Showing posts with label sư đoàn 18 bộ binh. Show all posts
Showing posts with label sư đoàn 18 bộ binh. Show all posts

Tuesday, July 25, 2023

 

Ngôi Thánh Đường Bị Bỏ Quên – Hồ Đinh

Hồ Đinh
Viết nhớ bạn bè Tiểu Đoàn 1/Trung Đoàn 43/SD18BB – KBC 4424Chúng tôi đang chuẩn bị nhận thêm tiếp tế, thì có lệnh rút gấp về Xuân Lộc, để tăng cường cho chiến trường Bắc Ruộng, thuộc quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy đang bị Việt Cộng cưỡng chiếm. Hôm đó là ngày 20 tháng 12 năm 1965.

Sáu giờ chiều, Tiểu đoàn đã rút ra Liên Tỉnh lộ 4 (Củ Mi-Tân Phong) đợi xe tới rước. Ngồi bên vệ đường, bên trong là rừng cao su ngút ngàn, như muốn nuốt trửng con lộ đất đỏ ngoằn nghèo buồn hiu muôn thuở. Hôm nay sao nó hiền lành quá. Nhưng sự đời dâu biển biết đâu mà mò nên ai biết trong chốc lát, khi đoàn xe chở lính lăn bánh, bao nhiêu bất trắc lại sẽ dồn dập đến, vì du kích ba tỉnh Bình Tuy-Long Khánh-Phước Tuy, rất là thiện nghệ trong việc gài mìn bẫy, đặt hầm chông, bắn sẻ, quăng lựu đạn và ám sát dân lành. Lính đâu có sợ bị phục kích nhưng mười người như một, rất sợ trúng mìn bị thương, phải cưa chân tay hay trở thành phế nhân què, đui, dung nhan hủy hoại. Lúc đó đời trai coi như đã dứt, vì em sẽ giã từ gác trọ, để lên xe hoa với kẻ khác.

Hai tháng qua, ngày đêm lặn lội trong rừng sâu trên mưa nắng, dưới đỉa vắt, rắn mìn chông được gài giăng khắp vùng Xuyên Mộc, Đất Đỏ, Đức Thành. Đôi giày bố và bộ đồ trận, được đổi mới đợt trước trong căn cứ Phú Mỹ, doanh trại của Chiến Đoàn 43BB, cũng đã rách nát bạc màu, thì nay lại có lệnh lội tiếp không có ngày N. Đời lính VNCH trước năm 1975 tàn nhẫn và bi thảm thế đó, nên đôi lúc thoáng nghĩ bâng quơ và nay nhìn lại, thì thật là bất công, thiệt thòi và bị đời hiếp đáp quá đáng.

Rồi càng thấy tức cười hơn, khi nhìn lại những thành phần bệnh hoạn no cơm ấm cật, vô ý thức và chỉ vì muốn phô trương tài năng của mình, mà tận tuyệt chà đạp trên sự khổ đau của lính, những người đã bán mạng mình, để bảo vệ sự sống ký sinh cho họ. Ôi còn mùi gì khiến ta phải nôn mửa hơn, khi khắp nơi trên quê hương máu lửa ngập trời , bao nhiêu nam nữ thanh niên, lần lượt nối tiếp, bỏ trường, bỏ lớp, quên tình yêu và gia đình thi hành bổn phận, tiến ra sa trường hứng đạn lãnh mìn.

Trong lúc đó, lại có một bọn tìm đủ mọi cách để trốn quân dịch ở ngoại quốc hay ngay trong lòng đô thị, không bao giờ biết tới chiến trường, nên không phải đối đầu với sự chết chóc và đui mù hay giả bộ không biết sự tàn bạo dã man, có một không hai của Việt Cộng, tay sai cuả Cọng Sản đệ tam quốc tế. Trong khi bộ đội Bắc Việt hàng hàng lớp lớp tấn công quân dân Miền Nam, thì đám phản chiến, mà hầu hết đều tự xưng là trí thức, khoa bảng nhưng mặt thật chúng chỉ là đệ tử của Che Guevara,The Beatles, Bertrand Russell, Jean Paul Sartre, Herbert Marcuse, liên tục biểu tình đòi hòa hợp hòa giải với giặc.. Nhưng hề hơn hết có lẽ là những thây ma không tim không óc, chẳng khác nào hình nộm, luôn đấm ngực đòi hòa bình hay nằm dài chờ bồ câu trắng hiện ra trong máu lệ. Đã vậy còn la ó , xin xỏ, gào khóc liên hồi đâm sau lưng người lính :

“Hãy ngồi xuống đây
như loài thú hoang
yêu nhau ngoài đồng
dưới nắng ban mai phô thân trần truồng
kiếp sống hoang sơ..”
( Lê Uyên Phương )

Ăn chơi trác táng rồi la ó rên rỉ nhưng nào đã hết đâu, mà còn nữa, còn rất nhiều những đau đớn xót xa, những âm thừa nhức nhối, cứ thản nhiên rõi mãi vào tâm can người lính, khiến nhiều lúc cũng muốn như họ, trốn quân dịch hay mang mặt nạ để nhân danh lãnh tụ, tôn giáo, bịp chúng lánh đời. Sau đó tìm hang ổ rất bình yên ở hậu tuyến để phá hoại chính quyền :

“Giã từ em, anh đi trung sĩ
em ở nhà lấy Mỹ nuôi con
bao giờ hết việc nước non
về nhà đã có Mỹ con anh bồng..”

– ” Tôi có người yêu chết trận Pleime
Tôi có người yêu chết trận Ashau
Tôi có người yêu nằm chết cong queo
Chết vùi lòng đèo, chết cạnh gầm cầu
Chết nghẹn ngào mình không manh áo.

Mẹ mong con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Một ngục tù trên quê hương
Người Việt Nam quên nòi giống ”
( Trịnh Công Sơn )

– “Con về thăm mẹ
tay cầm lưỡi lê
mẹ nhìn ngơ ngác
ngủ đi con, ngủ đi con
rồi ngày mai khôn lớn
giết bạn bè, anh em
bán nước mà làm quan ..”
( Miên Đức Thắng )

Mỗi lời hát là một trái phá, từng ca khúc như một hầm xăng, đốt phá cháy đỏ lòng người yêu nước dữ dội. Rồi sau ngày 30-4-1975 tàn mùa chính chién, lũ Việt gian phản chiến hết thời bị vắt chanh bỏ vỏ, lăn lóc nổi trôi trong biển đời đen bạc, hối hận cũng đã muộn màng :

“Gọi quê hương mà nhớ
Quê hương ? còn có quê hương sao ?
Khi đất nước không còn chiến tranh
Rợ Hồ từ bắc vào nam
Bạn bè trăm đứa, vừa xanh nấm mồ ..”

Vẩn vơ nghĩ bậy, nên xe đã tới Trại Lý Công Uẩn, Tân Phong trên quốc lộ 1 lúc nào không biết. Trời cuối tháng trăng mọc muộn, thêm vào đó lại có mưa phùn gió bấc, nên bốn hướng tối đen mù mịt. Trong khoảnh khắc chết cóng của không gian, chỉ còn có tiếng côn trùng rả rích, một vài con cú tìm mồi, cất giọng kêu than não nuột. Mặc kệ, lính tráng vẫn im lặng ngủ ngồi trên xe chờ sáng. Xa xa từ cõi mịt mờ, bỗng vang vang tiếng chuông nhà thờ, từng hồi văng vẳng, như muốn chiêu hồn những người lính của Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 43.. sắp bước vào cõi mộ địa. Nỗi buồn bất chợt làm hồn hoang xao xuyến, ta đã bỏ trường xưa, lớp cũ, bạn bè và thầy cô thân thương từ bao giờ nhỉ ? Gần quá mà cũng thật xa, không muốn nghĩ mà lòng cứ thổn thức vô vàn. Nhưng tất cả cũng chỉ là định mệnh, giống như những đào kép đang diễn các vở tuồng tự do dân chủ, bảo vệ đạo pháp hay gì gì đó, trên sân khấu đời. Tất cả thật xa hoa thừa thãi, nhất là lúc này lính đang sắp tới một chiến trường khốc liệt, khi trời hừng sáng.

nhungnammotusisudoan18bilangquenoanloc

Những nấm mồ tử sĩ sư đoàn 18 bộ binh bị lãng quên ở An Lộc

Tiểu đoàn lên đường ngay, sau khi đã nhận đủ tiếp tế và đạn dược. Điểm hẹn là Tánh Linh. Cuộc đổ quân coi như an toàn và hoàn tất lúc một giờ trưa ngày 21-12. Hoài Đức và Tánh Linh là hai quận miền núi, nằm về phía tây của tỉnh Bình Tuy, nguyên là phần đất phía nam thuộc phủ Hàm Thuận, huyện Tuy Lý, tỉnh Bình Thuận, được Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cắt để thành lập tỉnh mới vào năm 1957. Vùng này nằm sâu trong thung lũng sông La Ngà, phát nguyên từ cao nguyên Di Linh, chảy suốt vùng, một nhánh đổ vào Biển Lạc dưới chân núi Bảo Đại, nhánh còn lại chảy tới Trị An và nhập vào sông Đồng Nai, ra biển Đông ở Vũng Tàu. Quận Hoài Đức hay Nam Sông có các xã Võ Đắc (Huyện lỵ), Chánh Đức, Võ Xu, Duy Cần và Trà Tân tương đối an ninh. Quận Tánh Linh hay Bắc Sông, gồm các xã Sùng Nhơn, Mê Pu, Nghị Đức, Bắc Ruộng, Huy Khiêm, Tà Pao và Lạc Tánh (Quận lỵ) có nhiều xã xôi đậu, dân chúng gồm người Kinh, Chàm, Thượng ăn ở lẫn lộn, đa số thân hay theo VC.

Ở đây rừng núi chập chùng, đầy rẫy thú dữ, dân quân du kích, cùng với sự hiện diện của Công trường 7 Chính qui Bắc Việt, luôn luôn gây áp lực mạnh, cho các lực lượng quân sự dù các Trung Đoàn 43, 48 và 52 của SD18BB, luân phiên hiện diện trấn giữ và bảo vệ dân chúng trong vùng. Tuy vậy tình hình vẫn không khả quan mấy, vì một số lớn di dân Nam Ngãi, được TT Diệm, giúp từ miền Trung đói nghèo tới đây khai khẩn sinh sống trong cac khu trù mật, sau khi phát tài và đủ lông cánh, đã phản bội Quốc Gia, thân hay theo VC chống lại chính quyền.

Cũng do sự tác tệ này, nên mới có cái gọi là Đồng khởi năm 1959 tại Xã Bắc Ruộng, quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Do quyết tâm cưỡng chiếm cho dược Miền Nam VN bằng võ lực, Hà Nội đã lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cho đám khoa bảng trí thức no cơm ấm cật Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình, Hồ Thu.. làm lãnh tụ bù nhìn. Tại Bình Thuận, ngày 2-9-1959 Sáu Tú nhân danh đảng, tuyên bố thành lập Đơn Vị 2/9 do Phạm Hoài Chương (hiện còn sống mang quân hàm thiếu tướng cọng sản), làm chỉ huy trưởng kiêm chính trị viên. Ngoài ra còn có Nguyễn Hội, nằm vùng trong trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết, từ 1955-1958, là bí thư chi bộ kiêm y tá làm chỉ huy phó, bí thư chi đoàn, phụ trách hậu cần (Nguyễn Hội đã bị DPQ/BT bắn chết tại Đồn Trinh Tường , Phan Thiết ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968). Đơn vị 2/9 lúc đó có 3 tiểu đội, trong số này có một tiểu đội người Thương. Riêng số du kích người Việt, đa số ở Nhơn Thiện trong Mật khu Lê Hồng Phong. Chính đơn vị này đã tham dự trận đánh xã Bắc Ruộng năm 1959, trong chiến dịch Đồng Khởi tại Mỏ Cày (Bến Tre) và Trà Bồng (Quảng Ngãi).

Quận Tánh Linh nghèo nàn xơ xác, từ đầu cổng tới cuối làng đếm được vài trăm nếp nhà, nằm hai bên con đường đất đỏ, từ Ga Suối Kiết vào. Huyện đường xây gạch lợp ngói nhưng lâu ngày hứng chịu nhiều đợt tấn công của quân thù, cộng thêm mưa rừng gió núi, nên tường mái đã loang lổ nhiều vết đạn và đất đỏ. Bên trong có hai dãy nhà lụp sụp, xây cất bằng ván lợp tôle, là nơi cơ quan hành chánh làm việc. Tất cả cũng xiêu vẹo tồi tàn, như chính thân phận nghèo nàn, bất hạnh của dân và lính trong cơn binh lửa. Phố chợ Lạc Tánh nằm kế bên Huyện đường, càng bi đát hơn. Nhiều nhà cửa của dân địa phương bỏ đi lánh nạn cọng sản, đã trở nên hoang phế, tang thương, cỏ lau mọc xum xê, hàng cột cháy đen loang lổ đứng im lìm. Quê hương Việt Nam là thế đó, nơi nào cũng tang tóc hắt hiu, thảm cảnh chiến tranh nồi da xáo thịt, vắt máu đồng bào đem bán cho Nga, Tàu, Mỹ, Nhật, càng nghĩ càng thêm thống hận.

Bốn giờ chiều Tiểu đoàn xuất quân, xe chở lính tới xã Huy Khiêm rồi từ đó lội rừng, tấn công chiếm lại Bắc Ruộng. Hai Tiểu đoàn 2 và 3/43 cũng đã được điều động từ hai hường Võ Xu, Nghi Đức về án ngữ hai mặt tây, bắc. Riêng Đại Đội 43 Thám Kích thì được trực thăng vận, nhảy vào lòng địch. Cuộc hành quân giải tỏa thật qui mô nhưng kết quả rất bấp bênh, vì tánh mạng của đồng bào vô tội, đang bị giặc bắt làm con tin trong xã.

Bắc Ruộng đã hiện ra trong tầm mắt, sau con dốc đất đỏ thoai thoải, cây trái mái tranh chìm ngập trong màn lửa khói mịt mù. Đại đội đi đầu đã bắt đầu chạm địch từ trong Ấp bắn ra. Tiếng súng của hai phía nổ rền trời đất, nào đại liên, M79, súng lớn, súng nhỏ lẫn tiếng bom rơi từ máy bay oanh tạc. Việt Cộng ngụy trang lá cây, chạy có đàn trong các giao thông hào kiên cố . Bên ngoài đồng ruộng bao quanh, lúa đã bắt đầu trổ bông sữa, mùi thơm đưa đẩy trong gió, khiến cho cảnh vật thật là trớ trêu bi thảm, làm cho ai cũng muốn kêu trời, hỏi sao lại gây dựng nên nỗi này?

“kẻ thù của ta, đâu phải là ngươi
giết người đi thì ta ở với ai?
kẻ thù ta tên nó là gian ác
tên nó là vô lương
tên nó là hờn căm
tên nó là hận thù
mang cái rổ danh từ
chia rẽ chúng ta..”
( Phạm Duy)

Lũ gian ác, chia rẽ, vô lương tìm hoài không thấy, chỉ biết giờ này chúng tôi theo lệnh, là phải làm sao cứu cho được đông bào đang bị kẹt giữa hai lằn đạn, cho nên cuối cùng là phải thanh toán gấp mục tiêu và chấp nhận thương vong, vì hỏa lực của giặc rất mạnh. Tuy vậy, tới tám giờ tối, quân ta vẫn không tiến được vào Ấp, dù vòng vây xiết thêm đôi chút. Các đại đội đều lấy bờ đất của vòng đai bên ngoài của Ấp chiến lược và bờ ruộng làm phòng tuyến tránh đạn nằm chờ, vì đêm tối không phân biệt được phương hướng, địch bạn. Ruộng đang trong mùa mưa nên ngập nước, từng đàn đỉa đói đánh hơi người, nên kéo nhau tới xin chút huyết của lính. Trên trời thì muỗi rừng bay dày đặc, vo ve khắp mặt mũi tay chân. Mặc kệ, tất cả đều im lặng rình rập, để dành cái sống đang nằm trong đường tơ kẻ tóc của đạn súng vô tình. Giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt, hỏa châu soi sáng cả bầu trời, súng nổ, đạn réo, người vật, cỏ cây đang sống đọng, bỗng phút chốc trở nên vô tri , dưới sự tàn phá của chiến tranh.

Có làm lính mới thông cảm nổi khó khăn của người lính VNCH, bởi vì ta và giặc Hồ, cùng đều là người Việt Nam, nên dù thế nào chăng nữa vẫn còn một chút tình nòi giống, cho nên nhiều đơn vị đã phải khựng điếng trước nghịch cảnh nồi da xáo thịt. Rốt cục chỉ vì thương hại mà lãnh chịu nhiều thương vong, vì VC là cầm thú không tim óc, nên chúng không bao giờ biết tình cảm, chỉ nghĩ tới làm sao để đạt chiến thắng, bất chấp thủ đoạn, kể cả việc sát hại hay giữ đồng bào làm con tin.

Giờ mới hiểu là tại sao VC và người dân trong vùng bị chiếm, chỉ sợ có các lực lượng Đồng Minh, nhất là quân Đại Hàn. Vì những người này không bao giờ cần phân biệt ai là dân, du kích, chính quy VC, hễ bắn giết họ, thì lập tức bị trả đũa ngay, không một chút nhân nhượng, thương hại. Bi kịch tại Mỹ Lai, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, là một chứng minh. Riêng hai tỉnh Phú Yên và Bình Định khét tiếng của Quân Đoàn 2 vì có nhiều VC, nhưng khi Sư Đoàn Thanh Long và Mãnh Hổ tới trấn đóng tại vùng này, thì VC nhất là du kích, hầu như là rút đi chỗ khác, vì vỏ qúit dầy đã có móng tay nhọn, tàn bạo gặp dã man, cuối cùng giặc phải tháo chạy. Thế là vùng đó được bình an. Ngược lại người lính VNCH, ngoài vấn đề bị khinh ghét ngộ nhận vì VC tuyên truyền chúng ta là lính đánh thuê cho Mỹ, nên dân chúng đã tỏ thái độ thù nghịch rõ rệt, dù thực chất ta tới đây để bảo vệ tài sản và sinh mạng của họ. Cũng đâu có trách được, vì người dân lúc đó đâu có khác gì con sâu cái kiến, nằm giữa dao thớt, nên chỉ biết nghe lời những kẻ có súng đạn trong tay, để giữ lấy mạng. Hành quân đến làng ấp nào cũng vậy, chỉ thấy đàn bà con gái bụng to vì mang thai. Lính tò mò hỏi chồng đâu, thì trả lời là đã đi làm ăn xa. Điều này cho thấy sự hiện hữu thường xuyên của giặc khắp mọi nơi, nhưng vì chế độ của miền Nam qua nhân từ, nên rốt cục thành bất lực không kiểm soát được.

Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa thoát được dãy núi Ông trước mặt, chim chóc bắt đầu rời tổ tìm mồi, thì các cánh quân của Tiểu đoàn 1/43, dưới quyền Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Uý Tôn Thất Trung (Khóa 16 SQ/VBDL, vừa thay thế Cố Thiếu Tá Ngô Văn Diệp, TDT bị phục kích chết tại Trảng Bàng tháng1-1965. Riêng Đại Uý Trung cũng bị trọng thương, gãy hai chân, trong trận TD 1/43 bị Công Trường 7 Chính quy VC tràn ngập vào tháng 7/1966 tại Võ Su, Bình Tuy), cũng tiến được vào Ấp. Lính từng người một cẩn thận, vì chông bẫy, mìn lựu đạn còn gài khắp nơi. Quân tiến theo con đường đá lởm chởm chạy ngang Xã Bắc Ruộng, thấy VC đào rất nhiều hầm hố giao thông hào. Khắp nơi súng vẫn còn nổ và khói lửa thì mịt trời. Đó đậy giặc bỏ lại nhiều xác bộ đội cháy đen, nằm co quắp lẫn lộn với túi gạo, thắt lưng đạn cùng quần áo bừa bãi. Tất cả hiện ra thật là bi đát, khiến cho ai được chứng kiến cũng phải đau xót, phiền muộn. Chiến tranh là vậy đó, chỉ có những người VN thấp cổ bé họng là hứng chịu tang thương, còn xếp chúa hay các lãnh tụ, thì muôn đời rung đùi, đâu có biết tới.

Theo lệnh, Tiểu đoàn 1/43 có trách nhiệm lục soát Thôn 1 và 2, về hướng nam của xã. Trong ánh nắng ban mai rực rỡ, có thể nói Bắc Ruộng đã tan vỡ hoàn toàn. Dưới những mái nhà bị sụp đổ hoàn toàn vì bom dạn, mùi tử khí bốc lên nồng nặc. Trọn một gia đình, mẹ và ba con nhỏ, nằm chết đen queo thê thảm bốn ngày qua. Nói chung khắp nơi, moi tranh hay tôle lên là tìm thấy xác người.. Ruồi nhặng, sâu bọ gặp thời cơ, tha hồ rỉa rói xương thịt vô tri bất đông. Mưa lại lâm râm rơi nhẹ khắp nơi, làm tăng thêm mùi hôi thối , làm cho lính đã mệt mỏi lại càng căng thẳng thần kinh , trước nỗi đau cùng tận của đồng bào. Một tốp con nít, đàn bà xanh mét, hốc hác, từ những căn nhà hai bên đường, túa ra chạy theo lính. Thôn xóm vẫn im lìm trong cảnh tiêu điều, hầm hồ cá nhân đầy mắt đất. Thảm cảnh không cầm nổi nuớc mắt, khi lính phát hiện đuợc đôi vợ chồng già nua, ẩn trú dưới hầm kín mấy này qua, dù cụ bà bị thương nặng ở đầu nhưng không dám kêu cứu, vì sợ VC bắt dẫn theo vào rừng.

Buổi trưa, Tiểu đoàn mới vào Ấp giữa. Đây là khu vực của Trường Sơ Cấp và Nhà thờ Thiên Chúa Giáo Bắc Ruộng. Nhưng tất cả cũng đã sụp đổ hết rồi, chỉ còn trơ lại mấy bức tường cháy và xác người chết nằm la liệt. Giặc Cộng khôn ranh, biết Chính phủ cũng như QLVNCH, không bao giờ dám làm tổn hại tới những cơ sở tôn giáo trang nghiêm như Đình làng, Chùa Miễu và Nhà thờ. Cứ xem thời gian từ 1955-1975 qua sự lên ngôi bạo chúa của bọn kiêu tăng loạn cha, làm vua cả miền Nam thì đủ biết. Bởi vậy, giặc Hồ đã chiếm nhà thờ Bắc Ruộng, để đặt Bộ Chỉ Huy quân sự, cũng như các giàn hỏa tiễn phòng không bắn máy bay. Kết quả cả chúng và các cơ sở đều đã tan nát dưới sự tàn phá của bom đạn vô tình.

Thánh đường giờ mơí im vắng thật sự . Bàn ghế gãy đổ, mái nhà cũng bay mất. Tượng Đức Chúa Jésus ngả nghiêng xiêu vẹo. Đôi cánh thiên thần như chập lại để vượt khỏi tầng mây. Kinh sách, các lọ nước thánh tung toé lăn lóc trên sàn nhà. Nhưng thảm nhất, là phía sau chiếc bệ thờ bằng gỗ, có sáu xác chết đả sình thối. Trong số này có Ngài Cha Xứ Bắc Ruộng, nằm bất động, tay hình như đang còn lần từng hạt chuỗi, để cầu nguyện cho nhân thế, được ơn lành, phước lớn, hòa bình và hoan lạc. Nhìn Ngài nằm chết thê thảm, người lính chiến có tâm hôn chai đá, cũng đã phải gào thét thật to, để hỏi Thượng Đế Chí Tôn, đang ngự trên ngôi cao tận chín tầng mây diễm tuyệt, rằng bao giờ dân tộc Việt Nam, mới được tắm trong bể ánh sáng mà Thiên Chúa hằng rao giảng? Bao giờ trần gian mới được hoan lạc và hòa bình? Bao giờ các nạn nhân chiến cuộc, mới có được những đoá hoa hồng, hoa súng, những điệu nhạc thanh thoát, để thế nhân vượt qua bể khổ trầm luân của biển đời :

“Maria, tâm hồn tôi ớn lạnh
run như run thần tử thấy long nhan
run như run hơi thở chạm tơ vàng
nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến..”
(Hàn Mặc Tử )

Thượng Đế đã thật sự đi rồi, nên không còn ai can ngăn nổi loài người, đâm chém bắn giết lẫn nhau. Chán nản quá, chúng tôi rời nhà thờ, sau khi đem khiêng các xác chết về địa điểm tập trung, trước trường học, để tiếp tục lục soát cho hết khu vực trách nhiệm. Nắng vẫn le lói sáng rực nhưng không khí khắp nơi vẫn ớn lạnh, tiêu điều. Đây là khu nhà hậu của giáo đường, aó quần, cối xay, lúa gạo vẫn còn vương vãi trong ngoài, nhưng người ở đây thì đã chết hết rồi. Kìa là hình ảnh của ba cô giáo làng, khi giặc về không chạy thoát được, nên đã chụm đầu vào chết chung ở nơi này vì các mảnh bom đạn của cả hai phía. Sự chết của ba nàng, quả là tàn nhẫn dữ dội. Aó tím áo xanh trinh nguyên rạng rỡ, chưa được bao nhiêu tuổi đời, đã thành áo quan, ôm ấp hình hài các em nơi núi rừng miên trường thảm tuyệt.

Đúng, phải và rất hay như gã nhạc sĩ họ Trịnh đã hát :

“Tôi có người làm giáo làng
vừa chết tại trận Bắc Ruộng
không hận thù, nằm chết như mơ
từ nay tôi quên tiếng người…”
( Trịnh Công Sơn )

Tới chiều, cuộc lục soát coi như hoàn tất. Tất cả các xác chết của ta, địch và dân chúng đều được gom lại trước sân cỏ Thánh đường. Những người bị thương nặng, được trực thăng chở về Bệnh viện Võ Đắc và Xuân Lộc điều trị, cứu chữa. Các Tiểu đoàn của 43 chia khu vực, để dọn dẹp và giúp dân trong xã dựng tạm lại nhà cửa, khói lửa, hầm hố khắp nơi được dập tắt và lấp kín. Ban Quân Y/Trung Đoàn 43 và Tỉnh Đoàn Bình Định Xây Dựng Nông Thôn Bình Tuy, cũng được điều động khẩn cấp tới Bắc Ruộng, để phát thuốc, chẩn bệnh và cứu trị các nạn nhân chiến cuộc.

Sáng ngày 24-12, công tác coi như phần nào hoàn tất, Trung Đoàn 43 BB được lệnh về Long Khánh, sau khi bàn giao Xã Bắc Ruộng lại cho một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, từ Hàm Tân di chuyển tới. Nhưng người trong Ấp lại ùa theo lính rất đông để xin vào cac trại tị nạn. Chắc họ không còn dám tin ai nữa, kể cả các du kích địa phương, đang lẩn quẩn ẩn trốn ở bìa rừng, chờ Lính Trung Đoàn 43 rút, là mò về tiếp tục khuấy phá người dân khốn khổ. Tại Tánh Linh, trong khi ngồi chờ xe tới rước, nhìn cảnh tượng dân chúng trốn ra được, trước khi Bắc Ruộng bị giặc Cộng cưỡng chiếm, hỏi han tìm kiếm thân nhân lẫn lộn trong đoàn quân, muốn rơi nước mắt. Con ơi, má ơi, em ơi. Tiếng cưòi khóc của đồng bào vang dội như muốn phá vỡ , cái không khí trầm mặc muôn thu của phố núi Lạc Tánh..

Quân đến rồi đi, đêm nay tiểu đoàn được tạm thời nghỉ xã hơi nơi phương phố Xuân Lộc. Tỉnh lẻ miền đất đỏ, đang làm dáng với hoa đèn lộng lẫy. Các xóm đạo Bảo Hòa, Bảo Đinh, Bảo Toàn và khu vực nhà thờ Chính Tòa trước chợ, đầy ắp tín đồ con chiên, mừng vui ngày Chùa Giáng Sinh. Họ đâu có biết, ở một nơi nào đó, cũng tại một thánh đường, có ngài Cha Xứ và ba cô giáo làng, vừa mới rời khỏi trần gian, để giúp cho thế nhân sớm tìm lại được hòa bình và hoan lạc.

Thế rồi đời lính cứ lặng lờ xuôi ngược. chuyện của ngôi thánh đường Bắc Ruộng, có ngài cha xứ và ba cô giáo làng nằm chết, như theo khói lửa chiến tranh và thời gian trôi vào quên lãng. Bởi vì cuộc chiến càng lúc càng ác liệt và hằng ngày đã có không biết bao nhiêu chùa, nhà thờ, các vị chân tu bị giặc Hồ tàn phá và giết chết, trên khắp mọi nẻo đường đất nước.

Năm 1978 sau mưới hai năm xa cách tôi lại về Bắc Ruộng, nơi mà một thời người lính chiến của Trung Đoàn 43 Bộ Binh từng giẫm nát. Nhưng lần này chúng tôi về với thân phận của một tù binh cọng sản để lao tác, chặt rừng, xẻ núi, đào kinh, vét mương và lấp kín các hố bom, hầm đạn của thời nào. Bắc Ruộng vẫn như buổi nao, con đường tỉnh lộ nối xã với Lạc Tánh và Sùng Nhơn vẫn lầy lội và lởm chởm đá. Nhà cửa dân chúng đã xây dựng lại, cây trồng có phần xum xuê hơn trước, vì chiến tranh đã dứt. Người cũ cảnh mới trùng phùng trong ngấn lệ. Nhưng có một điều là dân chúng đã không xây lại ngôi thánh đường cũ, đã bị tàn phá năm 1965. Nền nhà xưa cỏ lau mọc cao hơn đầu, những hàng cột vôi và các bức tường gạch cháy, vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Dãy nhà hậu cũng biến mất, chỉ còn trơ lại cái sân đất trống rỗng đầy cỏ dại, nằm im vắng thẫn thờ trong gió lạnh, nhìn cuộc bể dâu thêm ngao ngán đoạn trường:

“Trấn bắc hành cung cỏ dãi dầu
khách đi qua đó chạnh niềm đau
mấy tòa sen rớt, mùi hương ngự
năm thức mây phong, nếp áo chầu
người xưa cảnh cũ nào đâu tá ?
(Bà Huyện Thanh Quan )

Qua màn lệ mắt của kẻ tù, tôi hình như đã thấy những tà áo tím, áo xanh của các em giáo trẻ năm xưa và màu áo chùng đen của ngài cha xứ. Tất cả như đang lồng lộng trong gió và trên chín tầng mây cao. Người đang đưa tay vẫy gọi và thầm bảo rằng “các con hãy giữ niềm tin và phấn đấu”

Nhưng chao ơi, đợi tới bao giờ?

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Mùa Giáng Sinh 2009
HỒ ĐINH
TD1/TrD43/SD18BB
Kbc 4424

Wednesday, April 28, 2021

 Buổi sáng cuối cùng



Bảo Định


Lúc đó là 1 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975. Rời căn cứ Long Bình, tôi cho đơn vị lui về về hướng Nam sông Đồng Nai. Vượt cầu Ghềnh (Biên Hòa) lúc trời còn mờ mờ tối. Qua khỏi dốc cầu, tôi gặp Bộ Chỉ huy Trung đoàn 43BB của Đại tá Lê Xuân Hiếu đang dừng quân bên lề đường. Đơn vị rẽ trái, bố trí quân dọc theo bờ sông, hướng ra xa lộ. Khi đến xóm Tân Vạn, thấy một ngôi biệt thự nằm giữa khu vườn rộng, chung quanh có bờ đê cao bao bọc, tôi cho dừng quân, dùng nơi đây đặt bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Còn lại Đại đội 2/2, tôi cho lệnh tiếp tục di chuyển. Nhưng đã quá trễ! Đoàn xe tăng của quân CSBV đang rầm rộ qua cầu. Đó là các đơn vị thuộc Quân đoàn 2/CSBV do Thiếu tướng Nguyễn Hữu An chỉ huy. Quân đoàn 4/CSBV của Thiếu tướng Hoàng Cầm bị thiệt hại nặng trong 12 ngày đêm tấn công Xuân Lộc, chưa kịp bổ sung quân số và vũ khí đạn dược. Nhất là Sư đoàn 341 của Đại tá Trần Văn Trấn hầu như bị loại khỏi vòng chiến sau hai đợt tấn công thất bại căn cứ Núi Thị do Tiểu đoàn 2/43 trấn giữ, và mũi tấn công chính vào thị xã Xuân Lộc. Tại đây, hai Trung đoàn 266 và 270 do đích thân Trần Văn Trấn chỉ huy, đã đụng tuyến phòng thủ của các chiến sĩ NQ và ĐPQ của Tiểu khu Long Khánh, hai Tiểu đoàn 1 và 3 của Chiến đoàn 43, và Đại đội 18 Trinh sát. Họa vô đơn chí, chỉ huy sở, hậu cần, và điểm tập kết quân của Sư 341 bị hai trái bom BLU-82 đánh trúng, bị thiệt hại nặng nề. Do đó Quân đoàn 4 của Hoàng Cầm được lệnh làm lực lượng trừ bị cho cánh quân của Tướng Lê Trọng Tấn từ hướng Đông này tiến về Sàigòn.

Tôi lấy làm lạ tại sao cây cầu đã không bị đánh mìn. Chiều hôm qua đến gặp Tư lệnh, tôi được ông báo cho biết tất cả các cây cầu bắt qua sông đều được công binh đặt mìn, và sẽ đánh sập để ngăn chận bước tiến của quân CSBV.

Vài giờ trước đây, khi nhận lệnh đưa đơn vị qua sông, tôi cho di chuyển về hướng cầu. Nhưng đơn vị Dù có nhiệm vụ canh giữ cầu chận lại, không cho qua. Chúng tôi phải di chuyển ngược lên hướng cầu Ghềnh. Rất tiếc phải mất mấy tiếng đồng hồ để đi vòng. Đơn vị canh giữ cầu đã làm lỡ mất cơ hội của chúng tôi. Nếu không phải đi vòng, chúng tôi có thể vào vị trí trước khi đoàn xe tăng quân CSBV đến. Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu mìn nổ sập cầu, hay khi các tay thiện xạ M.72 của đơn vị tôi đã sẵn sàng ?

Một cuộc chạm súng ngắn ngủi. Đoàn xe tăng và xe Molotova chở quân dừng lại một lúc. Chúng không khai triễn đội hình, chỉ bắn trả, rồi lại tiếp tục chạy, hướng về Sàigòn.

Đơn vị chuyển hướng, di chuyển theo đội hình hàng dọc, chậm chạp trên QL.1, trực chỉ Thủ Đức. Đoạn QL.1 từ cầu mới Biên Hòa đến núi Châu Thới vừa được mở rộng. Nhưng buổi sáng hôm đó, mọi người phải chen chân. Lòng đường đông nghẹt xe cộ đủ loại. Xe đạp, xe gắn máy và người đi bộ tràn lên lề đường. Xe nhà binh, xe đò, xe lam ba bánh chen lẫn với xe trâu, xe bò và xe ngựa. Người đi bộ hối hả, đi như chạy, với những gồng gánh cồng kềnh. Có những bà mẹ gánh con ở hai đầu. Tất cả tìm cách chạy càng xa VC càng tốt. Trong đám người chạy loạn, có những quân nhân tự ý rời bỏ đơn vị, chân không dày, quân phục lôi thôi lếch thếch. Có anh chỉ mang áo, bận quần cụt, có anh vẫn mang quần trận, nhưng mặt áo thun, nét mặt của họ trông thật thiểu não! Chiếc xe jeep duy nhất còn lại của Tiểu đoàn sau trận chiến Xuân Lộc chở BCH/TĐ trôi theo giòng người di tản. Qua khỏi núi Châu Thới, Tiểu đoàn phó không có trong đoàn quân, tôi tạm giao quyền chỉ huy cho một trong những vị sĩ quan cao cấp nhất, Đại úy Võ Văn Mười (vừa mới thăng cấp sau chiến thắng Xuân Lộc), Đại đội trưởng ĐĐ2/2. Tôi bảo tài xế cố vượt nhanh đi Thủ đức gặp Tiền trạm Tiểu đoàn, đồng thời thám sát địa thế để bố trí quân. Từ buổi chiều ngày hôm trước, hậu cứ của tất cả các đơn vị thuộc Sư đoàn đều được lệnh di chuyển về khu vực nhà máy lọc nước Thủ Đức. Xe đến ngả tư, rẽ trái hướng ra Đường Sơn Quán. Dân chạy loạn từ ngả tư xa lộ, từng đoàn hối hả chạy vào. Vài người dân cản đầu xe:

- Thiếu tá không thể đi, xe tăng VC đã qua khỏi ngả tư xa lộ.

- Nhưng chúng tôi chỉ đến nhà máy lọc nước.

- Toàn khu vực đều xuất hiện VC.

Tôi cho quay đầu xe, định trở lui hướng núi Châu Thới để cùng đi với đoàn quân. Nhưng đoàn người di tản như giòng nước lũ, cuồn cuộn chảy. Xe chúng tôi không thể lội ngược giòng nước lũ. Và cứ thế trôi theo giòng người. Khi đến Bình Triệu, giòng người bị chận lại. Máy truyền tin không liên lạc được. Giòng người đến cầu Sơn mỗi lúc một đông. Lớp sau dồn lớp trước. Những con ngựa kẽm gai chận ngang cầu không đủ sức ngăn chận giòng người. Viên Thiếu tá trách nhiệm giữ cầu bắn chỉ thiên mấy tràng súng M.16 cảnh cáo. Nhưng giòng người đùn đẩy nhau, có người leo qua ngựa kẽm, vài người cùng nhau đẩy dạt qua một bên, và cuối cùng giòng người cuồng cuộng đã khai thông được giòng chảy. Bên trái chân cầu có bãi đất trống, một pháo đội 105 ly của Sư đoàn 18BB đang gióng súng, nòng hướng về ngã tư xa lộ Thủ Đức. Tôi thấy Đại tá Ngô Kỳ Dũng cùng với vị Tiểu đoàn trưởng Pháo đang bận rộn. Giòng người chạy loạn tràn qua cầu, tuôn ra nhiều hướng. Tôi cho xe chạy về hướng đường Bạch Đằng, qua chợ Bà Chiểu, ngược lên Đại lộ Chi Lăng, ghé nhà người chú trong cư xá Thái lập Thành, gần ngả tư Phú Nhuận để hỏi thăm tin tức gia đình. Người chú cho biết quân Dù đang đánh nhau với VC tại ngả tư Bảy Hiền, tại ngả ba Bà Quẹo. Từ mấy ngày nay không có tin tức gì của gia đình tôi. Ở trên đó (Hóc Môn) đang đánh nhau. Đường vào cư xá có nhiều người chết do đạn pháo kích của VC. Phố xá đóng cửa, người dân hốt hoảng.

Xe hướng ra ngả tư Phú Nhuận, chạy trên đường Võ Di Nguy. Con đường tấp nập mọi ngày, với những cửa hàng và khu chợ náo nhiệt, hôm nay trông thật tang thương. Mọi người hối hả, nguời đi lên, kẻ đi xuống, những khuôn mặt âu lo hiện rõ nét. Tôi cho xe xuôi về hướng cầu Kiệu, đến Đa Kao. Tôi đến đầu cầu Phan Thanh Giản. Nhiều quân cảnh gác không cho ai qua cầu. Thấy một vị Đại tá thuộc Biệt Khu Thủ Đô, tôi đến hỏi thăm tình hình ở Thủ Đức. Đang đứng xớ rớ thì Trung úy Tùy viên của Đại tá Mai, Tư lệnh phó SĐ đến gặp, và cho biết có lệnh Sư đoàn 18 tập trung tại sân Cộng Hòa.

Đến khu vực gần sân Cộng Hòa, tôi đã thấy khá đông các đơn vị của SĐ18, phần lớn là các đơn vị kỹ thuật và Pháo binh. Thấy tôi, Thiếu tá Sáng, Tiểu đoàn phó TĐ181/PB đưa chiếc radio transitor đang phát ra lời kêu gọi của Tổng Thống Dương Văn Minh cho tôi nghe. Đó là lời kêu gọi các đơn vị đâu ở đó, ngừng chiến đấu, đợi chờ “người anh em” phía bên kia vào để bàn giao! Người tôi như hụt hẫng. Sau đó đài phát thanh Sàigòn liên tục phát đi lời kêu gọi của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Quyền Tổng Tham Mưu BTTM/QLVNCH (đã bị VC móc nối từ trước). Buổi tối ngày hôm trước, Trung tướng Vĩnh Lộc vừa được Tổng Thống Minh chỉ định giữ chức TTMT (vị trí bị bỏ trống khi Đại tướng Cao Văn Viên rời bỏ, rồi Trung tướng Đồng Văn Khuyên tạm quyền, nhưng Tướng Khuyên cũng ra đi), ông tuyên bố trên đài phát thanh Sàigòn và Quân đội rằng những kẻ bỏ nước ra đi như những con chuột nhắc! Nhưng ngay sau khi khi được nói vài lời tâm huyết đó, ông Tướng cũng làm chuột nhắc luôn.

Xe tăng quân CSBV tiến vào Dinh Độc Lập lối 10 giờ sáng. Tên Đại đội trưởng xe tăng Bùi Quang Thận vội vàng cho xe húc đổ cánh cửa (mặc dầu cửa đã được mở sẵn do lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh để chuẩn bị đón tiếp người “anh em phía bên kia” đến bàn giao chính quyền - Hồi ký của Lý Quý Chung). Đúng 10 giờ 30 sáng, lá cờ máu của Cộng sản bắt đầu rụt rè phất phới nhẹ trên nóc Dinh Độc Lập. Biểu tượng của uy quyền Quốc gia không còn nữa. Sàigòn thật sự đã thay ngôi đổi chủ.

Sau lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, quân nhân và cảnh sát tuân lệnh, vất súng, trút bỏ quân phục và cảnh phục trở về nhà. Nhưng Trung tá Cảnh sát Nguyễn Văn Long vẫn tươm tất trong bộ cảnh phục. Ông đến công viên trước Tòa nhà Quốc Hội (Hạ viện), đến chân bức tượng hai người lính TQLC, trầm ngâm suy nghĩ. Bỗng ông đến sát tượng đài, đứng thẳng, ngẩng mặt, nói những lời cuối cùng ( trước sự chứng kiến của một ký giả ngoại quốc): “C’est fini! C’est fini!” rồi kê súng lục vào thái dương, bóp cò. Thân thể của ông ngã xuống dưới chân tượng hai người lính TQLC.

Tại bệnh viện Đồn Đất, người dân Sàigòn vẫn quen gọi là Bệnh viện Grall, Tướng Phạm Văn Phú, Khóa 6 Trường Võ bị Quốc gia Đàlạt, Tư lệnh Quân đoàn II, đang nằm dưỡng bệnh, đã uống độc dược tự vận khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Năm 1954, ngày 7 tháng 5 tại Điện Biên Phủ, ông là vị Đại đội trưởng Nhảy Dù Việt Nam duy nhất, chiến đấu trong hàng ngũ quân đội Liên Hiệp Pháp, được thăng cấp Đại úy tại mặt trận. Tinh thần chiến đấu dũng cảm, nghệ thuật chỉ huy tài ba của ông được các sĩ quan Pháp nể phục. Khi Điện Biên Phủ thất thủ, cùng với lối 10 ngàn tù binh quân đội Liên Hiệp Pháp, ông bị Việt Minh bắt giam, và được trao trả theo Hiệp định Genève.

Tại BTL/SĐ5BB ở Lai Khê, sau bửa cơm chung với Bộ Tham Mưu Sư đoàn, Tướng Lê Nguyên Vỹ, Khóa 2 Trường Võ bị Địa phương Huế, còn gọi là Trường Sĩ quan Đập Đá (Trường tọa lạc gần Đập Đá, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu theo học khóa 1), cho lệnh Sư đoàn lui về căn cứ Phú Lợi, ông trở về phòng riêng, rút khẩu súng ngắn bắn vào đầu tự tử. Thi thể được an táng trong rừng cao su gần doanh trại BTL, rồi được cải táng về Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Năm 1987, hài cốt được thân mẫu hỏa thiêu và đem về thờ ở từ đường họ Lê tại nguyên quán tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt.

Có nguồn tin, ông được dân làng tôn vinh là vị Thần làng.

Tại văn phòng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 7BB ở Mỹ Tho, chiều ngày 30 tháng Tư, sau lệnh đầu hàng vô điều kiện của Tổng Thống Dương Văn Minh, Chuẩn tướng Trần Văn Hai, tốt nghiệp trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, cho phép quân sĩ buông súng để trở về với gia đình. Ông gọi vị sĩ quan tùy viên trao một gói nhỏ gồm vật dụng cá nhân và tiền lương hai tháng Chuẩn tướng là $70,000, nhờ trao lại cho người Mẹ già ở Gò Vấp, sau đó ông dùng độc dược quyên sinh.

Tại Cần Thơ, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Khóa 5 (Vì Dân) Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, TLP Quân đoàn IV, người hùng tử thủ An Lộc, khi ông là Tư lệnh Sư đoàn 5BB đã anh dũng chống trả hơn 40 ngàn quân CSBV điên cuồng tấn công. Cuộc đời binh nghiệp của Tướng Hưng đi từ chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng cho đến Tư lệnh Sư đoàn rồi TLP Quân đoàn. Sau khi nói lời từ giả gia đình, ông bắt tay từ biệt từng người một trong toán binh sĩ bảo vệ, rồi ông vào phòng đóng cửa lại, rút súng lục bắn vào tim. Lúc đó là 20 giờ 45.

Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Khóa 3 Sĩ quan Trừ bị Thủ đức. Ông xuất thân từ một trong những danh gia vọng tộc của đất Thần kinh. Theo vài người biết chuyện, Ông từng có người yêu là một người đẹp của miền sông Hương núi Ngự. Nhưng người đẹp sang Pháp và lấy chồng là Bác sĩ ở bên ấy. Từ đó, ông đã tỏ ra thờ ơ với phái nữ. Vào những ngày cuối của cuộc chiến, Tướng Nam định cho lập cứ điểm tử thủ tại Cần Thơ, dự trù cho BTTM và các đơn vị chuyển về. Nhưng trưa ngày 30 tháng Tư, vào lúc 10 giờ 30, Tổng Thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. kế hoạch của Tướng Nam không thành. Khi được tin Tướng Hưng dùng súng tự sát, Tướng Nam vẫn rất bình tỉnh. Ông lui về trong phòng, mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ Phật. Trước lúc tự kết liễu đời mình bằng khẩu súng ngắn, ông thay bộ lễ phục màu trắng của QLVNCH một cách tề chỉnh, xong lấy 3 cây hương đốt lên, vái 3 vái rồi cắm vào lư, xong gõ 3 tiếng chuông, rồi lại vái 3 vái. Ông bình tỉnh trở lại ghế ngồi. Một tiếng súng nổ, viên đạn xuyên qua màng tang. Lúc đó là 7 giờ 30 sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975.

Tại một bùng binh gần sân vận động Cộng Hòa, một toán quân Nhảy Dù lối một trung đội, đang quây quần chung quanh một sĩ quan, có lẽ là cấp chỉ huy của họ. Họ bỏ súng xuống chân, cùng nhau vỗ tay hát những bản hùng ca. Rồi những tiếng nổ lựu đạn đồng loạt. Những tiếng hô “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm” vang động. Những thây người ngã xuống. Đó là những hành động anh hùng của các thiên thần mũ đỏ mà tôi được chứng kiến tận mắt.

Tôi không có được cái hào khí đó của những người lính thiên thần mũ đỏ, cũng không có được cái dũng của các vị Tướng khả kính “Thà chết vinh hơn sống nhục”, để rồi phải sống nhục trong “Thiên đường cộng sản” trong gần hai mươi năm, rồi sống cuộc đời lưu vong tỵ nạn, xa quê hương không biết cho đến bao giờ ?

Lúc ở nơi trận tiền, kề từ ngày ra trường cuối năm 1962 với cấp bậc Chuẩn úy Trung đội trưởng, đến khi mang cấp Thiếu tá làm Tiểu đoàn trưởng, luôn luôn tôi vẫn ở tuyến đầu cùng binh sĩ xung phong diệt giặc. Đã nhiều lần bị thương, đã từng “chống nạn cày bừa” mấy tháng. Những lúc đụng trận, tôi vẫn ở tuyến đầu cùng binh sĩ xung phong chiếm mục tiêu. Ai cũng sợ chết. Nhưng những lúc như vậy, vì đồng đội, vì danh dự của cấp chỉ huy, tôi đã xem cái chết “nhẹ tựa lông hồng !”

Tôi đã trải qua một ngày dài nhất với nhiều nỗi u uất trong lòng. Tôi trở lại nhà ở ngả tư Trung Chánh, Hốc Môn. Lúc đi ngang nhà của người thầu khoán gốc Quảng Nam, bây giờ thuộc loại “Cách mạng 30”, thấy tôi thất thểu từ đầu đường đi vào, với vẻ mặt đắc thắng, ông ta hỏi khiêu khích:
“Xe của Thiếu tá đâu ?”

Tôi chỉ mĩm cười im lặng bước vào nhà. Nắng chiều sắp tắt. Đời tôi thì đã tắt kể từ lúc 10 giờ 30 sáng, khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. VNCH không còn. QLVNCH không còn. Tự Do và Dân Chủ bây giờ chỉ là giấc mơ! Đó là buổi sáng cuối cùng tôi sống một kiếp người tự do. Sau đó là bóng tối. Bóng tối triền miên. Đã hơn nửa đời người đi qua (nếu cuộc đời là 60 năm!), bóng tối vẫn bao trùm khắp trời Nam.



Michigan, Quốc hận lần thứ 37.
Bảo Định