NDC -- SAU NĂM Ở LÍNH.
Rồi cũng chẳng nghỉ ngơi được bao lâu, chúng tôi nhận lệnh : tiếp ứng và giải vây cho căn cứ Đức Cơ nơi Tiểu Đoàn 81 BĐQ đã bị bao vây 3 tuần lễ.
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
NDC -- SAU NĂM Ở LÍNH.
Rồi cũng chẳng nghỉ ngơi được bao lâu, chúng tôi nhận lệnh : tiếp ứng và giải vây cho căn cứ Đức Cơ nơi Tiểu Đoàn 81 BĐQ đã bị bao vây 3 tuần lễ.
https://www.virtualwall.org/dm/0MontanaRx01a.htm
Rosendo là 1 người lính chuyên nghiệp, quê ở Big Spring, Texas, vào lính từ 1964, từng phục vụ 1 nhiệm kỳ tại vn từ 1966-67.
Rosendo là 1 người lính dò đường và là thành phần của toán an ninh của đoàn 17 không vận. (Lính dò đường thuộc BĐQ Mỹ, có nhiệm vụ tìm và an ninh bãi đáp -- ND). Ngày 15/4/1970, Rosendo đã bị trúng đạn tử thương khi ông tìm cách đổ quân vnch vào bãi đáp Orange để đối phó với việc tập trung quân csbv chung quanh trại LLĐB ở Dak Seang, khoảng 20 dặm bắc của Dak to. Ông là âm thoại viên và cùng với 1 lính Mỹ và 1 toán lính vnch là toán đầu tiên đổ xuống và sao đó bảo vệ an ninh bãi đáp cho những toán khác khi đột nhiên 1 chiếc trực thăng thứ hai cũng đến để đổ quân nhưng bị trúng đạn từ dưới đất bắn lên. Chiếc này bị bắn rơi. Chuyên viên Montana bị thương và tiếp tục tái lập liên lạc truyền tin. Ông đã tử trận khi 1 loạt đạn bắn vào ông.
===
Tình hình tại trại LLĐB Dak Seang thì hơi phức tạp 1 chút so với mô tả trên. Trại này đang bị tấn công và người ta quyết định đổ quân với TĐ 3/42 VNCH, vào 1 nơi hơi cao khoảng 1 dặm từ trại để giảm áp lực cho trại này. Như đã nói, đại đội 170 trực thăng tấn công, viết tắt là AHC, nhận trách nhiệm này. Dù cơ bản Bắc quân đã bao vây bãi đáp dự trù này nhưng phi công ko thấy vì chúng núp trong công sự ngụy trang kỹ lưỡng - và khi chúng để cho chiếc UH-1 đáp xuống mà ko nổ súng khiến phi công nghĩ rằng đây là 1 bãi đáp "nguội". (Đại đội 170 AHC đóng tại Pleiku với 8 chiếc gunship UH-1 B và 20 chiếc chở quân UH-1D, ngoài ra còn tăng phải bởi 1 toán vận chuyển, 1 toán truyền tin, và 1 toán quân y. đại đội này đổ toán biệt kích sang Lào và KPC-- ND).
Chiếc Huey đầu tiên chở 2 lính dò đường Mỹ (Chuyên viên bậc 5 Rosendo Montana và hạ sĩ Herndon Bivens) và 6 lính VN. Chiếc Huey thứ hai, UH-1H số đuôi 68-16203, trúng đạn và rơi giữa bãi đáp. Dù 2 lính VN chết do máy bay rơi, 4 phi hành đoàn Mỹ và 4 lính VNCH khác chỉ bị thương nhẹ và chạy khỏi máy bay. Viên phi công, chuẩn úy Albert Barthelme, bị thương nặng nhưng được khiêng tới 1 một hố bom gần đó. Chuẩn úy Roger Miller (copilot), chuyên viên 4 Vincent Davis và chuyên viên 5 Donald Summers, và 4 lính VN ở với Barthelme; những người lính vn sống sót từ chiếc đầu tiên ở gần đó. Tất cả đều bị hỏa lực mạnh của bắc quân. Các cố gắng cấp thời để triệt xuất họ đều bị cản trở bởi 3 yếu tố:
- Trừ chiếc Huey chở Montana và Bivens, các chiếc trực thăng trong khu vực đều đầy lính VNCH hay gunship - vì mang nhiều rocket và đạn 7.62 ly cho hai khẩu M-60 nên ngoài phi hành đoàn 4 người, gunship ko thể chở thêm người như loại chở quân (slick) -- ND).
- Bãi đáp nằm trên đỉnh đồi này phần nào tắc nghẽn bởi xác chiếc 68-16203; và
- Toàn khu vực bãi đáp giờ đây dưới hỏa lực từ lính csbv núp trong công sự bao gồm đại liên 4 nòng 12.8 ly và 23 ly phòng không.
Một lực lượng tìm và cấp cứu, gọi tắt là SAR, gồm 1 chiếc A-1 Skyraider và hai chiếc trực thăng khổng lồ HH-3, biệt danh Giant Jolly Green, xem hình, (tốc độ tối đa của máy bay là 164 dặm/giờ, phi hành đoàn 4 người, chở được 28 người hay 6.500 cân Anh).
Hai chiếc UH-1D, ko chở quân, của đại đội 170 trực thăng tấn công đã đến. Một chiếc, lái bởi chuẩn úy Bill McDonald, đáp xuống dưới hỏa lực dữ dội của địch và mang chuyên viên 4 Davis và chuyên viên 5 Summer từ chiếc UH-1H số đuôi 68-16203 lên máy bay. Dù chiếc của McDonald bị hư hại do hỏa lực địch, phi công đã cố gắng đáp vào bên trong trại. Chiếc UH-1 thứ hai, đáp xuống kế chiếc của McDonald, cứu phi hành đoàn, và cất cánh với những kẻ bị thương khác. Vào lúc này, Davis và Summers được báo rằng 1 trong 2 người lính dò đường Mỹ đã chết và chuẩn úy Barthelme bị thương nặng.
Khi trời tối, trại LLĐB lại bị tấn công, và ko còn hy vọng nào để triệt xuất lính Mỹ và VN trên đỉnh đồi kể trên. Trong đêm tối, vài lính VNCH cố gắng vào trại và 2 người thành công. Miller và Bivens được yêu cầu ở lại chỗ chiếc UH-1 bị rơi với chuẩn úy Barthelme, vì ông này ko thể di chuyển, và chờ đợi sáng. Những cố gắng của toán SAR (tìm và cấp cứu) đã bắt đầu từ sáng sớm, nhưng vô ích - vì ko thấy nơi ẩn núp của những người lính Mỹ Việt trên đây.
Tới ngày 29/4/1970 quân bạn đã tới bãi đáp này và tìm thấy xác của chuẩn úy Barthelme và chuyên viên 5 Montana. Ko có dấu vết của chuẩn úy Miller và hạ sĩ Bivens.
Sau này người ta biết chuẩn úy Miller bị bắt, và được thả bởi bắc quân ngày 5/3/1973. Ông cho biết rằng trong đêm đó, sau khi Barthelme chết, cả hai cố gắng vào trại nhưng bị phục kích dọc đường. Bivens đã trúng nhiều phát ở ngực, và Miller được kể lại rằng Bivens đã chết 2 giờ sau khi bị bắt.
Tóm lại, 2 lính bộ binh Mỹ, 8 phi hành đoàn Mỹ, và 12 lính vnch đã xuống đất, nhưng chỉ có 6 người sống sót.
- Chiếc UH-1 số đuôi 68-16203: chuẩn úy Barthelme tử trận. Chuẩn úy Miller, tù binh, thả ngày 5/3/1973. Chuyên viên 5 Summers, bị thương, được tìm thấy. Chuyên viên 4 Davis, bị thương, được tìm thấy.
- Chiếc Huey thứ hai: chuyên viên 5 Montana, chết. đại úy Bivens, bị thương, nhưng chết sau khi bị bắt, ko thấy xác.
- Chiếc trực thăng khổng lồ HH-3E, thuộc đệ Thất Không lực: Đại úy Scott, phi công, tử trận. Thiếu tá Wofford, copilot, bị thương. Trung sĩ nhất (SSGT) Davis, chết vì thương tích ngày 25/5/1970. Trung sĩ kỹ thuật Hartzel, chết vì thương tích ngày 20/4/1970/
- Thuộc TĐ 3/42 VNCH: có 10 chết, ko rõ tên. Hai sống sót, ko rõ tên.
===
476 NGƯỜI CỦA TĐ 23 BĐQ DỰ TRẬN DAK SEANG, SAU 4 NGÀY, CHỈ CÒN 41 SỐNG SÓT TRỞ VỀ
Dù nhiệm vụ là cố vấn, nhưng có những tình huống đã khiến 1 số cố vấn BĐQ ra tuyến đầu. Ngày 4/4/1970, trung sĩ nhất Gary Littrel là người cố vấn BĐQ duy nhất ko bị thương sau một đợt pháo bằng cối của trung đoàn 28 csbv vào vị trí phòng thủ của TĐ 23 BĐQ VNCH trên đỉnh đồi 763 tại tỉnh Kontum. Một chiếc trực thăng định xuống tải thương theo yêu cầu của Littrel nhưng ko thực hiện do hỏa lực súng nhỏ. Lúc đó người cố vấn BĐQ này đang đứng ngoài đồng trống cầm đèn nhấp nháy. Để bảo vệ người bị thương, Littrel đã điều khiển yểm trợ tiếp cận suốt đêm và tới sáng hôm sau.
Khi trời sáng, một đợt pháo kích nặng nề vào TĐ VNCH bị vây hãm này. Littrel di chuyển ra chu vi phòng thủ để sơ cứu, hướng dẫn không kích, và di chuyển thương binh. Một trực thăng tiếp tế đáp xuống khoảng 1000. Littrel đưa ba cố vấn BĐQ bị thương lên máy bay cùng với vài lính BĐQ trong khi cố vấn BĐQ khác, chuyên viên 5 Raymond Dieterle, nhảy xuống từ máy bay.
Trong phần còn lại của ngày, hai cố vấn BĐQ này di chuyển ra chu vi phòng thủ, gọi không yểm, điều chỉnh pháo binh (bắn từ các căn cứ hỏa lực (CCHL) như Tango cách đó 6-7 km, theo hồi ký Trận Dak Seang 1970 của Vương mộng Long -- ND), và cổ võ tinh thần cho các chiến hưu BĐQ VN của họ. Áp lực vào chu vi phòng thủ càng lúc càng tăng khi trời sắp tối. Các tấn công thăm dò của đặc công bị đẩy lui bởi súng nhỏ, pháo binh và Hỏa Long AC-47.
Sáng ngày 6/4/1970 mở đầu bởi 1 đợt tấn công của bắc quân nhưng bị đẩy lui. Suốt ngày đó, bắc quân tiếp tục pháo vào lực lượng bị bao vây (beleaguered) trong khi 2 cố vấn tiếp tục kiểm tra (make his round) chu vi phòng thủ, nâng cao tinh thần lính VN (snore up). Lúc 0630 ngày kế, một đợt pháo kích dữ dội rơi xuống đỉnh đồi. Một đợt xung phong xuất phát từ khu rừng, đã bị các trực thăng, do Littrel hướng dẫn, chặn đứng. Dù bị không kích, sau đó nửa giờ, đợt tấn công biển người đã gần như chọc thủng chu vi. Sự chiến đấu quả cảm của những người lính mệt mỏi và can đảm của cố vấn đã đẩy lui chúng.
Lính BĐQ VN đã cố thủ trước những đợt tấn công đêm đó. Cuối cùng, lúc 1030 ngày 8/4/1970, TĐ kiệt quệ này được lịnh rút xuống đồi, đi xuyên rừng, vượt sông Dak Poko, để bắt tay với TĐ 22 bđq. Hai cố vấn này bắt đầu tổ chức việc di chuyển, phân phối súng đạn, và chăm lo thương binh và người chết mà họ mang theo.
TĐ di chuyển lúc 1100, dưới quyền của TĐ trưởng đang trong tình trạng bàng hoàng. Ông cho TĐ di chuyển xuống 1 nhánh núi (spur), dù 2 cố vấn cảnh báo vì gần vị trí địch. Ở chân đồi, ông này cho lịnh dừng quân 5 phút để uống trà.
Ngay lập tức, TĐ đã bị pháo cối dồn dập. Tuy nhiên Littrel vẫn liên lạc với TĐ 22 BĐQ và nhờ họ phản pháo vào cối của địch. Yêu cầu gunship yểm trợ ko được thỏa đáng vì họ ưu tiên phục vụ nơi khác khiến TĐ trưởng hoảng loạn và bỏ chạy. Thấy ông này bỏ chạy, lính BĐQ chạy tán loạn (scatter), bỏ người chết và bị thương ở lại.
Với câu nói "Hãy đội mũ và tiến lên", Littrel nắm tay Dieterle và từ từ tập hợp những BĐQ đang phân tán. Với đám tàn quân này, hai cố vấn đã hướng dẫn đội hình xuyên rừng trong vài giờ tới 1 nơi toàn. Vì bắc quân truy đuổi, BĐQ đã hướng dẫn cối bắn cản đường. Trong lúc đẩy lùi 1 đợt tấn công, Littrel và bạn ông đã ngả xuống đất vì sức ép của quả bom 500 mà cố vấn này đã yêu cầu thả gần đó.
Trong lúc chỉ huy lính BĐQ thoát 2 cuộc phục kích, hai người Mỹ này tiếp tục cổ võ tinh thần lính BĐQ, và mang theo thương binh. Tại điểm phục kích cuối cùng, Littrel ngừng lại để giúp 3 thương binh BĐQ. Mang người bị thương nặng nhất trên lưng và kéo 2 người khác, Littrel và phần còn lại của TĐ qua sông Dak Poko để tới nơi an toàn. Trong trận này, TĐ 23 bđq có 218 vừa chết vừa bị thương và 19 mất tích.
===
https://www.defense.gov/News/Feature-Stories/Story/Article/2549011/medal-of-honor-monday-army-command-sgt-maj-gary-littrell/
Ngày 4/4/1970 TĐ 23 BĐQ tiến về nam hướng tới biên giới cam bốt để tìm và diệt kẻ thù. Tối hôm đó, khi tới 1 đỉnh đồi, họ nhận ra rằng bị bao vây bởi khoảng 5 ngàn bắc quân. Trong khi đó, đ.v. của Littrel, quân số chỉ có 473 lính nam VN với 3 cố vấn Mỹ khác.
Ngay khi họ lập xong 1 chu vi phòng thủ, địch đã pháo dữ dội bằng cối làm chết TĐ trưởng và 1 cố vấn, 2 cố vấn bị thương nặng.
Littrel, 25 tuổi, là người Mỹ duy nhất có thể chiến đấu.
Rất may, ông nói được tiếng Việt nhờ học ở Viện Ngôn ngữ Quốc phòng, hình như ở tp Monterey ven biển của bang Cali, trước khi sang VN, do vậy có thể giao tiếp với lính BĐQ.
Trong 4 ngày kế, Littrel và TĐ BĐQ này đã chiến đấu vì sự sống còn của họ. Theo bản tuyên dương công trạng, ông đã chứng tỏ "sức mạnh gần như siêu nhân" bằng cách nhiều lần đi vào tuyến lửa (line of fire) để hướng dẫn phi pháo suốt ngày. Ban đêm, ông làm như vậy để đánh dấu vị trí của đv. Sự dũng cảm, lãnh đạo chỉ huy và ý chí của ông đã truyền cảm các chiến hữu BĐQ tiếp tục chiến đấu.
"Công việc chánh của tôi chỉ là chỉ huy và kiểm soát, bằng cách cố gắng cổ võ anh em BĐQ tiếp tục chiến đấu," Littrel đã nói trong 1 phỏng vấn của Dự án Lịch sử Cựu Chiến binh.
TĐ đã đẩy lui nhiều đợt xung phong trong khi Littrel tiếp tục di chuyển tới những vị trí nguy hiểm nhất để phân phối đạn, cũng cố 1 vài phòng tuyến đang bị chao đảo (falter), chăm sóc thương binh và tiếp tục cổ võ các chiến hữu tiếp tục chiến đấu.
Littrel nói cơn khổ (ordeal) này và thiếu ngủ đã làm ông kiệt sức khiến ông chỉ nhớ 1 phần những gì xảy ra trong thời gian dài.
Trong ngày cuối cùng mắc kẹt trên đồi, chỉ huy của Littrel cho ông biết phi pháo sẽ liên tục chuyển xạ để bảo vệ đường rút lui cho tđ.
Dù bị phục kích vài lần, nhưng họ thoát được (stave off) nhờ gunship bảo vệ cạnh sườn.
Littrel liên tục nhận lịnh giữa cơn hỗn loạn và hướng dẫn máy bay tấn công kẻ thù, vài lần chỉ cách vị trí của ông 50 m.
Sau 8 km đầy nguy hiểm, TĐ đã bắt tay quân bạn. sau này Littrel biết rằng, từ quân số 476 người, kể cả cố vấn, chỉ còn 41 sống sót trở về. Nhờ can đảm và tài lãnh đạo chỉ huy, ông đã cứu nhiều người.
Ngày 15.10.73, Littrel được trao tăng huy chương cao quý nhất của đất nước.
"Tôi mang huy chương này cho khoảng hơn 400 người đã chết trong 4 ngày," ông nói trong 1 phỏng vấn.
"Tôi chỉ là người đại diện của họ. Họ đã được trao tặng huy chương này. Tôi đã được chọn đã nhận cho họ".
Ông đã phục vụ trong QĐ tới khi hồi hưu tháng 10/1973. Ông từng phục vụ kỳ 2 ở VN năm 1974.
Littrel và vợ sống tại St Pete Beach, Florida. Trong 2015, một cây cầu ở đây được đặt theo tên ông để vinh danh.
SJ ngày 24/7/2025.
Tài Trần
|
ÁC CHIẾN TRÊN CỤM NÚI NGỌC KOM LIỆT VÀ NGỌC DƠ LANG.
I/ Lời nói đầu: Trong bài Dak To và Em, cựu thiếu tá BĐQ Vương Mộng Long, đã kể một trận đánh ác liệt năm 1969 ở cụm núi Ngọc Dơ Lang, xem hình, ở phía nam Dak To. Trong trận này, với cấp bậc trung úy chỉ huy đại đội 1 của TĐ 11 BĐQ, dù bị thương nặng ở bả vai, ông cùng tàn binh của đại đội 1 đã tình nguyện ở lại để cản hậu cho TĐ rút lui (trong đó có đại úy Hồ Khắc Đàm TĐ trưởng, trung úy Hồ Bé trưởng ban 3 -- ông này lúc đó đang cơn sốt rét nặng, sau này vào tháng 3 năm 1975 làm TĐ trưởng của TĐ 2/10 thuộc sđ 7 mà tôi phục vụ). Cùng dự trận này có TĐ 23 BĐQ VNCH.'
Nhờ tìm hiểu về cụm núi Ngọc Dơ Lang, tôi biết núi này từng là chiến trường đẫm máu giữa các lực lượng của sđ 4 bộ binh và lữ đoàn 173 Nhảy Dù với quân csbv vào năm 1967.
II/ Chú thích: Vì đây là quân sử Mỹ nên phần lớn các đv được nhắc tới trong bài này đều thuộc quân đội Mỹ.
Trong tiếng Thượng:
- Chữ Ngọc hay Ngok có nghĩa là núi, do đó Ngọc Dơ Lang có nghĩa Núi Dơ Lang, Ngọc Kom Liệt có nghĩa Núi Kom Liệt, v.v...
- Chư cũng là núi, như Chư Pa là Núi Pa, Chư Sê là Núi Sê, v.v...
- Dak hay Prêk là sông, như Dak Lak, Dak Nông, Dak Pek, Dak Tô, v.v...
- Pelé, Pơlei, hay Kon là làng.
Lính csbv từ trên cao đã liều lỉnh bắn trả bằng B-40, đạn bị trượt trên mặt đất và nổ nơi lính Mỹ đang núp sau các khúc gỗ hay mô đất. Đạn B-40 nổ, giết và làm bị thương vài chục lính Mỹ. Rất may cho lính Mỹ, các thủ pháo Trung cộng mà lính csbv dùng đều bị lép. Lính CSBV còn cố gắng đánh vào cạnh sườn và mặt sau của TĐ này. Sau khi hai dãy giao thông hào bị chiếm bằng cận chiến, toán tiền quân của TĐ phải ngừng cách đỉnh đồi 250 bộ Anh hay 76 mét. Sau khi trời tối, lịnh "giữ vững vị trí" đổi thành "rút quân". Để nhường cho phi pháo hoạt động vào ngày kế.
Suốt ngày 22 tháng 11, máy bay đã liên tục bằm nát đồi 875 và khu chung quanh với bom nổ, bom lửa, và rocket. Đỉnh của 875 đã bị trọc hết cây cối sau khi bị oanh tạc, kéo dài suốt đêm. TĐ 4 được tăng cường bởi một lực lượng tăng viện bằng trực thăng, đổ xuống gần sườn đông nam của đồi. Đây là hai đại đội của TĐ 1/12 thuộc sđ 4 bộ binh, đến từ tỉnh Darlac (Ban Mê Thuột). Họ đã trải qua một đêm bị pháo lai rai bằng cối để chuẩn bị tấn công lên đồi ngày kế" -- Trích từ bài Trận Dak To Năm 1967.
- Quân nhân Mỹ có một điểm yếu là thiếu kinh nghiệm chiến trường do mọi cấp bực chỉ phục vụ một năm tại VN -- trừ phi họ làm đơn gia hạn 6 tháng hay 1 năm. Trong khi người lính CSBV, dù là binh sĩ hay sq, đều phục vụ ko có thời hạn. Có những người từng chiến đấu từ năm 1946 hay từ trận Điện Biên Phủ 1954 như tướng Hoàng Minh Thảo TL mặt trận B-3, tướng Nguyễn Hữu An (TL của sđ 1 csbv) hay trung tá Đàm văn Ngụy (chỉ huy trung đoàn 174 csbv), v.v... Họ chỉ giải ngũ khi bị thương nặng, ko thể chiến đấu nữa. Do đó họ rất dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và rành địa thế nơi họ chiến đấu.
III/ Bài viết sau đây chưa từng được dịch ra Việt ngữ.
Sau đây là phần chuyển ngữ.
"Khi tháng 10/1967 sắp hết (draw to a close), mối quan tâm lớn nhứt tại Cao nguyên Trung phần của trung tướng William Rosson (TL của Lực lượng 1 Dã chiến), là dấu hiệu đáng lo ngại (ominous) của một cuộc chuẩn bị tấn công của Mặt trận B3. Tin tức này ko gây bất ngờ. Mỗi năm từ năm 1965, mặt trận B3 đã phát động một tấn công lớn ở đầu mùa khô tại nơi nào đó ở phía tây quân khu 2. Vấn đề đối với tướng Rosson ko phải là Nếu mà là Nơi nào và Lúc nào.
Vị TL này của Lực lượng 1 Dã chiến đã tin rằng nhiều khả năng các mục tiêu sẽ là các trại Dân sự Chiến đầu (DSCĐ) và các căn cứ quân sự khác ở phía tây các tỉnh Kontum và Pleiku vì nằm trong tầm hoạt động của các căn cứ địch ở Cam-bốt. Dak To đứng đầu danh sách này. Các toán viễn thám của sđ 4 bộ binh (có BTL đặt tại trại Enari -- mà sau này gọi là căn cứ Hàm Rồng -- người dịch), và Lực lượng 1 Dã chiến đã phát hiện địch quân đóng quân gần biên giới. Các thiết bị XM-2 đánh hơi người gắn trên trực thăng UH-1 đã phát hiện những dấu hiệu của khói xuất phát từ bếp nấu ăn (campfire); và nhờ các cảm biến hồng ngoại, các máy bay Mohawk OV-1 của đ.đ. không thám 225 cũng đã phát hiện những bếp nấu ăn - mà họ ko thể thấy bằng mắt thường. (Nói thêm: Thiết bị XM-2 có thể ghi nhận mùi phát ra từ nước tiểu hay mồ hôi của con người. Mỗi lần chiếc trực thăng trang bị thiết bị này, xem hình, hoạt động, nó sẽ được bảo vệ bởi 2 gunship bay phía trên -- người dịch).
Bằng chứng thuyết phục hơn đến từ những đv tình báo kỹ thuật của lực lượng 1 dã chiến khi họ đã bắt được các mật điện phát đi từ BTL của sđ 1 csbv. Dùng các kỹ thuật tối tân để giải mã và định vị, cộng với các chuyến bay không thám, chẳng hạn như máy bay OV-1 Mohawk, tình báo Mỹ đã xác định các lịnh này đã gửi đến trung đoàn (tr.đ.) 24 ở nơi nào đó ở bắc của căn cứ Dak To, và tr.đ. 32 và 66, ở nơi nào đó ở tây của căn cứ này. Cũng có những tin tức rằng tr.đ. 174 đóng quân trên đất Lào chỉ cách Dak To ko hơn một ngày đi bộ.Tướng Rosson cũng nghiên cứu những khả năng khác. Thông tin gần đây cho thấy tr.đ. 33 đang "dự định một trận đánh ở tây bắc và ở giữa của tỉnh Darlac mà tỉnh lỵ là Ban Mê Thuột" đã khiến tướng Peers TL của sđ 4 bộ binh, điều ngay lữ đoàn 2 tới Ban Mê Thuột. Ông cũng xem xét một đe dọa mới nhắm vào tp Pleiku. Ngày 28/10/1967, các pháo thủ CSBV đã bắn vào tp này 46 hỏa tiển 122 ly, đây là lần đầu tiên vũ khí này được dùng để tấn công một tỉnh lỵ. Tuy nhiên, mối quan tâm nhứt của tướng Rosson vẫn là Dak To. Kể từ tháng 6/1967, các đv của sđ 1 csbv đã mở các trận đánh đẫm máu với lữ đoàn 173 Dù tại các đồi núi nam của Dak To, có lúc gần như tràn ngập một đ.đ. của lữ đoàn này. (Nói thêm: Tôi đã có bài Trận Dak To Năm 1967 trên YouTube -- người dịch). Nay khi mùa khô đang đến, tướng Hoàng Minh Thảo TL của mặt trận B3 có thể đang dự định một hành quân tương tự nhưng ở qui mô lớn hơn. (Nói thêm: Theo hồi ký của cố nhạc sĩ Tô Hải, từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1949, ông Thảo là phái viên của Bộ Quốc phòng của Việt Minh ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng. Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá. Năm 1954 ông là TL của sđ 304. Nhạc sĩ Tô Hải cũng là anh rể của tướng VNCH Lâm Quang Thi -- người dịch). "Hơn bao giờ hết," tướng Rosson viết, địch quân "cần một chiến thắng quân sự đầy ấn tượng để nâng cao tinh thần quân lính cũng như cho dân địa phương thấy người CS luôn luôn bách chiến bách thắng (invincibility)".
Kẻ thù từ lâu đã xem phần tây bắc của tỉnh Kontum là khu vực chiến lược quan trọng trong mọi dự định để chiến thắng cuộc chiến. Thung lũng Dak To, chạy từ Lào theo hướng đông vào tỉnh Kontum, là một đường xâm nhập thiên nhiên cho quân đội của họ. Dựa vào tỉnh lộ 512 có từ thời Pháp chạy suốt thung lũng, hành lang Dak To này là một trong rất ít nơi ở quân khu 1 và 2 cung cấp việc chuyển quân dễ dàng xuyên biên giới. Nếu địch quân kiểm soát Thung lũng Dak To, họ sẽ có một đường xâm nhập tiện lợi và nhanh chóng để cung cấp binh sĩ, tiếp liệu, và xe cộ vào Cao nguyên Trung phần từ các kho bãi trên đường mòn HCM. Các lãnh đạo quân sự CSBV cũng muốn ngăn chận quân đồng minh dự trữ tiếp liệu trong khu vực Dak To để hỗ trợ một tấn công xuyên biên giới, một khi tướng Westmoreland cho phép. Cuối cùng tướng Thảo đã nhận mật lịnh của bộ quốc phòng (BQP) của bắc VN nhằm phát động một trận đánh lớn ở khu vực Dak To nhằm quét sạch một hay nhiều hơn các TĐ Mỹ, tạo nên một chiến thắng gây tiếng vang có thể thách thức những mục tiêu của tướng Westmoreland và giáng một đòn nặng vào tinh thần quân Mỹ, xem bản đồ số 14.