiến tại Thường Đức, và tại các nơi khác thuộc Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngải-- người dịch. Trong khi TQLC vẫn còn phong độ, sđ 1 và BĐQ QUÂN SỐ RẤT THIẾU--như TĐ 60 BĐQ của Thiếu tá Chiến chỉ còn 200 quân--người dịch. Khả năng di động, trước đây do trực thăng đảm trách, giờ đây bị giảm (crimp) nghiêm trọng do thiếu hụt xăng dầu và phụ tùng thay thế. Điều này đã khiến QL-1 trở thành MẠCH MÁU CHÁNH để chuyển viện binh từ những nơi bị áp lực nhẹ. Giữ con đường này thông suốt vì vậy trở thành tối cần, hay tướng Trưởng đã phải đối diện, như tướng Murray đã tiên đoán, "một cuộc rút quân kiểu Dunkirk nhưng lại ko có tàu." NÓI THÊM: Trong vòng chín ngày của tháng 6/1940, các tàu của phe đồng minh từ Anh đã vượt eo biển Manche (chia cắt Anh với Pháp), để đến xã Dunkirk ở bờ biển bắc nước Pháp để di tản 338.226 quân Pháp, Bỉ, v.v... khỏi sự truy đuổi của quân Đức. Dù được xếp vào một cuộc rút lui khổng lồ và thành công nhưng phe đồng minh đã bị chết hay bị thương 68.000 người, 48 ngàn bị bắt, tổn thất 50 ngàn xe cộ gồm xe tăng; chín tàu khu trục chìm, 19 tàu khác, và 200 tàu chỡ quân và 117 máy bay bị hủy diệt hay hư hại. Cuộc rút quân này đã được quay thành film.--người dịch.

TP Huế là một giải thưởng lớn trong vùng đất đầy tranh chấp nóng bỏng này. Năm 72, bắc quân đã tấn công tại bắc Quảng Trị từ hai hướng: xuyên qua vùng quân sự và từ Lào. Mục tiêu của họ, cũng như năm 1968, là chiếm cố đô Huế. Trong 1975, Nam VN vẫn phải phòng thủ hai hướng này: ranh giới ngưng bắn hiện thời và vùng núi phía tây. Trên Sông Thạch Hản, nhiệm vụ của QLVNCH là giữ tp Quảng Trị và QL1, chạy thẳng tới Huế. Cùng lúc, họ phải bảo vệ một cạnh sườn trái dài gần 58 km, từ Sông Thạch Hãn tới Huế. Vài con sông lớn, xuất phát từ vùng núi phía tây, cung cấp con đường tiến về đồng bằng. Hành lang Sông Bồ ở tây bắc Huế đã tạo một đe dọa lớn, vì nó đã tạo đường tiến sát hay chuyển quân gần nhứt và trực tiếp nhứt tới tp này. 

Giờ đây Bắc quân đã căng kéo phòng tuyến của QLVNCH xa hơn khi mở ra một MẶT TRẬN THỨ BA tại vùng núi quan trọng ở nam của Huế, một khu vực mà Bắc quân gần như bỏ qua trong tổng tấn công 1972. Đây là một địa thế lý tưởng để tấn công: hơn 64 km đồi dốc và rừng rậm chỉ chấm dứt nơi QL-1 quanh co trên Đèo Hải Vân. NÓI THÊM: các trận đánh trong tháng 3/1975 của trung đoàn 1 và 54 của sđ 1 bộ binh và TĐ 60 và 61 BĐQ đều xảy ra ở khu vực này, nằm phía tây QL-1 và nơi gần nhứt chỉ cách QL 1,6 km.--người dịch. 

Kế hoạch phòng thủ của tướng Thi đơn giản. Ông đã ko tin rằng bắc quân sẽ vượt Sông Thạch Hản vì sẽ vi phạm hiệp định Paris. Nếu nếu đối phương tấn công, và áp lực quá lớn, ông dự định rút quân TỪNG GIAI ĐOẠN về Huế, bằng cách dùng các sông kể trên làm phòng tuyến. Từ tp Quảng Trị về Sông Mỹ Chánh, khoảng nửa đường từ Quảng Trị tới Huế, ông đã đặt hai lữ đoàn (LĐ) TQLC, một liên đoàn đpq của Quảng Trị, và một chi đoàn của thiết đoàn 1. Từ Mỹ Chánh đến Huế (phân nửa phía bắc của tỉnh Thừa Thiên), ông đã triển khai các lực lượng theo một tuyến vòng cung đối diện vùng núi phía tây Huế. Lực lượng này gồm một LĐ TQLC, một trung đoàn của sđ 1, một số TĐ đpq, và một chi đoàn thiết giáp. 

BA TRUNG ĐOÀN CÒN LẠI của sđ 1 bảo vệ vùng núi từ Huế tới đèo Hải Vân. SĐ 1 gần đây đã lập những đồn bót trên nhiều cao điểm để cung cấp hỗ trợ pháo binh hỗ tương. Sau những trận đánh ở các núi Mỏ Tàu và núi Bông năm 1974, sđ 1 đã điều chỉnh chiến thuật từ một tuyến phòng thủ duy nhứt với những tiền đồn càng xa càng tốt, thành phòng thủ THEO CHIỀU SÂU. Chiến thuật này được thiết kế để đánh bại chiến thuật xâm nhập đằng sau phòng tuyến để tấn công BCH của đv. 

Trước đây, BTL tiền phương của QĐ 1 có cả sđ Dù trong tay, nhưng sau trận chiến cuối năm 1974, tướng Trưởng đã để hai LĐ Dù ở Thường Đức để bảo vệ cạnh sườn phía tây của Đà Nẳng. Điều này đã buộc Thi chuyển một LĐ TQLC khỏi phòng tuyến của ngưng bắn để thay thế Dù ở bắc Huế. LĐ Dù thứ ba giữ Đèo Hải Vân. Liên đoàn 15 BĐQ làm trừ bị. 

Ở mặt trận trung tâm của tướng Trưởng, với Nhảy Dù ở tây Quảng nam, sđ 3 của chuẩn tướng Nguyễn duy Hinh, đã di chuyển về phía nam để bảo vệ phần còn lại của tỉnh này. Vì tình báo của QĐ 1 tin rằng Bắc quân có ý tấn công ở đây vào xuân 1975, Trưởng đã rút LĐ 12 BĐQ từ Quảng Ngải và triển khai ở bắc Quảng Tín. LĐ 11 BĐQ và LĐ 14 BĐQ đã bị thiết hại nặng trong các trận đánh trước đó, sẽ tập trung vào những tấn công trông đợi xảy ra ở mặt trận phía nam của Trưởng thuộc tỉnh Quảng Ngải. Điều này đã khiến chỉ còn ĐPQ bảo vệ quận Tiên Phước ở Quảng Tín, nơi xảy ra những ác chiến năm 1974. Vì ĐPQ Quảng Tín là một trong những đv XUẤT SẮC NHỨT của QK 1, họ ít khi cần sự giúp đỡ từ bên ngoài. Đây là một khe hở mà bắc quân sẽ tận tình khai thác. 

Ngoài bộ binh và thiết giáp, Trưởng còn có sđ 1 không quân, và hải quân vùng 1 duyên hải, gồm các giang thuyền, tàu tuần tầm-ngắn, và vài tàu nước-sâu. Hoàn toàn trông chờ một tổng tấn công lớn vào xuân 1975 ở khắp QK 1, Trưởng đã bận rộn chuẩn bị cho cuộc tấn công này bằng cách phục hồi những đv đã bị tổn thất trong trận chiến 1974. Dù ông đã cố gắng nhiều nhưng tinh thần của binh sĩ VẪN THẤP. Lương thấp đã khiến người lính ko thể cung cấp đầy đủ cho gia đình. Tiếp liệu đã bị tiết giảm mạnh, dự trữ về thuốc men và xăng dầu tụt giảm (deplete), và Trưởng đã dùng một phần đáng kể đạn dược dự trữ trong năm 1974. Tóm lại, dù Trưởng chỉ huy một lực lượng mạnh nhứt của quân Nam VN, ý nói gồm sđ TQLC, sđ Dù, các sđ 1-2-3 bộ binh-- người dịch, nhưng ông có rất ít trừ bị, các đv không đủ quân số, địa thể lại khiến ông gặp nhiều thất lợi và hỏa lực của ông đã bị cắt giảm khủng khiếp (drastically). 

Để so sánh, ta thấy Hà Nội đã có một tập trung quân ĐÔNG ĐẢO NHỨT tại bắc của Nam VN. Chỉ riêng trong khu vực trách nhiệm của BTL tiền quân của QĐ 1, phụ trách phía bắc của Đèo Hải Vân, đã có quân đoàn 2 csbv và mặt trận B-4. Quân đoàn 2 csbv có sđ 304, 324, và 325, một sđ phòng không, lữ đoàn 203 thiết giáp, các lữ đoàn pháo, công binh và truyền tin. Mặt trận B-4 có ba trung đoàn độc lập và tám TĐ quân địa phương hay du kích. Phía nam của  Đèo Hải Vân, CS đã có những đv lớn của mặt trận B-1; gồm có sđ 2 csbv ở nam Quảng Nam, lữ đoàn 52 ở Quảng Ngải, và gần 12 TĐ quân địa phương độc lập. Thêm vào đó, mặt trận B-1 còn có một sđ ở Thường Đức, gồm hai trung đoàn của sđ 304 và một trung đoàn của sđ 324 đã chiếm quận này từ tháng 8/1974. 

Về mặt chiến lược, Trưởng đã chuẩn bị hai tình huống dự phòng. Tháng 12/74, BTTM đã tiên đoán mục đích chánh của Hà Nội tại QK này năm 75 là làm Quảng Trị mất ổn định và cô lập Huế và Đà Nẳng bằng cách cắt Ql-1 ở Đèo Hải Vân. Nếu CS đã tấn công với cùng lực lượng mà họ đã dùng trong năm 1974, Trưởng đã tin tưởng rằng ông có thể đánh bại chúng. Nhưng nếu Bắc quân tăng cường mặt trận phía bắc với vài sđ trừ bị-chiến lược, mà hình như họ đang làm, thì Trưởng sẽ rút về một phòng tuyến tập trung quanh Huế. Nếu các phòng tuyến trung tâm và phía nam cũng bị sụp đổ, ông sẽ rút về các NỘI PHẬN (enclave) tập trung ở Đà Nẳng và bán đảo Chu Lai ở nam tỉnh Quảng Tín, nghĩa là bỏ rơi Huế--người dịch. Chu Lai cũng là nơi đặt BTL sđ 2 VNCH, có một sân bay lớn và một cảng gần đó.

Việc rút lui về các nội phận chung quanh các tp lớn lại đúng là điều Hà Nội sợ nhứt. Các chiến lược gia của quân csbv lo sợ rằng nếu quân VNCH có thể tập trung quân số và hỏa lực chung quanh các vị trí phòng thủ mạnh, sẽ gây thiệt hại nặng cho họ nếu tấn công. Mặt khác, điều mà Trưởng sợ là việc Hà Nội tung ra những sđ trừ bị chiến lược sẽ thay đổi lớn lao cán cân lực lượng hiện nay. Trong tháng 11/1974, những nghi ngờ của Trưởng đã tăng vọt khi tình báo kỹ thuật VNCH cho biết sđ 308 csbv mới xâm nhập từ miền bắc. Tháng giêng 1975, tình báo kỹ thuật VNCH lại cho biết một đv trừ bị-chiến lược thứ hai, sđ 341, đã vào Quảng Trị để thay thế sđ 325 dọc theo ranh giới ngưng bắn, ý nói phòng tuyến dọc theo sông Thạch Hản. Nói thêm: sau chiến tranh, các tướng csbv đã cho biết, để NGHI BINH, họ đã gửi những mật điện giả vì lúc đó sđ 308 vẫn ở gần Hà Nội và sđ 341 ở quân khu 3 của vnch.-- người dịch. Những báo cáo này, dù ko thể kiểm chứng (unsubstantiated), có vẻ xác nhận bản phân tách của BTTM rằng Quảng Trị là mục tiêu chánh của tấn công mùa xuân 1975 của Hà Nội. 

Về tổng quát, phòng 2 của Trưởng đã tiên đoán rằng địch quân sẽ lần lượt (piecemeal) tấn công tại mỗi tỉnh cho tới khi các đv của bắc quân đều tham chiến. Lúc đầu các trận tấn công sẽ mạnh nhưng ngắn, và sẽ đạt cao điểm vào cuối tháng 4 hay đầu tháng 5. Bản phân tích của Phòng 2 dựa trên hai yếu tố. Thứ nhứt, các đv csbv đã bị thiệt hại nặng năm 1974. Họ cần thời gian để tái lập những đv này và chuẩn bị đồ tiếp liệu hay hậu cần. Thứ hai, thời tiết bất lợi cho họ. Thông thường mùa mưa ở miền Trung giảm bớt (slacken) trong tháng giêng, nhưng năm nay mưa tiếp tục tới tháng 2. Lũ lụt đã trì hoãn ngày phát động tấn công, vì các đv csbv phải lo sửa đường, sản xuất lương thực và huấn luyện.

Cuộc tấn công của csbv tại vùng 1 nhằm buộc chân hai sđ trừ bị-chiến lược của nam VN, đặc biệt là sđ Dù, khiến Sài Gòn ko thể đưa họ lên cao nguyên Trung phần. Hơn nữa, ko có tấn công trực tiếp  nhắm vào hai sđ này. Có lẽ tướng Giáp đã tin rằng nếu các lực lượng của ông đe dọa một mục tiêu quan trọng như Huế, quân VNCH sẽ dùng Dù và TQLC. Do đó Bắc quân sẽ thành công khi trói chân những đv này mà tránh được nguy cơ --khi trực tiếp tấn công họ. Dù gì đi nữa, đây là một ngoại lệ lý thú cho chiến lược của Giáp, một ngoại lệ có lẽ đã cho chúng ta thấy cách đánh giá thực sự của y về sức mạnh của bắc quân. 

Trong khi Giáp đã ko tin tưởng binh lính của ông có thể giải phóng toàn bộ Quảng Trị và Thừa Thiên cho đến 1976, ông đã hy vọng bằng cách tích cực tấn công, ông có thể đạt một chiến thắng bất ngờ (lucky break). Mục tiêu của ông gồm hủy diệt một phần đáng kể sức mạnh của QLVNCH, chiếm một phần của đồng bằng, và đạt quyền kiểm soát một tỉ lệ lớn dân chúng nông thôn. Kế hoạch của Giáp cũng đòi hỏi tấn công lớn ở Quảng Tín. Trong tháng 3/75, ông đã tập trung quân chính quy để tấn công ĐPQ với hy vọng đạt một chiến thắng nhanh chóng để chiếm khu vực quan trọng này. Toàn sđ 2 csbv và lữ đoàn 52 sẽ chuyển quân từ những khu vực hành quân thường lệ của họ tại Quảng Nam và Quảng Ngải và tập trung tại Tiên Phước, với mục đích cuối cùng là chiếm Tam Kỳ. Lực lượng địa phương của Quảng Ngải sẽ mở các tấn công hỗ trợ để buộc chân sđ 2 VNCH và ngăn ko cho sđ 2 vnch tiếp viện cho Quảng Tín.

Về tổng thể, đây là kế hoạch của năm 1974 được lập lại, chỉ khác là CSBV đã dùng quân số áp đảo ĐỒNG LƯỢT tấn công những vị trí cũ thay vì LẦN LƯỢT tấn công như họ đã làm năm trước. Bộ TTM CSBV đã trực tiếp chỉ huy mặt trận B-4 và quân đoàn 2 csbv. Giáp cũng chỉ định thiếu tướng Nguyễn hữu An làm TL quân đoàn 2 csbv. 

...

Sau khi nhận lịnh của Giáp, quân đoàn 2 csbv và mặt trận B-4 đã vạch kế hoạch để phối hợp các lực lượng và tấn công bắc Thừa Thiên. Mục tiêu của họ là xâm nhập và chiếm giữ một phần của đồng bằng. Các toán tiếp vận đã bắt đầu dự trữ tiếp liệu cho một cuộc tấn công, và các toán trinh sát được gửi để thám sát các vị trí VNCH. Đầu tháng 2/75, một nhóm sq cao cấp đã đi Hà Nội để Giáp duyệt xét kế hoạch của họ.

Tuy nhiên, sau vài ngày thảo luận, kế hoạch này bị bác. Lý do rất dễ hiểu (straightforward): phòng tuyến của TQLC ở bắc Thừa Thiên RẤT MẠNH MẺ (stout). Thay vào đó quân đoàn 2 csbv sẽ hướng về nam và tấn công vùng núi đồi nam Huế. SĐ 324 sẽ tấn công những vị trí mà họ đã tấn công năm trước, khu vực NÚI BÔNG/NÚI MỎ TÀU. Từ những đỉnh núi này, quân csbv sẽ bắn đạn pháo xuống QL-1 và sân bay chánh của Huế, Phú Bài, sẽ cắt đứt QL-1 và cô lập lực lượng tiền phương của QĐ 1--chỉ còn đường thoát ra biển. SĐ 325 sẽ bí mật rời phòng tuyến ngưng bắn (dọc theo sông Thạch Hản) và bảo vệ sườn phải của sđ 324. Họ sẽ tấn công những ngọn đồi gần Sông Truồi, kế Đèo Hải Vân. Mủi tấn công nhiều sđ này sẽ là nổ lực chánh của toàn chiến trường Quảng Trị/Thừa Thiên. Dù hai sđ đều có nhiệm vụ là diệt các đv VNCH, mục tiêu chánh của 325 là cắt QL-1. Cùng lúc, mặt trận B-4 sẽ lôi kéo chú ý của tướng Trưởng vào bắc Quảng Trị bằng cách nghi binh (feint). Sau đó họ sẽ tấn công bắc Thừa Thiên để ngăn quân VNCH tiếp viện cho phòng tuyến nam Huế. 

Các lực lượng của Giáp tại quân khu 1 sẽ tấn công làm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 từ tháng ba đến đầu tháng năm. Cuộc tấn công được tính toán để trùng hợp với những tấn công tại QK2, và ngày khai diển như sau: KHÔNG ĐƯỢC TRỂ HƠN NGÀY 5 THÁNG BA. Giai đoạn 2 từ tháng bảy đến tháng tám. Mỗi giai đoạn có hai kế hoạch: một kế hoạch căn bản và một kế hoạch cơ hội. Kế hoạch cơ bản là quan niệm hành quân chánh, trong khi kế hoạch cơ hội được dùng khi có biến chuyển đột phá (sudden breakthrough). Mở đầu là những tấn công của đặc công chống lại các cơ sở tiếp liệu và cầu. Giáp ra lịnh rằng xe tăng, đại bác 122 và 130 ly, ko được phép dùng trong giai đoạn đầu. Giáp muốn dành dụm (husband) những vũ khí này cho những tấn công cuối cùng. 

Dùng một chiến lược như ở Cao Nguyên, Giáp đã quyết định bí mật di chuyển một đv chiến đấu từ phía bắc của chiến trường--trong trường hợp này, tỉnh Quảng Trị, tiến về phía nam đến nơi mà ông nghĩ phòng thủ yếu kém hơn. Cũng như lén lút (surreptitiously) xâm nhập hai sđ trừ bị chiến lược 316 và 341 từ bắc vào nam VN là một yếu tố chánh đã giúp Hà Nội thành công trong tổng tấn công mùa xuân 1975, việc chuyển sđ 325 về phía nam trong lãnh thổ qK 1 là một yếu tố khác. QLVNCH đã chống một tấn công của 324 trong vùng núi đồi này vào mùa hè 1974. Nếu có thêm một sđ vào vùng này, VNCH sẽ gặp khó khăn. 

...

Tuy nhiên, lịnh của Giáp về thay đổi này, đã ko truyền đạt cho tới đầu tháng hai, và vì ngày tấn công là 5 THÁNG BA, khung thời gian ngắn đã tạo nhiều khó khăn cho các đv ở tuyến đầu. Theo tướng An, "Vấn đề của chúng tôi là... chúng tôi chỉ có 30 NGÀY từ lúc nhận lịnh tới khi chúng tôi nổ súng, và trong giai đoạn này chúng tôi hầu như đã bắt đầu các chuẩn bị cho chiến dịch từ con số không. Tất cả các chuẩn bị tiếp vận trước đây của chúng tôi đều tập trung vào bắc Thừa Thiên. Nay những tiếp liệu này phải được đưa lên vai của lính vận tải và di chuyển trên những dốc núi đầy bùn."

Trong khi các lính công binh của quân đoàn 2 csbv đã bắt đầu đào đường trên địa thế núi non này để di chuyển xe cộ, vũ khí nặng, và tiếp liệu cho mặt trận mới, tướng An đã quyết định rằng ko thể theo kịp thời hạn. SĐ 325 cần thời gian để tái phối trí lực lượng, và quân đoàn ko đủ hậu cần chứa sẵn trong khu vực nam Huế để hỗ trợ cho hai sđ này. Dù Giáp ra lịnh nổ súng ngày 5 THÁNG BA, tướng An đã quyết định dời ngày nổ súng của sđ 324 là 10 THÁNG BA, sau đó ba tuần là sđ 325. 

NGÀY 26 THÁNG HAI, phó của tướng An, thiếu tướng Hoàng Đan đã đến Hà Nội để báo cáo với Giáp và phó tham mưu trưởng Lê trọng Tấn về thay đổi này. Dù thiết kế căn bản đã nhanh chóng được chấp thuận, khi Tấn nghe hoản ngày nổ súng, y đã giận dữ nói: "Với một chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược đang được phối hợp với nhiều chiến trường khác, anh nghĩ gì khi anh có thể bắt đầu những trận đánh vào lúc nào anh muốn? Nếu anh trì hoãn ngày tấn công, địch có thể gửi sđ Dù tới nam Tây Nguyên, sẽ làm suy yếu chiến dịch của chúng ta trong chiến trường chủ yếu này! Rồi điều gì xảy ra đối với tổng tấn công của chúng ta? Trước khi anh đến đây trình bày kế hoạch, dù chúng tôi đã gửi các đại diện đến anh để phổ biến (disseminate) kế hoạch, và cũng gửi nhiều nhiều mật điện để nhắc nhở, anh vẫn còn chưa hiểu điều này?

Dù cơn giận dữ của Tấn và những yêu cầu về chiến lược thúc ép, nhu cầu về tiếp vận ko thể thay đổi. Đan đã cố gắng giải thích rằng quân đoàn 2 phải cung cấp lương thực và đạn dược cho 4 trung đoàn bộ binh cộng với những đv hỗ trợ trong khi chuyển đồ tiếp tế và pháo binh trong địa thế hiểm trở giữa thời tiết rất xấu. Một thỏa thuận đã đạt được: Mặt trận B-4 sẽ nổ súng NGÀY 5 THÁNG BA ở Quảng Trị để thu hút chú ý của QLVNCH. Vào NGÀY N + 3, một trung đoàn của 324 và hai trung đoàn của mặt trận B-4 sẽ tấn công Mỏ Tàu và những đồi gần đó. Ngày N + 21, một trung đoàn của 325 sẽ bắt đầu tấn công  vào cạnh sườn phải của 324.

Khi tướng Đan chuẩn bị rời phòng hợp, Giáp đã gọi y trở lại để mạnh mẻ nhắc lại (reiterate) thời biểu. Y nói với Đan, "Hảy nhớ rằng chiến dịch này ko giống những chiến dịch trước đây. Cấp dưới của anh có thể tùy nghi ứng biến để hoàn thành mục tiêu đặt ra bởi kế hoạch. Tuy nhiên, anh cũng phải nhớ rằng tuyệt đối ko có sự linh động trong những yếu tố mà bộ TTM đã vạch ra trong kế hoạch, và anh phải theo đúng các yếu tố." Đan đã hiểu: Nổ súng đúng giờ. 

Vào đầu tháng 3, quân đoàn 2 csbv đã hoàn thành một con đường mà xe cộ có thể đi lại, và đã xây dựng hơn 50 dặm đường phụ để tới rất nhiều đồi ở hai bên của sông Truồi. Đây là một kỳ công về cầu đường gây ấn tượng dưới những điều kiện khắc nghiệt. Sau này tướng An viết lại, "Bạn nghĩ gì, với một đường đất mới tinh và những cơn mưa liên tục cuối mùa, với người và xe cộ liên tục đi lại trên đó, tất nhiên phải có những khó khăn trở ngại? Bạn nói đúng! Đó là bùn, bùn, và nhiều bùn. Mọi người luôn luôn đứng trong bùn tới mắt cá chân, và xe cộ di chuyển như rùa, bánh xe quay nhưng xe ko thể tiến tới khiến lính tráng phải xuống xe và đẩy. Các đại bác 105-ly... phải vượt qua những đoạn đường với độ dốc giữa 20 và 40 độ trong khi mưa. Chỉ có sự giúp đỡ của người lính bộ binh mà cuối cùng pháo thủ đã đưa đại bác vào vị trí. Những khó khăn mà chúng tôi gặp phải khi đưa súng vào vị trí ko thua gì những khó khăn mà chúng ta đã gặp ở Điện Biên Phủ."

Để thực hiện kế hoạch thu hút quân vnch về phía bắc, NGÀY 5 THÁNG BA, bắc quân đã tổ chức diển tập quân sự gần Cửa Việt để tạo cảm giác một tổng tấn công sắp xảy ra (impend). Mặt trận B-4 đã chuyển quân chung quanh, với xe thiết giáp di chuyển trên một số khu vực. Để đánh lừa (deceive) tình báo kỹ thuật của vnch, TL của mặt trận đã ra lịnh trung đoàn 46 (một đv độc lập của csbv) dùng ám số đv của sđ 308 trong mọi liên lạc. Các cán bộ trung đoàn khi thám sát địa thế đều dùng ám số đơn vị của các trung đoàn của sđ 308. BTL của quân khu đã gửi các mật điện cho các đv dưới quyền như trong một cuộc tấn công thực sự."

Cuộc hành quân giả đã đạt yêu cầu, vì các lực lượng vnch đã ko chuyển quân về nam để tăng cường cho khu vực núi đồi ở nam Huế. Tình báo VNCH đã ko ghi nhận bất cứ hoạt động quân sự nào ở vùng này. Những mật điện giả của trung đoàn 46 đã khiến hai TLP (tướng Thi và tướng Hoàng văn Lạc) của BTL tiền phương của QĐ 1 VNCH đều viết trong hồi ký rằng khi bắc quân tấn công vượt Sông Thạch Hản, họ đều nghĩ là sđ 308 csbv. Tướng Viên và Trưởng lại nghĩ là sđ 341. Họ đều sai vì sđ 308 vẫn ở khu vực Hà Nội và 341 ở quân đoàn 3 vnch. Thực tế, đv vượt sông Thạch Hản là quân địa phương của Quảng Trị, yểm trợ bởi thiết giáp. 

Trong đầu tháng ba, khi đặc công phá kho đạn của sđ 3 bộ binh và làm hư hại cầu An Lổ trên Sông Bồ, Trưởng đã nghĩ tổng tấn công mùa xuân của bắc quân đã bắt đầu. Nhưng lính VNCH, do trói buộc phải giữ đất, chỉ có ngồi trong hầm hố và chờ cuộc tấn công sắp tới của bắc quân. 

Dịch từ trang 264-274 của quyển Black April 

San Jose ngày 10 January 2021

Tài Trần