Showing posts with label vương mộng long. Show all posts
Showing posts with label vương mộng long. Show all posts

Sunday, July 27, 2025

 NDC -- SAU NĂM Ở LÍNH.



Rồi cũng chẳng nghỉ ngơi được bao lâu, chúng tôi nhận lệnh : tiếp ứng và giải vây cho căn cứ Đức Cơ nơi Tiểu Đoàn 81 BĐQ đã bị bao vây 3 tuần lễ.

8 giờ sáng đã bắt đầu trực thăng vận , tôi theo BCH/TĐ nhảy xuống trong slick đầu tiên, bãi đáp đã được pháo và những phi tuần phản lực “dọn kỹ “, sau này tôi mới hiểu đây là “sự im lặng đầy chết chóc đang rình chờ” ,quân thả xong an toàn, phi cơ cuối là chiếc L 19 làm nhiệm vụ quan sát cũng chào bãi chúng tôi rồi đi về, khi núi rừng sẫm màu hoàng hôn chúng tôi bắt đầu ăn pháo, một trận pháo “chào đón” ra trò, pháo vòng cầu, pháo trực xạ nổ như rang bắp, hầm hố chưa đào sâu, thiệt hại lớn, không quân hẹn tối mới có phi cơ soi sáng, tôi ngạc nhiên vì chuyện này ,nhưng bây giờ “ngộ” ra lúc đó xăng và đạn dược tiếp cho quân đội rất cầm chừng, rất hạn chế…, số phận chúng tôi đã được “ngả giá” bởi những “bàn tay lông lá”, tội nghiệp chúng tôi, những kẻ ra sân đấu mà bị trói tay, chỉ có đôi chân để ” CHẠY LÀNG", để “di-tản chiến-thuật”.
Tổng thống Thiệu đã nói như muốn khóc: làm sao đánh lại cộng sản, họ tiêu tốn cho phương tiện chiến tranh bằng cả núi vũ khí tối tân, của Nga Sô, Trung Cộng, xăng dầu của Việt Cộng chảy tới Tây Ninh… còn quân đội Cộng Hòa chúng tôi chỉ với vài đô la lẻ, làm sao…Có sức mạnh để đánh giặc để làm nhiệm vụ tiền đồn cho vùng Đông Nam Á, trong hội nghị “thượng đỉnh” ở Honolulu lần chót vào năm 1973. Ông đâu hay được “đồng-minh” đã bán đứng ông và một quân-đội còn non trẻ ấy, lại nữa người Mỹ, công dân Mỹ họ có quyền “lên giọng ” với tổng thống của họ nhất là chẳng bao lâu nữa là bầu cử tổng thống, T.T. Thiệu đâu nghĩ tới điều: vì quá dân chủ nên dân Mỹ họ rất “dị-ứng” với hình ảnh con em,chồng cha họ lủi thủi xếp hàng lãnh cơm ở nhà tù “khách sạn Hillton” Hà Nội, họ muốn con em họ trở về ngay tức khắc, một lợi thế rất thuận cho “bên kia”, chúng tôi ở vào hoàn cảnh cùng trên một con tàu không có bản đồ,hải bàn , thuyền trưởng tuyệt vọng vì hải-trình còn xa mà nhiên liệu thì cạn kiệt …
Lãnh pháo liên tục 2 ngày đêm, chiều ngày sau đột nhiên ngưng pháo. suốt 48 giờ căng thẳng chúng tôi mệt nhoài, mắt như có ai kéo lại , ai cũng ngủ như chưa bao giờ được ngủ…
Chúng tôi chợt tỉnh trong tiếng kèn thúc quân của địch, những lằn đạn AK xanh lè quét sát chúng tôi, bộ binh đối phương đông như kiến. Tôi nghe nói “tấn công biển người ” đã lâu, nay được chứng kiến, tham chiến thì đúng hơn, tôi cầm cây M 16 của người lính trinh sát bảo vệ cho BCH/Tiểu-đoàn đã gục chết; qua lổ châu mai lố nhố những chiếc mũ cối, địch tiến gần lắm rồi. Tôi chụp handset của máy PRC 25, người lính hỏi tôi: trung úy kêu chỗ nào, chỉ còn cái này đang liên lạc với thằng 1 (đại đội 1), Thiếu Tá T.Đ.Trưởng và trưởng ban 3 tai bị ù vì góc hầm bị sập do pháo đối phương. Tôi bảo: cậu qua tần số liên đoàn; tôi nghe giọng sĩ quan trực ban 3 liên đoàn tỉnh rụi: tụi nó ghẹo sơ đó mà … tôi đòi cho gặp Alpha (liên đoàn trưởng ), tôi biết sĩ quan trực liên đoàn không đánh giá được tình hình chính xác, tôi nói luôn, anh trình alpha cho pháo hay phi tuần đánh ngay lên đầu chúng tôi.
– Bộ tới mức này sao. Ráng đi để tui cho pháo chớ fighter giờ này chắc gì có. Ráng cầm cự.
– Tụi tôi hết tiền (đạn) rồi làm sao “tố” được .
– Cũng không có pháo, chúng tôi bắt đầu cận chiến, khẩu colt 45 của tôi còn 1 băng với 6 viên đạn đã lên nòng.
– Tôi nghĩ không thoát ra hầm sẽ chết chùm vì khi áp sát được, địch sẽ đánh lựu đạn hoặc bộc phá, chúng tôi lao ra, tôi cũng quét 1 băng M 16 và cùng tụt con dốc xuống chân đồi theo 1 hướng không thể có chọn lựa nào khác hơn, địch dành cho chúng tôi con đường này và cái giá chúng tôi phải trả cũng quá đắt, toán lính truyền tin và tiểu đội trinh sát còn được 6 người kể cả tôi, với vài cây súng, một máy Prc 25, không còn đơn vị nào trong hệ thống liên lạc, tôi biết “thiệt hại ” là rất lớn, tôi nhắm hướng, cho Kpui-Thup một hạ sĩ tr/tin rất to con, mở lối, rừng rậm không thấy mặt trời, chúng tôi theo hướng địa bàn đi về chi khu Thanh An, sang ngày thứ 2 chạm súng với 1 tổ du kích mà thoạt đầu tôi cứ tưởng quân bạn vì địch che mấy khẩu AK quá kỹ, khi họ lia 1 băng AK 47 về phía chúng tôi làm cho một người lính Biệt-Động trong toán chết ngay tại chỗ, lần đầu trong cuộc đời tôi phải quyết định một chuyện: để lại tử sĩ trên đường rút lui, không có cuốc xẻng để chôn, không thể mang thi hài theo vì chính tôi cũng chưa biết sẽ đưa được toán tới chi khu Thanh-An hay không, qua các làng dân tộc hầu hết là vùng kiểm soát của “bên kia”, súng đạn và quân số địch rất dồi dào … , cứ chạm thì né, ngày thứ 3 mọi người bủn rủn vì đói , chúng tôi đâu có ý định “di-tản” nên tất cả quân lương vẫn còn trong các ụ chiến đấu, tôi bảo Thup trèo lên cây cao coi có làng nào để tìm đồ lót dạ, định hướng xong chúng tôi đi trong cái đói cồn cào, mắt thường bị hoa lên, vậy mà tới xế chiều mới tới 1 làng nhỏ, gọi là làng nhưng thực ra chỉ có chừng 5 cái nhà sàn bé tí, sau khi đã quan sát kỹ, tiến vô làng có 2 bà cụ già người Thượng đang vắt khoai mì thành nắm [có khi họ tiếp tế cho du kích ] tôi cho tản ra, Thup là người “đồng hương“ tiếp xúc thương lượng, còn tiền trong túi tôi móc ra trả, bảo Thup “thông dịch” và gói lẹ chỗ khoai mì thành 5 gói, có lẽ chưa lần nào được ăn ngon như vậy, trên đường đi chúng tôi nghe tiếng máy bay L 19, tôi dò mọi tần số để kêu giúp đỡ nhưng vô vọng, buổi chiều lại “chạm” nhỏ với du kích, cũng may vô sự. 2 ngày sau chúng tôi tới được chi khu Thanh An, tôi được đại tá Võ Hữu Hạnh chỉ huy trung đoàn 53 /Sư Đoàn 23 BB chuẩn bị tiếp cứu cho Đức Cơ; ông đãi tôi bữa cơm chiều sau khi nghe tôi “tường thuật di tản” khỏi Đức Cơ cho ông nhà văn mang lon Đại Tá.
Đơn vị tôi thay chỉ huy mới: Đại-Úy Nguyễn Ngọc Lân, ông về thay cho Thiếu Tá Nguyễn Đỗ Tước nhận nhiệm vụ mới, thời gian này khu vực căn cứ Pleime im ắng một cách bình an, thường cứ có “dấu lặng” là sẽ có “màn” mới .
Không bao lâu chúng tôi lại được thay Tiểu Đoàn Trưởng mới : Thiếu Tá Vương Mộng Long , vị chỉ huy trực tính, tài ba , kiên cường ( về điểm này tôi biết qua những anh em còn lại sau 1975 Họ kể cho tôi nghe lòng bất khuất của ông vào những giờ hấp hối của một quân đội, của một miền Nam,một trận để đời tại Xuân Lộc,Long Khánh, người Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân mà Thiếu Tướng Lê Minh Đảo trong nhiệm vụ chỉ huy có thẩm quyền cao nhất giữ phòng tuyến Xuân Lộc khâm phục…Có nhiều tank 54 của đối phương còn vết sơn “xịt” nơi pháo tháp : T.Đ 82 B.Đ.Q, nhưng giờ thứ 25 của vận mệnh một Quốc Gia quá oan nghiệt từ lệnh đầu hàng của một tên tướng nội tuyến cho địch , quân lực VNCH đã “nuôi ong tay áo” vài tên tướng như vậy …
Với riêng tôi trong trận 33 ngày đêm trấn giữ Pleime mà Tiểu Đoàn chúng tôi với quân số một “chọi” với mười đã chiến đấu trong tháng mưa dầm dề (hầu như sự yểm trợ của Không Quân bị hạn chế tối đa , hạn chế vì thời tiết , hạn chế vì ngân sách viện trợ cho Quân Đội bị cắt giảm tối đa ). Nếu không phải là Thiếu Tá Vương Mộng Long chỉ huy thì căn cứ Pleime có lẽ đã mang số phận khác, một số phận mà không người lính mũ nâu Biên Phòng nào mong muốn : di tản chiến thuật…Ông đã “làm bàn thắng” ngoạn mục , đưa Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân về sân vận động thị xã Pleiku để khao quân ,mừng chiến thắng do đồng bào và chính quyền thị xã Pleiku tổ chức đón tiếp.

Friday, July 18, 2025

 

https://www.virtualwall.org/dm/0MontanaRx01a.htm

Rosendo là 1 người lính chuyên nghiệp, quê ở Big Spring, Texas, vào lính từ 1964, từng phục vụ 1 nhiệm kỳ tại vn từ 1966-67.

Rosendo là 1 người lính dò đường và là thành phần của toán an ninh của đoàn 17 không vận. (Lính dò đường thuộc BĐQ Mỹ, có nhiệm vụ tìm và an ninh bãi đáp -- ND). Ngày 15/4/1970, Rosendo đã bị trúng đạn tử thương khi ông tìm cách đổ quân vnch vào bãi đáp Orange để đối phó với việc tập trung quân csbv chung quanh trại LLĐB ở Dak Seang, khoảng 20 dặm bắc của Dak to. Ông là âm thoại viên và cùng với 1 lính Mỹ và 1 toán lính vnch là toán đầu tiên đổ xuống và sao đó bảo vệ an ninh bãi đáp cho những toán khác khi đột nhiên 1 chiếc trực thăng thứ hai cũng đến để đổ quân nhưng bị trúng đạn từ dưới đất bắn lên. Chiếc này bị bắn rơi. Chuyên viên Montana bị thương và tiếp tục tái lập liên lạc truyền tin. Ông đã tử trận khi 1 loạt đạn bắn vào ông.

===

Tình hình tại trại LLĐB Dak Seang thì hơi phức tạp 1 chút so với mô tả trên. Trại này đang bị tấn công và người ta quyết định đổ quân với TĐ 3/42 VNCH, vào 1 nơi hơi cao khoảng 1 dặm từ trại để giảm áp lực cho trại này. Như đã nói, đại đội 170 trực thăng tấn công, viết tắt là AHC, nhận trách nhiệm này. Dù cơ bản Bắc quân đã bao vây bãi đáp dự trù này nhưng phi công ko thấy vì chúng núp trong công sự ngụy trang kỹ lưỡng - và khi chúng để cho chiếc UH-1 đáp xuống mà ko nổ súng khiến phi công nghĩ rằng đây là 1 bãi đáp "nguội". (Đại đội 170 AHC đóng tại Pleiku với 8 chiếc gunship UH-1 B và 20 chiếc chở quân UH-1D, ngoài ra còn tăng phải bởi 1 toán vận chuyển, 1 toán truyền tin, và 1 toán quân y. đại đội này đổ toán biệt kích sang Lào và KPC-- ND). 

Chiếc Huey đầu tiên chở 2 lính dò đường Mỹ (Chuyên viên bậc 5 Rosendo Montana và hạ sĩ Herndon Bivens) và 6 lính VN. Chiếc Huey thứ hai, UH-1H số đuôi 68-16203, trúng đạn và rơi giữa bãi đáp. Dù 2 lính VN chết do máy bay rơi, 4 phi hành đoàn Mỹ và 4 lính VNCH khác chỉ bị thương nhẹ và chạy khỏi máy bay. Viên phi công, chuẩn úy Albert Barthelme, bị thương nặng nhưng được khiêng tới 1 một hố bom gần đó. Chuẩn úy Roger Miller (copilot), chuyên viên 4 Vincent Davis và chuyên viên 5 Donald Summers, và 4 lính VN ở với Barthelme; những người lính vn sống sót từ chiếc đầu tiên ở gần đó. Tất cả đều bị hỏa lực mạnh của bắc quân. Các cố gắng cấp thời để triệt xuất họ đều bị cản trở bởi 3 yếu tố:

- Trừ chiếc Huey chở Montana và Bivens, các chiếc trực thăng trong khu vực đều đầy lính VNCH hay gunship - vì mang nhiều rocket và đạn 7.62 ly cho hai khẩu M-60 nên ngoài phi hành đoàn 4 người,  gunship ko thể chở thêm người như loại chở quân (slick) -- ND). 

- Bãi đáp nằm trên đỉnh đồi này phần nào tắc nghẽn bởi xác chiếc 68-16203; và

- Toàn khu vực bãi đáp giờ đây dưới hỏa lực từ lính csbv núp trong công sự bao gồm đại liên 4 nòng 12.8 ly và 23 ly phòng không.

Một lực lượng tìm và cấp cứu, gọi tắt là SAR, gồm 1 chiếc A-1 Skyraider và hai chiếc trực thăng khổng lồ HH-3, biệt danh Giant Jolly Green, xem hình, (tốc độ tối đa của máy bay là 164 dặm/giờ, phi hành đoàn 4 người, chở được 28 người hay 6.500 cân Anh). 



3 chiếc này đã vội vả xuất phát từ Đà Nẳng và bay đến khu vực. Trong khi chiếc A-1 Skyraider tìm cách khống chế các khẩu đại liên, chiếc HH-3H (Jolly Green 27, số đuôi 66-13280) dẫn đầu, định đáp xuống nhưng 2 lần đầu ko thành công. Ở lần đáp thứ 3, 1 khẩu 12.8 ly từ 1 nơi kín đáo nào đó đã nổ súng và bắn rơi chiếc này. Phi công Travis Scott, chết tại chỗ. Thiếu tá Travis Wofford, copilot, bị thương tương đối nhẹ, kéo 2 phi hành đoàn bị phỏng nặng rời xa chỗ máy bay rơi. Chỗ chiếc HH-3 này rơi ko xa hai chiếc kia, tuy ko bị hỏa lực dữ dội của csbv, nhưng lại ko thể yểm trợ lẫn nhau. May mắn thay, chiếc HH-3E thứ hai, số đuôi 68-10360, có thể đáp xuống kế nơi máy bay rơi và cứu Wofford và 2 phi hành đoàn bị thương từ chiếc 66-13280 trước khi bị trúng đạn phòng không 23 ly, xem hình và buộc phải rời chiến trường.

Hai chiếc UH-1D, ko chở quân, của đại đội 170 trực thăng tấn công đã đến. Một chiếc, lái bởi chuẩn úy Bill McDonald, đáp xuống dưới hỏa lực dữ dội của địch và mang chuyên viên 4 Davis và chuyên viên 5 Summer từ chiếc UH-1H số đuôi 68-16203 lên máy bay. Dù chiếc của McDonald bị hư hại do hỏa lực địch, phi công đã cố gắng đáp vào bên trong trại. Chiếc UH-1 thứ hai, đáp xuống kế chiếc của McDonald, cứu phi hành đoàn, và cất cánh với những kẻ bị thương khác. Vào lúc này, Davis và Summers được báo rằng 1 trong 2 người lính dò đường Mỹ đã chết và chuẩn úy Barthelme bị thương nặng.

Khi trời tối, trại LLĐB lại bị tấn công, và ko còn hy vọng nào để triệt xuất lính Mỹ và VN trên đỉnh đồi kể trên. Trong đêm tối, vài lính VNCH cố gắng vào trại và 2 người thành công. Miller và Bivens được yêu cầu ở lại chỗ chiếc UH-1 bị rơi với chuẩn úy Barthelme, vì ông này ko thể di chuyển, và chờ đợi sáng. Những cố gắng của toán SAR (tìm và cấp cứu) đã bắt đầu từ sáng sớm, nhưng vô ích - vì ko thấy nơi ẩn núp của những người lính Mỹ Việt trên đây. 

Tới ngày 29/4/1970 quân bạn đã tới bãi đáp này và tìm thấy xác của chuẩn úy Barthelme và chuyên viên 5 Montana. Ko có dấu vết của chuẩn úy Miller và hạ sĩ Bivens. 

Sau này người ta biết chuẩn úy Miller bị bắt, và được thả bởi bắc quân ngày 5/3/1973. Ông cho biết rằng trong đêm đó, sau khi Barthelme chết, cả hai cố gắng vào trại nhưng bị phục kích dọc đường. Bivens đã trúng nhiều phát ở ngực, và Miller được kể lại rằng Bivens đã chết 2 giờ sau khi bị bắt.

Tóm lại, 2 lính bộ binh Mỹ, 8 phi hành đoàn Mỹ, và 12 lính vnch đã xuống đất, nhưng chỉ có 6 người sống sót.

- Chiếc UH-1 số đuôi 68-16203: chuẩn úy Barthelme tử trận. Chuẩn úy Miller, tù binh, thả ngày 5/3/1973. Chuyên viên 5 Summers, bị thương, được tìm thấy. Chuyên viên 4 Davis, bị thương, được tìm thấy.

- Chiếc Huey thứ hai: chuyên viên 5 Montana, chết. đại úy Bivens, bị thương, nhưng chết sau khi bị bắt, ko thấy xác.

- Chiếc trực thăng khổng lồ HH-3E, thuộc đệ Thất Không lực: Đại úy Scott, phi công, tử trận. Thiếu tá Wofford, copilot, bị thương. Trung sĩ nhất (SSGT) Davis, chết vì thương tích ngày 25/5/1970. Trung sĩ kỹ thuật Hartzel, chết vì thương tích ngày 20/4/1970/

- Thuộc TĐ 3/42 VNCH: có 10 chết, ko rõ tên. Hai sống sót, ko rõ tên.

===

 

 476 NGƯỜI CỦA TĐ 23 BĐQ DỰ TRẬN DAK SEANG, SAU 4 NGÀY, CHỈ CÒN 41 SỐNG SÓT TRỞ VỀ

Dù nhiệm vụ là cố vấn, nhưng có những tình huống đã khiến 1 số cố vấn BĐQ ra tuyến đầu. Ngày 4/4/1970, trung sĩ nhất Gary Littrel là người cố vấn BĐQ duy nhất ko bị thương sau một đợt pháo bằng cối của trung đoàn 28 csbv vào vị trí phòng thủ của TĐ 23 BĐQ VNCH trên đỉnh đồi 763 tại tỉnh Kontum. Một chiếc trực thăng định xuống tải thương theo yêu cầu của Littrel nhưng ko thực hiện do hỏa lực súng nhỏ. Lúc đó người cố vấn BĐQ này đang đứng ngoài đồng trống cầm đèn nhấp nháy. Để bảo vệ người bị thương, Littrel đã điều khiển yểm trợ tiếp cận suốt đêm và tới sáng hôm sau.

Khi trời sáng, một đợt pháo kích nặng nề vào TĐ VNCH bị vây hãm này. Littrel di chuyển ra chu vi phòng thủ để sơ cứu, hướng dẫn không kích, và di chuyển thương binh. Một trực thăng tiếp tế đáp xuống khoảng 1000. Littrel đưa ba cố vấn BĐQ bị thương lên máy bay cùng với vài lính BĐQ trong khi cố vấn BĐQ khác, chuyên viên 5 Raymond Dieterle, nhảy xuống từ máy bay.

Trong phần còn lại của ngày, hai cố vấn BĐQ này di chuyển ra chu vi phòng thủ, gọi không yểm, điều chỉnh pháo binh (bắn từ các căn cứ hỏa lực (CCHL) như Tango cách đó 6-7 km, theo hồi ký Trận Dak Seang 1970 của Vương mộng Long -- ND), và cổ võ tinh thần cho các chiến hưu BĐQ VN của họ. Áp lực vào chu vi phòng thủ càng lúc càng tăng khi trời sắp tối. Các tấn công thăm dò của đặc công bị đẩy lui bởi súng nhỏ, pháo binh và Hỏa Long AC-47.

Sáng ngày 6/4/1970 mở đầu bởi 1 đợt tấn công của bắc quân nhưng bị đẩy lui. Suốt ngày đó, bắc quân tiếp tục pháo vào lực lượng bị bao vây (beleaguered) trong khi 2 cố vấn tiếp tục kiểm tra (make his round) chu vi phòng thủ, nâng cao tinh thần lính VN (snore up). Lúc 0630 ngày kế, một đợt pháo kích dữ dội rơi xuống đỉnh đồi. Một đợt xung phong xuất phát từ khu rừng, đã bị các trực thăng, do Littrel hướng dẫn, chặn đứng. Dù bị không kích, sau đó nửa giờ, đợt tấn công biển người đã gần như chọc thủng chu vi. Sự chiến đấu quả cảm của những người lính mệt mỏi và can đảm của cố vấn đã đẩy lui chúng. 

Lính BĐQ VN đã cố thủ trước những đợt tấn công đêm đó. Cuối cùng, lúc 1030 ngày 8/4/1970, TĐ kiệt quệ này được lịnh rút xuống đồi, đi xuyên rừng, vượt sông Dak Poko, để bắt tay với TĐ 22 bđq. Hai cố vấn này bắt đầu tổ chức việc di chuyển, phân phối súng đạn, và chăm lo thương binh và người chết mà họ mang theo.

TĐ di chuyển lúc 1100, dưới quyền của TĐ trưởng đang trong tình trạng bàng hoàng. Ông cho TĐ di chuyển xuống 1 nhánh núi (spur), dù 2 cố vấn cảnh báo vì gần vị trí địch. Ở chân đồi, ông này cho lịnh dừng quân 5 phút để uống trà.

Ngay lập tức, TĐ đã bị pháo cối dồn dập. Tuy nhiên Littrel vẫn liên lạc với TĐ 22 BĐQ và nhờ họ phản pháo vào cối của địch. Yêu cầu gunship yểm trợ ko được thỏa đáng vì họ ưu tiên phục vụ nơi khác khiến TĐ trưởng hoảng loạn và bỏ chạy. Thấy ông này bỏ chạy, lính BĐQ chạy tán loạn (scatter), bỏ người chết và bị thương ở lại.

Với câu nói "Hãy đội mũ và tiến lên", Littrel nắm tay Dieterle và từ từ tập hợp những BĐQ đang phân tán. Với đám tàn quân này, hai cố vấn đã hướng dẫn đội hình xuyên rừng trong vài giờ tới 1 nơi toàn. Vì bắc quân truy đuổi, BĐQ đã hướng dẫn cối bắn cản đường. Trong lúc đẩy lùi 1 đợt tấn công, Littrel và bạn ông đã ngả xuống đất vì sức ép của quả bom 500 mà cố vấn này đã yêu cầu thả gần đó. 

Trong lúc chỉ huy lính BĐQ thoát 2 cuộc phục kích, hai người Mỹ này tiếp tục cổ võ tinh thần lính BĐQ, và mang theo thương binh. Tại điểm phục kích cuối cùng, Littrel ngừng lại để giúp 3 thương binh BĐQ. Mang người bị thương nặng nhất trên lưng và kéo 2 người khác, Littrel và phần còn lại của TĐ qua sông Dak Poko để tới nơi an toàn. Trong trận này, TĐ 23 bđq có 218 vừa chết vừa bị thương và 19 mất tích. 

===

https://www.defense.gov/News/Feature-Stories/Story/Article/2549011/medal-of-honor-monday-army-command-sgt-maj-gary-littrell/

Ngày 4/4/1970 TĐ 23 BĐQ tiến về nam hướng tới biên giới cam bốt để tìm và diệt kẻ thù. Tối hôm đó, khi tới 1 đỉnh đồi, họ nhận ra rằng bị bao vây bởi khoảng 5 ngàn bắc quân. Trong khi đó, đ.v. của Littrel, quân số chỉ có 473 lính nam VN với 3 cố vấn Mỹ khác.

Ngay khi họ lập xong 1 chu vi phòng thủ, địch đã pháo dữ dội bằng cối làm chết TĐ trưởng và 1 cố vấn, 2 cố vấn bị thương nặng.

Littrel, 25 tuổi, là người Mỹ duy nhất có thể chiến đấu.

Rất may, ông nói được tiếng Việt nhờ học ở Viện Ngôn ngữ Quốc phòng, hình như ở tp Monterey ven biển của bang Cali, trước khi sang VN, do vậy có thể giao tiếp với lính BĐQ.

Trong 4 ngày kế, Littrel và TĐ BĐQ này đã chiến đấu vì sự sống còn của họ. Theo bản tuyên dương công trạng, ông đã chứng tỏ "sức mạnh gần như siêu nhân" bằng cách nhiều lần đi vào tuyến lửa (line of fire) để hướng dẫn phi pháo suốt ngày. Ban đêm, ông làm như vậy để đánh dấu vị trí của đv. Sự dũng cảm, lãnh đạo chỉ huy và ý chí của ông đã truyền cảm các chiến hữu BĐQ tiếp tục chiến đấu.

"Công việc chánh của tôi chỉ là chỉ huy và kiểm soát, bằng cách cố gắng cổ võ anh em BĐQ tiếp tục chiến đấu," Littrel đã nói trong 1 phỏng vấn của Dự án Lịch sử Cựu Chiến binh.

TĐ đã đẩy lui nhiều đợt xung phong trong khi Littrel tiếp tục di chuyển tới những vị trí nguy hiểm nhất để phân phối đạn, cũng cố 1 vài phòng tuyến đang bị chao đảo (falter), chăm sóc thương binh và tiếp tục cổ võ các chiến hữu tiếp tục chiến đấu.

Littrel nói cơn khổ (ordeal) này và thiếu ngủ đã làm ông kiệt sức khiến ông chỉ nhớ 1 phần những gì xảy ra trong thời gian dài.

Trong ngày cuối cùng mắc kẹt trên đồi, chỉ huy của Littrel cho ông biết phi pháo sẽ liên tục chuyển xạ để bảo vệ đường rút lui cho tđ.

Dù bị phục kích vài lần, nhưng họ thoát được (stave off) nhờ gunship bảo vệ cạnh sườn.

Littrel liên tục nhận lịnh giữa cơn hỗn loạn và hướng dẫn máy bay tấn công kẻ thù, vài lần chỉ cách vị trí của ông 50 m.

Sau 8 km đầy nguy hiểm, TĐ đã bắt tay quân bạn. sau này Littrel biết rằng, từ quân số 476 người, kể cả cố vấn, chỉ còn 41 sống sót trở về. Nhờ can đảm và tài lãnh đạo chỉ huy, ông đã cứu nhiều người.

Ngày 15.10.73, Littrel được trao tăng huy chương cao quý nhất của đất nước.

"Tôi mang huy chương này cho khoảng hơn 400 người đã chết trong 4 ngày," ông nói trong 1 phỏng vấn.

"Tôi chỉ là người đại diện của họ. Họ đã được trao tặng huy chương này. Tôi đã được chọn đã nhận cho họ".

Ông đã phục vụ trong QĐ tới khi hồi hưu tháng 10/1973. Ông từng phục vụ kỳ 2 ở VN năm 1974.

Littrel và vợ sống tại St Pete Beach, Florida. Trong 2015, một cây cầu ở đây được đặt theo tên ông để vinh danh.

SJ ngày 24/7/2025.

Tài Trần


Thursday, July 17, 2025

 




The Vietnam War
by LTC JD Lock

As the Cold War lengthened in the late 1950s, NATO nations felt there was a need for small units to conduct passive, deep penetration intelligence gathering missions at corps levels and higher. From this need was born the Long Range Patrol (LRP) or Long Range Reconnaissance Patrol (LRRP) unit...both LRP and LRRP designations were used similarly and considered interchangeable, trained and equipped to infiltrate enemy lines by ground, air, or water. From well-concealed observation posts or as a function of point, area, or route reconnaissance, they were intended to report enemy movements. Stealth and reconnaissance were the mission of the LRRP, not direct combat. Ultimately, these LRRPs would lead directly to the Ranger companies of Vietnam.

In support of U.S. military operations in Vietnam, units designated as Long Range Reconnaissance Patrols (LRRPs) were officially sanctioned and authorized. Field forces and division-sized elements activated an Infantry Company (LRP). Each company had a total of 118 soldiers assigned with a headquarters section and two reconnaissance platoons with eight six-man patrols. Two of the companies, Company E of the 20th Infantry Regiment) and Company F of the 51st Infantry Regiment, were each nearly twice the authorized strength at 230 soldiers and four reconnaissance platoons.

Separate brigades activated infantry detachments (LRP). These detachments had a total of sixty-one soldiers assigned with a large headquarters section and a single reconnaissance platoon. Eventually, eleven companies...this number does not include Company E, 30th Infantry Regiment, that was used as a training resource in Support of the Aviation Center and School...and four detachments...this number does not include the 70th Infantry Detachment that was deactivated in Hawaii prior to the 11th Infantry Brigade's deployment to Vietnam with the 23rd Americal Division...were activated and deployed with combat units.

Unfortunately for the LRP units, even though they would eventually become the founding units of the Rangers, there initially was no heritage or lineage to bind the separate companies and detachments. In that the Special Forces, having been without a lineage since its formation in 1952, had been granted the lineage and honors of the 1st through 6th Ranger Infantry Battalions, 1st Special Service Force, of the Second World War on 15 April 1960, the 75th Infantry Regiment with the lineage and honors of Merrill's Marauders and the 475th Infantry Regiment was selected as the lineage for the new LRRP organization.

This is the standard load for an M79 gunner in Papa Company, 75th Inf. (Ranger) in 1970 for a 4-5 day mission. more

On 1 February 1969, most of the active army LRRP companies and detachments were deactivated as LRRP units and reactivated as companies of the 75th Infantry Regiment. With the redesignation of the LRPs to 75th Infantry Regiment companies in 1969, additional Army Reserve National Guard (ARNG) Ranger-style companies were organized.

The Ranger companies in Vietnam were deactivated during the period 1969 to 1972 as the units they were attached to were deactivated or returned to the United States as part of Vietnamization, though Company O (Arctic Ranger), 75th Infantry Regiment would be reactivated in 1970 for duty at Fort Richardson, Alaska, for a short period of time.

In 1960, counter-guerrilla forces of South Vietnamese Army light infantry Ranger companies were created. Referred to as Biêt-Dông-Quân or BDQ, a significant number of Ranger-qualified officers and NCOs served as advisors to the Army of the Republic of Vietnam Ranger units throughout the duration of the war...nearly in 2,000 total.

====

Though they were suppose to operate only in an advisory capacity, there were those situations that thrust some Ranger advisors to the forefront. On 4 April 1970, Sergeant First Class Gary L. Littrell found himself the only unwounded American Ranger advisor left after a surprise mortar barrage by the 28th North Vietnamese Regiment struck the 23rd ARVN Ranger Battalion in their defensive positions on top of Hill 763 in Kontum Province. An attempted helicopter extraction of the wounded Americans by Littrell failed as the helicopters could not penetrate the small arms fire to land near the Ranger NCO, who was standing in the open, exposed, holding a strobe light. Securing the wounded, Littrell proceeded to direct close air support throughout the night and into the next morning.

The light of dawn was met with another heavy mortar barrage against the besieged RVN battalion. Littrell moved about the perimeter administering first aid, directing fires, and moving casualties. A resupply helicopter was able to make it into the LZ around 1000. Littrell loaded the three wounded American Ranger advisors on board along with some ARVN Rangers as another American Ranger, Specialist 5 Raymond Dieterle, disembarked from the helicopter with ammunition.

For the remainder of the day, the two Ranger advisors moved about the perimeter, calling in air strikes, adjusting artillery strikes, and encouraging their South Vietnamese Ranger compatriots. The pressure against the perimeter grew along with the night. Sapper probes were driven back by indirect, aerial, and small arms fire.

The morning of 6 April opened with a North Vietnamese Army (NVA) attack that was repelled. Throughout that day, the NVA continued to rain heavy weapons and mortar fire down on the beleaguered force while the two American Rangers continued to make their rounds of the perimeter, shoring up the Vietnamese's spirits. At 0630 the following morning, another firestorm of explosive volleys swept the hilltop. A massed assault staging in the woods was met by helicopter strikes directed by Littrell at the point of attack. Despite the air strikes, the human-wave attack a half hour later nearly breached the perimeter. Only a stoic defense by the fatigued defenders and the advisors' bravery repelled the charge.

The Rangers were able to hold against a series of attacks that night. Finally, at 1030 on 8 April, the depleted and exhausted battalion was ordered to withdraw down the hill, through the jungle, across the Dak Poko River, to reach the 22nd ARVN Ranger Battalion. The two Ranger advisors set about organizing the movement, redistributing ammunition, and seeing that the dead and wounded were brought along.

The battalion moved out at 1100, under the command of the dazed ARVN battalion executive officer who proceeded to move down the wrong spur of the hill...despite the warning of the two American Rangers...and closer to the enemy position. At the bottom of the hill, the executive officer incredulously halted his formation for a five-minute tea break.

Immediately, the battalion was inundated with mortar fire. Littrell was able to establish radio contact with the 22nd ARVN Ranger Battalion and direct counter-fires against the enemy mortars. Requests for gunship support brought the word that none was immediately available, which prompted the battalion executive officer to panic and run. Seeing their commander flee, the remainder of the South Vietnamese Rangers began to scatter, leaving their dead and wounded behind.

With a "Come on, partner, let's hat up," Littrell grabbed Dieterle and slowly gathered up the dispersed Rangers. With the remnants of the battalion regrouped, the two Rangers proceeded to lead the formation through the jungle for several hours toward the proper objective. As the North Vietnamese pursued, the Rangers directed mortar fires "danger close" to keep the enemy at bay. During the repulse of one assault, Littrell and his partner were knocked to the ground by the force of 500-pound bombs the senior Ranger had called in nearby.

Directing the fight through two ambushes, the Americans continued to lead, cajole, and drag the ARVN soldiers along. At the last ambush site, Littrell stopped to assist three wounded Vietnamese Rangers. Carrying the most seriously wounded one on his back, Littrell ended up dragging the other two behind him and across the Dak Poko River as they held on to his web gear and were led to safety by Littrell with the remainder of the battalion.

Total losses for the ARVN Ranger Battalion were 218 casualties and nineteen MIA. For conduct above and beyond the call of duty, Sergeant First Class Gary L. Littrell was awarded the Medal of Honor.


By the end of United States involvement in Vietnam in 1973, Companies A and B of the 75th Infantry Regiment were the only two active duty Ranger/LRRP companies still in existence.


Ranger history © JD Lock. Used with permission.

===

26 Sep 2004

Rosendo was a career soldier from Big Spring, Texas. He was married to Marie Montana and had been in the Army since 1964. He had completed a previous tour in Vietnam in 66-67.

Rosendo was a Pathfinder and was apart of the security detachment for the 17th Aviation Group. On April 15, 1970, Rosendo was shot to death when he was a part of a planned insertion of ARVN troops into LZ Orange to counter buildup of NVA troops around a Special Forces camp at Dak Seang, about 20 miles north of Dak To. He was the radio operator and was with another American soldier and a handful of ARVN troops who were the first group to be inserted and as such were setting up security for the insertion of additional ARVN troops when suddenly the second helicopter coming in for insertion was hit from all sides with ground fire. The helicopter was shot down. Specialist Montana was wounded in the concentration of ground fire and he continued to try to get out radio transmissions dispite his wounds. He was then killed as the second barrage was concentrated on his position.

Specialist Montana was buried with full military honors in Big Spring, Texas, and is remembered on the Permian Basin Vietnam Veterans' Memorial.

Notes from The Virtual Wall

The situation at Dak Seang was a little more complicated than described above. The Special Forces camp at Dak Seang was under attack and a decision was taken to insert the 3rd Bn, 42nd ARVN Regiment, onto a bit of high ground about a mile distant from the camp in order to relieve pressure on the SF camp. As noted, the 170th AHC was tasked with the insertion. Although NVA forces essentially surrounded the proposed landing zone they were invisible within camoflaged bunkers - and when they allowed the first Huey to land unopposed it appeared the insertion was into a "cold" LZ.

The first Huey landed two US pathfinders (SP5 Rosendo Montana and Cpl Herndon A. Bivens) and six ARVN troops. The second Huey, UH-1H tail number 68-16203, was shot down, landing in the middle of the LZ. Although two ARVN soldiers died in the crash, four US aircrewmen and four ARVN soldiers suffered only minor injuries and were able to exit the wrecked aircraft. The pilot, WO Albert L. Barthelme, was severely wounded as he exited but was carried to a nearby bomb crater. Copilot WO Roger A. Miller, crewmen SP4 Vincent S. Davis and SP5 Donald C. Summers, and four ARVNs were with Barthelme; the surviving soldiers from the first Huey were a short distance away. All were taking heavy fire from the NVA defenders. Immediate efforts at extraction were hampered by three factors:

  • Except for the Huey which landed Montana and Bivens, all the helicopters in the area were gunships or laden with ARVN troops;
  • The hilltop LZ was partially blocked by the wreckage of 68-16203; and
  • The entire LZ area was now under fire from dug-in NVA troops with weapons up to and including quad .51 caliber machineguns and 23mm light anti-aircraft guns.
A SAR force consisting of A-1 Skyraiders and two Air Force HH-3s was called up from Danang and arrived on scene without delay. While the Skyraiders attempted to suppress the NVA gunners, the lead HH-3E (JOLLY GREEN 27, tail number 66-13280) made two unsuccessful approaches to the LZ. On the third approach a previously silent quad .51 opened fire and brought the HH-3 down. The pilot, Capt Travis H. Scott, was killed in the crash. Copilot Major Travis Wofford, relatively uninjured, dragged the two badly burned crewmen from the wreckage. The HH-3 crash site was some distance from the other two US/ARVN positions, which turned out to be a mixed blessing - somewhat less NVA fire, but no possibility of mutually supporting defense. Fortunately the second HH-3E (JOLLY GREEN 29, HH-53C tail number 68-10360) was able to land next to the wreckage and recover Wofford and the two injured crewmen from 66-13280 before being heavily hit by 23mm fire and forced to withdraw from the area.

Two unladen 170th AHC Hueys then arrived on scene. One of them, piloted by a WO Bill McDonald, landed under heavy fire and was able to take crewmen SP4 Davis and SP5 Summers from UH-1H 68-16203 aboard before being forced from the LZ. Although McDonald's aircraft was badly shot up, he was able to nurse it to just within the Special Forces camp perimeter. The second UH-1 landed next to McDonald, made an under-fire transfer of the men from McDonald's aircraft, and lifted off with a load of wounded men. At this point Davis and Summers advised that one of the US pathfinders was dead and WO Barthelme severely wounded.

By this time night was falling, the Special Forces camp was under active attack, and there was no realistic hope for further efforts to extract the US and ARVN troops on the hilltop. During the night, some of the ARVNs decided to try to get to the SF camp; two made it. Miller and Bivens elected to stay close to the Huey wreckage with WO Barthelme, who could not be moved, and await the morning's events. Renewed airborne SAR efforts were begun at first light, but to no avail - none of the missing US or ARVN troops could be located.

Friendly ground forces could not reach the LZ until 29 April 1970, when they found and recovered the bodies of WO Barthelme and SP5 Montana. There was no trace of WO Miller or CPL Bivens.

In time some of the questions were resolved. WO Miller had been captured, survived captivity, and was released by the NVA on 05 March 1973. On his return he advised that after Barthelme died during the night, he and Bivens decided to try for friendly lines but were ambushed while enroute. Bivens was hit in the chest by a half-dozen rounds, and Miller was told that Bivens died about two hours after they were captured.

All told, two US infantrymen, eight US aircrewmen, and twelve ARVN infantrymen had been on the ground. Only six survived the experience:

  • UH-1H 68-16203, 170th AHC:
    • CWO Albert L. Barthelme, Towson, MD, KIA
    • WO Roger A. Miller, POW, released 03/05/73
    • SP5 Donald C. Summers, WIA, recovered
    • SP4 Vincent S. Davis, WIA, recovered

  • HHC, 52nd Avn Bn
    • SP5 Rosendo Montana, Big Spring, TX, KIA
    • Cpl Herndon A. Bivens, Jamaica, NY, WIA, died after capture; body not recovered

  • HH-3E tail number 66-13280, 37th ARRS, 7TH AF
    • CPT Travis H. Scott, Montgomery, AL, pilot, KIA (Air Force Cross)
    • MAJ Travis Wofford, copilot, WIA (Air Force Cross)
    • SSGT Luther E. Davis, Oak Ridge, TN, DoW 05/25/1970
    • TSGT Gerald L. Hartzel, Graters Ford, PA, DoW 04/20/1970

  • 3rd Bn, 42nd ARVN Rgt
    • Ten KIA, names unknown
    • Two survivors, names unknown


Sunday, May 12, 2024

ÁC CHIẾN TRÊN CỤM NÚI NGỌC KOM LIỆTNGỌC DƠ LANG.

                                            

                  
                        

                                                  
                 
                                                      
                                                                              
                                                                   
Thung lũng Dak Klong, đừng lầm với thung lũng Dak Krong ở Quảng Trị                        
                    CĂN CỨ 6 

               
      HỎA TIỂN 122 LY VỚI DÀN PHÓNG BẰNG TRE, ĐƯỢC TÌM THẤY Ở ĐÔNG SÀI GÒN BỞI MỘT TOÁN TUẦN TIỂU CỦA SĐ 1 BỘ BINH MỸ THÁNG 3.1969.
                 
                                                                               
                                         
                                                   

I/ Lời nói đầu: Trong bài Dak To và Em, cựu thiếu tá BĐQ Vương Mộng Long, đã kể một trận đánh ác liệt năm 1969 ở cụm núi Ngọc Dơ Lang, xem hình, ở phía nam Dak To. Trong trận này, với cấp bậc trung úy chỉ huy đại đội 1 của TĐ 11 BĐQ, dù bị thương nặng ở bả vai, ông cùng tàn binh của đại đội 1 đã tình nguyện ở lại để cản hậu cho TĐ rút lui (trong đó có đại úy Hồ Khắc Đàm TĐ trưởng, trung úy Hồ Bé trưởng ban 3 -- ông này lúc đó đang cơn sốt rét nặng, sau này vào tháng 3 năm 1975 làm TĐ trưởng của TĐ 2/10 thuộc sđ 7 mà tôi phục vụ). Cùng dự trận này có TĐ 23 BĐQ VNCH.'

Nhờ tìm hiểu về cụm núi Ngọc Dơ Lang, tôi biết núi này từng là chiến trường đẫm máu giữa các lực lượng của sđ 4 bộ binh và lữ đoàn 173 Nhảy Dù với quân csbv vào năm 1967.

II/ Chú thích: Vì đây là quân sử Mỹ nên phần lớn các đv được nhắc tới trong bài này đều thuộc quân đội Mỹ. 

Trong tiếng Thượng: 

- Chữ Ngọc hay Ngok có nghĩa là núi, do đó Ngọc Dơ Lang có nghĩa Núi Dơ Lang, Ngọc Kom Liệt có nghĩa Núi Kom Liệt, v.v...

Chư cũng là núi, như Chư Pa là Núi Pa, Chư Sê là Núi Sê, v.v...

Dak hay Prêk là sông, như Dak Lak, Dak Nông, Dak Pek, Dak Tô, v.v...

Pelé, Pơlei, hay Kon là làng. 

- Chi tiết về một trận ác chiến, đã xảy ra vào khoảng cuối tháng 11/1967 ở đồi 875 - ở tây nam của đồi 823 (đồi 823 sẽ kể trong bài viết dưới đây): "Ngày kế một bãi đáp mới được lập giữa rừng già, và lần đầu tiên lữ đoàn 173 Dù đã có thể tải thương từ trận đánh ngày 19 tháng 11 năm 1967. Sau đó, trong vòng bảy giờ, đồi 875 đã bị tàn phá bởi phi pháo khả dụng. Máy bay ném bom mỗi 15 phút, đốt cháy chỏm núi (crest) bằng 7,5 tấn bom napalm. Lính Mỹ định tấn công vào buổi chiều. Sau khi sườn đồi được dọn bãi kỹ lưỡng bởi pháo binh, lính Dù liền chuẩn bị hàng ngũ để xung phong. Đột nhiên, cối của địch tiếp tục rơi xuống. Lính Dù nhảy xuống hố trong khi đạn cối rơi xuống vị trí của họ. Do quá chen chúc trong các hố, lính Mỹ bị thiệt hại trước khi họ có thể tiến lên đồi. 
Lúc 3 g chiều, quân Mỹ tiếp tục tấn công, nhưng do bị bắn trả nên tiến quân rất chậm. Lính Dù đã thấy họ đang chống lại một hệ thống các hầm thông thương với nhau, nằm sát mặt đất (built flush to the ground), với nóc dầy khoảng 4 mét gồm đất và các khúc gỗ. Các hầm này chỉ được phát hiện khi địch nổ súng và quân Mỹ phải triệt hạ từng hầm. Lựu đạn thường, súng phun lửa, và súng ko giựt ko có tác dụng. Một nhóm lính Dù bắn 12 hỏa tiển chống tăng trực tiếp vào một cửa hầm và sau đó xung phong. Nhưng họ đã bị bắn trả bởi những người trong hầm này, vì địch đã dùng đường hầm để trốn khi quân Mỹ bắn hỏa tiển. TĐ đã cho các người lính ném (heave) những túi 20 cân Anh chất nổ xuống miệng hầm hay đổ dung dịch xăng đặc (napalm) vào bên trong hầm và dùng lựu đạn kích hỏa.

Lính csbv từ trên cao đã liều lỉnh bắn trả bằng B-40, đạn bị trượt trên mặt đất và nổ nơi lính Mỹ đang núp sau các khúc gỗ hay mô đất. Đạn B-40 nổ, giết và làm bị thương vài chục lính Mỹ. Rất may cho lính Mỹ, các thủ pháo Trung cộng mà lính csbv dùng đều bị lép. Lính CSBV còn cố gắng đánh vào cạnh sườn và mặt sau của TĐ này. Sau khi hai dãy giao thông hào bị chiếm bằng cận chiến, toán tiền quân của TĐ phải ngừng cách đỉnh đồi 250 bộ Anh hay 76 mét. Sau khi trời tối, lịnh "giữ vững vị trí" đổi thành "rút quân". Để nhường cho phi pháo hoạt động vào ngày kế. 

Suốt ngày 22 tháng 11, máy bay đã liên tục bằm nát đồi 875 và khu chung quanh với bom nổ, bom lửa, và rocket. Đỉnh của 875 đã bị trọc hết cây cối sau khi bị oanh tạc, kéo dài suốt đêm. TĐ 4 được tăng cường bởi một lực lượng tăng viện bằng trực thăng, đổ xuống gần sườn đông nam của đồi. Đây là hai đại đội của TĐ 1/12 thuộc sđ 4 bộ binh, đến từ tỉnh Darlac (Ban Mê Thuột). Họ đã trải qua một đêm bị pháo lai rai bằng cối để chuẩn bị tấn công lên đồi ngày kế" -- Trích từ bài Trận Dak To Năm 1967.

- Quân nhân Mỹ có một điểm yếu là thiếu kinh nghiệm chiến trường do mọi cấp bực chỉ phục vụ một năm tại VN -- trừ phi họ làm đơn gia hạn 6 tháng hay 1 năm. Trong khi người lính CSBV, dù là binh sĩ hay sq, đều phục vụ ko có thời hạn. Có những người từng chiến đấu từ năm 1946 hay từ trận Điện Biên Phủ 1954 như tướng Hoàng Minh Thảo TL mặt trận B-3, tướng Nguyễn Hữu An (TL của sđ 1 csbv) hay trung tá Đàm văn Ngụy (chỉ huy trung đoàn 174 csbv), v.v... Họ chỉ giải ngũ khi bị thương nặng, ko thể chiến đấu nữa. Do đó họ rất dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và rành địa thế nơi họ chiến đấu. 

III/ Bài viết sau đây chưa từng được dịch ra Việt ngữ.

Sau đây là phần chuyển ngữ.

                                   
                               
...
"Vào cuối tháng 10/1967, sĩ quan trách nhiệm điều hành nỗ lực chiến tranh của Mỹ tại quân khu 2 là trung tướng William B. Rosson, có trách nhiệm chỉ huy Lực lượng 1 Dã chiến. Ông điều khiển các cuộc hành quân (HQ) của khoảng 55 ngàn quân Mỹ và 38 ngàn quân Nam Hàn từ BTL đặt tại tp ven biển Nha Trang. Ông đã triển khai 28 TĐ gồm 10 TĐ Mỹ và 18 TĐ Nam Hàn tại vùng đất thấp ven biển giàu tài nguyên để hỗ trợ 16 TĐ bộ binh của nam VN bảo vệ dân cư địa phương. Ông chỉ có 9 TĐ bộ binh Mỹ, hợp tác với 12 TĐ bộ binh nam VN, để bảo vệ vùng Cao nguyên Trung phần thưa dân này.
Thiếu tướng William Peers, chỉ huy lực lượng quan trọng nhứt của Rosson ở vùng phía tây quân khu 2, đó là sđ 4 bộ binh. Peers có kinh nghiệm trong chiến tranh ko qui ước vì từng chỉ huy một đv OSS, tiền thân của CIA ở Miến Điện trong đệ nhị thế chiến và điều hành các hoạt động bí mật của CIA tại phía nam TQ trong chiến tranh Cao Ly. Ông đặt căn cứ tại trại Enari, nằm ở một cánh đồng bằng phẳng 10 km nam của tp Pleiku cạnh một đồi có tên Dragon Mountain (Núi Rồng). Sau này được gọi là căn cứ Hàm Rồng. Trại cũng là nơi đặt BCH của lữ đoàn 1 của sđ. Lữ đoàn 2 của sđ đặt tại trại Oasis, nằm ở 20 km đông nam của tp Pleiku trên QL-19. Vì ko có lữ đoàn 3, do tăng phái cho một sđ ở phía nam quân đoàn 1, tướng Westmoreland tăng phái cho tướng Peers ba đv lưu động. Đó là thiết đoàn 2/1 thiết kỵ, TĐ 1/69 thiết giáp, hợp lực với thiết đoàn 1/10 của sđ 4 bộ binh, để bảo vệ các trục lộ quan trọng tại Cao nguyên Trung phần. Đơn vị thứ ba là thiết đoàn 7/17, với hai đv trực thăng võ trang và một đv cơ giới, đã cho tướng Peers một lực lượng có thể hoạt động trong lãnh thổ bao la của phía tây quân khu 2. Sđ 4 cũng được yểm trợ bởi liên đoàn 52 pháo binh, với bốn TĐ pháo binh, và liên đoàn 52 không quân với sáu đại đội trực thăng UH-1.
Trách nhiệm của ông là bảo vệ các tỉnh lỵ và quận lỵ nằm dọc QL-14, chạy từ bắc xuống nam giữa cao nguyên Trung phần. May mắn thay, phần lớn các thị xã này ở cách biên giới từ 30 đến 50 km. Ông nhận định rằng các cuộc tấn công của địch chưa bao giờ diễn ra nhanh chóng. Họ phải chặt cây để tạo đường đi trong rừng và thiết lập địa điểm tập kết (staging area). Với rất ít dân cư trong khu vực, người lính CS gần như phải mang mọi thứ thiết yếu trên lưng. Lương thực khan hiếm, và máy bay Mỹ phun hóa chất làm rụng lá trên những địa điểm canh tác bỏ hoang hay nghi ngờ để ngăn địch quân trồng trọt. Do đó người lính csbv tại phía tây quân khu 2 ko thể dựa vào dân như các đồng chí của họ tại quân khu 4. Họ thường cần nhiều tuần lễ hay nhiều tháng để vận chuyển đồ tiếp liệu tới nơi ém quân cho một trận đánh lớn, khiến cho tình báo Mỹ có thời gian phát hiện những chuẩn bị này. 
Tướng Peers đã quan tâm nhiều đến khoảng 15 ngàn quân csbv, hoạt động trong mặt trận B3 của tướng Hoàng Minh Thảo, chỉ huy các đv chủ lực tại các tỉnh Kontum, Pleiku, và Darlac, cũng như phần phía tây của Bình Định và Phú Bổn. Lực lượng tác chiến chánh của Thảo là sđ 1 csbv, chỉ huy bởi một sq dày dạn kinh nghiệm, đó là ĐT Nguyễn Hữu An. Sđ này có ba trung đoàn gồm 32, 66, và 174. Mặt trận B3 cũng chỉ huy ba trung đoàn biệt lập, gồm trung đoàn 24 csbv trong tỉnh kontum, trung đoàn 95B csbv trong tỉnh Pleiku, và trung đoàn 33 csbv ở tỉnh Darlac. Yểm trợ cho họ là trung đoàn 40 pháo binh csbv, trang bị hỏa tiển 122 ly, cối 120 ly, và súng không giựt 75 ly. Họ nhận đồ tiếp tế và quân mới từ vài căn cứ lớn trên lãnh thổ Cam-bốt, nằm ở đoạn phía nam của đường mòn HCM.

ĐE DỌA TRÊN CAO NGUYÊN

"Khi tháng 10/1967 sắp hết (draw to a close), mối quan tâm lớn nhứt tại Cao nguyên Trung phần của trung tướng William Rosson (TL của Lực lượng 1 Dã chiến), là dấu hiệu đáng lo ngại (ominous) của một cuộc chuẩn bị tấn công của Mặt trận B3. Tin tức này ko gây bất ngờ. Mỗi năm từ năm 1965, mặt trận B3 đã phát động một tấn công lớn ở đầu mùa khô tại nơi nào đó ở phía tây quân khu 2. Vấn đề đối với tướng Rosson ko phải là Nếu mà là Nơi nào Lúc nào. 

Vị TL này của Lực lượng 1 Dã chiến đã tin rằng nhiều khả năng các mục tiêu sẽ là các trại Dân sự Chiến đầu (DSCĐ) và các căn cứ quân sự khác ở phía tây các tỉnh Kontum và Pleiku vì nằm trong tầm hoạt động của các căn cứ địch ở Cam-bốt. Dak To đứng đầu danh sách này. Các toán viễn thám của sđ 4 bộ binh (có BTL đặt tại trại Enari -- mà sau này gọi là căn cứ Hàm Rồng -- người dịch)và Lực lượng 1 Dã chiến đã phát hiện địch quân đóng quân gần biên giới. Các thiết bị XM-2 đánh hơi người gắn trên trực thăng UH-1 đã phát hiện những dấu hiệu của khói xuất phát từ bếp nấu ăn (campfire); và nhờ các cảm biến hồng ngoại, các máy bay Mohawk OV-1 của đ.đ. không thám 225 cũng đã phát hiện những bếp nấu ăn - mà họ ko thể thấy bằng mắt thường. (Nói thêm: Thiết bị XM-2 có thể ghi nhận mùi phát ra từ nước tiểu hay mồ hôi của con người. Mỗi lần chiếc trực thăng trang bị thiết bị này, xem hình, hoạt động, nó sẽ được bảo vệ bởi 2 gunship bay phía trên -- người dịch). 

Bằng chứng thuyết phục hơn đến từ những đv tình báo kỹ thuật của lực lượng 1 dã chiến khi họ đã bắt được các mật điện phát đi từ BTL của sđ 1 csbv. Dùng các kỹ thuật tối tân để giải mã và định vị, cộng với các chuyến bay không thám, chẳng hạn như máy bay OV-1 Mohawk, tình báo Mỹ đã xác định các lịnh này đã gửi đến trung đoàn (tr.đ.) 24 ở nơi nào đó ở bắc của căn cứ Dak To, và tr.đ. 32 và 66, ở nơi nào đó ở tây của căn cứ này. Cũng có những tin tức rằng tr.đ. 174 đóng quân trên đất Lào chỉ cách Dak To ko hơn một ngày đi bộ

Tướng Rosson cũng nghiên cứu những khả năng khác. Thông tin gần đây cho thấy tr.đ. 33 đang "dự định một trận đánh ở tây bắc và ở giữa của tỉnh Darlac mà tỉnh lỵ là Ban Mê Thuột" đã khiến tướng Peers TL của sđ 4 bộ binh, điều ngay lữ đoàn 2 tới Ban Mê Thuột. Ông cũng xem xét một đe dọa mới nhắm vào tp Pleiku. Ngày 28/10/1967, các pháo thủ CSBV đã bắn vào tp này 46 hỏa tiển 122 ly, đây là lần đầu tiên vũ khí này được dùng để tấn công một tỉnh lỵ. Tuy nhiên, mối quan tâm nhứt của tướng Rosson vẫn là Dak To. Kể từ tháng 6/1967, các đv của sđ 1 csbv đã mở các trận đánh đẫm máu với lữ đoàn 173 Dù tại các đồi núi nam của Dak To, có lúc gần như tràn ngập một đ.đ. của lữ đoàn này. (Nói thêm: Tôi đã có bài Trận Dak To Năm 1967 trên YouTube -- người dịch). Nay khi mùa khô đang đến, tướng Hoàng Minh Thảo TL của mặt trận B3 có thể đang dự định một hành quân tương tự nhưng ở qui mô lớn hơn. (Nói thêm: Theo hồi ký của cố nhạc sĩ Tô Hảitừ tháng 8 năm 1945 đến năm 1949, ông Thảo là phái viên của Bộ Quốc phòng của Việt Minh ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng. Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá. Năm 1954 ông là TL của sđ 304. Nhạc sĩ Tô Hải cũng là anh rể của tướng VNCH Lâm Quang Thi -- người dịch). "Hơn bao giờ hết," tướng Rosson viết, địch quân "cần một chiến thắng quân sự đầy ấn tượng để nâng cao tinh thần quân lính cũng như cho dân địa phương thấy người CS luôn luôn bách chiến bách thắng (invincibility)". 

Kẻ thù từ lâu đã xem phần tây bắc của tỉnh Kontum là khu vực chiến lược quan trọng trong mọi dự định để chiến thắng cuộc chiến. Thung lũng Dak To, chạy từ Lào theo hướng đông vào tỉnh Kontum, là một đường xâm nhập thiên nhiên cho quân đội của họ. Dựa vào tỉnh lộ 512 có từ thời Pháp chạy suốt thung lũng, hành lang Dak To này là một trong rất ít nơi ở quân khu 1 và 2 cung cấp việc chuyển quân dễ dàng xuyên biên giới. Nếu địch quân kiểm soát Thung lũng Dak To, họ sẽ có một đường xâm nhập tiện lợi và nhanh chóng để cung cấp binh sĩ, tiếp liệu, và xe cộ vào Cao nguyên Trung phần từ các kho bãi trên đường mòn HCM. Các lãnh đạo quân sự CSBV cũng muốn ngăn chận quân đồng minh dự trữ tiếp liệu trong khu vực Dak To để hỗ trợ một tấn công xuyên biên giới, một khi tướng Westmoreland cho phép. Cuối cùng tướng Thảo đã nhận mật lịnh của bộ quốc phòng (BQP) của bắc VN nhằm phát động một trận đánh lớn ở khu vực Dak To nhằm quét sạch một hay nhiều hơn các TĐ Mỹ, tạo nên một chiến thắng gây tiếng vang có thể thách thức những mục tiêu của tướng Westmoreland và giáng một đòn nặng vào tinh thần quân Mỹ, xem bản đồ số 14.


Bố trí của quân đồng minh tại khu vực Dak To gồm ba căn cứ và sáu căn cứ hỏa lực (CCHL) nằm dọc tỉnh lộ 512 ở phần phía bắc của thung lũng. Căn cứ đầu tiên là Dak To 1, với sức chứa một TĐ ở phía tây và sát Tân Cảnh: ở căn cứ Dak To 1 đã có một TĐ của tr.đ. 42 VNCH trú đóng. Từ đầu thập niên 1960, Dak To 1 đã có một sân bay nhỏ có thể tiếp nhận trực thăng và quan sát cơ. Ba km về phía tây là một căn cứ mới và lớn hơn, có tên Dak To 2, mà sân bay có thể tiếp nhận máy bay C-130, xem bản đồ. (Phe VNCH gọi là sân bay Phượng Hoàng -- người dịch). 
                    

Mười bốn km về hướng tây là trại LLĐB Ben Hét, nơi mà công binh Mỹ đang xây một CCHL mới có thể tiếp nhận các pháo đội 175 ly từ liên đoàn 52 pháo binh (52d Artillery Group) có thể bắn các mục tiêu bên kia biên giới. Phía nam của tỉnh lộ 512 là một đồng bằng hẹp dẫn tới một loạt các đỉnh núi cao và thung lũng hẹp, thường chạy theo hướng bắc nam. Một số thung lũng này chạy về biên giới Cam-bốt, giúp cho địch dễ dàng chuyển quân tới Dak To. 
Tướng Peers TL của sđ 4 bộ binh đã bắt đầu củng cố các căn cứ ở Dak To vào ngày 28/10/1967. Trong khi lính của TĐ 299 công binh cải thiện tỉnh lộ 512 giữa Tân Cảnh và Ben Hét, tướng Peers đã thay thế TĐ 2/8 bộ binh cơ giới (bộ binh di chuyển bằng thiết vận xa M-113), đang bảo vệ thung lũng, bằng các đv bộ binh của lữ đoàn 1. Chẳng hạn như Tiểu đoàn 3/12 bộ binh của trung tá John Vollmer đã tới sân bay Dak To bằng máy bay C-130. TĐ 3/8 bộ binh của trung tá Glen Belnap sẽ tới ngày kế. ĐT Richard Johnson, TL của lữ đoàn, cũng đặt BCH tiền phương ở Dak To. Tướng Rosson cũng tăng phái cho lữ đoàn này với TĐ 4/503 thuộc lữ đoàn 173 Dù, không vận từ Tuy Hòa. ĐT Johnson cũng gửi quân Dù tới Ben Het. Nói thêm: Trong chiến tranh VN, chỉ có lữ đoàn 173 Dù hay TQLC hay LLĐB là quân tình nguyện 100/100; các đv khác, bao gồm các sđ bộ binh hay sđ 1 không kỵ, phần lớn binh sĩ là lính quân dịch nên tinh thần chiến đấu ko cao -- người dịch. Ba pháo đội của TĐ 6/29 pháo binh tăng cường cho lực lượng của Johnson. Nói thêm: Liên đoàn 52 pháo binh đã có sẵn tại vùng này từ lâu -- người dịch. 

TRẬN ĐÁNH BẮT ĐẦU, TỪ 2 ĐẾN 6 THÁNG 11

Quân đồng minh đã bất ngờ nhận được một món quà trời cho (windfall) vào ngày 2/11 khi trung sĩ Vũ Hương thuộc tr.đ. 66 csbv ra hồi chánh tại một tiền đồn nhỏ của quân chánh phủ ở bắc của Dak To (Theo quyển Dak To của Edward Murphy, trung sĩ này đầu thú ở một tiền đồn VNCH ở ấp Bak Ri, phía tây của Ben Het -- người dịch). Trung sĩ Hương, thuộc một toán trinh sát trong khi điều nghiên địa thế chung quanh Dak To, đã tình cờ nghe một trong các sq của y nói rằng tr.đ. 66 sẽ tấn công Dak To từ tây nam, và tr.đ. 32 lập vị trí ở nam Dak To để ngăn mọi phản công nhắm vào tr.đ. 66. Tr.đ. đoàn 24 giữ 1 vị trí ở đồi núi đông bắc của Dak To sẵn sàng tấn công mọi viện quân từ hướng này. Tr.đ. 174 ở tây bắc của Dak To sẽ làm trừ bị hay tấn công khi có lịnh. Theo trung sĩ này, cuộc tấn công lẽ ra thực hiện ngày 28/10, cùng lúc với cuộc tấn công bằng hỏa tiển 122 ly vào tỉnh lỵ Pleiku, nhưng tướng Nguyễn hữu An, TL của sđ 1 csbv, đã dời ngày vì pháo binh ở Dak To chưa sẵn sàng.
Các chuyên viên tình báo Mỹ-Việt đã đặt nhiều dấu hỏi về lời khai của y. Làm thế nào, một trung sĩ quèn như y, lại biết quá nhiều những kế hoạch của sđ 1 csbv? Liệu đó có thể là một âm mưu nhằm đánh lừa quân đồng minh? Tuy nhiên những chi tiết mà y cung cấp đã trùng khớp với những gì quân Mỹ đã biết hay nghi ngờ. TL của sđ 4 bộ binh và TL của lực lượng 1 dã chiến tin rằng trung sĩ này đã nói thật: Mặt trận B3 đang chuẩn bị một cuộc tấn công cấp sđ vào khu vực Dak To, với hy vọng thu hút quân Mỹ vào một địa thế hiểm trở và rừng rậm che phủ -- nhắm hóa giải một số thuận lợi của quân Mỹ về hỏa lực và chuyển quân nhanh chóng bằng trực thăng. 
Nhằm đánh phủ đầu trận địa pháo mà trung sĩ Hương đã đoán trước, tư lịnh của sđ 4 bộ binh ra lịnh cho ĐT Johnson đưa quân vào vùng. TL của lữ đoàn 1 này ra lịnh cho TĐ 3/8 bộ binh của ĐT Belnap thám sát một cụm các đỉnh, có tên là Rocket Ridge (Rặng Hỏa tiển, vì từ đây CSBV thường bắn hỏa tiển 122 ly vào các vị trí đồng minh - người dịch, nằm ở phía nam của Dak To 1). ĐT Johnson cũng ra lịnh cho TĐ 3/12 của ĐT Vollmer, lục soát một cụm nhỏ hơn gồm các đỉnh núi, ở phía tây của Rặng Hỏa tiển, có tên là Ngok Dơ-lang. Nói thêm: Năm 1969, hai TĐ 23 và 11 BĐQ VNCH, mà trung úy Vương Mộng Long chỉ huy đ.đ. 1 của TĐ 11 BĐQ đã đụng độ nặng tại khu vực Ngok Dơ-lang này. Dù bị trúng miểng B40 vào bả vai, ông vẫn chỉ huy đại đội chặn hậu để TĐ rút lui về căn cứ Dak To ở phía bắc -- người dịch).


Tướng Rosson, TL của 1 Dã chiến, đã báo cho lữ đoàn 173 Dù ở Phú Yên phải sẵn sàng tăng viện cho TĐ 4/503 của họ, đang có mặt tại Ben Het. Một khi quân tăng viện này tới, ý nói lữ đoàn 173 dù, họ sẽ vào thung lũng Dak Klong, phía nam của Ben Het, nơi mà trung sĩ Hương nói rằng, tr.đ. 66 của y trú đóng. Tướng Vĩnh Lộc của quân khu 2 đồng ý đưa quân VNCH tới bắc của Dak To một khi tr.đ. 24 csbv xuất hiện. Các đv LLĐB Mỹ và các toán viễn thám của lực lượng 1 Dã chiến sẽ tuần thám khu vực phía tây của Ben Het, sát tới biên giới. Bốn phi đội oanh tạc-chiến đấu cơ F-100 Super Sabre, với 10-18 máy bay mỗi phi đội, túc trực tại sân bay Phù Cát, sẵn sàng lâm trận khi có yêu cầu. 
Quân của lữ đoàn 1 sđ 4 bộ binh của ĐT Johnson, chẳng bao lâu đã xác nhận quân địch đã có mặt trên hai đường đỉnh chánh dẫn tới phía nam Dak To.

TRẬN ĐÁNH MỞ MÀN 

*** Sáng ngày 3/11, hai đ.đ. của TĐ 3/12 của sđ 4 đã được trực thăng vận 7 km về phía nam đến Rặng Hỏa tiển, và xuống một bãi đáp khoảng 1.500 mét ở phía nam của Đồi 1338, đặt tên theo cao độ tính bằng mét -- đồi này là một điểm quan sát có thể nhìn bao quát thung lũng Dak To. Khi những người lính này của TĐ 3/12 của ĐT Vollmer bắt đầu (set out) trèo lên đỉnh để lục soát tìm kiếm các vị trí hỏa tiển 122 ly hay súng cối, hỏa lực mạnh của địch đã bắn đi từ các hầm trú ẩn hay bunker ngụy trang kỹ lưỡng ở sườn núi phía trên. Lính của 3/12 ko thể điều động quanh các hầm trú ẩn này, vì các hầm đã chắn đường lên núi của họ, và lựu đạn ko tác dụng với các hầm. Sau khi có bốn chiến sĩ tử trận, ĐT Vollmer cho các đ.đ. rút lui để phi pháo làm việc. Nói thêm: Do quân Mỹ quân số đầy đủ nên các tiểu đoàn trưởng thường là trung tá, đôi khi là ĐT, như trường hợp này -- người dịch. Quân csbv đã bị phi pháo đánh phá trong vài giờ, trong đó có một phi vụ ném xuống 24 quả bom loại 1.000 cân Anh với đầu nổ chậm, trước khi họ buộc phải rút khỏi các bunker. 
Một cuộc quan sát kỹ lưỡng các bunker đã phá hủy một phần cho thấy các bunker này được bao che chung quanh và bên trên bởi các súc gỗ gụ (mahogany logs) dầy, chặt từ rừng rậm chung quanh, khiến chúng ko thể bị phá hủy trừ phi bị đánh trúng (direct hit) bởi một quả bom hay đạn pháo. Bắc quân phải cần vài ngày để xây dựng một bunker như vậy, bằng cách dùng cưa tay đối với gỗ cứng như sắt này. Rõ ràng họ đã chuẩn bị cho (come for) một trận đánh lâu dài. 
Cùng lúc với TĐ 3/12 của ĐT Vollmer đổ quân xuống Rặng Hỏa tiển, ĐT Belnap và hai đ.đ. của 3/8 đổ xuống đầu phía đông của Ngok Dơ-lang. Ý định của Belnap là tiến về phía tây, vượt qua các đồi 882, 843, và 785, trước khi tới mục tiêu cuối cùng, đồi 724, cách đó khoảng 3 km. Trong lúc đó đ.đ. thứ ba của TĐ của ông, trực thăng vận từ Dak To tới một đỉnh (spur) của Rặng Hỏa tiển, đó là đồi 1.001, 4 km ở bắc của BCH của ĐT Belnap. Đỉnh này, có tên là CCHL số 6 hay căn cứ 6, mà sau đó trong ngày một pháo đội đã được trực thăng chở tới căn cứ này để yểm trợ cho cho hai đ.đ. của tđ 3/8, chuyển quân ngang thung lũng. 
Khi đêm tối sắp đến, quân của Belnap đã bị bắn sẻ từng đợt (intermittent) từ núi rừng chung quanh. Tiến về phía tây, hai đ.đ. này đã giết 8 bắc quân, đổi lại 4 lính Mỹ tử thương. Hai đ.đ. này đóng qua đêm ở đồi 882, điểm cao nhứt của cụm Ngok Dơ-lang và khoảng 2 km tây của đồi 724
Trận chiến ở Rặng Hỏa tiển và Ngok Dơ-lang có vẻ đã xác nhận lời khai của trung sĩ Vũ Hương. 
***Ngày 4/11, TL của sđ 4 bộ binh báo cáo với TL của 1 Dã chiến rằng lời khai này đáng tin để triển khai thêm quân từ 173 Nhảy Dù. TL của 1 Dã chiến đồng ý. 
***Ngày 5/11, TL của 1 Dã chiến ra lịnh di chuyển TĐ 1 và 2 của lữ đoàn 173 dù, với phần lớn pháo binh và BCH của 173 Dù từ Phú Yên đến Dak To. TĐ 3/503 của lữ đoàn, vừa đến nam VN, ở lại để bảo vệ mùa gặt lúa tại Phú Yên. TL Rosson của 1 Dã chiến cũng yêu cầu B-52 oanh kích khu vực ở tây và nam của Dak To, mà theo lời khai của trung sĩ Hương có thể là nơi tập kết của sđ 1 csbv
***Hai ngày sau tức ngày 7/11, chuẩn tướng Leo H. Schweiter, TL của lữ đoàn 173 Dù đã đặt BCH tại Ben Het. Tướng quân này, từng chiến đấu ở Normandy và Bastogne trong thế chiến 2, sau đó tại Cao Ly; kế đó chỉ huy liên đoàn 5 LLĐB, trước khi đến VN tháng 8/1967 để chỉ huy lữ đoàn 173 Dù. 
Theo lịnh của tướng Peers, Schweiter ra lịnh cho TĐ 1/503 của trung tá David Schumacher bảo vệ trại Ben Het và TĐ 2/503 của thiếu tá James Steverson trách nhiệm phòng thủ Dak To 1 và 2. Điều này cho phép lữ đoàn 1 của sđ 4 bộ binh tập trung vào Rặng Hỏa tiển và Ngok Dơ-lang và cũng cho phép TĐ 4/503 của 173 Dù lục soát thung lũng Dak Klong, nằm phía nam của Ben Het. 
TL của 173 Dù ra lịnh cho TĐ 4/503 trừ đưa ba đ.đ. về phía nam khoảng 7 km để lục soát đồi 823 ở lối vào thung lũng Dak Klong, hay thung lũng Dak Honiang. Nơi đó, vì gần tầm bắn ngoài của đại bác từ Ben Het, các trực thăng sẽ chỡ đ.đ. B của 4/503 (đ.đ. này lúc đó đang ở Ben Het) và các cưa máy và bao cát tới đồi 823 để lập một CCHL mới, sau đó là một pháo đội 105 ly, để yểm trợ các mủi tấn công mới vào thung lũng này. Sáng hôm đó, ba đ.đ. của 4/503, di  chuyển bộ theo ba mủi song song với nhau để lục soát khu vực giữa Ben Het và đồi 823. TĐ trưởng Johnson ngồi trực thăng để điều quân. Đ.đ. D gồm ba trung đội với một trung đội DSCĐ của trại Ben Het, đã tới đầu phía bắc của một dãy đồi phủ đầy rừng rậm mà người dân địa phương gọi là Ngok Kom Liệt ngay trước trưa. 
Khi 1 người lính phát hiện đường dây điện thoại quanh co lên sườn đồi, TĐ trưởng ra lịnh cho đ.đ. thám sát. Rất cẩn thận, lính Dù và trung đội DSCĐ tiến lên đồi Ngok Kom Leak, 1.6 km bắc của đồi 823. 
Tìm thấy dấu chân và cứt mới ỉa trên giữa đường lên núi, đ.đ. D đã lập chu vi phòng thủ trên một khoảng rừng thưa. Tiểu đội lính Mỹ mệt nhọc đã vượt khỏi chu vi phòng thủ để lục soát khu vực chung quanh, và họ đã gần như lập tức chạm địch. Cả hai bên đều nổ súng; tiểu đội này chạy về tuyến phòng thủ với địch quân chạy theo bén gót (hot on their heels). Cuộc tao ngộ chiến (skirmish) này đã trở thành một trận đánh mà địch quân tấn công chu vi phòng thủ của quân Mỹ từ nhiều hướng. TĐ trưởng Johnson ra lịnh đ.đ. A và C tham chiến càng nhanh càng tốt, trong khi y gọi phi pháo bảo vệ đ.đ. D.
Với hỏa lực yểm trợ, đ.đ. D cầm chân địch cho tới khi đ.đ. A tới vài giờ sau đó. Khi đó bắc quân đã tan biến. Tổn thất của đ.đ. D là 4 chết và hơn 10 bị thương. Đ.đ. C, di chuyển chậm do bị bắn sẻ, đã tới đồi sáng hôm sau. Sau khi lục soát đồi này, tìm thấy 28 xác địch, ba đ.đ. của TĐ 4/503, tiếp tục di chuyển đến đồi 823 nơi đ.đ. B đã chiến đấu một mình.
Vì buổi chiều ngày hôm trước, TĐ trưởng Johnson đã cho trực thăng đổ đ.đ. B xuống đồi 823 để lập một CCHL hầu yểm trợ quân của ông tại Ngok Kom Liệt. Đ.đ. B đã xuống đồi 823 khoảng 14:30, sau khi không quân ném bom suốt ngày để dọn sạch cây rừng dầy đặc ở đỉnh của đồi 823 và giết mọi bắc quân núp ở đó. Lính của đ.đ. đã thấy các ba-lô vứt bỏ và bá súng hư hỏng do trúng phi pháo trên đỉnh của 823, nhưng ko thấy xác. Sau khi đặt vài tổ nghe ngóng (2 người mỗi tổ) ở suờn núi phía dưới, phần còn lại của đ.đ. đã bắt đầu đào hố chiến đấu và chặt cây cối để có xạ trường tốt.  
Địch đã xuất hiện sau đó 30 phút, bằng cách dàn hàng ngang tiến lên đồi, vừa đi vừa bắn vào quân Mỹ với AK-47 và trung liên RPD. Loạt đạn đầu đã giết chết một tổ nghe ngóng gồm 2 người; sau đó 5 lính Mỹ đã chết khi từ trên núi chạy xuống để cứu đồng đội. Phần còn lại của đ.đ. B nhào xuống các hố cá nhân và hố bom chung quanh đỉnh núi để bắn trả. Chỉ trong vài phút, các đại bác từ Ben Het đã bắt đầu giả xuống sườn núi bên dưới, trong khi một phi đội (flight) oanh tạc cơ bay vòng vòng trên không, chờ đợi cơ hội để trút bom.
ĐT Johnson ko có cách nào để tăng cường cho quân của ông trước trời tối. Các đ.đ. khác của tđ 4/503, đang bận chiến đấu ở Ngok Kom Liệt vài km về phía bắc. Ngay cả ông có quân trừ bị, hỏa lực của đối phương chắc chắn sẽ gây hư hại hay hủy diệt các trực thăng cố gắng đáp xuống đỉnh của đồi 823. Cũng như vậy, rất nguy hiểm nếu đổ quân xuống thung lũng nằm kế đồi trong khi ko biết sức mạnh và vị trí của địch. Do vậy đ.đ. B phải cố gắng cầm cự tới sáng.
Trận chiến đã ác liệt suốt buổi chiều và tiếp tục đến tối. Quân địch bò sát tới hố chiến đấu của quân Mỹ để ném lựu đạn; lính của đ.đ. B cũng dùng lựu đạn để chặn đứng cuộc tấn công. Các xạ thủ của khẩu cối 81 ly duy nhứt trên đồi 823 (đặt ở đáy của một hố bom lớn) đã liên tục bỏ đạn vào nòng, và nòng súng gần như dựng đứng vì họ phải bắn vào khu vực 100 mét tính từ chu vi phòng thủ. Một Hỏa Long AC-47 bay lòng vòng suốt đêm trên đỉnh núi, thả hỏa châu soi sáng và dùng các đại liên 6-nòng bắn đạn 7.62 ly xuống các rừng rậm ở sườn núi bên dưới. Hỏa lực của Bắc quân yếu dần và chấm dứt một thời gian ngắn trước rạng đông của ngày thứ bảy, tính từ lúc xảy ra trận chiến giữa quân Mỹ và csbv. Sáng hôm đó đ.đ. B ghi nhận có 16 lính Mỹ tử trận và số bị thương trên 32.
Địch quân rút quân khỏi đồi 823 đã cho phép ĐT Johnson đưa thêm quân. Trực thăng đã chở tới một đ.đ. thuộc TĐ 1/503, để cùng với đ.đ. B lục soát các sườn núi đầy hố bom. Các toán tuần tiểu đã tìm thấy 89 xác địch và một nơi đóng quân, mà địch ra rút đi, ở chân đồi. Tài liệu thu được tại đó cho thấy họ thuộc tr.đ. 66 csbv, xác nhận sự có mặt của sđ 1 csbv tại thung lũng Dak Klong. Với những đv khá lớn (sizable) của csbv cũng có mặt ở Ngok Dơ-lang và Rặng Hỏa tiển ở phía đông, trận đánh đang diễn ra này trở thành cuộc đụng độ lớn nhứt từ khi địch quân cố gắng tràn ngập trại LLĐB Đức Cơ ở tây của tỉnh Pleiku sáu tháng trước đó./.

Chuyển ngữ từ trang 148 - 158 của sách Staying The Course, October 1967 to September 1968 của Erik Villard. In bởi Trung tâm Quân sử Lục quân Mỹ 2017. 
San Jose ngày 20 tháng 5 2024. Cập nhật ngày 2/8/2024.
Tài Trần