Showing posts with label hôn nhân việt mỹ. Show all posts
Showing posts with label hôn nhân việt mỹ. Show all posts

Sunday, April 18, 2021

HOA LẠC GIỮA RỪNG GƯƠM: CÔ GÁI CHUYÊN PHỎNG VẤN CÁC TÙ BINH VÀ HỒI CHÁNH VIÊN VC

"Dương vân Mai và phần lớn trong gia đình cô đã bỏ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Họ định cư tại Sài Gòn, nơi mà cha cô, một viên chức quan trọng trong chính quyền thuộc địa Pháp, đã trở nên một viên chức nhỏ trong bộ tài chánh VNCH. Mai học giỏi, được học bổng ở ĐH Georgetown ở Washington DC, ở đó ba năm, và trở về VN với hôn phu (fiancé), trung sĩ lục quân Mỹ David Elliott. Năm 1964, bộ trưởng QP Mỹ Robert McNamara - đã thành thật khi ko hiểu điều gì đã khiến CS đã kiên trì khi đối diện với hỏa lực Mỹ - đã thuê cty RAND làm một nghiên cứu về các kẻ đào ngũ và tù binh VC, để tìm hiểu "Ai là VC? Và động lực nào đã khiến họ làm như vậy?" (make them tick).
Vợ chồng Elliotts ký hợp đồng với RAND, và Mai đã bắt đầu phỏng vấn các đối tượng. Cô đã nhớ rằng cô đã được “dạy dỗ để tin rằng CS là kẻ hủy diệt gia đình và tôn giáo, ko trung thành với đất nước mà chỉ với quốc tế CS."
"Mẹ tôi thường mô tả họ là những kẻ chưa phải là người (subhuman) với đầu trâu và mặt ngựa". Nhưng tôi cũng biết họ cũng bao gồm những người như chị tôi, Thăng, và nhiều anh em họ của tôi. Tôi ko thể nào hoàn toàn hòa hợp hai hình ảnh này, nhưng hình ảnh mà mẹ tôi mô tả thì mạnh hơn vì tôi rất sợ chúng. Với ấn tượng sẵn có như vậy, tôi đã bắt đầu làm công tác tìm hiểu phong trào cộng sản. Tôi nhớ rõ cuộc phỏng vấn đầu tiên này. Lúc đó tôi rất trẻ. Tôi đã đến nhà tù khắc nghiệt (grim) để phỏng vấn người cán bộ cao cấp này vừa bị bắt. Tôi vừa đi vừa suy nghĩ, 'Tôi sắp gặp con quái vật này--một kẻ có đầu trâu và mặt ngựa'--nhưng khi tôi đi vào, y ko có vẻ một tên cục súc (look like a brute)."
Thay vào đó, y là một người trung niên có phẩm cách, cô ta đã nhớ lại, "với một thái độ đầy quyền lực của một kẻ quen chỉ huy kẻ khác." Cô đã mời y một điều thuốc Mỹ, nhưng y từ chối--"y ko muốn đụng đến bất cứ gì thuộc Mỹ." Y đã trả lời các câu hỏi của cô đầy đủ và kiên nhẩn, và "tinh thần của y rất mạnh mẻ hơn bất cứ ai mà tôi đã gặp lâu nay ở Sài Gòn."
"Y đã tin tưởng rằng Việt Cộng sẽ giải phóng đất nước khỏi thống trị của ngoại bang và thống nhứt đất nước dưới một chế độ -- sẽ mang công bằng xã hội và bình đẳng cho người nghèo," cô đã nhớ lại. "Y nói mình đã từng là một nông dân nghèo trở thành một vị trí lãnh đạo. Dĩ nhiên, một cuộc phỏng vấn ko thể nào thay đổi quan điểm của tôi ngay lập tức. Nhưng nó đã tạo những câu hỏi bâng khuâng (troubling) trong đầu tôi. Ai là kẻ tốt và ai là kẻ xấu? Tôi nghĩ rằng tôi đã biết. Giờ đây tình hình ko còn là trắng với đen."
Khi bản tường trình đầu tiên do RAND thực hiện gửi tới các viên chức cao cấp của bộ trưởng McNamara ở Ngũ Giác Đài, trong đó mô tả VC như là một kẻ thù đầy quyết tâm (dedicated) "chỉ có thể đánh bại bởi những chi phí khổng lồ," một người trong họ đã nói, "Nếu điều mà bạn nói là đúng, chúng ta đang chiến đấu ở phía sai, phía sắp thua cuộc chiến này."
Vào mùa hè năm 1966, cô Mai Elliot được mời làm thông dịch cho nhà báo Mỹ kỳ cựu Martha Gellhorn trong một chuyến thăm tới một bịnh viện Mỹ ở Nam VN. "Lần đầu tiên, tôi đã thấy rằng vũ khí đã làm gì đối với con người," cô nhớ lại. "Tôi đã thấy trẻ em và người lớn mất tay chân. Tôi đã thấy những đầu người quấn băng trắng đẫm máu chỉ chừa đôi mắt. Tôi đã thấy một phụ nữ bị đốt cháy bởi bom lân tinh, với da bị lột lộ ra thịt màu hồng bên dưới. Tôi biết rằng đó chỉ là một phần nhỏ của nỗi đau cùng cực của người dân. Tôi cảm thấy run rẩy và tin chắc hơn trước rằng thật không công bằng khi bắt những người nông dân này phải gánh chịu đau khổ để cứu gia đình tôi và các gia đình trung lưu khác khỏi một hệ thống cộng sản mà chúng tôi cảm thấy không thể sống dưới chế độ đó. Tuy nhiên, Mai cũng ko muốn Mỹ rút quân. "Tôi đã chán ghét chiến tranh và muốn hòa bình, nhưng là một hòa bình mà CS ko là kẻ chiến thắng. Tôi đã sợ rằng một khi Mỹ ko còn bảo vệ VN, người CS sẽ quét sạch chế độ Sài Gòn bất hạnh qua một bên và gia đình tôi sẽ đau khổ vì còn nơi nào để chạy trốn. Tôi đã bắt đầu cầu mong một nhóm người, có tên gọi là "Lực lượng hay Thành phần thứ Ba", ko thân Mỹ cũng như thân CS, sẽ thành công trong việc đoàn kết dân tộc này."

Ảnh: Dương Vân Mai Elliotts tại sân bay Cần Thơ, trên đường về nhà sau khi phỏng vấn tù binh và đào ngũ VC, chụp năm 1965.
Năm người lính thuộc một đại đội pháo của MTGPMN vừa được huy chương "đơn vị anh hùng.”
San Jose ngày 20.4.2025.
Tài Trần


===
Dịch từ:

WHO ARE THE VIET CONG?

. . .
DUONG VAN MAI and most of her family had been part of the flood of refugees who fled North Vietnam for the South back in 1954. They settled in Saigon, where her father, who had been an important official in the French colonial regime, became a minor one in the Finance Ministry. Mai did well in school, won a scholarship to Georgetown University in Washington, D.C., spent three years there, and returned to Vietnam with an American fiancé, Army Sergeant David Elliott.
In 1964, Robert McNamara—genuinely puzzled by the stubbornness of the communists in the face of American power—had commissioned the RAND Corporation to do a study of defectors and enemy prisoners, seeking to know “Who are the Viet Cong? And what makes them tick?”
The Elliotts signed on with RAND, and Mai began interviewing subjects. She remembered that she’d been “brought up to believe that the communists were people who destroyed the family, destroyed religion, had no allegiance to our country but only to international communism.”
“My mother would describe them as đầu trâu mặt ngựa” she recalled. “Brutal subhumans with the head of a water buffalo and the face of a horse. But I knew that they also included people like my sister, Thang, and a lot of my cousins. I couldn’t quite reconcile the two images, but of the two, my mother’s image was stronger because I was so scared of them. That was the frame of mind I had when I started doing research into the communist movement. I remember my first interview. I was by myself. I was very young. I was going to this grim prison to interview this high-ranking cadre who had been captured. I went in thinking, ‘I’m going to meet this beast—this guy with a head of a water buffalo and the face of a horse’—but when I walked in he did not look like a brute.”
Duong Van Mai Elliott at the Can Tho Airport, on her way home after interviewing enemy prisoners and defectors, 1965
Instead, he was a dignified middle-aged man, she remembered, “with the authoritative demeanor of someone used to leading others.” She offered him an American cigarette, but he refused it—“he did not want to touch anything so American.” He answered her questions fully and patiently, and “had more integrity than anyone I had met in Saigon in a long time.
Five proud soldiers belonging to an NLF artillery company that had recently been awarded the title of “Hero Unit”
“He believed that the [Viet Cong] would free his country from foreign domination and reunify it under a regime that would bring social justice and equality to the poor,” she recalled. “He looked at himself as poor: a poor peasant who had been elevated to a position of leadership. Of course, one interview could not change my views right away. But it did raise troubling questions in my mind. Who were the good guys and who were the bad guys? I thought I knew. Now, the situation no longer seemed so black and white.”
When the first RAND report was presented to McNamara’s top deputies at the Pentagon, describing the Viet Cong as a dedicated enemy that “could only be defeated at enormous costs,” one of them said, “If what you say is true, we’re fighting on the wrong side, the side that’s going to lose this war.”
In the summer of 1966, Mai Elliott was asked to act as translator for the veteran American journalist Martha Gellhorn on a visit to an American hospital in South Vietnam. “I saw for the first time what the weapons were doing to real human beings,” she recalled. “I saw children and adults who had lost limbs. I saw eyes staring out of heads swathed in bloody bandages. I saw a woman who had been burned by a phosphorus bomb, with peeling skin showing pink and raw flesh underneath. I knew this was only a fraction of the toll in human misery. I left shaken and more convinced than before that it was unfair to make the peasants bear the brunt of the suffering to save my family and other middle-class families from a communist system they felt they could not live under.”
Still, Mai couldn’t bring herself to wish for an American withdrawal. “I hated the war and I wanted peace, but a peace that would keep the communists from winning. I feared that once the shield of American power was removed, the communists would sweep the hapless Saigon regime aside and my family would suffer with nowhere else to run and hide. I began to wish that the group of people dubbed ‘the Third Force,’ who were neither pro-America nor pro-communist, would succeed in rallying the people.”
SJ ngày 6/10/2023

 Hôn Nhân Việt-Mỹ Trước 1975 hay Không Nơi Nào Đẹp Bằng Quê Hương.

- Dân miền Nam trước 75 có mức sống SUNG TÚC và TỰ DO nên không cần chính quyền miền Bắc đưa quân vào "giải phóng" miền Nam và họ cũng ko mơ ước đi Mỹ như bây giờ.
Bài này tiếp theo bài "Tại sao có hàng triệu người VN bỏ nước ra đi sau 1975" - một cuộc di tản LỚN NHỨT thế giới trong thế kỷ 20 - và những HỆ QUẢ cay đắng của nó.
Trước 75, những phụ nữ lấy chồng Mỹ phần lớn là nhân viên dân chính (civil employee) cho các cty Mỹ như hãng xăng Shell, Caltex, Esso, các hãng thấu xây dựng như Pacific Architects & Engineers (viết tắt là Pacific A & E), RMK-BRJ, Johnson Drakes & Pipers (đào kinh), v.v...; cho sở Mỹ hay quân đội Mỹ bao gồm tòa đại sứ, USOM, USIS (sau này gọi là JUSPAO), USAID, BTL Mỹ tại VN (MAC-V), v.v... Lương hàng tháng gấp 2 hay 3 lần so với hãng VN.
Theo Linda Trinh Võ and Marian Sciachitano (Asian American women: the Frontiers reader, University of Nebraska Press, 2004, p144), có 8.040 phụ nữ VN theo chồng về Mỹ từ 1964-75. Sau HĐ Paris 1973, chỉ còn TĐS Mỹ và VP tùy viên quốc phòng DAO và các cty Mỹ còn hoạt động ở VN.
Tôi còn nhớ, một ng dì họ của tôi tên B. ở Biên Hòa làm thư ký cho sở Mỹ, lấy chồng Mỹ khoảng năm 68-69. (Một dì họ khác, tên S. rất đẹp, chồng là sq tử trận, sau dì làm sở Mỹ và lấy chồng Mỹ).
Gia đình dì B. lúc đó khá giả, khi đám cưới của dì, gần như ko thông báo cho ai hết, có lẽ vì XẤU HỔ. Sau đó dì ÂM THẦM đi Mỹ và sau 75 bảo lãnh anh em cha mẹ về Cali.
Lúc đó, mức sống dân Việt rất cao: vào năm 1973-74, dân ở nhiều vùng quê (như ở Vĩnh Long hay Vĩnh Bình) mà đv tôi thường đi hành quân giải tỏa, đã có nhà gạch lợp ngói khang trang, TV, có giếng xây *, máy cày nhỏ, máy may, tài khoản ngân hàng**, v.v.... (Dân bán lúa xong ra quận/tỉnh gửi tiền ở NH nông nghiệp rồi mua sắm đồ đạt trong nhà, ko lo trộm cướp vì giữ tiền trong nhà).
Lúc đó, đường từ tỉnh xuống các quận của Vĩnh Bình thường xuyên bị đấp mô hay đào đường (ban đêm CS ép dân ra đào cắt ngang đường, khiến xe cộ không chạy được). Liên lạc giửa tỉnh và quận bằng trực thăng dù CS chưa chiếm đc quận nào trong tỉnh. Tôi nhớ, cả vùng 4 chỉ có duy nhứt một quận của Chương Thiện bị CS chiếm trước 75.
Nhiều ng ở Kiến Tường, Kiến Phong còn sắm xe máy cày *** vì ruộng "cò bay thẳng cánh". . . Dù đang chiến tranh, CP VNCH vẫn thuê nhà thầu (ông Đô - bạn ba tôi đấu thầu đào kinh ở Đồng Tháp Mười--tôi đã gặp trong một lần hành quân). Tất cả là nhờ chính sách Người Cày Có Ruộng phát động năm 1970.
Lúc đó đã có một số ng Mỹ đã đầu tư làm ăn ở VN, họ lập VP thuê ng VN làm giám đốc (luật như vậy). Ba tôi đã đc thuê làm giám đốc cho một cty Mỹ ở đường Nguyễn Huệ, dù gần như ông ít ra VP vì còn phải trông nom công việc của cty riêng của ông. VNCH đã khám phá dầu ở ngoài Côn Sơn và hãng Hyatt bắt đầu thi công ks ở đầu đường Hàm Nghi.
Nhờ tuyên truyền và che mắt dân miền Bắc, ĐCSVN đã huênh hoang rằng họ đi "GIẢI PHÓNG" miền Nam để phá bỏ ách cai trị hà khắc của "đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Thiệu Kỳ"! Dân miền Nam có mức sống SUNG TÚC và TỰ DO như vậy nên không cần ai "giải phóng"!
* Theo báo Thông Cảm, của sở Thông Tin của TĐS Mỹ, lúc cao điểm có khoảng 300.000 ng làm sở Mỹ.
** Ở vùng này, nước sông bị nhiễm mặn nên họ xài giếng đóng hay xây hồ bằng xi-măng để chứa nước mưa.
*** Hiện nay, ng dân còn tin tưởng nơi NH ko khi xảy ra nhiều bê bối - mà báo chí thường đăng; họ mua vàng và dollar để tích trữ.
Các NH của VNCH chỉ ngừng hoạt động khi có lịnh đầu hàng của Dương văn Minh.
Dưới chế độ cũ, giữ dollar trong nhà là PHẠM PHÁP, bị tịch thu và đi tù. Chỉ giữ dollar khi có nhu cầu du học hay xuất ngoại hay buôn bán với nước ngoài (phải có giấy tờ chứng minh). Các cty VN giao dịch với nước ngoài, phải gửi dollar ở NH. (Cty vận tải biển Vishico, mà ba tôi có phần hùn, làm ăn với Nhật, ngày 30/4 còn kẹt trên 50 ngàn đô gửi ở Tokyo Bank ở Sài Gòn--số tiền này chỉ được rút ra khi có chữ ký hợp pháp của các ông trong HĐQT của cty). Tóm lại, trên toàn đất nước, chỉ có tiền của VNCH lưu hành. Lính Mỹ, lúc đồn trú ở VN, đc phát MPC (chứng chỉ chi phó), để mua bán giao dịch với dân VN. Người bán hàng đem MPC ra NH đổi tiền Việt .
**** Khi mùa nước nổi, họ đưa xe máy cày lên bè để máy cày khỏi ngâm dưới nước trong mùa này.
Bạn có thể tìm hiểu thêm về đề tài này ở : http://www.tranthanhhien.com/…/hon-nhan-viet-my-truoc-1975.…
Ảnh: nhân viên sở Mỹ, máy cày nhỏ--có mặt khắp nơi, xe máy cày--thường thấy ở Đồng Tháp Mười.

Monday, March 21, 2016


Tuy nhiên , cô vợ vẫn chưa vừa ý , muốn chia xẻ hai căn nhà khác mà anh chồng đứng tên : một căn cha mẹ anh đang ở và một căn khác anh đang cho thuê .
Theo luật Cali , tài sản có TRƯỚC khi kết hôn thì của ai ng ấy giử . Như vậy chỉ có căn đang cho thuê là tài sản chung .
Nhận xét : Cô vợ quá tham lam . Không biết khi chết (năm nay cô 38 t) , cô có mang theo tài sản này mà tham lam quá độ .
Được biết cô làm cho 1 cty Mỹ , lương khá và đang cặp 1 ông mỹ trắng hơn cô 20 t) . Nếu cô bị thất nghiệp hay ko muốn đi làm thì anh chồng phải cấp dưỡng (alimony) cho cô theo luật định .
Theo luật mỹ , vợ hay chồng , người nào lương cao phải cấp dưỡng cho người kia . (Nữ tài tử Elizabeth Taylor từng phải cấp dưỡng cho anh chồng tài xế xe tải) .

Tuesday, April 28, 2015

1 CCB MỸ ĐEN LẤY VỢ MỸ TRẮNG (ĐÃ CON RIÊNG, BÊN PHẢI MẸ NÓ) . ANH CŨNG CÓ CON RIÊNG (ĐỨNG GIỬA) . ĐỨA ANH BỒNG LÀ CON CỦA HAI NG . CHỤP TẠI DETROIT , NƠI CÓ MỸ ĐEN RẤT ĐÔNG . TẤM ẢNH NÀY TƯỢNG TRƯNG CHO NƯỚC MỸ .

Saturday, April 18, 2015

Hôn Nhân Việt-Mỹ Trước 1975 hay Không Nơi Nào Đẹp Bằng Quê Hương Mình .
 
- Dân miền Nam trước 75 có mức sống SUNG TÚC và TỰ DO nên không cần CS "giải phóng" và cũng ko mơ ước đi Mỹ như bây giờ .--- Tài .
Bài này tiếp theo bài "Tại sao có hàng triệu người VN bỏ nước ra đi sau 1975" - 1 cuộc di tản LỚN NHỨT thế giới * trong thế kỷ 20 - và những HỆ QUẢ cay đắng của nó .
Trước 75 , những người lấy Mỹ phần lớn xếp vào 2 loại : nhân viên sở Mỹ như tòa đại sứ , các cty Mỹ ** , v.v... và các cô quét dọn/hầu phòng (maid) trong các trại lính Mỹ .
Tôi nhớ , một ng dì họ của tôi làm sở Mỹ, lấy chồng Mỹ khoảng năm 68-69 . Gia đình dì , lúc đó khá giả , gần như ko thông báo cho ai hết , có lẽ vì XẤU HỖ. Sau đó dì ÂM THẦM đi Mỹ và sau 75 bảo lãnh anh em cha mẹ . Lúc đó , mức sống dân Việt rất cao : vào năm 73-74 , dân ở nhiều vùng quê (như ở Vĩnh Long hay Vĩnh Bình) mà đv tôi thường đi hành quân giải tỏa , có nhà gạch lợp ngói khang trang , TV , giếng đóng *** , máy cày nhỏ , máy may , tài khoản ngân hàng **** , v.v... ; dân bán lúa xong ra quận/tỉnh gửi tiền ở NH nông nghiệp rồi mua sắm đồ đạt trong nhà , ko lo trộm cướp vì giử tiền trong nhà . (Dân ở Kiến Tường , Kiến Phong sắm xe máy cày vì ruộng "cò bay thẳng cánh" . . . Dù đang chiến tranh , CP vẫn thuê nhà thầu đào kinh ở Đồng Tháp Mười) . Tất cả là nhờ chính sách Người Cày Có Ruộng phát động năm 1973 .
Lúc đó , đường từ tỉnh xuống các quận của Vĩnh Bình thường xuyên bị đấp mô hay đào đường (ban đêm CS ép dân ra đào cắt ngang đường , khiến xe cộ không chạy được) . Liên lạc giửa tỉnh và quận bằng trực thăng dù CS chưa chiếm đc quận nào trong tỉnh . Tôi nhớ , cả vùng 4 chỉ có duy nhứt 1 quận của Chương Thiện bị CS chiếm trước 75 .
Lúc đó có 1 số ng Mỹ đã đầu tư làm ăn ở VN , họ lập VP thuê ng VN làm giám đốc (luật như vậy) . Ba tôi đã đc thuê làm giám đốc dù gần như ông ít ra VP vì còn phải trông nom công việc của cty riêng của ông .
Nhờ tuyên truyền và che mắt dân miền Bắc , ĐCSVN đã huênh hoang rằng họ đi "GIẢI PHÓNG" miền Nam để phá bỏ ách cai trị hà khắc của "đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Thiệu Kỳ" ! Dân miền Nam có mức sống SUNG TÚC và TỰ DO như vậy không cần ai "giải phóng" ! (hết) .
* Bạn nào cho rằng có cuộc DT lớn hơn thì xin đóng góp .
** Theo báo Thông Cảm , lúc cao điểm có khoảng 300.000 ng làm sở mỹ .
*** Ở vùng này , nước sông bị nhiễm mặn nên họ xài giếng đóng hay xây hồ bằng xi-măng để chứa nước mưa .
**** Hiện nay , ng dân còn tin tưởng nơi NH ko khi xảy ra nhiều bê bối - mà báo chí thường đăng ; họ mua vàng và dollar để tích trử . Các NH của VNCH chỉ ngừng hoạt động khi có lịnh đầu hàng của Dương v Minh .
Dưới chế độ cũ , giử dollar trong nhà là PHẠM PHÁP , bị tịch thu và đi tù . Chỉ giử dollar khi có nhu cầu du học hay xuất ngoại hay buôn bán với nước ngoài (có giấy tờ chứng minh) . Các cty VN giao dịch với nước ngoài , phải gửi dollar ở NH . Tóm lại , trên toàn đất nước , chỉ có tiền của VNCH lưu hành . Lính Mỹ đc phát MPC , (chứng chỉ chi phó) , để mua bán giao dịch với dân VN . Người bán hàng đem MPC ra NH đổi tiền Việt .
Bạn có thể đọc thêm về đề tài này ở : http://www.tranthanhhien.com/…/hon-nhan-viet-my-truoc-1975.…

Sunday, October 19, 2014

HÔN NHÂN VIỆT-MỸ TRƯỚC 1975 .
Thời gian từ khoảng 1965 trở đi , Mỹ bắt đầu đổ quân ồ ạt vào VN . . .các căn cứ QS mọc như nấm từ Quảng Trị tới Mỹ Tho (bản doanh của sđ 9 BB Mỹ , h.1 ) . . . Người Mỹ đã dùng rất nhiều ng Việt để làm trong các CC như thợ mộc , hồ , điện (h2) . . . và cả phụ nữ quét dọn phòng ở của lính Mỹ .
Một số phụ nữ khác làm trong các bar rượu tại các TP (hình 3)
Con lai là hậu quả của các mối tình giửa lính Mỹ và các phụ nữ nghèo khổ này .
Theo chân QĐ Mỹ là các cty về xây dựng như RMK-BRJ , Pacific , Johnson Drakes and Pipers (chuyên về xáng thổi) , v.v... để xây căn cứ hay cung cấp dịch vụ về điện , nước . . . sản xuất nước đá hay kem . (CC Đồng Tâm của SĐ 9 , nằm kế sông Tiền Giang , đc tạo nên bằng cách hút bùn đất ở đáy sông thổi lên bờ . . .)
Một số ng VN khác làm cho các cty xăng dầu như Shell , Caltex hay Mobilgas (xem hình 4) .
Một số phụ nữ dân thành thị , có HỌC THỨC thì làm việc văn phòng trong bộ máy quân sự Mỹ hay hành chánh như MAC-V , USOM , USIC , USAID , v.v... hay các cty vừa kể * .
Theo một thống kê , (dựa vào trí nhớ) , thì có lúc có khoảng 300.000 ng Việt làm trong bộ máy QS , chính trị , ngoại giao , v.v... của Mỹ tại VN . (theo nguyệt san Thông Cảm) .
Trong tháng tư 1975 , Mỹ đã có kế hoạch di tản tất cả các nhân viên sở Mỹ vì sợ họ sẽ bị CS bách hại . Tuy nhiên chỉ di tản đc 1 số ít nhân viên của TĐS Mỹ , USOM , USIC , v.v... (Sau này , những ng này cũng đc Mỹ nhận nếu có giấy đã làm việc với họ trong 3 năm) .
Cũng có những nhân viên sở Mỹ lấy chồng Mỹ và ra đi trong các năm trước 75 . Lúc đó , gđ nào có con gái lấy Mỹ cũng im lặng , dấu kín , ko coi đó là hảnh diện , v.v... Vì lúc đó , mức sống của dân thành thị đã cao và gđ của các cô này cũng khá giả . Chả bù với bây giờ , rất nhiều cô từ nông thôn đến thành thị mong lấy chồng nước ngoài . . . đôi khi bị lường gạt tình lẫn tiền (tôi đã viết) .
Ngoài những cty - có HĐ với quân đội Mỹ (đã kể trên) , tư nhân Mỹ cũng đầu tư vào VN , lập VP nhưng giám đốc phải là VN .
* Tiêu chuẩn để đc làm cho hảng Mỹ cao hơn VN : vì dụ hảng thầu Pacific tuyển họa viên kiến trúc (drafter) . Dù bạn có bằng về mỹ thuật của vn , bạn phải qua tuyển chọn rất gắt gao : ng này vẻ cái ly , ng kia vẽ cái bàn . . . họ dựa vào đó để nhận việc .

Thursday, January 9, 2014

Quan tham VN , thua xa gái bán bar , và là ĐỈA . 

"Ở Sporting Bar ở Sài gòn , các cô gái bán bar đang nhắm vào 1 lính Mỹ . Các cô kiếm tiền dựa trên số lần kêu rượu  của khách hàng . Riêng rượu , mà cô uống , được gọi là 'Trà Sài gòn' - thật ra đó là trà hay nước có màu - mà lính Mỹ phải trả $ 1.38 cho mỗi ly . Giá rượu cao ngất trời trong năm qua khiến một số lính Mỹ tẩy chay các bar , nhưng các cô gái nói là do giá trà nên phải tăng như vậy" .

Đây là 1 hình nhưng đăng ở 2 trang

Nguồn : LIFE 25.02.1966 .
Nhận xét : lính Mỹ không bắt các cô này uống rượu thật , như các cô ở VN bây giờ . Đây là nghề xưa nhứt trái đất , vì có cầu thì có cung . Bên Mỹ CS cũng không bắt gái điếm , trừ chủ chứa , ma cô hay đường dây đưa gái vào Mỹ .
Họ vẫn đáng cho  ta quí trọng ở chỗ họ bán thân xác để kiếm sống , chứ không phải đám quan tham ở VN hiện nay . Bọn này thua xa ĐĨ rất nhiều , phải gọi chúng là ĐỈA vì sống trên mồ hôi nước mắt của dân đóng thuế . Như D.C.DŨNG , thâm thụt ngân sách nhiều triệu đô - từ tiền thuế của dân - chứ đâu phải từ VỐN TỰ CÓ như các cô này .

Thursday, December 26, 2013

TẤM HÌNH LÀM PROFILE PICTURE .

Chào các bạn ,
Xin giải thích về tấm hình mà tôi dùng làm profile picture , đã đc đăng trên báo LIFE , ko rỏ năm . Trong một cuộc HQ của lính Mỹ , có phóng viên này đi theo , quân Mỹ đã bắt được cô này . Cô gái quê này , mặt mũi cũng coi được , lúc đầu bị nghi là Cộng sản . Sau khi bị điều tra , bởi thông dịch viên VN đi theo các đơn vị Mỹ (trung bình 1 Đ.Đ Mỹ có 1 TDV) , cô gái đc trả tự do .Tấm hình , nói lên  thân phận phụ nữ trong chiến tranh : có thể chết chóc trong lúc tên bay đạn lạc , bị CS bắt theo để làm dân công , v.v... VNCH thì không bắt phụ nữ đi lính . Nhưng đàn bà sống như vậy rất nguy hiểm , vì lính tráng khi nhậu say lại sàm sở , hảm hiếp , v.v... Có một lần , một cô đã báo cáo bị lính hiếp lúc ban đêm . Chúng tôi đã giao cã tiểu đội - đi  kích đêm tại xóm đó - đến an ninh quân đội để điều tra .
BTL Mỹ tại VN cố gắng không để những chuyện như trên xảy ra . Các TĐ tác chiến  , mỗi tháng được về đóng ở BTL của SĐ vài ngày để cho lính nghỉ ngơi , ra phố chơi , gọi phone viễn liên miễn phí về  Mỹ , v.v... Mỗi năm , lính được đi du lịch nước ngoài MỘT THÁNG theo chương trình R & R  đến : Hawaii , Sydney , Thái , Malaysia , Philippines , HK , Nam Hàn và Nhật . Hawaii , Sydney được đi 7 ngày , các nơi còn lại chĩ 5 ngày (ko tính thời gian vận chuyễn) .
Thế đám con lai ở đâu ra ? Đó là con của những người dọn dẹp (maid) trong căn cứ của Mỹ sau khi lính rời trại để đi làm hay hành quân . Họ quét dọn , lau chùi cầu tiêu/nhà tắm , giặt đồ bằng máy , v.v... . Mỗi CC như vậy đều có nhà máy sản xuất kem , nước đá , máy phát điện riêng , hệ thống cung cấp nước sạch để uống hay tắm , v.v.. Nhu cầu sửa chữa thường xuyên nên đã dùng thợ mộc/hồ/điện /ống nước , v.v... vào làm việc . Tóm lại , ngày nào cũng có hàng trăm đàn ông/bà VN vào căn cứ để làm việc . Thành ra ko tránh khỏi những quan hệ tình cảm giửa con ng với nhau và hậu quả như đã nói . 

Hai ảnh đều chụp ở căn cứ ĐỒNG TÂM , ở gần Mỹ tho . Là BTL của SĐ 9 BB Mỹ . Ở tấm thứ 2 , có một cô bé , không biết vào căn cứ để làm gì vì kiểm tra an ninh rất khó , sợ đặc công CS đặt chất nổ . Chụp từ báo Mỹ .