Showing posts with label năm 1965. Show all posts
Showing posts with label năm 1965. Show all posts

Saturday, July 25, 2026

 ( 1965 ) - CAO NGUYÊN GIA LAI - QUÂN ĐOÀN 2 VNCH .

18 Tháng Mười Một 20207:10 CH(Xem: 7239)
Trận Đức Cơ - Cao Nguyên Gia Lai - Quân Đoàn 2 VNCH
(4/8/1965 - 15/8/1965)
Trong năm 1963 Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ dự trù hoàn tất kế hoạch bành trướng lực lượng Dân Sự Chiến Đấu (DSCĐ) mà phía Mỹ thường gọi là CIDG tại VN từ 50,000 người lên đến 125,000 người để trấn giữ 49 trại Lực lượng Đặc biệt (LLĐB) trên toàn cõi VNCH. Đức Cơ là một trong những trại LLĐB này nằm về cuối đường QL-19 phía Tây Tỉnh Pleiku 55Km, cách biên giới Miên-Việt 13Km và trực thuộc Khu 24 Chiến Thuật do Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn làm Tư Lệnh.
Trại LLĐB Đức Cơ được thiết lập gần ngôi làng Thượng Plei Girao Kop có tiết diện hình Thang và nằm kế cận một phi đạo dã chiến dài khoảng 1km có khả năng tiếp nhận được các loại phi cơ C7-Caribou, C-47, C- 119 và C-123 với rừng rậm bao bọc cả ba phía. Từ đây, các toán Viễn Thám của Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ xuất phát các cuộc hành quân để thu thập tin tức tình báo và ngăn chặn sự xâm nhập của Cộng quân từ phía Kampuchea và đường mòn HCM, đồng thời bảo vệ đoạn cuối của Quốc lộ 19.
Lực lượng trú phòng gồm một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam với Trại Trưởng là Trung úy Trần Tự Lập. Về phía LLĐB Hoa Kỳ, vị sĩ quan trưởng toán A-215 là Đại úy R. B. Johnson cùng các chuyên viên tình báo. Trong trại có khoảng 400 DSCĐ, đa số là người Thượng và Nùng. Chia thành 4 Đại Đội do các Hạ Sĩ Quan (HSQ) LLĐB-VN làm Đại Đội Trưởng.
Ngày 31/5/1965 Tiểu Đoàn 952 CS tấn chiếm quận lỵ Lệ Thanh nằm về phía tây Pleiku do một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân trấn giữ cách Đức Cơ khoảng 8km về hướng Đông Bắc. Cộng quân cũng chiếm luôn các làng và các trung tâm phát triển nông thôn về phía tây của Tỉnh Pleiku. Và sau đó Ngày 30/6/1965 Trung Đoàn 32 CS bao vây trại LLĐB Đức Cơ với mục đích lôi cuốn và tiêu diệt viện binh trên Quốc lộ 19B. Do vị thế bất lợi vì nằm ngoài tầm yểm trợ pháo binh, trại này đã bị hỏa lực CS khống chế ngay từ khi Quận Lệ Thanh thất thủ. Áp lực của địch quân đến độ vào giữa tháng 7, trại này bị hoàn toàn bao vây và các cuộc tuần tiễu phát xuất từ trại đều bị đánh dội trở lui vào phía trong của hàng rào kẽm gai phòng thủ. Mặc dù có rất nhiều cuộc oanh kích của Không Quân VNCH, Cộng quân không những chỉ bao vây trại mà còn đặt các súng cối và súng không giựt nhắm bắn trực xạ vào trại. Cộng quân tiếp sau đó tiến sát vòng đai phòng thủ trại, và hỏa lực của chúng trở nên nặng nề đến độ các trực thăng không còn có thể lên xuống tiếp tế và tản thương.
Biết được ý định của địch, Ngày 4/8/1965 lúc 8.00 giờ sáng Thiếu tướng Vĩnh Lộc (Tư Lệnh Quân Khu 2 VNCH) cho trực thăng vận Chiến Đoàn II Nhảy Dù do Trung tá Ngô Xuân Nghị làm Chiến Đoàn Trưởng vào Đức Cơ để giải tỏa áp lực địch. Chiến Đoàn Dù khoảng 1,300 người, gồm Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù do Thiếu tá Trương Kế Hưng làm Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù do Đại úy Nguyễn Văn Thọ XLTV Tiểu Đoàn Trưởng. Cuộc đổ quân trực thăng vận xuống phi đạo dã chiến trước trại Đức Cơ hoàn tất lúc 16 giờ cùng ngày. Tại bãi đáp Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn đã bay đến trao cho Chiến đoàn những chỉ thị giờ chót của BTL/QĐII. Tiểu Đoàn 3 Dù được giao trách nhiệm phòng thủ khu vực phía Tây trại, TĐ8ND được chỉ định đóng quân cách trại 500m về hướng Bắc. Tình hình yên tĩnh trong đêm.
Ngày 5/8/1965 Chiến Đoàn Dù mở cuộc hành quân tảo thanh về phía Bắc nhằm đẩy lui quân Cộng sản và nới rộng phạm vi trại. Trong cuộc hành quân này Chiến Đoàn Dù phát hiện Cộng quân đã chuẩn bị các công sự để chiến đấu lâu dài rất kiên cố và cuộc chiến trở nên gay go. Khoảng 14.00 giờ chiều phi cơ quan sát báo cáo thấy CS đang chuyển quân lên từ phía Tây Nam. 15.00 giờ Đại Đội đi đầu của TĐ3ND bắt đầu chạm địch tại trảng tranh khu đồi Chu Kram. Một số cán binh CS ngụy trang vừa chạy vừa tác xạ vào lực lượng Dù, các phi tuần khu trục và trực thăng võ trang được gọi tới yểm trợ. Lực lượng địch mới đụng độ được phát hiện là Trung Đoàn 32 CS. Các tài liệu bắt được cho biết đây là Trung đoàn đã chiếm Quận Lệ Thanh và thực hiện loạt phục kích kế tiếp dọc theo Quốc lộ 19 về phía Tây Pleiku vào đầu tháng 6.
16.30 giờ, Thiếu tá Trương Kế Hưng TĐT/TĐ3ND bị trọng thương ở ngực, Đại úy Phùng sĩ Thanh TĐP lên thay thế, một trực thăng võ trang Mỹ khi yểm trợ tiếp cận đã bắn lầm 2 hỏa tiễn vào ĐĐ33ND đang đóng tại bìa rừng khiến Trung úy Lâm Đôn ĐĐT bị thuơng cùng với một số binh sĩ. Trung úy Bùi Quyền thuộc ĐĐ81ND được cử sang thay Trung úy Lâm Đôn. Đêm đến hai bên hưu chiến và tản thương. Các đơn vị Nhảy Dù rút lui về vị trí cũ đóng quân. Thiếu tá Đào Văn Hùng TĐT/TĐ8ND theo trực thăng tản thương đến đảm nhiệm chức vụ chỉ huy. Ngày 6/8/1965 2.00 giờ sáng, CS bắt đầu tấn công vào trại Đức Cơ từ 2 hướng Tây và Tây-Nam. Pháo binh của CS pháo kích tới tấp vào trại trong khi quân chính quy tấn công vào tuyến phòng thủ của TĐ3ND các đơn vị trú phòng chống trả mãnh liệt suốt sáng. Phi cơ C-47 từ Pleiku bay đến thả hỏa châu soi sáng trận địa. Càng gần sáng, cuộc chạm súng thưa dần. Nhưng cường độ pháo kích của quân CS càng gia tăng. Đạn súng cối nổ gần như liên tục vào khu vực trại Đức Cơ, phi đạo và vào vị trí của hai tiểu đoàn Nhảy Dù. 8.00 giờ sáng, phi cơ bắt đầu tham chiến oanh tạc các vị trí pháo địch, phòng không của địch bắn lên dữ dội. Dưới hỏa lực phòng không quá mạnh, các phi cơ vận tải phải bay thật cao để tránh đạn, nên phần lớn dù tiếp tế đã bay lạc ra ngoài nên thực phẩm và đạn dược ngày càng kham hiếm. Trại Đức Cơ hầu như đã trở thành địa ngục dưới các cơn pháo dữ dội của quân cộng sản.
Ngày 7/8/1965 Trời mưa to, đem lại lượng nước đầy đủ cho quân trú phòng, vì bồn chứa nước bị pháo bể ngày qua. Phi cơ tiếp tục oanh kích các vị trí của địch. Ngày 8/8/1965 cường dộ pháo kích của địch giảm bớt, các đơn vị trú phòng sửa chữa các công sự phòng thủ.
Ngày 9 tháng 8/1965 từ 7 giờ sáng, dưới sự yểm trợ hỏa lực mãnh liệt của các oanh tạc cơ Việt-Mỹ, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù do Thiếu tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy đã được trực thăng vận xuống đầu phi đạo. Đơn vị này tiến chiếm các vị trí trong khu vực nằm về phía Bắc trại. Sau đó liên lạc được với hai Tiểu Đoàn 3 và 8 Nhảy Dù.
Nhận thức được cuộc chiến quyết liệt tại mặt Tây Pleiku và địch quân có ý định tấn chiếm Đức Cơ bằng mọi giá, Tư Lệnh Quân Đoàn bắt đầu huy động các lực lượng trừ bị của mình để xung trận. Chiến Đoàn Thủy Quân Lục Chiến được rút khỏi các cuộc hành quân tại Kontum và di chuyển nhanh chóng tới một vùng tập trung gần Pleiku. Các tin tức tình báo về hành tung của các đơn vị Cộng quân khác dọc theo Quốc lộ 19 trong vùng giữa Đức Cơ và bản doanh mới của Quận Lệ Thanh cho thấy Cộng sản tăng gia quân số quan trọng sẽ đòi hỏi một lực lượng phản ứng lớn mạnh hơn mà Quân Đoàn II hiện có trong tay.
Tướng Vĩnh Lộc một lần nữa yêu cầu tăng cường thêm các đơn vị lực lượng Tổng Trừ Bị. Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH yêu cầu Tướng Westmoreland cho các lực lượng Hoa Kỳ di chuyển tới Pleiku ngõ hầu cho phép các đơn vị QLVNCH trấn đóng tại Quân Khu II có thể bổ xung vào lực lượng tiếp viện Đức Cơ. Tướng Westmoreland đồng ý và Lữ Đoàn 173 Dù Hoa Kỳ được phái tới Pleiku. Trút được gánh nặng phòng thủ Pleiku, Tư Lệnh Quân Đoàn thu vén tất cả các đơn vị khả dụng và thiết lập một lực lượng đặc nhiệm khác gồm một chiến đoàn Thiết Kỵ, một Tiểu đoàn Biệt Động Quân, cùng pháo binh và Chiến đoàn A Thủy Quân Lục Chiến để giải tỏa Quốc lộ 19 và tiếp viện cho các lực lượng đang giao tranh tại Đức Cơ. Cuộc hành quân này do Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn, Tư Lệnh Biệt Khu 24 (vùng đất thuộc hai tỉnh Kontum và Pleiku) trực tiếp chỉ huy.
HÀNH QUÂN DÂN THẮNG 7
Ngày 9 tháng 8/1965, một lực lượng đặc nhiệm gồm hai chiến đoàn được thành lập để mở cuộc hành quân Dân Thắng 7 nhằm khai thông Quốc lộ 19 và tiếp tế cho trại LLĐB Đức Cơ. Cuộc hành quân này do Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn, Tư Lệnh Biệt Khu 24 trực tiếp chỉ huy.
Chiến đoàn Thiết Giáp do Trung tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy gồm có:
* Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 3 Thiết Giáp
* Chi Đoàn 1/5 Chiến Xa do Đại úy Trần Văn Thoàn làm Chi Đoàn Trưởng
Chi Đoàn 2/6 Thiết Quân Vận do Đại úy Dư Ngọc Thanh làm Chi Đoàn Trưởng
- Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân (BĐQ) do Đại úy Nguyễn Văn Sách làm Tiểu Đoàn Trưởng
- Một Pháo Đội đại bác 105ly
- Một Trung Đội Công Binh Chiến Đấu
- Một chi đội Thiết Giáp M-8
- Các thành phần Vận Tải và Tiếp Vận
- Chiến Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) do Trung tá Nguyễn Thành Yên chỉ huy gồm có:
* Bộ chỉ huy Chiến Đoàn A-TQLC với Thiếu tá Cổ Tấn Tinh Châu làm TMT
* Tiểu Đoàn 2TQLC do Thiếu tá Hoàng Tích Thông làm Tiểu Đoàn Trưởng
* Tiểu Đoàn 5TQLC do Thiếu tá Dương Hạnh Phước làm Tiểu Đoàn Trưởng.
Hai chiến Đoàn này mở cuộc hành quân Dân Thắng 7 khai thông Quốc lộ 19. Đến 14.00 giờ khi đoàn quân vừa vào tới quận Lệ Thanh thì bị 1 Tiểu Đoàn/TrĐ32 CS phục kích. 2 chiến xa đầu tiên bị lãnh đạn B- 40. Tiếp ngay sau đó Tiểu đoàn địch xông ra từ một ngôi làng về phía Nam của Quốc lộ 19 tấn công vào TĐ21BĐQ bảo vệ cánh trái đoàn quân, hai phi cơ F100 được gọi tới yểm trợ, một chiếc bị bắn rơi. Đoàn hành quân phá tan cuộc phục kích của địch.
Gần tối, Cộng quân lại tấn công tập hậu vào đoàn hành quân, lực lượng hành quân phản công mạnh mẽ nên CS rút lui khi trời sập tối.
Ngày 10/8/1965 rạng sáng CS lại tấn công vào đoàn hành quân gặp ngay vị trí của chiến đoàn TQLC, do đó cuộc tấn công của địch đụng phải hỏa lực hùng hậu của lực lượng TQLC, cộng với nhiều cuộc oanh kích gây nhiều tổn hại cho địch khiến cuộc phục kích bị bẻ gãy .
Vào lúc này Chiến Đoàn Dù tại Đức Cơ được lệnh tấn công xuống Quốc lộ 19 về hướng Đông để kết nối với lực lượng tiếp viện. Sợ bị kẹp giữa hai lực lượng tấn công này, các đơn vị địch quân CS chém vè và tháo lui.
Lúc 11.00 giờ đoàn hành quân đến được phi trường Đức Cơ, các phi cơ Caribou lên xuống tiếp tế nhiên liệu đạn dược và thực phẩm.
Ngày 11/8/1965 Các đơn vị VNCH mở cuộc hành quân tảo thanh quanh căn cứ Đức Cơ tới tận biên giới Cao Miên ( CamPuChia ) nhưng không gặp sức kháng cự nào của Cộng quân.
Ngày 15/8/1965 Hành Quân Dân Thắng chấm dứt các đơn vị được trả về vị trí cũ.
Kết Quả: Trong cuộc đụng độ giữa quân Nhảy Dù và CSHCM
- Chiến Đoàn II ND có khoảng 20 quân nhân thiệt mạng tại Đức Cơ
- Phía bên Hoa Kỳ, toán LLĐB A-215 dưới quyền chỉ huy của Đại úy R. B. Johnson đã bị thiệt hại nặng
- 158 cán binh cộng sản bỏ xác tại trận và 100 cán binh khác chết vì phi cơ oanh kích.
Kết quả cuộc hành quân Dân Thắng 7 do BTL/QK2 tổng kết như sau:
- Chiến Đoàn A-TQLC có 31 quân nhân tử trận và 27 bị thương
- Cộng sản có 566 cán binh tử trận và 26 tù binh
- Vũ khí bị tịch thu gồm có 12 vũ khí cộng đồng và 94 vũ khí cá nhân
- Ngoài ra, có 2 đại liên 50 và 2 khẩu súng cối 81ly bị phá hủy./.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
facebookicon-googletwitteryoutube

Tuesday, December 9, 2025

 

NHỮNG KẺ ĐẶT CHẤT NỔ TẠI NHÀ HÀNG MỸ CẢNH, BÂY GIỜ RA SAO? 

                           

Ngày 25-6-1965 cách nay đúng 55 năm, nhà hàng Mỹ Cảnh trên bến Bạch Đằng bị đánh bom giết chết 42 người và làm bị thương hơn 80 người. Đồng loạt các tờ báo nước ngoài thời đó gọi đây là "một cuộc tấn công khủng bố", còn báo chí chính quyền Hà Nội thì gọi đây là "chiến công hiển hách của Biệt Động Sài Gòn". Các đặc công Việt Công thời đó bây giờ ra sao?


Published  

Updated  

By Mai Hoa
Source: SBS


Đó là đoạn trích tường thuật của hãng AP về những gi đang diễn ra khi nhà hàng Mỹ cảnh bị nổ bom vào ngày 25/6/1965.
Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh nằm trên bến Bạch Đằng, Sài Gòn. Vào lúc 8:15 tối ngày thứ Bảy, 25/6/1965, thời điểm mà nhà hàng có đông thực khách, dọc bến Bạch Đằng cũng đông đúc người dân Sài Gòn dạo chơi hóng mát với trẻ em chơi đùa chạy nhảy, gần đó là bến phà Thủ Thiêm đang có nhiều người đợi qua phà. 
Không ai trong số những người có mặt ở đó biết rằng chỉ vài phút sau số phận họ vĩnh viễn thay đổi.
Hai tiếng nổ lớn liên tiếp, chỉ cách nhau vài chục giây xé toạch màn đêm và xé toạch khung cảnh bình yên của người dân Sài Gòn.
Tờ St Louis Post Dispatch ra ngày 25/6/1965 miêu tả lại vụ nổ như sau:
"Vụ nổ tại Mỹ Cảnh xảy ra lúc 8:15 tối. (7:15 sáng giờ St Louis). Một quả mìn Claymore hẹn giờ do Mỹ sản xuất - đặt ở bờ sông. Quả mìn Claymore phát nổ theo hướng về phần đầu của nhà hàng nổi, là nơi mà nhiều người Mỹ và người Việt Nam giàu có thường lui tới.
"Một vụ nổ thứ hai, mà các nhà điều tra tin rằng là do một quả bom gắn trên xe hai bánh đã nổ tại một quầy thuốc lá ở gần bên cạnh nhà hàng. Các nhà điều tra cho rằng vụ nổ đã được đặt trước và hẹn giờ phát nổ vào lúc cao điểm của giờ ăn tối vào một đêm cuối tuần. Nhà hàng rất đông khách và những bức tường kính của nó bị nghiền nát dưới hàng đống mảnh vỡ. Nạn nhân được đưa đến một số bệnh viện Sài Gòn và chính quyền gặp khó khăn trong việc lập danh sách thương vong."
Vụ nổ bom nhà hàng Mỹ Cảnh ở Sài Gòn làm 42 người chết và 81 người bị thương ngày-25-6-1965
Vụ nổ bom nhà hàng Mỹ Cảnh ở Sài Gòn làm 42 người chết và 81 người bị thương ngày-25-6-1965 Source: AP
Theo AP/ Horst Fass, có tổng cộng có 42 người bị thiệt mạng và khoảng 81 người bị thương.
Trong số những người bị chết hoặc bị thương, có người là thực khách bên trong nhà hàng, có người chỉ là thường dân ngồi hóng mát hay đi dạo mát bên ngoài hoặc đang đứng chờ phà qua sông. Các nạn nhân được đưa đến điều trị tại Bệnh Viện Hải Quân Hoa Kỳ.
Thông tin trên tờ San Francisco Chronicle ra ngày 25/6/1965 gọi đây là một vụ tấn công khủng bố bằng bom.
Tờ St Louis Post Dispatch ra ngày 25/6/1965 cũng gọi đây là một cuộc tấn công khủng bố.
Đài Phát Thanh Hà Nội tuyên dương “thành tích vẻ vang của đội biệt động thành Sài Gòn”.
Báo Sài Gòn Giải Phóng ra ngày 21/12/2007 trong bài viết 'Biệt động Sài Gòn- Gia Định: Ngày ấy bây giờ' cho biết, người đặt bom nhà hàng Mỹ Cảnh là Huỳnh Phi Long cùng với Lê Văn Rãy.
MY Canh attacked 25/6/1965
(Left) Thiếu Tá Bộ Binh Mỹ Abel Vela đang giúp một em bé bị thương tại nhà hàng Mỹ Cảnh. Xác của ba em và mẹ em nằm kề. Ông Thiếu Tá Vela bồng em bé ra. Source: AP
Báo Người Lao Động 26/4/2014cho biết 
"Đội Biệt động Sài Gòn-Gia Định được thành lập vào năm 1965,  do ông Nguyễn Đức Hùng (các bí danh: Ba Tam, Tư Chu) làm chỉ huy trưởng, có nhiệm vụ thường xuyên tổ chức các trận đánh tiêu diệt sinh lực quan trọng trong cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ -  Từ năm 1965-1967, F100 đã đánh hàng trăm trận, hiệu suất chiến đấu cao, như đánh vào nhà hàng Mỹ Cảnh; các bót Bà Hỏa, Hàng Keo, Ngô Quyền, Thị Nghè…"
Sau trận đặt bom Mỹ Cảnh, Huỳnh Phi Long được tặng thưởng huân chương Chiến Công hạng 1, Lê Văn Rãy, Tám Sâm, Kiều Nương và Nguyễn Thị Hoài được tặng huân chương Chiến công hạng 3. 
Sau năm 75 đội quân này bị giải tán. Tờ SGGP (21/12/2007) giải thích về việc giải tán này: 
"Sau 30-4-1975, do yêu cầu của thời kỳ mới nên lực lượng biệt động đã bị giải thể. Những chiến sĩ có cấp bậc được thuyên chuyển công tác đến đơn vị mới. Trong khi đó, những anh lái xe xích lô, em bé đánh giày… hoạt động bí mật ngày nào trở lại với cuộc sống mưu sinh đầy lo toan."
Chính quyền mới đã bỏ rơi họ. Mãi đến năm 2010 Huỳnh Phi Long mới được đưa đi thăm Hà nội lần đầu tiên.
Thông tin trên báo trong nước cho biết Huỳnh Phi Long hiện vẫn còn sống tại Sài Gòn với vợ cũng từng là giao liên, và đứa con gái duy nhất trên 50 tuổi bị bệnh tâm thần.
Nguyễn Đức Hùng chỉ huy trưởng BĐSG cuối đời bị ung thư vòm họng.

Saturday, July 12, 2025

 TÌNH HÌNH QK-2 VÀO THÁNG 3-4/1965

 By the end of March, the immediate threat of the enemy splitting South Vietnam had passed, but the price had been high. In addition to the casualties suffered, the Winter Spring Offensive had forced Co to divert troops from pacification. He had reduced the number of regulars assigned to province chiefs from eighteen battalions in January to ten in February and to zero in March. The move weakened the already hard-pressed pacification effort. In March, for example, guerrillas had incinerated a community of 300 homes in Phu Bon. In Quang Duc, the revolutionaries had burned bridges to isolate areas, then used threats to compel 1,600 Montagnards to abandon their hamlets and return to the jungle. In Darlac, 5,000 people had fled land-development centers, and the lack of security led the 23d Division to ban all pacification work more than 5 kilometers from a main road. In Binh Tuy, another 7,000 people had poured into towns as the Communists spread their control over the countryside. Because government troops largely confined themselves to protecting the towns, USOM’s province adviser appealed for the deployment of “foreign troops” to garrison urban centers, thus allowing the South Vietnamese to take to the field.39 Military Region 5’s claim that it had captured 1,000 hamlets during the Winter Spring Offensive probably was exaggerated, but few doubted that the government had lost territory and that security in many areas had degraded seriously. In Lam Dong, the number of pacified hamlets had fallen from forty-three in January to twenty-nine by the end of March. In northern Kontum, where advisers had felt that the province was “quite clearly winning the ‘hearts and minds’ battle among the Montagnards,” the appearance of major North Vietnamese units had undermined the effort. The best advisers could hope for was that the people would follow the troops as Co withdrew some of them from the region. That many civilians did indeed vote with their feet and flee to government areas was gratifying, but it created severe socioeconomic dislocation. By the end of March 1965, the government admitted the presence of more than 90,000 refugees in II Corps and continued to be hard-pressed to deal with them. 

No fewer than 70,000 refugees were in Binh Dinh, where the allies believed the enemy maintained 3,600 regulars and 3,000 guerrillas.40 As dire as the situation seemed in northern II Corps, not everything went the insurgents’ way. They had not been able to keep either the western highlands or I Corps isolated from the rest of the country, nor had everyone given up. During the last week of March, the insurgents had killed twenty-five people who had refused their orders to leave their hamlet in the An Lao Valley. Elsewhere, Popular Forces soldiers successfully repulsed sixteen of the enemy’s twenty-two attacks on hamlets. Determined to renew pacification, General Co ordered his subordinates to draft revised plans that considered the current realities.41 Some advisers questioned Co and Sang’s focus on Highway 1. They noted that it was easier for the Front to sabotage the road than for the government to keep it open, and that by concentrating troops on the highway they had facilitated the enemy’s takeover of the countryside, including the An Lao and Vinh Thanh valleys. “Route 1 by itself doesn’t mean a damn thing,” said one adviser. “If they just stick to that, they’re right back where the French were. They have to get out into the villages where the people are.” Likewise, another adviser criticized government tactics, stating that “it is meaningless for troops to move out, make contact with the Viet Cong, take a casualty or two, and then call for an air strike, which may kill some Communists along with other people but surely will settle nothing in these crucial rural areas.” MACV, however, agreed with the government that political, economic, and logistical factors warranted keeping the major roads open to as much civil and military traffic as possible.42 Regardless of shortcomings in South Vietnamese military actions, advisers recognized that the infusion of North Vietnamese regulars and new weaponry, such as fully automatic rifles and potent antitank weapons, had altered the situation in II Corps. The morale of South Vietnamese soldiers dropped noticeably. Army Chief of Staff Harold Johnson, who visited II Corps in March, found General Co “very distraught” by the fact that enemy soldiers armed with AK–47s were outgunning his units. Johnson sympathized, adding that “they just didn’t have the ability to absorb that shock of initial contact.” Unless the allies could bring additional manpower and f irepower to bear, II Corps’ prospects appeared uncertain. If Military Region 5 grossly exaggerated its claims to have killed 15,250 South Vietnamese and 750 American soldiers during the Winter-Spring Offensive, the Communists were closer to the truth when they asserted that the offensive had driven “the American imperialist ‘special warfare’ strategy to the brink of defeat.” Over the previous six months, enemy forces had repeatedly demonstrated how they could overcome an admittedly shallow system

of area security by isolating regions, attacking government forces, and paralyzing, if not reversing, pacification activities.43 Fully 32 percent of the enemy’s attacks in South Vietnam during the first quarter of the year had taken place in II Corps, yet notwithstanding the heavy losses, the battle over the population remained in play. During the first three months of 1965, the Front had been able to enlarge the segment of the rural population under its control in II Corps from 17 to 22 percent. Much of the growth came from areas that previously had been in dispute. The government, on the other hand, claimed it controlled 35 percent of II Corps’ 2.8 million people and maintained some influence over another 19 percent. As the government had not acquired much territory during the quarter, many of the people added to its rolls were probably refugees.44

Wednesday, November 30, 2022

 

BÌNH GIẢ - Trước cuộc đổ bộ 1965

Do Đại Tá Frank P Eller, TQLCHK (Hồi hưu)
 
Trong những ngày cuối năm 1964, một trận chiến dựng nên trong chiến tranh Việt Nam cho đến lúc này, đã xảy ra trong pham vi và ngoài làng Bình Giả. Lúc tôi phục vụ với tư cách là cố vấn chính cho Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, đơn vị làm lực lượng trừ bị cho Quân Đoàn III và đóng quân tại Dĩ An, gần Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn và Phi trường Biên Hòa.. Tiểu đoàn đã lâm chiến, cùng với hai Tiểu đoàn khác, đã gánh chịu những tổn thất lớn. Bài viết này để tưởng nhớ những người đã tử trận và mất tích trong cuộc chiến ấy.     

Tình hình suốt cả Miền Nam Việt Nam lúc này rất mỏng manh nhất. Tiếp theo cú đảo chánh Tháng 11 năm 1963 đã tạo hậu quả việc lật đỗ và sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đất nước đã bị chìm sâu trong năm bất ổn và biến động. Hấu hết các cấp chỉ huy Tĩnh và Quận đều bị thay thế cũng như một số Tư lệnh phải trao quyền. Đáng kể nhất là chương trình Ấp Chiến Lược, vốn nói chung thành công trong việc chia cắt dân chúng xa lìa bọn Việt Cộng ở vùng nông thôn héo lánh. VC đã lợi dụng tình hình bất an và sa sút trong việc lãnh đạo để tấn công  những thôn làng chiến lược, và từ đó chúng mở rộng tầm ảnh hưởng ra ngoài nơi đông dân cư. Thêm nửa, VC đã tung ra hai cuộc tấn công thành đạt chống lại Hoa Kỳ- cuộc tấn kích vào Phi trường Biên Hòa vào tháng 11, gây ra hậu quả cho một số người Mỹ thương vong cũng như hư hại nhiều phi cơ, và cuốc đánh phá vào cư xá Sĩ quan độc thân Mỹ vào tháng 12 cũng gây tổn thất cho người Mỹ.

Từ khi tôi gia nhập Tiểu đoàn vào tháng 5 1964, đơn vị đã tham chiến một số cuộc hành quân suốt Quân Khu II và IV, thường là bao gồm khu vực miền nam của đất nước. Mắc dầu thường xuyên gặp địch quân nhưng ít khi quá cấp một Trung đội. Thỉnh thoảng trong các cuộc hành quân chúng tôi nhận được tin những đơn vị địch lớn hơn hoặc đi qua những khu vực đóng quân của những đơn vị lớn hơn nửa. Chúng tôi thường bị pháo kích và bắn tỉa và tổn thất do mìn gài nổ, nhưng địch quân đã tránh né và chúng tôi cũng không thể gài chúng vào trận đánh lớn. Việc này thay đổi đáng kể tại Bình Giả. Trong suốt thời gian trước trận Binh Gia, Tiểu đoàn gần như lâm chiến liên tục vào những trấn đánh như kể trên suốt ròng 3 tháng. Trước Mùa Giáng Sinh, Đơn vị được phép tạm nghỉ trở về hậu cứ ở Vũng Tàu để tái trang bị và cho người lính TQLC thăm gia đình. Vào buổi sáng Ngày Giáng Sinh, chúng tôi trở lại Dĩ An vá tái tục nhiệm vụ Trừ bị cho QĐII. Vị Tiểu đoàn trưởng và tôi thường lên Bộ Tư Lệnh QĐ nghe thuyết trình về tình hình mổi ngày cũng như gặp các Sĩ quan Tham Mưu và cố vấn và được cho biết tổng quát tình hình chiến thuật của Quân Khu II.

Ngày 28 tháng 12, một đơn vị đích không rõ quân số tấn kích quyết liệt và chiếm giử làng Binh Giả gồm từ 6 đến 8 ngàn người tỵ nạn Thiên Chúa giáo chạy trốn Miến Bắc Việt Nam trước đây. Dù quyết liệt đánh trả nhưng dân quân đã bị tràn ngập. Họ đã mất liên lạc do chạy thoát hay ẩn nấp nơi nào đó. Kết quả là hai Đại đội của Tiểu Đoàn 30 đã phản công từ phía Tây nhưng bị đánh bật trở ra. Rỏ ràng là một đơn vị khá lớn của địch đã chiếm giử Bình Giả và nhất quyết bám chặt.

Ngày 29 tháng 12, QĐ II cho toàn bộ TĐ30 và TĐ 33 Biệt Động Quân vào cuộc chiến.. Trong giai đoạn này hai chiếc trực thăng của Lục Quân Hoa Kỳ đã bị băn rơi và một nửa Tiểu Đoàn 33 BĐQ đã bị bao vây và tràn ngập, và hai Cố vấn Hoa Kỳ đã bị bắt.. Số quân BĐQ còn lại quyết chiến và đã giừ được một góc làng nhờ thêm vào yểm trợ trên không.  BĐQ đã tiếp tục chống trả suốt đêm và đẩy lui được địch quân. Tin tức cho biết không còn nghi ngờ gì nửa quân số đáng kể của địch không còn kiểm soát được Binh Giả. Cuối ngày 29 Tiểu đoàn chúng tôi nhận lệnh chuẩn bị tham chiến vào ngày 30 tháng 12 để đánh trả và đuổi địch ra khỏi Binh Giả. Tiểu đoàn trưởng ( Thiếu Tá Nguyễn Văn Nho) và tôi cùng với Phụ tá cố vấn ( Trung úy Phillip Brady mới về đơn vị 1 tháng trước), với các Sĩ quan Tham Mưu Tiểu đoàn phối hợp với BTL QĐII  nhận bản đồ và lệnh hành quân cùng tin tức tình báo. Phối hợp với Trực thăng của LQHK lãnh nhiệm vụ  chở quân chúng tôi vào điểm đổ bộ LZ phía Tây Bắc của làng được xếp đặt với hỏa lực yểm trợ của Phi đội cánh quạt cùng với trực thăng võ trang, cũng như trao đổi tần số liên lạc. Cũng còn có quyết định không có pháo binh yểm trợ vì ngoài tầm băn và QĐ cũng không  muốn chuyển pháo lên vị trí để yểm trợ chúng tôi ngừa khi đánh lớn.

Vào khoảng 8:30 ngày 30 tháng 2, đợt đổ quân đầu tiên cất cánh rời phi trường Biên Hòa. Dù được không yểm mạnh mẻ nhưng không thấy có dấu hiệu hỏa lực của địch và Tiểu đoàn xuống quân không bị chống trả và tiến vào Binh Giả rừ phía Tây. Tiểu đoàn mở rộng kỹ càng xuyên qua làng và lục soát cẩn thận. Dân làng cho biết quân số địch ít nhất là 750. Báo cáo cho hay có cả quân Bắc Việt và Trung Cộng. Nếu đúng như thế, mực độ cuộc chiến đến lúc ấy có nghỉa là nhiếu đơn vị cấp Tiểu đoàn địch đã tấn kích và chiếm giử làng. Thêm nửa, đơn vị bạn dưới hầm trú ẩn cho hay trong khi địch chiếm cứ chứng tỏ chúng rất kỹ luật và chỉ huy đàng hoàng. Sau khi lập lại an ninh ngôi làng, Tiểu đoàn đã trợ giúp tản thương lấy hài cốt cho các BĐQ thương vong. BĐQ sống sót đã cùng thiết lập phòng thủ ngôi làng. Vào thời điểm này, TĐ4TQLC đã hoàn thành nhiệm vụ và chờ lệnh của QĐII.

Vào cuối ngày hôm ấy, một trực thăng võ trang khởi đầu một trận oanh kích vào một địa điểm cách độ 1 ngàn 500 thước về phía Đông Nam của làng do báo cáo tập trung lớn quân địch trước đó. Trong cuộc tấn kích này, do tôi quan sát  một chiếc phi cơ đã bị phòng không của địch bắn rơi. Chiệc trực thăng bốc cháy và bị nhào xuống ở một góc độ nhanh cho tới khi chạm đất và nổ tung trong khói lửa. Vụ rơi máy bay này đã lập ra một loạt những biến cố thảm khốc cho TĐ4TQLC. Dù không có hy vọng có người sống sót nhưng QĐ đã ra lệnh cho một toán lục soát ngay tức thì để xác nhận nơi bị nạn, liệu có người sống sót hay không, nếu không thì thu nhặt thi thể phi hành đoàn. Thiếu tá Nho nói chuyện với Trung tâm trưởng hành quân và tôi với cố vấn Hoa Kỳ của Trung tâm cho họ biết rằng, không thể nào có người sống sót. Kết quả là có lệnh cho một toán tuần sát vào sáng sớm hôm sau do đã trể rồi. Tối hôm ấy, địch mở cuộc tấn công vào làng nhưng không sao chọc thủng được vòng phòng thủ của chúng tôi. Hỏa châu thả sáng suốt đêm và khu trục yểm trợ hỏa pháo.

Rạng sáng ngày hôm sau, 31 tháng 12, một Đại đội khởi hành từ góc Đông Nam của làng theo phương hướng địa bàn đến nới máy bay rớt. Tôi đi theo Đại đội để xin phi cơ yểm trợ nếu cần..Chúng tôi có phi cơ võ trang và khu trục từ căn cứ Biên Hòa. Ngoài phi cơ ra chúng tôi chỉ còn có súng cối để yểm trợ. Sự thiếu sót pháo binh đè nặng trên tôi khi chúng tôi di chuyển thận trọng vào khu rừng nơi máy bay bị rớt và vào nơi chắc chắn sẽ có địch quân trú đóng. Ngay khi đến điểm máy bay rơi ai cũng biết chắc là không có thể còn ai sống sót. Chiếc trực thẵng đã bị cháy ruội và hài cốt bị cháy đen nằm trong vòng một đường kính độ 2 thước. Phía bên ngoài có vài mảng dất mới đào dấu hiệu quân địch đã chôn thi hài của phi hành đoàn. Đại đội trưởng (Trung Úy Đỗ Hữu Tùng) đã lập vòng phòng thủ quanh địa điểm. Lúc này khi TQLC tiến ra vị trí vài tên địch đã xuất hiện. Lập tức chúng bị băn ngả một tên bị baăn lộn đẩu ngả xuống. Bọn kia bỏ chạy. Tôi theo chân anh em TQLC lên xem tên địch bị bắn. Theo tôi quan sát, tên địch có vẻ no tròn với độ 180 cân anh, cao ít nhất cũng 1 thước 70, quân phục đầy đủ sạch sẻ với dây lưng đạn và mang khẩu carbine..Không có giấy tờ căn cước gì trên người. Theo tôi tên này hoặc là Bắc quân hay Trung Cộng. Sau vụ chạm súng này, có vẻ địch quân đang bao vây chúng tôi. Ngay khi Địa đội chạm súng, địch đã bắn pháo vào vào vị trí chúng tôi với đại liên và súng phòng không. Tôi báo cáo ngay cho phi vụ ứng chiến và xin yểm trợ ngay ngoài phòng tuyến.. Tôi cũng gọi xin khu trục A 1 E cánh quạt từ Biên Hòa. Vào thời điểm này, nổ lực tìm kiếm thi hài của phi hành đoàn phải ngưng lại vì chạm súng khắp nơi. Tổn thất tăng lên khi địch tiến sát vào vòng phòng thủ với hàng loạt biển người khích động bởi tiếng kèn thúc quân. Nơi ẩn núp duy nhất danh cho chúng tôi là thân cây cao su, nhưng TQLC và phi cơ không sao ngăn chặn được tiến quân của địch. Vừa đúng lúc một viên đạn thù trúng ngay nón sắt của tôi đánh ngả tôi xuống. Khi vừa tỉnh dậy tôi không còn thấy gì và cặp mắt tôi phỏng nặng. Tôi tự nhiên quẹt tay lên mắt và khi nhìn thấy rỏ được là hai tia máu vọt ra từ mặt tôi. Tôi bắt đầu lấy băng cá nhân đeo trên dây lưng và nay trước khi lấy được tôi đã thấy một Y tá ngay bên cạnh cười toét miệng và liền băng bó ngay cho tôi. Tôi cũng nghiệm ra rằng đa số người lính TQLC Việt Nam đã cười khi tình hình nguy biến và tôi biết là dấu hiệu xấu đã đến. Sau này khi xem lại, tôi thấy viên đạn đã trúng xéo một bên nón sắt và làm vở tung ra. Phần miểng đã gây thương tích xuống mủi và khuôn mặt của tôi. Nếu viên đân nhích lên một tí hay nhích xuống một tí chắc là thội đời rồi. Tôi tìm người mang máy truyền tin nhưng không thấy đâu nên tôi bò tới chổ vị Đại đội trưởng nhưng máy của ông cũng bị trúng đạn hư hỏng. Chúng tôi bị hỏa lực địch nặng nề hơn khi chúng tiến sát , nhảy  từ gốc cao su này sang gốc khác, TQLC đã rút gọn về quanh vị trí chiếc máy bay rơi. Khi địch càng gần sát, Nhận thấy sẽ bị địch bao vây nên Đại đội trưởng đã ra lệnh rút lui. Đại đội mất liên lạc và dưới làn đạn rút lui về phía Bắc và rồi về lại Bình Giả, mang theo những người bị thương nhưng phải bỏ lại 12  TQLC tử trận cộng thêm với phi hành đoàn trực thăng. Trên đường lui quân về Binh Giả. Một chiếc trực thăng tản thương LQHK đáp xuống và chúng tôi đã di tản  được vài TQLC bị thương.

Trở về lại Bình Giả, Đại đội trưởng và tôi đã cho Tiểu đoàn trưởng biết chi tiết toàn vẹn về lực lượng địch chúng tôi đã chạm súng tại địa điểm rơi máy bay, nói rõ là một đơn vị khá đông đảo được trang bị tới chốn, với binh lính kỹ luật, và được yểm trợ hỏa lực hùng hậu với súng cối, đại liên và phòng không. Tiếp theo sau cuộc tường trình ngắn và theo đề nghị của Tiểu đoàn trưởng tôi cần được chửa trị thương tích nên tôi đã về một góc làng chờ trực thăng tản thương đến đón. Sau đấy, tôi được di tản về Quân Y viện Hải Quân Sài Gòn để chửa trị vết thương. Không rõ là ai cho lệnh cho lệnh Tiểu đoàn vào lại nơi máy bay rớt. Hoặc Thiếu Tá Nho được lệnh  hành quân hay do quyết định của chính ông cũng không rõ. Cả hai vị Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn phó đều là chiến binh dày dạn kinh nghiệm chiến trường và họ từng biết không cần tìm vào những hiểm nguy không cần thiết. Quyết định đưa một Đại đội vào nơi máy bay bị bắn hạ đã là một hiểm nguy tính toán khiến cho Thiếu Tá Nho bất đắc dỉ phải thi hành. Bấy giờ, với tin tức mới nhận được từ nới máy bay rơi, cộng thêm hậu quả cuộc trận đánh của những ngày trước, thiếu pháo binh yểm trợ, và sự thật là địch đã chiến đấu trên địa thế thuận lợi cho chúng, cùng với nghi vấn trong việc khéo léo rút quân  tức thời không còn có tăng quân trợ lực. Tuy thế, Thiếu Tá Nho đã chuyển quân sau đó với một Đại đội trừ để lại Binh Giả vào nơi phi cơ bị hạ. Hài cốt của Phi hành đoàn Trực thăng đã được di tản nhưng trước khi 12 thi thể TQLC tử trận được bốc chuyển, Tiểu đoàn đã bị tấn công dữ dội bởi một lực lượng sau này được biết là thành phần của hai Trung đoàn của Sư đoàn 9 VC, là đơn vị tham chiến lớn nhất cho đến giờ phút ấy. Chúng được yểm trợ bởi Pháo đoàn 80 chỉ huy bởi SQ Bắc Việt được trang bị súng cối 81 ly, pháo 70 ly, súng không giật 75 ly và đại liên phòng không 12.7 ly. Đơn vị này chỉ huy bởi một Tướng VC và vượt quân số của TĐ4TQLC ít nhất từ 7 đến 8 trên 1. Thua sút về quân số và tệ hại hơn là không có Pháo binh yễm trợ, TQLC đã chiến đấu dũng cảm nhưng không sao vượt qua nổi trở lực quá tầm mức ấy. Một Địa đội đã rút lui về Bình Giả với tổn thất nặng nề. Một Đại đội bị tràn ngập và một Đại đội chiến đấu cho đến đêm khuya mới thoát ra khỏi trận địa lui quân về Bình Giả. Cho tới viên đạn cuối cùng, TĐ4TQLC đã chịu tổn thất  gồm 122 tử trận, bao gồm 29 Sĩ quan trong quân số 35 của Tiểu đoàn và 71 người bị thương. Thêm vào đó, Đại úy TQLCHK Donald Cook , được đưa đến Tiểu đoàn 30 ngày trước, đã bị thương và bị bắt cầm tù ( Xin đọc quyển sách do Cựu Đại tá TQLCHK Donald L. Price về The First Marine captured in Vietnam: A Biography of Donald G. Cook, Tháng 7/2007) .Trung Úy Trần Ngọc Toàn, Đại đội trưởng Đại đội I đã viết lại cuộc chiến với Mặt  trận Bình Giả. Với 3 vết thương trên người, Trung úy Toàn đã một mình ôm khẩu súng AR15 bò về tới làng Bình Giả và được trực thăng chuyển về Quân Y viện Đại Hàn Vũng Tàu vào ngày 3 tháng 1 năm 1965……
 
Bản dịch do Trần ngọc Toàn, cựu Tiểu đoàn trưởng TĐ4 TQLC

Tuesday, September 27, 2022

 Trận Ba Gia

31 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 2573)

Trận Ba Gia
51Vote
46Vote
30Vote
20Vote
10Vote
4.17



Giai đoạn I ( 29/5/1965 )


Ngày 2/8/1964 , khu trục hạm Maddox của Hải quân Hoa kỳ trong khi đang hải hành dọc theo duyên hải Bắc Việt, trên hải phận quốc tế, đã bị hải quân CSBV tấn công. Tuy không bị thiệt hại gì nhiều, nhưng đó là một sự khiêu khích có tính toán của tập đoàn CS Hà nội và Hoa kỳ đã có hành động trả đủa tức thì. Hai ngày sau các oanh tạc cơ của Hải quân Mỹ từ Hạm đội 7 đánh phá nhiều nơi trên lảnh thổ miền Bắc. Lưỡng viện Quốc hội Mỹ đã đồng thuận đưa ra Quyết nghị vịnh Bắc bộ ( Tonkin Gulf Resolution ) trao toàn quyền hành động về quân sự cho Hành pháp..
                           
Ngày 13/2/1965 Tổng thống Johnson chính thức công nhận một kế hoạch oanh kích dài hạn tại miền Bắc có tên Rolling Thunder. Đồng thời chính phủ Mỹ cũng chấp thuận một đề nghị của Thống tướng William C.Westmoreland gởi các đơn vị sang chiến đấu tại miền Nam VN. Ngày 8/3/65 Trung đoàn 9 TQLC Hoa kỳ đổ lên bãi biển Mỹ khê (Đà nẳng ). Ngày 5/5 Lữ đoàn 173 Dù đến Biên hòa. Đến tháng 7, Sư đoàn 101 Dù đến Vịnh Cam Ranh. Hai tháng sau Sư đoàn 1 Kỵ binh Hoa kỳ đến đồn tại An Khê. Ngày 23/10 Sư đoàn 1 BB tăng cường cho Quân khu III và sau đó là Sư đoàn 25 BB Mỹ , nâng tổng số tính đến cuối năm 1965 là 184 ngàn người.

Tại miền Bắc, các đơn vị quân đội của Trung cộng cũng bước qua lảnh thổ VN theo yêu cầu của Hồ chí Minh với Mao trạch Đông ngày 16/5/1965 . Có cả thảy 7 Sư đoàn Công binh được giao nhiệm vụ sửa chữa và xây dựng những nơi bị hư hại do phi cơ Mỹ gây ra , đồng thời tu sửa và bảo vệ tuyến đường tiếp tế bằng hỏa xa Hà nội Côn Minh . 16 Sư đoàn phòng không giăng ra dày đặc trên miền Bắc. Và những đơn vị kỷ thuật khác của các nước Liên sô, Đông Âu, Bắc hàn, Cu ba,..sẳn sàng tiếp tay trong tinh thần Quốc tế vô sản để bảo vệ miến Bắc và thôn tính miền Nam. CSBV đã rãnh tay và dồn hết mọi nổ lực trong cuộc chiến xâm lược miền Nam.

Sư đoàn 9 mở đầu với mặt trận Bình giã. Sư đoàn 3 Sao vàng đụng độ với TĐ2/TQLC tại Phụng Dư. Sư đoàn 325 đang có mặt tại vùng cao nguyên và Sư đoàn 304 trên đường xâm nhập. Những trận địa chiến đã bắt đầu tại Việt An đầu tháng 5/65 tại Quảng Nam ; trận Ba gia tại Quãng Ngãi ( 30/5/1965 ) , trận Đức Cơ, Plei me,..Chỉ có vùng IV Chiến thuật , VC vẫn duy trì hình thức du kích chiến. Do mức độ giao tranh tại các vùng chiến thuật đột nhiên gia tăng, hai lực lượng tổng trừ bị chính là Dù và TQLC phải liên tục có mặt. Thới gian này TĐ3/TQLC đang được tăng phái cho Vùng I Chiến thuật.

Từ khu tứ giác Đại Lộc- Bến Giằng - Quế Trung – Duy Xuyên, TĐ3 được lịnh rời vùng hành quân về đóng quân tại quân lỵ Điện Bàn để nghĩ ngơi. Tiểu đoàn về đến Vĩnh Điện lúc 12 giờ. Bầu không khí êm ả, thanh bình hầu như bao phủ khắp nơi như chính nó làm cho toàn thể quân nhân trong đơn vị cãm thấy vơi đi những nhọc nhằn và căng thẳng sau mỗi chuyến hành quân , khi Tiểu đoàn đã hoàn thành sứ mạng và được lịnh kéo về những nơi an dưỡng.

A . Tình hình tổng quát:

Bốn giờ chiều , Hạ sỉ Ngự, báo cho tôi biết Đ/U Tiểu đoàn phó Nguyễn minh Châu mời họp hành quân. Tôi dặn dò Th/U Nguyễn trọng Quan, Đại đội phó một vài chuẩn bị sơ khởi rồi đi thẳng ra Quốc lộ I. BCH/TĐ đóng quân tạm thời trong khuôn viên của một trường Tiểu học thuộc quận Điện bàn.

Từ xa tôi đã thấy quí vị sỉ quan Đại đội trưởng đã có mặt đầy đủ. Đ/U Châu là Tiểu đoàn phó kiêm Đại đội trưởng ĐĐ 1 đang đứng nói chuyện với Tr/U Phạm văn Sắt ( ĐĐ3 ), Đ/U Nguyễn văn Đã (ĐĐ4 ) và Đ/U Đoàn Thức (ĐĐ Chỉ huy ).

Th/tá Nguyễn thế Lương , Tiểu đoàn trưởng cùng hai vị Trưởng ban 3 ( Th/U Lê văn Đổ ) và Trưởng ban 2 ( Th/U Lê văn Túc ) từ Quân đoàn trở về. Sau những dặn dò với Th/Sỉ Nguyễn văn Thanh, ông đi thẳng vào vấn đề :

_ Do tình hình biến động nghiêm trọng , Quân đoàn I sẽ điều động khẩn cấp TĐ3/TQLC đến Quãng Ngãi ngay đêm nay bằng cầu không vận. Di chuyển từ Điện bàn về phi trường Đà nẳng bằng xe GMC đúng 11 giờ đêm nay, sau đó được không vận đến phi trường Quãng ngãi bằng 4 phi vụ C123. Tại đây chúng ta sẽ nhận lịnh chi tiết. Các Đại đội cho trang bị đầy đủ các cấp số đạn và lương khô. Thứ tự di chuyển do Đ/U Tiểu đoàn phó sắp xếp.. Mọi người nhận bản đồ vùng hành quân từ ban 2 .

Tôi cũng họp các Sỉ quan Trung đội trưởng để ban lịnh di chuyển theo thứ tự : Trung đội 1 (Th/U Nguyễn văn Kiều ), Trung đội 2 ( Ch/U Đổ trung Giao ), Ban chỉ huy ĐĐ2 và Trung đội Súng nặng ( Th/Sỉ Lê văn Ký ), Trung đội 3 ( Th/U Hoàng đôn Tuấn ).

Toàn bộ Tiểu đoàn đáp xuống phi trường Quãng Ngãi vào lúc nửa đêm. Từ trên cao nhìn xuống thành phố Quãng Ngãi đang chìm đắm trong giấc ngũ say nồng . Những ánh điện lờ mờ không đủ chiếu sáng những con đường vắng lặng không một bóng người. Các Đại đội bố trí dọc theo đầu phi đạo phía nam. BCH/TĐ tạm thời ở trong một trường Tiểu học cạnh phi trường.

Buổi họp tổ chức lúc 2 giờ sáng được mở rộng cho các sỉ quan Đại đội phó và Trung đội trưởng của các Đại đội đủ thấy tầm mức quan trọng của cuộc hành quân. . Lần này chúng tôi được ban 2 và ban 3 cho biết đầy đủ chi tiết hơn :

Ba gia là một đồn nhỏ do một đại đội Địa phương quân trấn giữ. Đồn tọa lạc trên một ngọn đồi có tên là Gò Cao nằm cạnh tỉnh lộ số 5 và dọc theo sông Trà khúc. Ba gia thuộc quận Sơn tịnh và cách tỉnh lỵ Quãng Ngãi 12 Km về hướng tây. Cùng với hai cứ điểm là Trà Bồng và Hà Thành tạo thành một hệ thống phòng ngự về phía tây của tỉnh Quãng Ngãi. Năm 1960 , đồn Ba Gia đã bị VC tràn ngập nhưng QLVNCH đã phản công và chiếm lại được. Ba Gia thuộc vùng trách nhiệm của Trung đoàn 51 BB. Tiểu đoàn 1 trấn giữ Ba Gia. Tiểu đoàn 2 đóng tại thị xã Quãng Ngãi và Tiểu đoàn 3 tại Châu Ổ thuộc quận Bình Sơn.

Bộ tư lịnh Quân khu 5 CS đã phát động chiến dịch hè trên 3 hướng là Bắc Quãng ngãi, Nam cao nguyên và Bắc Kontum. Chúng xử dụng lực lượng tham chiến gồm trung đoàn 1 chủ lực của quân khu với ba tiểu đoàn 40, 60 và 90 được tăng cường các tiểu đoàn trợ chiến 45 biệt lập, tiểu đoàn 83 bộ đội địa phương.

Đêm 28/5/1965 , quân CS sẽ tấn công Duyên Phước với mục đích thu hút viện binh từ Ba Gia. Nhưng một Đại đội đóng quân tại đây đã di chuyển lên Núi Tròn. Chúng bị hố trong ngày đầu ra quân nên phải đổi kế hoạch tấn công quấy rối đồn dân vệ tại làng Phước Lộc với mục đích dụ quân tiếp viện từ Núi Tròn. Nhưng Đ/U Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/51 đóng quân tại Ba Gia lại dẫn hai đại đội đi tiếp viện. Đơn vị đã lọt vào ổ phục kích của tiểu đoàn 90 tại Lộc Thọ. Cuộc chiến xảy ra rất ác liệt , Tiểu đoàn trưởng tử trận. Còn lại 65 người và 3 Cố vấn Mỹ đã về tới thị xã Quãng Ngãi, trong khi đó thì đồn Ba Gia đã bị đánh chiếm.

Tin tình báo cho biết, quân CS có ý định đánh chiếm tỉnh lỵ Quãng Ngãi. Thiếu tướng Nguyễn chánh Thi đã cấp tốc cho mở cuộc hành quân đập tan ý định của địch, đồng thời tái chiếm đồn Ba Gia.

Lực lượng tham dự hành quân gồm Trung đoàn 51 Biệt lập, Tiểu đoàn 39 BĐQ và Tiểu đoàn 3/ TQLC. Thành phàn yểm trợ hỏa lựa gồm một Tiểu đoàn Pháo binh 105 ly và một Tiểu đoàn 155 ly. Theo phóng đồ hành quân thì lấy hai con sông Trà Bồng và Trà Khúc làm hai trục tiến quân chính. TĐ3TQLC ở giữa, phía nam là một Tiểu đoàn của trung đoàn 51, còn phía bắc là Tiểu đoàn 39 BĐQ.

B. Diễn tiến hành quân :

Buổi sáng ngày 30/5/1965 , tuy mới 5 giờ sáng nhưng ba cánh quân của lực lượng tấn công là Bộ binh ở phía nam, BĐQ ở phía bắc và TQLC ở trung tâm, lấy thiết lộ bắc nam làm tuyến xuất phát đã khai triển đội hình và bắt đầu tiến về phía tây. Màn đêm vẫn còn phủ dầy lên phố xá, những ánh đèn điện màu vàng giăng mắt trên những cột trụ điện khẳng khiu như không dám chiếu hết những ánh sáng. Đoàn quân di chuyển âm thầm qua phố thị. Cánh B gồm Đại đội 1 ở phía nam giáp với Bộ binh, Đại đội 2 phía bắc , cùng bố trí hàng ngang quay về phía tây.

Sáu giờ sáng, mặt trời bắt đầu ló dạng, ánh Thái dương tỏa rộng khắp nơi, lờ mờ về phía tây khoảng 4 Km là một bìa làng. So với địa thế trên bản đồ, tôi đoán chắc ngay đó là Mục tiêu 1 (ấp Sơn châu thuộc làng Duyên Phước ). Tôi bàn với Th/U Quang phương cách vượt qua khu vực trống trãi phía trước và tiến chiếm bìa làng. Địa thế trước mặt là cánh đồng đã gặt xong , thật là trống trãi đến nỗi tôi có thể nhận thấy lờ mờ những người lính của Tiểu đoàn 39 BĐQ cũng đang tiến về phía tây. Họ đang theo đường An thuyết, Vĩnh lộc, Vĩnh Khánh để tiến về cao điểm Chóp Nón. Cánh đồng ruộng khô thật trống trãi. Tôi ra lịnh cho các Trung đội mở thật rộng đội hình dàn hàng ngang. Nhìn về hướng tây nam , tôi thấy đứa con đầu không xa lắm, ngay lúc đó tôi nghe T/U Quang báo cho biết toán tiền thám đã bám được bìa làng.

Đúng 10 giờ 15, cánh B gồm hai đại đội 1 và 2 đã vào làng và đang tiến quân dè dặt, lục soát từng căn nhà trong ấp. Đại đội 2 đã vào đến giữa làng, vườn không nhà trống , thôn xóm vắng tanh , không một bóng người. Hình như tôi linh cãm có một điều gì bất thường. Phải chăng đây là một thế trận mà địch đã lựa chọn sẳn giống như ở Việt An ( Thăng Bình - Quảng Nam ) cách đây vài tháng .

Cánh A của Tiểu đoàn gồm Đại đội 3 của Tr/U Phạm văn Sắt và Đại đội 4 của Đ/U Nguyễn văn Đã và Đại đội Chỉ huy của Đ/U Đoàn Thức cũng chiếm xong Mục tiêu 1. Cả Tiểu đoàn bung rộng ra thành một vòng đai an toàn.

12:15 giờ, có tiếng súng đủ loại nổ rồn rã ở phía Bắc. Tiểu đoàn 39 BĐQ đang đụng ,cường độ mỗi lúc một gia tăng . Sau nhiều giờ chạm súng ác liệt, TĐ39/BĐQ đã đánh tan TĐ90 của địch , chiếm được hơn 100 vũ khí đủ loại và đã tràn lên chiếm cao điểm chóp nón. Đại đội 1 /TĐ3/TQLC trong khi lục soát làng Duyên Phước đã bắt được một lịnh hành quân khá quan trọng của Sư đoàn 3 Sao vàng CSBV, có 4 mục tiêu thật rõ ràng :

_ Tấn công đồn Ba gia.

_ Tiêu diệt các đơn vị tiếp viện của Trung đoàn 51 Biệt lập và SĐ2/BB.

_ Đánh bại các lực lượng trừ bị của Quân Đoàn ( BĐQ ) và Tổng trừ bị ( TQLC ). Dụ quân Mỹ đưa quân vào tiếp ứng và đánh bại quân Mỹ.

Tài liệu nói lên ý định phát động chiến dịch Hè của Bộ chỉ huy quân khu 5 của CS mà Ba Gia là một trong những hướng tấn công của địch. Chắc chắn hiện giờ địch tập trung một số quân khá đông đảo.

Cánh B tiếp tục tiến về Mục tiêu 2 tức là Núi Tròn. Dọc đường phát hiện được nhiều dây điện thoại kéo dài theo hướng bắc nam.

Các cánh quân ở phía nam của Trung đoàn 51 bắt đầu đụng độ với tiểu đoàn 40 VC. Lực lượng địch chỉa mũi tấn công chính về phía Đại đội 4. VC bắt đầu xuất hiện phía trước Đại đội 1. Càng lúc chúng càng tiến sát. Những loạt đạn súng cối 82 ly của giặc rãi khắp Tiểu đoàn , cũng chẳng gây sự thiệt hại nào đáng kể . Sau loạt pháo, VC bắt đầu tấn công từng đợt vào các vị trí của ta. Nhưng tất cả ý định của chúng bị ta bẽ gảy, xác địch nằm rãi rác phía trước tuyến phòng thủ.

Rồi tự dưng tiếng súng thưa dần và dứt hẳn . Đại đội 3 và 4 cẩn thận tung quân lục soát phía trước. Đại đội 1 và 2 vẫn vững vàng tại vị trí phòng thủ. Những quân nhân tử thương và bị thương được đưa về Trung đội Quân Y của TĐ để săn sóc và lập thủ tục tản thương.

Rồi tiếng đạn pháo kích từ phía tây của Núi Tròn, tiếng đại bác không giật 57 và 75 ly, liên tục ,dồn dập vào vị trí của Tiểu đoàn. Rồi từ hướng Nam và Đông nam, tiếng còi tiếng kèn, tiếng hò hét xung phong của địch vang động cả một góc trời. Chúng mở cuộc tấn công trở lại vào ĐĐ3 và ĐĐ4. Nặng nhất là tại vị trí của Đại đội 4. Một vài nơi bị chọc thủng . ĐĐ2 được xử dụng như một đơn vị tiếp ứng và phản công , đánh thẳng vào hông phải của địch một cách bất ngờ. Chúng phải bỏ hướng tấn công chính vào ĐĐ4 mà quay toàn lực về hướng tây để chống lại ĐĐ2 đang như vũ bảo tiến lên . Các trung đội tỏa ra lục soát từng căn nhà , bắn gục những tên địch đang rối loạn bỏ chạy. Những quả 57 ly không giật triệt hạ từng căn nhà mà bọn chúng chạy vào ẩn trốn. Hạ sỉ Từ bá Xuân cùng hai người bạn nhào lên để xâm nhập vào một căn nhà vừa bị tác xạ, còn bồi thêm mấy quả lựu đạn. Rồi cả ba nhào vào bên trong. Rồi hai người nhảy ra ngoài bố trí và quan sát. Hạ sỉ Xuân cũng nhanh nhẹn nhào ra, tay trái cầm khẩu thượng liên vừa chiếm được dơ lên cao. Và cùng lúc đó tôi thấy HS Xuân vặn người rồi đổ xuống bên cạnh cây thượng liên. Tôi hét lên và chỉ vào căn nhà bên trái vừa bắn ra cách HS Xuân chừng 100m :

_ Hạ sỉ Sáng ! 57 ..nạp đạn.. bắn vào căn nhà đó.

Sau khi dứt phát đạn 57 ly, Th/U Nguyễn văn Kiều cho trung đội mình vào chiếm ngay căn nhà, ba tên VC banh xác. Cả Đại đội hàng ngang tiếp tục tiến lên. Tôi đến bên HS Xuân cầm chặt tay người lính can đảm và anh dũng đó. Anh bị hai viên đạn vào ngực và bụng. Tôi thầm cầu mong cho Anh được thoát khỏi tay tử thần. Tôi ra lịnh cho Tr/sỉ Nhân cùng một số quân nhân của Đại đội chỉ huy tăng cường đưa nhanh các thương vong và chiến lợi phẩm còn nguyên vẹn về BCH/TĐ gần giao thông hào của Ấp chiến lược cũ.

Vì bị đánh bất ngờ bên hông nên địch phải chuyển hướng mục tiêu để chống đở với ĐĐ2, do đó áp lực đối với ĐĐ4 đã yếu hẳn : nhất là khi ĐĐ2 đã bắt tay được với ĐĐ4 . Sự phối hợp chặt chẽ giữa hai đơn vị qua sự điều động đúng lúc của Th/tá Tiểu đoàn trưởng và sự cung cấp hỏa lực chính xác mạnh mẽ của Đ/U Tiểu đoàn phó nói lên tính chất tham mưu hợp lý và bài bản chiến thuật tuyệt vời . Cũng như sự ăn ý, hợp đồng của các sỉ quan trong Tiểu đoàn 3/TQLC. Kế tiếp, ĐĐ2 trám tuyến ĐĐ4. Đại đội 4 lui về tuyến sau của TĐ. TĐ3/TQLC tái lập liên lạc với TĐ39BĐQ và Trung đoàn 51 Biệt lập. TĐ 39 BĐQ đã chiếm được cao điểm Sơn Trung và đã thắng một trận vang dội với những vũ khí tịch thâu và số xác địch đếm được trên trận địa.










( Phóng đồ vùng hành quân Ba gia – Quãng Ngãi )


Những tia nắng quái chiều hôm vội vã tan loãng vào hoàng hôn. Và bóng đêm cũng lan ra rất nhanh. Mà bóng đêm thường đồng lõa với với bọn quỉ dữ CS. Chúng chưa chịu bỏ đi cái ý tưởng cuồng sát , xua đuổi bao nhiêu con người vào vòng lửa đạn. Chắc chắn là bọn chúng sẽ trở lại đêm nay. Tiếng súng tại các tiền đồn phía trước đã bắt đầu nổ vang. Những người lính trở về báo cho biết : “ Bọn VC đã dàn hàng ngang đang tiến vào trước Đại đội.” Những quả lựu đạn gài, những quả mìn định hướng claymore được dàn ra phía trước. Tất cả các loại súng đều mở khóa an toàn. Từ Garant M1, carbine, trung liên BAR, đại liên 30,..sẳn sàng đối đầu với AK47, K60, B40, B41, SKZ 75 ly..Tiếng hô xung phong của giặc vang lên 4 phía của Tiểu đoàn. Chúng dùng chiến thuật biển người để tràn ngập , Nhưng dễ dầu gì ! Dãy chiếu sáng bật lên hàng ngang, từng đợt người nhào tới làm vật hysinh thảm hại sau những tiếng nổ chát chúa của những quả mìn claymore và những lựu đạn gài.

Đợt xung phong đầu tiên của địch bị bẽ gảy. Tiếng rên la của những tên VC bị thương cũng như tiếng gọi tản thương của đồng bọn vang lên cả khu vực trước các Đại đội 2 và 3. Pháo binh được gọi liên tục gây nhiều thiệt hại cho bọn chúng trên đường rút lui.

Khoảng 2 giờ sáng, chúng trở lại tiền pháo hậu xung và mở trận tấn công còn ác liệt hơn nhiều. Pháo binh bỗng dưng im lặng . Tôi không biết vì sao. Thôi phải xử dụng Súng cối 82 cơ hửu của Bằng già, súng cối 60 ly và không giật SKZ 57 loại đạn chài của các Đại đội. Lần này ta cũng khá vất vã mới đẩy lùi được bọn chúng.

Rồi đến đợt tấn công sau cùng vào lúc 3 giờ sáng. Số đạn dược cạn dần. VC đã dùi một lỗ thủng qua Trung đội của T/U Thái Bông thuộc Đại đội 3, đóng giáp với Trung đội 1/ĐĐ2 của Th/U Nguyễn văn Kiều . Tôi nghe tiếng Kiều báo cáo trong máy :

_ Bắc Giang đây Ka ta ! Thằng con của Sông Hương (ĐĐ3 của Tr/U Phạm văn Sắt ) đi đong rồi. VC ủi bên hông tôi. Tôi đang cho con cái quây vòng lại chiến đấu.

Tôi chưa kịp trả lời Kiều thì đã thấy trước mặt, mấy tên VC lọt vào và đã bị Trung đội 4 Súng nặng hạ sát. Th/U Quan cũng cho tôi biết hai trung đội 1, 2 của Ch/U Đổ trung Giao và Hoàng đôn Tuấn cũng bị VC tràn ngập.

Trên tần số của máy liên lạc Tiểu đoàn , tôi nghe tiếng của Đ/U Tiểu đoàn phó ra lịnh cho các con cái lui về kháng tuyến cuối cùng. Toàn bộ Tiểu đoàn 3 /TQLC giờ đây phải phòng ngự dọc theo giao thông hào của một ấp chiến lược cũ. Ánh sáng hỏa châu soi sáng khắp nơi. Chiến tuyến của hai bên cách nhau trên dưới 100m. Trong lúc lui quân, Đại đội chỉ huy đã để quên tấm panel ( tấm vải màu dùng để đánh dấu vị trí của minh cho phi cơ quan sát dễ nhìn thấy ). Tấm vải này nếu rơi vào tay VC thì rất nguy hiểm ; bọn chúng sẽ xử dụng làm mốc điều chỉnh cho pháo hoặc tấn công. Một người lính của ĐĐCH vừa nhảy ra khỏi giao thông hào chạy đến gần tấm panel đã bị một loạt đạn AK bắn gục . Th/sỉ Hào, Thường vụ của ĐĐ4 đã thốt lên một tiếng : “Để tao” . Rồi với tất cả sự kinh nghiệm, khôn ngoan và nhanh nhẹn của mình đã chọp tấm panel đồng thời kéo Binh I Mạnh vào bên trong tuyến của ĐĐ2 , trước sự khâm phục của mọi ngưòi.

Toàn thể đơn vị rất vui mừng khi nghe Tiểu đoàn thông báo là Tiểu đoàn 1/TQLC sẽ đến tiếp viện vào sáng mai. Bây giờ thì bằng mọi giá TĐ3/TQLC sẽ trụ lại vững chắc tại nơi này.

Đến 3 giờ 45 , đợt tấn công cuối cùng của VC vào chính diện các Đại đội cũng bị bẻ gảy. Chúng cứ nghĩ rằng TĐ3TQLC chiến đấu cả ngày và sau nhiều đợt xung phong của bọn chúng vào ban đêm, sẽ hết đạn . Và đó là cơ hội tốt nhất. Và bọn quỉ dữ đã lầm mất rồi. Chúng phải ôm đầu máu một lần nữa và cấp tốc rút quân không kịp kéo theo các thương vong. Tiếng súng bên TĐ39 BĐQ cũng nổ rồn rã.

3. Phần cuối:

Tháng năm chưa nằm đã sáng ! Mới 6 giờ mặt trời đã bắt đầu lên cao. Trên bầu trời trong xanh, không có một tí mây vẫn đục, đợt trực thăng vận đầu tiên bay ngang qua khu chiến trận của TĐ3 , đã đổ những con chim lạ Quái Điểu xuống bãi đáp phía bắc của Đồn Ba Gia. Giữa khu chiến địa điêu tàn, xơ xác đầy mùi tử khí, TĐ3 TQLC như được tiếp thêm một luồng sinh khí mới . Ai nấy đều đầy lòng phấn chấn. Tất cả đều bung rộng về phía trước để lục soát. Trong yên lặng , bỗng chiếc máy truyền tin của Tiểu đoàn vang lên giọng nói trầm ấm của Th/tá Tôn thầt Soạn , Tiểu đoàn trưởng TĐ1 kiêm Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn B, gọi Th/tá Nguyễn thế Lương , TĐT/TĐ3TQLC :

_ Long Mỹ ! Đây Sài gòn gọi ., nghe rõ trả lời.

_ Sài gòn đây Long Mỹ , tôi đang nghe.

_ Tôi đang bay trên vùng trách nhiệm của TQLC. Quái Điểu đang hạ cánh xuống phía tây và tây bắc của Anh. Nếu cần gì thì gọi tôi sẽ đến với Anh ngay !

_ Long Mỹ nhận rõ.

Mặt trời lên cao, chiếu những ánh nắng rực rỡ. Hai chiếc trực thăng của Mỹ đến di tản những thương binh và tử sỉ, đồng thời tiếp tế đạn dược thực phẩm cho Tiểu đoàn đầy đủ , cũng như tải những chiến lợi phẩm và tù binh bắt được của địch.

Tiểu đoàn 3 tiếp tục đoạn đường hành quân, tiến chiếm MT2 và MT4 song song với TĐ1TQLC chiếm các Mục tiêu 1,3 và 5.

Đến ngày N+5 ( 4/6/1965 ), Tiểu đoàn tạm rời vùng hành quân thuộc vùng Ba gia ,Quãng Ngãi rồi được không vận về nghĩ dưỡng quân ở Hậu cứ , Thủ Đức.

Sau đó người lính Sói Biển lại tiếp tục hành trình chinh chiến của mình trên khắp 4 vùng Chiến thuật..

MX Lê Bá Bình