Showing posts with label đại tá lê đức đạt. Show all posts
Showing posts with label đại tá lê đức đạt. Show all posts

Friday, May 17, 2024

 Dear Mr. Jack,

Thanks for the story you told on your web site about the Kontum Battle in 1972. It is really interesting and informative. My few words here to you is to appreciate the contribution of US soldiers in protecting our South Vietnam and let you know one more little thing which is pretty interesting as well. I am the third child of ARVN (South VN) Colonel ... who in 1972 was the chief of ... regiment of ARVN 23rd division. He actually was promoting to Colonel after the phase III battle you described in your story. He is now 76 years old and all of us are currently residing in California.

My dad spent 12.5 years in a communist camp of concentration after the war and the whole family came to the US in 02/1992. I have a picture of his that I copied from a Vietnamese book by General Ly Tong Ba. The picture was taken a few days after the May 1972 battle, I suppose. Our family in fact had a clearer picture of my Dad taken by one of Mr. John Paul Vann's assistants with Vann's hand-writing compliments on the picture but we lost it after 1975 when the communist occupied Saigon.

One more thing, the picture of Colonel Le Duc Dat of the ARVN 22nd Division that you posted on your web site is really precious. This is the first time I saw his picture. In fact he got killed right after the NVA tanks overran his post in Tan Canh instead of being captured and moved to the North as written. One of his daughters was a high school student that I taught Physics in the early 1980s in VN. Colonel Dat's family now is residing in Europe.

Please believe that each of us Vietnamese who loves freedom always remember the sacrifice of US soldiers like you in order to protect the freedom of South VN for so many years.

Respectfully, The Daughter of a Vietnamese Veteran

REFLECTIONS: As a family, we became very involved with Vietnamese refugees after the fall of South Vietnam in April 1975. They have become part of our family. We have found the Vietnamese people to be warm, hard working and intelligent. It was very painful for me to see us abandon them in their hour of greatest need. Warriors do not leave their comrades on the field of battle - I felt we had. It amazes me how appreciative so many of those refugees have been for the service our soldiers gave to their country. Thousands of them died trying to remain free... I have received many e-mails from the Vietnamese community. Some of the e-mails are in very broken English and some have been in the Vietnamese language. All have been sincere about their feelings. They are a people who have suffered much and don't deserve to suffer anymore.


Sunday, September 3, 2023

 BÀI 2 - CĂN CỨ DAK TO II THẤT THỦ  

- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính bằng ba lần sức mạnh của đv. Không có trung đoàn tồi mà chỉ có đại tá tồi - Hoàng đế Napoléon.


Căn cứ Tân Cảnh, chụp bởi một ng lính Mỹ thuộc sđ 4 bộ binh. 


Đây là bài thứ hai, trong chuyên khảo (monograph) sau đây, ghi chép các báo cáo của các cố vấn Mỹ thuộc SĐ 22 VNCH. Những thông tin này trước đây được xếp vào loại Mật, sau này được giải mã; và chưa bao giờ đăng trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại.


- Đang đóng quân chung với một pháo đội Dù tại CCHL Lam Sơn, phía nam Võ Định trên QL-14, dù chỉ bị pháo kích và tấn công thăm dò, hai tiểu đoàn 34 và 35 thuộc liên đoàn 6 BĐQtheo lịnh của trung tá liên đoàn trưởng, đã rút khỏi CCHL này để về Kontum. Vị liên đoàn trưởng này đã bị tướng Ngô Dzu cách chức sau đó mấy ngày.

- Đại úy Ken Yonan, cố vấn của trung đoàn 42, đã lên tháp nước để hướng dẫn không kích. Lúc đầu mọi người nghĩ rằng ông đã chết vì tháp nước đã nhiều lần trúng đạn đại bác, nhưng ông đã sống sót và được trao trả vào năm 1973.

- Hai trung đội xe tăng M-41 và một trung đội bộ binh từ Ben Het kéo về tiếp viện cho Tân Cảnh nhưng bị phục kích và đánh tan ở kế cầu Dak Mot, phía tây của Dak To II. 

- Sông Dak Poko, nằm ở phía nam của Dak To II và Tân Cảnh, gần như bị tắc nghẽn vì xác chết cũng như người bị thương do hỏa lực Bắc quân khi họ vượt qua cầu treo.

- Khi tấn công vào trại LLDB Ben Het, dù pháo kích dữ dội và tấn công bằng bộ binh, và mất 11 xe tăng và hơn 100 lính, nhưng Bắc quân vẫn ko chiếm được trại này.


Sau đây là phần chuyển ngữ

. . . 

TRẬN ĐÁNH TẠI CĂN CỨ DAK TO 2 

"Trong khi đó, chưa tới một giờ sau khi cuộc tấn công vào căn cứ Tân Cảnh bắt đầu, căn cứ Dak To 2 đã bị gia tăng pháo kích và một số tấn công thăm dò của bộ binh địch. Một chiếc trực thăng lúc đầu định dùng làm trực thăng C-and-C (command and control/chỉ huy và kiểm soát) cho sđ 22 nhưng sau đó được chuyển qua Dak To 2 để bốc sáu cố vấn của sđ. Đại úy Carden, cố vấn của trung đoàn 47, đã đánh dấu các vị trí phòng không CSBV trên bản đồ và gọi máy báo cho phi công biết. Máy bay đã bay từ phía đông nam và tiến về bãi đáp trực thăng nơi mà 6 cố vấn đang chờ. Dù bị bắn bởi súng nhỏ từ rừng rậm bên ngoài chu vi phòng thủ nhưng máy bay đã đáp và cất cánh vô sự. Tuy nhiên, vì ko theo chỉ dẫn trước đó, phi công đã bay về tây bắc và đi vào đường đạn của 2 súng phòng không. Máy bay đã bốc cháy và rơi xuống bờ phía nam của chu vi. Carden kết luận ko ai sống sót.

Trong khi đó, ở căn cứ của trung đoàn 42, tại Tân Cảnh, Dobbins, quyền cố vấn trưởng của trung đoàn, đã chọn ở lại tới phút cuối. Ông và trung tá Thông, trung đoàn trưởng, cuống cuồng (feverishly) làm mọi cách để phục hồi tuyến phòng thủ đã tan nát của trung đoàn này. Lúc 0630, các thiết giáp, theo sau bởi bộ binh địch, đã chọc thủng chu vi đông bắc. Tuy lúc đầu, đại đội trinh sát đã đẩy lui một TĐ bộ binh địch ở chu vi phía nam, nhưng sau đó do quân số ít ỏi nên họ bị tràn ngập, dù đã hạ trên 100 địch. Chu vi phía tây bắc bị chọc thủng bởi một TĐ bộ binh và một trung đội T-54.

Pháo binh địch đã liên tục giã vào căn cứ. Cuối cùng, khi thời tiết sáng tỏ, Dobbins thông báo mục tiêu cho quan sát cơ L-19 để chiếc này đánh dấu bằng đạn khói. Các xe tăng ngừng lại và có vẻ ko lẩn trốn: chúng làm mồi (decoy) để nhử cho máy bay vào lưới phòng không. Tuy nhiên khi phòng không 37 ly nổ súng, chúng đã bị đánh dấu bởi quan sát cơ. Dobbins và Thông đã tiếp tục đi chuyển từ hầm này sang hầm khác, bằng cách trốn trong các cống nước (culvert) và bất cứ thứ gì có thể che dấu họ. Lúc 10:00 g, trung tá Thông ko còn liên lạc với các đơn vị dưới quyền, và cả hai đã quyết định ko thể làm gì hơn để cải thiện tình hình này. Trước đó Dobbins định liên lạc với Ken Yonan, cố vấn của vị trung đoàn phó của 42, nhưng ko được. Có vẻ Yonan ko còn sống khi khu vực của y bị pháo nặng. (Ghi chú của ban biên tập: Đại úy Yonan có tên trong danh sách tù binh được phóng thích bởi Hà Nội cuối tháng giêng 1973.) Dobbins đi theo Trung tá Thông về doanh trại (quarters) của ông này trong chu vi phòng thủ. Theo họ là khoảng 19 người lính. Tới một căn nhà, Thông mở một cửa để lộ ra một hầm ngầm. Trèo vào bên trong, họ đóng cửa lại và nghỉ ngơi (settle into) trong bóng tối vì mệt lả trong khi cuộc chiến đấu trên đầu họ, nay chỉ là những ổ kháng cự rời rạc.

Sau khi báo cáo chiếc UH-1 bị rơi ở Dak To 2, đại úy Carden và trung tá Brownlee, cũng là cố vấn của trung đoàn 47, đã ko thể tìm thấy các đồng nhiệm (counterpart) VN của họ cũng như BCH của trung đoàn 47. TTHQ của trung đoàn trống vắng, và có vẻ BCH của trung đoàn đã rời bỏ khu vực nguy hiểm này. Trong khi tìm kiếm một cấp chỉ huy VNCH, đại úy Carden thấy hai T-54 tới phi đạo. Một chiếc chạy tới đầu phía tây của sân bay, nằm dọc (along) theo con đường phía bắc của căn cứ, nhằm khống chế tỉnh lộ 512 đến Dak To từ Ben Het, nơi mà đại tá Đạt đã sai lầm khi bố trí phần lớn thiết giáp ở đây. Chiếc T-54 thứ hai từ phía bắc chạy vào giữa của sân bay và đã tấn công có hệ thống các hầm trú ẩn của BCH của trung đoàn 47. Hai chiếc M-41 của VNCH đột ngột xuất hiện và chạy về phía hông phải của chiếc T-54 này và mỗi chiếc bắn 3 phát về đối thủ. Carden lúc đó chỉ cách chiếc T-54 khoảng 100 m và thấy nó trúng đạn, bốc khói, nhưng ko bị phá hủy. Chiếc T-54 bắn trả 2 phát và chiếc M-41 đã bị phá hủy bởi phát thứ hai, và ngay sau đó chiếc T-54 đã bắn cháy chiếc M-41 còn lại chỉ bằng một phát. Những người lính bị thương bỏ chạy khỏi thiết giáp bị cháy của mình.

Vào lúc này, hai trung đội M-41 và một trung dội bộ binh từ Ben Het kéo về để tiếp viện cho Dak To 2. Họ đã vượt cầu Dak Mot và đã bị phục kích bởi một lực lượng lớn CSBV đang chiếm giữ cao điểm ở phía đông kế cầu. Hỏa lực B-40 và súng không giựt đã hủy diệt tất cả M-41 và đánh tan đơn vị bộ binh này. Đây là cuộc phản công CUỐI CÙNG của VNCH trong ngày 24/4. 

Sau trận xa chiến này, Carden đã gặp lại Brownlee. Cả hai đã tin rằng căn cứ Dak To 2 sắp bị tràn ngập vì thiếu vắng sự hiện diện của trung đoàn 47 và TĐ 9 Dù, từng đóng trong căn cứ này. Khoảng 10:00 g, Carden trông thấy quân bạn đang tiến về phía nam. Sự ra đi của lính Dù, việc di tản của các cố vấn Mỹ, và sự bỏ chạy (desertion) của BCH là cú đấm CUỐI CÙNG làm tan nát tinh thần chiến đấu của trung đoàn 47. Vì ko còn ai chỉ huy, họ đã bắt đầu rời vị trí và chạy khỏi căn cứ. Brownlee và Carden đã thấy rõ (realize) rằng họ ko thể kiểm soát tình hình và sẽ ko còn đv nào chiến đấu nữa trong ngày này. Họ đã gom góp máy truyền tin, lương thực, đốt bỏ một số giấy tờ, và rời căn cứ tiến về đông nam. Hai cố vấn này, các thông dịch viên của họ và tài xế định vượt qua một cầu treo dành cho người đi bộ, bắc qua sông Dak Poko, chảy dọc theo bờ nam của căn cứ. Tuy nhiên TĐ Dù và các thành phần của trung đoàn 47 đi theo họ, đã bị cầm chân bởi hỏa lực dữ dội của địch. Con sông giờ đây gần như bị tắc (clog) vì xác chết cũng như kẻ bị thương khi họ vượt qua cầu treo này. Vì biết rằng ko thể vượt sông ở chỗ này, Brownlee và Carden đi dọc bờ sông về hướng tây cho tới khi gặp một khúc sông cạn (ford) có thể lội qua được, cách cầu treo khoảng 700m. Khi họ định vượt sông ở khúc sông cạn này, họ đã bị bắn bằng đủ loại súng. Khi nhóm của họ đã vượt sông và trèo bờ dốc để lên bờ, Carden đã thấy trung tá Brownlee gặp khó khăn khi leo lên bờ. Lúc đó hỏa lực địch lại gia tăng, Carden buộc lòng phải bỏ bờ sông và chạy nhanh đến bụi cây thấp cách đó khoảng 100m. Đợi khi giảm bớt (slack off) tiếng súng, ông cẩn thận đi ngược bờ sông để tìm trung tá Brownlee. Ông cũng đi tới lui vài trăm mét dọc theo dòng nước để tìm kiếm Brownlee nhưng vô vọng. Cuối cùng Carden và hai người lính VN đã bắt đầu đi về hướng nam và gặp CCHL Vida nơi mà họ được bốc đi 2 ngày sau.

Suốt ngày không quân Mỹ đã tấn công địch chung quanh Tân Cảnh và làm rung chuyển hầm trú ẩn mà Dobbins và 20 quân nhân VNCH ẩn núp. Lúc 20:00 g, Dobbins chia họ thành các toán 3 người và chuẩn bị lẩn trốn. Vì là lúc trăng tròn nên họ đã bị phát hiện khi gần hàng rào phía tây nam. Bốn người đã bị giết trước khi nhóm này cuối cùng tìm được chỗ núp trong một chuồng heo (pigpen) ở tuyến phòng thủ phía đông. Vào nửa đêm, họ lại lẩn trốn. Lần này họ bị phát hiện bởi một hỏa châu do Spectre bắn ra khi tấn công mục tiêu trong khu vực. Lần này họ bị mất thêm vài người do súng nhỏ của địch. Họ đã trở lại chuồng heo và chờ đến 4 g sáng. Một lớp sương mù thấp đã giúp họ vượt được chu vi phòng thủ. Họ đi về phía nam vài km và được bốc đi ngày kế.

Lực lượng tấn công Tân Cảnh và Dak To 2 là các thành phần của sđ 2 CSBV. Các TĐ của trung đoàn 1 và 141 và TĐ đặc công D-10 đã tấn công hai nơi này. Các xe tăng hỗ trợ cuộc tấn công thuộc một TĐ của trung đoàn xe tăng 203. Cuộc tấn công đã phối hợp kỹ càng dù có sai sót nhỏ về giờ giấc, và việc dùng những chiến thuật cổ điển này ko có gì mới mẻ ở Chiến tranh Đông Dương. Tuy nhiên điều đáng chú ý là sự có mặt của lính CSBV trong mọi trận đánh, Trong trận Tết 1968, các đơn vị VC dẫn đầu mọi tấn công, nhưng trận Tân Cảnh toàn là lính CSBV. Trong ngày 24 và 25/4, Bắc quân đã cũng cố các thành quả và mở rộng kiểm soát về phía Tây của sân bay Dak To 2 và phía nam tới Diên Bình. Vũ khí VNCH bị mất gồm 25 khẩu 105 ly, 7 khẩu 155 ly, 14,000 đạn đại bác, và các chiến cụ khác. Trong số người mất tích có đại tá Đạt và toàn bộ tham mưu của ông.

Trong lúc Tân Cảnh và Dak To 2 bị tấn công, sđ 320 CSBV đã tiếp tục tạo áp lực lên các CCHL còn lại trên Rặng Hoả Tiển. Ngày 25/4, tướng Dzu đã rút bỏ CCHL 5 và 6, khiến quân CSBV ít gặp nguy hiểm khi tiến về Kon-Tum. Cùng lúc với áp lực này tại tỉnh Kon-Tum, sđ 3 CSBV và các đơn vị chủ lực của VC đã tấn công 3 quận phía bắc của tỉnh Bình Định. Dù trung đoàn 40 và 41 của sđ 22 đã thành công trong những trận đánh gần đây với VC, quân CSBV tại tỉnh Bình Định đã buộc họ phải rút khỏi Bãi Đáp (landing zone) English và các CCHL khác trong khu vực. Điều này đã tập trung chú ý của quân Việt- Mỹ về mối đe dọa với Kon-Tum, vì Bắc quân sắp đạt mục đích là cắt Nam VN làm hai. Bộ tổng tham mưu VNCH và bộ tư lịnh Mỹ tại VN đã bắt đầu tin tưởng hơn vào nhận định của Vann, cố vấn trưởng của QĐ 2 rằng chiến dịch của địch tại Quảng Trị và An Lộc Bình Long có giới hạn về qui mô và rằng mục đích thực sự của Bắc quân là chiếm các tỉnh Kon-Tum, Pleiku, Bình Định bằng các cuộc tấn công cấp nhiều sđ suốt cao nguyên. 

                  


ĐỊCH QUÂN TIẾN GẦN KON TUM

Để đối phó với thành công này của Bắc quân, bộ tham mưu của QK2 đã kích hoạt kế hoạch sau. Đại tá Bá, tư lịnh của sd 23, chỉ huy mọi lực lượng ở tỉnh Kon-Tum. Bốn TĐ BĐQ sẽ chiếm giữ các vị trí án ngử ở Võ Định và phía nam dọc sông Dak Poko. Trung đoàn 53 bảo vệ tp Kon-Tum. TĐ 22 BĐQ chuyển đến Polei Kleng để tăng cường cho TĐ BĐQ biên phòng ở đây. Ngoài ra Vann cho B-52 ném bom dọc Rặng Hoả Tiển và các CCHL đã di tản. Hàng ngàn người tị nạn, tàn quân của sđ 22, và các cố vấn mất tích trong vùng địch chiếm đã hạn chế các cuộc không kích của B-52. Để giảm nhẹ vấn đề này Không quân Chiến Thuật hay TACAIR đã được xử dụng với hơn 180 phi xuất từ 24 đến 28/4.

Ngày 28/4, hầu như bộ tham mưu của sđ 23 đã lên đường tới Kon-Tum. Đại tá Bá đã có nhiệm vụ khó khăn là kết hợp các đơn vị khác thành một tổ chức chặc chẻ (cohesive). Đơn vị duy nhứt của sđ 23 dưới quyền ông là trung đoàn 53. Trong khi đó, hai LĐ 2 và 6 BĐQ, một LĐ Dù, và các lực lượng ĐPQ dưới quyền của đại tá Nguyễn bá Long, tỉnh trưởng Kon-Tum, là các đơn vị mà chỉ huy của họ dưới quyền chỉ huy của 9 BCH khác nhau. Vài vị đại tá ko bằng lòng vì bị chỉ huy bởi một đại tá khác. Vì vài liên đoàn trưởng BĐQ hay lữ đoàn trưởng Dù cũng mang cấp đại tá — người dịch. Nhiều lần họ ko dự họp hành quân mà để cấp phó thay thế. Để giải quyết vấn đề này, Vann đề nghị với tướng Dzu cử thiếu tướng Phong và phó của Vann là chuẩn tướng John Hill, bay đến Kon-Tum mỗi sáng lúc 0800 để chủ tọa các buổi họp. Sự có mặt của họ bảo đảm mọi người phải có mặt và việc phòng thủ sẽ tốt đẹp. Đại tá Truby, quyến cố vấn trưởng của sd 23, được giao nhiệm vụ cố vấn cho bộ tham mưu (BTM) của sđ về quan niệm phòng thủ quy ước trong một thời gian ngắn. Các cố vấn của sđ phải giải thích những chi tiết như các điểm hạn chế, sự phối hợp giữa các đv trên tuyến phòng thủ, giảm thiểu những nơi có thể bị xuyên thủng, v.v…

Để bảo đảm sđ có tối đa thời gian để huấn luyện và chuẩn bị việc phòng thủ, đại tá Bá giao cho LĐ 2 và 6 BĐQ có nhiệm vụ trì hoãn chiến trên QL14 giữa Tân Cảnh và Kon-Tum. Tuyến phòng thủ ngoài cùng ở bảy km từ trung tâm TP Kon-Tum, tuyến thứ hai cách tuyến cuối cùng 4km. Tuyến cuối cùng nằm ở rìa của TP. Bốn khẩu 155 ly và 44 khẩu 105 phụ trách yểm trợ cho họ. Đường tiến sát phía tây và bắc dược giao cho BĐQ, trong khi trung đoàn 53 lo phía đông và nam.

Ngày 26/4, tướng Dzu được lịnh về SG để gặp TT Thiệu. Khi trở lại Pleiku, ông cho biết bị đau tim và phải điều trị ở một bịnh viện tại SG. Dzu đã có vẻ bị sốc sau chuyến đi SG và ko muốn nói điều đó với ai. Cuối cùng Dzu về SG để nhập viện và thay thế bởi thiếu tướng Toàn.

LIÊN ĐOÀN 6 BĐQ THAY THẾ LỮ ĐOÀN 2 DÙ

Liên đoàn (LĐ) này từ chiến trường Huế, nơi mà họ đụng nặng với địch, đã tới QK 2 ngày 24/4. Thiếu tá James Givens, cố vấn trưởng của liên đoàn 6 BĐQ đã hay tin Tân Cảnh thất thủ trên radio khi liên đoàn tiến vào vị trí ở CCHL Bravo. Căn cứ này ở bắc của Võ Định, nơi mà liên đoàn đã đóng chung với BCH của lữ đoàn () 2 Dù. Ngày kế lữ đoàn Dù được xe GMC chỡ tới Kontum để không vận về SG và liên đoàn 6 chuyển tới CCHL November để gần Kontum hơn. Từ căn cứ Lam Sơn, một cao điểm trên QL-14, có cái nhìn khống chế về phía Bắc của Võ Định và về phía nam tới Kon-Tum, Givens và phụ tá, đại úy Vannie, đã thấy TÀN QUÂN của sđ 22 vượt qua vị trí của hai người trong từng nhóm 5 tới 15 người, với vài súng nhỏ và ko có súng cộng đồng; nhiều kẻ ko còn nón sắt hay ba lô (web gear). Họ đã bỏ những thứ này trong lúc rút chạy. Dù ko có chỉ huy, nhưng họ ko hoảng loạn.

Suốt ngày 25 và 26, địch gia tăng pháo kích BCH liên đoàn. Dù ko có thương vong, nhưng lúc 1500 của ngày 27, Givens và Vannie và BCH liên đoàn đã được trực thăng vận tới CCHL November dù Givens chống đối vì ông nghĩ rằng BCH nên ở tại căn cứ Lam Sơn với những đơn vị lớn của liên đoàn. Các TĐ BĐQ còn ở Lam Sơn, gồm 34 và 35, tiếp tục bị pháo kích và tấn công thăm dò. Lúc 05:00 ngày 1/5, lính của bốn xe M-41 tại Lam Sơn đã bỏ xe khi Bắc quân tấn công. Bắc quân chiếm xe nhưng bị không quân VNCH và một AC-130 bắn cháy và cuộc tấn công bị đẩy lui.

Lúc 18:00 g toán cố vấn của sđ 23 báo cho Givens rằng pháo đội của Dù đã rút khỏi căn cứ Lam Sơn. Ông liền gặp ngay trung tá Đệ  liên đoàn trưởng BĐQ để hỏi chuyện. Ông này trả lời ko liên lạc được với hai TĐ ở Lam Sơn. Lúc 19:30 liên lạc đã tái lập. Hai TĐ này đang di chuyển về phía nam của Lam Sơn, mang theo 50 thương binh và súng cộng đồng. Về việc pháo binh Dù bỏ Lam Sơn, Givens đã khám phá rằng liên đoàn trưởng BĐQ đã ra lịnh cho hai TĐ của ông bỏ căn cứ, do vậy pháo binh Dù phải rút theo vì ko còn ai bảo vệ. Ngày 4/5 tướng Dzu cách chức liên đoàn trưởng này.

Vấn đề này đã khiến Vann thuyết phục tướng Dzu rằng nên đưa hai trung đoàn 44 và 45 của sđ 23 lên Kon-Tum để thay thế hai liên đoàn BĐQ và lữ đoàn Dù. Dzu đã đồng ý. Ngày 6/5, trung đoàn 45 từ Pleiku theo QL-14 để thay thế LĐ 6 BĐQ.

===

Từ 24/4 đến 5/5, các cuộc pháo kích vào các trại BĐQ nằm kế bên đường tiếp tế của CSBV gia tăng. Hai trại Ben Het và Polei Kleng bị nặng nhứt do họ là trở ngại cho việc tiếp tế cho các khu tập trung quân để đánh tp Kon-Tum. Lúc 1200 ngày 6/5 Polei Kleng bị pháo nặng. Hơn 50 quả rơi trong một giờ rưỡi trước khi máy bay Mỹ tạm thời làm ngừng hỏa lực địch. Tuy nhiên khi quan sát cơ rời nhiệm sở tác chiến lúc 1515, pháo địch lại lần nữa gia tăng đến 500 quả tính tới 1900 cùng ngày. Các bunker trong căn cứ này lần lượt bị sụp đổ chứng tỏ pháo đã điều chỉnh chính xác. Vị trưởng trại, mà cố vấn là đại uý MacLaren và trung úy Paul McKenna đang điều khiển không kích, đã bị thương. Lúc 1730 một quả làm sập tường và thổi bay một cửa làm bằng gỗ sồi. Hai cố vấn đào đất để chun ra và tới một hố chiến đấu gần chu vi phòng thủ. Pháo địch đã hủy diệt một cách hệ thống mọi nhà cửa trên mặt đất, tất cả các bunker, và làm sập cột an-ten. Cuộc pháo kích liên tục và chính xác này đã làm mất tinh thần lính phòng thủ. Khi McKenna định gặp TĐ trưởng lúc 18:00 g, ông phát hiện y đã rời trại. Khi trở lại hố chiến dấu, ông thấy địch  đang dùng đèn đỏ chớp sáng để thông báo với bộ binh đang chờ để tấn công trại. Lúc 1900, dù phòng không dầy đặc, một OH-6 đáp xuống để bốc cố vấn. Trại tiếp tục chiến đấu thêm ba ngày dù liên tục bị pháo và bộ binh tấn công thuộc trung đoàn 64 CSBV. Việc Bắc quân tập trung lực lượng để chiếm Polei Kleng đã cung cấp mục tiêu hấp dẫn cho 16 phi xuất B-52, mỗi phi xuất 3 chiếc, vào khu vực này trong 3 ngày trên. Một hồi chánh viên (HCV) sau này thừa nhận đại đội 100 người của y đã chết 40 người và nhiều hơn bị thương vì B52. Lúc 0500 ngày 9/5, sau một tấn công bởi chiến xa và bộ binh, lực lượng VNCH tại Polei Kleng đã buộc phải rút lui. Tướng Dzu đã ra lịnh trại này từ nay được xếp vào vùng oanh kích tự do.        

                 ĐÈN CHỚP SÁNG MÀU ĐỎ 

Trong giai đoạn này, trại Ben Het đã nhận từ 400 đến 500 đạn đại bác đủ loại. Ngày 7/5, TĐ 71 BĐQ đã nổi loạn, ra tối hậu thư cho TĐ trưởng phải bốc họ ra khỏi trại trong 43 g. Trước khi cuộc bốc quân hoàn tất, hỏa lực phòng không đã vây kín trại.

Vào lúc rạng đông của ngày 9/5, Bắc quân xua chó vào hàng rào phòng thủ để nổ mìn. Lúc 0600, chúng tấn công bằng bộ binh có 6 PT-76 yểm trợ. Hai chiếc, có bộ binh tùng thiết, tấn công cổng chánh, nhưng bị bắn cháy bởi M-72 của BĐQ. Lúc 0730, năm PT-76 tấn công chu vi phòng thủ phía đông, hai chiếc bị phá hủy bởi M-72. Số xe tăng còn lại rút lui sau khi bộ binh chiếm chu vi phía đông. Suốt ngày hôm đó BĐQ đã đẩy lui địch.

Lúc 1700, BĐQ tái chiếm chu vi phía đông. Bắc quân đã mất 11 xe tăng và hơn 100 lính khi tấn công Ben Het. Dù BĐQ tiếp tục bị quấy rối, họ ko còn bị tấn công ồ ạt bằng bộ binh. Trại Ben Het ko là một mục tiêu ngon xơi với Bắc quân, một phần do hỏa lực trong trại rất mạnh vì có nhiều M-41 đưa lên từ trước theo lịnh đại tá Đạt — người dịch".

. . .

Chuyển ngữ từ trang 42 đến 47 của: 

Wayback Machine (archive.org)

San Jose ngày 10 tháng 9 năm 2023.

Tài Trần









 










 




Thursday, August 31, 2023

TÂN CẢNH THẤT THỦ - Theo lời kể của các cố vấn Mỹ của sư đoàn 22 bộ binh

                       

                             Căn cứ Tân Cảnh 

Căn cứ Tân Cảnh chụp bởi một ng lính thuộc đại đội C thuộc TĐ 2/35 của sđ 4 bộ binh Mỹ.

                
                      

- "Thượng Đế ở về phía nào có pháo binh tốt. Trong chiến tranh, tinh thần của người lính bằng ba lần sức mạnh của đơn vị." -- Hoàng đế Napoléon. Tạm dịch từ: God is on the side with the best artillery. In war, the moral is to the physical as three to one. 

LỜI NÓI ĐẦU:  Nhờ lang thang trên mạng, tôi đã biết trong trận Dak To - Tân Cảnh 1972, John Paul Vann, cố vấn trưởng của QĐ 2 đã dùng trực thăng riêng để nhiều lần đáp xuống Tân Cảnh cứu hết cố vấn. Thông tin này đã dẫn tôi đến bài sau đây nói về những giờ phút cuối cùng tại bộ tư lịnh (BTL) của sđ 22 bộ binh VNCH năm 1972. Bài viết này có nhiều thông tin chưa từng đăng trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại. Dù được kể rất chi tiết bởi các cựu cố vấn của sđ 22 nhưng bài viết này ko thể nào giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và đầy đủ vì phần lớn họ chỉ viết về các hoạt động của cố vấn Mỹ. Trong khi đó, sau 1975, nhiều sĩ quan VNCH từng dự trận này, nhưng do nhiều lý do khác nhau đã ko viết lại những gì mình biết hay thấy trong trận này. Chỉ có vài người như các ông Tôn Thất Hùng, Trịnh Tiếu, Bùi Đức Lạc, Hà Quế Linh, Nguyễn văn Thịnh,  đã viết về trận Tân Cảnh 1972, nhưng ko đầy đủ như bài viết trên đây của cố vấn Mỹ. Vì sau khi rút quân về nước sau năm 1973, họ mang theo gần như toàn bộ các báo cáo sau khi hành quân (after action report) trong thời gian làm cố vấn cho các đv VNCH, kèm theo là bản đồ hay phóng đồ hành quân, v.v... Trong khi đó, các cựu chiến binh VNCH, khi viết hồi ký phần lớn chỉ dựa vào trí nhớ, nên dễ thiếu sót -- trừ một số ít có trí nhớ phi thường như cựu thiếu tá Vương Mộng Long.

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 38 đến 42 của chuyên khảo (monograph) này. 

. . . 

BÀI I - TRẬN TẤN CÔNG VÀO CĂN CỨ TÂN CẢNH

"Ngày 18/4 căn cứ hỏa lực (CCHLCharlie ở đầu phía bắc của Rặng Hỏa Tiển (Rocket Ridge) đã bị pháo hơn 300 đạn đại bác 105 ly và 75 ly ko giật, theo sau là cuộc tấn công của bộ binh thuộc trung đoàn 48 csbv. Rặng núi này được gọi là Rặng Hỏa Tiển vì địch quân thường bắn hỏa tiển từ núi này -- người dịch. Dù được trực thăng Cobra và chiến đấu cơ hỗ trợ hết mức, lúc 22:30 giờ TĐ 11 Dù buộc phải rút lui. Thiếu tá John Duffy, cố vấn của TĐ, là người cuối cùng rời vị trí. Ông cho biết 5 trong số 9 súng phòng không bao quanh CCHL đã bị phá hủy và có cả ngàn xác địch quân phơi thây trên hàng rào phòng thủ. 

Trung đoàn 42 và 47 VNCH đã tiếp tục cố gắng kiểm soát các đồi núi quanh các căn cứ Tân Cảnh và Dak To II, cách đó 5 km về phía tây, nhưng từ từ rút về căn cứ chánh. Vào ngày 19/4, TĐ 1/42 đã bị vây bởi khoảng hai TĐ CSBV, khiến ko thể tiếp tế. Đại tá Đạt đã ko thể tiếp cứu lực lượng này. Sau khi hết đạn, 63 trên quân số 360 người của TĐ này đã về được căn cứ của trung đoàn. 

Ngày 20/4 bộ tổng tham mưu đã yêu cầu QĐ II trả lại lữ đoàn dù để đưa ra vùng 1. Thay thế họ sẽ là liên đoàn (6 BĐQ bốc từ Huế, và trung đoàn 53 của sđ 23 bộ binh.

Lúc 19:30 giờ ngày 21/4, sau khi bị tấn công dữ dội nhiều ngày bằng pháo, CCHL Delta bị tràn ngập. Quân phòng thủ gồm một đại đội Dù và một đại đội của LĐ 2 BĐQ đã cầm cự cho tới khi quân tấn công được ba xe tăng hỗ trợ. Để bù đắp những thất bại trên Rặng Hoả Tiển và phòng thủ chiều sâu, tướng Ngô Dzu đã di chuyển một số đại bác về Diên Bình trong quận Dak To.Trước đó mấy tuần, Vann (cố vấn QĐ 2) đã đề nghị như vậy nhưng tướng Dzu ko nghe. 

Vào ngày 23/4 việc phòng thủ ở Tân Cảnh có vẻ thỏa đáng. Một số CCHL của Dù hay BĐQ trên Rặng Hoả Tiển vẫn nhận được tiếp tế. Các cố vấn cho biết tinh thần của các đơn vị này rất cao. Trung đoàn 47 ở Dak To II có một đại đội (company) chiến xa và một TĐ dù yểm trợ. Họ cũng có hai đại bác 106 ly không giật và nhiều súng chống tăng M-72 (LAW). Sư đoàn 22 ở Tân Cảnh có trung đoàn 42 và một TĐ của trung đoàn 41 nằm gần căn cứ. Quân phòng thủ ở đây gồm 1.200 người, bao gồm 900 người làm về hành chánh tiếp vận, ko có kinh nghiệm chiến đấu. Để chống tăng, căn cứ có hai súng 106 ly không giật, hơn 100 khẩu M-72, và một đại đội tăng M-41. Ngoài ra còn có 50 đại bác 105 và 155 ly. Khu vực này có vẻ đã chuẩn bị kỹ cho một cuộc tấn công của nhiều sđ đang đe dọa nó. Nói thêm: tuy căn cứ Tân Cảnh có quân số 1.200 người như trên nhưng có đến 900 người lo về hành chánh tiếp vận, ko được tổ chức hay biên chế để phòng thủ căn cứ. Trong căn cứ, ngoài đại đội xe tăng, các pháo đội, hậu cứ của sđ 22 và trung đoàn 42; còn có đại đội 22 và 42 trinh sát để bảo vệ bộ tư lịnh, và thương binh hay lính hết phép chờ ra hành quân -- người dịch. 

Vào ngày 23/4, dù những dấu hiệu rõ ràng của một tấn công của địch đã có từ đầu tháng Giêng, chiến dịch mà người ta chờ đợi đã lâu vẫn chưa bắt đầu. Những cuộc chạm súng với những đơn vị của CSBV đã gia tăng đáng kể trong 2 tuần trước đó vì khu vực Tân Cảnh- Dak To II đã bị bao vây. Pháo binh địch đã gia tăng từ 20 tới 50 viên mỗi ngày vào cuối tháng Ba và đầu tháng Tư trở thành khoảng 1.000 viên mỗi ngày trong 2 tuần trước. Cộng quân đã kiểm soát những khu vực phía bắc và đông của căn cứ Tân Cảnh và có thể bắn chính xác vào căn cứ. 

Vào ngày 23/4, nằm trên nóc một hầm trú ẩn ở phía đông bắc của chu vi phòng thủ của căn cứ Tân Cảnh, đại úy Raymond Dobbins, quyền cố vấn trưởng của trung đoàn 42 VNCH, ko để ý nhiều đến những loạt đại bác và hỏa tiền, thường xuyên rơi như mưa vào tiền cứ này của sư đoàn 22. Hậu cứ của sđ vẫn còn ở tỉnh Bình Định — người dịch. Dù hoàn toàn phơi mình trước hỏa lực chính xác và chết người nầy, ông vẫn bình tỉnh gọi máy bay Mỹ tấn công các mục tiêu do các cấp chỉ huy Việt Nam cung cấp. Ông đã biết rằng một TĐ của 42, ý nói trung đoàn 42, yểm trợ bởi bốn chiếc M-41, trong một cuộc hành quân (HQ) gần đó, đã bị pháo dữ dội bởi hỏa tiển 122 ly, pháo 130 ly, và cối 82 ly và rất cần không lực Mỹ mà ông đang điều chỉnh — trong khi họ lại được lịnh tiến vào một khu vực rất nguy hiểm kế cận tuyến phòng thủ của họ. Ông vừa thoáng nhìn khu vực cổng chánh nơi một chiếc M-41 vừa đi qua để tải thương một người lính. Vào lúc đó một ánh sáng lóa lên và sau đó là một tiếng nổ chứng tỏ xe tăng này bị trúng đạn chống tăng và hủy diệt. Vì nghĩ rằng đó là đạn B-40 nên một sĩ quan VN đã gọi cho đại úy Dobbins. Ông liền báo cáo vị trí chiếc M-41 này cho trung tâm hành quân của sư đoàn, viết tắt là DTOC, mà người nhận là thiếu tá Jon Wise, cố vấn của phòng 3 sư đoàn 22. Ông này báo ngay cho đại tá Philip Kaplan, cố vấn trưởng của sđ và trung tá Terrence McCain, cố vấn phó của sđ. Sau khi thảo luận, cả ba nhận định rằng ko thể là hỏa tiễn B-40 vì tầm hoạt động của nó chỉ 200 m và địch ở cách chiếc tăng này trên 500 m. Đại tá (ĐT) Kaplan, trung tá McCain và thiếu tá George Carter, cố vấn trưởng của thiết đoàn 14 đi đến chiếc xe tăng này. Vào lúc đó một phi đạn điều khiển bằng dây lướt nhanh (whisk) qua đầu họ và trúng một xe tăng khác khoảng 150 m ở phía bắc vị trí của họ ở cổng chánh. McCain chạy nhanh tới xe này và thấy một lổ nhỏ cỡ một đồng đô-la (silver dollar) ở phần giáp sắt phía trước. Đồng silver dollar hình tròn, đường kính 38.1 mm, dầy 2.4 mm -- người dịch. Ở bên dưới xe tăng là phần đuôi của hỏa tiển. Quan sát kỹ lưỡng, họ thấy hỏa tiển này có đường kính khoảng ba inch hay 7.62 tấc với hai cuộn dây (bobbin) và hai lổ thoát hơi (nozzle) ở trên thân của nó. Ba cố vấn nhanh chóng trở về trung tâm hành quân (TTHQ) của sđ trong khi Dobbins tiếp tục điều chỉnh không kích. Trước khi ba vị này tới TTHQ của sđ, thêm hai hỏa tiển loại này được bắn đi từ một cao điểm ở phía đông bắc kế cận một chùa Phật giáo. Cả ba người đồng ý rằng việc sử dụng vũ khí tối tân này có thể là hiệu lệnh bắt đầu của một tấn công lớn mà mọi người chờ đợi từ lâu. Vào lúc đó một tiếng nổ lớn làm rung chuyển mạnh (rock) TTHQ của sđ khiến mọi người và đồ vật văng tung tóe (crash about); kế đó mọi thứ đều yên tỉnh ngoại trừ tiếng đại bác của địch tiếp tục rơi trên mặt đất.



TTHQ của sđ là một hầm chống pháo kích rất chắc chắn có diện tích 45 x 30 feet hay 13.7 mét x 9.1 mét, làm từ xà gỗ và vỉ PSP, một loại vỉ sắt dùng để lót các sân bay dã chiến — người dịch. Hầm ở cách mặt đất khoảng 8 feet hay 2.4 mét và trên nấp hầm có hai lớp bao cát. Tác động của vụ nổ đã thổi bay vài bức tường. Phòng truyền tin và máy móc và phòng ngủ của các sĩ quan của TTHQ bị hư hại nặng. Trong khi trung tá McCain được đỡ dậy (pull to his feet), ông vẫn tiếp tục ù tai do tiếng nổ. Sau đó ông cũng biết đại tá Kaplan và thiếu tá Wise bị thương nặng ở đầu. Không có người Mỹ nào khác bị thương, nhưng có khoảng 20 quân nhân VNCH chết và bị thương nặng nằm trên sàn nhà đầy mảnh vụn của TTHQ sđ. Trung úy John Jones, một sĩ quan thuộc phòng 3, và đại uý David Stewart, cố vấn về truyền tin của sđ, đã bắt đầu băng bó cho Wise và Kaplan, trong khi McCain điều trị các thương binh VNCH. Trong khi người bị thương được săn sóc, đại tá Kaplan đã nhận thấy khói bắt đầu phủ đầy TTHQ của sđ. Những thanh gỗ tẩm dầu (creosoted timber) dùng để gia cố ở khu vực truyền tin của TTHQ đã bắt lửa (ignite) do vụ nổ và bắt đầu cháy dữ dội. Nói thêm: Để chống mối mọt cho gỗ, người ta thường ngâm gỗ trong chất creosote — người dịch. Không có bình chữa cháy, và sau vài lần dập tắt lửa vô vọng bằng nước, cuối cùng mọi người đều phải rời bỏ TTHQ.

Trong khi đó, Stewart và thiếu tá Julius Warmath đã bắt đầu lập một TTHQ mới của sđ trong TTHQ của trung đoàn 42, cũng nằm trong căn cứ Tân Cảnh, bằng cách dùng máy móc truyền tin của Mỹ. Sư đoàn 22 từ từ đã lấy lại phần nào sự điềm tỉnh (composure) của nó, nhưng một hạt giống nghi ngờ đã bắt đầu nảy mầm (plant) trong đầu của vị tư lịnh, tức đại tá Đạt. Phi đạn điều khiển bằng dây này, ko những chỉ tàn phá TTHQ của sđ, mà còn tàn phá sự tin tưởng của quân nhân của sđ 22 vào chính họ. Một cảm tưởng rằng quân CSBV là những chiến binh giỏi và sẽ chiến thắng có vẻ đã xuất hiện gần như trong đầu mọi người. Vào buổi trưa, địch quân đã gây tổn thất lớn lao (take a heavy toll) cho các lực lượng VNCH qua việc dùng phi đạn điều khiển bằng dây này. Nói thêm: Người ta phân biệt hỏa tiển (rocket) với phi đạn (missile) vì phi đạn có thể điều khiển, ví dụ như phi đạn Sagger trong trường hợp này, còn hỏa tiển ko thể điều khiển như hỏa tiển 122 ly — người dịch. Năm chiếc M-41 trong căn cứ hoàn toàn bị hủy diệt bởi các phi đạn này. Ngoài TTHQ của sđ còn một số bunker cũng bị phá hủy bởi nó. Nhưng sự tàn phá quan trọng nhứt là tâm lý. Lúc 11 g trưa, John Paul Van, cố vấn của QĐ 2, dù hỏa lực nặng nề của pháo binh địch, đã đáp xuống Tân Cảnh để hỏi thăm tình hình suy sụp (decay) này. Ông đã nhận thấy rằng quân VNCH KHÔNG PHẢN PHÁO (counterbattery fire) và rằng việc tải thương các thương binh VN hoàn toàn do phía Mỹ đảm trách. Sau khi thảo luận tình hình này với các cố vấn, Vann ra lịnh cho họ thực hiện kế hoạch thoát thân và lẩn trốn. Kế đó ông bay đi, mang theo vài nhân viên dân sự từng làm việc với các cố vấn Mỹ.

Trung tá McCain và thiếu tá Warmath đã làm việc liên tục trong buổi chiều để bảo đảm mọi người bị thương được di tản. Ngoài việc liên lạc với trực thăng dưới làn pháo địch, các cố vấn cũng khiêng thương binh ra trực thăng. Các cố vấn còn lại thì liên lạc với không quân để tấn công các mục tiêu gần căn cứ. Ngoài đạn pháo binh địch càng lúc gia tăng và những cuộc chạm súng nhỏ có tính thăm dò, phần còn lại của buổi chiều và lúc trời sụp tối đã qua đi mà ko có biến cố nào đáng kể. Tuy nhiên khoảng 19 g tối, lợi dụng lính VNCH mãi núp trong hầm để tránh pháo, từ một cao điểm gần sân bay L-19, mười lính CSBV đã dàn hàng ngang và bắn B-40 và B-41 vào kho đạn. Một trong những quả B-40 này đã gây cháy lớn khiến đạn nổ liên tục và tiêu hủy mọi đạn dược. Lúc 21 g, đại úy Richard Cassidy, cố vấn của Quận Dak To, đã nghe ông quận trưởng nói rằng xe tăng địch di chuyển ngang ấp Dak Brung để tới BCH chi khu Dak To. Cassidy đã chuyển tin này tới TTHQ của sđ 22 và yêu cầu một máy bay gunship C-130, có danh hiệu truyền tin là Spectre (Bóng Ma), lên vùng để đối phó đe dọa này.

Lúc 23 g chiếc Spectre đã tới khu vực Tân Cảnh và lập tức bắt đầu rà quét khu vực ấp Dak Brung bằng thiết bị theo dỏi bằng tia hồng ngoại và vô tuyến truyền hình. Sau 15 phút, chiếc C-130 gunship này đã xác định vị trí (locate) của một đoàn 18 xe tăng chạy từ tây sang đông tiến tới chi khu Dak To. Chiếc Spectre báo cáo phát hiện này cho các cố vấn của sđ 22 và đã bắt đầu bắn xe tăng với đại bác 105 ly. Sự phát hiện này đã khiến hoạt động ở Tân Cảnh nhộn nhịp lên (flurry). Trung tá Nguyễn hữu Thông, chỉ huy trung đoàn 42, bảo vị trung đoàn phó tới tháp nước ở tây bắc của chu vi phòng thủ để liên lạc với không quân đánh vào địch quân đang tới gần. Đại úy Ken Yonan, cố vấn của vị trung đoàn phó này, đã đi theo ông này tới tháp nước và chuẩn bị liên lạc với Spectre khi đoàn xe tăng hướng về Tân Cảnh. Vì nghĩ rằng một cuộc tấn công lớn lao có vẻ đang tới gần và quân VNCH KHÔNG CÓ BIỆN PHÁP GÌ ĐỂ PHẢN CÔNG, đại tá Kaplan họp các cố vấn và nói rõ cho họ về kế hoạch đào thoát và lẫn trốn. Kế đó ông yêu cầu họ ở trong các hầm trú ẩn để chờ đợi hậu quả của những đụng độ sắp xảy ra. 

Trong khi đó chiếc C-130 gunship báo cáo đã bắn trúng ba xe tăng gần ấp Dak Brung. Lính ĐPQ tới gần một trong ba xe này nhưng thấy xe ko hư hại đáng kể, có lẽ bộ đội trên xe đã bỏ xe mà chạy khi bị Spectre tấn công — người dịch. Khi một toán đặc công CSBV xuất hiện trên đường, lính ĐPQ bỏ chạy, và địch quân lái xe đi mất. Rõ ràng, đại bác 105 ly của Spectre đã ít thành công khi diệt tăng. Vì đối với xe tăng T-54 của Liên Xô (LX) hay T-59 của Trung Cộng, khi bị bắn từ trên cao với đạn nổ mạnh, điểm yếu của chúng là bình xăng ở sau xe hay ngăn chứa động cơ ở sau xe. Bắn trúng nơi khác trên xe chỉ gây thiệt hại cho người nhưng ko thể làm xe bị phá hủy.

Khoảng giữa đêm, đoàn xe tăng này đã quay về hướng nam để tiến về Tân Cảnh và sđ 22. Đại tá Kaplan đã yêu cầu chỉ huy pháo binh VN cho cấp dưới bắn xe tăng địch trước khi họ bị tràn ngập. Lời yêu cầu đã được đáp ứng khi bốn tràng đại bác được bắn đi và Spectre cho biết đạn đại bác đã trúng một xe bồn chỡ xăng và rơi năm feet hay 1.5 mét cách một T-54 khác. Kaplan đã khen ngợi cố gắng này, nhưng một đợt phản pháo dồn dập của địch đã khiến lính pháo binh VNCH chạy nhốn nháo (scurry) về hầm trú ẩn của họ và đã chấm dứt mọi cố gắng chống cự địch bằng pháo binh của mình.

Để tới căn cứ của sđ 22, đoàn xe tăng này phải qua hai cầu. Cả hai cầu được bảo vệ bởi một trung đội ĐPQ. Vì ko có súng chống tăng, họ đã rút chạy khỏi vị trí. Sự kiện này đã chứng tỏ thiếu phối hợp giữa quân chính quy và ĐPQ. Hai cầu nằm trên đường tiến sát tới căn cứ Tân Cảnh và bắc qua những suối mà xe tăng ko thể vượt qua (unfordable). BTL SĐ 22 BB đã nghĩ rằng tiểu khu (TK) đã có kế hoạch phá cầu bằng chất nổ khi có lịnh, nhưng thực tế TK đã ko làm gì hết. Đúng là chết được — người dịch. Đoàn xe tăng tiếp tục tới ngoại ô của thị trấn Tân Cảnh. Một số xe ngừng ở đây nhưng những chiếc khác chạy về Dak To. Spectre xin được bắn những chiếc đã vào Tân Cảnh, nhưng bị từ chối vì có thân nhân của lính VNCH trong thị trấn. Nói thêm: thị trấn hay làng Tân Cảnh nguyên trước đây là làng Kon Hơ-jao, nằm ngay ngã ba QL-14 với tỉnh lộ 512 (chạy tới trại LLĐB Ben Het). Trước 1972, thị trấn rất sầm uất, có chợ búa, rạp hát, v.v...Căn cứ Tân Cảnh ở tây nam của thị trấn này, và bên trái của TL 512, trước đây là hậu cứ của trung đoàn 42 thuộc sđ 22 bộ binh, trong căn cứ có tháp nước; nay do nhu cầu chiến trường nên BTL sđ đã dời về đây. Riêng chi khu (CK) Dak To, nằm ở chính bắc và cách thị trấn Tân Cảnh khoảng 5km. Vì nghĩ rằng T-54 sẽ tiến về căn cứ Tân Cảnh từ Ben Het, nên phần lớn M-41 đã lên bảo vệ trại LLĐB này. Theo bài này, T-54 đã tiến về Tân Cảnh bằng cách chạy ngang CK Dak To -- người dịch. 



Dobbins thuyết phục trung tá Thông lập các toán tìm và diệt tăng bằng cách lấy người từ một đại đội của trung đoàn 42. Cố gắng này đã có kết quả khi hai chiếc T-54 bị bắn cháy ở phía tây của làng. Lúc 0326 giờ ngày 24/4, Spectre báo cáo có 10 xe tăng rời làng Tân Cảnh tiến về một cao điểm ở Bắc của căn cứ, gần sân bay L-19. Những chiếc còn lại tiến về phía nam của Làng Tân Cảnh và chuyển về hướng tây tới căn cứ. Chiếc Spectre này bay về Pleiku để tiếp xăng và đạn dược và được thay thế bởi một Spectre khác trang bị 2 đại bác 20 ly và hai khẩu 40 ly ko thể hủy diệt T-54. Tuy nhiên, từ trên tháp nước cao, đại úy Yonan vẫn có thể chỉ điểm cho Spectre tác xạ vào những đơn vị bộ binh địch đang tiến gần căn cứ.

Dobbins đã ở phía đông của chu vi gần cổng chánh với trung tá Thông từ khi nhận tin về thiết giáp địch. Lúc gần 6g sáng, chiến xa đã tấn công xuyên qua lớp sương mù của sáng sớm. Chúng dùng đại liên 12.8 ly bắn vào các bunker trên chu vi phòng thủ gần cổng chánh. Cùng lúc đó, những xe tăng vừa chuyển lên cao điểm gần sân bay L19, nay từ đó yểm trợ cho bộ binh tấn công vào chu vi phía bắc, trong khi một lực lượng bộ binh tấn công vào chu vi phía nam, bảo vệ bởi đại đội trinh sát của trung đoàn 42. Dobbins báo cáo cho TTHQ về tình hình chiến xa địch và lính VNCH ồ ạt vượt qua hàng rào kẽm gai để rút lui. Lần đầu tiên thấy và nghe chiến xa địch đã khiến 900 lính vô kỷ luật và ko ai chỉ huy này đã bỏ chạy trong sợ hãi — Đây là lính trước giờ chỉ ở hậu cứ của sđ ở Bình Định, chuyên lo về hành chánh tiếp vận, chưa có kinh nghiệm chiến đấu như lính ở các đv tác chiến — người dịch.

Những xe tăng này vượt qua cầu và chạy hàng một về cổng chánh. Dobbins và trung tá Thông vẫn ở gần cổng chánh để cố gắng giữ vững tinh thần binh sĩ tác chiến dưới quyền trước cảnh lính của hậu cứ sđ chạy tán loạn trong kinh hoàng.

Sau khi nhận tin lính của hậu cứ sđ bỏ chạy, Kaplan ra lịnh cho cố vấn sđ chuẩn bị để trực thăng bốc đi nếu quân VNCH ko giữ được Tân Cảnh. Năm phút sau, Dobbins báo cáo xe tăng địch đã ở cổng chánh và quân VNCH ko thể cản chúng. Liên lạc truyền tin bị cắt do ba quả 105 ly rơi trúng TTHQ và làm ngả an-ten. Lúc này các cố vấn nghĩ rằng họ ko thể làm gì trước tình hình này. Họ rời TTHQ, mang theo súng, máy truyền tin, và hai M72 và tìm đường về tháp nước. Yonan vẫn ở tháp nước với hy vọng phá vỡ cuộc tấn công nếu máy bay tới. Xui xẻo thay, sương mù buổi sáng khiến máy bay ko còn hoạt động hiệu quả và trực thăng gunship thì 30 phút nữa mới tới. Đại úy Stewart, đang mang một PRC-25, gọi Yonan rời khỏi tháp nước và di chuyển với họ về hướng tây nơi mà trực thăng sẽ bốc. Yonan trả lời ko thể đi vào lúc này, nhưng sẽ gặp họ sau đó. Cuộc nói chuyện bị gián đoạn vì hai đạn đại bác T-54 nổ trên tháp nước. Stewart lại gọi cho Yonan khuyên nên rời tháp nước gấp nhưng Yonan trả lời tuy ko bị thương nhưng ko thể rời vào lúc này.

Bất chấp đạn pháo của đối phương, các cố vấn chạy về hàng rào phòng thủ phía tây. Ở đó họ thấy một T-54 đang cháy chạy rất nhanh (barrel down) trên đường từ hướng bắc ngay bên ngoài hàng rào kẽm gai. Xe tăng đã chạy qua vị trí của họ trước khi họ bắn xe này bằng M72. Tuy nhiên, khi chiếc thứ hai trong tầm nhắm, trung tá McCain và trung úy Jones đã thất vọng vì súng M72 bị trục trặc khiến chiếc này cũng chạy qua luôn. May mắn cho họ ko có bộ binh tùng thiết theo hai xe này. Lợi dụng cơ hội quý giá này, các cố vấn băng nhanh qua đường. Trước mặt họ là bãi mìn dài 200 m của phe ta. Một lính VNCH bị thương nằm gần đó. Trong khi được sơ cứu, người lính nói với cố vấn rằng y biết đường đi qua bãi mìn. Y đã dẫn họ đi qua bãi mìn tới phía bên kia của khu rừng thưa (clearing). Tới đây họ nghỉ ngơi chốc lát và suy nghĩ về bước kế tiếp. 

Ông Vann đã thức suốt đêm trước đó khi tin tức liên tục gửi đến Pleiku. Khi trời mới hừng sáng, ông và phi công của ông, đại úy Richard Todd, trên đường bay tới Tân Cảnh. Ông đã ko thể liên lạc với các cố vấn từ khi thiết giáp địch tấn công BTL của sđ 22 bộ binh. Khi ở trên bầu trời Tân Cảnh, ông đã liên lạc với Steward đang ở dưới đất. Vann đã xem xét tình hình và hỏi cách nào tốt nhứt để cứu các cố vấn. Đại tá Kaplan, cố vấn trưởng của sđ 22 đã trả lời rằng họ sẽ di chuyển thêm 200 m về phía tây để tránh đạn súng nhỏ. Khi sáu cố vấn di chuyển, ba người cố vấn còn lại bắn che chỡ cho họ, sau đó họ đã gặp nhau. Cuối cùng họ quyết định rằng Vann có thể đáp xuống bằng chiếc OH-58 của ông để bốc toán cố vấn đầu tiên. 


Đó là thiếu tá Carter, thiếu tá Warmath, đại úy Keller, thiếu úy Jones, trung sĩ Ward và hạ sĩ Zollenkopher. Trong khi Vann cất cánh với nhóm cố vấn này, vài lính VNCH quá sợ hãi đã bám vào càng trực thăng. Sợ rằng các người lính này sẽ rớt trước khi máy bay tới trại Ben Het, ông đáp xuống căn cứ Dak To II, nơi trung tá Robert Brownlee và đại úy Charles Carden, cố vấn của trung đoàn 47 bộ binh, đang chờ họ. Sau đó Vann trở lại Tân Cảnh để cứu các cố vấn còn lại. Khi máy bay vừa đáp xuống, khoảng 15-20 binh sĩ VNCH quá sợ hãi tràn lên máy bay. Khi cố gắng cất cánh, máy bay đã rơi, nhưng Vann và đại úy Todd thoát được. Sau đó, một máy bay khác đã cứu họ và sau đó tìm (locate) được ba cố vấn còn lại gồm Kaplan, McCain và Stewart. Các người lính VNCH hoảng loạn, lần nữa đã cố gắng trèo lên máy bay nhưng ko thành công, và máy bay đã cất cánh mà ko có họ. 30 phút sau, máy bay đã đáp xuống Pleiku". 

. . . 

Chuyển ngữ từ trang 38-42 của: Wayback Machine (archive.org)

Bài thứ hai sẽ là trận đánh ở căn cứ Dak To II, sẽ dịch sau. 

=================

PHẦN ĐỌC THÊM: Sau đây là đặc điểm của máy bay AC-130.

1/ Phiên bản AC-130 H (Spectre), đã dùng trong trận Dak To -Tân Cảnh. Trang bị:

2 đại bác 20 ly M61 Vulcan.

1 đại bác 40 ly L/60 Bofors bắn 120 viên/phút.

1 đại bác 105 ly bắn 6-10 viên/phút.

2/ Phiên bản AC-130 U (Spooky II) trang bị:

1 đại bác 25 ly GAU-12/U Gatlin 5 nòng bắn 1.800 viên/phút.

1 đại bác 40 ly L60 Bofors 120 viên phút.

Ở phiên bản này, có hệ thống áp lực khoang tàu (cabin pressure system) khiến phi hành đoàn có thể bay cao và bay xa hơn. Hiện nay các máy bay dân sự đều có hệ thống này.

San Jose ngày 3 tháng 9 2023.

Tài Trần

=======


 















Saturday, April 17, 2021

 Nhân đọc cuốn "Về Từ Tân Cảnh"

của Đại Tá Tôn Thất Hùng,

KBC 7865, ngày 24 tháng 4 năm 1974.


Mũ Xanh Sài-Gòn.


Lời mở đầu:

Sau trận Tân Cảnh năm 1972, tôi thường ngày theo rỏi tin tức chiến sự đang sôi động trên khắp chiến trường miền Nam Việt Nam trong mùa hè đỏ lửa, đặc biệt về mặt trận Kontum, về câu chuyện thoát hiểm của Đại Tá Tôn Thất Hùng, sau khi Tân Cảnh bị cộng sản Bắc Việt tràn ngập bằng chiến xa.

Báo chí và truyền thông có tường thuật về trận đánh Tân Cảnh, và có đề cập đến tập hồi ký chiến trường kể lại đoạn đường gian truân thoát hiểm trong rừng của Đại Tá Tôn Thất Hùng từ Tân Cảnh đi về hướng Kontum ... tập hồi ký có tựa đề "Về Từ Tân Cảnh".

Nhưng mãi đến 30 năm sau, hôm nay "Sàigòn" mới hân hạnh được tác giả cho mượn đọc cuốn sách duy nhất còn lại, để làm lưu niệm, trên đường định cư tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ, San Jose, Cali; với lời dặn dò: "đọc xong nhớ hoàn trả vì gia tài chỉ còn một cuốn chót". Anh nói tiếp: " ... đem được cuốn hồi ký "Về Từ Tân Cảnh" này lọt khỏi công an quan thuế cộng sản Việt Nam là một sự may mắn, không tưởng tượng được. Sau này, nhờ vậy mà hồi ký được bạn bè hỏi mượn xem, hoặc trích đăng - ví dụ báo Tiếng Vang đã đăng toàn bộ. Đây là một chuyện thật về chiến trận Tân Cảnh vào mùa hè đỏ lửa năm 1972.

Sách được nhà xuất bản Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản đợt đầu vào tháng 4 năm 1974, (chủ nhiệm là nhà thơ Tô Thuỳ Yên) không bán, chỉ dành tặng các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH), thư viện Quốc Gia, các thư viện Trường Quân Sự và trường Trung Học của Việt Nam Cộng Hoà.

Sách dày 215 trang, khổ lớn, thay lời tựa do nhà văn Quân Đội Lê Huy Linh Vũ viết, tức Trung Tá Nguyễn Trường Thọ, gốc ở Huế, từ cục Quân Cụ chuyển ngành qua Cục Tâm Lý Chiến, Tổng Cuộc Chiến Tranh Chính Trị; Trung Tá Thọ đã chết trong ngục tù cộng sản ở Bắc Việt năm 1976-1979... Hình bìa trước, in bản đồ quân sự, có địa danh Tân Cảnh, Kontum, Pleiku ... Hình bìa sau in bản nhạc "Người Chết Trở Về" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.

Sách gồm ba phần:

- Phần một là "Bình Hải" chưa xong đã lên "Sơn Trấn" - Hai ngày rưởi cuối cùng tại bản doanh chiến thuật của Tư Lệnh họ Lê - Còn mất trong đường tơ kẻ tóc.

- Phần hai là Cô độc lữ hành - Gặp ân nhân - Lại một lần nữa suýt vinh thăng ... nằm ...

- Phần ba là Thay lời kết luận ...


Các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam (TQLCVN) đã từng quen thuộc với các địa danh Pleiku, Kontum, Dakto, Tân Cảnh ... của vùng 2 chiến thuật. Từ năm 1962, Tiểu Đoàn 2 TQLC đã có mặt để bảo vệ an ninh khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm đến viếng thăm đồng bào Kinh-Thượng tại Tân Cảnh ... Chiến Đoàn TQLC có những lúc hành quân dài ngày liên tục, vượt núi băng rừng, dưới những cơn mưa tầm tả, lạnh buốt của vùng Ba-Biên-Giới. Quân sĩ đều bị lỡ chân, bị vắt cắn hút máu, đói và rét. Lương thực mang theo đã cạn, thời tiết xấu, máy bay không đến tiếp tế thả dù được, mỗi lần đụng trận chạm địch, muốn tản thương bằng trực thăng phải huy động cả Đại Đội chặt cây, dọn bải bốc ... mất cả nửa ngày.  

Nói đến Tân Cảnh, là nói đến mục tiêu của bao chiến dịch của giặc! Tân Cảnh là một vị trí chiến lược then chốt.

Tân Cảnh có nhiều kỷ niệm vui buồn với TQLCVN. Cố Chuẩn Tướng Nguyễn Bá Liên, vị cựu Tư Lệnh TQLCVN, 1963 - 1964, cấp chỉ huy tài ba, đã nhiều lần xua quân vào Biệt Khu 24, đánh những trận tuyệt vời trong mùa chiến dịch 1968-1969, trước khi tử nạn trực thăng trưa ngày 6 tháng 12 năm 1969 tại đỉnh Dat-Rekat, không xa Tân Cảnh bao nhiêu.   

Trận Đức Cơ 1965, Chiến Đoàn A TQLCVN của "Ông Già Hự" (Cố Đại Tá Nguyễn Thành Yên) với Tiểu Đoàn 2/TQLC của Thiếu Tá Hoàng Tích Thông và Tiểu Đoàn 5/TQLC của Thiếu Tá Dương Hạnh Phước đã tham dự trận đánh giải vây Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đức Cơ và mở đường tiếp tế cho trại dọc theo Quốc Lộ 19B. Thời gian này, Đại Tá Tôn Thất Hùng là Tham Mưu Phó được tăng phái làm phụ tá Tư Lệnh kiêm Tham Mưu Trưởng hành quân Biệt Khu 24 cho Chuẩn Tướng Cao Hảo Hớn, vì Đại Tá Hùng am hiểu nhiều về tình hình và địa thế toàn vùng Cao Nguyên hơn ...


Trận Bình Giả của Tiểu Đoàn 4/TQLC năm 1964; tiếp sau đó là cuộc hành quân truy lùng địch của các Chiến Đoàn TQLC trong khu vực Bình Giả, quận Đất Đỏ ... thuộc tỉnh Phước Tuy - Bà Rịa. Lúc này Trung Tá Lê Đức Đạt là Tỉnh Trưởng, kiêm Tiểu Khu Trưởng Phước Tuy, và là bạn đồng khóa 6 Võ Bị Đà Lạt, thân thiết với Trung Tá Nguyễn Thành Yên, Chiến Đoàn Trưởng kiêm Tư Lệnh Phó Binh Chủng TQLCVN.


Đôi lời giới thiệu về tác giả:

Đại Tá Tôn Thất Hùng gốc Huế (hoàng phái), nhập ngũ Quân Đội Pháp (đồng hoá) năm 1945 trong Binh Đoàn Thông Ngôn (Corps Militaire des Interprètes de Langue Locale de l'Armeé de Terre, viết tắt là CMILLAT), mà rất nhiều cấp Tướng và Tá (các vị đã từng làm việc với ông khi ông còn "phụ trách Đoàn" (Contrôleur du CMILLAT) ở cấp vùng (Zone): Vùng Bắc rồi vùng Nam của Quân Đội Pháp ở Trung Việt (Zone Nord, rồi Zone Sud des F.T.C.V.)), đã xuất thân (chuẩn bị) từ "lò CMILLAT" này, rồi được đào tạo để xuất thân (chính thức) từ các trường Võ Bị Quốc Gia danh tiếng như Đà-Lạt (mà tên lúc tiên khởi là Đập-Đá, vì trường được thành lập tại địa danh này ở Huế, Thừa Thiên) Nam Định, hay Thủ Đức, và sau này, do tài năng của bản thân, đã vươn cao lên trong Chính Phủ và Quân Lực VNCH, điển hình là quý vị:


Trung Tướng Nguyễn Văn Mạnh Tham Mưu Trưởng (TMT) Liên Quân

Trung Tướng Ngô Dzu Tư Lệnh Quân Đoàn 2

Chuẩn Tướng Võ Dzinh TMT Không Quân

Chuẩn Tướng Trần Văn Hai TL/SĐ7/BB (đã tuẩn tiết 30 tháng 4 năm 1975)

Đại Tá Phạm Anh Thứ Trưởng Bộ Chiêu Hồi

Đại Tá Vĩnh Biểu Phụ tá lãnh thổ vùng 1 Chiến Thuật

Đại Tá Phan Đình Hùng Tỉnh Trưởng Kontum (cuối cùng)

Đại Tá Huỳnh Ngọc Lang Cựu phó An Ninh Quân Đội (đã mất trong ngục tù cộng sản)

Đại Tá Phạm Ngọc Thiệp Trưởng Phòng 2 Bộ TTM

Trung Tá Phan Viết Ba Tiểu khu phó Tiểu Khu (TK) Khánh Hòa (tử nạn máy bay cùng Tướng Phong)

Trung Tá Lê Trung Hưng Tiểu khu phó TK Pleiku

Trung Tá Nguyễn Đình Hữu Tùy viên quân lực tại Thái Lan

Trung Tá Nguyễn Kim Khánh Tỉng Trưởng Ninh Thuận (giải ngũ năm 1963)

Trung Tá Nguyễn Mâu Trưởng khối Cảnh Sát Đặc Biệt

Trung Tá Lữ Phụng Trưởng Phòng 2 SĐ23/BB (đã mất trong tù cs năm 1976)

Thiếu Tá Tôn Thất Cang Tiểu khu phó TK Phú Yên (bị vc giết năm 1964?)

Thiếu Tá Phạm Ngọc Côn TMT TK Kontum

Xin nói thêm, cũng xuất thân là "anh tẹt nháp"

Trung Tướng Trần Thanh Phong Tử nạn máy bay với Tr/Tá Phan Viết Ba

Đại Tá Lê Đức Đạt TL/SĐ22/BB (tử trận ở Tân Cảnh)

Trung Tá Nguyễn Văn Mười Ba Cựu An Ninh Quân Đội (đã mất tại Pháp, sau 1975)

Tháng 12 năm 1954, anh được chuyển qua Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (hiện dịch) với cấp bậc cũ trong quân đội Pháp là Trung Úy (anh là Lieutenant Interprete từ 1950).

Anh đã tốt nghiệp Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp năm 1967 và khóa 3 Cao Đẳng Quốc Phòng (CĐQP) năm 1970-1971. Từ năm 1959, anh đã từng giữ các chức vụ Tham Mưu Phó (TMP) rồi Tham Mưu Trưởng (TMT) cấp Sư Đoàn, cấp Quân Khu và cấp Quân Đoàn/vùng Chiến Thuật (TMT/QĐ2 1968-1970). Mãn khóa 3 CĐQP, anh tình nguyện ra lại chiến trường để rồi, lại phải làm Phụ Tá Tư Lệnh cho 2 vị Tư Lệnh Sư Đoàn 22-BB (Chuẩn Tướng Lê Ngọc Triển và Đại Tá Lê Đức Đạt từ 1/3/72). Trong đầu năm 1972, anh là Đại Tá thâm niên trong hàng cấp Đại Tá của Sư Đoàn 22-BB.           

Trong 30 năm quân ngũ, anh đã có 17 năm phục vụ ở Cao Nguyên qua 5 nhiệm kỳ, có nhiều huy chương mà trong đó có 2 chiến thương. Anh có biệt danh là "Hùng Râu", với hàng ria mép tỉa đẹp như tài tử Clark Gable và thích hút ống "pipe" (ở thắt lưng, luôn luôn có 2 pipes đựng thuốc pipe hiệu Captain Black). Trong QL/VNCH trước 1975, chỉ có 4 Sĩ Quan được phép bộ TTM cho để "ria": Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Đại Tá Hà Xuân Vịnh (Không Quân), Đại Tá Nguyễn Văn Bạch (Công Binh) và anh. Bạn bè thường cho là anh giống tài tử Gregory Peck. Từ 1947, anh thường uống rượu mạnh (trong bidon hành quân luôn luôn là Martell, Hennessy hoặc Remy Martin), cũng như xoa mạt chược thì (quen) không hề xếp bài (chưa khi nào "chao ù"). Tháng 9 năm 1994, sau khi được mổ tim và đeo máy trợ tim, anh đã bỏ hẳn pipe, rượu và mạt chược.              

Mũ Xanh Sài-Gòn cùng Chiến Đoàn A TQLC từng sát cánh hoạt động hành quân trong tình chiến hữu với anh qua các trận chiến Dakto, Pleime, Đức Cơ ... trong năm 1965-1966.         

Sau năm 1975, lại là bạn tù thân thiết của 13 năm tù "cải tạo cộng sản", từ trại tù Yên Bái, xuống Hà Tây, Hà Nam, và vào Long Khánh ...                        

Hơn 10 năm định cư tỵ nạn tại Mỹ, tháng 7 năm 2004, nhân dịp tôi tham dự Đại Hội kỷ niệm 50 năm thành lập Binh Chủng TQLC/VN tổ chức tại Houston, Sẳn trớn, tôi bay qua San Jose, thăm các chiến hữu TQLC, gia đình Hậu Nghĩa, dự kỷ niệm 50 năm lớp Khải Định Huế 48-55, và đặc biệt các chiến hữu cựu tù nhân chính trị ở Bắc Cali này. Tôi được dịp gặp lại anh lần đầu tiên tại Mỹ, cùng với anh Vũ Quang Chiêm, anh Phan Đình Hùng, anh Bùi Đức Tài, anh Võ Quế và nhiều anh em chiến hữu khác.

Lần hội ngộ ngày 17 tháng 7 năm 2004 tại thành phố San Jose, chúng tôi được đải ăn món Dim Sum tại nhà hàng Royal City, có cả anh chị Tôn Thất Hùng tham dự. Buổi ăn ngon trong bầu không khí thân tình chiến hữu, biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn kể cho nhau nghe mà không thể nào kể hết. Buổi hội ngộ thật đáng nhớ suốt đời và không biết có còn dịp khác nữa không?

Anh năm nay đã 80 tuổi, cơ thể tuy bị giải phẩu 16 lần (2 lần do bị thương ở chiến trường VN năm 1947 và 1972, 6 lần mổ tim ...) về nhiều căn bệnh khác nhau. Sức khỏe may mắn là tốt, nhờ sự chăm sóc của chị Hùng đã 50 năm nay. Tinh thần vẫn còn sáng suốt và minh mẫn. Lúc tôi hỏi anh về trận Đức Cơ, Tân Cảnh ... anh vẫn còn nhớ các chi tiết để giải thích những điểm thắc mắc của tôi. Anh sống thoải mái và hạnh phúc với gia đình ở Milpitas, các con đã trưởng thành và thành đạt... đầy đủ cháu nội, ngoại. Trong số 3 cháu nội trai, luôn luôn đứng đầu lớp (tiểu học), có 1 đưá có lẽ sẽ nối nghiệp "lính" của ông nội, vì thích mặc đồ lính rằn ri và sống rất kỷ luật.


Vào Chuyện: Về Từ Tân Cảnh


(Bài soạn thảo và đúc kết các dữ kiện quan trọng này do Mũ Xanh Sài-Gòn viết lại trong tập sách 215 trang chính ...)


Phần Một: "Bình Hải" chưa xong đã phải lên "Sơn Trấn"


Mùa hè đỏ lửa 1972 - Mặt trận Kontum


Trong tháng 3 năm 1972, Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn II (TP2/QĐ2), đã ghi nhận được các tin tức tình báo là Tướng CSBV (công sản Bắc Việt) Hoàng Minh Thảo đã huy động ba Sư Đoàn: 2, 320 và F10, được yểm trợ bởi Lữ Đoàn 203 xe tăng và nhiều Trung Đoàn pháo để chuẩn bị cho chiến trường Kontum. 

Trung Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Đoàn II, sau khi hội ý với Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II là John Paul Vann, đã phối trí BTL/TP (Bộ Tư Lệnh Tiền Phương) Sư Đoàn 22 BB do Đại Tá Lê Đức Đạt làm Tư Lệnh, vừa nhận bàn giao của Chuẩn Tướng Lê Ngọc Triển kể từ 1 tháng 3 năm 1972. 

Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Hành Quân, đồn trú chung với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 42 của Trung Tá Nguyễn Hữu Thông, đã hoạt động tại Tân Cảnh từ trước. Ba Trung Đoàn 41, 42 và 47 hoạt động trong khu vực Tân Cảnh - Dakto cùng với một Thiết Đoàn Kỵ Binh và Lữ Đoàn II Dù.

Ngày 14 tháng 4 năm 1972, trận địa pháo của cộng sản Bắc Việt đã đổ ập xuống căn cứ "Charlie", người hy sinh đầu tiên lại là Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù.

Từ ngày 20 đến 22 tháng 4 năm 72, các Sư Đoàn CSBV áp sát vòng đai Tân Cảnh. Đại Tá Trịnh Tiếu, TP2/QĐ2 xin tiến hành ngay kế hoạch tiêu diêt địch bằng B-52 mà trước đây Tướng Ngô Dzu và Cố Vấn John P. Vann đã tiên liệu. Điều bất ngờ là John P. Vann đã từ chối lời yêu cầu dùng B-52 để "dọn sạch" đối phương! Nguyên nhân là John P. Vann không muốn yểm trợ cho Đại Tá Lê Đức Đạt. Vann có ác cảm với Đại Tá Đạt vì Đại Tá Đạt lên nắm Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh (TL/SĐ/22-BB) ngoài ý muốn của Vann !?

John P. Vann nguyên là cố vấn trưởng, cấp bậc Trung Tá cho Đại Tá Huỳnh Văn Cao Tư Lệnh Sư Đoàn 7 BB vào năm 1961-1962. Trong trận Ấp Bắc I, 1962, ở Định Tường mà CSBV tuyên truyền láo khoét là chiến thắng "vẻ vang". Trớ trêu thay, cố vấn J.P. Vann của SĐ7/BB, Đại Úy J. Scanlon cố vấn "hèn nhát" của Đại Đội 7 - M113 do Đại Uý Lý Tòng Bá làm Đại Đội Trưởng Đại Đội 7-M113, và nhà báo thiên tả Neilshehan, cả 3 người hợp lại, tạo một "scandale" về trận Ấp Bắc I, bóp méo sự thật và nói xấu Quân Đội VNCH. Trong trận Ấp Bắc I, Đại Tá Bùi Đình Đạm nắm quyền Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. 

Theo nhận xét của Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá thì J.P Vann là một sĩ quan cố vấn có tình tình nóng nảy và hăng say quá độ, và có thái độ trịnh thượng đối với mọi người...

Sau trận Ấp Bắc I, J.P. Vann giải ngũ và về Mỹ. Năm 1966, Vann trở lại Việt Nam, từ 1967-69, với tư cách là quan chức dân chính cao cấp của Mỹ, Vann chỉ huy cơ quan CORDS (Civil Operations Revolutionary Development Support) mà chính phủ VNCH có tên gọi là "Trung Tâm Bình Định Phát Triển". Khi được bổ nhiệm làm cố vấn trưởng QĐII. Vann tranh đấu để được hưởng quyền lợi ngang hàng với một cấp tướng của quân đội Mỹ.

Sau trận Kontum kiêu hùng năm 1972, John P. Vann đã tử nạn trực thăng, lúc đang bay từ Pleiku đi Kontum... Vann có vợ Việt Nam...

Ngày 22 tháng 4 năm 1972

Từ Bà Gi, bản doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 22-BB, Qui Nhơn, lúc 8 giờ sáng, một trực thăng cất cánh đi Tân Cảnh, chở Đại Tá Tôn Thất Hùng, Cố Vấn Phòng 3, Trung Tá Crunk, Thiếu Tá Phú, Đại Úy Châu thuộc Phòng 3 Sư Đoàn và Trung Úy Bình thuộc Đại Đội Tổng Hành Dinh ... qua khỏi đèo Mang Yang, đỉnh đèo trên Quốc Lộ 19 là tới Pleiku. Trực thăng dừng lại để đổ xăng, luôn tiện để các sĩ quan tham mưu vào liên lạc phối hợp với Bộ Tham Mưu Quân Đoàn II; sau đó là tiếp tục lên Tân Cảnh.

Sáng nay địch lại pháo kích vào Tân Cảnh. Trực thăng phải bay lượn kiểu bươm bướm từ Diên Bình lên. Đang ở độ cao 700 mét rồi bay đứng (hovering) ngay một chỗ, và nhào xuống, nhào thẳng xuống bải đáp, là sân cờ của đồn Tân Cảnh. Mọi người trên trực thăng đã chuẩn bị sẵn sàng tư thế, nhanh nhẹn nhảy xuống đất, để trực thăng cất cánh ngay, tránh đạn pháo của địch. Lúc này đúng 11:00 giờ trưa ...


Hai ngày rưởi cuối cùng tại bản doanh chiến thuật của Tư Lệnh họ Lê.



Đại Tá Lê Đức Đạt

Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB Đại Tá Hùng đến hầm thuyết trình thì gặp ngay Đại Tá Lê Đức Đạt, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh, đang ngồi nghe Trung Tá Nguyễn Văn Tân, Trung Đoàn Trưởng 47, trình bày tình hình tại khu vực trách nhiệm. Bên cạnh là Đại Tá Kaplan, Cố Vấn Trưởng Sư Đoàn 22 Bộ Binh, đẫy đà và mạnh khỏe như lực sĩ ... Ông Tư Lệnh có vẻ mệt mỏi, chắc vì nhiều đêm thao thức trằn trọc. Nhưng sau cặp kính "nhốp" trắng, tia mắt vẫn thông minh, nhanh nhẹn ...

Trong buổi chiều 22 tháng 4 năm 72

Tân Cảnh lãnh thêm cả ngàn quả pháo, cà 122 ly lẫn 130 ly. Nhưng không có thiệt hại nào về nhân mạng. Vì quân nhân mọi cấp, luôn luôn khôn khéo, ẩn vào các hầm hố tại các vị trí chiến đấu đã ẩn định từ trước. Mỗi khi cần liên lạc, địch vừa dứt pháo, với nón sắt, áo giáp, vũ khí cầm tay, họ nhanh chân chạy "zích-zắc" theo cái giao thông hào.

20:00 giờ, Quận Trưởng Dakto, Thiếu Tá Lò Văn Bảo, báo bằng C-25: 

- Có nghe tiếng chiến xa địch đang rú ở vài cây số hướng Tây, có lẽ hướng suối Dak-Ngay.

Cố Vấn Kaplan cũng được Bộ Tham Mưu Sư Đoàn thông báo, nhưng không tin! Mãi đến khi Cố Vấn Chi Khu xác nhận, Kaplan mới cho gọi Cố Vấn Quân Đoàn II, xin phi cơ C-130 "spector" có trang bị đại bác 57 ly, lên quan sát và tác xạ khi cần ... Đến 22:00 giờ, phi cơ "spector" báo cho hay là đã quan sát có khoảng 9 hay 10 thiết giáp địch đã bị pháo của Sư Đoàn 22 bắn hạ và đang bốc cháy trên Quốc Lộ 14. Có một vài chiếc chạy về hướng sông Tân Cảnh.... Ngoài ra "spector" còn hạ được 2 chiếc khác.

Mệt mỏi quá, tất cả nhân viên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Hành Quân từ Tư Lệnh trở xuống đều qua một đêm không ngủ ... chờ mãi cho đến sáng, chẳng có tin tức gì hấp dẫn hơn

Ngày 23 tháng 4 năm 1972

Một Tiểu Đoàn của Sư Đoàn 22 Bộ Binh đã giao tranh với địch quân tại một vị trí gần Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 22 (BTL/SĐ22) Tiền Phương, Tân Cảnh. Cũng trong ngày này, cộng quân pháo kích tới tấp vào Tân Cảnh bằng hoả tiển 122 ly và AT-3 Sagger tầm nhiệt. Lực lượng chiến xa bảo vệ BTL/SĐ22 Hành Quân lúc bấy giờ chỉ có 10 chiếc chiến xa, đang điều động dàn đội hình ngăn chặn địch, đã bị hỏa tiển của cộng quân bắn cháy mất 8 chiếc, còn lại 2 chiếc thì bị đứt xích... Thiếu Tá Nguyễn Bá Như, Trung Đoàn Phó 42, cùng Đại Úy Cố Vấn Kenneth Yoman đã leo lên tháp nước cao tại căn cứ, xử dụng đại liên 12 ly 7 để tác xạ địch, cũng bị hỏa tiển Sagger bắn trúng, bồn nước nổ tung và cà hai vị sĩ quan này chết tại chỗ.

Khoảng 10:00 giờ tối ngày 23 tháng 4 năm 72, tại Quận Dakto, cách Tân Cảnh 2 km về phiá Bắc, đơn vị trú phòng quan sát thấy đèn của 11 chiến xa T-54 của CSBV tiến về hướng Quận. BTL/QĐ-II đã đưa C-130 spector lên thả trái sáng; trong khi đó 15 chiến xa T-54 khác của địch chạy về Tân Cảnh. Phi cơ C-130 spector tác xạ để ngăn chận chiến xa địch, nhưng không có hiệu quả. Vì loại phi cơ này không có đạn chống chiến xa. 

Tình hình chiến sự tại Tân Cảnh đã bước vào những giờ phút quyết định của cuộc chiến ...

Từ tờ mờ sáng, Chi Khu Dakto đã tung thêm nhiều toán thám sát Địa Phương Quân vào vùng Kon-Hojao. Trung Đoàn 42 thì làm chặn dưới, từ hướng sông Tân Cảnh lục soát đến đèo Dakto. L-19 từ Kontum lên, tham gia vào cuộc truy tầm.Còn khu trục thì đã sẵn sàng tại Pleiku.

Ầm! ầm! Một chiếc M-41, một trong vài chiếc còn lại, đang án ngữ tại Trung Tâm Hành Quân, được lệnh di chuyển ra cổng chính để tác xạ vào một lô cốt bê-tông, đã bị đặc công cộng sản chiếm trong đêm. Ra gần tới cổng trại, chiếc M-41 bị ngay hỏa tiển điều khiển của giặc từ hường dãy núi phía Đông thị trấn bắn vào. Chiếc M-41 bốc cháy ngay. Hỏa tiển này, là loại vũ khí mới của địch, có mức bắn tầm xa bằng súng cối 82 ly, có tên là AT-3 Sagger tầm nhiệt. Từ hướng Đông và Nam doanh trại, tiếng súng phóng lựu RPD và AK-47 của địch lại nổ dòn. Tiếng đại liên M-60 của quân ta bố phòng, lại bắn trả dữ dội.  

Buổi thuyết trình sáng hôm ấy, chấm dứt lúc 8 giờ 30 sáng; các cấp chỉ huy xuống hầm Trung Tâm Hành Quân để hội ý về những kế hoạch trong ngày và kế tiếp ... Nhịp độ làm việc rộn ràng và khẩn cấp. Bổng có tiếng "ziu - zu! ziu! zu! ziu!" đột nhiên từ khoảng lỗ thông hào của phòng Truyền Tin bay vút vào ... qua mặt Đại Tá Đạt, Cố Vấn Trưởng Kaplan, Đại Tá Vy Văn Bình Chỉ Huy Trưởng Phòng Thủ Căn Cứ và Đại Tá Hùng ... một hỏa tiển bay qua luôn trước mặt Trung Tá Châu Truyền Tin ngồi gần đó, ... và nổ "ầm" ... sau khi chạm vào tường và dội lại... nổ ngay, cách bàn giấy Đại Tá Đạt hơn 1 mét. Một sĩ quan Phòng 3 hy sinh ngay tại chỗ, Thiếu Tá Phương, sĩ quan liên lạc Biệt Động Quân Biên Phòng nằm đè lên bất tỉnh. Một số sĩ quan Việt-Mỹ khác bị thương. Giấy tờ và bàn ghế bắt đầu bén lửa ... cháy... nhốn nháo và hỗn loạn.

Trong khi đó, pháo 122 ly và 130 ly của địch tiếp tục nổ ở sân cờ, ở hàng rào phòng thủ, và một số cơ sở trong doanh trại. Tiếng nổ thật chói tai...

Tất cả quân nhân thuộc Bộ Tham Mưu Sư Đoàn còn lại, đều phân tán ra các giao thông hào, sẵn sàng chiến đấu tự vệ, vì lúc ấy đã nghe rõ tiếng AK-47 của địch nổ chát chúa ở Cổng Chính... Một số sĩ quan Tham Mưu đã rút an toàn qua hầm Trung Tâm Hành Quân của Mỹ... Tuy nhiên thân tình Việt-Mỹ đã bắt đầu bất ổn. Cố Vấn Kaplan đi tới, đi lui, nét mặt đăm chiêu khó chịu. Trung Tâm Hành Quân mới này, chật chội vì nhiều người quá... hơi người nồng nặc... bình nước uống thật lớn, trên bàn cạn dần...

Khoảng hơn 11:00 giờ trưa, Trung Tá Nguyễn Hữu Thông, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 42, cùng với Đại Úy Dobbins bước vào Trung Tâm Hành Quân mới, và trình với Đại Tá Đạt Tư Lệnh SĐ-22:

- Địch xuất hiện khá nhiều ở Đông và Đông-Nam doanh trại.

- Cobra (trực thăng võ trang) đang hoạt động mạnh và hữu hiệu.

- Diên Bình đã sắp xếp tạm xong.

- Tiểu Đoàn 2/42 đang lục soát ở ven thị trấn.

- Thành phần còn lại, kể cả Tiểu Đoàn 4 là đơn vị đang giải tán, vẫn từ doanh trại bung quân ra và đang cận chiến nhiều nơi với địch.

- Không liên lạc hàng ngang với Trung Đoàn 47 ở Phượng Hoàng được.

- Chưa có báo cáo gì của toán Địa Phương Quân Chi Khu Dakto...

Vào lúc 17:00 giờ, Đại Úy Lâm, Không Quân và 2 nhân viên khác từ bên hầm tiếp vận, uể oải bước vào, sau khi báo cáo đã hoàn tất việc tải thương...

Chiều nay sự giao thiệp giữa Đại Tá Đạt và cố vấn Kaplan không còn đượm vẻ tương đắc như trước nữa. Tuy không nghe rõ hai người nói gì với nhau, nhưng qua nét mặt từ từ ửng đỏ của vị Tư Lệnh, Bộ Tham Mưu biết rằng ông đã kém vui...

Vì biết tình hình nghiêm trọng, sau khi thảo luận với Quân Đoàn II, Đại Tá Đạt chỉ thị rút Tiểu Đoàn 9 Dù ở Ngok-Tu về tăng cường cho Tân Cảnh. Tuy nhiên vì không liên lạc truyền tin được, nên Trung Đoàn 47 không chuyển lệnh được cho Tiểu Đoàn 9 Dù...

Ông Tư Lệnh thở dài... rồi dùng siêu tần số liên lạc với Tướng Ngô Dzu... Một lúc sau, Đại Tá Đạt hội ý với Bộ Tham Mưu:

- OK! Quân Đoàn thuận cho mình rút! kể từ ngày mai.

Anh em lại nhìn nhau. Nghĩ rằng, quyết định ấy có hởi trể (?). Vòng vây của địch, ngày càng siết chặt. Rồi! Cái gì cũng quá muộn rồi! Trầm ngâm... thở dài... Lúc ấy vào khoảng 21:00 giờ đêm 23 tháng 4 năm 1972. 

Máy móc và tài liệu mật mã truyền tin đã cháy hết rồi, trong buổi sáng. Nhưng rồi Bộ Tham Mưu cũng đã ngụy đàm được với hai vị Trung Đoàn Trưởng 42 và 47. Vắn tắt cho họ biết quyết định trên. Dặn 47 cho Thiếu Tá Quận Trưởng Dakto biết lệnh ấy luôn. Vẫn không liện lạc được với Tiểu Đoàn 9 Dù!?

Chủ Nhật ngày 24 tháng 4 năm 1972

Quá nữa khuya, 23 rạng ngày 24, qua điện thoại của Đại Tá Trịnh Tiếu, cho biết Trung Tướng Ngô Dzu và toàn bộ Tham Mưu Quân Đoàn II, đang ngồi trực ở Trung Tâm Hành Quân (TTHQ) để theo rỏi tình hình ở Tân Cảnh... Đại Tá Hùng thay mặt trả lời, là tuy anh em đều mệt mỏi, tình hình hơi nản, nhưng chúng tôi vẫn vững tinh thần, và còn tiếp tục chiến đấu được...

Tội nghiệp cho anh em, kể cả Tư Lệnh Đạt, cực nhọc đã hơn 80 ngày rồi!

03g00 sáng, Trung Tướng Ngô Dzu gọi điện thoại thăm hỏi tình hình và được Đại Tá Hùng báo cáo là tinh thần anh em rất bình tĩnh, rất tốt...

05g00 sáng, từ trong hầm TTHQ, nghe rõ nhiều tiến nổ M-72, nghe hệ thống máy truyền tin C-25 của Trung Đoàn 42; có giọng báo cáo khẩn cấp, nhiều "tăng" T-54 địch xuất hiện ngay ở cổng chính và phiá Bắc Trại. M-72 của quân bạn bắn tới tấp mà không ngăn cản nổi...

Qua hệ thống siêu tần số, liên lạc với Quân Đoàn, lúc ấy là 6 giờ kém 5 phút, sáng thứ hai ngày 24 tháng 4 năm 1972, Đại Tá Hùng gặp được ngay Đại Tá Lê Quang Bình, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II:

- "Tăng" địch đã xuất hiện ở ngay cổng trại Tân Cảnh. Anh cho Không Quân lên ngay. Tôi chấm dứt liên lạc với anh từ nay... Chào...

Và chỉ nghe tiếng "chao ôi" của người bạn cũ trong máy!!!

- Trình Đại Tá Tư Lệnh, có gì thì cũng đến 7g00 sáng mới "nổ" lớn!

- Kaplan đâu? Đại Tá Đạt hỏi

- Họ rút rồi!

- Khi nào?

- Lúc nãy, cách đây vài phút (!?)...

Nhận thấy tình hình vô vọng, Cố Vấn (CV) Kaplan, CV Trưởng Sư Đoàn 22 Bộ Binh, đã liên lạc khẩn cấp yêu cầu CV Truởng Quân Đoàn II, John P. Vann, bay lên cứu ông và toán CV Mỹ!. Khoảng 4:00 giờ sáng, John P. Văn lái trực thăng trinh sát đặc biệt OH-58KIOWA, loại mới nhất của Không Quân Mỹ, đáp xuống một bãi đáp rất hẹp, bên cạnh bãi mìn để bốc Kaplan....

Trung Đoàn 47 báo cáo, bộ chỉ huy Trung Đoàn đang bị địch tấn công mạnh, giọng của Trung Đoàn Trưởng 47, mới vừa lên trong máy, đã tắc nghẹn! Như vậy, cánh quân của 47 từ sân bay Phượng Hoàng... không về đến Tân Cảnh được nữa... Mất liên lạc với 47 luôn!

Vậy quân trú phòng bảo vệ cho Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Sư Đoàn đã ra sao? Phải chăng là địch đã lần hồi chiếm được phòng tuyến Đông của trại rồi? Nghĩa là nay Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật... chỉ còn vỏn vẹn nhân viên Bộ Chỉ Huy mà thôi. Sắp đến lúc phải "tự lực cánh sinh". Lúc này khoảng 14g00...

Sau cặp kính "nhốp" trắng, đôi mắt ông Tư Lệnh long lanh... trông buồn quá, nhưng vẫn hùng dũng...

- "Râu" à! Dù ông "Alpha" (Tư Lệnh Quân Đoàn II) hứa cố gắng đem trực thăng đến cứu anh em mình; nhưng khó mà đáp xuống được trong tình hình này! Hãy tính cách mà thoát ra bằng đường bộ thì có hy vọng hơn?

... Phải chăng đây là giờ hấp hối của chúng tôi?

- Không! không thể được! phải làm một cái gì để mà thoát.

Bộ Tham Mưu nhanh chóng hội ý:

- Nên rút hết ra ngoài! Thế giặc đang mạnh! Ra ngoài mà chiến đấu! Biết đâu được việc hơn? ... Xin Quân Đoàn cho thêm vài phi tuần nữa, thả bom phá vở hệ thống mìn của trại, rồi mở đường máu mà ra... Nên mở đường máu ra! Ra ngoài, thoát vào rừng, có nhiều may mắn hơn là chịu kẹt ở trong này...

Sau phút suy tư, ông Tư Lệnh quyết định:

- OK! Mở đường máu ra!

Lúc này khoảng hơn 15:00 giờ!

Điểm hẹn Diên Bình!


Còn...mất... trong đường tơ kẻ tóc.


- Xung phong! xung phong!

"Hùng Râu" quạt liền cả băng đạn colt vào hướng giặc... Tiếng súng M-16, AK-47, Trung liên của đôi bên nổ dòn... hổn loạn... "Hùng Râu" và vài quân nhân chạy lúp xúp theo đường mương, cạnh Tỉnh Lộ 512, đường đi lên sân bay... Ầm! ầm! ...

- "Râu"! nằm xuống đã!

"Hùng Râu" vừa vội nằm xuống... thì một quả đạn... bay vút ngay trên đầu, rớt xuống và cày nát đám đất gần đấy...

Nhìn lại thấy Tư Lệnh Đạt, Trung Úy Tùy Viên Tiến, Trung Sĩ Thọ và hai cận vệ khác, đang nằm dài trong một cái hố tròn, rộng, bên vệ đường...

- Can gì không?... can gì không? ... "Râu"?

Đại Tá Đạt hỏi khẻ, khi thấy tôi nằm xuống! Chống tay trái, mà nhăn mặt, có vẻ đau đớn!

- Nhẹ thôi! có lẽ khi nãy, bị một hoặc hai mảnh nhỏ 82 ly gì đó trên khủy tay trái... 

- Cậu tính sao? Anh em thoát ra hết cả rồi!

- Tôi thấy có môt số chạy xuống hướng kho đạn, một số tiến lên sân bay L-19.

- Khoan đã ông ơi! Tạm dừng đây, xem tình hình đã. ..."Hùng Râu" trả lời: Khoan, đừng gấp! Tư Lệnh ơi!

- Ở hướng Bắc và Đông, có nhiều lùm cây. Các hướng khác trống quá! Lát nữa, lúc bớt pháo, mình "dzọt" qua bên đó, tôi sẽ đi! Ông tính sao?

- Thôi! tôi "dzọt" trước, chứ ở đây lạnh lắm!

Rồi ông Tư Lệnh gọi khẽ:

- Tiến, Thọ! theo tao! ...

Và cả hai người cận vệ kia ... cùng theo luôn ba thầy trò ông Tư Lệnh... Tôi ở lại vị trí một mình.

Lát sau, tôi đành men theo bờ mương của Tỉnh Lộ 512, và cùng đi theo vài quân nhân đi đàng trước... Trước mặt, xa hơn một chút, Đại Tá Đạt đang cẩn thận tiến... Trung Úy Tiến lúp xúp đi trước, Đại Tá Đạt đi giữa, Trung Sĩ Thọ đi sau. Không thấy hai cận vệ khi nãy nữa? Chắc họ "dzọt" hướng khác rồi!

Đạt Tá Đạt lúp xúp lên dốc... cái dốc dẫn đến sân bay L-19... Và lúc ấy, súng nổ vang... Các lùm cây, rặng cây ở hướng Đông mà tôi dự trù sẽ ẩn vào đó... các lùm cây ấy... bỗng đứng dậy! và chạy nhanh về hướng mà thành phần Bộ Chỉ Huy mới thoát về phía trước... Tôi liếc nhanh đồng hồ 17g45... gặp ngay một bụi cây... tôi liền chui vào... và may mắn nhất, dưới lùm cây này,,, có môt cái hố thiên nhiên. Có lẽ do nước chảy xoáy theo đường mương, tạo thành... Tiếng súng nổ vang... nổ dòn khá lâu...

Mưa... mưa...mưa to quá... Đúng 19g00... Trời đã tối hẳn. Tốt, chuẩn bị chuồn thôi! Liếc nhìn đồng hồ dạ quang, đúng 20:00 giờ! Bầu trời bổng nhiên sáng choang. Phi cơ "Hỏa Long" đang thả trái sáng hỏa châu, trên bầu trời Tân Cảnh...


Phần Hai: Hoành Sơn Nhất Đái - Vạn Đại Dung Thân - Cô độc lữ hành.


Ngày một (24 tháng 4 năm 1972)

Đồng hồ dạ quang chỉ 21:15 giờ, bò ra khỏi bụi cây, áo quần ướt sũng. Vẫn còn nón sắt, áo giáp, "bi-đông" còn một phần Hennessy! Kiểm soát lại đạn dược... đã xài hết 3 "sạt-gơ" rồi, còn 1 "sạt-gơ" trong súng. Một lát, đã tiến tới quá dốc đưa đến sân bay L-19. Chỗ mà khi chiều hồi 17:45 giờ còn thoáng thấy Tư Lệnh Lê Đức Đạt...

Không còn một ai hết! Yên lặng quá! Mùi máu đâu đây! Máu của bạn hay thù? Phía sau lưng, tiếng nổ ở trại Chu Văn Tiếp vẫn tiếp tục. Kho đạn tiếp tục nổ. Chỉ còn một mình ta thôi! Con đường về Diên Bình xa lắm! Như thế mình cũng cách Tân Cảnh được 5 hay 6 cây số gì rồi!

Ngày hai (25 tháng 4 năm 1972)

Mấy giờ rồi? 5 giờ sáng rồi! Tiến thối lưỡng nan. Đi nữa thì trời sắp sáng rồi! Đây là đâu, cũng chẳng biết nữa? Kiếm một chỗ trú ẩn, rồi tính sau... Đã 06:00 giờ chiều. Qua được một ngày. Bụng đói cồn cào. 10:00 giờ đêm, khởi hành đi thôi! và lặng lẻ như bóng ma, như một Frankenstein! Nhắm theo hướng Bắc và Tây-Bắc mà bước, Trên trời, chùm Đại hùng tinh với ngôi sao Bắc Đẩu chỉ về hướng Bắc...

02:00 giờ sáng rồi, chắc đúng là cái suối hôm qua. Như vậy không còn xa Phượng Hoàng bao nhiêu nữa. Lại lủi thủi đi nữa! "Cô độc lữ hành....!"

À, cái nhà ga phi cảng cũ của Phượng Hoàng đây rồi. Chỗ mà năm xưa, Thiếu Tướng Linh Quang Viên cùng Đại Tá Hoàng Văn Tỷ Tư Lệnh Phó, đầu năm 1964 thì phải, đã đưa bản doanh chiến thuật Sư Đoàn lên đóng tại đây cả tháng! Tung quân đánh thẳng vào hướng Tây của mật khu Đỗ Xá đó!... Sông Dak Pako! Múc nước đổ đầy "bi đông"... vượt qua cầu bộ hành... Trời mờ mờ sáng, 6 giờ rồi mà sương mù quá cở... Một xác, hai xác, ba xác.... toàn là xác Biệt Động Quân... Thôi "chuồn" gấp!

Mặt trời lên cao. Á! chỗ này có nhiều mây rừng chằng chịt... có thể là một chỗ ẩn núp tốt. Rời Tân Cảnh đã 2 ngày rồi, nhưng đã đói 4 ngày. Vì hôm 23 và 24 chỉ được chút gạo sấy vào bụng vá 1 tô mì gói thôi... Thâm sơn giá lạnh. Trời đất mênh mông. Chả lẽ ta ta phải tuyệt tích oan uổng ở đây? Chết không một lời trăn trối cho vợ con!... Đêm trường thật là vắng tanh. Lạnh... muỗi quá. Có nhắm được phương hướng của dãy Ngok-Kon-Krin để đi lên phía của căn cứ hỏa lực "5" không? ..."Buôn" nào đây? Vào kiếm cái gì ăn đã. Phải dò dẫm thật cẩn thận... chả có ai cả! Mừng quá... thơm, thơm, thơm nhiều quá! cả một rừng thơm. Trời giúp ta rồi. Thôi! không có dao thì thôi. Ta hãy dùng răng mà cắn vỏ thơm vậy! Đau ơi là đau. Cạp vá cắn cho hết vỏ của 10 trái thơm này, toét cha nó cả hai môi. Đau quá! Tuy nhiên chất ngọt của thơm rót vào huyết quản... thật là êm dịu, làm cho tỉnh hẳn người lại. Sống rồi, có thêm sức rồi!

Ngày ba (26 tháng 4 năm 1972)

Hôm nay đã là ngày thứ ba, mà mình đã thoát khỏi Tân Cảnh. Như một con cá sẩy lưới. Khẩn cấp vô cùng!

"Buôn" nào đây? Phải chăng là làng Dak-Rao-Kuan! Nhưng dân làng đi đâu hết rồi? Địch cũng đi qua đây rồi! Chúng đã đập phá hết vật dụng, dụng cụ của dân làng... Tốt quá, tìm được một con dao rừng. À! lại có cả một chiếc áo "chandail" nữa chứ! Quanh "Buôn" này có cả mấy vườn thơm. Lại bẻ, gọt vỏ cả hơn chục trái. Đem theo phòng hờ. Chứ biết còn mấy ngày nữa? Lương khô của ta đây!...

Phành phạch!... Phành phạch! ...

Tiếng trực thăng từ đàng xa vang dội đến. Đồng hồ chỉ 6 giờ 20 sáng. Nhưng trực thăng chỉ xẹt qua đầu rồi đi thẳng luôn! Mình đâu có phương tiện gì liên lạc với họ... Thôi thế là hết rồi! Còn gì hy vọng nữa? Dùng răng cắn lần hồi các mấu chỉ, các cấp hiệu, huy hiệu "Tam Sơn Nhị Hà" (SĐ-22-BB) và bảng tên. Rồi lấy dao róc lần... Lấy chúc bùn bôi lên. Chôn hết vào lòng đất mẹ. Áo giáp, nón sắt nặng quá. Thôi ta cũng giã từ "mi" tại đây nhé! Tháo nhẫn cưới... tháo băng tang - Kỷ niệm ngày cu Huỳnh, đứa con Út mất đó - cất kỷ vào "báp-phơi". kẻo lở mất, thì buồn lắm!

Đêm nay lạnh quá, sao lạnh quá!

Ngày tư (27 tháng 4 năm 1972)

Sáng nay, bừng mắt dậy. Nguy to! sao mặt trời lại mọc ... bên tay phải? Trong đêm, ta đã loay hoay làm sao ... mà lại đi ngược lên hướng Bắc? Lộn xà ngầu cả rồi!

Bụng đói cồn cào. Thơm dự trữ đã hết, không còn gì nữa, trừ "bi đông" nước...

- Chết cha rồi! Toàn là hầm hố chằng chịt. Có cả dây điện thoại nữa? Ta đã lọt vào vị trí đóng quân của địch rồi...Chà! có nhiều nhà tranh quá! Kho tàng gì của địch đây? Toàn là lúa. Chỗ nào cũng là lúa. Im phăng phắc. Thôi "bỏ đi Tám", chuồn gấp!

Cứ ngày nghỉ, đêm đi, trong giá lạnh và đói rét... Mưa vẫn rơi, mỗi lúc một nặng hột hơn... Đây là đâu? Ta đã lạc hướng rồi! Tính nhẩm hôm nay đã sang ngày thứ sáu gì rồi!

Cần phải định hướng, tìm ngay chỗ nào có suối nước, mới sống được? Nhịn đói có thể chịu đựng ít lâu nữa được... Nhưng không có nước thì xỉu, chóng chết lắm!


Gặp Ân Nhân


Soạt! giật mình, hoảng hốt! Nguy tai rồi, cái gì sau rặng tre? Lố nhố... khá nhiều người Thượng. Đồng bào của Paul-Nưr (bạn) hay của Y-Jon (địch) đây? Cả thẩy là 11 người. Trước hết là một lão ông, tuy tuổi đã cao, nhưng còn quắc thước. Trên lưng, gùi 1 chiếc va-li, ở trần, mặc 1 quần xà lỏn đã bạc màu. Kế đến là 2 lão bà, một bà cụ thì ở trần, bà kia kia mặc áo. Rồi là 2 thiếu nữ hay thiếu phụ gì đó, khoảng trên dưới 25 tuổi. Và 6 đứa trẻ nít, đứa lớn nhất khỏng 10 tuổi và nhỏ nhất là 1 bé đang được bế trên tay, tất cả là 4 trai và 2 gái...

Tập trung vốn liếng thổ ngữ Djarai, pha lẫn tiếng Việt, hai bên Kinh-Thượng nói chuyện với nhau khá lâu... Tôi mới biết đây là hai gia đình hàng xóm, ở gần Tân Cảnh. Đã tản cư được mấy hôm rồi. Chớp được yếu tố đó, tôi khuyên họ hãy cùng tôi xuôi về Nam, để tìm nơi an toàn tạm trú lánh nạn... Họ đồng ý là cùng nhau xuôi làng Kon-Haring.

Tôi ra dấu đói bụng. Họ bẻ cho một phần củ mì, ra dấu cho tôi ăn. Củ mì sống, làm sao mà nuốt? Thôi đành nhai ngấu nghiến. Ngòn ngọt, đăng đắng thế nào đấy? Và nuốt ực với nước.

Rồi cả đoàn người, dọc theo sông Dak-Pako, xuôi về Nam. Đoàn tổng cộng 12 người. Đi mãi, đi mãi cho đến khi trời tối hẳn; Đoàn người mới dừng chân nghỉ. Vẫn bên cánh sông Dak-Poko... Chưa tới Kontum được. Mà cũng chưa xa Tân Cảnh bao nhiêu. Cả đoàn người dừng lại, nấu ăn. Cơm chín rồi! Cơm! Hoan hô! Nồi cơm mì cũng chín rồi... Lão ông tên là K'O, còn người con gái, chồng là lính Địa Phương Quân Tân Cảnh đã tử trận năm ngoái, tên là Ch'le; Goá phụ kia, con của lão bà, tên là Kung.

Mười một ngày đi qua rồi, có lẽ đây là buổi cơm ngon nhất trong đời tôi... chỉ một nắm cơm nóng, ăn bốc, vài hột muối sống và một phần ba trái ớt cay, chia cho nhau... Nhưng sao mà ngon dữ vậy!

Ăn xong, mọi người nằm xoài ra mà ngủ đêm thôi.. Thấy bà cụ K'O vẫn ở trần, tôi liền trao ngay chiếc áo "chandail" màu nâu tặng bà cụ cho đỡ lạnh. Cụ mừng lắm! goá phụ Ch'le liền đưa cho tôi mượn một chiếc "liner-poncho" để quấn vào người mà ngủ.

Ngày bảy (30 tháng 4 năm 1972)

Sáng nay, đoàn người tiếp tục đi về phía Nam. Vẫn chưa vượt sông Dak-Poko được...

À! chỗ này chắc đã xảy ra một trận ác chiến giữa Thiên Thần Mũ Đỏ và địch? Rải rác một vài áo giáp, một vài nón sắt, một vài nón rừng... lẫn lộn với vài đôi dép râu "Bình-Trị-Thiên", vài nón cối bọc vải nhựa của cộng sản... chỗ này một cây M-16, chỗ kia một khẩu AK-47 đã gãy ngang...

Đến chiều, khi dừng chân tại một ngọn đồi hoang vu, Ch'le mới cho biết rằng ở buôn Kon-Kotu, dân làng đã bị giặc lùa đi hết. Cụ K'O đã lần mò vào đó, tí nữa bị lính cộng sản bắt giữ. Khi thấy cộng sản đang tập trung dân làng ở nhà "rông" để cán bộ Thượng cộng nói chuyện, cụ K'O đã nhanh chân đánh bài tẩu mã...

Thế là hướng Kon-Kotu đã bị nghẽn rồi! Không thể tiếp tục xuôi Nam, mà phải tìm đường khác để tránh lính cộng sản...

Ngày tám (1 tháng 5 năm 1972)

Đã trở lại dòng sông Dak-Poko rồi. Nước chảy xoáy và hơi sâu. Không bơi qua được, nhất là có 6 đứa con nít... May sao, cụ K'O đi lục soát một hồi, tìm được một chiếc thuyền gỗ độc mộc; tuy đã bị lủng một vài lổ. Nhưng xài tạm đuợc. Hãy tìm cách bít các lổ thủng lại!

Đoàn người lần lượt qua sông. Thật là vất vả, kẻ trước người sau, nắm tay nhau giây chuyền. Cứ mấy lần liên tiếp, suýt bị nước cuốn trôi. Cuối cùng cũng qua được hết. Mệt ơi là mệt. Kìa! kìa! Đàng trước kia, có một đoàn người! Thượng có, cộng sản có! Đông quá! Súng AK có, mã tấu có, lại có cả hai khẩu trung liên nữa...May quá, gió thổi ngược từ hướng Đông, nên giặc không phát giác được...

Bà cụ K'O có vẻ bằng lòng khi thấy tôi lần hồi giống hình dáng của một người Thượng; đầu bù, tóc rối, da mỗi ngày một sạm đen hơn; áo quần tả tơi, mang vớ thay vì đi giày. Thật không còn thể thống gì nữa... May chỉ còn khẩu Colt với 2 viên đạn, nhét bên hông trái, áo phủ choàng lên... Lại lên đường!

Đồng bào Thượng, họ khỏe thật. Giờ nào cũng di chuyển được, cứ ba bốn tiếng đồng hồ, lại nghỉ 15 phút, rồi tiếp tực đi. Không chút than van.

Ngày mười (3 tháng 5 năm 1972)

Sáng nay sương mù quá. Ngày nay chắc sẽ nóng như thiêu đốt. Nhờ trận mưa to, trong đêm, đỡ quá! Các "bình đông" đã đầy nước... Lại tiếp tục đi... Đến Kon-Horing. Trong "buôn" có đồng bào Thượng đi ra... Cụ K'O tiến đến nói chuyện líu lo, mình chẳng nghe rõ được gì cả! Không biết họ có đi báo cáo cho cộng sản đang chiếm đóng trong Kon-Horing không?

Và có 2 vợ chồng đi ra, người chồng là lính Tiểu Đoàn 3/42 cho tôi biết là có một số quân nhân của ta đang bị cộng sản bắt giữ làm tù binh, kể cả Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng 3/42. Đang ngồi trong nhà "rông" của "buôn làng"...

Ngày mười hai (5 tháng 5 năm 1972)

Đoàn người lại tiếp tục ra đi... Nơi dự trù đến là làng Kon-Trang. Đi được nhiêu! Hay bấy nhiêu!... Khuya nay, ướt hết. Một trận mưa to đã đánh thức mọi người dậy! Ngủ gà! ngủ gật! Được phút nào hay phút ấy! Giật mình thức dậy. Đồng hồ dạ quang đã chỉ 4 giờ sáng rồi. Mọi người lại lên đường. Cụ K'O mò mẫm bước trước, mọi người âm thầm theo sau... 

Ầm ầm! Ầm! Ầm! ....

Chết rồi! Dường như B-52! Đúng là B-52 rồi! Thả ở đâu mà ta có cảm giác như là gần lắm! Nằm im như thế này thật là "lảng". Cả đoàn cứ "thấp thỏm" sợ bom ném đến nơi... 

Sáng rồi! Đoàn người lại lên đường. Trước mặt Quốc Lộ 14 hiện lên, nhưng không thể nào nhận xét là khoảng đường nào? Lại tiếp tục đi. Khi mọi người đến một xóm làng, thì chung quanh hoang tàn quá. Dak-Brong ơi! Buồn tênh và vắng teo. Nhà cửa cháy rụi. Chỉ còn một tấm bảng nền trắng, chữ xanh ghi "Nhà Thờ Dak Brong"

- Yuan! (giặc)

Bổng nhiên cụ K'O ra dấu im lặng và nói khẻ, rồi chỉ lui về phiá tay phải, hướng trên Quốc Lộ 14. Hú viá! Phúc đức quá! Nếu hồi nãy, cụ K'O không kịp ghì tay ta lại, thì chuyến này chắc chết hết. Trên dốc đổ xuống, một đám cộng sản vũ khí đầy đủ, khoảng 50 tên, đi ngược về phía Bắc....

Cơm trưa xong, lại tiếp tục lên đường. Vẫn đi bên triền Đông của Quốc Lộ 14.

Tối nay lại được dừng chân bên khe nước. Tối nay ngủ thật ngon... Đến 3 giờ sáng, mọi người lục đục thức dậy và lên đường đi cho mãi đến 8 giờ sáng, thì cụ K'O chỉ về hướng đàng trước, phiá tay mặt và nói:

- Võ Định!

Đi thật lậu! đi thật lâu, và thật là mỏi chân. Mặt trời đã lên cao. Thỉnh thoảng có nghe tiếng L-19 bay trên đầu, có tiếng trực thăng phành phạch...

Chiều xuống dần... Đã bắt đầu hoàng hôn...

Ngô Trang! Ngô Trang! Đúng là đồn Ngô Trang trước mắt ta rồi. Nhưng sao hoang vắng thế? Đại Đội Địa Phương Quân đã rút bỏ?! Như vậy ta chỉ còn cách thị xã Kontum độ 10 cây số thôi! Không biết tình hình Kontum ra sao? Đói... khát... bé con lại khóc... Một hai trẻ nhỏ bị sốt đã hai ba hôm rồi! Làm nhớ đến các con mình ở nhà... đoàn người lại lầm lủi đi!


Lại một lần nữa... suýt vinh thăng nằm...


Đoàn người tiếp tục đi. Kẻ trước người sau, níu áo nhau mà bước, vì trăng soi mờ mờ. Trong rừng chỉ thấp thoáng thấy hình nhau thôi... Ra đến mem Quốc Lộ 14, mình cản họ không nên đi trên đường, sẽ bị địch đóng chốt chặn bắt, nhưng bây giờ họ trong tình trạng thất vọng và nản chí quá rồi. Họ liều mạng, không kể gì nguy hiểm nữa. Mình đành phải nối đuôi đi theo họ thôi...

Tôi lẻo đẻo đi sau cùng hết. Hai vai nặng chĩu vì mỏi mệt, vì đói... Lại băng qua một hàng kẽm gai "concertina" giăng trên mặt đường... Rồi một hàng kẽm gai khác! Kẽm gai đầu mà nhiều thế? Phúc đức là nãy giờ vẫn qua lọt hết... Khi mọi người chuẩn bị lên một cái dốc dài... thì ... tôi bỗng nghe tiếng "soạt" bên phải, rồi một cục đá được ném ra đường! Địch à? Chết cha rồi! Địch phục kích? Tôi khẽ la lên một tiếng nhỏ, đủ nghe: 

- Yuan! (giặc)

Và ầm!...ầm!...ầm!... nổ liên tiếp sau đó... Tôi cảm thấy có máu chảy từ cánh tay trái. Máu! Từ trong cơ thể tuông ra... Tôi nằm sấp ngay tại chỗ, và ... đụng nhầm Ch'le với đứa con trai. Cả hai mẹ con run cầm cập! Đủ loại vũ khí thay nhau nổ! Tiếng súng rền vang, như xé cả tai, tung cả óc! Hỏa châu sáng rực một góc trời. Mùi thuốc súng mịt mù khét lẹt... Hồi hộp! Khẩn trương! Nghẹt thở!... Máu tiếp tục chảy! Chịu đựng như thế này... được bao nhiêu nữa nhỉ!? Tai bên trái đã điếc mấy ngày rồi. Tay trái bị thương, như vậy là hai lần liên tiếp! Bị thương lần này có vẻ nặng hơn kỳ mở đường máu ra khỏi Tân Cảnh hôm 24 tháng 4 năm 1972; ...Máu chảy nhiều quá.

Giờ phút hãi hùng đã qua! Ta vẫn còn sống? Nhìn đồng hồ dạ quang, chỉ 2 giờ 30 sáng. Tiếng súng im rồi! Hết quả châu rồi!

Rút từ trong túi quần ra gói băng cá nhân. Gói băng này đáng lẽ đã được xử dụng từ chiều 24 tháng 4 năm 1972 khi thoát hiểm ở Tân Cảnh và bị thương bởi các miểng cối 82 ly của địch đó. Gói băng này mà nếu không được giác quan thứ sáu cảng giác, thì nay vào giờ phút bị thương trầm trọng này, còn đâu nữa, để xử dụng "thiết nghi" ... Nghĩ thật hãi hùng...

Thây kệ nữa! Mìn hay "concertina" gì... cũng mặc! "Chuồn" nhanh đi! Kẻo khi mặt trời mọc, thì mọi phản ứng đều không kịp nữa, muộn màng hết rồi! Và... bò... bò... mạo hiểm bò qua "concertina"! Ch'le ôm bé trai... bò theo! Không biết đã lọt qua mấy lần "concertina" nhỉ? Thật là hy hữu! Kể ra, mình cũng học được... nghề đặc công của cộng sản rồi đó... Ch'le! Bò đi! Tôi nói khẻ với Ch'le và lần hồi... kéo Ch'le và bé trai... bò...bò...bò... trên mặt đường nhựa.

Chết cha rồi! Mất mẹ khẩu súng Colt rồi! Chuồn nhanh! Lủi nhanh lên! Chứ sáng đến, giặc nó bắt được, thế nào chúng cũng hành hạ thân xác... 9 người kia, đi thất lạc.. không biết họ chạy hướng nào rồi?



Từ Tân Cảnh lận lội về đây , cũng đã trên 40 cây số rồi, mà toàn là băng rừng, chứ đâu phải ít?... Đã 5 giờ sáng, Ch'le dậy đi! Phải tìm cách "chuồn" nhanh mới được!.. Bỗng nhiên, khi liếc nhìn ngược lại phiá Bắc, tôi thấy thấp thoáng có vài mái "tôle". OK! hãy chuồn vào "buôn" này đã. Liền rồi, kiếm thức ăn, nước uống... lẩn trốn đến tối, sẽ kiếm cách đi nữa! Cần nhất là phải có nước uống kẻo khát, và đã mất máu nhiều quá rồi! Đây là một làng Thượng Công Giáo. Nhưng chẳng còn gì nguyên vẹn... giặc đã đập phá hết rồi! Hoang tàn! Phải chăng đây là làng Plei-Trum? Không có gí ăn cả! Đi kiếm "cái" nước uống! May mắn gặp được cái giếng nước... uống xong, tôi nói: 

- Thôi đi lên cái nhà sàn này!

Tôi đi trước, xách theo 2 bầu đựng đầy nước uống. Ch'le theo sau, với mấy trái bắp khô... tay ẩm bé trai.

- Ch'le à! Mình nằm trốn ở đây. Tối sẽ đi. Đi bây giờ thì Việt cộng bắn chết... 

Nếu lỡ mình có chấm dứt cuộc đòi hôm nay ở đây, làm sao cho vợ con biết nhỉ?

- Yuan! (giặc)

Ch'le hoảng hốt thốt lên tiếng đó, và tôi chưa kịp phản ứng gì... thì Ch'le đã ẩm con, vụt chạy lén xuống nhà sàn...

- Bắt lấy nó! bắt lấy nó! lục soát!

Chết cha rồi! tuần tiểu của giặc đã đến! Tiếng quát lên là một giọng Nghệ An hay Hà Tỉnh gì đó...Ừ! Tụi nó bao vây nhà sàn này rồi! Đông lắm! Nói giọng thật khó nghe... Hoặc ta nằm im, hết sức giữ im lặng, tối sẽ tẩu thoát. Hoặc lỡ nếu tụi nó có lên nhà sàn này mà lục soát, thì "sư", "cha" nó, không đầu hàng gì cả! Chửi cha nó một mách để nó "phơ" chết cho rồi!

- Nè, một tổ đi lấy nước, một tổ đi vo gạo, xong còn hành quân nữa chứ!

Nghe tiếng được, tiếng mất. Dưới nhà sàn, có hai ba tên gì đó, có vẻ mệt mỏi . Nhưng nói gì, nghe không rõ. Đủ giọng nói, sao lại có giọng Nam nữa nhỉ? Cái gì mà "Gio Linh" nhỉ? À! mà sao không thấy chúng lên lục soát nhỉ? Bây giờ tối đa cũng chỉ 7 hay 8 giờ sáng.

- Đ.M.! Tổ cha nó!

Và một tràng văng tục, từ hướng giếng nước lên. Lạ nhỉ? Bắc Việt mà sao chửi tục thế nhỉ? Bạn hay thù?

- Đ.M.! Sư cha nó! có cái giếng nước mà đ... có "gầu"! Tổ cha nó! làm sao có nước mà nấu cơm?

- Thù... hay ...bạn?

Nếu là bạn, thì đám "KBC" (đơn vị quân đội Việt Nam Cộng Hoà) này là ai? Chắc là bạn rồi! Vì Bắc Việt đâu có xổ tiếng Đức dữ vậy? Phải tìm cách liếc xem. Có phải là bạn không?

Nhè nhẹ... Nhè nhẹ... rút cặp kính "nhốp" mầu, từ túi áo... nhè nhẹ đưa lên mắt. Liếc qua khe hở của tấm liếp! Biệt Động Quân (BĐQ)! Chắc là anh em BĐQ! Liên Đoàn 6 của Bé rồi đấy! Rằn ri nè! Đội nón sắt nè! Xem kỹ, xem thật kỹ đi! May quá, họ đi giày nhà binh hết! Mừng quá! Mừng quá! Lỡ mà chỉ toàn là dép râu Bình-Trị-Thiên thì bỏ mẹ! giặc cộng đó!... Bạn đây rồi! Tim đập thình thịch...

Tôi nhè nhẹ ... nhè nhẹ ngồi dậy... và nhè nhẹ đưa chân... Két! Một thanh gỗ trên sàn nhà có lẽ không được siết kỹ, phát ra tiếng động như vậy... Từ ngoài, một hìng bóng lao vào, tay trên có súng...

- Khoan, đừng bắn!

- Anh là ai? "Dơ" tay lên!

- Đừng bắn, tôi là bạn đây!

Liếc nhìn một lần nữa, đúng rồi! Biệt Động Quân của mình rồi!

- Biệt Động Quân hả? Liên Đoàn 6 phải không?

- Phải!

Mừng quá mừng! Không tả cho xiết được. Nước mắt từ đâu nhè nhẹ trào ra. Không còn ngòi bút nào diễn tả hết nỗi xức động. Mùng rỡ đến nghẹn ngào!

- Tôi là bạn đây! Tôi thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh đây!

- Anh là ai? Trung Đoàn nào?

- Tôi thuộc Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn... để tôi lấy thẻ sĩ quan cho các bạn xem!

- Không! đưa tay lên! đứng yên!

- Khoan, anh em xem kỹ. Tôi đang bị thương! Cứ nhìn tay trái tôi thì rõ. Máu ra nhiều rồi!

- Đúng! Biệt Động Quân này, chuyên môn đánh mìn cơ giới mà!

- Phải! và mìn đó đã nổ hồi đêm, làm tay trái tôi bị thương...

Vừa giải thích, bình tỉnh giải thích, tôi lần mò túi áo, lấy "bốp phơi", lấy thẻ sĩ quan ra, trao cho họ...

- Trời! Đại Tá!

- Đại Tá! Đại Tá!

- Cám ơn anh em. Liên lạc với đơn vị đi, và cho tôi xin một điếu thuóc lá... Cám ơn anh!

Trong khi một hiệu thính viên liên lạc máy PRC-25 về Đại Đội, tôi hàn huyên với các Biệt Động Quân, hút và rít những hơi thuốc lá ngon lạ lùng!...

- Dạ, Đại Tá thế là may mắn lắm!

- Sao vậy?

- Nếu Đại Tá về sớm hơn, chỉ chiều hôm qua thôi, ... là tiêu rồi!

- Ủa! Sao vậy?

- Hai, ba hôm trước, tụi Việt cộng nó đánh vào tận Nghỉa Trang Quân Đội, mình phải dội bom quá cỡ, có cả B-52 nữa!

Ừ! Phải rồi! Hôm mình bị điếc tai trái đó!

- Dạ, mời Đại Tá theo em về Đại Đội, sẽ có xe Jeep trên Tiểu Đoàn đến đón, đưa Đại Tá về Kontum, để gặp các thẩm quyền. Sau đó có trực thăng đua về Pleiku ngay...

- À! Hôm nay là mấy tây rồi nhỉ?

- Thưa Đại Tá, mồng 9 tháng 5 tây!

- Tính nhẩm, cũng đã mười sáu ngày qua!


Phần Ba: Thay Lời Kết



Tháng 10 năm 1972: Đại Tá Tôn Thất Hùng chụp chung với gia đình cụ K'O ân nhân, tại Trung Tâm Tỵ-Nạn Pleiku, gồm có cụ K'O, Bà cụ K'O, goá-    phụ CH'LE (con của ông bà K'O) và 3 con trai của CH'LE

 


Ngày 10 tháng 10 năm 1972, qua sự tìm kiếm của văn phòng Bộ Phát Triển Sắc Tộc của ông Paul Nưr, Đại Tá Tôn Thất Hùng đã thăm gặp đuợc gia đình cụ K'O, ân nhân, tại Trung Tâm Tỵ Nạn Pleiku. Đại Tá Hùng đã đem tặng một số tiền bạc và lượng vàng y - như đã hứa - cùng thêm 2 thùng quần áo cũ, với thuốc lá, thực phẩm, ống vố hút thuốc, mền mùng v...v... Nhân dịp này, Đại Tá Hùng cũng được cụ K'O kể thêm là bà mẹ của Kung, đã chết hôm mìn nổ khuya mồng 9 tháng 5, trong khi Đại Tá Hùng thì bị thương ở tay...

Bức hình của Đại Tá Hùng chụp chung với gia đình cụ K'O ở Trung Tâm Tỵ Nạn Pleiku hôm đó, đã được báo chí Quốc Nội và Quốc Ngoại đăng tải rộng rãi để đề cao hành động "Phò Nguy Tế Khổn" của một gia đình người Thượng đã có công với các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Một hành động can đảm đáng ca ngợi của gia đình cụ K'O tiêu biểu cho đồng bào Thượng vùng Cao Nguyên luôn muốn thoát xa bọn cộng sản độc tài, khát máu...

"Trọn một đời sống trong quân ngũ mà có một việc tôi không tài nào hiểu được đó là sức chịu đựng và tánh kiên trì của người lính Bộ Binh! Anh ta tiến lên chiến tuyến hay từ chiến tuyến trở lại hậu cứ, thì mỗi ngày, hai mươi bốn giờ, giờ phút nào, anh cũng có thể hẹn với tử thần cả! 

Nếu anh chưa gẫy gập xuống

Quả là một phép lạ!..."


Tướng Mac Arthur


Viết xong ngày 1 tháng 10 năm 2004

Mũ Xanh Sài-Gòn

Iowa City, IOWA - USA