Showing posts with label khủng hoảng dầu hỏa năm 1973. Show all posts
Showing posts with label khủng hoảng dầu hỏa năm 1973. Show all posts

Saturday, December 26, 2020

 Mỹ giúp Israel trong chiến tranh Yom Kippur 1973 giữa Israel và khối Á rập.

. . .
"Israel, cũng như Mỹ và phần lớn thế giới, đã bị bất ngờ vào ngày 6/10/73 khi Ai cập và Syria lần lượt tấn công Israel từ bán đảo Sinai và Cao nguyên Golan. LX đã giúp Ai cập và Syria hơn 600 phi đạn đất đối không tối tân, 300 máy bay MiG-21, 1.200 tăng, và hàng trăm ngàn tấn chiến cụ. Thấy tình hình nguy ngập của Israel, Henry Kissinger, bộ trưởng NG kiêm cố vấn về ANQG của TT và TT Nixon sắp xếp để hãng hàng không El Al nhận một số chiến cụ, gồm đạn dược, "sản phẩm kỹ thuật cao" và phi đạn AIM-9 Sidewinder ở một cc hải quân ở Virginia. Một cố gắng khiêm nhường sắp bắt đầu, nhưng Kissinger vẫn hy vọng giữ sự dính líu này ở mức tối thiểu. Ngày 8/10, TT Israel Golda Meir cho phép ráp ba mươi đầu đạn hạt nhân 20-kiloton cho phi đạn Jerricho và F-4, đang chuẩn bị tấn công mục tiêu Syria và Ai cập. Kissinger biết điều này sáng 9/10. Cùng nay, bà Meir phát đi lời kêu gọi cá nhân để trợ giúp quân sự, nhưng các nước Âu châu từ chối. Tuy nhiên Nixon, ra lịnh bắt đầu chiến dịch Nickel Grass, để thay thế tất cả những tổn thất của Israel. Có tin đồn Kissinger nói với TT Ai cập rằng Mỹ phải giúp Israel vì nước này sắp phát động "chiến tranh nguyên tử". Tuy nhiên, những phỏng vấn sau này với Kissinger, James Schlesinger, và William Quandt cho thấy viễn ảnh chiến tranh hạt nhân ko phải một yếu tố chính trong quyết định tiếp tế cho Israel. Họ cho biết sự tiếp tế của LX cho khối Á rập và từ chối ngưng bắn của TT Ai cập là nguyên nhân của chiến dịch này.
Vào ngày 12/12, Nixon quyết định ko thể trì hoản nửa, và ra lịnh không quân sẽ 'gửi những gì mà họ chở được'. Trong vòng 9 giờ, các máy bay C-141 và C-5 lên đường tới Israel.
Các nước Âu châu hầu như ko muốn máy bay Mỹ ghé qua, trừ Bồ đào nha - cho phép Mỹ dùng sân bay Lajes trên đảo Azores. Các máy bay C-135 của KQ chiến lược Mỹ rời căn cứ Pease, bang New Hampshire đêm 13/10; các máy bay này (chỡ các máy bay A-4 Skyhawk và F-4 Phantom mới xuất xưởng) đã bay ko nghỉ từ nhà máy ở St Louis, Missouri tới phi cảng Ben Gurion của Israel. Để tuân thủ các yêu cầu của các nước Âu châu khác, hàng tiếp liệu của Mỹ có sẵn ở Âu châu đc chuyển tới sân bay Lajes của BDN, và chẳng bao lâu mỗi ngày hơn 30 máy bay di chuyển qua Lajes.
. . .
Từ sân bay Lajes , máy bay phải bay ở giữa Địa trung hải để tới Israel. Các chiến đấu cơ của hạm đội 6 hộ tống chúng tới cách Isreal 240 km, sau đó máy bay Israel hộ tống tới sân bay Ben Gurion. Chiếc C-5 A Galaxy đầu tiên tới sân bay Lod của Israel lúc 18.30 giờ địa phương ngày 14.10.73. Cùng ngày trận Sinai kết thúc với thắng lợi của Israel. Một mũi tấn công lớn của Ai cập đã ngưng lại do nhiều tăng bị hủy diệt, và Israel giờ đang thắng cuộc chiến này.
Trong những ngày đầu của cuộc chiến Yom Kippur, một số đáng kể máy bay Israel bị hủy diệt vì hỏa tiển đối không SA-6 của LX. Do đó ít nhứt 100 F- 4 Phantom đc gửi tới Israel. Chúng bay tới sân bay Lod, nơi mà chúng đc giao lại cho phi công Israel. Sau khi gở huy hiệu của KQ Mỹ và thay bằng của Israel, máy bay đc tiếp xăng và ra ngay mặt trận, thường chỉ vài giờ sau khi đến Israel. Một số chiếc còn màu ngụy trang của KQ Mỹ, trừ huy hiệu của Israel. 9 ngày sau khi bị tấn công, Israel đã phản công. 36 máy bay A-4 Skyhawk, xuất phát từ Lajes đã đc tiếp dầu bởi các KC-135A của KQ chiến lược của cc không quân Pease, New Hampshire và máy bay tiếp dầu từ mẫu hạm John F. Kennedy ở tây Eo biển Gibratar. Họ tiếp tục bay tới mẫu hạm Franklin D. Roosevelt ở tây nam đảo Sicily nơi họ ở qua đêm, sau đi tiếp tới Israel sau khi tiếp dầu bởi máy bay của mẫu hạm Independence ở nam đảo Crete. 12 máy bay C-130 E Hercules cũng được chuyển tới Israel, đầu tiên của loại máy bay này giao cho KQ Israe.
Khi nghị quyết ngưng bắn lần thứ ba cuối cùng đc thực thi ngày 24/10, cuộc không vận lập tức chậm lại. Thêm một số chuyến bay đc thực hiện để giúp Israel có đc sức mạnh trước cuộc chiến, và chiến dịch chấm dứt ngày 14/11, đã chở 22.325 tấn chiến cụ tới Israel. Ngoài ra, Mỹ đã chở 33.210 tấn bằng đường biển. Cùng lúc đó, LX đã không vận 12.500-15.000 tấn tiếp liệu, hơn phân nửa tới Syria; họ cũng gửi 63.000 tấn khác bằng đường biển.
Trong chiến dịch này, C-5 đã chở 48/100 tổng số hàng hóa trong 145 chuyến bay trên 567 chuyến. C-5 có thể chở tăng M-60, đại bác M-109, hệ thống ra đa mặt đất, trực thăng CH-53 Sea Stallion, và máy bay A-4 Skyhawk.
Chủ tịch bộ tham mưu liên quân (JCS), tướng George Brown bị buộc từ chức vì đã nói rằng Israel nhận quân viện vì dân Israel kiểm soát hệ thống ngân hàng".
Hình 1-3: máy bay C-5 chở một chiếc C-130 đã tháo cánh. H4: thực thăng CH-53, và H5: tăng M-60.

Friday, December 25, 2020

HÀNH QUÂN NICKEL GLASS 

Vào ngày 12/12, Nixon quyết định ko thể trì hoản nửa, và ra lịnh không quân sẽ 'gửi những gì mà họ chở được'. Trong vòng 9 giờ, các máy bay C-141 và C-5 lên đường tới Israel.

Các nước Âu châu hầu như ko muốn máy bay Mỹ ghé qua, trừ Bồ đào nha - cho phép Mỹ dùng sân bay Lajes trên đảo Azores. Các máy bay C-135 của KQ chiến lược Mỹ rời căn cứ Pease, bang New Hampshire đêm 13/10; các máy bay này (chỡ các máy bay A-4 Skyhawk và F-4 Phantom mới xuất xưởng) đã bay ko nghỉ từ nhà máy ở St Louis, Missouri tới phi cảng Ben Gurion của Israel. Để tuân thủ các yêu cầu của các nước Âu châu khác, hàng tiếp liệu của Mỹ có sẵn ở Âu châu đc chuyển tới sân bay Lajes của BDN, và chẳng bao lâu mỗi ngày hơn 30 máy bay di chuyển qua Lajes.
. . .
Từ đảo Azores của BDN tới Israel, máy bay phải bay ở giữa Địa trung hải để tới Israel. Các chiến đấu cơ của hạm đội 6 hộ tống chúng tới cách Isreal 240 km, sau đó máy bay Israel hộ tống tới sân bay Ben Gurion. Chiếc C-5 A Galaxy đầu tiên tới sân bay Lod lúc 18.30 giờ địa phương ngày 14.10.73. Cùng ngày trận Sinai kết thúc với thắng lợi của Israel.. .
Trong những ngày đầu của cuộc chiến Yom Kippur, một số đáng kể máy bay Israel bị hủy diệt vì hỏa tiển đối không SA-6 của LX. Do đó ít nhứt 100 F-4 Phantom đc gửi tới Israel. Chúng bay tới sân bay Lod, nơi mà chúng đc giao lại cho phi công Israel. Sau khi gở huy hiệu của kq Mỹ và thay bằng của Israel, máy bay đc tiếp xăng và ra ngay mặt trận, thường chỉ vài giờ sau khi đến Israel. Một số chiếc còn màu ngụy trang của kq Mỹ, trừ huy hiệu của Israel. 9 ngày sau khi bị tấn công, Israel đã phản công.
còn tiếp
Operation
Initially, only the Israeli national airline, El Al, provided transport, and supplies began to arrive in Israel on 10 October, the same day the first Soviet resupply by air arrived in Damascus. Nonetheless, it was soon clear that El Al's limited supply of ill-configured passenger aircraft were insufficient//. Still wanting to avoid direct US involvement, starting 10 October, the use of commercial carriers was explored to provide 10–20 flights a day.[3]:112 None of these were willing to accept the job for fear of being refused entry to Arab nations after the war.[1][9] On 12 October, Nixon decided that no more delays could be allowed, and ordered the air force to "send everything that can fly."// Within nine hours, C-141s and C-5s were en route to Israel.[1] The political maneuvering was not immediately solved by the air force's participation however: traditional European allies refused to allow re-supply aircraft to land for refueling or even overfly their territory. Portugal seemed willing to help though, so aircraft were dispatched to Lajes Field in the Azores Islands/// After a few hours in the air, word came through that Portugal would permit them to land, and Lajes became a key staging point for the rest of the airlift. Strategic Air Command (SAC) KC-135As were the first to arrive at Lajes Air Base/// . The Stratotankers had left Pease AFB, New Hampshire, the night of Saturday, 13 October (one of the bases El Al was using to re-supply the war effort); the tankers were ferrying factory-fresh Douglas A-4 Skyhawk and McDonnell Douglas F-4 Phantom II aircraft flying non-stop from the factory in St. Louis, Missouri to Ben Gurion Airport. To comply with the demands of other European nations, even U.S. supplies already stationed in Europe were routed through Lajes, and soon over thirty aircraft per day were moving through Lajes. To accommodate this, the base grew to house an extra 1,300 people who were billeted in improvised housing and hastily reactivated World War II barracks, rooms that would normally accommodate one or two enlisted men were expanded to four (2 bunk-beds).[10]
Between Portugal and Israel, the aircraft had to follow an extremely precise route. Flying exactly along the airspace border between hostile Arab nations to the south and European nations to the north, the transport craft flew down the middle of the Mediterranean Sea to Israel.[1] Fighter escort was deemed necessary for this leg of the journey, so American fighters from the U.S. 6th Fleet escorted the transports to within 150 miles (240 km) of Israel, where Israeli Air Force Phantoms and Mirages escorted them into Ben Gurion Airport. Along the Mediterranean route, American ships were stationed every 300 miles (480 km), and an aircraft carrier every 600 miles (970 km). These precautions appeared justified when unidentified Arab fighters made threats over the radio, but no conflict ensued. Upon arrival, the transports were unloaded by U.S. and Israeli servicemen before they returned home and supplies were expedited to the front where they arrived within a few hours. The first C-5A Galaxy transport airplane arrived at Lod airport at 18:30 local time on 14 October.[3]:114 That same day the Battle of the Sinai had concluded in Israel's favor. A major Egyptian thrust had been stopped with the destruction of many attacking tanks, and Israel was now winning the war.[2]:87–88
An A-4E landing on USS Franklin D. Roosevelt in October 1973.
Airlifted supplies were not all that was delivered under Nickel Grass. In the opening days of the war, Arab forces destroyed significant numbers of Israeli Air Force aircraft, surprising the Israelis with aggressive use of the new Soviet SA-6 Gainful surface-to-air missile.[11] Consequently, at least 100 F-4 Phantom II fighters were sent to Israel under Nickel Grass,[12] coming from the 4th Tactical Fighter Wing, the 33d Tactical Fighter Wing and the 57th Fighter Weapons Wing.[13] They were flown to Lod, where American pilots were swapped for their Israeli counterparts. After the replacement of USAF insignia with IAF insignia if needed, the planes were refueled and ordered to the front, often taking to the air within hours of having arrived. Some aircraft came directly from the USAFE fleet and operated in USAF camouflage,[7] but with Israeli insignia, thus earning the Israeli nickname "Frog". Nine days after the initial attack, Israel launched counterattacks. Thirty-six A-4 Skyhawks from U.S. stocks, staging from Lajes were refueled by SAC KC-135A tankers from Pease Air Force Base, New Hampshire and U.S. Navy tankers from the USS John F. Kennedy (CVA-67) west of the Strait of Gibraltar. They then flew on to the USS Franklin D. Roosevelt (CVA-42) southeast of Sicily where they stayed overnight, then continued on to Israel refueling once more from tankers launched from the USS Independence (CVA-62) south of Crete.[14] Twelve C-130E Hercules transports were also transferred to Israel, the first of the type to be delivered to the IDF/AF.[15]
When the third cease-fire resolution was finally implemented on October 24, the airlift immediately slowed. Further flights were made to rebuild Israeli forces to their pre-war strength, and Operation Nickel Grass was ended on 14 November. In the end, the military airlift shipped 22,325 tons of materiel to Israel. Additionally, the United States conducted its own seaborne re-supply operation, delivering 33,210 tons to Israel by 30 October.[16] During the same general time, the Soviets airlifted 12,500–15,000 tons of supplies, more than half of which went to Syria; they also supplied another 63,000 tons mainly to Syria by means of a sealift.[16][17]

KHỦNG HOẢNG DẦU HỎA NĂM 1973 

Đọc bài này để thấy , để cứu Do Thái (Israel) khỏi bị tiêu diệt bởi Khối Á Rập trong các năm 1973-74, Mỹ buộc phải hy sinh VN.

"Tháng Giêng 1973 - Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán 1973-74 bắt đầu như là kết quả của áp lực lạm phát và hệ thống tiền tệ sụp đổ.
- Tháng 8/73 - để chuẩn bị cho cuộc chiến Yom Kippur, vua Faisal của Á-rập Sau-đi và TT Ai Cập Anwar Sadat gặp nhau và thương lượng bí mật v/v các nước Á rập sẽ dùng 'vũ khí dầu hỏa' như một phần của xung đột quân sự.
Ngày 6/10 - Ai cập và Syria tấn công nhiều vị trí Do thái vào ngày lễ Yom Kippur, bắt đầu cuộc chiến Á rập - Do thái 1973.
Đêm 8/10 - Do thái báo động chiến tranh hạt nhân toàn diện. Kissinger đc báo về điều này sáng 9/10. Mỹ bắt đầu tái tiếp tế cho Do thái.
8-10/10 - Các cuộc thương lượng của OPEC (các nước sx dầu hỏa) với các cty dầu hỏa lớn - để xét lại thỏa thuận 1971 tại Tehran về giá dầu - bị thất bại.
Ngày 12/10 - Mỹ bắt đầu Chiến dịch Nickel Grass, một cầu không vận chiến lược để cung cấp vũ khí thay thế và tiếp liệu cho Do thái. LX cũng làm như vậy để giúp phe Á rập.
Ngày 16/10 - Á rập Sau đi, Iran, Iraq, Abu Dhani, Kuwait và Quatar tăng giá dầu thêm 17/100 thành $3.65 mỗi thùng và thông báo cắt giảm sản xuất.
Ngày 17/10 - các nước OPEC thỏa thuận dùng dầu để tác động đến sự giúp đở của phương Tây với Do thái. Họ khuyến cáo một cấm vận đối với các nước không tuân thủ và cam kết giảm xuất khẩu dầu.
Ngày 19/10 - Nixon yêu cầu Quốc hội CHUẨN CHI HAI TỈ ĐÔ
(bằng 11,510,728.910 đô năm 2019) để giúp đở khẩn cấp cho Do thái, đã gây một phản ứng tập thể của các nước Á rập. Libya lập tức tuyên bố cấm vận xuất khẩu dầu tới Mỹ. Á rập Sau đi và những nước Á rập sx dầu theo sau ngày kế.
26/10 - Trận chiến Yom Kippur chấm dứt.
5/11 - Các nước Á rập sx dầu tuyên bố giảm 25/100 sản lượng. Dọa cắt thêm 5/100.
23/11 - Cuộc cấp vận dầu mở rộng tới Bồ Đào Nha, Rhodesia và Nam Phi. (Lúc đầu chỉ có Canada, Japan, Hòa Lan, Anh và Mỹ . Tính tới khi cấm vận chấm dứt tháng 3/74, giá dầu tăng gần 400/100, từ 3 đô/thùng lên gần 12 đô toàn cầu; giá tại mỹ cao hơn - Tài)
27/11 - Nixon ký luật cho phép CP kiểm soát giá cả, sản xuất, phân phối , tiếp thị dầu hỏa.
9/12 - Các nước Á rập sx dầu đồng ý cắt giảm thêm 5/100 đối với các nước ko thân thiện vào tháng giêng 1974.
NGÀY 25/THÁNG 12 - Phe Á rập hủy bỏ việc cắt giảm vừa kể. BT dầu hỏa Ahmed Zaki Yamani của Á rập Sau đi hứa hẹn gia tăng 10/100 của sản lượng dầu của cả khối.
7-9/1/1974 - Các nước OPEC quyết định giữ giá dầu tới 1/4/74.
18/1/74 - Do thái tuyên bố rút quân về bờ đông của Kinh Suez.
Ngày 12-14/1/ - Tiến bộ trong hòa đàm giữa Á rập - Do thái đã khiến các nước như Algeria, Ai cập, Syria và Sau đi thảo luận về chiến lược dầu hỏa.
Ngày 5/3 - Do thái rút những đv cuối cùng khỏi bờ tây của Kinh Suez.
17-3 - Các nước Á rập, trừ Lybia, tuyên bố chấm dứt cấm vận.
Ngày 31/5 - Chính sách của Kissinger tạo ra hòa bình trên mặt trận Syria.
Tháng 12/1974 - Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán chấm dứt".
Hình : Đại bác 155 ly tự hành M-60 của Mỹ đc gửi tới Do Thái trong năm 73.
Một nhận xét nhỏ: năm 1973, tại SG, nhiều em nhỏ đã phải bóc vỏ cây để có củi nhóm bếp.