Showing posts with label bernard fall. Show all posts
Showing posts with label bernard fall. Show all posts

Tuesday, November 7, 2023

Friday, February 12, 2021

Saturday, February 16, 2019

Street Without Joy” "La Rue Sans Joie" “Con Đường Buồn Thiu”
Nguồn : :  https://caybut2.blogspot.com/2016/02/con-uong-buon-thiu-street-without-joy.html
Bản đồ này lấy từ sách Street Without Joy của Bernard Fall , in tại Đài Loan tháng 6/1968 
Ghi chú : ngoài bản đồ trên đây là của tôi , phần còn lại lấy từ nguồn trên . Cám ơn tác giả đã bỏ công dịch bài này , cũng từ sách đã kể . -- Tài Trần .
 photo ANN-53-61-R29_zpsylgrnqn9.jpg
Cuộc Hành Quân “Camargue” tại Quảng Trị năm 1953, lính Dù Quân Đội Pháp và lính Dù Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, truy lùng Việt Minh cộng sản.
OPÉRATION “CAMARGUE” EN CENTRE VIÊT-NAM, DANS LA RÉGION CÔTIÈRE DE QUANG TRI: LARGAGE D’UNITÉS PARACHUTISTES.


Tại sao có tên “Con Đường Buồn Thiu”?

“Con Đường Buồn Thiu” là một nơi nổi tiếng tàn ác của Việt Minh (VC), nơi có chiếc quan tài chở trên xe bị mìn bung nắp ra, lật nghiêng, hất thi hài người chết ra khỏi hòm) người chết hai lần. Đội du kích làng Phù Lễ đặt mìn bừa bãi ở đây để phá hoại bất cứ loại xe nào, dân sự hay quân sự, làm dân thường chết oan không ít.

Năm 1953, Bộ Tư Lệnh Cao Cấp Pháp tập trung các Lực Lượng Trừ Bị trong khu vực với cố gắng quét sạch một lần cho xong những đám du kích, phục kích, pháo kích bừa bãi của Việt Minh đe dọa nầy. Đồng thời, các đoàn xe “công voa” của quân Pháp bị thiệt hại nặng nề vì các cuộc phục kích và pháo kích của các đơn vị của Trung Đoàn 95. Đây là đơn vị quân Việt cộng thiện chiến thâm nhập vào phía sau phòng tuyến Pháp. Khi Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa phục kích tiêu diệt được toán du kích nầy, tình hình an ninh khá hơn nhiều. 

“Con Đường Buồn Thiu” ở đâu? Con Đường Buồn Thiu chính là con đường đất khoảng từ Vân Trình tới Diên Sanh. Ghe đi đò dọc, đi theo kinh Vân Trình nầy. “Con Đường Buồn Thiu” là Phò Trạch.

Vào Huế bằng đò dọc, theo sông Hiền Lương (Bến Hải) vào sông Đông Hà, đến An Cư thì vào sông Thạch Hãn, bọc qua chỗ cầu Sãi trên sông Vĩnh Định để vào Ba Bến, vào Ngô Xá, Trà Trì, Trà Lộc vào kinh Vân Trình, hết kinh Vân Trình qua làng Đại Lộc (thường nói trại là Đại Lược) vào phá Tam Giang để ngược lên Huế.


Con Đường Buồn Thiu” chính là con đường đất nầy (bản đồ Con đường buồn thiu), khoảng từ Vân Trình tới Diên Sanh.

Vào tháng 7 năm 1953, Bộ Tư Lệnh Cao Cấp Pháp quyết định tổ chức cuộc hành quân tên là “Camargue” tại “Con Đường Buồn Thiu” nầy để càn quét quân Việt Minh (tiền thân Việt cộng 'CSVN'), thực hiện những cuộc đổ bộ dọc theo bờ biển cát tại vùng Trung Việt, đồng thời có thêm hai đơn vị thiết giáp phối hợp hoạt động cũng như lực lượng Nhảy Dù làm hậu bị để khóa những con đường trốn chạy của Việt cộng sau khi vòng vây đã xiết chặt. Với một số:

- 1 Trung Đoàn bộ binh
- 2 Tiểu Đoàn nhảy dù
- 1 Trung Đoàn thiết giáp
- 1 Đơn vị hỏa xa bọc thép
- 4 Tiểu Đoàn pháo binh
- 34 (Ba mươi tư) máy bay chuyển vận
- 6 Máy bay trinh sát
- 24 Oanh tạc cơ và
- 12 Tàu hải quân, bao gồm ba tàu LST’s.

Lực lượng nầy chẳng kém gì lắm nếu so với tầm cỡ của những cuộc đổ bộ hồi Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai ở Thái Bình Dương. Lực lượng Cộng Sản rõ ràng chỉ có Trung Đoàn 95 và một ít đơn vị du kích địa phương, ít có cơ may thoát khỏi cuộc bao vây nầy.

Cuộc tấn công thực hiện bằng hai lực lượng đổ bộ, ba chiến đoàn bộ binh và một lực lượng nhảy dù, do tướng Leblanc chỉ huy tổng quát, mỗi cánh quân có một bộ chỉ huy đặc nhiệm do một đại tá cầm đầu.

Rạng đông ngày 28 tháng 7, Chiến Đoàn A đổ bộ vào bờ biển. Hai giờ sau, Chiến Đoàn B từ phía bắc tiến xuống phía nam đằng trước tuyến đổ bộ của Chiến Đoàn A. Vào lúc 7giờ 15, Chiến Đoàn C tiến dọc theo kinh Vân Trình để đẩy các đơn vị địch ở phía tây sông nầy phải ra sát bờ sông hoặc phải vượt qua sông. Chiến Đoàn B lưu ý phối hợp hoạt động với Chiến Đoàn D đổ bộ vào khu phía nam của Chiến Đoàn A, ở phía bắc bán đảo trên phá (Tam Giang).

Nếu được, Chiến Đoàn B sẽ đổ bộ sớm hơn, vào lúc 3 giờ sáng cho lực lượng thủy binh và 5 giờ cho lực lượng bộ binh, tiến lên phía bắc, xuyên qua bán đảo phía ngoài Phá Tam Giang để tạo một trận tuyến chung với Chiến Đoàn C càng sớm càng tốt. Hai Tiểu Đoàn Nhảy Dù làm lực lượng hậu bị chờ lệnh triển khai của bộ Tư Lệnh được đặt trong tình trạng ứng chiến. Đây là lực lượng quan trọng sẽ được đưa vào chiến trường để kết thúc trận đánh.

Thoạt nhìn, trận chiến có vẻ thành công. Xử dụng một lực lượng tổng cọng tới hơn ba mươi tiểu đoàn, gồm cả một lực lượng tương đương hai trung đoàn thiết giáp và hai trung đoàn pháo binh, cuộc hành quân dọc theo “Con Đường Buồn Thiu” chắc chắn là một trong những cuộc hành quân kinh khủng nhứt từng xẩy ra trên chiến trường Đông Dương. Tuy nhiên, về mặt khác, quân số kẻ thù cao lắm cũng chỉ có một trung đoàn bộ binh yếu kém. Sự kiện làm cho cuộc hành quân của Pháp gặp nhiều khó khăn là địa hình.

Từ bờ biển nhìn vào đất liền, khu vực hành quân tự nó có 7 vùng đất khác biệt nhau:
- Thứ nhứt là bờ biển, dài và phẳng, có những đồi cát, không có gì khó khăn lắm. Tuy nhiên, ngoài 100 mét bằng phẳng đó, tại nơi những đụn cát bắt đầu, độ cao thay đổi từ 15 đến 60 bộ, khó trèo lên được và những đụn cát nầy chấm dứt bên phía đất liền bằng nhiều mương rạch hoặc bờ đất đứng. Vài làng đánh cá dựng tạm trên các đồi cát chạy sâu vào hơn hai cây số.
- Tiếp đó là một khu vào sâu khoảng 800 mét, gồm bãi tha ma, chùa miễu rất thuận lợi cho quân phòng ngự.
- Tiếp đó nữa là “Con Đường Buồn Thiu” chạy dọc theo các ngôi làng nhỏ cách nhau khoảng bốn, năm chục mét.

Mỗi làng là một khung cảnh phức tạp, mỗi bề khoảng vài trăm thước bao bọc bằng những lũy tre, bụi bờ hoặc các hàng rào nhỏ làm cho máy bay rất khó quan sát. Trung Đoàn 95 đã bỏ ra hai năm để lập hệ thống phòng thủ cho các làng nầy và liên kết với nhau bằng một hệ thống địa đạo (nhiều lối chui lòn ăn thông trong lòng đất, các điểm chôn giấu vũ khí, trạm cứu thương. Không một cuộc tấn công đơn lẻ nào của các lực lượng lưu động lớn có thể khám phá hay tiêu diệt được. Khu vực nầy gồm hai chục cây số bề dài và ba trăm mét bề ngang, với những làng mạc như thế tạo thành trung tâm kháng chiến của quân Việt cộng Sản ở miền trung Việt Nam.

Về mặt khác, phía “Con Đường Buồn Thiu” là một dãy làng kém đặc sắc, mà trung tâm là làng Vân Trình. Ngược lại, khu nầy được che chở bằng một khu vực rộng lớn gồm những đầm lầy, hố cát, cát lún, kéo dài tới Quốc Lộ 1. Với bề ngang trung bình khoảng tám cây số, chiến xa và các loại xe có động cơ khác của quân đội Pháp không thể di chuyển được, ngoại trừ vài đoạn đường, dĩ nhiên ở đây chôn rất nhiều mìn. Nói một cách ngắn gọn, “Con Đường Buồn Thiu” là một hệ thống phòng thủ mà người Pháp quyết định đập tan bằng một cuộc tấn công phối hợp ba lực lượng: không quân, hải quân và bộ binh.

Quân Pháp còn gặp một khó khăn khác là những làng nầy còn có cư dân đang ở, họ là những nhóm nhỏ làm ruộng hoặc đánh cá. Ít ra, về mặt lý thuyết, số dân nầy được coi là “thân hữu”. Một ngày trước khi cuộc hành quân khai diễn, Bộ Chỉ Huy Cao Cấp ra lệnh cho tất cả các đơn vị phải có “thái độ nhân đạo” và tôn trọng người dân. Trước tiên, quân Pháp không được oanh tạc hay đốt làng. Lệnh nầy chắc chắn hạn chế hỏa lực, làm giảm hiệu năng của cuộc tấn công, đặc biệt khi tấn công vào các căn cứ Việt Minh.

Giờ H là rạng đông ngày 28 tháng 7 năm 1953. Các chiếc tàu LST ì ạch rời khỏi vị trí tập trung vào tối hôm trước, chạy suốt đêm để tới cho kịp vùng đổ bộ dọc theo bờ biển đối mặt với “Con Đường Buồn Thiu”. Cuộc đổ bộ bắt đầu lúc 4 giờ sáng, trong tiếng lách cách vũ khí cá nhân va chạm và tiếng máy tàu gầm rú. Các loại xe lội nước Crabs (cua) và Alligators (cá sấu) của đơn vị đổ bộ bắt đầu rời tàu chạy xuống nước.

Crabs và Alligators là hai biệt danh của loại xe lội nước do Mỹ chế tạo. Crabs là loại chuyển vận xa 29-C và Alligators là loại Thiết Vận Xa Đổ Bộ L.V.T. (Landing Vehicle, Tracked) 4 và 4 A. Như tên gọi, Crabs không bao giờ là loại xe dùng để tác chiến, nhưng người Pháp ở Đông Dương chẳng bao lâu khám phá ra rằng loại xe nầy có thể dùng để chuyển quân như một loại xe thủy bộ tại những vùng đầm lầy không có đường sá, đồng ruộng ở vùng đất thấp Việt Nam hay dọc các bờ biển.

Đầu tiên, loại xe nầy không trang bị vũ khí nên họ phải thiết trí vài loại vũ khí nhẹ, súng cối và chúng trở thành mục tiêu cho loại súng không giật của địch. Sự kiện nầy làm thay đổi chiến thuật, đến năm 1953, các đơn vị xe lội nước nầy trở thành đơn vị thiết giáp thường trực của quân Pháp ở Đông Dương. Đó là sự phối hợp giữa hai chi đoàn 33 xe Crabs cho mỗi đơn vị, dùng để thám thính và truy kích, ba chi đoàn xe Alligators (L.V.T. Landing Vehicle, Tracked) tạo thành lực lượng nòng cốt, do đó, chúng là những đơn vị thiết giáp vũ trang. Cuối cùng một chi đội với 6 xe L.V.T. trang bị đại bác, làm thành một đơn vị pháo di động.

Về mặt khắc, các xe lội nước nầy không được chắc chắn và đòi hỏi bảo trì kỹ lưỡng, khó thực hiện khi các xe nầy được xử dụng trong vùng đầm lầy ở Đông Dương. Loại Crabs trước tiên được chế tạo để vận chuyển hàng hóa ở Alaska – không đủ nước để nổi và hiện cao trên mặt đất, dễ trở thành mục tiêu cho địch sau khi địch khám phá ra rằng đó không phải là loại xe bọc thép. Mặt khác, loại xe nầy có thể chở trên xe vận tải nhà binh (G.M.C.) hay trên tàu thủy hay xà-lan được. Loại Alligators nặng hơn và có bọc thép, lội nước thì hay nhưng khi chạy trên đất thì nặng nề và may móc thì yếu. Trên bộ, loại xe nầy không thể chạy được xa, có thể chuyên chở bằng các loại vận chuyển đăc biệt; không thể chở trên xe nhà binh G.M.C. vì quá to và nặng.

Tuy nhiên, tổng số 160 chiếc xe lội nước tiến vào bờ biển Trung Phần Việt Nam, một chiếc khi đi qua quậy nên một vũng bùn xám xịt màu chì, cùng với những lá cờ cột trên cần ăng-ten bay phất phới trong gió sớm. Đợt đổ bộ đầu tiên thực hiện vào lúc 6 giờ sáng, tiến qua các ngôi làng dọc bờ biển và tức khắc chiếm lĩnh dãy đồi cát hình vòng cung đầu tiên có thể từ đó quan sát hết các ngọn đồi cát khác nằm dọc theo bờ biển. Cuộc tấn công của quân Pháp vào “Con Đường Buồn Thiu” bắt đầu.

Các đơn vị bộ binh thường trực khác thuộc Binh Đoàn Lưu Động Bắc Kỳ (Tonkin) gặp khó khăn hơn. Một trong ba tiểu đoàn, chỉ một mà thôi, Tiểu Đoàn 3 thuộc Bán Binh Đoàn Lê Dương Hải Ngoại số 13 không có kinh nghiệm hành quân đổ bộ, và hai tiểu đoàn khác, Tiểu Đoàn 1 người Mường và Tiểu Đoàn Khinh Binh 26 người Senegal cũng chẳng kinh nghiệm gì trong việc đổ bộ cả. Không giống như việc đổ bộ bằng tàu hạng nặng, loại tàu nhỏ nầy lắc lư, binh lính bị nôn mửa, phải bốn giờ đồng hồ cuộc đổ bộ mới hoàn tất thay vì hai giờ như trong dự trù.

Trong khi đó, binh lính chiến đoàn thủy bộ Sư Đoàn 3 cho xe tiến lên các đỉnh đồi cát. Các xe thiết giáp lội nước Alligators sau khi đổ bộ, vượt qua các đầm lầy và binh lính trên các xe nầy đã triển khai đội hình trên mặt đất. Trong nhiều trường hợp khác, loại xe Crabs nhẹ hơn tiến lên các ngọn đồi cát sau khi vượt qua các bờ đất cao phía ngoài bờ biển. Tuy nhiên, cuối cùng, dù phòng tuyến của họ bị đứt đoạn ở khoảng giữa các làng Tân An và Mỹ Thủy, họ cũng vội vã tiến vào đất liền. Quân Việt cộng không có phản ứng gì, xem như họ không hiện diện ở đó. Có một số người bỏ chạy trốn khỏi làng Mỹ Thủy và ở phía bắc có hai Trung Đội đang tìm đường rút lui.

Trong khi đó, Chiến Đoàn B do Đại Tá Du Corail bắt đầu hoạt động. Lúc 6 giờ30, hai tiểu đoàn của Binh Đoàn Lưu Động Trung Việt vượt qua sông Vân Trình và tới 7 giờ 45 các nhóm đi đầu báo cáo thấy bóng người ngồi trên xe lội nước Crabs đang chạy qua những đồi cát.
Mặt bắc “Con Đường Buồn Thiu” đã bị khóa lại.

Bên phải Binh Đoàn Lưu Động Trung Việt, là Trung Đoàn Kỵ Binh người Ma-Rốc không gặp may. Đơn vị nầy hướng tới vùng đầm lầy không có đáy và các vũng cát sâu nằm ở phía đông Quốc lộ 1. Hầu hết xe cộ của họ, ngoại trừ loại chiến xa M-24 hạng nhẹ, chẳng bao lâu bị kẹt giữa đầm lầy. Họ đến được kinh Vân Trình (tuyến xuất phát của cuộc hành quân càn quét trên bộ) vào lúc 8giờ 30. Trong khu vực của họ cũng không thấy địch phản công.

Thực ra, toàn bộ vùng quê nầy coi như vùng chết hoàn toàn. Không thấy nông dân trên đường. Trong làng, dân chúng trốn trong nhà. Suốt toàn bộ khu vực vắng vẻ nầy chỉ thấy các vật di động là các hàng xe thiết giáp và các xe G.M.C. đang vất vả vượt qua các ngọn đồi cát và bãi lầy để tiến tới kenh Vân Trình.

Chỉ có bên phía cực phải Chiến Đoàn B là có tiếng súng nổ. Ở đó, một đại đội người Angiêri bất thần đụng với một toán khoảng vài ba chục Việt Minh. Binh nhì Mahammed Abd-el-Kader thuộc Đại Đội 2 bị đạn Trung Liên B.A.R. vào ngực, té xuống phía trước. Đồng đội anh ta phản công, bắn chừng vào các bờ bụi và các hố cát. Abd-el-Kadar là thương vong đầu tiên trong trận tấn công nầy.

Bên phải Chiến Đoàn B, Chiến Đoàn C do Trung Tá Gauthier chỉ huy gặp khó khăn nhứt trong cuộc hành quân. Phần lớn chiến đoàn nầy vượt qua Đường Số 1 hướng về kinh Vân Trình phía bắc Mỹ Chánh. Toán thứ hai tiến song song với Quốc Lộ 1 rồi quay về bên phải để tiến tới kinh Vân Trình, đoạn giữa làng Vân Trình và đầm lầy. Cuối cùng, tiểu đoàn (tabor) 9 Ma-Rốc, vào lúc 6giờ 30 dùng xe lội nước đổ bộ xuống làng Lai Hạ, giữ an ninh mặt biển, rồi quặt về phía đông nam dọc theo vùng đất cạnh phá Tam Giang với mục đích bao vây “Con Đường Buồn Thiu”. Tới 8 giờ 30 thì tiến đến làng Tây Hoàng và hoàn thành giai đoạn 1 cuộc hành quân.

Chiến Đoàn D, do trung tá Le Havre chỉ huy, chặn phía bán đảo dọc theo phá Tam Giang tới thành phố Huế. Do rút kinh nghiệm, đoàn quân nầy ít gặp khó khăn như Chiến Đoàn A. Cuộc đổ bộ bắt đầu lúc 4giờ 30 có chi đoàn xe lội nước số 7 đi đầu, theo sau là các đơn vị biệt động và Tiểu Đoàn 3 của Trung Đoàn 3 Angiêri. Lính biệt động và đơn vị đổ bộ tới bờ biển và tiến quân không ngừng. Chi đoàn lội nước tiến lên phía bắc hướng về phá Tam Giang, trong khi quân biệt động chiếm giữ thị trấn Thế-Chí Đông và tiến thẳng qua bán đảo, tiến tới bờ bắc phá Tam Giang vào lúc 5 giờ 30. Coi như Trung Đoàn 95 Việt Minh bị bao vây.

Sau đó là giai đoạn căng nhứt trong toàn bộ chiến dịch: Càn quét địch. Tướng Leblanc ra lệnh cho các tàu hải quân tiến lên phía bắc của các làng Ba-Làng và An Hội, bỏ neo cách bờ khoảng 4 dặm nhằm mục đích khóa chặt không cho địch quân trốn chạy bằng đường biển. Phía cực bắc “Con Đường Buồn Thiu”, Chiến Đoàn B bắt đầu càn quét qua từng làng, thực hiện một cuộc hành quân lớn nhứt một cách cẩn thận, không quan tâm tới hậu quả. Binh lính bao vây từng làng một. Sau đó, bộ binh trang bị đầy đủ tiến vào làng lục soát từng nhà trong khi các toán dò mìn và quân khuyển dò tìm (3) các bụi tre, cau tìm kiếm cửa hầm bí mật của địch giữa sự im lặng của dân chúng.

Như thường lệ, các người đàn ông trẻ trong làng đều bị bắt giữ, họ được các sĩ quan tình báo thanh lọc, tuy nhiên chẳng ai bị truy tố cả.

Tới 11 giờ, Chiến Đoàn B tiến được 7 dặm, xuyên qua các con đường ngoằn ngoèo trong các làng nhỏ nầy, không gặp một sức kháng cự nào. Họ tới làng Đơn Quế (4), ngay giữa “Con Đường Buồn Thiu”, tại ngã tư các con đường nhỏ xuyên qua các đồi cát dẫn tới kinh Vân Trình. Hồi xưa, nơi nầy có một cái “trạm ngựa” xây bằng gạch để chạy văn thư cho triều đình (5), nay trạm nầy vẫn còn, điều đó cho thấy tính cách quan trọng nào đó của nó vào hồi xa xưa.




Con Đường Buồn Thiu
http://www.youtube.com/v/ LS_Z59mIwgw

Làng Đơn Quế nằm dưới ánh mặt trời giữa trưa, nép mình giữa các hàng tre lắc lư, chính là hình ảnh thanh bình của miền thôn dã Việt Nam trong mùa gió mùa đông-bắc, khi nông dân chẳng còn việc gì nhiều để làm ngoài việc cầu trời mưa để cho lúa lên xanh rồi chuyển qua màu lúa chín vàng ruộm. Nhưng bây giờ thì Đơn Quế trở thành mục tiêu tấn công của các chiến xa hạng nhẹ M-24 của tiểu đoàn 6 Ma-Rốc. Thực ra, toàn bộ mũi tấn công phía bắc đều do binh lính Ma-Rốc đảm nhận, tiểu đoàn 1 Khinh Binh có nhiệm vụ thanh sát và được Trung Đoàn 69 pháo binh Howitzers của Trung Tá Piroth yễm trợ. Trung Đoàn nầy đã được hoan nghênh tại Fez, một thành phố phía bắc Ma-Rốc. Những đơn vị nầy trưởng thành trong chiến tranh, chiến đấu chống lại các đơn vị thiết giáp của Tướng Rommel Đức quốc xã ở Tuy-Ni-Di, vượt qua vùng Rapido, tiến qua vùng đồi núi Petrella ở Ý, đập tan binh đoàn 19 của Đức ở Hắc Lâm (Black Forest) và chạy đua cùng quân đội Mỹ, cố giành công chiếm Berchtesgaden. Họ là đạo quân nổi danh của quân đội Pháp ở Bắc Phi và nhiều người Ma-Rốc đã lên tới hàng sĩ quan cao cấp – tướng lãnh của quân Pháp, hơn bất cứ quân nhân thuộc nước nào khác. Ở đây, họ lại thực hiện công việc đó trong khi càn quét khu vực nầy.

Các chiến xa M-24, cẩn thận dàn ra, tiến vào làng Đơn Quế, có bộ binh tùng thiết. Với giác quan thứ sáu bẩm sinh, binh lính Ma-Rốc cố dò mìn bẫy. Họ tới cách làng chỉ còn 150 mét. Mọi sự đều yên tĩnh, nhưng chính giác quan thứ sáu cho họ biết có điều nguy hiểm đang chờ họ trong làng. Một cách lặng lẽ, bộ binh chiếm con đê phía ngoài làng, bên hông các chiến xa.

Trên đầu xe, các người chỉ huy còn ngồi cao trên cửa xe để tầm quan sát được xa, và để hít hơi gió nhẹ. (Tại Trung Đoàn Kỵ Binh Hải Ngoại Số 1, một đội xe có một kỹ sư Đức Quốc Xã cũ, thiết kế một máy lạnh trong chiến xa. Chuyện được nhiều người biết khi chiến xa nầy bị phục kích, toán trên xe chiến đấu bền bỉ một cách bất thường, khi máy đó bị hỏng, họ hồi phục lại được).

Thiếu Tá Derrieu, chỉ huy chi đoàn chiến xa đi tiên phong, hướng thẳng về phía làng. Con đường vào làng chẳng thấy có chướng ngại gì cả, cũng không thấy dấu có chôn mìn. Dù sao, xe tăng vẫn phải dừng lại chờ toán dò mìn ra dấu mới tiến thêm lên phía trước. Một cách có kỹ thuật, các anh lính nước da màu nâu, tai mang ống nghe và tay cầm cán máy dò mìn dài đang dò đường tiến tới làng Đơn Quế, im lặng làm việc dưới ánh mặt trời nhiệt đới gay gắt. Sau đó, anh Trung Sĩ Ma-Rốc đi đầu toán dò mìn không kịp nổ súng phản công khi thấy tia lửa tóa ra từ đầu nòng súng Việt Minh. Họ thấy lính Ma-Rốc tới quá gần! Dù sao, trận đánh cũng đã xảy ra một cách dữ dội và ngắn ngủi. Phản ứng hết sức nhanh, người lính đi đầu toán chỉ còn kịp nhào xuống đất, cuộn tròn mình vào trong bùn của đám ruộng bên đường. Chẳng ai bị thương nặng.
Các chiến xa gặp may vì quân Việt Minh đã nổ súng trước thời hạn. Hai khẩu đại bác không giật đúng ra chỉ nả đạn khi các chiến xa đi đầu rời khỏi các con đê để tiến vào các đám ruộng sâu.

Súng trên các chiến xa phản công bắn vào các mục tiêu nghi ngờ. Các khẩu liên thanh tỏ ra hữu hiệu hơn khi bắn vào các nhà tranh trong làng. Bộ binh triển khai thành một hình vòng cung bao vây làng Đơn Quế, nhưng vẫn chưa tiến vào làng. Đằng sau một trong những ngôi mộ ở bãi tha ma như người ta thường thấy trong vùng dân cư vùng quê viễn đông, viên chỉ huy tiểu đoàn đang ngồi xổm trên bùn, bản đồ đặt trên đầu gối, tay thì cầm ống nói máy truyền tin. Cái máy truyền tin đó do một người Việt Nam đeo trên lưng, người nầy cũng đang ngồi xổm xuống đất như tiểu đoàn trưởng vậy. Người mang máy nhìn một cách dửng dưng về phía trước, đầu anh ta đội một cái mũ rẻ tiền, trong cái nắng tỏa ra mơ hồ trên cánh đồng lúa.

Pháo của Trung Đoàn bắn vài loạt vào mục tiêu, và ít phút sau thì có tiếng máy truyền tin gọi yễm trợ. Làng Đơn Quế bắt đầu tan nát dưới hỏa lực pháo. Nhà tranh trong làng hết cái nầy tới cái khác bắt đầu cháy, khi các quả pháo rơi xuống nổ ầm ì. Vậy mà cũng chẳng có bóng người chạy ra, ngoại trừ có sự di chuyển ở các bờ tre quanh làng, thỉnh thoảnh có tia lửa chớp sáng ở đầu súng (cũng khó thấy rõ trong ánh nắng ban trưa). Có thể trong làng không có người. Bất thần, có tiếng nổ lớn ngay giữa làng, một cột khói đen dày đặc bay lên cao.

Thiếu Tá Derrieu dùng ống nhòm của xe tăng quan sát khung cảnh trước mặt rồi nói với đám lính chung quanh:

- “Có lẽ pháo trúng hầm đạn. Tiến lên đi.”

Tiếp đó là tiếng máy chiến xa gầm rú, ỳ ạch nối đuôi nhau tiến vào làng, bây giờ trông làng như một cái địa ngục. Qua máy truyền tin, Thiếu Tá Derrieu ra lệnh:

- “Đi cho đúng hàng, nhìn vào lằn xe đi trước, đừng sợ làm hại lúa.” Quả thật, anh ta nghĩ đến điều ấy quá muộn dù tổ tiên anh ta cũng là nông dân.

Bây giờ, ở đâu cũng xuất hiện những bóng đen nhỏ, từ các cửa sổ và trên mái nhà, các hố cá nhân đào bên đường, đúng là một làn sóng người chận đứng cuộc tấn công của xe tăng vào làng. Đây là giai đoạn hai của cuộc phòng ngự bất thường. Một khi không nắm giữ được vị trí, Việt Minh dùng dân chúng làm mộc che cho đám lính du kích rút lui. Mưu mẹo đó lần nầy bị thất bại.Chiến xa không hành quân một mình, các bóng người mặc đồ đen từ trong làng chạy thẳng vào họng súng của lính Ma-Rốc. Tới 1 giờ trưa, Đại Đội 3, Tiểu Đoàn 310 thuộc Trung Đoàn Độc Lập 95, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam bị tiêu diệt hoàn toàn, nhưng sự hy sinh của họ đã thực hiện đúng ý đồ cấp chỉ huy của họ đã vạch ra. Trong vòng hai giờ đồng hồ, đại bộ phận đơn vị rút được về cuối phía nam, chỗ nầy nhỏ như một cái túi, điểm cuối của kinh Vân Trình, nối liền với phá Tam Giang, có cây cối che kín, không ai có thể khóa chặt vòng vây ở ngay tại đó được.

Về phía Pháp, Tướng Leblanc thấy rằng, địch quân thay vì chiến đấu tới cùng thì đã cố gắng một cách tuyệt vọng bằng cách kéo dài thời gian đến tối rút về phía các ngọn đồi phía tây Quốc Lộ 1. Vì vậy, ông ra ra lệnh thả hai Tiểu Đoàn Dù thuộc Lực Lượng Trừ Bị. Vào lúc 10 giờ 45, Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn Nhảy Dù Thuộc Địa Số 1 được đưa bằng phi cơ từ Hà Nội vào, nhảy xuống làng Đại Lộc, vùng đồi cát gần Chiến Đoàn D, tức khắc tiến về đầu kinh Vân Trình. Đó là cuộc chạy đua nôn nóng nhằm khóa kín vòng vây Trung Đoàn 95.

Tới giữa sáng Ngày D, vẫn còn nhiều khe hở lớn ở phía nam kinh Vân Trình, gần làng Phú An và Lai Hạ, trong khi Tiểu Đoàn 9 Ma-Rốc đang cố vượt qua các hố cát và đầm lầy để tới tuyến xuất phát. Rõ ràng Việt cộng dự đoán rất đúng điểm yếu nhất trong vòng vây của Pháp và phản ứng đúng theo dự đoán đó. Vào lúc 8 giờ 45, ngay khi binh lính Ma-Rốc tiến dọc theo các con đê quanh làng Phú An, đại liên và súng nhỏ bắn rất dữ vào đội hình họ. Vì họ đi trên đường đê, in hình rõ trên nền trời và bóng thì lại in xuống các ruộng lúa nước nên trở thành những mục tiêu ngon lành cho địch quân. Tiểu đoàn nầy bị thiệt hại nặng. Bị cầm chưn, Tiểu Đoàn 9 gọi tiếp viện. Nhưng tiểu đoàn nầy là đơn vị thuộc chiến đoàn đang đóng ở xa hơn đơn vị đổ bộ thuộc chiến đoàn D kế bên đã bắt đầu bắn chặn. Liên lạc truyền tin với Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn ở Mỹ Chánh không thực hiện được. Chưa tới 9 giờ 10, Đại Tá Gauthier nhận ra rằng toán quân ở phía cực phải của ông ta hoàn toàn yếu thế.

Nhưng Việt Minh không xử dụng toàn bộ chiến thuật của họ. Vào lúc 11giờ, các đơn vị nhỏ của Tiểu Đoàn 227 Việt cộng tấn công bằng súng cối hạng nặng vào Trung Đoàn Lê Dương Kỵ Binh Hải Ngoại Số 1, đồng thời cũng tấn công bằng súng cối hạng nặng vào Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 4 Bộ Binh Ma-Rốc. Tới 9 giờ 40, Gauthier quyết định thực hiện cú đánh ngược cuối cùng của ông ta: vội vàng điều động từ Huế, tung vào hai Đại Đội khóa sinh đang huấn luyện và ba Đại Đội của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Cuối cùng, hai Đại Đội bộ binh tăng cường được lệnh tiến vào làng Lai Hạ bằng tàu đổ bộ nhưng mãi đến 3 giờ chiều cuộc tiến quân nầy mới hoàn tất. Sau đó họ bị kẹt trong khu đầm lầy mất 4 giờ đồng hồ nữa mới tới được chỗ Tiểu Đoàn Ma-Rốc bị tấn công. Được tiếp viện, tăng cường sức mạnh, binh lính Ma-Rốc phản công dữ dội, tới 5 giờ rưởi chiều thì chiếm được làng.

Thấy chỗ yếu của Chiến Đoàn C, Tướng Leblanc cho thả dù Tiểu Đoàn 3 Dù đang ứng trực tại Tourane (Đà Nẵng). Lệnh nầy ban ra lúc 11giờ 45 và hạn phải thực hiện vào lúc 2 giờ chiều. Nhưng vẫn còn vài điều chưa rõ trong lệnh hành quân. Theo các sĩ quan tham gia cuộc hành quân thì có hai lỗi lầm: Một là lệnh máy bay cất cánh hoãn lại cho tới 3 giờ chiều,
Hai là thời tiết nơi khu vực đổ quân.

Trong mùa gió mùa, vào buổi chiều dọc bờ biển miền trung gió thổi rất mạnh. Đây là điều ai cũng biết, nhưng thỉnh thoảng các đài khí tượng xa miền Trung, đặt gần Sài Gòn hay Hà Nội không tiên đoán được điều đó. Kết quả là khi các máy bay C-47 vận chuyển binh lính xuất hiện ở bầu trời khu vực đổ quân ở làng Láng Bào thì gió đang thổi mạnh, 30 cây số một giờ, gấp đôi cấp gió tối đa cho phép đổ quân. Các sĩ quan chỉ huy cuộc nhảy dù, nhìn khói từ trái khói tỏa ra bị gió thổi sát mặt đất bèn lắc đầu. Một sĩ quan nói:

- “Không thể cho nhảy dù xuống được, họ sẽ bị thổi ra khỏi khu vực vì họ nhẹ lắm.”

Thực ra, "nhẹ cân" là vấn đề và đôi khi trở thành chuyện cười trong binh lính Nhảy Dù Việt Nam. Họ xử dụng dù của Mỹ là loại dù dành cho người nặng 200 pounds, cộng thêm 85 hay 100 pounds trang bị. Vì vậy, loại dù nầy quá lớn với người lính Việt Nam nhỏ con nặng khoảng 100 pounds, dù họ có mang đầy đủ tất cả những thứ lỉnh kỉnh thì cũng chỉ mới nặng bằng nửa người lính Mỹ hay người Tây phương. Do đó, nhìn chung, người lính Nhảy Dù Việt Nam thường bay trên trời lâu hơn (dễ trở thành mục tiêu cho quân địch nhắm bắn) và bay ra ngoài khu vực đổ quân. Cũng không thể cho người lính nhiều trang bị hơn vì một khi đã xuống tới đất, họ không thể mang những trang bị đó đi quanh. Việc "nhẹ cân" nầy, cùng với cơn gió mạnh là tai họa cho họ.

Tới bây giờ, việc đưa thêm quân vào phía bán đảo là hoàn toàn cần thiết để bảo đảm việc bao vây quân đội Việt Minh không cho rút ra ngã bờ biển và phá Tam Giang. Do đó, một Tiểu Đoàn tăng cường được thả dù xuống bất kể hậu quả như thế nào. Vào lúc 4 giờ 50 chiều, đợt đầu tiên quân Nhảy Dù Việt Nam được thả xuống, và sau đó ít giây là các chuyến bay khác, các chiếc dù rơi trong bầu trời xanh. Mọi sự tuồng như tốt đẹp. Có một chiếc dù không mở và người ta thấy người lính rơi thẳng, chân xuống trước, như một vật nặng, khi đụng xuống cát thì tung lên một đám bụi như một quả pháo rớt xuống vậy.

Họ gặp gió mạnh và bị kéo xa tới 150 mét trên mặt đất, giống như có bàn tay vô hình nắm họ mà kéo đi vậy. Có người thay vì rơi theo chiều dọc thì bị gió kéo theo chiều ngang. Có người khi xuống đất thì bị rơi vào bụi bờ, đầm lầy và các con đê làng bằng một tốc độ nhanh như ngựa đang kéo xe. Có hai người giây dù mắc chéo vào nhau, cố gở ra nhưng không được. Đồ trang bị được thả xuống thì tệ hơn. Các trang bị nầy nhẹ hơn trọng lượng người lính nên bị gió thổi đi xa, rơi xuống biển hay bay vào vùng Việt cộng kiểm soát. Tới 5 giờ 30 thì tiểu đoàn tập trung được (Có người bị bay đi xa đến hai cây số và cố tìm đường về với đơn vị). Đó là đơn vị trang bị nhẹ nhưng chiến đấu giỏi. Mười phần trăm trong số họ bị thương khi nhảy dù xuống và hầu hết các trang bị nặng như súng cối, đại liên, đại bác không giật và đạn dược bị mất hết. Tuy nhiên họ cũng kịp thời chiếm lĩnh vị trí làm gọng kềm ở phía nam để kẹp Trung Đoàn 95 vào vòng vây giữa Chiến Đoàn 3 xe lội nước và Tiểu Đoàn 2 Dù được thả xuống đây vào sáng sớm.

Tới tối, sau khi chiếm được làng Phú An và Vân Trình, địch quân bị vây vào một khu vực rộng chỉ có 4 cây số bề ngang và 14 cây số bề dài. Về mọi mặt, cuộc hành quân Camargue được xem như thành công.

Tuy nhiên, sự thành công chỉ là bề mặt hơn là trên thực tế. Rõ ràng một nửa “Con Đường Buồn Thiu” nầy đã rơi vào tay quân Pháp nhưng chẳng bắt được tù binh nào cũng như vũ khí của địch. Điều đó có nghĩa là quân địch và trang bị của họ còn ở trong vùng bị bao vây phía nam Vân Trình. Việc nầy, muốn thành công phải có một cái bẫy khóa hết sức chặt.
Cuộc bao vây nầy, không được chặt như vậy. Dọc theo khu vực phía nam của Chiến Đoàn C, tuyến giao thông hào phòng ngự cuối cùng ở Phú An và cuộc phản công của Tiểu Đoàn 227 làm cho quân Pháp không tới được biên giới thiên nhiên của kinh Vân Trình. Kết quả là 4 Tiểu Đoàn Pháp canh giữ một phòng tuyến dài 12 cây số để canh chừng một lực lượng địch khoảng 2 ngàn 6 trăm người trốn thoát. Rõ ràng khu vực bị bao vây có nhiều kẻ hở nghiêm trọng, đặc biệt toàn bộ hệ thống rạch ngòi kinh rạch cắt ngang kinh Vân Trình tới Quốc Lộ 1.

Để cầm chắc, các xe lội nước Crabs và Alligators dừng lại gần hoặc ngay giữa các kinh rạch và hàng trăm lính bộ binh khó nhọc ngâm mình trong bùn hoặc trong ruộng lúa nước ngang tới đầu gối suốt đêm để canh chừng các bóng đen xuất hiện trước mặt họ, nơi một tiếng động nhỏ của con nhái nhảy xuống nước hay một cán binh Việt cộng sẩy chân đạp nhằm một cành cây đều được chú ý nhưng chẳng có gì cả ngoại trừ tiếng con trâu đi lạc đường thở phì phò tìm đường về chuồng.

Tới sáng, binh lính tập trung tiến lên phía trước. Dưới ánh mặt trời, làng mạc trông có vẻ hoàn toàn hoang vắng. Nông dân không ra đồng, cũng không có hình ảnh các em bé cho trâu ra đồng uể oải nhai cỏ. Chỉ có hình ảnh di động trong cánh đồng quê nầy là chiến xa di chuyển hay các xe lội nước đang chạy chầm chậm trong cơn gió nhẹ sớm mai và các anh lính bộ binh áo quần dơ dáy đầy bùn, tiến thành hàng dài trên các cánh đồng lúa, đôi khi đứt đoạn vì kéo dài ra tới phía chân trời.

Tới 11 giờ, mặt trời nung nóng những cái nón sắt, nón bêrê hay nón vải họ đội trên đầu. Chiến Đoàn A và D, cùng đi với các bộ phận Chiến Đoàn B tới kinh Vân Trình, suốt chiều dài đối diện với Chiến Đoàn C của đại tá Gauthier thì cái bẫy đã gói trọn “Con Đường Buồn Thiu” vào giữa. Các gọng kềm thép của các lực lượng trang bị hiện đại, có thêm sự hỗ trợ của tàu thủy, xe lội nước, xe tăng và máy bay, cố bao vây những người lính được huấn luyyện một cách vội vã, do những người chỉ huy có trình độ chiến thuật không cao, nhưng cuối cùng chẳng bắt được ai cả.

Để ăn chắc, người ta bắt giữ những kẻ tình nghi, đó là những người đang ở trong tuổi lính, không chứng minh được là người thuộc trong làng nên bị tình nghi là đang ở trong đơn vị quân Việt cộng.

Người ta cũng tìm được một ít vũ khí và ở phía cực bắc của khu vực bị bao vây: Đơn Quế, nơi quân Việt cộng đã chống lại, một ít bị bắt với vũ khí trong tay. Nhưng toàn bộ Cuộc Hành Quân Camargue kể từ hôm bắt đầu cho đến gần hai ngày sau thì coi như thất bại. Tuy nhiên, cuộc chiến chưa hẵn đã chấm dứt.

Máy bay trinh sát bay thấp phát hiện có sự di chuyển về hướng làng An Hội, có chứng cớ cho thấy vài đơn vị của Trung Đoàn 95 chạy thoát về hướng bắc. Vì vậy, tới 1 giờ trưa, tướng Leblanc ra lệnh cho lính thủy và một vài đơn vị bộ binh thuộc Chiến Đoàn A thực hiện cuộc tấn công vào An Hội. Cuộc tiến công diễn ra thật nhanh, đổ bộ lúc 3 giờ chiều, lục soát những gì nghi ngờ và trở lại tàu lúc 6giờ chiều. Nhiệm vụ hoàn thành.

Còn một việc cần hoàn thành trong các làng đã bị chiếm đóng: lục soát từng nhà, tìm những gì cất dấu và các cán bộ Việt cộng, những người nầy mặc đồ đen, chỉ khoảng 20 tuổi, thực sự là những người điều khiển chiến tranh bên phía địch. Hàng trăm lính bộ binh cầm máy dò mìn tỏa ra đi tìm, hoăc họ chỉ cầm cây sắt xâm hầm hay dộng báng súng xuống đất, nơi nào nghi có hầm bí mật, có người thì cầm tay nhau nối thành giây, để mò xuống các đầm lầy, ao hồ tìm vũ khí địch cất dấu hoặc trang bị chất đống dưới nước. Một khối lượng lớn người đi lên đi xuống khắp cả vùng quê.

Thỉnh thoảng có người kêu to đau đớn và đồng đội kéo anh ta lên khỏi mặt nước. Chân anh đạp trúng chông. Một mảnh gỗ có cắm những cái chông đầu có hình mũi tên nhọn có thể đâm thủng chiếc giày nhà binh. Vì bị nhiễm độc, chân người phải ba bốn tháng mới lành. Tuy nhiên người ta vẫn nắm tay nhau thành một sợ giây dài để lội xuống nước hoặc những toán dò mìn và quân khuyển tiếp tục công việc nhàm chán và đều đặn đó mà biết chắc chẳng kết quả gì.

Trên đỉnh các ngọn đồi cát, các xe Crabs và Alligators của Chiến Đoàn Xe Lội Nước 2 và 3 đang quan sát vùng bờ biển làng Trung An chờ các toán tình báo an ninh người Việt và Pháp đưa người tới. Họ chính là nạn nhân chiến tranh, những người dân thường xui xẻo khi các xe thiết giáp quân Pháp càn quét các khu ruộng lúa, với chỉ mười phút phá hại công trình trồng trọt của người dân đã được năm tháng mà việc cày bừa thì quá sức nặng nhọc; hoặc còn bị cán bộ kinh tài bắt đóng thuế cho đảng sau khi đã đóng 3 phần tư cho chủ ruộng hay chủ nợ nặng lãi và thuế cho chính phủ. Tình thế thật tệ hại, chẳng có tiền may áo cho bé Hoàng đi học ở trường làng, cũng không có cá, thịt heo cho tết năm nay.

Tới cuối ngày D+2, mọi sức kháng cự không còn. Ngày hôm sau các đơn vị tiên phong, Nhảy Dù, các toán đổ bộ và biệt động được lệnh rút lui. Bây giờ là công việc kiểm soát thường trực vùng mới chiếm đóng. Những cây cầu bị phá mấy năm trước nay được dựng lại, những con đường bị Việt Minh cắt khúc được đắp lại. Những hầm hào chiến đấu do Việt cộng dựng chung quanh “Con Đường Buồn Thiu” bị loại bỏ. Viên chức chính quyền Quốc Gia e ngại xuất hiện trước con mắt dân chúng thù nghịch hay sợ hãi sau một tuần chiến đấu và nhiều năm sống cô lập mà mọi thứ đều thiếu thốn, ngay cả viên thuốc trị bệnh sót rét.

Thiếu Tá Derrieu của Tiểu Đoàn 6 Ma-Rốc, nhìn một vài viên chức chính quyền mới ở trong làng Đơn Quế, nói:

- “Thực là buồn cười, trông họ chẳng bao giờ có thể thành công, làm đúng những gì người dân mong muốn, dù họ có muốn tạ lỗi với tất cả mọi người. Chúng ta mới thực hiện một cuộc hành quân bằng máy bay và chiến xa còn họ thì khoác lác khoe khoang hoặc đe dọa dân làng làm như họ là kẻ thù của đất nước mà chúng ta phải đối đầu.”

Dujardin, một trung úy còn trẻ, đứng cạnh bóng im của một chiến xa M-24, nói:

- “Có thể như vậy, nhưng tối nay tôi chẳng quan tâm đến họ sau khi chúng ta rút quân ra khỏi vùng nầy. Họ sẽ ở lại đây cùng với nhóm nhân viên hành chánh ngay trong ngôi nhà người chỉ huy Cọng Sản ngủ ở đó tối hôm qua, cách cái đồn gần nhứt là ba trăm mét. Tôi chắc rằng họ không dám ngủ ở đây mà vào ngủ trong đồn.”

- “Có lẽ vậy, họ sẽ mất mặt với dân làng và công việc của họ trở thành vô ích.”

- “Nếu không vào ngủ trong đồn, ngày mai họ chết. Đúng là chẳng ích lợi gì. Dù sao, với hậu quả tâm lý của cuộc hành quân, chúng ta có thể bắt đầu với toàn bộ công việc ngay từ bây giờ cho tới ba tháng tới. Thật là một thứ hổn độn vô ích.”

- “Vâng, nếu người Việt Nam không thể thắng thì chúng ta cũng vậy thôi. Dù sao, đây cũng là đất nước của họ. Chúng ta hãy lên xe thôi.”

Rồi hai người nhún vai đi về phía các chiếc xe tăng, trèo lên pháo tháp.

Bên dưới, trong làng Đơn Quế bị chiến trận tàn phá, các viên chức hành chánh người Việt trẻ đầy nhiệt tình mặc áo kaki và quần đen vẫn còn nói chuyện với dân làng đang đứng im lặng và bất động như các pho tượng gỗ.

Ngày 4 tháng 8/1953, Bộ Chỉ huy Cao cấp tuyên bố chấm dứt Cuộc Hành Quân Camargue. Theo tin báo chí, cuộc hành quân hoàn toàn thắng lợi, một lần nữa chứng minh sự tiến bộ và linh động của quân đội Pháp và giá trị trang bị lưu động của họ trong chiến tranh đầm lầy. Tuy nhiên, trong chính báo cáo của họ thì cuộc hành quân đem lại những cảm giác lẫn lộn.

Trung đoàn 95 mất dạng một thời gian ở vùng bờ biển Trung Việt, khoảng vài chục làng lại được đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Quốc Gia. Nhưng đây không phải là cuộc hành quân “rẻ tiền”. Một con số lớn và quan trọng về binh lính cũng như quân dụng của địch đã được rút khỏi các khu vực sinh tử, nơi họ thiếu thốn một cách nghiêm trọng và chính nơi họ vắng mặt tạo nên tình trạng khẩn cấp cho họ.

Kết quả thiệt hại thực tế của địch làm cho người ta nãn lòng. Về phía quân Pháp có 17 người tử trận và 100 bị thương; địch 182 chết và 387 người bị bắt cùng với 51 súng trường, 8 súng máy, 2 súng cối và 5 trung liên B.A.R bị tịch thu. Trong số nầy, không rõ bao nhiêu người thuộc Trung Đoàn 95 hay thuộc lực lượng du kích địa phương.

Về chiến thuật chiến tranh đầm lầy, cuộc hành quân Camargue một lần nữa cho thấy rằng khó có thể khóa kín vòng vây một khi một tiểu đoàn trấn giữ hơn một cây số rưởi bề dài – Thật ra các tiểu đoàn ở cạnh sườn phía nam của khu vực bao vây cuối cùng đã trấn giữ mộ chiều dài hơn ba cây số. Do đó, một số lớn quân Cọng Sản lọt ra khỏi vòng vây qua những lỗ lưới (bouclage).

– Vòng bao vây bộ binh và thiết giáp Pháp trở thành dấu hiệu báo trước chẳng bao lâu bộ binh sẽ chầm chậm tiến tới vào ngày hành quân đầu tiên, loại trừ mọi hy vọng xiết chặt khu vực bao vây chót vào khi đêm xuống.

Bộ binh tiến chậm, tính trung bình một cây số rưởi một giờ đồng hồ. Tại đây, vị chỉ huy chiến thuật gặp phải tình trạng tấn thối lưỡng nan. Mục đích cuộc hành quân không phải là chiếm lĩnh diện địa mà càn quét Cộng quân ra khỏi vùng họ dễ trốn tránh, núp lén, các hầm bí mật. Do vậy bất cứ một cuộc tiến quân nhanh nào sẽ làm lỡ cơ hội kiếm tìm vũ khí, binh lính và các tổ chức bí mật của địch. Tình trạng tấn thối lưỡng nan nầy làm hao tốn thời gian của cuộc hành quân càn quét và chẳng bao giờ làm thỏa mãn ý đồ của cuộc hành quân đó.

Về căn bản, khuyết điểm quan trọng của Cuộc Hành Quân Camargue cũng tương tự như các cuộc hành quân khác của Pháp ở Đông Dương, không khóa chặt lực lượng địch có thể thành công trừ phi lực lượng tấn công trội thế hơn với tỷ lệ 15/1 hay 20/1 so với quân phòng thủ vì địch thì quen địa thế, có lợi về mặt tổ chức phòng ngự và được cảm tình của dân chúng.

Quân Việt Cộng có thêm một lợi thế quyết định khác là tin tức tình báo. Ít khi phía Pháp biết chắc là họ tìm kiếm gì trong một cuộc hành quân càn quét như thế. Mặt khác, chính vì mức độ quân số và tính cơ khí hóa của quân Pháp khi chống lại Việt Minh trước sau gì rồi cũng để lộ ý đồ của Pháp hoặc ngay cả lệnh lạc đã được ban ra. Việc xử dụng một lực lượng lớn lao như vậy cần có tin tình báo chính xác và đầy đủ và quan hệ giữa các viên chức tình báo ít hiện diện và chưa bị phát hiện. Do đó, tính chất bất thần của chiến thuật là – ngoại trừ tấn công bằng nhảy dù - phải tiến quân nhanh như một yếu tố bù trừ cho hành động kiểm soát kỹ lưỡng khu vực tiến quân.

Về phía Việt Minh, Trung Đoàn 95 vẫn tồn tại và về sau, mùa xuân năm 1954, tiếp tục chiến đấu, lại thâm nhập vào vùng đất đã bị càn quét, tấn công các đoàn xe trên Quốc Lộ 1, và tấn công ngay cả một tiểu đoàn Quân Đội Quốc Gia đóng gần Huế. Đơn vị nầy rút đi vào tháng 7/ 1954 theo Hiệp Định Đình Chiến Genève chia Việt Nam làm hai miền dọc theo vĩ tuyến 17 ở phía bắc Quảng Trị. Môt lần nữa, Trung Đoàn 95 đào bới vũ khí của họ chôn giấu dưới đầm lầy, ao hồ và xuất đầu lộ diện giữa thanh thiên bạch nhật tiến ra phía bắc, dọc theo con đường số 1 mà họ đã chiến đấu một cách gian khổ. Dọc theo con đường nầy, thỉnh thoảng có những trạm đóng quân của các chiến xa thuộc tiểu đoàn 6, súng thì chỉa lên trời, pháo tháp mở bung nắp ra.

Hòa bình ngắn ngủi diễn ra trên Quốc Lộ 1. Đầu năm 1962, vài cuộc phục kích xảy ra mà người ta biết là do những đơn vị chuyên nghiệp và thiện chiến, và chẳng bao lâu sau, quân đội Miền Nam cho biết rằng họ đã xác minh được đơn vị hoạt động trong vùng là Trung Đoàn 95 Việt cộng. Trung đoàn nầy đã quay trở lại “Con Đường Buồn Thiu”.

(Street Without Joy) trích dịch ở chương 7, của cuốn sách cùng tên, nói về "Cuộc Hành Quân Camargue". Người dân Huế và Quảng Trị gọi là “Trận Thanh Hương.”

Bernard Fall là người Pháp, từng tham gia chống Đức trong trận Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai. Sau khi chiến tranh chấm dứt, ông đi học lại, đậu tiến sĩ và qua sống ở Mỹ.

Trong chiến tranh Đông Dương Lần Thứ Nhứt (1945-54), ông qua Việt Nam làm phóng viên.

Địa điểm B. Fall bị giết chết
Điều nầy gợi cho binh lính Pháp một ấn tượng u ám rằng con đường số 1 là “Con Đường Buồn Thiu”, (2)

B. Fall theo chân quân đội Pháp trên khắp chiến trường Đông Dương, có kinh nghiệm về chiến tranh du kích và viết nhiều sách báo về cuộc chiến tranh nầy.

Khi chiến tranh Việt Pháp chấm dứt, ông về Mỹ làm giáo sư tại phân khoa Quan Hệ Quốc Tế tại trường Đại Học Howard. Chiến Tranh Đông Dương bùng nổ Lần Thứ Hai (1960-75), ông lại qua Việt Nam làm phóng viên chiến trường một lần nữa.

Địa điểm B. Fall bị giết chết.
Điều nầy gợi cho binh lính Pháp một ấn tượng u ám rằng con đường số 1 là “Con Đường Buồn Thiu”, (2)

Năm 1967, khi theo chân một đoàn xe tiếp tế của Mỹ từ Phú Bài ra giới tuyến, tới gần cầu An Lỗ, xe bị mìn, ông chết ngay trên xe, trước ngực vẫn còn mang chiếc máy ghi âm đang chạy nên tiếng mìn nổ ghi cả vào trong máy. Lúc ấy, vợ ông, Dorothy Fall, đang có thai, từ Mỹ mang cái bụng bầu qua Việt Nam đón xác chồng về.

B. Fall là một người cầm bút mô tả sự tàn ác của Việt Minh (Việt cộng trong chiến tranh Đông Dương. B. Fall bị coi là thành phần phản chiến, thiên tả.

“Những gì Pháp đã từng đối đầu ở Đông Dương trong thời kỳ cộng sản Việt Minh bây giờ là dạng thức của một cuộc chiến có tính cách chủ trương bạo lực, một cuộc chiến tranh không có trận tuyến, trong rừng rậm chống lại một kẻ thù ẩn núp có mật khu an toàn, được hỗ trợ và viện trợ từ một lân bang (Trung cộng?). Quân lực Pháp cũng phải đối đầu với những chiến dịch khủng bố tinh thần rất kinh hãi, được tổ chức một cách khéo léo và có hiệu quả cao dọc theo Quốc Lộ 1. Những khó khăn đó chính là một loạt các làng mạc được tổ chức phòng vệ kỹ lưỡng dọc theo dãy đồi cát và các đầm nước mặn chạy dài từ Huế đến Quảng Trị.

(1) Quân đội Pháp có các đội K-9 trong các đơn vị lớn, hoạt đông rất hữu hiệu, tìm ra nơi địch ẩn náu.

(2) Dẫn chứng một ví dụ chống du kích thành công ở phía sau phòng tuyến Nga trong Thế Giới Chiến Tranh thứ II, Quân Đoàn Đức L.V. xử dụng những đơn vị sau đây để càn quét lực lượng 3.000 quân du kích ở phía bắc Briansk: Sư Đoàn Thiết Giáp số 5, Sư Đoàn Bộ Binh số 6, Sư đoàn An Ninh 707, Trung Đoàn Bộ Binh 747.

Ở Mã Lai, tổng cộng có 25 ngàn binh lính Liên Hiệp Anh và Mã Lai, chiến đấu liên tục trong vòng 12 năm để đánh bại một lực lượng du kích cộng sản chỉ có 8 ngàn người.

Năm 1964, quân thường trực Cộng Sản ở Nam Việt Nam là trên 35 ngàn, tiêu chuẩn hóa thành 45 tiểu đoàn và được 90 ngàn du kích vùng miền. Nếu tính theo tiêu chuẩn 10 chống 1, ít ra Nam Việt Nam phài có một triệu quân. Thực ra, lúc đó, Nam Việt Nam có một quân đội, kể cả lính chính quy và lính vùng miền chưa tới nửa triệu người.”

Chú thích của người dịch:

(3) Tiếng Pháp là “La Rue Sans Joie” tiếng Anh là “Street Without Joy”.

(4) Làng Đơn Quế, tác giả viết lầm là Dong qué. Chắc là vậy, quí vị nào biết rõ hơn, xin chỉ giáo!

(5) Hồi xưa, triều đình dùng ngựa để chuyển thư văn, dọc “Con Đường Cái Quan”, có các trạm, có ngựa để người cưỡi thay ngựa mà chạy cho mau. Tại thành phố Quảng Trị, phía ngoài cửa Tiền, trên đường Quang Trung, đoạn gần trường Nguyễn Hoàng, chỗ có con đường đất đi vào làng Thạch Hãn, có một trạm ngựa nay đã mất dấu. Tuy nhiên, trước năm 1945, người dân Quảng Trị thường gọi khu vực nầy là trạm hoặc “Xóm Trạm”. Một trạm khác nằm ở làng Đơn Quế như B.Fall nói ở trong bài; có lẽ còn vài trạm khác nữa!

“Đối với những gì quan trọng và thấy trước được, B. Fall thuật lại một cách sống động và phân tích một cách cẩn thận; tác phẩm nầy là một cuốn sách mà các nhà thiết lập chính sách ở Hoa Thịnh Đốn và các binh lính Mỹ trên chiến trường cần phải đọc. Rủi thay, phần đông chẳng ai học bài học đó.

“Năm 1959, ông nhận giải thưởng của Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO) với công trình nghiên cứu về sự lật đổ của Việt cộng Sản. Là tác giả của nhiều sách và nhiều bài viết về chiến tranh Đông Dương, ông trở thành nhà phân tích có ảnh hưởng nhứt về chính sách của Mỹ ở Việt Nam.”
*********************
*********************


Tuesday, September 26, 2017

Trận phục kích chiến đoàn 100 của Pháp gần An Khê .
Death on the Highway:
The Destruction of Groupement Mobile 100
This Viet Minh attack on a French convoy had strategic implications
by Captain Kirk A. Luedeke


Introduction
The ambush and subsequent destruction of Groupement Mobile 100 was one of the last engagements in the French-Indochina War that involved more than one battalion of French and Viet Minh troops. This overview will discuss the strategic implications of the time, the area of operations, the antagonists in terms of their leadership, order of battle, doctrine, and strengths and weaknesses.
Strategic Setting
In late June 1954, the French-Indochina War was all but over (1.) The massive French defeat at Dien Bien Phu, along with a proportional yearly increase in French casualties since the conflict began in 1946, had drained France’s desire to continue with the hostilities. France was beginning to call her soldiers home.
The fledgling Vietnamese National Government believed their victory at Dien Bien Phu was not enough to guarantee the concessions they desired from the French government.(2.) As such, orders went out to continue to fight the French military and to inflict as many casualties as possible. The more French blood was spilled in Vietnam, the stronger the position of Vietnamese negotiators at Geneva, Switzerland.
The French Army garrison at An Khe was one of several outposts that was abandoned in the wake of Dien Bien Phu. In many cases, civilians and high ranking military officials were flown out of An Khe, while the majority of French soldiers evacuated An Khe in armored columns along the winding colonial routes that snaked across the Vietnamese Central Highlands. One such convoy was known as Groupement Mobile 100, a conglomeration of infantry and artillery units that had been fighting the Viet Minh in the Central Highlands for over a year. Bloodied and tired, yet proud, the soldiers of G.M. 100 were
ready to return home when they departed their garrison on the 24th of June, 1954. Most would never make it, dying in a little-known ambush that resulted in the destruction of their once-mighty task force. While not a major engagement by the standard of the French-Indochina War, the death of G.M. 100 was characterized by savage fighting, and doomed by the mistakes of its senior leadership. The soldiers of G.M. 100 were some of the best in the French Army, and it was for that reason that any of them at all were able to reach the safety of Pleiku several days after the ambush.
Antagonists
Prior to 1941, Indochina had not been an important colony in the French colonial empire. French involvement there began with priests who first came to Vietnam in the 17th century in an attempt to convert the natives to Christianity. By the 19th century, the French government had discovered that Vietnam’s three great rivers might allow them a more direct trade route to China. While the rivers turned out to be useless for trading purposes, the French were in Vietnam to stay.
French rule did not benefit the Vietnamese people. France built a modern infrastructure of roads, railways, and ports, but this was not done to help the local people, but to exploit them.(3.) Unlike the British, the French did not allow their colonies a degree of self-rule. As a result, a number of clandestine groups formed to resist French rule, but they lacked dynamic leadership to unite them. Ho Chi Minh would change that.
Ho Chi Minh attempted two uprisings in the 1930s in the name of the Vietnamese Communist Party, but France suppressed both. Ho escaped Vietnam and waited for another chance to free his country from the yoke of colonial rule. After the fall of France to the German blitzkrieg, France was allowed to keep her holdings in the Far East. Japan demanded they be allowed to use Indochina as a staging area for their army and navy, as well as use of Indochina’s natural resources.
Japan’s defeat in 1945 created a power vacuum in Vietnam. Ho Chi Minh and his supporters established a provisional government in Hanoi and attempted unsuccessfully to get the United States to recognize the government as legitimate. France, adamant that Indochina was still its colony, prepared to go to war against Ho and his Viet Minh. Hostilities between France and the VM broke out in November, 1946. The conflict would rage on until July 20, 1954 when the French-Indochina War officially ended.
Area of Operations
Located in the central highlands of Vietnam between the provincial capital of Pleiku and Qui Nhon, on the coast of the South China Sea, An Khe was an important French Army outpost. Because of its proximity to the few Vietnamese roads in the highlands, the French military was able to patrol the area with its mechanized forces and could interdict Viet Minh combat units as they attempted to infiltrate south.(4.)
By late June, 1954, the French Command, recognizing that the Viet Minh were in position to launch a major offensive in the Central Highlands, and with no reserves with which to combat them, ordered An Khe evacuated. The VM intended to strike at the French as they withdrew, positioning themselves to intercept the French columns as they made their way to the various link-up points throughout Vietnam.
Late June, 1954 was dry season in Vietnam. The roadways were easily trafficable, making movement along the Route Coloniales (R.C.s), a rapid affair. Having been in Vietnam for well over a year, the French troops were acclimatized to the summer’s brutal heat.
Terrain played a major role in the destruction of G.M. 100. The road between An Khe and Pleiku (R.C. 19), was bordered by tall elephant grass and dense jungle vegetation which provided excellent concealment for attackers. In many places along R.C. 19, the rocky terrain channeled the road into narrow defiles, severely restricting any kind of mounted maneuver. The Mang Yang Pass was the link-up point where G.M. 100 and G.M. 42 would join, 20 kilometers from An Khe. Colonel Barrou viewed the pass as key terrain.
Comparison of Antagonists
When the French-Indochina War began in 1946, France firmly believed that her superior technology and military machine would defeat the Vietnamese peasants quickly enough. France received a good deal of military equipment from the United States and Great Britain and benefited from the support of both nations. France set up a series of provincial commands in Vietnam’s towns and cities from which it would launch attacks into the northern portion of Vietnam, using overwhelming combat power to grind the Viet Minh into submission. To help them in their fight, the French also used special operations troops to recruit mountain tribesmen who disliked the Vietnamese. France underrated the ability and fighting savvy of their opponents and would continue to do so for the duration of the war.(5.)
The Viet Minh had no illusions about their capabilities against the French military, nor how they would wage their war for independence. The VM initially fought a guerrilla war against the French, ambushing light convoys, overwhelming under-defended outposts and striking at supply and ammunition depots to hinder France’s resupply efforts while adding to their own cache of weapons and ammunition. As the years progressed, the VM, receiving military aid from China in the form of equipment and military advisors, were able to fight larger engagements with French forces, oftentimes overwhelming French forces with human wave tactics. VM doctrine attempted to avoid the set-piece battle unless they enjoyed an overwhelming force ratio, as evidenced in their 12-to-1 advantage against the French defenders at Dien Bien Phu. Ho Chi Minh’s strategy was to bleed France dry, knowing that his people were in it for the long run, while the French were not.
The G.M.s were designed as self-sustaining motorized brigades modeled after the U.S. Army’s World War II combat commands. The G.M.s typically consisted of three infantry battalions with one artillery battalion, along with elements of light armor or tanks, engineer, signal and medical assets, totaling 3,000-3,500 soldiers. The G.M.s were effective at rapidly reinforcing threatened sectors in the Delta, but the hills and swamps, prevalent in Vietnam, hindered their effectiveness, restricting the G.M.s to narrow roads. Their mobility quickly became their Achilles heel, as their vehicles could not traverse the restricted terrain.(6.)
The French order of battle included:
- Groupement Mobile 100, Colonel Barrou, commanding.
- Headquarters Company 100, Capt. Fievet, commanding.
- Regiment de Coree (Korea Regiment), Lieutenant Colonel Lajounie, commanding.
- 1st Bataillon de Coree (Korea), Major Kleinmann, commanding.
- 2nd Bataillon de Coree (Korea), Major Guinard, commanding.
- Bataillon de March /43e Regiment d’Infanterie Coloniale, Major Muller, commanding.
- 10e RAC (Artillery), Major Arvieux, commanding.
- III Escadrille/5e Rgt Cuirassiers (‘Royale-Pologne’), Captain Doucet, commanding.
Groupement Mobile 100 was a veteran force with a paper strength of 834 soldiers in each infantry battalion. The Korea Regiment had distinguished itself fighting alongside the U.S. 2nd Infantry Division in Korea and proudly wore the unit’s Indianhead patch.(7.) Many of its officers had taken a reduction in rank to serve in the Korea. The 43rd Coloniale was a crack unit of Cambodian and Vietnamese soldiers who had fought well in the past.(8.)
It can also be said that G.M 100 was tired from the bloody fighting and many saw their withdrawal as a sign that the war for them was over. G.M. 100 was well-led by officers and NCOs, at the company level as well as in senior leadership positions. Colonel Barrou was a compassionate officer who recognized the Groupe Mobile’s vulnerabilities early in his command when he wrote in his diary:
“The most delicate problem remains that of the protection of the artillery and of the means of command and communications, since the largest possible number of infantrymen must be left free to search out the enemy and fight him. “The very means of support and coordination which makes the strength of the G.M. also create some enormous obligations in a mountainous area where roads are rare and of poor quality” (9.)
These words would haunt the colonel later, considering the fate of his unit. G.M. 100’s leadership was strong, consisting of blooded, dedicated officers who were no strangers to the war in Vietnam. Perhaps it is a tribute to them — the sergeants, lieutenants, captains and majors of the G.M. — that any of its soldiers survived the bloody ambush at PK 15.
Viet Minh Regiment 803
The Viet Minh enjoyed widespread support among the civilian population of Vietnam, and dealt harshly with those who had profited from the French presence. The Viet Minh army was formed from tough peasants, ideologically committed to an independent, Communist Vietnam. The sufferings heaped upon the people by corrupt Vietnamese in power, as well as military operations and atrocities by the French military, ensured a continuous stream of volunteers into General Vo Giap’s VM Army. Those less willing to fight could provide invaluable service to the army as porters. It was the porters or “coolies” who had hauled hundreds of mortar and artillery pieces and ammunition across the Vietnamese countryside and up to the high ground surrounding the French base at Dien Bien Phu. It is estimated that each regular division needed approximately 50,000 porters to move equipment and supplies.(10.)
Most of the VM regular units were formed in the Viet Bac and after 1949, at Chinese Camps at Wenshan, Long Zhou, Jing Xi, and Szu Mao. Trained by Chinese Red Army soldiers, the Viet Minh were molded into a fanatical fighting force capable of marching for days with only a few rice balls for sustenance.(11.)
The Viet Minh 803rd Regiment had fought the French in the Central Highlands for two years and had exacted a bloody price from the soldiers of G.M. 100 since February, 1954 with ambushes and mortar attacks on An Khe. It was a price that G.M. 100 had paid in kind at Dak Ya-Ayun in March. It seemed only fitting that the 803rd would be the ones executing the ambush two months later that would signify the death knell of the French unit.
The 803rd’s leadership is unknown. There is no record of any of the names of its regimental or battalion commanders, for theirs was a war of anonymity. The Viet Minh won its battles at great human cost and therefore, many of its officers did not survive the vicious fighting. A private in one battle could very well find himself leading VM troops as a sergeant or lieutenant in the next. As their struggle was one for freedom and liberty, the Viet Minh did not recognize individuals, but fought as a collective. Viet Minh leadership was different than that of the French, but it was effective enough. There was much politics in the VM Army, as commissars often worked in conjunction with the officers and NCOs who led the Viet troops to ensure their dedication to the Communist cause.
The Destruction of G.M. 100 –Opening Moves
With the fall of Dien Bien Phu complete and no French reserves available to stem the tide of the imminent Communist offensive into the central plateau, the French high command gave the order for G.M. 100 to evacuate An Khe and move to Pleiku, 80 kilometers west over enemy-held road. G.M. 100 was to depart on 25 June, upon completion of the air evacuation of French civilians, high-ranking officials, and equipment from An Khe.
By the 23rd of June, intelligence reports indicated that the Viet Minh 803rd regiment was on the march to R.C. 19 from its base near An Hoa. Indications were that the 803rd had every intention of stopping the evacuation force before it could reach Pleiku. This information proved to be critical, leading to Colonel Barrou’s first costly mistake that contributed to the destruction of his force. Moving the departure date up one day to the 24th of June, Barrou decided that G.M. 100 would drive 22 kilometers to Mang Yang Pass, where elements of G.M. 42 and Airborne Groupe 1 were waiting to link up and escort the An Khe convoy into Pleiku. Barrou intended to drive the distance quickly, forsaking reconnaissance and security for speed. The original plan had called for G.M. 100 to halt at kilometer (PK) 11 while one company from the 43rd Coloniale conducted a recon of the next 11 kilometers before committing the rest of the force to the narrow defiles and restricted maneuver terrain between kilometers 12-20. Barrou now called for the column to move to PK 22 in one bound. He hoped to beat the 803rd to Mang Yang Pass and was prepared to sacrifice security to do so.
G.M. 100 departed An Khe at 0300 hours on 24 June, 1954. The Cambodian-French 43rd Coloniale led the column, followed by the 2nd Korea and the 1st Korea. All three battalions had dismounted (xuống xe) and were providing a screen (màn bảo vệ) for the Groupe’s vehicles. Also present in G.M. 100’s formation was the 520th Tieu-Doan Kinh-Quan (TDKQ or Commando Battalion), a unit comprised of Vietnamese schooled in the fighting methods of the Viet Minh and designed to close with and destroy the Communist guerilla units. The TDKQ unfortunately were an undisciplined force, and their presence in the armored column that fateful day would end up having dire consequences for Colonel Barrou and his men.(12.)
Each of the infantry battalions in G.M. 100 had one artillery battery task (pháo đội) organized to them. Headquarters Company and the Groupe’s mobile command posts (BCH nhẹ của chiến đoàn) were placed in the convoy behind the 520th TDKQ. By dawn, the column was on its way to Pleiku followed by 300 or so civilians (thường dân) from An Khe who had not been evacuated by air. Although it was against the orders of the French High Command to allow civilians to move with a military convoy, nobody in G.M. 100 seemed to either notice or care. As the formation moved down the open road, French B-26 bombers destroyed the ammunition and supplies left behind at An Khe. The road march was underway.
The Viet Minh 803rd Regiment knew where G.M. 100 was going and at this point, they were in a footrace (chạy bộ) to reach Route Coloniale 19 before the French could rendezvous (bắt tay) with G.M. 42 and AG 1. The VM knew that if the French were successful in linking up (bắt tay) , the VM would not have the combat power to interdict their move to Pleiku. It would be critical to the mission’s success that they hit the French column somewhere (một nơi nào đó) between PK 11 and 15.
Colonel Barrou did have one asset at his disposal he fully intended to use. A company of Bahnar tribesman led by Captain Vitasse, an elite French commando who had fought in Vietnam for over four years, was positioned (đóng) in the jungle to the north of R.C. 19. Any Communist unit attempting to cross the road west of An Khe would be spotted by Vitasse and thus provide the French with early warning.
At 0900 hours, the convoy reached PK 6 and was hit with automatic small arms fire. Several soldiers in the 1st Korea were wounded, but the enemy withdrew as quickly as it had come. First blood went to the VM. As the column continued its march, the Groupe’s soldiers grew increasingly edgy (càng lúc càng căng thẳng) , sensing the dangers that potentially lay in the dense jungle surrounding them.
G.M. 100 conducted a short halt (ngừng 1 chút) at PK 11, the initial target for the road march’s first day. After PK 11, the road, surrounded by the thick jungles and rocky overhangs (núi đá nhô ra) , passed through numerous sites along the route ideal for ambush. It was here that Colonel Barrou decided to split the convoy  into four elements 
(chia đoàn xe làm 4 phần) , each consisting of infantry, artillery and light armor, each a self-contained unit capable of defending itself if trouble arose, while preventing the entire column from annihilation in the event of a VM trap. The first element of the 43rd Coloniale, its first company led by the veteran Captain Leouzon, left PK 11 at 1250, the second element at 1300, the third at 1330 hours and the fourth and final element departed at 1400. All groups maintained radio contact as the march resumed.
At 1330, Captain Vitasse sent an urgent dispatch that G.M. 100’s radio truck received: “Important! Viet Minh elements 3 kilometers north of R.C. 19.” Almost simultaneously, a French reconnaissance plane identified another VM formation at Kon-Barr, 8 kilometers north of PK 11. Soon, the 105s of 4th Battery, who had not yet left PK 11, were sending rounds (khai hỏa) at the grid the spotter plane had identified near Kon-Barr. With this critical information, it seemed the French convoy had what it needed to avert disaster.
G.M. 100’s radio truck compiled the reports and relayed them down the line to the different elements of the convoy. The 520th TDKQ, 1st and 2nd Korea, 10th Colonial Artillery battalions all acknowledged the transmission. The problem was, the radio truck never contacted (đã không tiếp xúc với) the 43rd Coloniale, and they were leading the march! It was never discovered how this fatal error happened, for the radio truck and its personnel were all killed in the battle that followed. However, Colonel Barrou had complained several times previously that he was short 20 radio operators from his authorized strength. Without the critical warning that the VM were at R.C. 19, Leouzon and the rest of the 43rd Colonial Infantry marched on unaware (ko biết điều này).
Luckily for G.M. 100, Captain Leouzon was a savvy jungle fighter who had seen his share of VM ambushes in his several years of fighting. At PK 15, the road stretched out (đi qua) into a small plain covered with 6-foot-tall elephant grass through which the road wound further west (quẹo về phía tây) . It was quiet. Too quiet. There weren’t even any birds to be seen and this made Leouzon nervous. Contacting Major Muller, his battalion commander, he requested permission to send out a screen (đơn vị thám thính) prior to moving the entire column through the area. Muller was concerned about the time it would take to do so. He also felt that if Leouzon ran into enemy, Muller’s other companies would not be able to support him with the dense vegetation obscuring their fields of fire. Undaunted (ko sợ) , Leouzon proposed a compromise:
“Well, then let’s cut the problem halfways. I’ll leave the road with my company and just cut across the arc of the road through the high grass. If there is nothing that close to the road, it’ll give us an additional screen, and if I get caught, it’ll give you an early warning and permit you to support me without having to weaken the convoy.”(13)
Muller gave his consent and Leouzon’s 1st Company left the road and moved cautiously through the elephant grass, attempting to move to a small hill in the middle of the plain that would afford them a better view of the surrounding area. Sergeant Li-Som, a Cambodian, and one of Leouzon’s best soldiers, stopped and told his squad to be silent. He listened intently, eyes widening when he realized what he was hearing. When a large body moves through elephant grass, the long strands make a “knack” sound as they return to their normal position after having been trampled out of place. Li-Som quickly deduced that the Viet Minh were there and ready to destroy G.M. 100 as they moved through the wide open area without cover (di chuyển giửa đồng trống mà ko có che chở) . Suddenly, two VM machine guns opened up on another platoon of Leouzon’s Cambodians at a range of about 30 meters. Sergeant Li-Som charged towards the machine guns’ reports, ordering his platoon with him. As he threw the grenade that destroyed one enemy gun, the other gun killed Li-Som with a hail of bullets. The time was 1420. The battle had begun.
The Battle and Subsequent Actions
Leouzon’s 1st Company immediately went into action, returning fire. Leouzon’s RTO (nhân viên truyền tin) attempted to contact Major Muller, but his radio had been smashed by a .50 caliber bullet. Destroying the rest of the radio set so that the VM would not be able to use it, he joined the battle. The VM savaged the 43rd Coloniale with fire from their machine guns, bazookas, recoilless rifles, and heavy mortars. The 803rd was in fact fully-deployed along PK 15 and now executing a perfect ambush of a confused and disoriented foe. The elements (thứ) observed by the spotter plane had apparently been decoys (đánh lừa) , for the 803rd had been in place for several hours (có mặt tại chỗ vài giờ trước đó ) prior to the arrival of G.M. 100. The French had lost the race to Mang Yang Pass and were now fighting for their lives.
Prior to 1420, Colonel Barrou traveled behind the armored platoon (trung đội cơ giới) , consisting of three half-tracks and two M-8 armored cars. Barrou was in an open jeep, but moved with the Groupe’s radio truck, which informed him of a light stone barricade (chướng ngại bằng đá trên đường) in the road at PK 15 at 1405 hours, as reported by another light recon plane.
By 1415, Barrou noted that the lead element of the convoy picked up speed and the armored platoon widened the gap (không bám kịp thành phần đi đầu) between the lead element and headquarters company to keep up. Barrou ordered the radio truck to tell the armored platoon to slow down. Immediately after the platoon leader acknowledged the transmission, Barrou heard the machine gun burst and Li-Som’s grenade explode. Suddenly, the Headquarters Company was struck by heavy mortar and recoilless rifle fire.Trucks and vehicles began exploding and the screams of men struck by bullets and shrapnel threatened to drown out the explosions.
Within four minutes, the armor platoon was destroyed. All three half-tracks and one M-8 tank were ablaze. The remaining M-8, though immobilized, located an enemy machine gun raking (đang nổ súng vào) halted French vehicles on the road, and tore it apart with a blast of automatic fire. At 1425, G.M. 100’s radio truck took a direct hit from an enemy 57mm recoiless rifle and exploded in a ball of fire. Anybody inside who might have explained why the 43rd Coloniale had not been warned of the presence of the Viet Minh in the area died a fiery death. Along with the truck went Colonel Barrou’s ability to command and control the convoy. The 43rd Coloniale and Headquarters Company were both in contact, having to fight separate battles for survival. Chaos reigned.
Colonel Barrou and Captain Fievet, Headquarters Company’s CO, attempted to rally soldiers for a counterattack on VM positions on the hill crest north of the convoy that was continuing to rake the halted vehicles of G.M. 100 with murderous fire. Fievet fell, mortally wounded, while Colonel Barrou was also hit in the thigh and rolled into a ditch next to the dying Fievet where he conferred the Officer’s Cross of the Legion of Honor on Fievet before he expired.
Lieutenant Colonel Lajouanie, CO of the Korea Regiment, also counterattacked against the enemy-held hill. The surviving M-8’s canister shells were suppressing the enemy positions there and it appeared that the French might be able to take the hill in a flanking maneuver. However, as Lajounie led the attack, the M-8’s gunner was killed and the VM turned their full fury on the charging Frenchmen who were mowed down by the murderous fire. Lajounie fell near Colonel Barrou and he too, was awarded the Legion of Honor. By 1445, Headquarters Company had been destroyed as a fighting force, and several key officers of G.M. 100 were dead.
Barrou crawled to the silent M-8 and manned the vehicle’s weapon attempting to bring fire on the Viet Minh positions. Unfortunately for Barrou, he was spotted and shot before he could get the machine gun going again. Barrou was knocked from the vehicle and rolled into a ditch where he resolved to die. Tearing up his identification, he lay there until a medic bandaged him. Not recognizing his colonel who lay there covered in blood, the corpsman moved on towards positions of the 43rd after providing first aid.
Major Hipolite, the Korea Regiment’s executive officer, was killed shortly afterwards and Viet Minh infantry swarmed the headquarters trucks, executing (giết chết) wounded soldiers and continuing the G.M.’s destruction. Ten minutes after the ambush began, G.M. 100 had lost its means of communications and all three of its ranking officers. Major Muller and his 43rd Infantry were in the fight of their lives, but help was on the way. Muller did the right thing and took charge of his element, not waiting for orders from Colonel Barrou. Little did Muller know that his CO was lying in a ditch dazed from his wounds and in no condition to lead the fight.
The 520th TDKQ, normally not a part of G.M. 100 and bearing a poor reputation as combat troops,(14) broke and ran at the outset of hostilities, leaving the Headquarters Company and the 10th Artillery’s Headquarters Battery (pháo đội chỉ huy của trung đoàn 10 PB) alone to fight the Viet Minh. Truck drivers carrying engineer demolitions abandoned their trucks and ran into the jungle seeking safety. At 1500, the abandoned engineer trucks, packed with pyrotechnics and demolitions began to explode under the onslaught of Viet rounds. Shrapnel tore into French soldiers nearby, who were using the trucks as cover.
The 2nd and 1st Korea Battalions arrived shortly after 1500 and pressed forward through the mass of burning vehicles in order to link up with the 43rd. Taking advantage of the Viet Minh surprise at the arrival of two fresh battalions and their artillery, the 43rd attempted to break out (phá vở vòng dây) with as many vehicles as they could and suffered heavy losses under the VM fire. A few vehicles from the 43rd did manage to escape the carnage and arrive at PK 22 to tell of the ambush.
Major Kleinmann, 2nd Korea’s CO and the ranking officer left còn lại)  in G.M. 100, organized a defense around the shattered convoy. He ordered his 4th Battery to set up their howitzers and fire fuzes at minimum setting into the Viet Minh positions as enemy infantry attempted to charge the French. This action undoubtedly saved the French, as the VM attack broke under the devastating artillery fire. For the beleaguered soldiers of the 43rd and Korea Battalions, seeing the Viets cut down (bắt gục) was a tremendous lift to their morale and they seemed infused with the elan to continue their savage fight for survival.
By 1620, ammunition was running short. Air Force B-26s arrived to provide close air support, but by then much of the fighting was occurring so close, that both French and Viet soldiers were cut down by the indiscriminate machine gun fire from the air. As dusk approached, the French realized they would not be able to hold much longer. The 4th Howitzer Battery was out of action; its crews dead and wounded, its guns out of ammunition. While the French had stopped the VM infantry attacks, enemy mortar fire rained down on the French perimeter ensuring a steadily rising casualty count.
At 1715, Major Kleinmann was ordered by French Zone Headquarters to abandon the Groupe’s vehicles and break through to PK 22 on foot with his infantry and whatever wounded he could carry, to link-up with G.M. 42 and other French forces there. Kleinmann discussed options with the 2nd Korea’s CO, Major Guinard. Both decided that there would be no way to carry out the seriously wounded. Having to trek a distance greater than 10 kilometers through thick jungle and doing so under fire would only create more casualties. They made the decision to leave the wounded on the road, along with all remaining medical supplies and any medical personnel volunteers willing to stay with them. The following conversation between Major Kleinmann and Major-Doctor Varme-Janville, G.M. 100’s surgeon, epitomizes the self-sacrifice and dedication to the wounded that the French doctor possessed.
“Janville, we’ve just received our orders.We’re pulling off the road a 1900.”
“And the wounded?”
“Janville — the wounded are staying here. You know there’s nothing we can do for them once we’re off the road.”
“Gentlemen, I don’t think I can be of much further help in this. They’ve got good doctors up in Pleiku but my men need me here. I’ll stay with them.”(15)
Unfortunately for Varme-Janville, all the wounded he elected to stay with eventually (cuối cùng) died because the Viet commissars refused to allow him the supplies to treat them. It was a dark chapter in the doctor’s life, for he was forced to watch his men suffer and die, all the while he was prevented from attempting to save their lives.
At 1900, the remaining soldiers of G.M. 100 broke out of the trap that had killed so many of their brethren. As they escaped into the surrounding jungle, they saw their leg-wounded comrades still with the convoy fight one last delaying action in order to buy the rest of the infantry time to escape.
The battalion commanders realized that the VM would figure out that they had withdrawn and attempt to cut them off. They decided to split the remnants of the battalions into platoon-sized groups under the command of an officer of senior NCO, to make the trek to PK 22.
For the next several days, the groups encountered impossibly dense jungles, isolated Viet Minh ambushes, and mountain tribesmen who attempted to kill and rob the French. Finally, at 1130 hours on 25 June, a platoon from 4th Company, 1st Korea encountered a patrol from the 1st Airborne Group. The battered remnants of G.M. 100 had finally reached PK 22. While these men had arrived alive, their unit, the once proud G.M. 100 had died the day before at PK 15 on Route Coloniale 19.
Key Events, Outcome of Action
Sadly, for the men of G.M. 100, their ordeal (khổ nạn) was not quite over. They had to brave 55 kilometers more of enemy road and the conglomeration of G.M.s 42 and 100, plus the 1st Airborne Group, was harassed continuously until they arrived in Pleiku on 29 June. Of the 222 men assigned to Headquarters Company when G.M. 100 left An Khe, only 84 were left. The 43rd Coloniale, 1st and 2nd Korea Battalions, containing 834 soldiers each could now claim 452, 497 and 345 soldiers respectively. The 2nd Group, 10th Colonial Artillery had only 215 out of an original 474. Eighty-five percent of G.M. 100’s vehicles, 100 percent of the artillery, and 68 percent of the signal equipment had been lost. Fifty percent of the Groupe’s rifles and machine guns were captured by the Viet Minh.
Colonel Barrou, amazingly, survived the destruction of his unit, and was discovered by a French patrol and carried out on a stretcher. The patrol was later captured by the VM and Barrou participated in a death march over a hundred or so miles to enemy prisoner of war camps, but he did survive the war, and was eventually repatriated back to France.
The 803rd Viet Minh Regiment gave as much as it got and received a battalion of replacements within a day of the fight at PK 15. They quickly rejoined operations in the Central Highlands and continued to fight the French until the armistice was signed on July 20.
Because of the nature of the Viet Minh’s operational security, it is not known how many casualties the unit suffered, but there is no doubt that the regiment covered itself in glory by destroying one of the best mechanized outfits in the French Army. Years later, the 803rd would return to action against another invading force. This time, the Army of the United States.
The Viet Minh’s goals for destroying the French convoys en route to Pleiku were relatively simple. By demonstrating their ability to inflict massive casualties on the French Army in the wake of the disastrous defeat at Dien Bien Phu,
“Our armed forces committed the same mistakes
the French made, fighting an enemy that was
far more dedicated to the country of Vietnam
than we were. Our blind fear and loathing of
the spread of communism dictated that we
undertake a battle we were not committed to win.”
the Viets could then dictate the terms of the peace agreement between France and Ho Chi Minh’s Provisional Government of Vietnam. Under no circumstances did the Viets want France to retain any portion of Vietnam, nor did they want the French to feel tempted to resume the war. By destroying France’s armored convoys, the Viets were kicking an enemy who was down, but they did so to send the unequivocal message that Vietnam was the victor.
The war was, for all intents and purposes, over when G.M. 100 died on the 24th of June, 1954. However, by doing what they did, the Viets hastened France’s departure from Vietnam and resigned the French to the fact that until the last soldier withdrew, it was a fight to the death. France had lingered too long in a place they were now prepared to give up. Just to ensure there were no second thoughts, no serious French considerations to the feasibility of continuing the war in Indochina, General Vo Nguyen Giap, Vietnam’s greatest general, continued to apply the pressure until France realized that maintaining its presence in Vietnam would come at the cost of more of its soldiers. Less than one month after the disaster at PK 15, the last French soldier departed Vietnamese soil.
Several events contributed to G.M. 100’s destruction. Colonel Barrou normally was careful and made good use of reconnaissance and an advance guard when maneuvering the Groupe. When he received reports of the 803rd Regiment attempting to cut him off from Pleiku, he attempted to race the Viet Minh, rather than conduct the proper reconnaissance and security measures that might have prevented the ambush. Thanks to the independent actions of one Captain Leouzon, the column had a very small measure of early warning before the convoy came under direct and indirect fires. This action saved G.M. 100’s destruction from being even more devastating than it was. Splitting his force also resulted in allowing the 803rd to mass on the lead elements of the convoy, inflicting heavy damage on them before the Korea Battalions could arrive to stem the tide.
The inability of the radio truck to notify Major Muller and the 43rd Coloniale Infantry that the Viet Minh had been observed near PK 15 was critical information that might have altered the method in which Muller deployed his combat power. When Captain Leouzon requested to screen the convoy’s flank, neither he nor Muller had any idea that VM forces were in the area. This critical failure in communications no doubt contributed a great deal to the deaths of French soldiers at PK 15.
G.M. 100 lost all of its leadership and command and control nodes in the opening minutes of the ambush. As a result, all three infantry battalions were fighting on their own, without coordination of any kind. The battalion commanders did a superb job of fighting their units, but without any central leadership, the French were unable to make a concerted effort to break the ring of death around them, making several unsuccessful piecemeal attacks before withdrawing into a perimeter defense. The deaths of LTC Lajounie and Maj Hipolite, and the incapacitation of Colonel Barrou, had a devastating effect on G.M. 100 and it was only because of the discipline and leadership within the infantry ranks that the entire force was not wiped out.
The commander of the 803rd Regiment did an excellent job of choosing the appropriate ground in which to kill his enemy. He used his heavy weapons effectively, destroying vehicles and thus stacking up the convoy within his kill sack where his soldiers were able to continue to inflict devastation upon the French ranks. Maintaining a steady fire with his heavy mortars, he never allowed the French an opportunity to effectively consolidate and reorganize, and was able to easily defeat the piecemeal counterattacks. When his infantry began to become attrited during their attacks, he pulled them back to allow his mortars and heavy machine guns to weaken the French resolve. He executed a perfect ambush from which any French at all were lucky to escape.
Conclusions
With the defeat of G.M. 100 came the realization that any further bloodshed in Vietnam was futile. The war had been lost before the ambush at PK 15, but a French victory over the 803rd would not have altered the armistice in the least. France failed in its bid to retain Vietnam as a colony, not because its army was not capable of defeating the Viet Minh, but because France was not willing to pay as much of a price to keep Vietnam as its people were willing to pay for independence. France learned this lesson at a cost of over 172,178 French and French-Allied troops killed and wounded. France learned that despite having a professional army with excellent equipment, the mass and fanaticism with which the Viet Minh fought each day was more of a match for her. This lesson was there for all to see, yet the United States failed to pay attention to what happened to the French, and had to re-learn many of the lessons paid for in blood by the French Army.
Vietnam’s struggles were not over with the defeat of the French in 1954. Ho Chi Minh desired to see a united Vietnam under the banner of Communism. However, South Vietnam, under President Ngo Dinh Diem, had no interest in Communism. Raised under the influence of French Colonial rule, Diem was pro-West and did not share Ho Chi Minh’s vision. Minh dedicated the remainder of his life to uniting North and South Vietnam and as early as 1957, his Communist agitators began infiltrating the south in preparation for a war of unification, one in which the United States soon became involved.
Had the United States’ senior leadership studied the patterns of the French-Indochina War, perhaps much of the loss this country incurred fighting in Southeast Asia might have been averted. Our armed forces committed the same mistakes the French made, fighting an enemy that was far more dedicated to the country of Vietnam than we were. Our blind fear and loathing of the spread of communism dictated that we undertake a battle we were not committed to win. The long term effects of the bloodshed at PK 15 on June 24, 1954 can be seen in every American name written on the Vietnam Memorial in Washington, D.C.
The Principles of War
Maneuver. The Viet Minh knew that the French column, caught in the open, would not have the time or ability to maneuver once they initiated the ambush. The French infantry operated dismounted, but the tall elephant grass prevented them from coordinating their attacks with other infantry and their vehicles. This lack of ability to maneuver doomed the French to having to fight a defense in the open while surrounded by enemy who had the benefit of concealment and high ground.
Economy of Force. Although the French convoy had over 2,000 fighting soldiers at its disposal, Colonel Barrou split his force on the road, allowing the Viet Minh to attack G.M. 100 as it piecemealed into the ambush. The numbers on both sides were about even on paper, but by the time the Korea Battalions arrived, the 520th TDKQ had been routed, the Headquarters Company had been destroyed, and the 43rd was surrounded and under heavy fire. The French were never able to mass their forces at any one point, or else they might have been successful in breaking the ambush.
Mass. The Viet Minh 803rd Regiment employed mass against G.M. 100 to great effect. Employing machine gun, heavy mortar, 57mm anti-armor and small arms fire against the exposed convoy, the VM succeeded with deadly effect. Conversely, the French were unable to mass, having been separated and without the means to effectively coordinate their counterattacks. The French inability to counter the Viet Minh’s superior employment of mass doomed G.M. 100 from the start.
Security. Colonel Barrou sacrificed security at the cost of speed and many of his soldiers paid the ultimate price. By not adequately reconnoitering the area west of PK 11, he allowed his mounted force to advance blind, without knowledge of the terrain or what dangers lay ahead. In doing so, he gave the Viets the initiative and a clear advantage. The Viets knew where the French were, and the extent of their combat power. Colonel Barrou had no concept of VM locations other than the fact they had been spotted near RC 19. Instead of adjusting his plan to create some local security, he continued on blindly.
Surprise. The French force’s lack of adequate security allowed complete surprise for the Viet Minh. Although the French had an idea they were out there, the column’s lead element did not. Had Leouzon’s instincts not dictated that he screen the battalion’s advance through the area surrounding PK 15, the surprise might have been complete and the entire column might have been caught on the open road. As it was, the Vietnamese still benefited from surprise and used it to great effect.
Unity of Command. G.M. 100 had plenty of leadership, yet disaster struck in the opening minutes when the top three ranking officers went down. Because the other battalion commanders were in the midst of the fight for their lives, nobody took charge until Major Kleinmann arrived 40 minutes after the ambush began. In those 40 minutes, the entire armor platoon was destroyed as well as most of the convoy’s vehicles. Kleinmann inherited chaos and did the best he could with it, but by the time he arrived, the ability for the French to seize the initiative had passed and the battle was firmly in the hands of the Viet Minh. Barrou had no concise plan for countering an ambush, nor did he provide any guidance to his subordinates on what to do should he be taken out of action. As a result, critical time was lost in re-establishing a chain of command, and with that time went G.M. 100’s ability to win the battle at PK 15.
Epilogue
The men of Groupement Mobile 100 were some of the best in the French Army. They had “faced the elephant” on numerous occasions in the highlands of Vietnam over the previous year and were some of the most experienced and professional troops anywhere in the world. The 1st and 2nd Korea Battalions had won battlefield glory at places such as Chipyong-Ni and Arrowhead Ridge several years before and were proud of it. Yet, as those veterans would soon discover, “Indochine no est Coree.” Vietnam is not Korea. G.M. 100 died at PK 15 because of a series of mistakes that compounded to create a battle they had no chance of winning. Poor judgment on the part of the Groupe’s senior leadership lost the lives of many of its troops, just as outstanding leadership at the junior level saved many more. Such is the way of war. LTG (Ret.) Harold G. Moore perhaps summed up G.M. 100’s fate best in his book, We Were Soldiers Once. .And Young.
“Shortly after we arrived in Vietnam , Sergeant Major Plumley and I took a jeep and a shotgun guard and drove ten miles west of An Khe on Route 19, into no-man’s-land, to the PK 15 marker post. There, the Viet Minh had destroyed most of French Group Mobile 100 in a deadly ambush 11 years earlier. We walked the battleground, where a bullet-pocked 6-foot-high stone obelisk declares in French and Vietnamese:
‘Here on June 24, 1954, soldiers of France and Vietnam died for their countries.’…
Plumley and I walked the battleground for two hours. Bone fragments, parts of weapons and vehicles, web gear and shell fragments and casings still littered the ground. From that visit I took away one lesson:
Death is the price you pay for underestimating this tenacious enemy.”(16)
=======
Notes
1-Bernard B. Fall, Street Without Joy (Stackpole Books, New York, 1964) p.187-188.
2-Fall, p. 190.
3-Jim Mesko, Ground War - Vietnam 1945-1965 (Squadron Signal Pub., Carrollton, Texas, 1990) p. 3-4.
4-Fall, p. 186.
5-Mesko, p. 6.
6-Martin Windrow and Mike Chappell, Men-At- Arms Series: The French Indochina War (Osprey Military Publications, Wellinborough, UK, 1998) pp. 16-17.
7-Robert Barr Smith, Men At War (Avon History, New York, 1997) p. 349.
8-Fall, p. 193.
9-Fall, p. 189.
10-Windrow, Chappell, pp.20-21.
11-Windrow, Chappell p. 21.
12-Fall, p.206.
13-Fall, pp. 210-211.
14-Barr-Smith p. 350.
15-Fall, p. 218-219.
16-Harold G. Moore and Joseph L. Galloway, We Were Soldiers Once…And Young (Harper Perennial, New York) 1992 p. 49.
CPT Kirk Luedeke was commissioned in Armor in 1994 from The Citadel. He served as a tank platoon leader and tank company executive officer for 3-37 Armor (later 1-13 Armor) at Ft. Riley, Kansas. As XO of A/1-13 Armor, he spent seven months in Bosnia-Herzegovina as part of Operation Joint Guard. Subsequently, he served as 1-13 Armor HHC XO. A graduate of the Armor Captains’ Career Course, he currently commands A/2-10 Infantry at Ft. Leonard Wood, Mo.
ARMOR — January-February 2001 29