Showing posts with label ĐCSVN. Show all posts
Showing posts with label ĐCSVN. Show all posts

Wednesday, August 4, 2021

Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên

tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những

người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa

đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh. -- Vô danh .

Nguồn: Trích từ sách "Lời Ai Điếu" của Lê phú Khải.

Sunday, October 11, 2020

 Việt Minh là lực lượng võ trang của ĐCSVN dưới tên gọi VN Độc Lập Đồng Minh Hội.

... Sau khi Nhật đầu hàng, CSVN với giúp đỡ của quân Nhật đã lợi dụng khoảng trống quyền lực tại Đông Dương để chiếm Hà Nội và tuyên bố thành lập VNDCCH vào ngày 2/9/45. Nhật đã cung cấp cho VM HÀNG CHỤC NGÀN TẤN võ khí cũng như HAI NGÀN LÍNH NHẬT ĐÀO NGŨ (sau này họ bị VM thủ tiêu -- Tài Trần) để tạo thành xương sống cho quân đội VM mới. Nên nhớ rằng trong lúc đó sức mạnh chánh của VM là xâm nhập vào hạ tầng cơ sở của thuộc địa Pháp cũng như mạng lưới thu thập tình báo (dựa vào dân Việt, thường có được nhờ VM khủng bố).  Sau khi quân Pháp trở lại (sau khi Nhật đầu hàng), lúc đầu VM chỉ có thể quấy rối quân Pháp và chỉ đánh nếu quân VM đông hơn Pháp. NHƯNG CUỐI NĂM 1949, sau chiến thắng của CS tại TQ, một nguồn vũ khí đã bắt đầu đổ vào bắc VN, nơi phần lớn lực lượng VM có mặt. Vào NĂM 1952, giúp đở của TC còn dồi dào hơn, khi đường mòn trở thành đường xe hướng vào khu vực phía bắc của Bắc Kỳ. Chiến cụ được chỡ bằng tài xế TC, trên xe tải TC vào vùng VM kiểm soát ở biên giới Hoa-Việt (từ THÁNG 7 1951 - THÁNG 7 1952, 6.280 TẤN VŨ KHÍ được cung cấp cho VM). Dọc theo các đường này là trạm xăng (petrol pump) cũng như súng phòng không TC. Trong các trại ở TC, lính TC đã dạy VM du kích chiến và chiến tranh chớp nhoáng (blitzkrieg) để họ trở thành đặc công, hiệu thính viên, lính pháo binh, sq và chính ủy. Vào năm 1952, VM đã trở thành một quân đội chính quy đáng sợ được huấn luyện kỷ và học tập chính trị/chính huấn bởi TC. VM đã có những sđ pháo binh nhẹ và nặng gồm vũ khí pháo binh và pháo phòng không quy ước với khoảng 6.000 cố vấn thuộc Khối Đông Âu (Easter Bloc). Tướng Giáp có thể tập hợp quanh ĐBP bốn sđ bộ binh và một sđ NẶNG, khoảng 49.500 chiến sĩ với 200 đại bác (75 và 105 ly) và một trung đoàn cao xạ do TC huấn luyện.

Trong giai đoạn đầu, đặc biệt tại miền nam, VM thực hiện một chiến dịch khủng bố, và tra tấn, chặt tay chân (mutilate) và giết bất cứ tù binh gốc Việt hay Pháp cũng như thường dân VN làm cho Pháp; sau đó tù binh Pháp được gửi đến trại TB/trại cải tạo mà cuộc sống ko kéo dài. Nên nhớ rằng trong chiến tranh, VM chỉ đánh khi có quân số áp đảo và thường thắng bằng cách tấn công biển người mà ko đếm xỉa đến tổn thất của chính họ.

VM gồm ba LL chánh sau đây:

1/ Quân VỆ QUỐC gồm các sđ với 3 trung đoàn cho mỗi sđ và mỗi trung đoàn có 3 TĐ.

2/ Quân bán chính quy gồm:

a/ TỰ VỆ là những đv địa phương (mỗi đv từ 100 - 200 ng).

b/ Những đv chống lính Dù gồm một đài quan sát, một nhóm an ninh và xung kích).

c/ Những nhóm quyết tử (suicide) là những toán 10 ng và huấn luyện chính trị bởi chính ủy.

3/ Những đv chính trị có nhiệm vụ thám sát (surveillance) và ám sát.

Tính tới NĂM 1953, quân VM khoảng trên 500.000 ng.

Ghi chú về lực lượng CEFEO: đây là một LL viễn chinh của quân đội Liên hiệp Pháp đầu tiên thành lập ở Đông Dương thuộc Pháp năm 1945 trong chiến tranh Thái Bình Dương. Sau đó họ chiến đấu và tổn thất khi chống VM từ 1946-54.

LL này phần lớn là lính bản xứ và tình nguyện tuyển từ lãnh thổ thuộc địa hay được Pháp bảo hộ, bao gồm lính Lê Dương phần lớn là tình nguyện gốc Âu châu. Việc tuyển mộ lính từ mẫu quốc bị cấm bởi CP trong chiến tranh Đông Dương lần 1 để tránh phản đối tại Pháp.-- Theo wiki. 

Troops/Lực lượng của hai phía

C.E.F.E.O195119521953 Viet Minh194719511952
Lính Pháp51 17550 737

59 526

     
Lính Bắc Phi11 00022 89236 628     
Lính Phi châu2 00013 28119 342     
Lính Lê Dương11 131 

16 664

16 586     
Indochinese/Lính Đông Dương 35 00086 00060 000     
Total/Tổng cộng:110 306

190 592

194 263 Quân chínhquy 50 000

110 000

180 000
         
Quân đội Quốc gia Việt Nam70 000135 000200 000 LL địa phương,
Dânquân   
50 000240 000224 400
/Quân đội Quốc gia Lào4 00010 00015 000     
Quân đội Quốc gia Cambodge

5 500

11 00011 000     
Total/Tổng cộng:79 500156 000226 00     
         
Combined forces total/Tổng kết:189 806346 592420 263 Tổng cộng: 
1
00 000
350 000404 400

Note: The C.E.F.E.O. carried the brunt of the fighting and while viewing the above troop figures, 
you need to  visualize the size of the territory that they had to control, see map at top of page.

Casualties/Tổn thất

 KIA/MIA(Chết/ Mất tích khi chiến đấu)WIA/Bị thương)POW taken(Tù binh bị bắt)POW returned (Tù binh trở về) 
C.E.F.E.O75 86765 12514 500 (known/được biết)8 516
Người dân Đông Dương thuộc Pháp.31 716N/A (không có số liệu)13 359 (known/được biết)1 039
     
Việt Minh200 000 (est/ước lượng)300 000 (est/ước lượng)200 000 (est/ước lượng)N/A
     
Quân Pháp ở ĐBP.2 7484 43611 7213 290
Quân VM ở ĐBP.7 900 (est/ước lượng)15 000 (est/ước lượng)N/A (ko có số liệu)N/A

20 000 of the French KIA/MIA were from main land France
with a very high proportion of NCO and Officers including 800 St Cyr graduates.

Có 20.000 chết và bị thương và bị thương là người Pháp với tỉ lệ khá cao là HSQ và SQ bao gồm 800 tốt nghiệp Trường Võ bị Saint Cyr.

Nguồn: cưu chiến binh Mỹ thuộc trại LLĐB Gia Vực, Quảng Ngải.


Sunday, December 16, 2018


Tống Văn Công - Hồ Chí Minh: Người hai mặt . . . 

Đăng bởi: Tiểu Nhi on Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018 | 16.12.18


Khi Hồ Chí Minh theo Quốc Tế III Cộng Sản, Cụ Phan Châu Trinh với tư cách là bạn của bố ông Hồ gửi lá thư đề ngày 12 Tháng Hai, 1922, cho rằng con đường đó sẽ đưa tới tình trạng “quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi.” (Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945, Amirillo, TX:Nxb Chuông Rè, 2000, tt 39-40).



Đúng vậy, chế độ của ông Hồ không cho người dân được tự do bằng chế độ thực dân Pháp. Thực dân Pháp đã cho các nhà văn thành lập Tự Lực Văn Đoàn, các nhà giáo thành lập Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ, các đảng viên Cộng Sản ra báo tiếng Việt và tiếng Pháp tuyên truyền chủ nghĩa Cộng Sản.

Do đó, trong tác phẩm Gửi Mẹ và Quốc Hội, ông già Chợ Đệm Nguyễn Văn Trấn, người vào đảng Cộng Sản từ năm 1936 đã chua xót xin đảng “cho người dân được tự do bằng với chế độ thực dân Pháp.”

Nhà bình luận người Pháp, ông Jean Francois Revel viết về Hồ Chí Minh: “Mục tiêu của ông ta không phải là nền độc lập của nước Việt Nam mà là hợp nhất với Quốc Tế Cộng Sản. Đó không phải là đem lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền lựa chọn những người lãnh đạo, luật pháp và cách sống của họ; mà là dùng cưỡng bách để áp đặt chế độ toàn trị kiểu Stalin lên dân chúng…” (Ho Chi Minh: le détournement du patriotism, trong quyển Ho Chi Minh: l’homme et son heritage, Ed. Đường mới, Paris, trang 9).

Có nhiều bài báo cho rằng ông Hồ không có ý ra đi tìm đường cứu nước. Bằng chứng là khi tới Pháp, ông Hồ đã gửi đơn xin học trường thuộc địa và bị bác đơn. Ông còn gửi đơn xin nhà nước thuộc địa cho cha mình một công việc để sống.

Ở thời bưng bít thông tin, chúng tôi không được biết những điều kể trên. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều người cao tuổi chống “đảng do Nguyễn Phú Trọng thao túng,” nhưng lại muốn quay về với đảng của Hồ Chí Minh vì cho rằng ông Hồ là người bảo vệ tự do, dân chủ!

Thực ra trong những năm 1945-1946, khi đảng Cộng Sản chưa giành được địa vị độc tôn đảng trị, Hồ đã có những phát ngôn đề cao dân chủ để thu phục nhân tâm, chống lại các đảng phái Quốc Gia. Hồ sống nhiều năm ở các quốc gia dân chủ Châu Âu, đã thuộc lòng nhiều câu về tự do dân chủ, nhưng không cảm nhận được bản chất tốt đẹp của dân chủ. Hồ nói về dân chủ chỉ để ru ngủ người dân, dẫn dụ họ tôn thờ, phục vụ đảng Cộng Sản. Hồ sống nhiều năm ở Liên Xô dưới triều đại Stalin, nhưng không nhận ra bản chất đáng ghê tởm của chế độ đảng trị, vì vậy đã cố tìm mọi cách để thiết lập và củng cố chế độ này ở nước ta. Trong khi đó, nhà văn André Gide một người từng coi Liên Xô “còn hơn là một vùng đất hứa,” nhưng sau khi đến thăm Liên Xô năm 1936, đã viết “những suy nghĩ muộn màng về Liên Xô: Phản bội lại tất cả mọi hy vọng của chúng ta. Quần chúng thì ù lì. Văn nghệ sĩ thì thụ động và kém hiểu biết về thế giới bên ngoài… Họ dành sự xa hoa để tiếp đãi tôi, trong khi xung quanh là cảnh nghèo đói.”

Ngày 16 Tháng Năm, 1946, trong lễ khai giảng Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, ông Hồ trao cho nhà trường lá cờ thêu sáu chữ “Trung với nước, hiếu với dân.” Thế nhưng, 18 năm sau, khi đã thiết lập được chế độ toàn trị trên miền Bắc, nhân ngày thành lập quân đội, 22 Tháng Mười Hai, năm 1964, ông Hồ viết: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân…” Chỉ riêng chuyện này đã cho thấy Hồ rất khôn khéo, ứng phó thích hợp với thời thế trong từng giai đoạn.

Trong quyển “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương,” với bút danh Nguyễn Ái Quốc, ông Hồ viết: “Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế, hay văn học như ta thấy ở Châu Âu và các nước Châu Á khác, chứ không phải là tờ báo do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển.” Nhưng chế độ của ông đã thiết lập một hệ thống báo chí làm “công cụ của đảng, nói tiếng nói của đảng.” Ông nói “dân chủ là người dân được mở mồm ra nói.” Nhưng Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường chỉ góp ý nên xây dựng chế độ pháp trị để giúp đảng tránh những sai lầm như cuộc cải cách ruộng đất, đã lập tức bị đưa ra đấu tố, “bị rút phép thông công” (Un excommunié – Tựa đề quyển hồi ký của Nguyễn Mạnh Tường viết bằng tiếng Pháp) rồi cho “ngồi chơi xơi nước.”

Hồ nói “chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do nhân dân cử ra.” Nhưng sống trong chế độ của ông, người Việt Nam đã nhận xét bằng một thành ngữ “đảng cử dân bầu.” Ông nói: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ.” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 283). Nhưng chính phủ của ông không chỉ làm hại dân một lần mà rất nhiều lần: Cải cách ruộng đất, Chống Nhân văn-Giai phẩm, Cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp…

Người dân làm sao để có thể đuổi cái chính phủ do đảng độc quyền lãnh đạo!

Hồ Chí Minh có bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.” Đạo đức cách mạng theo ông Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.” Nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang nhận định: “Hệ tư tưởng này chỉ thừa nhận con người cộng đồng và con người chức năng. Con người cá nhân không thể không tìm lối thoát: Nó phải sống chui. Bi kịch cá nhân của nó chính là ở chỗ này.”

Và như chúng ta đã biết, chính bản thân Hồ Chí Minh cũng không thoát khỏi được bi kịch ấy trong đời sống riêng tư của con người cá nhân ông. Sống chui là sống không hợp thức, không hợp pháp.” (Hồ Chí Minh nói về con người. Phần viết thêm, Tháng Chạp 1993).

Ông Nguyễn Tài, người từng theo ông Hồ những năm ở Thái Lan, kể với Nguyễn Kiến Giang: Trước khi ông Hồ mất ít lâu, Nguyễn Tài được vào thăm. Ông Hồ bảo ông Tài viết tặng mình đôi câu đối. Ông Hồ nói: “Kẻo sau khi mình đi rồi, có tặng, mình cũng không biết gì nữa.” Ông Tài viết: “Giao hoan bi hỉ đồng song lệ. Ân oán giao tranh huyết nhất bầu.” Ông Tài giải thích: Cái vui, cái buồn xoắn lấy nhau, đôi tròng mắt trào lệ. Chuyện ân, chuyện oán tranh nhau, vẫn một bầu máu nóng ấy. Ông Hồ rất thích đã vỗ tay khen: “Câu đối này hợp với mình lắm. Cuộc đời mình, vui cũng nhiều mà buồn cũng nhiều. Ân cũng nhiều mà oán cũng nhiều.” (Cũng lạ, nếu ông Hồ là người giỏi chữ Hán tại sao ông không biết trong chữ Hán không có chữ bầu. Bầu là một từ thuần Việt!).

Năm 1960, khi làm phóng viên báo Lao Động, nhiều lần ở các hội trường của Ban Tuyên Huấn Đảng, tôi được nghe Tố Hữu, Hoàng Tùng nói, “Trần Dân Tiên, T. Lan là bút danh của Bác.” Các vị cho rằng ông Hồ viết về mình, không phải để tự đề cao mà chỉ nhằm mục đích thực hiện một công tác cách mạng: Giúp cho quần chúng hiểu rõ và kính yêu lãnh tụ, càng thêm tin tưởng vào tiền đồ cách mạng. Tuy nhiên trong sách này, Trần Dân Tiên không chỉ đề cao Hồ Chí Minh mà còn chê bai những anh hùng dân tộc như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và đả kích những người yêu nước không Cộng Sản như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh. Cuối sách, ông Hồ gợi ý: “Nhân dân gọi chủ tịch là cha già của dân tộc, vì Hồ Chủ Tịch là người con trung thành nhất của Tổ quốc Việt Nam.”

Nhiều người nước ngoài có dịp tiếp xúc với ông Hồ đã nhận xét về thói quen đóng kịch của ông. Trong quyển sách viết về ông Hồ xuất bản năm 1968, ở trang 217, nhà báo Pháp Jean Lacouture nhận xét: “Chiếc khăn tay của ông ta thường quệt trên cặp mắt khô queo.” Theo Hoàng Tùng, trước khi hành hình Nguyễn Thị Năm-Cát Hanh Long, người ta xin ý kiến ông Hồ, ông nói: “Người Pháp cho rằng không bao giờ đánh phụ nữ dù với một nhành hoa…” Trong khi đó, với bút danh C.B., ông Hồ đã viết trên báo Nhân Dân bài “Địa chủ ác ghê,” vu cáo Nguyễn Thị Năm giết chết rất nhiều nông dân.

Trong hồi ký của mình, Giáo Sư Nguyễn Đăng Mạnh có một bài viết về ông Hồ, trong đó có đoạn: “Như đã nói, vì lý do chính trị, Hồ Chí Minh nhiều khi phải diễn kịch. Sống cứ phải ‘diễn’ như thế, kể cũng khổ… Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng rất tốt đối với tầng lớp bình dân. Nhưng với trí thức có khi lại phản tác dụng. Năm 1946, Hồ Chí Minh từ hội nghị Fontainebleau về nước, có Trần Hữu Tước và một kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu, ông Hồ diễn trò nhảy ‘son lá son’ với các thủy thủ. Quang thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không theo Hồ Chí Minh nữa… Trần Hữu Tước sau này có gặp Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.”

Chuyện ông Hồ có vợ con hay không cũng làm tốn rất nhiều giấy mực. Trong bức thư gửi Bác Sĩ Vũ Đình Tụng, người có con vừa hy sinh, ông Hồ viết: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình cũng không có con cái.”

Ngày nay, có rất nhiều tư liệu nói cụ thể về những người tình và vợ con của ông Hồ: Trong sách Hồ Chí Minh ở Paris, Thu Trang cho biết, ông Hồ từng viết những bức thư dài tán tỉnh cô Bourdon. Sử gia Daniel Hémery kể: Khi vào Đảng Xã Hội Pháp, ông Hồ có “người tình đồng chí” là Marie Briére. Rời Mạc-Tư-Khoa tới Quảng Châu, Tháng Mười năm 1926, Hồ làm lễ kết hôn với Tăng Tuyết Minh ở nhà hàng Thái Bình. Ngày 6 Tháng Sáu, 1931, khi bị cảnh sát Hongkong bắt, Hồ đang sống với một phụ nữ tên là Li San. Năm 1942, Hồ rời Cao Bằng đi Hoa Nam, đến Tháng Tám, năm 1943, Hồ trở lại Cao Bằng cùng với Đỗ Thị Lạc và đứa con gái. Trong cuốn “Một cơn gió bụi,” Lệ Thần Trần Trọng Kim có kể chuyện này.

Năm 1956, Hồ 65 tuổi đưa cô Nông Thị Xuân 22 tuổi, từ Cao Bằng về số 66 Phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, Hà Nội, để sống lén lút và sinh con là Nguyễn Tất Trung mà không dám thừa nhận. Có vợ, có con không phải là xấu, nhưng cố giấu chuyện mình có vợ có con mới là “vấn đề” và vì thế ông ta không dám bảo vệ khi vợ mình bị hãm hiếp, sát hại.

Tháng Giêng, năm 2009, trả lời câu hỏi của ông Nguyễn Vĩnh Châu: “Hồ Chí Minh có công hay có tội,” Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu đáp: “Vấn đề tùy thuộc ở những gì những người kế vị Hồ Chí Minh sẽ thực hiện trong tương lai.”

Tại sao lại phải chờ xem những người kế vị Hồ Chí Minh sẽ làm gì? Tội của Hồ Chí Minh là đã tạo ra và củng cố một chế độ độc tài đảng trị, phản dân chủ. Chế dộ đó là nguyên nhân của hai tai họa cho đất nước: Giặc ngoại xâm phương Bắc được giặc nội xâm, tức là bọn kế vị Hồ Chí Minh dâng tặng đất đai trên đất liền và các đảo ở biển Đông. Giặc ngoại xâm phương Bắc không bao giờ thỏa cơn khát bành trướng xâm lược. Lũ nội xâm, tức là bọn cầm quyền trong nước thì vơ vét của dân không từ một thứ gì!

Có lẽ Cựu Hoàng Bảo Đại, người có dịp sống gần Hồ Chí Minh những năm 1945-1946, miêu tả con người hai mặt của Hồ Chí Minh xuất sắc nhất.

Trong hồi ký “Con Rồng Việt Nam,” Cựu Hoàng Bảo Đại kể, Tháng Chín, năm 1945, những ngày đầu gặp Hồ, ông nhận thấy: “Mặc chiếc vareuse hở cổ, đi dép Bình Trị Thiên, râu cằm lơ thơ, Hồ Chí Minh giống một ông đồ nho hay một triết nhân, thích ngâm thơ phú hơn là làm chính trị. Người gầy gò mảnh dẻ, mắt sáng quắc đầy nhiệt tâm, ông có một nhãn lực lôi cuốn, vừa đạo mạo, vừa độc đáo. Lời nói cũng chan hòa nhân ái, như bác bỏ mọi bạo động, hận thù. Ông như đã nắm vững được thực tại và nhu cầu của Việt Nam lúc ấy. Ông cũng có một nhận xét sắc bén về tiến trình lịch sử, do sự tự học khá rộng rãi về các thế giới Tây phương, về Nga và Trung Hoa… Quả thật ông cụ này thành thực hăng say với nền độc lập và thống nhứt của đất nước.”

Một năm sau, ngày 15 Tháng Tư, năm 1946, bị bỏ rơi trên đất Tàu, không một xu dính túi, giở thư Hồ Chí Minh vừa mới gửi, đọc tới câu cuối: “Ôm hôn thắm thiết,” Bảo Đại bật cười và nhận xét:

“Quả nhiên, đây là tay đại hề, đóng kịch rất tài. Khi thì đạo mạo như cha già, khi thì thân thiết, rồi lại ẻo lả, yếu mềm hay nghiêm trang, trịnh trọng, nhiều khi trào lộng, mỉa mai. Tất cả những ai đã ở gần ông ta, đều tự lừa hay đã bị lầm. Người Mỹ rồi Sainteny, thêm tôi nữa… Khi tôi biết được quá khứ của ông ta sự giao dịch đã rất trơn tru. Tôi biết trước mặt tôi là ai rồi, sau cái mặt nạ này. Một chiến binh Mác-Xít, một kẻ đã chai đá sau hơn ba mươi năm chiến đấu, bị đảng chi phối, trói buộc chặt chẽ rồi, một chiến sĩ đầy thủ đoạn. Thừa khả năng chịu đựng, dám làm tất cả mọi sự lừa lọc, biết người, biết nhược điểm của họ, để khinh bỉ họ, kiên nhẫn cùng cực, và quyết theo đuổi kỳ cùng mục tiêu của mình mọi mặt, nhưng cuối cùng thì quyết liệt, rắn như sắt. Đầy tế nhị và thông minh và bất nhân đến độ bạo tàn. Lúc nào cũng sẵn sàng ôm ấp, yêu đương mình, để bóp chặt kín đáo không ai có thể ngờ.

Theo đảng Cộng Sản Mác-Xít do hoàn cảnh thực tế giai đoạn, bởi chủ nghĩa này trong chiến lược toàn cầu nhận thấy sự nổi dậy của tất cả các sắc dân bị trị, nên ông ta nhắm mắt tuân theo, không biết đến lý luận hay bàn cãi gì nữa. Khi đã vào đảng rồi, ông ta đã nhìn với nhãn quan của chủ thuyết này qua lăng kính một chiều của nó.”

Tống Văn Công *

(Người Việt)

* Ông Tống văn Công , đã từ bỏ ĐCSVN từ lâu sau khi biết bộ mặt thật của nó -- Tài .

Monday, October 1, 2018

Một loạt những cái chết bí ẩn của những Đảng Viên CSVN cao cấp .
"Năm 1934 theo lời kêu gọi của Nguyễn An Ninh, ông (Trần văn Thạch) cùng với một nhóm trí thức Tây học khuynh hướng chính trị khác nhau thành lập nhóm La Lutte (Tranh Đấu). Cộng sản Đệ Tam có Nguyễn Văn Tạo, về sau có thêm Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Nguyễn; xu hướng trốtkít (còn được gọi là Đệ Tứ) có Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Chánh; Quốc gia tả khuynh có Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch. Cần chú ý là các đảng Cộng sản trên thế giới lúc đó nằm trong hệ thống Đệ Tam Quốc tế Cộng sản do Liên Xô lãnh đạo, hoạt động theo lệnh đảng. Đệ tứ Quốc tế chỉ là một phong trào chính trị, cấp tiến, thiên tả và theo tư tưởng Trotski, không thuộc đảng phái nào. (Trần Gia Phụng, “Giới thiệu sách Trần Văn Thạch, 2014)". 
Nguồn : https://www.facebook.com/hoinhungnguoighetphandong/posts/m%E1%BB%99t-lo%E1%BA%A1t-nh%E1%BB%AFng-c%C3%A1i-ch%E1%BA%BFt-b%C3%AD-%E1%BA%A9n-c%E1%BB%A7a-nh%E1%BB%AFng-%C4%91%E1%BA%A3ng-vi%C3%AAn-csvn-cao-c%E1%BA%A5p-l%C3%A2m-%C4%91%E1%BB%A9c-th%E1%BB%A5-1890-/405339146237697/
- Lâm Đức Thụ (1890-1947=57t), tên thật là Nguyễn Công Viễn, Thư Ký Thường Trực Tổng Bộ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, là một trong mấy người sáng lập tổ chức Tâm Tâm Xã (1923), Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (1925), người cùng Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu. Bị HCM vu cho là chỉ điểm, mật thám, tay sai thực dân đế quốc… để rồi kết thúc cuộc đời trước họng súng của dân quân vào năm 1947 tại quê hương Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình mà có lẽ vì bép xép chuyện bán cụ Phan và biết quá nhiều về HCM.
- Đại Biểu QH Dương Bạch Mai (1904-1964), từng du học Pháp, Liên Xô, bị đột tử khi uống ly bia giữa 2 phiên họp Quốc Hội trước khi đọc diễn văn phản đối xã hội kiểu trại lính của Trung Quốc.
- Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967), Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam, bút hiệu Hạ Sĩ Trường Sơn (Con trai út là Nguyễn Chí Vịnh, năm 2010 là Trung Tướng, nguyên Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 2, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, từng bị tố cáo về tư cách và những thủ đoạn chụp mũ phe đối lập. Vợ là Nguyễn Thị Cúc, có 4 con, nhưng khi hoạt động trong Nam có vợ 2 và thêm con trai là Nguyễn Hữu Nghĩa, Nghĩa được đưa về thành phố sinh sống, khi lớn đi sĩ quan VNCH, tỵ nạn CS qua Canada, làm báo Làng Văn…).(*) Ghi chú thêm xem bên dưới.
Nguyễn Chí Thanh bị chết thình lình sau khi dùng cơm chia tay với HCM ở Phủ Chủ Tịch về nhà, thì đêm hôm đó, gần sáng ngày 6/7/1967 bị ói ra máu chết, đúng ngày định trở lại miền Nam lần thứ 2 (nhà cầm quyền nói chết vì bệnh tim). Theo Nguyễn Thanh Hà, con thứ 2, gái trưởng của Nguyễn Chí Thanh, viết bài “Kỷ Niệm Về Cha Tôi” đăng trên báo Thanh Niên, Việt Báo tại VN năm 2007, trong có đoạn:
Khi ba từ miền Nam ra, cả nhà được báo trước đứng chờ ba ở cửa – mệ, mẹ, mấy chị em và tất cả mọi người. Chờ mãi không thấy, sau lâu lắm mới thấy ông về, ba bảo: “Ba phải vào thăm và báo cáo tình hình với Bác trước hết, rồi mới về nhà được”. Mấy tháng sau, vào hôm trước khi ông lên đường vào Nam lần thứ 2, cả nhà chờ cơm rất muộn, hỏi ra mới biết, ba được Bác gọi vào ăn cơm chia tay, cơm xong phải đi gặp một vài người bàn nốt công việc. Sau đó không hiểu sao, ông lại quay vào Phủ Chủ Tịch, ngồi dưới nhà sàn, lưu luyến mãi không muốn về. Ông nói với chú Vũ Kỳ: “Tôi đi lần này chắc sẽ hoàn thành việc Bác giao, chỉ băn khoăn một điều là sức khỏe của Bác…”. Không ngờ sáng sớm hôm sau ba mất, không thực hiện được ước mơ của mình là đưa Bác vào Nam thăm đồng bào chiến sĩ…
Theo cuốn “Giọt Nước Trong Biển Cả”, trang 420, của Hoàng Văn Hoan, thì kẻ nắm rõ âm mưu sám sát này là Trung Tướng Nguyễn Văn Vịnh (hình bên), sau chỉ bị giáng xuống Thiếu Tướng, không đưa ra công khai vì sợ lột trần tội ác của Lê Duẩn và xấu mặt cả đảng.
- Cựu Đại Sứ MTGPMN tại Paris, CSVN tại Liên Hợp Quốc Đinh Bá Thi (1921-1978), tên thật là Hồ Đản, sau khi hoạt động tình báo tại Hoa Kỳ bị lộ, bị sát hại qua tai nạn xe hơi tại Phan Thiết.
- Đại Tướng Chu Văn Tấn (1909-1984), nguyên là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bị cho là theo phe Hoàng Văn Hoan.
- Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái (1915-1986), có mặt trong đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân, sui gia với Võ Nguyên Giáp. Khi chuẩn bị lên làm Bộ Trưởng Quốc Phòng thay thế Văn Tiến Dũng thì chết đột ngột chết ngày 2/7/1986. Trước khi chết, chính Hoàng Văn Thái nói với vợ “Người ta giết tôi.”. Có tin là bị Lê Đức Thọ sát hại vì e ngại người khác phe sẽ khui ra nhiều chuyện của Dũng và Thọ… để đưa Đại Tướng Lê Đức Anh lên vào tháng 2/1987.
- Đại Tướng Lê Trọng Tấn, tên thật là Lê Trọng Tố (1914-1986), Viện Trưởng Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân VN, Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân dân Việt Nam, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam. Chết thình lình ngày 5/12/1986. Có tin cũng bị Lê Đức Thọ sát hại khoảng 5 tháng sau khi sát hại Hoàng Văn Thái.
- Thượng Tướng Đinh Đức Thiện (1913-1987), người hùng đường mòn Hồ Chí Minh, Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần, Phó Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải, tên thật là Phan Đình Dinh, em ruột của Lê Đức Thọ (tên thật là Phan Đình Khải, 1911-1990, Bí Thư Thường Trực Ban Bí Thư, phụ trách tổ chức kiêm Trưởng Ban Chính Trị Đặc Biệt) (*), và là anh của Mai Chí Thọ (tên thật là Phan Đình Đống, 1922-2007, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, Đại Tướng Công An). Khi thấy Lê Đức Thọ tác oai, tác quái, tùy tiện bắt giam nhiều đồng chí cao cấp không cần chứng cứ, không cần xét xử, Đinh Đức Thiện đã phải nói với anh mình rằng: “Anh không thể làm những việc thất đức như thế được. Anh đừng có làm nhục dòng họ Phan, anh không lo rồi họ đào mả bố chúng ta lên à?” thì bị “lạc đạn” chết trong lúc đi săn, nhưng nhà cầm quyền nói là tai nạn giao thông. Mộ của Lê Đức Thọ chôn ở nghĩa trang hàng đầu là Mai Dịch ở Hà Nội vẫn bị có người đem phân đến ném nên sau phải đưa về quê ở Nam Định!. Họ Phan Đình với 3 anh em đều lên đến tột đỉnh danh vọng thế mà đều tuyệt tự!?
(*) Lê Đức Thọ cùng Lê Duẩn chủ trương chiếm miền Nam bằng bạo lực, đàn áp đối lập trong đảng. Thọ là người họp bàn với Henry Kissinger về Hiệp Định Paris 1973. người nắm Ban Tổ Chức Trung Ương đảng CSVN sắp xếp mọi việc quan trọng và đưa nhóm thiếu trình độ Lê Đức Anh – Đỗ Mười lên cầm quyền, là nhóm hèn nhát trong đảng CSVN qụy lụy Trung Quốc… Nên Thọ bị nhiều người ghét, thậm chí căm thù. Theo tác giả Trần Nhu, Ban Tổ Chức Trung Ương gồm: – Ban Kiểm Tra Trung Ương Đảng thời Lê Đức Thọ do Trần Quyết làm Trưởng ban. – Ban Nội Chính Trung Ương Đảng do Hoàng Thao làm trưởng ban. – Ban Bảo Vệ Bộ Chính Trị do xếp Nguyễn Đình Hưởng. – Ban Chỉ Đạo Trung Ương Đảng do xếp lớn Nguyễn Đức Tâm. – Ban Bảo Vệ Đảng đứng đầu là Nguyễn Trung Thành. – Cục Chính Trị Trung Ương Đảng: ông Kim Chi, quan lớn có bóng không có hình.
Nhưng tất cả những kẻ đứng đầu các tổ chức ngầm đan chéo trên cũng chỉ là những chuyên viên của các bộ môn trong ngành mật vụ giúp việc cho Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng Lê Đức Thọ mà thôi.
Nhiệm vụ của nó là thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ các ủy viên trung ương đảng, thẩm tra các ủy viên Bộ Chính Trị, xem xét về mặt chính trị, tư tưởng của các cán bộ dự kiến bầu vào Ban chấp hành trung ương đảng, Bộ Chính Trị, và kiện toàn bộ máy đảng, bộ máy nhà nước, tổ chức chỉ đạo quốc hội, các cơ quan nhà nước, tổ chức chỉ đạo các đoàn thể ngoại vi như Mặt Trận Tổ Quốc, Ban Tôn Giáo; đặc biệt là kiểm soát, giám sát chặt chẽ quân đội từ Bộ Quốc Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu đến các Quân Khu, Sư Đoàn, Trung Đoàn đều có Ban Bảo Vệ Cục Chính Trị đặt dưới quyền chỉ đạo của Cục An Ninh Bộ Nội Vụ.
Chính Cục An Ninh Bộ Nội Vụ này theo lệnh của Lê Đức Thọ đã cho mật vụ giết Đại Tướng Hoàng Văn Thái vào khoảng 1986,
và năm sau lại giết Đại Tướng Lê Trọng Tấn, đồng thời bắt hàng loạt các sĩ quan cao cấp trong Bộ Quốc Phòng…
Bề ngoài, TBT Lê Duẩn là quyền lực cao nhất, nhưng thực chất bên trong là ông vua không ngai Lê Đức Thọ. Cũng theo Trần Nhu: Thí dụ như trường hợp Đại Tướng Võ Nguyên Giáp có mấy đứa con học ở nước ngoài đều bị mật vụ của Thọ chiếu cố tận tình, như Võ Điện Biên học ở Đông Đức, Võ Thị Hòa Bình học ở Ba Lan, Võ Thị Hồng Anh học ở Nga. Do những hệ luỵ này mà tướng Giáp phải trả giá quá đắt.
Chúng ta cũng biết con gái của Tổng Bí Thư Lê Duẩn là Lê Vũ Anh, học ở Nga, vì lấy viên sĩ hàn lâm học Maslov, mặc dù đã có 3 con với nhau, vẫn bị mật vụ của Thọ giết chết một cách rất thảm chỉ vì cái luật quái gở cấm các sinh viên không được lấy người nước ngoài. Luật này không thành văn, mà chỉ là luật miệng giữa các lãnh tụ với nhau.
- Trung Tướng Phan Bình (1934-1987), Cục Trưởng Cục Quân Báo, sau khi vừa bị Lê Đức Anh tước mất quyền, bị giết bằng cách bắn vào đầu ngày 13/12/1987 tại Sài Gòn, nhưng nhà cầm quyền cho là tự sát, 1 tháng sau con trai cũng trong quân báo, cũng bị hãm hại sau khi ép vào bệnh viện với lý do “tâm thần”.
- Thủ Tướng CSVN Phạm Hùng? (1912-1988), tên thật là Phạm Văn Thiện, tại nhiệm 1987-1988. Chết đột ngột (vì bệnh tim) ngày 10/3/1988 tại Sài Gòn, khi đang tại chức.
- Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám (1948-2008), đặc trách tình báo gián điệp đột tử trong lúc khỏe mạnh và đi công tác đó đây liên tục vào ngày 12/12, mà ngày 15/12, các cơ quan truyền thông mới được đồng loạt loan tin là chết sau một thời gian dài lâm bệnh, mà không nói bệnh gì!?…
Nhiều tin đồn cho rằng bị đầu độc? Tháng 12/2008, sau khi thăng chức từ Trung Tướng lên Thượng Tướng thì mươi ngày sau ông bị chết bất đắc kỳ tử. Trước đó, từ năm 2006 đã có thư của Phạm Gia Khánh, tự xưng là cán bộ trong Tổng Cục An Ninh, tố cáo TT Thi Văn Tám tham nhũng, đã đưa dự án về cục A35, trị giá nhiều chục tỷ đồng, rồi ông trực tiếp phụ trách. Người tố cáo, có tin là do tranh giành quyền lực, đã gửi thứ tới đích danh Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Lê Hồng Anh v.v…
Các trường hợp kết án, trù dập khác.
- Ủy Viên Bộ Chính Trị, Phó Chủ Tịch Quốc Hội Hoàng Văn Hoan(1905-1991), Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Chính Trị Viên Vệ Quốc Quân Toàn Quốc. Từ năm 1950 đến năm 1957, làm Đại Sứ đầu tiên của CSVN tại Trung Quốc kiêm Đại Sứ tại Triều Tiên và Mông Cổ. Sau bị trù dập, nên năm 1979, nhân một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn qua Trung Quốc, bị kết án tử hình khiếm diện về tội phản quốc, sau mất tại TQ, chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, sau này một phần hài cốt được đem về nước. Là tác giả cuốn “Giọt Nước Trong Biển Cả” xuất bản năm 1988, tố giác chế độ độc đoán Lê Duẩn…
- Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2011), Bộ Trưởng Quốc Phòng, bị nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn cho là theo xét lại của Liên Xô và chống đảng, tìm cách hạ bệ qua vụ án “Xét Lại Chống Đảng” năm 1967, có tên chính thức là “Vụ án Tổ chức chống đảng, chống nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài.”. Võ Nguyễn Giáp bị bắt lỗi từ việc nhận 1 lá thư của TĐS Liên Xô mà không báo cáo theo nội quy đảng… Năm 1980, Võ Nguyễn Giáp bị thôi chức Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng. Năm 1983, bị hạ nhục khi cho làm Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Gia Dân Số và Sinh Đẻ Có Kế Hoạch khi ủy ban này được thành lập, năm 1991, chính thức nghỉ hưu. Có lúc nhóm Lê Duẩn còn định quản chế Giáp ở một nơi biệt lập. Từ khoảng năm 1965, 67, hàng 50 năm sau cùng của đời ông, Giáp thường chỉ ra mặt mang tính hình thức, không có quyền hành gì (Vụ Tổng Công Kích Mậu Thân năm 1968 hay Chiến Dịch Hồ Chí Minh năm 1975 kể như không có Giáp, còn bị nhóm cực đoan giáo điều Lê Duẩn cho là hèn nhát). Vì vậy mới có thơ: Ngày xưa Đại Tướng cầm quân, Ngày nay Đại Tướng cầm quần chị em!
Đùng một cái Võ Nguyễn Giáp theo Sắc Lệnh số 110/SL ngày 28/5/1948, được Hồ Chí Minh đưa lên làm “Đại Tướng”, đùng một cái mất hết! Cho thấy thực ra Giáp cũng chẳng có tài cán và thế lực gì đặc biệt. Phần lớn thành tích đều là tuyên truyền và chiến công đều bằng sự hy sinh xương máu của hàng trăm ngàn bộ đội và dân chúng. Về “Chủ Nghĩa Xét Lại”:
Vào tháng 9/1953, Nikita Khrushchev (1894-1971) được bầu làm Bí Thư Thứ Nhất Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô. Năm 1956, tại Đại Hội Lần Thứ 20 Đảng Cộng Sản Liên Xô, ông đã đọc báo cáo phê phán nặng nề sự tàn ác vô song và sự sùng bái cá nhân của I. V. Stalin (1879-1953). Vì thấy đối đầu với Tư Bản quá mạo hiểm và không dễ gì thắng, Khrushchev chủ trương thay vì tận diệt Tư Bản thì chung sống hòa bình. Các đoàn đại biểu CS các nước khi đi dự thì đều tàn thành, nhưng khi về nước rồi thì một số ngả theo lời kêu gọi Mao Trạch Đông (1893-1976), Trung Quốc, chống lại và gọi đó là “Chủ Nghĩa Xét Lại”. Thế giới CS chính thức chia đôi vì ý thức hệ từ đó.
Đây là một biến cố rất lớn, ảnh hưởng tới đường lối của đảng CSVN vì khi đó tại VN đang sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh và diễn ra Cải Cách Ruộng Đất long trời lở đất, giết người rất gay gắt. Nhờ vậy mà vụ giết người dần dần dừng lại, nhận sai lầm…
Nhưng sau khi Lưu Thiếu Kỳ qua VN thì CSVN ngả hẳn theo TQ. Tại Hội Nghị Trung Ương lần thứ IX cuối năm 1963, các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đã lên án “Chủ Nghĩa Xét Lại”, đứng về phía Trung Quốc và ra Nghị Quyết 9 (trong bí mật) chủ trương đẩy mạnh công cuộc tiến chiếm miền Nam bằng vũ lực. Những bất đồng trong nội bộ đảng nổ ra năm 1963-64 và tiến tới đợt bắt giữ nhóm thân Liên Xô vào năm 1967.
- Ung Văn Khiêm (1910-1991), khi đó là Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao, bị mất chức vì quy cho là trách nhiệm vụ thảo bản Tuyên Bố Chung năm 1963, với lập trường ủng hộ Liên Xô mà Hồ Chí Minh duyệt rồi ký với lãnh tụ đảng CS Tiệp Khắc Antonín Novotný…
Năm 1967, vụ đàn áp lên cao độ, hàng chục các bộ cấp Chính Trị Bộ, Trung Ương Đảng, Tướng Tá bị bắt không xét xử, hầu hết bị giam cầm đến năm 1973…
Năm 1954, Lê Duẩn lén ở lại trong Nam, năm 1957, Lê Duẩn từ Nam ra Bắc, năm 1960, năm vai trò TBT bên cạnh Chủ Tịch HCM. Duẩn là người đầy uy quyền, xưng tôi với HCM, bài viết đôi khi tỏ ý có cao kiến hơn cả HCM, là điều không thấy ở bất cứ nhân vật cao cấp CS nào khác, mọi người vẫn phải đến xin chỉ thị kể cả khi Duẩn nằm trên giường bệnh và đã tại vị đến chết, sau đó đảng CSVN mới định nhiệm kỳ.
Nhưng từ năm 1972 trở đi, TQ bắt tay với Hoa Kỳ, lạnh nhạt với CSVN nên CSVN quay ra thân mật với Liên Xô. Năm 1979, Lê Duẩn đoạn tuyệt với Trung Quốc, trục xuất khoảng 200.000 người Hoa và đi tới chiến tranh với TQ tại biên giới và trên biển.
- Đại Tướng Văn Tiến Dũng (1917-2002), Ủy Viên Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CSVN, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân, tư lệnh “Chiến Dịch Hồ Chí Minh” chiếm miền Nam năm 1975. Tác giả cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” ra vào tháng 5/1976. Từ tháng 12/1980 đến 1986, ông giữ chức Bộ Trưởng Quốc Phòng. Thuộc phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ. Vợ là Nguyễn Thị Kỳ (tên thật là Cái Thị Tám), cũng là cán bộ CS. Sau năm 1975, khi nắm quyền tột đỉnh, hai vợ chồng ngang nhiên tham nhũng, dùng cả quân xa của đơn vị H12, H14 thuộc Tổng Cục Hậu Cần cướp tài sản quân đội… miền Nam chở ra Bắc và máy bay vận tải quân sự như Antonov An-24 hay An-26 buôn lậu hàng từ Bắc vào Nam bán cho người Hoa… Năm 1986, trong Đại Hội Đảng Bộ Toàn Quân, Dũng bị chỉ trích là tướng lãnh mà đi buôn lậu gây tai tiếng chưa từng có cho quân đội nên không được bầu làm Đại Biểu Chính Thức đi dự Đại Hội Đảng VI (dù Lê Đức Thọ bênh vực Dũng, đòi bỏ phiếu lại nhưng vẫn không đủ túc số). Ngay sau đó, Dũng mất ghế trong Bộ Chính Trị và mất chức Bộ Trưởng Quốc Phòng. Từ năm đó cho tới khi chết, tuy được coi là một “tướng tài”, không được nắm giữ bất cứ chức vụ nào và hầu như không còn được nhắc nhở tới nữa.
- Thượng Tướng Trần Văn Trà (tên thật là Nguyễn Chấn, 1919-1996), Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn – Chợ Lớn; Tư lệnh Khu 7 (1949-1950); Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân khu Miền Đông Nam Bộ (1951-1954). Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, giữ chức Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân VN (1955-1962), Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Quân Huấn (1958)… Từ năm 1963, Trần Văn Trà được cử vào Nam làm Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam (1963-1967 và 1973-1975), Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam (1968-1972), Phó Bí Thư Quân Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam. Sau Hiệp Định Paris (1973), làm Trưởng Đoàn Đại Biểu Quân Sự Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tại Ban Liên Hiệp Đình Chiến 4 bên ở Sài Gòn. Sau 30/4/1975, Trần Văn Trà lảm Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn. Khi về hưu, tham gia Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ, nhưng sau được đảng phủ dụ nên tách ra. Viết hồi ký “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm” (có ý chê trách trung ương thiếu hiểu biết tình hình thực tế) bị phê bình “qua mặt” trung ương, cấm xuất bản nên chí có ấn bản dở dang.
- Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh (1927-), chính ủy Sư Đoàn 304 Tây Nguyên, Bí Thư Đảng Ủy Sư Đoàn 3, Quân Khu 5, tháng 6/1978, làm Viện Trưởng, Bí Thư Đảng Ủy Học Viện Your browser may not support display of this image.Chính Trị Quân Sự. Từ tháng 4/1979 đến năm 1996, Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân VN, Ủy Viên Quân Ủy Trung Ương… Đứng tố giác Tổng Cục 2 lợi dụng chức vụ vu oan giá họa các đồng chí cao cấp kể cả Võ Nguyên Giáp… nên bị trù dập.
- Trung Tướng Trần Độ, tên thật là Tạ Ngọc Phách (1923-2002), năm 1946, ở tuổi 23, làm Chính Ủy Mặt Mrận Hà Nội. Năm 1950, làm Chính Ủy Trung đoàn Sông Lô, rồi Chính Ủy Đại Đoàn (SĐ) 312. Năm 1955, Trần Độ lúc 32 tuổi là Chính Ủy Quân khu 3 (Quân Khu Tả Ngạn) và đến năm 1958 được phong hàm Thiếu Tướng, năm 1974, được phong hàm Trung Tướng… Ông còn làm Phó Chủ Tịch Quốc Hội khóa 7, Chủ Nhiệm Ủy Ban Văn Hóa và Giáo Dục của
QH. Ông là Tướng võ kiêm văn, có tư tưởng cải cách, cởi mở. Thời Đổi Mới, “cởi trói” tư tưởng của TBT Nguyễn Văn Linh, ông thuộc Ban Văn Hóa Đảng, là người soạn Nghị Quyết số 5, được Bộ Chính Trị thông qua vào tháng 12/1986, cho phép tự do sáng tạo và sách báo được lưu hành dễ dãi hơn nếu không có nội dung “phản động”… từ đó nhiều tác phẩm bị cấm như của những nhân vật trong Phong Trào Nhân Văn – Giai Phẩm… được tái bản. Nhưng khi Đông Âu lung lay và phong trào sinh viên xuống đường nổ ra ở Thiên An Môn, đảng CSVN e ngại sụp đổ theo, bắt đầu xiết lại. Tháng 3/1989, trong cuộc họp kỳ 6 của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CSVN, Nguyễn Văn Linh đòi đình chỉ những “cởi trói” trong 3 năm vừa qua. Trần Độ vẫn ủng hộ tiến trình nới lỏng, tạp chí “Phê Bình và Dư Luận” do ông chủ trương, có nội dung đả trích nhà cầm quyền, nên sau khi ra được 1 số thì bị cấm. Trần Độ bị chỉ trích và bị Lê Đức Thọ cách chức, khai trừ năm 1999 (lúc đó 58 tuổi đảng).
Sau viết “Nhật Ký Rồng Rắn” lên án chế độ CS không tiếc lời, bị công an theo tịch thu khi trên đường đi sao ra nhiều bản, nhưng ông còn bản gốc, đã phổ biến khắp nơi, bị cấm xuất bản trong nước. Trong có đoạn: “… Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xóa bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã. Nhưng lại xây dựng nên một xã hội chưa tốt đẹp, còn nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, của một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…”.
Khi chết tang gia không được đề quân hàm “Trung Tướng”, vòng hoa phúng của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị gỡ chữ “Đại Tướng” ra.
- Thiếu Tướng Lê Thiết Hùng, tên thật là Lê Văn Nghiệm, (1908-1986), theo Lê Hồng Phong qua Thái Lan, rồi theo lệnh tổ chức, tham gia quân đội Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch làm tới Đại Tá, 2 lần sang Nhật gặp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, làm chính trị viên đội vũ trang đầu tiên gồm 12 người, Tư Lệnh Binh Chủng Pháo Binh, Hiệu Trưởng Trường Lục Quân Việt Nam, Cục Trưởng Cục Quân Huấn, Tổng Thanh Tra Quân Đội, là tướng được phong đầu tiên…, bị bắt vì cho là cùng phe Võ Nguyên Giáp.
- Thiếu Tướng Đặng Kim Giang (1910-1983), bị Pháp bắt kết án giam 12 năm tù, Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần Quân Đội NDVN, tham gia trận Điện Biên Phủ 1954, Đại Biểu Quốc Hội, bị bắt giam 6 năm (có lúc cũng tại Hỏa Lò nơi bị Pháp giam) và 7 năm quản chế vì cho là chủ trương chia ruộng đất và khuyến khích tư sản, theo xét lại cùng phe Võ Nguyên Giáp. Năm 1995, tức gần 30 năm sau, bà Nguyễn Thị Mỹ, 77 tuổi, vẫn còn đi khiếu nạn về trường hợp của chồng. Trong thư kêu cứu có đoạn: Tôi đã có đến ông Lê Đức Thọ và ông Trần Quốc Hoàn. Ông Trần Quốc Hoàn tránh không tiếp. Tôi nói với ông Lê Đức Thọ:
“Anh Giang phạm tội gì mà các anh còng tay, còng chân mang đi? Sao đối xử với nhau tệ thế? Có phải gián điệp của đế quốc không? Nếu phải, đem xử bắn. Mẹ con tôi tán thành”.
Ông Thọ nói:
“Không phải. Đây là cuộc đấu tranh nội bộ, không đem ra xử công khai được. Chị cứ yên tâm. Chúng tôi không bỏ tù nhau đâu. Thuyết phục nó không được, phải dùng biện pháp hành chính. Khi nào nó nghe ra sẽ về thôi. Cửa nhà tôi lúc nào cũng rộng mở. Chị có khó khăn gì cứ đến.”.
Thật ra cánh cửa đó đã vĩnh viễn sập lại sau lưng tôi kể từ ngày đó…
Gần Đại Hội 5, chồng tôi đang bị nhồi máu cơ tim, viết một lá đơn khiếu oan, trình bày khúc chiết vấn đề này, đề nghị Đại Hội cử một tiểu ban kiểm tra lại và có kết luận rõ ràng vì đây là một vụ án lớn nhất từ trước đến nay có liên quan đến nhiều người: có ủy viên Bộ Chính Trị, có ủy viên Trung Ương, có Bộ Thứ Ttrưởng, có Tướng Tá và cán bộ cao cấp…
Lá đơn đó được gửi đến cho các ủy viên Trung Ương Đảng, cho Đại Hội 5, cho Ban Bí Thư, cho Tổng Bí Thư v.v…
Sau đó, tháng 9/1982, chồng tôi lại bị bắt trở lại, “về tội tán phát đơn khiếu nại làm mất uy tín của đảng”. Lần này chồng tôi bị đưa đi giam cầm tại Nam Định 8 tháng…
Chúng tôi có 7 con. Sau khi cha bị buộc tội thì mỗi đứa con một thảm kịch. Đây là một cuộc “tru di tam tộc”…
Từ năm 1980, gia đình Đặng Kim Giang hơn 10 người sống chen chúc trong một túp nhà tranh vách đất rách nát 14 mét vuông… và Giang chết trong khi nước mưa dột rơi vào người.
- Thiếu Tướng Lê Quảng Ba, tên thật là Đàm Văn Mông, dân tộc Tày (1914-1988), nguyên Tư Lệnh đầu tiên Quân Khu Việt Bắc năm 1949, năm 1951, làm Đại Đoàn Trưởng đầu tiên Đại Đoàn 316, bị kết tội cùng phe Hoàng Văn Hoan (?). – Thiếu Tướng Chánh Thanh Tra Bộ Công An Trần Văn Thanh(1953-, vì tố tham nhũng). – Ủy Viên Bộ Chính Trị, từng du học Liên Xô 5 năm, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An (1937-), nhiệm kỳ 2001-2006, phê bình tính mất dân chủ trong đảng, đòi thực thi dân chủ, hình bên.

Saturday, March 10, 2018


- Chúng ta đang sống trong 1 đất nước gồm toàn ng mù , được lãnh đạo bởi 1 nhóm ng điên .- Đại văn hào Shakespeare . (Cụ đã mô tả chính xác ĐCSVN) .
- Thành phố La-Mã không thể xây trong 1 đêm -- Châm ngôn Tây phương .
- Các lãnh đạo VN nói rất nhiều và rất giỏi nhưng làm rất ít hay ko làm gì cả .- Lý Quang Diệu .
- Những ng cổ vỏ cho TQPL là thoái hóa .- N. Phú Trọng .
- VN ko cần báo chí tư nhân .- N.Tấn Dũng .

1/ "Loạn thần kinh (psychosis) là 1 bịnh tâm thần , do thiếu tiếp xúc với THỰC TẾ" , theo wiki .
Theo định nghĩa này thì hầu hết những người lãnh đạo tại VN đều có triệu chứng loạn thần kinh - do họ ngại hay ít tiếp xúc hay ko bao giờ tiếp xúc với thực tế - như các ng cầm quyền các nước DÂN CHỦ thực hiện thường xuyên như trực tiếp đi thăm dân (có hay ko có cận vệ) , hay dựa vào báo chí tư nhân , các thăm dò dư luận (poll , survey) , v.v...
Họ thiếu tiếp xúc với thực tế : khi ko cần biết dân oán than thế nào khi giá xăng , điện , v.v... ngày càng tăng ; khi không cần biết dân oán ra sao khi ng thân họ bị CA đánh chết hay gây thương tích ; khi ko chấp nhận báo chí tự do , đối lập , sự thật . . .
Họ cũng SỢ bất cứ gì liên quan hay dẫn tới dân chủ như : Tam quyền phân lập , nhà nước pháp quyền , bầu cử tự do , báo chí tư nhân , sợ biểu tình dù chỉ có vài ba người hay dập tắt từ trứng nước các âm mưu biểu tình , v.v...
2/ Ngoài ra , theo y văn , ng bịnh tâm thần thường có : a/ Những SỢ HÃI (phobia) VÔ CỚ như nghĩ ng khác hại mình , nói xấu mình, v.v.. b/ Họ cũng NGHI NGỜ mọi thứ . c/ Nói trước quên sau , PHỦ NHẬN những gì mình đã nói , đã ký kết , v...
Và họ còn nhiều biểu hiện khác như HOANG TƯỞNG (nghĩ mình có thể làm 1 việc vĩ đại mà ko có bất cứ đầu tư hay chuẩn bị nào cho việc đó) dẫn đến "TRÁI NÚI ĐẺ RA CON CHUỘT" , hay "NỔ VĂNG MIỂNG" , hay NÓI DỐI như cuội (mà ko biết ngượng) , hay KHÔNG BIẾT NHỤC , v.v... vì họ ko ý thức về những gì họ đã làm .
Chỉ cần dựa vào ba triệu chứng a , b và c mà thôi , ta cũng có thể nói hầu hết những ng cầm quyền tại VN đều bị bịnh tâm thần .
Không biết chẩn đoán của lang vườn này có đúng ko ? Nhờ các vị BS góp ý . Cám ơn ,
TB . Dù bài này tôi viết đã lâu nhưng gần như đều đúng với các lãnh đạo CS quốc tế và VN bao gồm Stalin , Mao , HCM , Lê Duẩn , Nguyễn Phú Trọng . . . và gần nhứt là Đinh la Thăng . Người bị dân chửi nhiều nhất là BT Nguyễn thị Kim Tuyến .
Ảnh : bà TT Merkel đi thăm 1 trại tị nạn - mà phần lớn là dân Hồi giáo - và chụp selfie , ảnh cuối , đi chợ .

Thursday, February 22, 2018

Sửng sốt và buồn nôn khi thấy cuốn sách


Nguồn : http://www.tintuchangngayonline.com/2016/02/sung-sot-va-buon-non.html

clip_image001

Thời công nghệ thông tin, dễ dàng tìm thấy trên mạng đầy ắp thông tin, tư liệu, tác phẩm văn học, tác phẩm nghiên cứu... Vậy mà đến bây giờ tôi vẫn còn giữ thói quen hàng tháng dành một buổi cuối tuần ghé vào nhà sách chọn mua vài cuốn để làm bộ sưu tập cho tủ sách của mình. Lần này, vào nhà sách, tôi đã phải sửng sốt không tin ở mắt mình khi thấy một cuốn sách dày gần 800 trang, như cuốn tự điển, với tựa “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt”, trên bìa in trang trọng ảnh chân dung Đặng Tiểu Bình.

Không sửng sốt sao được, vì người được suy tôn có trí tuệ siêu việt và được Nhà xuất bản Lao động trân trọng in sách phát hành rộng rãi cho độc giả Việt Nam ngưỡng mộ, tôn sùng đó chính là một lãnh tụ của Trung Quốc trực tiếp có nợ máu với đất nước và nhân dân Việt Nam. Nhà xuất bản Lao động và người duyệt cho lưu hành cuốn sách này chắc đã quên lời phát biểu ngông cuồng của kẻ có “trí tuệ siêu việt” này hồi tháng 12-1978 trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á, chửi bới, đe dọa, xúc phạm nặng nề đất nước và con người Việt Nam, được Trung Quốc truyền hình trực tiếp cho cả thế giới: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học!”. Và rồi chỉ 2 tháng sau đó, ngày 17-2-1979, chính kẻ này đã ra lệnh xua hơn 600.000 quân Trung Quốc mở cuộc tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, thực hiện kế hoạch chiếm 5 tỉnh - thành lớn của Việt Nam sau một tuần. Để rồi quân xâm lược Trung Quốc buộc phải rút lui một cách thảm hại. Thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, thì Đặng Tiểu Bình đã nhận được bài học đắt giá cho chính mình, hơn 62.000 quân xâm lược Trung Quốc bỏ mạng sau 3 tuần động binh.

Chẳng làm sao kể xiết mưu đồ và tội ác của Đặng Tiểu Bình đối với nước ta, vậy mà trong cuốn sách này, Đặng Tiểu Bình được tán dương bằng những ngôn từ có cánh: “nhãn quan thế giới”, “người mác xít chân chính”, “thống soái đại quân”, “nhà chiến lược lớn”, “cầm cương chỉnh đốn bằng bàn tay sắt”, “bậc thầy lớn trong nghệ thuật lãnh đạo”… Cũng không lạ, bởi đây là sách dịch của Trung Quốc. Nhưng vấn đề là trong bối cảnh nhà cầm quyền Trung Quốc ngày càng lộ rõ bộ mặt trâng tráo, lòng dạ hung ác, hành động ngang ngược với Việt Nam, có cần và có nên dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này cho người Việt Nam hay không? Việc dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này ở Việt Nam nhằm mục đích gì và để cho ai? Biết là sách dịch, nhưng việc trong sách liên tục dùng các cụm từ “Đảng ta”, “quân đội ta” để nói về đảng và quân đội của Trung Quốc, làm độc giả Việt Nam phải buồn nôn, vì tưởng như đất nước Việt Nam đã về tay Trung Quốc.

Sách ghi tên Nhà xuất bản Lao động, nhưng lại kèm theo tên Công ty Sách Panda, và bìa trong có ghi rõ “Bản quyền tiếng Việt thuộc Công ty TNHH Sách Panda”. Cuốn sách gần 800 trang, giá chỉ 100.000 đồng, thật đáng ngờ. Có “nhà tài trợ lạ” nào không cho việc dịch và xuất bản, tái bản cuốn sách này?

(Facebooker)

Lời nói thêm của Bauxite Việt Nam

Cuốn “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt” không chỉ có bản in trên, mà còn có thêm một bản cũng của nhà xuất bản Lao động:

clip_image002

Và một bản nữa của nhà xuất bản Văn hóa Thông tin:

clip_image003

Ngoài ra, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin còn in thêm hai cuốn sách khác ca ngợi Đặng Tiểu Bình.

clip_image004

clip_image005

Cần lưu ý, cuốn “Cha tôi, Đặng Tiểu Bình” còn được nhà xuất bản Thế giới cho in:

clip_image007

Nhà xuất bản Trẻ “đóng góp” một cuốn:

clip_image008

Nhà xuất bản Khoa học xã hội cũng một cuốn:

clip_image009

Hăng hái nhất có lẽ là nhà xuất bản Thanh niên, in hẳn bốn bản sách về Đặng Tiểu Bình:

clip_image010

clip_image012

clip_image013

clip_image014

Cơn lốc sách về Đặng Tiểu Bình thậm chí còn cuốn hút vào đó cả nhà xuất bản Chính trị Quốc gia:

clip_image015

Tất nhiên, chúng tôi không nói rằng tuyệt nhiên không nên xuất bản sách về Đặng Tiểu Bình. Nhưng xuất bản loại sách tuyền ca ngợi một tên “chính danh thủ phạm” phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thì người xuất bản đứng trên quan điểm của ai? Và việc in hàng loạt cuốn sách như thế liệu có bình thường không?

(Bauxitevn)