Showing posts with label biệt khu 24. Show all posts
Showing posts with label biệt khu 24. Show all posts

Friday, August 16, 2024

BA NGÀY SAU KHI BỊ THƯƠNG, MỘT PHI CÔNG MỸ LẠI TIẾP TỤC BAY, ĐỂ RỒI CHẾT VÌ MỘT VIÊN 12.8 LY XUYÊN QUA ĐẦU.

TRẬN ĐỨC LẬP 1968, THEO TƯỜNG TRÌNH SAU TRẬN ĐÁNH CỦA CỐ VẤN MỸ. 

Lính DSCĐ và nón cối và chất nổ bangalore. Trung sĩ Mike Dooley, một họa sĩ truyện tranh, đã trực trong đêm xảy ra trận đánh. Ba ngày sau đó, xác y nằm sóng sượt trong 1 giao thông hào bằng bao cát. Y đã chết vì đạn bắn sẻ trúng đầu. Trong tranh, người tù binh CSBV nói với lính Mỹ: Tôi bị cưởng bách đi lính.



Bản tường trình này lập bởi chúng tôi gồm thiếu tá Billy Biberstein, trưởng ban Quân sử số 13; đại úy Joe Meissner, trưởng ban Quân sử số 21; và thiếu tá Lamar Peyton, trưởng ban Quân sử số 45. 

Những người được chúng tôi phỏng vấn gồm:

a/ ĐT Rex Sage, cố vấn trưởng của sđ 23 bộ binh VNCH.

b/ Trung tá Charles Harrison, sq liên lạc không quân của sđ 23 bộ binh.

c/ Thiếu tá Robert Mize Jr, cố vấn phòng 2 của sđ 23.

d/ Thiếu tá Anthony Nieves, cố vấn trưởng chi khu Đức Lập, thuộc toán 32.

e/ Đại úy Wyne Arnold, tiền sát viên, đã bay hơn 50 giờ và điều khiển hơn 60 cuộc không kích trong trận đánh, người bên phải trong ảnh.

f/ Trung úy William Harp, trưởng toán 239 và cố vấn của toán 119 LLĐB VN tại trại Đức Lập, người bên trái trong ảnh.

g/ Đại úy Nguyễn như Phúc, quận trưởng Đức Lập.

Và một số sq, HSQ khác.

A. Quân số tham chiến: 

a/ Ngày 23.8.1968.

1/ Tại chi khu Đức Lập:

Ngoài toán cố vấn 32 của chi khu còn có:

(a)   Đ.đ. 379 ĐPQ

(b)  Trung đội 21 nghĩa quân (NQ)

(c)  Trung đội  24 NQ

2/ Tại Trại DSCĐ Đức Lập hay Dak Sak có:

(a) Toán A-239 LLĐB Mỹ

(b) Toán LLĐB VN

(c)  Đ.đ. 561 DSCĐ

(d)  Đ.đ. 562 DSCĐ

(e)  Đ.đ. 563 DSCĐ

(f)  Đ.đ. 564 DSCĐ

(g) Đ.đ. 202 Mike Force

(h) Đ.đ. 204 Mike Force

(3) Đ.đ. 411 Thám kích của sđ 23

(4) Tiền đồn Bon Sar Pa của đ.đ. 281 ĐPQ.

b/ Ngày 24.8.1968

(1) Tại Chi khu có: TĐ 2 (trừ) của trung đoàn 45 thuộc sđ 23 VNCH. 

(2) Tại Trại DSCĐ có: Đ.đ. 203 Mike Force

c/ Ngày 25.8.1968: Tại trại Đức Lập, có đ.đ. 201 Mike Force thay thế đ.đ. 204 Mike Force. Có đ.đ. 3 và 5 Mike Force từ Nha Trang tăng cường. 

d/ Ngày 26.8.1968: ko thay đổi. 

e/ Ngày 27.8.1968: Tại chi khu, tăng cường đ.đ. 285 ĐPQ và TĐ 1/45 của sđ 23 VNCH. 

f/ Ngày 28/8/1968: đ.đ. 410 Thám kích thay thế đ.đ. 411 Thám kích.

Ba ngày kế ko thay đổi.

B. Các lực lượng yểm trợ: 

a/ Đ.đ. 155 trực thăng tấn công.

b/ Pháo đội A của TĐ 4/42 pháo binh Mỹ

c/ Đ.đ. C thuộc TĐ 4/503 của lữ đoàn 173 Dù, bảo vệ CCHL.

Về không quân có: 

1/ Phi đoàn 6 hành quân đặc biệt dùng toàn Skyraider

2/ Phi đoàn 14 hành quân đặc biệt dùng toàn trực thăng UH-1B

3/ Các Phi đoàn 3, 31, 35, 37, 366 không quân chiến thuật, dùng toàn F-100

4/ Phi đoàn 12 không quân chiến thuật, dùng toàn Phantom F-4

5/ Các phi đoàn 3 và 4 dùng toàn AC-47 Spooky

C. Tình báo: 

Trong 7 tuần trước trận tấn công vào BCH chi khu Đức Lập và trại DSCD Đức Lập hay Dak Sak ngày 23/8/1968, người ta đã dự đoán một tấn công vào Ban Mê Thuột (BMT), tỉnh lỵ của Darlac và những căn cứ chung quanh bao gồm Đức Lập. 

Địch quân đã tập trung lớn lao chung quanh khu vực Nam Lyr của Cam-bốt, đã được chúng tôi thường xuyên theo dỏi. Đv lớn đang được chỉnh trang và huấn luyện tại khu vực Dak Dam là sư đoàn 1 csbv, đang tạo 1 đe doạ thường xuyên cho khu vực Đức Lập vì khu vực này chỉ cách biên giới 7 km. Trong suốt tuần lễ trước cuộc tấn công, nhiều toán nhỏ của địch đã di chuyển theo hướng tây đông đã được phát hiện chung quanh khu vực Ban Mê Thuột (BMT). Người ta đã dự đoán csbv sẽ dùng một con đường ở nam Đức Lập để chuyển tiếp liệu và người vào khu vực tập kết để chuẩn bị tấn công Ban Mê Thuột (BMT). Hoạt động duy nhứt của địch trước khi tấn công là lúc 2100 ngày 11/8/68 khi một lực lượng địch ko rõ quân số đã tấn công Ấp Đức Minh I toạ độ YU 864756, thiệt hại của bạn ko có và của địch ko rõ. Lúc 1200 ngày 17.8.68, địch đã tập hợp dân để tuyên truyền tại một địa điểm 3 km nam Đức Lập và yêu cầu dân cung cấp tin tức về quân chánh phủ trong khu vực. Các đv ĐPQ của chi khu đã hành quân thám sát khu vực trong tuần lễ trước cuộc tấn công nhưng ko gặp địch.

Trong bản tin tình báo hàng tuần từ 11-17 tháng 8, in bởi Toán Cố vấn 32 của Tỉnh Quảng Đức, đã kết luận:

"Những báo cáo liên tục về các đv cấp trung đoàn trong khu vực biên giới, các hoạt động đáng kể trên các đường mòn, phát hiện 1 đường mới đang xây ở phía bắc Quận Đức Lập, tin mật báo của các cảm tình viên, ghi nhận của các máy điện tử gài trên đường mòn (APD) và sự khan hiếm (dearth) các đụng độ với địch dù nhỏ nhặt hình như đã chỉ rõ địch chủ yếu dùng Tỉnh Quảng Đức làm HÀNH LANG XÂM NHẬP. Các đường xâm nhập có vẻ thường đi ngang đặc khu hành chánh (special district) Duy Xuyên và kế đó vào phía nam Tỉnh Darlac; đi ngang phía nam Quận Đức Lập và phía tây Quận Khiêm Đức để vào Tỉnh Lâm Đồng; và đi ngang phía đông Quận Kiến Đức để vào Tỉnh Phước Long và Quân khu 3.

"Ngoài khu vực Đức Lập, ko có chỉ dấu về bất cứ tập trung quân địch cho 1 cuộc tấn công khác. Có 1 số truyền đơn nói rằng địch sẽ tấn công 1 số căn cứ trong khu vực của tỉnh lỵ Gia Nghĩa, nhưng ko có dấu hiệu rõ ràng. Chi khu và trại Đức Lập vẫn luôn luôn là mục tiêu của địch trong quá khứ do gần các căn cứ lớn của địch bên kia biên giới.

Nên lưu ý rằng ko có bất cứ tin tức nào về địch sẽ tấn công Đức Lập vào đêm 23/8. Một cuộc phỏng vấn vào ngày 4/9 với chuyên viên bậc 6 James Griffin, một HSQ phụ trách về tình báo của tỉnh (vì cố vấn về tình báo của tỉnh là đại úy Donald Grant đã bị thương trong trận đánh và đã di tản) đã phát hiện rằng 30 ngày trước trận đánh đã có 15 báo cáo về các đv lớn của địch gần biên giới chung quanh Đức Lập và trong khu vực núi Nam Lyr. Các máy điện tử đánh hơi người (sniffer) đã ghi nhận đông đảo địch ở 30 km đông Đức Lập.

Tin tức về tập trung quân lớn lao của địch trong khu vực vẫn được ghi nhận trong lúc chúng tôi viết bản tường trình về trận đánh này. Ngày 3.9, một chủ đồn điền trong khu vực Đức Lập đã báo cáo chi khu rằng khoảng ba sđ csbv (28.000 người) đã đi ngang khu vực hai km tây bắc của BCH chi khu. Dù tin tức ko thể xác nhận nhưng phi pháo được gọi. 

Lực lượng tấn công vào ngày 23.8 đã xâm nhập Nam VN, phần lớn dọc theo các con đường đã vẽ trên overlay ở đính kèm số 5.                              


Dựa vào cường độ của trận đánh và tổn thất của địch, người ta ước tính khoảng 4.000 người đã tham chiến trong trận đánh này trong 4 ngày tại Đức Lập. Dựa vào tài liệu và cung từ của tù binh người ta biết có trung đoàn 320, trung đoàn 95C, còn gọi là trung đoàn E2 và TĐ 8 của trung đoàn 66, cả ba đều thuộc sđ 1 csbv.

Tất cả võ khí tịch thu đều tình trạng tốt, một số mới tinh. Hai súng phun lửa tịch thu có vẻ trong tình trạng tốt nhưng ko ai thấy họ dùng súng nầy. Các tù binh đều khoẻ mạnh và chỉ có 1 trong 4 người bị sốt rét. Tuổi trung bình là 25, đều bị động viên và đã ở lính từ 9 tới 13 tháng. Có 2 người là đoàn viên Thanh niên. Thỉnh thoảng họ ăn cơm với cá tươi hay cá hộp. Họ sợ nhứt là B-52 vì các đv của họ đã bị B-52 đánh bom 2 tới 5 lần. 

Khả năng xâm nhập của địch vào trại khoảng hai tiểu đội đặc công có thể giải thích dựa theo một xét duyệt các hoạt động trong quá khứ của các đv đóng trong BCH chi khu. Theo một phỏng vấn với thiếu tá Harris, cố vấn của ĐPQ/NQ tỉnh, khoảng 3 tháng trước trận đánh, đã xảy ra đụng độ giữa lính Thượng và lính VN trong đ.đ. 379 ĐPQ, khiến khoảng 50/100 quân số đ.đ. bị thay thế. Lúc đó đ.đ. này được xem như 1 trong những đ.đ. ĐPQ giỏi nhứt tỉnh. Vì có ba trong bốn lính gác ở các nơi mà địch xâm nhập vào BCH chi khu vẫn còn mất tích, người ta có thể nghĩ rằng tình trạng thù nghịch giữa lính Thượng và VN vẫn còn trong các đv ĐPQ/NQ ở Đức Lập. Địch đã biết những khu vực quan trọng trong BCH chi khu cũng như tòa nhà của toán cố vấn chi khu để ném chất nổ hay bắn cối, đã khiến một cố vấn chết và 6 bị thương, xem hình. 


Thời tiết của khu vực Đức Lập trong 10 ngày trước trận đánh có đặc điểm mây thấp, mưa, sương mù, và rất xấu cho máy bay hoạt động. Nhiệt độ trong 10 ngày này từ giữa 60 độ F vào ban đêm tới gần 80 độ F vào buổi chiều. Trong những giờ sáng sớm, thường có mưa phùn (drizzle), lác đác sương mù sát đất, 90-100/100 mây che và trần mây từ 300 đến 1.000 bộ. Sương mù tan biến và trần mây gia tăng vào buổi trưa. Thỉnh thoảng có những cơn mưa vào buổi chiều và những cơn mưa nặng hột buổi tối. Ngày 23/8, thời tiết tốt và trong 6 ngày hoạt động của không quân ko trở ngại. Những người được phỏng vấn đều đồng ý thời tiết tốt, cho phép không yểm tiếp cận, là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thất bại của đối phương.
Địa thế của khu vực là đồi với rải rác đồn điền trà và cà phê. Do là mùa mưa nên các suối đều có nước. Trong khu vực có nhiều đồi, và cây cối rậm rạp, đã giúp địch có nhiều đường tiếp cận, đặc biệt khi trời tối. 
Lúc đầu, khi trận đánh xảy ra, người ta nghĩ rằng đây là chiến thuật nghi binh, để thu hút quân đồng minh rời xa Ban Mê Thuột. Điều này ko sai khi nhiều đv lớn và nhỏ của địch hoạt động khắp khu vực.
Nhiệm vụ: Nhiệm vụ chánh của các đv NQ/ĐPQ, DSCĐ và Thám kích là bảo vệ chi khu. Trong đêm 23/8, họ là 1 trong những đv bảo vệ BCH chi khu. 
Quan niệm hành quân:  Cuộc hành quân bảo vệ thành công khu vực Đức Lập được mô tả ở phần Thực hiện dưới đây.
Thực hiện: Trận Đức Lập đã bắt đầu khi địch tấn công BCH chi khu (CK) lúc 0105 giờ ngày 23.8. Cùng lúc, địch cũng tấn công tiền đồn của đ.đ. 411 thám kích ở 1 km tây bắc chi khu (CK). Chúng bắn B-40, cối 60 ly, cối 82 ly, và cối 120 ly, và theo sau bởi đặc công tấn công vào các vị trí quan trọng của chi khu (CK). Theo các cố vấn, đặc công, khoảng hai tiểu đội, đã xâm nhập từ cạnh tây nam và đông nam của phần đất hình tam giác của BCH CK, xem hình, do NQ trấn giữ, bằng cách dùng kèm cắt kẽm gai của Mỹ, để mở đường xuyên qua hàng rào kẽm gai thả rối hai lớp bao quanh BCH CK. (Nói thêm về đ.đ. thám kích: Theo tác giả Hà Quế Linh, "... đây là một binh chủng chỉ dành riêng quân khu 2 với 13 đại đội thám kích (TK), được chia cho sư đoàn 22 sáu đại đội từ 401 TK đến 406 TK và sư đoàn 23 từ 407 TK đến 413 TK ... Các đại đội này được hưởng trợ cấp nguy hiểm binh chủng, như nhảy dù, biệt động quân, hay TQLC. Khi mới thành lập từ sĩ quan đến binh sĩ phần đông sắc tộc cao nguyên, sau này các sĩ quan người Kinh được lần lượt thay thế. Trước năm 1970 các đại đội TK được cố vấn bởi các sĩ quan LLĐB Mỹ đảm trách. Để bảo vệ an ninh phòng thủ cho BTL sư đoàn 22, đồn trú tại Bà-Gi gồm có hai đại đội thám kích 401, 405 và đại đội 22 trinh sát. Ba đại đội biệt lập này dưới sự điều động của phòng Nhì và phòng Ba sư đoàn, nó là những con cưng và đơn vị tôi 405 TK được vinh hạnh trong nhóm này" -- ND)
                               

Sau đó đặc công ném chất nổ vào nhà của toán cố vấn, 1 hố súng cối 60 ly, máy phát điện và xe của cố vấn. Chất nổ đã lập tức làm bị thương 5 cố vấn. Mọi cố vấn, trừ trung úy Kenneth Reed, cố vấn phó CK, và thiếu tá Tony Nieves, cố vấn CK, đều núp dưới giường. Thiếu tá Nieves và trung úy Reed chạy tới bunker của CK trưởng. Nhưng vừa ra khỏi cửa, cối và B-40 đã khiến Nieves lao xuống đất, nhưng trung úy Reed tử trận do trúng miểng.  
Các cố vấn còn lại phóng nhanh đến một bunker có nắp kế nơi ở của họ. Sau đó Nieves chạy tới. Ngoài cố vấn, còn có 2 thông dịch và một đầu bếp VN ở trong bunker này.                           
Trung sĩ William Collier Jr, HSQ ban 3 và ban 2, liên lạc với trại Dak Sak, thông báo bị tấn công, và xin giúp đỡ. Trại Dak Sak bắn cối chiếu sáng để giúp CK. Chỉ trong vài phút, trại này cũng bị tấn công bằng súng nhỏ và súng đại liên. Một lực lượng phản ứng rời trại để giúp CK nhưng bị chận đánh ở cổng chánh của trại và phải rút lui. TS Collier, gọi tỉnh Quảng Đức nhưng ko được, nên gọi TTHQ của sđ 23 ở Ban Mê Thuột để xin gunship và AC-47.
Gunship thuộc đ.đ. 155 trực thăng tấn công đặt tại BMT đã có mặt sau 30 phút, và sau đó 15 phút là AC-47 hay Spooky. Máy bay cho TS Collier biết cối và B-40 đặt chung quanh trại trong khoảng cách từ 200 tới 2.000 m. Spooky vừa bắn chiếu sáng và đại liên 6 nòng chung quanh trại. Khẩu cối 107 ly của ĐPQ đặt tại CK đã tiếp tục phản pháo.
Trung úy Nguyễn như Phúc, quận trưởng kiêm CK trưởng Đức Lập, dù bị thương nhưng ko chịu tản thương. Ông đã thăng cấp đại úy bởi TT VNCH vào ngày 30.8.1968. Trung úy Phúc, Trung úy Phạm Mạnh, và Chuẩn úy Lê Hồng Điềm đều được tuyên dương vì chiến đấu dũng cảm trong những giờ phút đầu tiên của ngày 23.8. Họ đã liên tục di chuyển trên giao thông hào để động viên binh sĩ hay thay thế những chỗ mà binh sĩ đã chết. Do vậy cả ba được trao tặng huy chương Bronze Star with "V" device bởi trung tướng William R Peers, TL của lực lượng 1 Dã chiến vì tinh thần chiến đấu anh dũng.
Cối và B-40 tiếp tục rơi xuống BCH CK tới khoảng 1 giờ trước khi sáng tỏ. Đặc công, ngoài lựu đạn TC và LX, còn dùng mìn bangalore và chất nổ C4 để phá những vị trí trong bch CK. Khi trời vừa sáng tỏ, đã có 11 xác lính csbv trong CK. Hai tên khác tử thủ trong một nhà kho, và bị ĐPQ giết lúc 0800. 
Lúc 0700, các bunker của cố vấn đều bị cháy nên 8 cố vấn, trong đó 6 bị thương, di chuyển tới khu vực đông bắc của chu vi để chống trả. Lúc 0830, một bch đặt tại cổng CK.
Các vị trí đại liên của địch đặt chung quanh CK cho thấy địch rất rành các đường tiếp cận hay tiến sát của máy bay. Lúc 0700, một gunship bị bắn rơi ở 75 m tây bắc của CK, làm bị thương trung úy Fred O. Pratt, phi công và một phi hành đoàn. Các cố vấn nhanh chóng chạy tới trực thăng, lôi kẻ bị thương và đưa họ vào CK. Ba ngày sau, dù còn thương tích, trung úy Pratt tình nguyện đi bay. Lần này máy bay bị bắn rơi lần nữa và Pratt bị 1 viên phòng không 12.7 ly xuyên qua và chết trên đường đến bịnh viện. 
Lúc 0900, một L-19 từ trung tâm phối hợp tác chiến của sđ 23 gửi tới và bay trên đầu của CK. Trước đó, ĐT Sage, cố vấn trưởng, tướng Ân, TL của sđ 23 và trung tá Charles Harrison, sq liên lạc không quân đã tổ chức 1 trung tâm tác chiến. (Tướng Ân và ĐT Sage đã chết do trực thăng rơi ngày 8/9/68 tại khu vực Đức Lập). Trung tâm tác chiến này được điều hành bởi không quân Việt-Mỹ, phòng 3 sđ và cố vấn của họ. 
Máy bay đã can thiệp kịp thời và tiếp tục suốt trận đánh. Lúc đầu, máy bay tấn công vào các làng bị CS chiếm quanh Đức Lập và sau đó là các mục tiêu khác trong khu vực. 
Suốt ngày 23.8, địch tiếp tục pháo vào tiền đồn với cối, B-40, súng nhỏ và tự động. Gunship và chiến đấu cơ và cối của CK đã phản pháo.
TS y tá Peel, và TS nhứt Morris White, cùng với y tá của CK, đã điều trị và lựa thương và sắp xếp di tản. Do băng cứu thương và thuốc bị phá hủy do đặc công nên y tá đã dùng giẻ rách và quần áo để băng bó vết thương và cầm máu. 
Cối, B-40 và súng tự động của địch gia tăng từ 1800 đến 2100, và lúc 2200 một tấn công bằng bộ binh từ phía tây nam của CK. Nhờ Spooky và gunship, quân phòng thủ vẫn cầm cự.
Trại Dak Sak của toán A-239 bị tấn công bằng cối, B-40 và súng nhỏ suốt những giờ đầu của ngày 23. Lúc 1200, đ.đ. 202 Mike Force, đến từ Pleiku, đã đổ xuống chân một ngọn đồi bắc đông bắc của trại. Khi tấn công đồi này, do địch chống trả dữ dội nên 202 phải rút lui về LZ hay bãi đáp. Lúc 1500, đ.đ. 204 Mike Force được thả xuống cùng bãi đáp. Sau khi bắt tay, cả hai đ.đ. tiến về hướng tây và lập 1 vị trí qua đêm trên cao điểm ở tọa độ YU 905703. Các cố vấn của Mike Force gọi máy bay và gunship để tấn công địch.
Bắt đầu từ 2100, địch tấn công trại Đức Lập với hỏa lực dữ dội của cối và B-40, sau đó là bộ binh. Đồi bắc của trại bị tràn ngập. (Trại có 2 đồi: đồi bắc nhỏ hơn, ko có quân nhân LLĐB Mỹ và VN, đồi nam lớn hơn, có lính LLĐB Mỹ và VN). Có khoảng 60 lính Thượng ở đồi bắc với vợ con. Phần lớn họ đã rút lui an toàn đi qua yên ngựa để về đồi nam. Một hiệu thính viên người Kinh, trốn trong bunker ở đồi bắc và tiếp tục báo cáo suốt đêm 23 với sq LLĐB VN. Y nói địch ở đầy đồi bắc và lập công sự phòng thủ. 
Trong lúc bay thám sát trên Đức Lập vào ngày 23, trung tá Metcalf, cố vấn trưởng của Quảng Đức, báo cáo với BCH của lực lượng 1 dã chiến rằng CK bị áp lực từ mọi phía và trại Dak Sak thì đụng nặng. Tổn thất là 1 Mỹ và 11 VN chết, 2 Mỹ và 35 VN bị thương.
Lúc 0300 ngày 24.8, địch tấn công lần nữa vào cổng chánh CK, nhưng thất bại. Trong cuộc tấn công 30 phút này, địch đã nằm giữa làn đạn của CK và đ.đ. 411 thám kích, đóng bên kia đường. 
Trong ngày 24, CK đã bị tấn công lai rai bởi cối, B-40 và súng đại liên, đặc biệt mỗi khi trực thăng tản thương hay tiếp tế. Suốt trận đánh, lính đpq/nq đã cố thủ dù bị thiệt hại vừa phải. Trong vài trường hợp, vợ lính đã nạp đạn vào súng hay chạy đến kho đạn để lấy đạn cho chồng.
Trong cuộc họp lúc 1015 ngày 24 tại TOC của sđ 23 ở Ban mê Thuột, có mặt tướng Ân của sđ 23 VNCH, tướng Stone của sđ 4 bộ binh Mỹ, và ĐT Sage, cố vấn trưởng của sđ 23, tướng Peers của 1 dã chiến đã ra lịnh điều động TĐ 4/503 Dù từ Tuy Hòa tới BMT và đặt dưới quyền của sđ 4 bộ binh. Cuộc họp cũng cho phép dùng trực thăng võ trang ở phía bắc của điểm chuẩn (grid line) 77 trong khi một cuộc oanh kích của B-52 dự trù lúc 1115 chỉ để yểm trợ cho 411 Thám kích. Tướng Peers cũng chỉ thị sq liên lạc không quân phải bảo đảm rằng các L-19 chỉ xử dụng cho khu vực phía bắc của điểm chuẩn 77, khi có yêu cầu của 411 thám kích. (Nói thêm: chỉ khi nào 411 Thám kích yêu cầu, trực thăng mới có thể hoạt động phía trên điểm chuẩn 77 -- ND). 
Tướng Peers cũng ra lịnh tướng Stone phải chuyển pháo vào khu vực cách các tiền đồn 6.000 mét. Pháo đội A của TĐ 4/42 pháo binh Mỹ chuyển đến tọa độ YU 885722. Ba vị tướng cũng bàn về việc tăng viện cho CK bằng hai TĐ của trung đoàn 45 thuộc sđ 23 vì họ thông thạo khu vực. Do trung đoàn này giữ đường ở khu vực nam của BMT, tướng Stone thay thế họ bằng thiết đoàn 1/10 của Mỹ. TĐ 2/45 thả xuống tọa độ YU 845763, tấn công về phía đông bắc và lập vị trí qua đêm. TĐ 2/45 phải tấn công địch quanh CK vào sáng sớm ngày 25.
Để bảo vệ BMT, TĐ 2/47 của sđ 22 đưa từ Phú Yên về BMT để thay TĐ 2/45. TĐ 4/503 Dù sẽ từ Tuy Hòa tới BMT và TĐ 1/41 chuyển tới Phú Yên để thay TĐ 2/47. 
Đến sáng 24.8, đồi bắc đã nằm trong tay địch. Người hiệu thính viên ở đồi bắc đã im tiếng. Đồi nam bị đe dọa; bắc quân đã xâm nhập 1 số bunker ở chu vi phía bắc của đồi chánh, nhưng quân phòng thủ vẫn giữ vững phần còn lại. 
Đ.đ. 203 Mike Force, được trực thăng vận từ BMT xuống một bãi đáp hay LZ ở gần một LZ đã được 202 và 204 Mike Force dùng. Ba đ.đ. này đã tiến về trại theo ba mủi. Gặp địch cố thủ trong công sự gần trại, họ ngừng lại và gọi phi cơ tấn công đồi bắc. Họ tiếp tục tiến với đ.đ. 202 dẫn đầu. Đại úy Sawyer, dù bị thương, dẫn đ.đ. 202 vào trại. Hai đ.đ. còn lại bị đẩy lui bởi cối và súng tự động, và sau khi rút lui về giao thông hào và bị tổn thất nặng, cấp chỉ huy buộc phải rút quân về vị trí đóng quân đêm cũ lúc 1700 để nhận tiếp tế và tải thương.  
Đ.đ. 202 Mike Force, sau khi vào trại đã lập tức chiếm giữ các bunker đối diện với đồi bắc. Đ.đ. 204 bị tổn thất nặng ở cổng trại Đức Lập và một số lính thất lạc. Theo yêu cầu của cố vấn Mike Force, chỉ huy của liên đoàn 5 LLĐB Mỹ, đã trích xuất đ.đ. 204 Mike Force vào ngày 25.8 và đưa thêm ba đ.đ. khác gồm 207 từ Pleiku và đ.đ. 3 và 4 từ Nha Trang.
Trại Dak Sak và BCHCK bị tấn công bằng cối và B-40 từ trung bình đến nặng suốt đêm 24.8.
TĐ 2/45 (trừ) của VNCH đã đổ xuống một LZ tại YU 863765 khoảng 1906 ngày 24.8. Trong lúc đổ quân, hai chiếc trực thăng chở lính hay slick đã bị bắn rơi gần YU 860768. Tấn công về bắc và tây tới cao điểm ở YU 865788, TĐ 2/45 bị hỏa lực mạnh mẻ gây 3 chết 10 bị thương, do vậy phải dừng để phòng thủ qua đêm. 
Năm phi xuất B-52 đánh vào khu vực này ngày 24.8, xem hình.
      
Trại Dak Sak, CK và TĐ 2/45 đều bị tấn công sáng sơm 25.8. CK bị tấn công lúc 0400 từ tây nam và trong thời gian ngắn. Quân ĐPQ/NQ, từ 118 lúc ban đầu, chỉ còn 61 tay súng cầm cự. Ngày 25.8, thiếu tá cố vấn Nieves của CK, báo cáo sẽ ko thể cầm cự trước 1 đợt tấn công khác nếu ko viện binh. Địch tiếp tục quấy rối họ suốt ngày bằng cối, B-40 và súng nhỏ.
Lúc 0525 đồi nam của Dak Sak bị tấn công mạnh bằng bộ binh. Địch đã chọc thủng chu vi bên trong của trại để chiếm 4 bunker ở chân của đồi nam, nằm sát bên ngoài của chu vi này. Khi địch tràn lên sườn đồi bị che khuất của đồi bắc, chúng bị đại úy Ira Horton, cố vấn của đ.đ. 204 trông thấy, từ vị trí của ông YU 905763. Ông gọi pháo tấn công. 
Lúc 0900, dưới áp lực càng gia tăng của địch, DSCĐ của Dak Sak bắt đầu rút lui từ chu vi bên trong của trại, mang theo vợ con, để lên đỉnh đồi. Trong 30 phút, lính LLĐB Mỹ đã cố gắng thuyết phục, xô đẩy và đe dọa họ; cuối cùng đã khiến họ về chu vi bên trong và cố thủ. 
Lúc 0940, hai đ.đ. Mike Force từ Nha Trang đổ xuống một LZ. Áp lực của địch tại Dak Sak lúc này nặng đến nỗi chỉ huy trại, khi thấy địch chuẩn bị công sự chung quanh chu vi, đã báo cáo rằng nếu ko có viện quân, trại sẽ thất thủ.
Hỏa lực lớn lao và liên tục của AC-47, gunship và L-19 vào ban đêm và chiến đấu cơ và B-52 vào ban ngày đã giúp rất nhiều quân phòng thủ trong các ngày 23, 24, và 25. Các L-19, ngoài việc hướng dẫn phi pháo, còn là đài tiếp vận giữa các đv dưới đất và cấp trên của họ. Trong 1 số trường hợp, địch đã ngừng ở hàng rào phòng thủ của trại hay chu vi phòng thủ của TĐ 2/45 nhờ AC-47, hay pháo bắn cận phòng hay gunship, thường hoạt động cùng lúc ở các khu vực chỉ định chung quanh chu vi. Trong thời gian từ 23-31 tháng 8, không quân Mỹ bay 314 phi xuất và B-52 chín phi xuất trong khu vực. (Cứ 1 máy bay xuất kích là 1 phi xuất).
Tin tức tình báo đầu tiên thu thập từ tù binh do CK gửi đi ngày 25.8. Y nói thuộc đ.đ. 3, TĐ 81 thuộc trung đoàn 156 và nói họ vào vùng với 4 ngày lương. 
Lúc 1000 ngày 25.8, TĐ 2/45 chạm súng với khoảng 2 đ.đ. csbv khoảng 2 km đông bắc trại Dak Sak trong lúc lục soát. Gunship và phi pháo cũng yểm trợ tối da và kịp thời cho CK Đức Lập. Đụng độ với khoảng 1 TĐ ở một km bắc ở YU 855774 lúc 1530 và với 1 đ.đ. ở gần đó lúc 1610. 
Ở Dak Sak, hai đ.đ. của Nha Trang tấn công từ tây nam đã vào trại lúc 1300. 
Trong cuộc họp lúc 1330, trại trưởng, và đại úy Tremble của Mike Force quyết định: đ.đ. 3 Mike Force của Nha Trang sẽ vào vị trí ở mặt bắc của đồi nam và bắn vào đồi bắc để nghi binh. Trung đội 3 và 4 của đ.đ. 5 Mike Force sẽ tấn công đồi bắc trong khi trung đội 1 và 2 sẽ bọc sườn và tấn công mặt bắc của đồi bắc. Trước khi đánh, đồi bắc sẽ được dọn bãi kỹ lưỡng bằng phi pháo từ 1400 đến 1430. 
Trong lúc đó đại đội 201 sẽ được đổ xuống để thay 204 bị thiệt hại nặng, và sau đó tiến về trại. 
Sau khi dứt bom, đ.đ. 3 và 5 Mike Force, đã bắt đầu tấn công lúc 1430, đ.đ. 201 vượt ngang phi đạo của trại, xuyên qua cổng của đồi bắc, và bắt tay với trung đội 1 và 2 của đ.đ. 5. Thiếu úy Norman Baldwin trong khi dẫn quân lên đồi đã bị hỏa lực nhẹ của địch bắn trúng tử thương. Chuyên viên bậc 4 Robert Skinner đã bị thương khi bắn che cho Balwin; và TS y tá Brucker, đã chết khi định giúp Skinner. Chuyên viên bậc 5 Paul Severson và TS 1 James Cooper dẫn quân tiến tới. Severson đã chết khi y hạ hai lính cbv trang bị AK-47. TS Cooper hạ thêm hai lính địch và tiếp tục tấn công. 
Bị Mike Force tấn công, địch đã rút lui qua hàng rào phía đông của đồi bắc. Một trung đội địch khi vượt ngang đồng trống đã bị tiêu diệt bằng M-60 và M-79.
Theo đúng kế hoạch, sau khi bọc sườn, trung đội 1 và 2 của thiếu úy Harold Martin, đã tìm cách đánh bật quân địch còn sống ở đồi bắc sau khi phi pháo dọn bãi. Thiếu tá Rohland Greenwood, sq cao cấp nhứt của Dak Sak, đã bị thương và tải thương.
Trận đánh đồi bắc đã xong lúc 1900. Mike Force lục soát đồi, các bunker và hầm hào, và di tản thương binh. Các vị trí phòng thủ được sửa sang để chờ đợi địch. Lúc 2300, địch ném lựu đạn vào 1 bunker làm một lính Mike Force chết và 2 bị thương.
Ngày 25.8 pháo đội A của TĐ 4/42 pháo binh Mỹ đựơc thả xuống một CCHL 6 km nam của CK. Đ.đ. C của TĐ 4/503 dù được thả xuống để bảo vệ pháo đội này.
Trong đêm 25 và ngày và đêm của 26/8, dù bị bắn lai rai bằng cối và B-40, TĐ 2/45 và Dak Sak và CK, có vẻ ko còn nguy cơ bị tấn công dữ dội hay tràn ngập.
Sáng sớm 26/8, khi ra khỏi vị trí đóng quân đêm chưa tới 1.000 mét, TĐ 2/45 đã đụng khoảng 1 TĐ, phải rút lui và gọi phi pháo. Đụng độ dữ dội tiếp tục suốt ngày 26/8 ở kế YU 855664. 
Một gunship của Đ.đ. 155 trực thăng tấn công bị bắn rơi bởi phòng không 12.8 ly lúc 1345 ngày 26. Phi công Pratt tử thương bị đạn xuyên đầu, trưởng cơ bị thương và chiếc UH-1C bị phá hủy. (Ông Pratt 3 ngày trước bị thương, nhưng hôm đó xin tiếp tục bay -- ND). Một gunship khác bị trúng đạn khi bốc phi hành đoàn này.
Lúc 1900 ngày 26/8, địch bắn 12 hỏa tiển 122 ly và 120 đạn cối 82 ly vào CK Đức Lập, sau đó là tấn công bộ binh. Các người lính ĐPQ dũng cảm, với giúp đỡ của Spooky AC-47, giữ vững trận địa. Trại DSCĐ, mặc dầu ko bị tấn công, bị pháo bằng cối 82 ly và 75 không giựt suốt đêm.
Giờ đây ở trại Dak Sak có tổng cộng sáu đ.đ. Mike Force -- 5 đ.đ. trong trại đêm 25/8 trong khi một đ.đ. ở bên ngoài chu vi. Ba đ.đ. lục soát bên ngoài trại đêm 26/8. Con số thương vong của csbv vào ngày 26.8 ở Dak Sak khoảng 350 người. 
Ngày 27/8 lúc 0615 địch lần nữa tấn công CK bằng bộ binh, mở đường bởi cối và hỏa tiển. Spooky, gunship và oanh tạc cơ đã trợ giúp ĐPQ/NQ và tấn công đã ngừng lúc 0700. 
100 lính của đ.đ. 285 ĐPQ từ Gia Nghĩa được đổ xuống CK Đức Lập lúc 1315 để tăng viện cho đ.đ. 379 ĐPQ. Phần còn lại của đ.đ. sẽ tới ngày kế. quân tăng viện được chào đón bằng nhiều đạn cối 82. Trong ngày 27, CK nhận tiếp tế. 
Một L-19 thấy một đv lớn của địch tiến về CK lúc 1145 từ phía tây bắc và tây nam. Phi pháo can thiệp kịp thời và địch đã ko tấn công CK.
TĐ 2/45 lục soát khu vực này và báo chỉ đụng độ nhẹ cho tới 1635. Khi đến 1 km bắc của CK, TĐ bị tấn công bởi súng nhỏ, súng tự động và hỏa tiển. TĐ chống trả và gọi phi pháo Mỹ. Trận đánh kéo dài tới 1830, với sáu binh sĩ chết và 10 bị thương. Đếm được 42 xác địch. Nhiều dấu máu chứng tỏ địch bị thiệt hại nhiều hơn.
Lúc 1540 ngày 27/8, để tăng viện cho TĐ 2/45, việc đổ quân của tđ 1/45 đến từ BMT bắt đầu. Ba đợt hay "lift" đầu vô sợ; một trận bão đã khiến hủy bỏ lift 4 và 5. TĐ 1/44 di chuyển từ kế cận tọa độ BN 234564 tới BMT để thay TĐ 1/45.
Từ 1905 tới 2030 ngày 27, yểm trợ bởi hỏa tiển 122 và 3 súng 57 ly không giựt, địch định tấn công bằng bộ binh vào CK. Spooky đã giúp phá vỡ cuộc tấn công.
Lúc 2030, tiền đồn Bon Sar Pa ở YU 806727 bị địch tấn công bằng cối và bộ binh, nhưng chúng thất bại vì Spooky. Lúc 2140, đ.đ. thám kích 411, chỉ cách CK một con đường, bị tấn công bằng cối, súng nhỏ và tự động, nhưng địch thất bại vì Spooky.
Từ 28 tới 31/8, địch giảm tấn công, chỉ pháo lai rai bằng cối và rocket vào các tiền đồn. TĐ 1/45 lục soát khu vực trách nhiệm lúc 0900 ngày 28, bắt hai tù binh ở YU 850782, ba tù binh ở YU 853787 hai giờ sau đó và giết 30 địch khi đụng khoảng 1 đ.đ. ở YU 855783 giữa 0900 và 1235.
Lúc 1210 ngày 28, một L-19 thấy khoảng hai đ.đ. địch khoảng 5 km tây bắc Đức Lập ở YU 818778 và gọi pháo binh.
Đ.đ. 410 Thám kích từ BMT thay thế đ.đ. 411 thám kích, quá mệt mỏi, lúc 0830 ngày 28.
Lúc 1650 ngày 28, đồn Bon Sar Pa bị tấn công bằng cối và bộ binh, pháo binh yểm trợ; kết quả 5 binh sĩ chết và 15 địch chết.
Ngày 29/8 lúc 1000, kế cận YU 856775, các thành phần của tđ 2/45 khám phá kho súng có 90 cân Anh chất nổ plastic, 3 thùng đạn 7.62, 5 lựu đạn, 5 ba-lô, hai đạn B-40, và 2 mặt nạ hơi cay.   
TĐ 1/45 đụng với khoảng 1 tđ ở YU 866778 lúc 1330 ngày 29; kết quả 2 chết 13 bị thương và 8 địch chết. TĐ đoạn chiến và lùi lại để phi pháo tấn công hệ thống hầm hào địch lúc 1730.
Lục soát chung quanh trại Dak Sak và CK tiếp tục với đụng độ nhẹ tới nặng từ 30-31/8. B-52, không quân chiến thuật, gunship và pháo đã được dùng rộng rãi trên các vị trí đã biết và nghi ngờ của địch. Ban đêm có Spooky. 
Ngày 30, từ 1945 tới 2030, địch bắn 30 đạn cối vào CK. Cũng ngày này, tđ 2/45, đã đụng khoảng 1 tđ ở gần YU 865800, với 2 chết 3 bị thương, và 2 địch chết trước khi lui binh để gọi phi cơ.
Cả hai tđ lục soát khu vực tới 1315 ngày 1/9 khi tđ 2/45 được về BMT. Tính tới 31/8, khi bảng tường trình này kết thúc, đụng độ ở khu vực này vẫn còn cũng như địch bắn cối và rocket vào vị trí bạn.

KẾT QUẢ:  
Thương vong được đúc kết cho giai đoạn 23/8 đến 1/9/1968. Chưa thể tính những thương vong do trận chiến còn diễn ra.
a. Tại CK Đức Lập: bao gồm đ.đ. 411 thám kích:

(1) BẠN: 41 chết (40 VNCH, 1 Mỹ), 141 bị thương (132 VN, 9 Mỹ).

(2) ĐỊCH: 304 chết, 1 tù binh, 56 súng bán tự động (SA hay Semi-Automatic), 11 vũ khí cộng đồng (CSW hay crew- served weapon).

b. Trại Dak Sak:

(1) BẠN: 43 chết (36 DSCĐ, 1 LLĐB VN, 6 LLĐB Mỹ)
                96 bị thương (77 DSCĐ, 6 LLĐB VN, 13 LLĐB Mỹ), 1 mất tích (LLĐB VN).

(2) ĐỊCH: 279 chết, 95 súng bán tự động, 47 súng cộng đồng.

c. Khu vực trách nhiệm của Trung đoàn 45: 

(1) TĐ 2/45 (trừ):
(a) BẠN: 20 chết, 32 bị thương, 2 mất tích.
(b) ĐỊCH: 99 chết, 1 tù binh, 9 súng bán tự động, 1 súng cộng đồng.

(2) TĐ 1/45: 
(a) BẠN: 10 chết, 14 bị thương.
(b) ĐỊCH: 33 chết, 5 tù binh, 12 súng bán tự động, 4 súng cộng đồng.

d. TỔNG CỘNG
(1) BẠN: 114 chết, 283 bị thương, 3 mất tích.
(2) ĐỊCH: 715 chết, 7 tù binh, 172 súng bán tự động, 63 súng cộng đồng.

e. Tính tới 1100 ngày 9/9/68, tổng số tử trận trong khu vực Đức Lập của địch là 839 địch, của bạn là 127.

13. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TIẾP VẬN. 
a. Tiếp tế: Tiếp tế cho trại được thực hiện bởi máy bay C-7 Caribou và trực thăng vào sáng 23.8. Dù chiến sự ác liệt, việc tiếp tế luôn thành công và ko có lúc nào trong trận đánh lại bị thiếu trầm trọng về đạn, khẩu phần hay nước. 
quân csbv trang bị ak-47 và phần lớn mang theo lựu đạn lx hay tq. họ được hỗ trợ bởi b-40, hỏa tiển 122 ly, hỏa tiển 157 ly và súng phòng không. phần lớn túi đeo đạn đều mới. phần lớn họ mang 4 ngày ăn. 
b. Bảo trì: Phần lớn các trang bị (xe, máy phát điện, và máy truyền tin) đã bị phá hủy vào đêm 23.8.
c. Điều trị thương binh và tải thương. Việc băng bó thương binh tại CK lúc đầu bằng giẻ rách hay bất cứ phương tiện nào có sẵn. Việc tiếp tế vào sáng ngày 23 đã giảm nhẹ vấn đề. Tải thương về BMT bằng trực thăng. Có lúc, do trận chiến ác liệt, việc tải thương ko thể thực hiện kịp thời vì phi công bị thương khi tìm cách tải thương. 
Trong ngày 2 và 3/9, có 16 thương binh của tđ 1/45 tải thương từ CK dù trận chiến đang xảy ra. Mọi thương binh được mang tới BCH CK, và nếu nặng, chăm sóc bởi hai y tá Mỹ. Mọi tản thương yêu cầu bởi cố vấn và chỉ mất khoảng 1 giờ rưởi tới 2 giờ từ giờ yêu cầu tới giờ máy bay tới. Khoảng ba giờ từ lúc người lính bị thương tới bịnh viện tại BMT. 
d. Chuyên chở : Mọi chuyên chở đều bằng trực thăng. 
e.  Truyền tin: Mọi trang bị truyền tin tại CK đều bị hư trừ một máy ANPRC 25. Truyền tin tới TOC của sđ 23 ở BMT được chuyển tiếp qua máy bay L-19 trong khu vực Đức Lập. 
14. NHỮNG TRANG BỊ ĐẶC BIỆT VÀ KỸ THUẬT: 
a. ĐỊCH: 
(1) Trong lúc bộ binh tấn công, cối và rocket của địch tiếp tục bắn để yểm trợ. Trong một số chỗ, dù ko thành công, họ tiếp tục tấn công vào các vị trí phòng thủ vững chắc cho tới khi chết. Có hai súng phun lửa bị tịch thu dù chưa thấy dùng.
(2) Vị trí đặt súng phòng không ban đầu của địch tại hướng đông nam do họ nghĩ rằng quân tăng viện sẽ từ tỉnh lỵ Gia Nghĩa, thay vì BMT.
(3) Tin tình báo cho thấy những đv tham dự tại Đức Lập dự định tấn công BMT như họ đã tập dượt cũng như được lịnh tấn công một số mục tiêu bên trong và chung quanh BMT. Họ được lịnh hủy diệt các tiền đồn, mở rộng vùng giải phóng.
b. BẠN: Ko kỹ thuật và trang bị đặc biệt được dùng bởi quân đồng minh. 

15. PHÂN TÍCH CỦA CÁC CỐ VẤN VÀ CHỈ HUY.

a. Yểm trợ của Spooky thì kịp thời và hữu hiệu. Một vấn đề đã vượt qua bởi kiên nhẩn và khả năng của các phi công là sự yểm trợ các tiền đồn mà ko có cố vấn Mỹ. Các phi công của Spooky đã liên lạc với 1 trung đội trưởng người Thượng mà tiếng Anh chỉ là "Number One" và "Number Ten" và đã tác xạ dựa theo hướng dẫn bởi những người Thượng. Nên có một thông dịch viên ngồi trên Spooky trong những trường hợp như vậy.

b. Các cố vấn thiếu huấn luyện về điều chỉnh phi pháo. Khi được hỏi ông đã học điều chỉnh phi pháo lúc nào, TS Collier của CK trả lời, "Ngày 23/8". Huấn luyện về điều chỉnh phi pháo nên có trong giáo trình của cố vấn tại Fort Bragg bang North Carolina. 

c. Cố vấn Mỹ thường ngủ trong 1 nhà của toán bên trong doanh trại của quân VNCH. Điều này đã dẫn đến 1 chết và 5 bị thương. Từ nay về sau ko nên ở trong doanh trại của quân bạn. 

d. Có 547 gia đình tổng cộng 2.415 người bị mất nhà do trận Đức Lập. Trong 15 ấp của quận, có sáu bị phá hủy. Các viên chức Mỹ-Việt từ Gia Nghĩa đã đến kịp thời, mang theo quần áo và lương thực có sẵn trong kho, cộng thêm phẩm vật từ Sài Gòn.

e. Lính ĐPQ/NQ đã cố thủ, dù thiếu thốn quân số và võ khí. Đây là 1 chỉ dấu sự cải thiện về khả năng chiến đấu của những người lính thường bị chỉ trích và ít được khen ngợi. Sự có mặt của vợ con họ trong doanh trại là một khích lệ rõ ràng cho họ ở CK và trại Dak Sak.

f. Sự trao tặng các huy chương Mỹ cho các đv đồng minh đã nâng cao tinh thần chiến đấu của họ. Ngày 1/9, các sq và hsq và binh sĩ đã hãnh diện nhận các huy chương Bronze Star do tướng Peers trao. Trung úy Phúc, quận trưởng, thăng cấp đại úy vào ngày 30.8 bởi TT Thiệu đã giúp nâng cao tinh thần quân nhân ở Đức Lập.

Chuyển ngữ từ một after-action report của Ban cố vấn Mỹ thuộc sđ 23 bộ binh VNCH. 

San Jose ngày 26/10/2024.

Tài Trần

TB. Vài hàng về đ.đ. thám kích 403, thuộc biệt khu 24 của sđ 22 bộ binh VNCH. Phần lớn là lính Thượng nhưng cấp chỉ huy là sq VNCH và mỗi đại đội có HAI cố vấn Mỹ (một đi với đại đội trưởng, một đi với đại đội phó), trong hình là một người đứng hàng đầu chung với lính Thượng và một ng đứng ngoài hàng.

Các đại đội này hoạt động theo yêu cầu của phòng 2 sư đoàn, chứ ko thuộc trung đoàn nào. Họ có nhiệm vụ thu thập tin tức, đánh giá các tin tức tình báo do hồi chánh viên cung cấp trước khi các đại đơn vị Việt Mỹ mở các cuộc HQ.
Họ cũng hy sinh rất nhiều để bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do này với tổng cộng khoảng 58.000 ng.

Trận Đức Lập:
https://youtu.be/3nfJXaftBAY?si=MHozQGJZnIfCWqwR



Wednesday, March 27, 2024

 

TRẬN PLEIME, 1965

Trần Quốc Cảnh, Trần Đức Hợp (phối hợp)


Lời Giới Thiệu:

Đã hơn 39 năm qua, Quân Sử của VNCH cũng như của Hoa Kỳ đều nói, viết và đưa lên phim ảnh Hollywood về trận đánh lịch sử ở thung lũng Ia-Drang, trên Cao nguyên Trung phần vào tháng 11, năm 1965. Nhưng chưa một ai nói và viết chi tiết chiến thuật “Công Đồn Đả Viện” của quân Cộng Sản Bắc Việt, trong trận phục kích đoàn quân tiếp viện của ta, gồm Trung đoàn 3 Thiết Giáp (sau đổi là Thiết đoàn 8 Kỵ Binh) và tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, làm mũi nhọn đi giải vây cho tiền đồn Plei Me đang bị vây hãm, cách thành phố Plei Ku khoảng 40 Km về hướng Nam.

Khi đó, quân ta đang rơi vào một cái bẫy sập to lớn hơn, do hơn một Trung đoàn (+) quân chính quy CSBV đang giăng ra để chờ đón con mồi từ từ bước vào vùng tử địa trên Tỉnh Lộ 6C, nối liền từ Plei Ku đến Plei Me.

***

Bài này được viết ra do kinh nghiệm bản thân và nhiều lần được nghe chính các quân nhân binh chủng BĐQ, thuộc Tiểu đoàn 21 còn sống kể lại. Lúc đó, họ chỉ là những Trung Đội Trưởng của các Đại Đội thuộc Tiểu Đòan 21, và là những Sĩ quan rất trẻ, mới tốt nghiệp từ Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Khoá 19 Nguyễn Trãi. Họ cũng là những người bạn thân thiết, đã nhiều lần vào sanh ra tử tại các chiến trường nổi tiếng của vùng 2 Chiến Thuật, nơi đã được gọi là “Em Plei Ku má đỏ môi hồng” trong bản nhạc nổi tiếng bất hủ của nhạc sĩ Phạm Duy, phổ theo thơ của Vũ Hữu Định.

A. Tình Hình Tổng Quát:

Khóa 19 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ra trường cuối năm 1964, đúng lúc các trận chiến bùng nổ dữ dội khắp 4 vùng chiến thuật với chiến dịch Đồng Khởi của địch. Chúng tôi: Thiếu uý Trần Quốc Cảnh, Huỳnh Kim Tắc, Hoàng Văn Chu được bổ xung về Tiểu đoàn 21/ BĐQ và Thiếu Uý Tăng Bửu Tuyền, Nguyễn Xuân Riện, Hiệp, Nguyễn văn Thu về Tiểu đoàn 22/ BĐQ. Hậu cứ của 2 Tiểu đoàn nằm sát liền nhau, trên ngọn đồi trọc cạnh Biển Hồ, cách thành phố Plei Ku 15 Km về hướng Bắc.

Tại vùng 4 Chiến Thuật, có những chiến thắng lẫy lừng của TĐ 42/ BĐQ “Cọp Ba Đầu Rằn” và TĐ 44/ BĐQ “Cọp Đen” với chiến thuật Trực Thăng Vận, nhảy trên đầu địch đánh xuống, khiến địch bị bất ngờ không kịp trở tay. Tại vùng 1 Chiến Thuật ,TĐ 39/ BĐQ bị thiệt hại nặng trong trận Ba Gia, nhưng TĐ 37/ BĐQ chiến thắng lớn trong trận Thạch Trụ. TĐ 2/ TQLC bị địch phục kích tại tại QL 1, 15 Km phía Bắc Thành phố Huế, TĐT Lê Hằng Minh tử thương, TĐ bị thiệt hại khá nặng.

1965 - Chuyển quân đến Pleime

Tại vùng 3 Chiến thuật, địch đã tổ chức đơn vị cấp Trung đoàn, bao vây, khuấy rối Ấp Chiến Lược Bình Giả, dụ quân ta vào trận liệt đã được điều nghiên và bố trí kỹ càng, phục kích quân tăng viện, giải cứu. TĐ 4/ TQLC đã bị thiệt hại nặng nề và Thủ Khoa Khoá 19 VBĐL Lê Thành Kháng là một trong vài người bạn cùng khoá đã hy sinh sớm nhất. Kế tiếp, địch bao vây trại LLĐB Đồng Xòai, lại với chiến thuật “Công Đồn Đả Viện”, đã dụ TĐ 7/ Nhảy dù VN vào đồn điền cao su, và với quân số gấp bội bao vây tiêu diệt. Người bạn cùng khoá 19 là Đoàn Phương Hải, cũng đã bị thương nặng.

Kể từ đây, lực lượng Tổng Trừ Bị (ND-TQLC) của ta mới rút kinh nghiệm, chỉ hành quân cấp Chiến đoàn gồm từ 2, 3 Tiểu đòan trở lên.

Tại vùng 2 Chiến Thuật, với rừng núi mênh mông, giáp ranh với biên giới Cam Pu Chia và Lào, có lợi thế cho địch thiết lập mật khu, kho tiếp liệu, tập trung, ẩn dấu quân và lấy rừng núi chế ngự đồng bằng.

Trong thời gian này, địch đã có ý định dứt điểm Miền Nam, cùng lúc gây ra do sự chia rẽ của các vụ đảo chánh liên tiếp. Trước hết, các toán tập kết ra Bắc năm 1954 là thành phần tiền phong được xâm nhập trở lại Liên Khu 5 cũ (Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên) móc nối gia đình, thiết lập cơ sở nằm vùng, tình báo và tiếp tế.

Tiếp theo đó, các Trung đoàn chính quy CSBV lần lượt xâm nhập theo đường mòn HCM dọc theo biên giới Lào, Việt, Miên di chuyển mất khoảng 2 tháng leo đèo, vượt suối. Tướng Chu Huy Mân đã xâm nhập từ năm 1964 trách nhiệm vùng Đà Nẵng, Chu Lai, sau đó trách nhiệm mặt trận B3 Cao Nguyên Trung Phần, bản doanh đóng tại Plei Bong Klo trong nội địa Lào, cách biên giới 10 Km về phía Tây. Chu Huy Mân đã bị Pháp bắt giam tại Kon Tum trong Chiến dịch Việt Pháp, là Chính Ủy của Sư đòan 316 trong trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954. Vào tháng 3/ 1965 Trung Đoàn 42 Bộ Binh biệt lập dưới sự chỉ huy của Trung Tá Lại Văn Chu, trách nhiệm vùng Kon Tum, gồm ngã ba biên giới Việt, Miên, Lào với Tân Cảnh, Dakto, Daksut, đã phát giác các lực lượng CSBV xâm nhập của địch.

TĐ 21/ BĐQ được tăng phái cho Trung Đoàn 42 BB/ Biệt lập, đã giao tranh ác liệt với một Trung Đoàn CSBV trong 2 ngày, 2 đêm trong rừng núi, không được tiếp viện, tải thương, tiếp tế đạn dược, đồ ăn, nước uống, vì núi non chập chùng, rừng rậm nguyên sinh, ban ngày chỉ thấy ánh mặt trời le lói qua tàng lá cây. Cuối cùng TĐ 21/ BĐQ phải rút lui trong đêm tối, bỏ lại các đồng đội đã tử thương và cả bị thương nặng không thể đi được, vì không thể khiêng, vác theo trong đêm tối mịt mùng. Quân ta chỉ bám lưng nhau lên núi xuống đèo mà đi cho khỏi lạc và chung quanh lại bị địch quân bao vây, xả súng bắn tới tấp khi nghe tiếng di chuyển của quân ta. Người bạn thân của chúng tôi, Thiếu úy Hoàng Văn Chu đã tham dự trận chiến đầu tiên trong đời binh nghiệp, và cũng là trận cuối cùng của anh. Xác anh đã được bọc bằng chiếc áo mưa poncho, thay cho da ngựa, “phút chốc anh đã trở thành người thiên cổ…”.

Tình báo của ta được báo đó là Trung đoàn 101 CSBV, chỉ huy bởi một Trung đoàn trưởng, đã 15 năm chỉ huy Trung đoàn và đã tham dự trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954. Sau đó được biết là Thượng tá Nguyễn hữu An, Tư lệnh phó B3 của Tướng Chu Huy Mân, và là Trung đoàn trưởng dưới quyền Tướng Mân trong trận ĐBP, đã chiếm Bộ chỉ huy của Tướng Pháp De Castries trên cứ điểm Eliane 1.

Điểm đặc biệt được khám phá trong trận chiến này là vũ khí của địch được trang bị tối tân, gồm đại liên có bánh xe kéo tay, thượng liên gắn đạn nồi, AK 47 tự động, và CKC (súng trường báng đỏ ) có gắn lưỡi lê gấp, dính liền với súng, và súng hỏa tiễn chống chiến xa B 40. Còn vũ khí trang bị của ta toàn là vũ khí cũ của thời Đệ Nhị Thế Chiến, như Đại liên M 30, Trung liên Bar, Thompson, Carbin M1, Garant M1 bán tự động (bắn phát một) súng phóng lựu mới M79. Súng AR15 (tiền thân của M.16), trước đó được trang bị để trắc nghiệm, sau đó đã bị thu hồi lại.

Tháng 5/ 1965, Trung đòan 32 CSBV (trước là TĐ 101) đã tiến sâu hơn vào nội địa Quân Khu 2, tính cắt trục tiếp tế giao thông trên Quốc lộ 19 trên đèo Mang Giang, nối liền Plei Ku và Quy Nhơn. TĐ 22 /BĐQ đã giao chiến và thu được một số súng tối tân của địch. Tháng 8 / 1965, địch lại công đồn, bao vây trại LLĐB Đức Cơ trên QL 19, sát biên giới Cao Miên. Hai Tiểu đoàn Nhảy dù được trực thăng vận giải vây xung quanh tra, nhưng địch đã rút qua biên giới. Trong trận này có Thiếu Tá Norman Schwarzkopf là Cố vấn cho Trung Tá Ngô Quang Trưởng chỉ huy Chiến đoàn Nhảy dù. Trong thời gian này Trung đòan 33 CSBV mới xâm nhập, và áp lực của địch càng gia tăng mạnh mẽ ở vùng rừng núi Cao Nguyên.

Pleime

Một Chiến đoàn của ta được thành lập: Trung đòan (-) gồm Thiết Giáp M41, Thiết Vận Xa M113 dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Trọng Luật và một chiến đoàn TQLC dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Thành Yên và TĐ 21 / BĐQ với Đại Úy Nguyễn Văn Sách (khóa 9 Đặc Biệt Đà Lạt) làm Tiểu Đoàn Trưởng, là lực lượng tiếp cứu trại LLĐB Đức Cơ di chuyển bằng đường bộ trên QL 19.

Chiến thuật Công Đồn Đả viện lại được địch áp dụng, nhưng đã bị quân ta đánh bại và bị không quân của ta truy kích, địch quân đã rút bỏ chạy qua biên giới. Trên các Quốc lộ và trục giao thông chính như đường 14, 19, 21, đều bị cắt đứt và phá rối liên tục. Mọi tiếp tế bằng đường bộ trở nên khó khăn, phải chuyên chở, tiếp vận bằng phi cơ. Ý định của địch ngày càng hiện rõ, họ xử dụng chiến thuật “Vết dầu loang” , hay “Tầm ăn dâu”,”lấy rừng núi chế ngự đồng bằng”, “lấy nông thôn bao vây thành thị”, tiả dần, tỉa mòn lực lượng của ta và sau đó tiến công dứt điểm.

Ngày 19/ 10/ 1965 lúc 11:30 đêm, địch phát khởi trại LLĐB Plei Me, cách thành phố Plei Ku 40 Km về phía Nam.

1/ – Lực Lượng Địch:

Trung Đòan 32 CSBV với 3 Tiểu đoàn 344, 635 và 966 doThiếu tá Mã Văn Minh làm Trung Đoàn Trưởng.

Trung Đoàn 33 CSBV của Thượng Tá Nguyễn Hữu An chỉ huy tổng quát.

Một Tìểu Đoàn súng cối 60, 82, và 120 mm.

Một Tiểu Đoàn súng phòng không 12.7 mm

Một Tiểu Đoàn địa phương H. 15.

Trung Đoàn 66 CSBV, với 3 Tiểu đoàn 7, 8 và 9 do Trung Tá La Ngọc Châu đang xâm nhập trên đường mòn HCM và đụng độ với Tiểu Đòan 1 thuộc Lữ Đòan 7 của Sư Đòan 1st, Không Kỵ Hoa Kỳ tại chân rặng núi Chu Prong, trong thung lũng Ia Drang (tên con suối) ngày 14 , 15 và 16 tháng 11 năm 1965.

Trận chiến Ia-Drang

2/ – Lực Lương Bạn Cánh A:

- Trung Đòan 3 Thiết Giáp (-) gồm 12 chiến xa M41 và 8 thiết vận xa M113.

- Đại đội 1 và 2 thuộc Tiểu Đòan 21 BĐQ, vừa đi bộ mở đường thám sát, vừa tùng thiết (ngồi trên pháo tháp chiến xa M41 và trên nóc Thiết vận xa M113).

Lực Lượng Bạn Cánh B:

- Bộ Chỉ Huy TĐ 21/ BĐQ, Đại đội 3 và Đại đội 4 BĐQ đi theo sau cánh A khoảng 2 km trên trục lộ, với đoàn convoy chở đạn dược tiếp liệu, xăng dầu và nước uống, cùng tiểu đội công binh cùng 2 chiếc Thiết vận xa M113, 2 xe bọc sắt RM8 có gắn đại liên 30 ly bên hông xe và 2 khẩu pháo Howitzers 105 ly.

Lực Lượng Bạn Cánh C:

- Tiểu đòan 1 Bộ Binh, thuộc Trung Đòan 42 Biệt Lập tăng phái đến từ Kon tum và Tân Cảnh do Đại úy Mã văn Nông làm Tiểu đoàn trưởng.

Trừ bị:

- Tiểu đòan 22/ BĐQ do Đại úy Phạm văn Phúc làm Tiểu đoàn trưởng, nằm trừ bị tại phi trường Cù Hanh, Plei Ku, sẵn sàng tiếp ứng bằng Trực thăng vận.

B- BỐ TRÍ TRẬN LIỆT:

Lúc 11:30 đêm 19-10-1965, một tiểu đòan của Trung Đòan 33 CSBV, bao vây tấn công, dùng đặc công và pháo kích vào trại LLĐB Plei Me gồm 12 Cố vấn Hoa Kỳ, một tóan LLĐB/ VN và khoảng 400 dân sự chiến đấu Thượng, sống cùng với vợ con trong trại.

Địch đã bố trí các đại liên, phòng không và súng cối trên các ngọn đồi núi cao quanh trại.

Từ Plei Ku, trước khi chuyển quân, tôi thấy một máy bay khu trục Skyraider A1E của ta bị phòng không 12.7 ly của địch bắn trúng, phi công đã nhảy dù ra và cánh dù màu da cam bay lơ lửng trên bầu trời của trại LLĐB Plei Me.

Ta đã biết chắc là địch lại áp dụng chiến thuật Công Đồn cổ điển, để Đả Viện, nhưng quân ta không còn cách nào khác đành chấp nhận cuộc chơi do phe kia lựa chọn chiến trường. Một Chiến đoàn cứu viện của QĐ 2/ QK II, dưới quyền Tư lệnh của Chuẩn Tướng Vĩnh Lộc được thành lập, gồm Trung đòan Kỵ binh (-) với một Chi đoàn M41 thiết giáp 12 chiếc, một Chi đòan (-) Thiết vận xa M113 gồm 8 chiếc dưới quyền chỉ huy tổng quát của Trung Tá Kỵ binh Nguyễn Trọng Luật (thăng cấp sau trận Đức Cơ tháng 8/1965) Chiến đòan được tăng phái Tiểu Đòan 21 BĐQ và Tiểu Đoàn 1 / 42 Bộ Binh biệt lập và tăng cường 2 khẩu pháo binh 105 ly di chuyển theo đoàn quân.

Đơn vị Thiết giáp và Tiểu Đoàn 21 BĐQ được tập trung tại Phù Mỹ, giao điểm của QL 14 và Tỉnh lộ 6C trong 2 ngày để gom các đơn vị trực thuộc, tiếp vận, pháo binh và chờ Tiểu Đoàn 1/42 Bộ Binh từ Dak To và Tân Cảnh tới.

Địch quân đã nghiên cứu kỹ lưỡng đoạn đường này từ nhiều tuần lễ trước khi khởi sự trận đánh, và khúc đường được lựa chọn để mai phục đoàn quân tiếp viện của ta khi địa thế con đường bị bẻ ngoặt, giống như ở chỗ khúc khuỷ tay (góc cạnh 60 độ) là nơi chặn đầu đoàn quân với các hầm hố , công sự chiến đấu được ngụy trang kín đáo. Một lực lượng khác do Tiểu Đòan 344 CSBV , khoảng 400 người sẽ khoá chặt khúc đuôi của đoàn quân ta, và cùng lúc một lực lượng xung kích của địch bố trí trên các cao địa (20 – 30 m), dùng vận động chiến, với hỏa lực hùng hậu cuả dàn súng chống chiến xa B40, súng cộng đồng SKZ 57, cùng sơn pháo 75 ly và đồng loạt Tiểu liên tự động AK47, từ các hầm hố ngụy trang xung phong, tràn ngập và tiêu diệt lực lượng chính của ta.

Địch với 2 Tiểu đòan thuộc Trung đòan 33 và 2 Tiểu đòan thuộc Trung đoàn 32 làm nỗ lực chính để Đả Viện. Ngoài ra thêm một Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 32 làm lực lượng trừ bị. Đoàn BĐQ đi đầu do Trung Úy Vòng Lập Dzếnh, người Nùng làm Đại Đội Trưởng với Thiếu Úy Huỳnh Kim Tắc, Khoá 19 Đà Lạt, Trung Đội Trưởng/ Trung đội 1/ Đại đội 1/ TĐ21 BĐQ đang ngồi trên Thiết giáp M41 đã nhanh nhẹn xuống xe hạ chiến, và anh đã chỉ huy toàn Trung đội phản công dữ dội. Cộng vào đó hỏa lực cơ hữu của các Đại liên 50 ly từ các Thiết vận xa M113 và đạn chày chống biển người từ các Thiết giáp M41 đã đẩy bật lại sự tiến công và tràn ngập của kẻ địch. Cùng lúc đó Thiếu Úy Ngô Hoàng Gia, Khóa 14 Thủ Đức, Trung Đội Trưởng/ Trung Đội 2/ Đại đội 1/ TĐ 21 BĐQ đang di chuyển bộ trên hai bên đường cũng bị địch với quân số đông gấp bội, nhào ra từ những hầm hố ngụy trang bên cánh phải nhằm tiêu diệt gọn phe ta. Như Triệu Tử Long của Tam Quốc Chí, Thiếu Úy Gia đã cùng Trung đội 2 xung phong tiến lên cận chiến, quyết không cho địch chiếm phần chủ động chiến trường. Đại Đội 2 BĐQ với Trung Úy Võ Vàng khóa 17 Đà Lạt, làm Đại Đội Trưởng và Thiếu Úy Trần Quốc Cảnh, Khóa 19 Đà Lạt Trung Đội Trưởng, tùng thiết M41 đi kế tiếp hàng dọc trên đường đất độc đạo tiến vào Plei Me. Địch quân, với địa thế đồi cao, đã xông ra như thác đổ từ bên cánh trái đòan quân của Đại Đội 2 BĐQ. Ngay lập tức, các chiến sĩ BĐQ đã hạ chiến và phản công quyết liệt, không cho địch quân xung phong tiếp cận các Thiết giáp và Thiết vận xa, cùng lúc đó hỏa lực của các khẩu đại liên 50 ly trên M113 và M41 đã đồng lọat khai hỏa đẩy bật các đợt tấn công liên tục của địch từ trên các đỉnh đồi và các hầm hố ngụy trang dọc con đường tiến quân. Địch đã dùng chiến thuật “biển người ” hay lấy thịt đè người, nhằm chủ động và thanh toán chiến trừơng. Đạn tổ ong từ pháo tháp 76 ly của Thiết giáp M41 đã quật ngã hàng lọat và phá huỷ những hầm hố, công sự chiến đấu kiên cố của địch. Lực lượng BĐQ và Thiết Giáp của cánh A đã bẻ gãy âm mưu Đả viện của Tiểu đòan 635/ Trung đoàn 32 CSBV.

Lực lượng cánh B đi phía sau, trên đường được chỉ huy bởi Thiếu tá Lê văn Tui/ Trung đòan phó Thiết giáp và Đại uý Nguyễn văn Sách, TĐT/ TĐ 21/ BĐQ, và Trung úy Nguyễn văn Huân, TĐP cùng Đại đội 4 do Trung úy Nguyễn Thành Banh, Khóa 16 Đà Lạt làm ĐĐT và Trung úy Nguyễn văn Chính, Xử Lý Thường Vụ ĐĐ 3 đi sau cùng, (thay cho Trung úy Nguyễn văn Tốt đang đi học). Bộ Chỉ Huy Tiểu đòan đã chống trả thật mãnh liệt, sau đó lui xuống cuối đoàn xe để bảo tòan lực lượng, bố trí phòng thủ qua đêm tại một Ấp Chiến Lược với những hầm hố và công sự chiến đấu đã bỏ hoang gần đó, phía sau nơi phục kích 1 km. Quân ta đã đẩy lui nhiều đợt tấn công dữ dội của Tiểu đòan 344 và 966/ Trung đòan 32 CSBV. Trong đêm tối, nhờ máy bay Dakota C47 của Không Quân VNCH thả chiếu sáng liên tục trên bầu trời quanh đồn Ấp Chiến Lược, nên rất rõ ta và địch. Cho đến gần sáng, địch “Chém Vè”, rút lui. Kiểm điểm cánh B bị thiệt hại khỏang 2/3 số xe cộ trong đòan tiếp tế bị cháy và phá hủy bởi B40, SKZ 57, Sơn pháo 75 ly, ngay từ những lúc khởi đầu trận đánh của cánh B. Ngay từ lúc đầu, cuộc tiến quân rất chậm vì Trung đội của Thiếu úy Ngô Hoàng Gia phải đi bộ để lục sóat hai bên đường và lực lượng cánh B đi bộ phía sau có nhiệm vụ bảo vệ đòan xe xăng, dầu, đạn dược, tiếp liệu của đoàn quân và kéo theo sau 2 khẩu pháo binh 105 mm…

* Thiếu úy Trần Quốc Cảnh đã kể lại như sau:

Khoảng 3 giờ chiều, lực lượng tiền đạo cánh A từ trên một đồi cao đi xuống thung lũng (lòng chảo hay hình dáng chiếc yên ngựa), để tiến lên một cao đỉnh phía trước thì bị lực lượng chặn đầu của địch dùng vũ khí cộng đồng và cá nhân bắn xối xả. Quân ta đã lọt vào thế bị động, tiến không được và lùi cũng không xong, mà dàn quân sang phải, trái thì bị rừng cây ngăn trở. Địch từ những hầm hố cố định dùng vận động chiến tìm cách tiến sát quân ta, nhưng bị hỏa lực của Thiết giáp dùng đạn chầy, chống biển người và đại liên 50 cùng BĐQ đã hạ chiến càn quét. Địch đã bị ngăn chặn không thể tiến sát để tràn ngập quân ta… Trong lúc giao tranh, trời còn sáng, tôi nhìn lại đòan quân trên đồi cao phía sau, thấy những đám khói đen bốc cao, tiếng súng nhỏ phía sau ít nghe thấy có lẽ khoảng cách khá xa (2 km), và đang ở dưới thung lũng thấp, và đạn đại bác và đại liên nổ ròn rã sát bên. Sau đó, trời bắt đầu xập tối và tôi cảm thấy nếu cứ nằm dọc theo đường đất một hàng dọc như vậy suốt đêm thì quá nguy hiểm vì không có phòng thủ diện địa chiều sâu. Hơn nữa, nếu địch tiến sát, trộn trấu, không thể phân biệt được ai là bạn, địch, và quân ta dễ bắn lầm quân ta, hoặc địch không bắn (vì tiếng nổ của AK47 ròn vang, khác với tiếng nổ lẹt đẹt của Carbin M1 của ta), chỉ tung lựu đạn thì biết địch ở đâu mà phản ứng. Thật là “Tiến Thối Lưỡng Nan”….

* Thiếu úy Ngô Hòang Gia đã kể lại như sau:

Trong lúc đầu, khi mới vừa bị phục kích, Trung đội 2/ ĐĐ 1/ TĐ 21 BĐQ do Thiếu úy Ngô Hoàng Gia đã anh dũng dàn hàng ngang, xung phong thẳng vào cận chiến với địch. Mỗi chiến sĩ BĐQ, kể cả hiệu thính viên là một chiến sĩ trên hàng đầu mặt trận. Cuộc cận chiến chỉ kéo dài khoảng hơn một tiếng đồng hồ thì bóng tối đã ngả xuống, cản trở tầm nhìn xa và sự nhận xét tổng quát xung quanh. Trung đội 2 tiếp tục duy trì đội hình cho đến gần khuya thì lần lượt tập họp thành từng nhóm nhỏ, dựa vào nhau hoặc những cây lớn để bảo vệ lẫn nhau. Đến khi trời sáng, kiểm điểm lại Trung đội, Thiếu úy Ngô Hòang Gia nhận thấy chỉ có 2 chiến sĩ đã hy sinh và 3 chiến sĩ bị thương.

Tại Đại đội 2 BĐQ, Thiếu úy Trần Quốc Cảnh tìm cách liên lạc với ĐĐT Võ Vàng và các Trung đội bạn để tập họp, nhưng mọi cố gắng đều không thực hiện được vì đêm tối biết đâu mà tìm. Vả lại, nhiệm vụ chính là phải bảo vệ cận phòng cho chiến xa mà mình tùng thiết. Phản ứng cấp thời khiến tôi đi kiếm một sĩ quan Thiết giáp gần nhất, sau đó gặp một Chuẩn úy tên Tuyển trắng trẻo, to con, đẹp trai và bàn với nhau gom được 6 chiếc thiết giáp M41 tiến lên sườn đồi bên cánh trái của trục tiến quân, làm chu vi phòng thủ qua đêm, vói 23 chiến sĩ BĐQ mà tôi gom lại được. Các bụi cây rậm rạp xung quanh được thiết giáp cán xẹp hết để làm vị trí đóng quân, khai quang xạ trường và để cho địch khỏi tiến sát vị trí phòng thủ. Sau khi thiết giáp bố trí vòng tròn xong, các chiến sĩ BĐQ đã đào hố phòng thủ giữa khỏang cách của 2 chiến xa để ngăn chặn không cho địch tràn lọt vào khỏang trống. Mọi người đều ngồi trong hố suốt đêm, hướng súng ra ngoài, sẵn sàng nổ súng nếu phát hiện bất cứ ai di chuyển và gây tiếng động bên ngoài, do đạp hay đụng phải cây cối gẫy đổ xung quanh. Trong đêm, bất ngờ nghe tiếng người di chuyển, một chiến sĩ thiết giáp gác giặc trên pháo tháp la vừa đủ nghe: “Ai …” Yên lặng ….”Ai …” nữa.

Địch có lẽ đang dưới đường đất tiến lên trên đồi do quân ta phòng thủ. Tôi ngồi dưới hố chung với hiệu thính viên mang máy truyền tin PRC-10, giận điên người vì sự thiếu kinh nghiệm của người lính thiết giáp.

Giữa đêm tối im lặng, tôi la lên thật lớn, nhiều lần: “Bắn đi…”, “Bắn đi….” Mà người lính đó vẫn không bắn. Tiếp theo đó tôi nghe tiếng quân địch la to: “Lực lượng mạnh …” , sau đó B40 hoặc B41 nổ rền khắp nơi, cùng tiểu liên AK47 và thượng liên nổ ròn tứ phía. Lúc đó, đại liên 50 của ta mới khai hỏa và 6 chiếc thiết giáp M41 nổ máy di chuyển xịch tới, xịch lui để tránh đạn chống chiến xa. BĐQ chúng tôi đang ngồi dưới hố giao chiến, không sợ bị địch bắn, mà chỉ sợ thiết giáp phe ta đè nát , do đó tất cả đều nhảy lên khỏi hố cá nhân , di chuyển tiến và lùi theo sự di chuyển của thiết giáp. Sau lúc giao tranh, mặt trận trở lại yên tĩnh, chúng tôi lại nhảy xuống hố phòng thủ như cũ, sẵn sàng ứng chiến…. Một lúc sau, tôi đang ngồi trong hố với hiệu thính viên, vô tình quay ra sau lưng, nhìn vào bên trong chu vi phòng thủ, thấy một bóng đen mờ mờ (vì ngồi dưới hố nhìn lên trời, cây cối và bụi rậm đã khai quang hồi chiều) đang lần mò đi sau lưng chiếc thiết giáp kế bên… Đúng là: “Số mày Bà dắt ” hoặc linh tính đã khiến tôi hỏi nhỏ cho hắn đủ nghe: ” Ai…? “. Hắn trả lời: ” Bộ binh ” , có lẽ đó là mật khẩu của địch để nhận nhau trong đêm tối. Tôi nhớ lại, có một tiểu đoàn Bộ Binh , thuộc Trung đoàn 42 Biệt lập đi hành quân chung, có lẽ đi cánh nào khác mà suốt cuộc hành quân tôi chưa bao giờ thấy lính Bộ Binh của đơn vị đó. Tôi nghĩ có lẽ đơn vị hắn bị đánh, và chạy lạc sang cánh BĐQ chăng? Tôi nói với hắn: “Đây là BĐQ, Không phải Bộ Binh, đi chỗ khác chơi…!!! Hắn vội trả lời: “Dạ , dạ…” và đi ngược lại vào trong chu vi phòng thủ.

Tôi chợt nghĩ đêm tối thế này làm sao hắn kiếm được đơn vị Bộ Binh của hắn. Tôi bèn nói: “Đêm tối làm sao mà về đơn vị được,thôi nằm sau lưng tôi, sáng đi kiếm sau”. Hắn: “Dạ , dạ…” và nằm xuống sau lưng tôi. Tôi vẫn ở dưới hố, chong súng ra ngoài. Đơn vị BĐQ thời đó được trang bị súng cá nhân Carbin M1 bán tự động (bắn phát một). Tôi ngoại giao với LLĐB / VN xin được báng súng gấp và bộ máy cò bắn tự động, trong khi đó Dân sự chiến đấu Thượng đã được trang bị Carbin M2 tự động (thấy mà tủi thân, mặc dù BĐQ là lực lượng trừ bị và ưu tú của Quân đoàn.) Té ra trong lúc xung phong, tên địch đã chạy lọt vào trong chu vi phòng thủ của quân ta và lúng túng kẹt lại, trong lúc đồng bọn đã tẩu tán hết. Đã rờ rẫm thiết giáp, và nay lại biết rõ là BĐQ , muốn thoát ra khỏang trống giữa hai thiết giáp lại đụng quân ta ở giữa . Có lẽ hắn đã ” Hồn xiêu , phách lạc ” , sợ qúa nên thần kinh trở thành tê liệt, lò mò đi tìm lối thoát. Tôi chợt quay lại phía sau, đã thấy hắn nằm kế bên, nay lại thấy hắn đứng lên bỏ đi. Do linh tính, tôi bước ra khỏi hố, tay trái cầm thân súng Carbin báng gấp, tay phải nắm vào lưng quần hắn, trên hai bàn tay hắn .” Trời ơi , lưu đạn chầy!!!!” . Tôi chết sững như Từ Hải chết đứng, tay phải vẫn nắm chặt 2 bàn tay hắn trên lưng quần. Hắn đang tháo lựu đạn chầy ra, nhưng có lẽ run qúa nên chưa tháo kịp. Tôi hoàn hồn trở lại, tay trái cầm thân súng Carbin kéo ra phía sau vì sợ hắn giật cây súng, dọa hắ : ” Mày mà động đậy là tao bắn”. Tôi rất muốn lùi tay ra sau về chỗ lẩy cò và cho hắn về thăm ông bà, nhưng làm sao buông dần thân súng để lùi tay được. Ngoài ra khóa an toàn chưa mở thì cũng vô ích. Tên hiệu thính viên cùng chung dưới hố phòng thủ với tôi cũng không biết gì hết. Tôi gọi nhỏ tên hắn, hắn bước ra khỏi hố và tôi nói với hắn: “Tên này là VC, trói hắn lại”. Hắn lúng túng mãi mới kiếm ra giây trói 2 cánh tay tên địch ra sau lưng và trói chân, đặt nằm sau lưng và cạnh phía sau thiết giáp. Lúc đó, tôi trở thành lính gác giặc bên ngoài và gác tên tù binh bên trong. Chỉ có tôi và hiệu thính viên biết việc này và tôi không nói cho ai biết hết, vì không biết trận chiến còn tiếp diễn ra sao, nếu nói ra làm mọi người hốt hoảng thêm, không ích lợi gì . Tờ mờ sáng, mặt trời chưa mọc, sương mù còn nhiều, một chiến sĩ BĐQ của tôi đi tới, có lẽ kiếm tôi và tôi chỉ tên VC bị trói nằm đó. Hắn nhảy lùi lại, la hoảng lên: “Giết hắn đi”. Tôi chỉ phì cười. Sau đó tôi gọi Chuẩn úy Tuyển của thiết giáp chui từ trên pháo tháp M41 đi xuống và chỉ cho hắn tên VC nằm sát cạnh thiết giáp. Hắn giật bắn người và la hoảng lên: ” Giết hắn đi …” vì tên địch nằm kế bên cả đêm mà thiết giáp không biết gì hết.

Lúc đầu tên tù binh rất sợ sệt vì ai cũng đòi giết, nhưng sau thấy tôi đối xử tử tế, cho ăn, uống, hút thuốc (mặc dầu tay vẫn bị trói),thăm hỏi tình hình, quê quán.. Tôi còn nhớ tên hắn là Trung và mặt mày hắn tươi tắn, sáng rỡ, cười nói thành thật những gì tôi hỏi vì biết chắc là thoát chết. Sau đó hắn xin nới lỏng dây trói, xin tháo dây trói và hứa sẽ không bao giờ bỏ chạy. Thấy hắn hiền lành và tội nghiệp, tôi cho thaó dây trói chân. Cũng may cho tôi là súng của hắn đã bị mất trong lúc giao tranh, nếu không thì mạng của tôi cũng nguy rồi, đâu còn dịp kể lại kỷ niệm này cho các bạn nghe … Sáng hôm đó, tôi cho lính lục soát xung quanh thâu lượm súng của ta và địch gom thành bó và báo cho M113 tới chở đi cùng tù binh, vì trên lại có lệnh tiến quân. Súng ống tịch thu qúa nặng làm sao mà khiêng vác nổi trên đường hành quân.

Cùng lúc đó, có một chuyện vừa đau thương và vừa tức cười là có một số chiến sĩ BĐQ của tôi bị tử thương, tôi ra lệnh cho một binh sĩ dưới quyền lấy poncho (áo mưa, làm lều, bọc xác) gói bọc xác các đồng đội tử thương lại. Có lẽ lính mới, nên không dám rờ tử thi. Tôi quắc mắt, làm nghiêm ra lệnh: “Hắn có đánh , có cắn mày đâu mà mày sợ cái gì chớ? Mày mà không lo cho bạn bè, đồng đội thì tới lượt mày, không ai lo cho mày đâu ..” Nghe nói vậy, hắn sợ cho bản thân, đi làm ngay lập tức. Tôi thấy vậy cười thầm trong bụng, nhưng lòng đầy xót xa… Lính BĐQ sống mạnh, sống hùng nhưng không sống lâu. Đạn tránh người chứ người làm sao tránh được đạn. Người ta ai cũng chết, không chết trước thì chết sau cũng thế thôi, nhưng sống, chết có ý nghĩa và được mọi người thương mến thì mới là trọn vẹn.

Ngay buổi chiều gần tối, trong ngày đầu giao tranh, một đoàn trực thăng UH1B của 1 st CAV chở Tiểu đoàn 22/ BĐQ do Đại úy Phạm văn Phúc làm Tiểu đoàn trưởng bay thấp sát ngọn cây tăng viện bên cánh trái, 2 Km phía Nam hướng tiến quân của TĐ 21 BĐQ và Thiết giáp. (bên hướng rặng núi Chu Ho). Vì trời tối TĐ 22/ BĐQ đã án binh bất động, phòng thủ qua đêm, tuy có nghe tiếng quân CSBV di chuyển, nhưng không giao chiến với quân địch vì tầm tác xạ qúa xa, nên chỉ gọi pháo binh bắn tập trung vào những điểm có hướng địch di chuyển. Cánh B di chuyển cùng đoàn convoy tiếp liệu đã bị thiệt hại nặng vì địch phục kích và vận động chiến nhiều đợt với quân số đông gấp bội. Địch đã tràn ra như thác lũ, trong khi quân ta di chuyển trên đường trải dài ra mấy cây số với 2 cây đại bác 105 mm và đoàn quân xa tiếp vận (Xăng, dầu cho chiến xa, đạn dược, thực phẩm, nước uống…) Hai khẩu đại bác và đoàn quân xa hoàn toàn bị phá huỷ, địch đã làm chủ và thanh toán chiến trường trong đêm tối. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 21BĐQ với Đại đội 3 và 4 còn lại lùi dần về phía sau 1 Km và phòng thủ qua đêm tại một Ấp Chiến Lược của ta đã bỏ hoang từ trước. Tại cánh A, địch và ta đánh trộn trấu, không thể phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, súng cá nhân và lựu đạn gần như không sử dụng được vì dễ bắn lầm bạn, làm lộ vị trí, nên chỉ rờ quân phục của nhau và xử dụng lưỡi lê đánh cận chiến trong đêm tối…

Cho đến lúc gần sáng, bộ phận còn sống sót của 3 tiểu đoàn 344, 635, và 966 của Trung đoàn 32 CSBV đã rời bỏ chiến trường, kéo rút về căn cứ đóng tại rặng núi Chu Prong, sát gần biên giới Cam Pu Chia. Một số bị thương nặng đã đựơc khiêng, vác đến một bệnh viện dã chiến, với một vài nhà thấp làm bằng cây rừng và rơm rạ sơ sài chỉ cách trại LLĐB Plei Me khoảng 15 Km theo đường chim bay về hướng Tây Nam. Bệnh viện dã chiến này, sau đó đã bị sư đoàn Không Kỵ 1 st CAV Hoa kỳ tình cờ tìm ra và phá hủy, khi họ dò theo những đám tàn quân rải rác, theo đường rút lui thấy từ trên phi cơ. Đến sáng ngày 25-10-1965, sau khi đã thu dọn chiến trường và tải thương, Tiểu đoàn 21 BĐQ và lực lượng Thiết giáp, Thiết vận xa đã tiếp tục tiến về hướng trại Plei Me, giải tỏa xung quanh, chấm dứt sự vây hãm “Công đồn” của quân CSBV Giai đọan I kể như thành công và chấm dứt. Trên lộ trình rút quân trở lại Plei Ku, chúng tôi được một đơn vị nhỏ của TQLC bảo vệ an ninh trục lộ. Một kỷ niệm nhỏ khác là trong máy truyền tin PRC 10 của tôi có tiếng nói lanh lảnh, sắc bén, chanh chua, đanh đá của một cô gái Bắc Kỳ thuộc Mặt trận B3 (Mật khu, Bộ chỉ huy) kêu ra rả: ” ơn Tây gọi Đồng Đăng, trả lời”. Danh hiệu truyền tin toàn những địa danh miền Bắc. Nghe mãi điếc cả con ráy. Máu tiếu lâm của tôi lại nổi lên, hơn nữa cũng muốn cô ta ra khỏi tần số nội bộ của tôi, bèn nói với cô: “Đồng Đăng nó chết đã lâu rồi, thôi đừng gọi hắn nữa, nghe hoài .., khổ lắm…, nói mãi…” Tôi nghĩ cô ta nghe như vậy cũng phải phì cười, nhưng lệnh là lệnh, cô ta vẫn kêu ra rả như chim cuốc kêu mùa hè. Tài liệu bắt được của địch, khai thác tù binh và sau khi chiến tranh VN chấm dứt, Trung Tá Harold Moore đã đi gặp Tướng Võ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân và Nguyễn Hữu An để thâu thập tài liệu trận chiến để viết cuốn hồi ký “We were soldiers once,… and young” được biết Trung đoàn 33 bị tổn thất 40 % , trong đó có 2 trong 3 Tiểu đoàn trưởng bị tử thương. Một Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 bao vây căn cứ Plei Me chỉ còn lại khoảng một Đại đội. Tất cả 18 khẩu vũ khí phòng không 12.7 mm và 11 khẩu súng cối của tiểu đoàn súng nặng đều bị hủy diệt. Riêng Trung đoàn 32 bị thiệt hại nặng nề khi giao tranh với Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 7, thuộc Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ trong giai đọan II của chiến dịch và sau đó đụng độ với Nhảy dù VN dưới quyền chỉ huy của Trung tá Ngô Quang Trưởng, và Thiếu tá cố vấn Norman Schwarzkoff. Trung đoàn 32 đã bị thiệt hại nặng nề và tháo chạy qua biên giới Cam Pu Chia.

PHẦN KẾT:

Mặc dù quân số của địch đông hơn, chủ động trong trận Đả viện, ưu thế về vũ khí tối tân hơn, địa thế thuận lợi để phục kích đoàn xe, nhưng quân ta vẫn hoàn thành nhiệm vụ là giải vây cho tiền đồn Plei Me, bẻ gãy kế hoạch cắt đôi Cao nguyên của kẻ địch.

Do cuốn sách và phim ảnh ” We were soldiers …and young ” của Tướng Horold Moore về trận chiến ở thung lũng Ia Drang của Tiểu đòan 1, Lữ đoàn 7 thuộc Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ và một số tài liệu viết rất mơ hồ và quá tổng quát về trận đánh Công Đồn Đả Viện Plei Me giữa QLVNCH và lực lượng CSBV mới xâm nhập. Rút tỉa kinh nghiệm chiến trường trong năm 1965, ta có thể suy đoán được mục tiêu chiến lược của CSBV là cắt đôi Miền Nam ra làm hai, tạo sự khủng hoảng, rối loạn. Để đạt mục tiêu trên, CSBV đã áp dụng chiến thuật chủ yếu “Công Đồn – Đả Viện” để tiêu diệt hoặc gây thiệt hại nặng cho lực lượng xung kích, tổng trừ bị như Nhảy dù, TQLC và BĐQ của ta, giống như đánh rắn phải đập khúc đầu trước, còn phần thân và đuôi sẽ tự động tan rã. 39 năm sau trận chiến Plei Me mà tôi đã được tham dự và 29 năm sau tháng Tư đen, thực tâm tôi muốn quên đi những di lụy đau buồn của cuộc chiến ủy nhiệm và vì ” Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”. Nhưng người em trai của tôi cứ thúc dục để xác minh những thiếu sót và để các thế hệ sau hiểu rõ thêm một khía cạnh của cuộc chiến “Huynh Đệ tương tàn” , nên tôi xin phép được góp vài lời sơ, ý thiển vậy.

Sunday, November 22, 2020

 Đại đội thám kích 403 thuộc biệt khu 24 của Sđ 22 bộ binh VNCH. Phần lớn là lính Thượng nhưng cấp chỉ huy là sq VNCH và mỗi đại đội có HAI cố vấn Mỹ (một đi với đại đội trưởng, một đi với đại đội phó), trong hình là một người đứng hàng đầu chung với lính Thượng và một ng đứng ngoài hàng.

Các đại đội này hoạt động theo yêu cầu của phòng 2 sư đoàn, chứ ko thuộc trung đoàn nào. Họ có nhiệm vụ thu thập tin tức, đánh giá các tin tức tình báo do hồi chánh viên cung cấp trước khi các đại đơn vị Việt Mỹ mở các cuộc HQ.
Họ cũng hy sinh rất nhiều để bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do này với tổng cộng khoảng 58.000 ng.