Showing posts with label chiến tranh việt nam. Show all posts
Showing posts with label chiến tranh việt nam. Show all posts

Thursday, March 5, 2026

 

LÀM THẾ NÀO MỸ ĐÃ CHIẾN THẮNG, RỒI THUA, CUỘC CHIẾN VIỆT NAM.


                  Hình đăng trong bài viết này.

Chuyển ngữ từ bài viết của William J. Lutti. 28/03/2025.

 

Lời mở đầu: Bài viết của Lutti phần lớn dựa vào hồi ký của Jim Stockdale, cựu tù binh Mỹ, sau này là một phó đô đốc, nói về tâm trạng của các tù binh Mỹ và cai tù của họ tại trại giam Hỏa Lò Hà Nội sau 10 ngày của tháng 12/1972, khi Hà Nội và khắp miền bắc bị các máy bay B-52 và máy bay chiến thuật ngày đêm liên tục ném bom, đến độ Bắc VN phải nhượng bộ. Stockdale đã viết: “Những người lính canh thường nổi giận khi chúng tôi to tiếng, những người lính canh thường chĩa súng trường có lưỡi lê qua các thanh sắt và hét vào mặt chúng tôi nếu dám la hét trong các vụ không kích. Nay chúng tôi có thể nhìn thấy họ đang im lặng co ro dưới bóng tường nhà tù, khuôn mặt tái nhợt trong ánh sáng phản chiếu từ bầu trời rực lửa phía trên … Các điều tra viên và lính canh đã ân cần (solicitously) hỏi han về nhu cầu của chúng tôi. Cà phê buổi sáng - chưa từng có - đã được đem đến cho các phòng giam của chúng tôi.” -- Người dịch.

Sau đây là phần chuyển ngữ.

====

Những oanh tạc cơ tiếp tục bay đến,” Phó Đô đốc (quá cố) Jim Stockdale kể lại trong cuốn hồi ký xuất sắc của ông vào năm 1984 mang tên Trong Tình Yêu và Chiến Tranh, “và chúng tôi cứ hò reo.” Đêm đó, hơn năm mươi hai năm trước, vào ngày 18 tháng 12 năm 1972, Stockdale và những tù binh khác đã chứng kiến sự khởi đầu của kết thúc của Chiến tranh Việt Nam từ những phòng giam của họ trong nhà tù Hỏa Lò Hà Nội.

Trong mười đêm tiếp theo – ngoại trừ ngày Giáng Sinh – đợt này nối tiếp đợt khác của B-52 đã tấn công các mục tiêu quân sự quanh Hà Nội. Ban ngày, các máy bay chiến thuật của Hải quân và Không quân Mỹ đã bắn phá các kho đạn, kho nhiên liệu và các vị trí hỏa tiển phòng không trên khắp Bắc Việt Nam.

 “Những người lính canh thường nổi giận khi chúng tôi to tiếng, những người lính canh thường chỉa súng trường có lưỡi lê qua các thanh sắt và hét vào mặt chúng tôi nếu dám la hét trong các vụ không kích,” Stockdale kể tiếp, “nay chúng tôi có thể nhìn thấy họ đang im lặng co ro dưới bóng tường nhà tù, khuôn mặt tái nhợt trong ánh sáng phản chiếu từ bầu trời rực lửa phía trên.”

“Chúng tôi, những tù nhân, đã biết rằng sự kháng cự của Bắc Việt đã chấm dứt, và những người lính Bắc Việt này cũng biết điều đó,” Stockdale viết.

Ít có hồi ký chiến tranh nào truyền đạt một cách hùng hồn niềm vui sướng của tù nhân và cảm giác ngày tận thế của những kẻ giam giữ họ như hồi ký của Stockdale:
“Vào bình minh, các đường phố ở Hà Nội hoàn toàn im lặng. Nhạc yêu nước phát ra mỗi sáng không còn đánh thức chúng tôi; âm thanh quen thuộc trên đường phố, các tiếng còi, tất cả đều biến mất. Những điều tra viên và lính canh đã ân cần (solicitously) hỏi han về nhu cầu của chúng tôi. Cà phê buổi sáng - chưa từng có - đã được đem đến cho các phòng giam của chúng tôi.”

Và một vài nhân chứng thời chiến khác đã viết: “Chỉ cần nhìn vào khuôn mặt của bất kỳ sĩ quan Bắc Việt Nam nào… là thấy hết câu chuyện. Nó thể hiện sự nhượng bộ, tuyệt vọng, hối hận, sợ hãi. Cơn sốc này đã hiện rõ; ý chí của kẻ thù của chúng tôi đã bị phá vỡ,” Stockdale viết.

Áp lực quân sự khốc liệt này đối với Bắc Việt đã được khởi động vài tuần trước đó khi, như được trích dẫn trong sách Admirals Under Fire của sử gia hải quân Edward Marolda năm 2021, Tổng thống Richard Nixon đã nói với cố vấn trưởng về quân sự của mình, Đô đốc Thomas Moorer: “Đây là cơ hội của ông để sử dụng sức mạnh quân sự một cách hiệu quả để chiến thắng trong cuộc chiến này, và nếu ông không làm, ông sẽ chịu trách nhiệm.”

Để chiến thắng trong cuộc chiến này. Hiếm khi nào lệnh của một tổng tư lệnh lại rõ ràng đến vậy, và trách nhiệm thực hiện mệnh lệnh cũng lại rõ ràng đến vậy.

Moorer, từ lâu bực bội vì những năm ko có chiến lược rõ ràng và việc triển khai dần dần sức mạnh quân sự -- mà không có mục tiêu chính trị rõ ràng -- nay ông vội vàng nắm lấy cơ hội để thắng cuộc chiến.
Đến ngày 29 tháng 12, Bắc Việt Nam đã nhượng bộ. Vì chỉ vài tháng ngắn ngủi sau đó, 591 tù binh Mỹ đã được đoàn tụ với gia đình sau nhiều năm thiếu thốn mọi thứ và tra tấn.

Điều mà Stockdale và nhóm anh em bị cô lập của ông không thể biết là một biến cố quan trọng dẫn đến việc họ được trả tự do -- đã có từ chín tháng trước. Vào ngày 30 tháng 3 năm 1972, quân đội Bắc Việt với lực lượng bộ binh và xe tăng đã ồ ạt tràn qua Vùng Phi Quân Sự (DMZ). Mục tiêu của họ: tận dụng khoảng thời gian tạm ngừng ném bom của Mỹ sau năm 1968, để phá hủy chương trình Việt Nam hóa của chính quyền Nixon, cũng như thúc đẩy việc rút quân toàn diện của quân đội Mỹ và lật đổ Sài Gòn một lần và mãi mãi.

Hóa ra đó là một sai lầm chiến lược ở mức cao nhứt (blunder of the first order).

Để đáp trả, lực lượng hải quân và không quân Mỹ đã phát động một chiến dịch không quân quy mô lớn nhằm làm suy yếu rồi đẩy lùi cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ của miền Bắc Việt Nam cộng sản, còn được biết đến nhiều hơn với tên gọi Tổng tấn công lễ Phục sinh 1972. (Lễ này thường diễn ra vào tháng 3 hay tháng 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện chết và Phục sinh của chúa Jesus sau khi bị đóng đinh trên thập tự giá – ND).
Chiến dịch ném bom Linebacker – được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 10 và lần nữa trong 11 ngày vào tháng 12 – được Moorer vạch ra và được tướng Creighton Abrams - Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN, cùng Đô đốc John S. McCain - Tổng Tư lịnh Quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương thực hiện.

Và lần đầu tiên trong suốt cuộc xung đột kéo dài này, cuối cùng việc sử dụng vũ lực đã phù hợp với các mục tiêu chính trị.

Thường có mâu thuẫn về cách sử dụng không quân hiệu quả nhất – khi không yểm hay ngăn chặn tuyến tiếp tế của kẻ thù – những vị tướng đã kết hợp hai chiến thuật này thành một sức mạnh hùng hậu, nghiền nát 14 sư đoàn Bắc Việt tại miền Nam trong khi giảm bớt các tuyến tiếp tế của kẻ thù ở miền Bắc.

Ngoại trừ việc Tướng George Patton đã sử dụng không quân để yểm trợ cho cuộc hành quân tuyệt vời của Quân đoàn thứ Ba đánh xuyên qua Pháp vào Đức trong đệ nhị thế chiến – chưa bao giờ, không quân chiến thuật đã hỗ trợ cho lực lượng bộ binh lại hiệu quả đến vậy.

Theo tất cả các báo cáo khách quan, lực lượng Nam Việt Nam và các cố vấn Mỹ đã chiến đấu dũng cảm và thể hiện vô số hành động anh dũng. Thất bại của Bắc Việt đã buộc những người cộng sản phải đàm phán hòa bình tại Hiệp định Hòa bình Paris.

Nhưng số phận nghiệt ngã đã can thiệp. Hai năm sau, giữa bế tắc chính sách do vụ Watergate và lệnh cấm của Quốc hội đối với can thiệp quân sự của Mỹ tại VN, Bộ Chính trị CSVN nhận thấy một cơ hội.
Ban đầu, lực lượng cộng sản dùng các cuộc tấn công thăm dò để đánh giá phản ứng của Mỹ. Thấy không quân Mỹ không can thiệp, những cuộc tấn công này đã biến thành một cuộc tấn công xông thẳng vào Sài Gòn.

Vào giai đoạn (eve) trước sự sụp đổ của Nam Việt Nam, Tổng thống Gerald Ford, trong nỗ lực giữ lời hứa của Mỹ, đã cân nhắc việc hỗ trợ quân sự cho VN bằng không quân. Nhưng như người bạn cũ của tôi, cũng là cố vấn của tổng thống Ford, Peter Rodman, từng nói với tôi, Tổng thống đã kết luận “không, họ sẽ luận tội tôi.” Và lúc đó thì đã quá muộn.
Thảm kịch của những người tị nạn vượt biên (đường biển và đường bộ), những cánh đồng chết và các trại cải tạo chẳng bao lâu đã xuất hiện.

Hãy để các sử gia và chính trị gia tranh luận về việc ai thắng hay thua trong Chiến tranh Việt Nam. Ai đúng hay sai. Hoặc cách nước Mỹ thua trong các cuộc chiến sau khi đã chiến thắng chúng – như đã lặp lại sau này ở Afghanistan.
Nhưng sau hơn năm mươi hai năm, chúng ta hãy tưởng nhớ những người lính, thủy thủ, lính Thủy Quân Lục Chiến, phi công và cựu tù binh chiến tranh, những người, với lòng dũng cảm và tận tụy, đã thắng Chiến tranh Việt Nam vào năm 1973.
Ông Luti là một Thuyền trưởng Hải quân Hoa Kỳ đã nghỉ hưu và là một nhà nghiên cứu tại Viện Hudson. Ngày 29 tháng 3 là Ngày Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam Quốc gia".

SJ ngày 4 Mar 2026, cập nhật ngày 5 Mar 2026.

Tài Trần

Nguồn: How America Won, then Lost, The Vietnam War | RealClearHistory

Thursday, April 17, 2025

 we Siemon-Netto và chiến tranh Việt Nam - Hoàng thị Mỹ Lâm


Trong chương 5 Siemon-Netto ghi lại một hình ảnh kinh hoàng của một gia đình Xã Trưởng gồm 14 người bị du kích Việt cộng hành hình ở vùng Tây Nguyên xa xôi trước mắt dân làng như môt hăm dọa cho ai không theo Cộng: họ từ từ giết cháu nhỏ nhất trước rồi tới các cháu lớn, kế đó là vợ rồi ông Xã trưởng; sự kinh hoàng không ngừng ở đó mà Việt Cộng đã hành hình vị Xã Trưởng bằng cách cắt lưỡi rồi cắt bộ phận sinh dục nhét vào miệng trước khi treo cổ; các người con trai của ông ta chỉ bị cắt bộ phân sinh dục trước khi bị treo cổ. Người vợ và cô con gái thì bị xẻ vú trước khi treo cổ. Sự dã man này được thực hiện như người ta thi hành một bản án thường nhật".

<!>

Cuốn sách nguyên bản dày 306 trang với tựa đề “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam. Warum die Falschen siegten “, đã từng được các dịch giả Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền dịch lại với tựa đề “Vinh Quang của sự Phi Lý – Tình yêu của một phóng viên cho dân tộc Việt Nam bị bỏ rơi“, do chính tác giả Uwe Siemon-Netto trong dịp đến Berlin nói chuyện với Cộng Đồng Tỵ Nạn Việt Nam ký tặng đề ngày 23.03.2014, được trân trọng để riêng trong tủ sách quý gia đình từ bấy lâu nay. Mỗi lần lấy sách ra đọc lại tôi vẫn cảm thấy xúc động trước sự đồng cảm, sự trân trọng quý mến dân tộc Việt Nam bị tổn thương và phản bội trong dư luận quốc tế.


Tuy bản dịch tiếng Việt rất công phu nhưng nguyên bản mới diễn tả được sự điêu luyện sắc sảo trong lời văn ngôn từ và kỹ năng của người viết. Thoạt nhìn hình bìa thì ai cũng tưởng đó chỉ là là một cuốn sách viết về một đề tài chiến tranh khô khan, nhưng khi đọc người ta mới cảm nhận được sự thật kinh hoàng của chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của một Phóng Viên Chiến Trường có lương tâm nghề nghiệp và sự ấm áp tình người của một người từng đồng hành đồng khổ với người Việt miền Nam trong trận chiến đó.


Ông Siemon-Netto là người Đức, sanh ngày 25.10.1936 và có một thời thơ ấu hồn nhiên ở Leipzig. Thân mẫu của ông là một Ca sĩ hợp xướng sau này sống ở Frankfurt. Ông khởi nghiệp làm Phóng viên hải ngoại ở Luân Đôn cho hãng truyền thông Đức Axel-Springer. Tại đây ông gặp người bạn đời Gillian vào năm 1962, một cô gái người Anh vừa đẹp tính lại vừa đẹp người. Hai người đã làm đám cưới vào cuối năm đó khi ông vừa 26 tuổi. Ngay sau đám cưới ông được hãng thuyên chuyển sang New York làm Phóng viên chuyên về phóng sự chính trị tại Liên Hiệp Quốc. Ba năm sau, đầu năm 1965, ông đặt chân lần đầu đến Saigon với nhiệm vụ Phóng viên chiến trường cho Axel Springer và tiếp tục ở đây đến cuối năm 1969.


Cuốn sách "Duc, der Deutsche" là một hồi ký, là những mảng ký ức sống động được chép lại năm 2014 khi ông đã trở thành một nhà Thần học Tin Lành. Cũng nên nhắc lại là sau khi bỏ nghiệp nhà báo, ông Siemon-Netto đã theo học về Thần học và chuyển sang làm nghề chăm sóc tâm linh cho các cựu chiến binh đã tham chiến Việt Nam tại Hoa Kỳ. Năm 1992 ông trình luận án Tiến sĩ về Thần học và Xã hội Tôn giáo tại Đại học Boston.

Xuyên suốt cuốn sách có một câu tuyên bố của Đại Tướng Cộng Sản Việt Nam Võ Nguyên Giáp được Siemon-Netto nhắc đi nhắc lại nhiều lần là: “kẻ thù (nghĩa là kẻ phương Tây)... không có khả năng về tâm lý và chính trị để chịu đưng một cuộc chiến tranh trường kỳ“, và đó cũng là cái cốt lõi và phương châm của cộng sản Việt Nam để liên tục khiêu chiến và duy trì cuộc chiến kinh hoàng với mục đích tối hậu là áp đật chế độ cộng sản lên toàn cõi Việt Nam.


Siemon-Netto đã chỉ trích nặng lời với gíới chính trị phương Tây là đã bỏ qua lời khuyên của Sir Robert G.K. Thompson, một chuyên viên người Anh về chiến tranh du kích đã rời Việt Nam vào năm 1965 vì cơ quan tư vấn của ông bị đóng cửa. Theo chiến thuật của Sir Thompson thì chính việc loại bỏ những tên cộng sản nằm vùng quan trọng hơn là việc diệt trừ những tên cộng sản du kích trong rừng sâu. Phương thức “Clear and hold" là làm sạch mầm móng Cộng Sản nằm vùng (clear) thì dân chúng địa phương tại đó sẽ đứng về phe chính phủ (hold). Một hệ thống cảnh sát và tình báo hữu hiệu là yếu tố quyết định cho sự thành công của chiến thuật này. Trong chương 3 Siemon-Netto nêu lên sự thành công của một Ấp Chiến lược năm 1965 của Đại úy Ngữ ở làng Long Khốt, cách Saigon 137km về hướng Tây gần biên giới Căm Bốt, hình thành đúng theo chiến thuật Thompson với lực lượng Nhân dân Tự vệ bén nhạy và ông đã tỏ lòng hết sức kính phục vị Đại úy Việt Nam 


Sự bỏ qua chiến lược này đã đưa đến những cái chết thảm thương của những người quốc gia chân chính sinh sống nơi xa xôi. Trong chương 5 Siemon Netto ghi lại một hình ảnh kinh hoàng của một gia đình Xã trưởng gồm 14 người bị du kích Việt cộng hành hình ở vùng Tây nguyên xa xôi trước mắt dân làng như môt hăm dọa cho ai không theo Cộng: họ từ từ giết cháu nhỏ nhất trước rồi tới các cháu lớn, kế đó là vợ rồi ông Xã trưởng; sự kinh hoàng không ngừng ở đó mà Việt Cộng đã hành hình vị Xã Trưởng bằng cách cắt lưỡi rồi cắt bộ phận sinh dục nhét vào miệng trước khi treo cổ; các người con trai của ông ta chỉ bị cắt bộ phân sinh dục trước khi bị treo cổ. Người vợ và cô con gái thì bị xẻ vú trước khi treo cổ. Sự dã man này được thực hiện như người ta thi hành một bản án thường nhật.


Trong một chương khác Siemon-Netto nhắc lại ánh mắt căm thù sắt máu của những bộ đội Bắc việt đối với bà Monika Schwinn, một nữ Y Tá người Tây Đức bị bắt khi đang phục vụ tai Việt nam trong chương trình nhân đạo của Malteser, trên đường dẫn độ ra Bắc trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Là một nhà Thần Học ông biết lòng căm thù và thú tính giết ngừơi không phải tự trời sanh ra. Sự căm thù cũng như thú tính giết người này phải được gieo vào tim vào óc những binh sĩ trẻ Bắc việt với một khuôn phép giáo dục đặc biệt mà chỉ có dưới chủ nghĩa độc tài toàn trị.


Trong chương 8 ông nhắc lại bài báo “Đồng cỏ nhuộm đỏ" của mình đăng trên Die Welt ngày 13.12.1965 mô tả hiện trường sau một cuộc giao tranh ác liệt giữa Quân đội Bắc Việt và Quân đội Hoa Kỳ. Hàng trăm xác chết Việt cộng phơi thây máu nhuộm đỏ cả bãi cỏ voi cao cả mét. Quân nhân Hoa Kỳ tử trận hay bị thương đã được di tản bằng máy bay trực thăng. Khi khám nghiệm hiện vật trong túi áo quần và ba-lô các tử thi bộ đội người ta mới phát giác được nhiều tử thi chỉ mới 15 tuổi. Trong ba lô chứa những bộ quần áo sạch xếp ngay ngắn hình như từ bàn tay của những người mẹ từ Vinh, Hải Phòng hay Hà Nội; có một số ba-lô dấu những tờ truyền đơn kêu gọi hồi chánh của Miền Nam. Sau khi kiểm soát người ta thấy có đến một phần tư các binh sĩ trẻ em mang tờ truyền đơn này trong người để chuẩn bị cơ hội đầu hàng; nhưng cơ hội lớn của các em không dễ tìm, vì chỉ cần một động thái khả nghi là các em sẽ bị đồng đội bắn ngay vào lưng.


Ngược lại Siemon-Netto cho người đọc thấy hình ảnh của những anh chàng GI. Họ là những thanh niên còn quá trẻ để được phép uống bia rượu, nhưng đủ già dặn để đi quân dịch đem mạng sống giao cho rừng thẳm xa xôi. Phần lớn họ chỉ vừa đúng 18 tuổi và phải làm nhiệm vụ công dân. Những thanh niên này ngoài chút kiến thức căn bản về vũ khí chiến thuật, họ không được chuẩn bị tâm lý để đối phó với những sự tàn độc của quỷ dữ. Trong một cuộc hành quân chung ở An Khê ông đã chứng kiến một cái chết của một thanh niên Hoa Kỳ 17 tuổi, viên đạn Kalaschnikow kẹt trong lá phổi của anh ta, anh ta nằm trong cơn hấp hối như một đứa trẻ thơ, anh ta gọi mẹ rồi kêu trời. Đó là một trong nhiều cái chết của những người lính trẻ mà Siemon-Netto đã chứng kiến. Trước khi chết họ thường gọi mẹ và kêu trời và phần lớn là theo thứ tự đó.


Sự tàn ác sâu độc của Việt cộng còn được kể lại trong trận đánh tái chiếm Huế sau tết Mậu Thân. Khi những tay súng Việt Cộng nấp sau các cửa sổ phía bên bờ bắc sông Hương nã súng liên tục vào đoàn quân trong đó có Siemon-Netto đi theo, một binh sĩ Hoa Kỳ đã ném được một quả lựu đạn lọt qua một trong những cửa sổ ấy. Lựu đạn nổ. Tất cả trở thành im lặng. Đoàn quân reo vui vì nghĩ là đã đã hủy được mục tiêu. Nhưng cánh cửa chính bỗng bật mở, một người đàn bà trẻ bước ra, tay giơ lên xác một đứa trẻ đẫm máu. Anh chàng quăng lựu đạn hồi nãy chợt lên cơn khủng hoảng: ”Trời ơi, tôi đã làm gì ? tôi đã giết một đứa trẻ. Trời hãy cứu tôi, trời ơi, trời ơi..“ anh ta quay cuồng, trong khi lính Bắc Việt từ những cửa sổ khác tiếp tục nã đạn vào phía chúng tôi. Ngừơi Trung Đội Trưởng phải dùng sức đè anh lính xuống và sau đó cho anh rút ra khỏi vòng chiến. Người binh sĩ này đã bị hủy hoại linh hồn và có thể bị tổn thương tâm linh vĩnh viễn.


Trong cuộc chiến tranh tàn nhẫn đó Siemon-Netto đã phân tích sự độc ác một cách khách quan là: trong khi Bắc Việt xem việc giết người là một nhiệm vụ thi hành một chỉ đạo một quyết định tối hậu của nhà cầm quyền, kẻ giết người được ân thưởng tuyên dương công trạng. Còn người Mỹ xem chuyện giết người, điển hình là vụ Mỹ Lai, là một vi phạm pháp luật phải được nghiêm minh xét xử trước tòa án. Nhiều nhà báo quốc tế đã vô tình hoặc cố ý bỏ qua sự khác biệt về căn bản đạo đức này, khiến cho nhiều binh sĩ Hoa Kỳ khi giải ngũ về nước bị công dân Hoa Kỳ sỉ vả và bị làm tổn thương tinh thần trong suốt cuộc đời.


Siemon-Netto cũng phân tích tại sao chế độ dân chủ không đủ sức chịu đựng áp lực tâm lý và chính trị để chống lại cuộc chiến Partisan như Võ Nguyên Giáp đã tuyên bố. Nguyên do là chỉ vì nền dân chủ khác với độc tài ở điểm hệ thống dân chủ lệ thuộc vào cử tri. Nhưng ai là kẻ đem tin tức đến cử tri. Chính là giới truyền thông. Và khi giới truyền thông loan truyền là sự kiên trì trong cuộc chiến tranh vũ khí không xứng đáng để kéo dài vì người được bảo vệ không đáng được bảo vệ. Như vậy là cuộc chiến phải chấm dứt, nếu cần thì thua thiệt cũng phải chấp nhận. Thế là Giáp thắng cuộc!.


Siemon-Netto lên án cực liệt giới truyền thông thuộc lớp trẻ, dưới ảnh hưởng của phong trào hiện sinh thập kỷ 1960, đã bóp méo hình ảnh chiến tranh Việt Nam đúng theo sự mong đợi như lời tuyên bố của Giáp: “Chiến tranh Việt Nam sẽ được đưa tới tận phòng khách từng nhà mỗi gia đình Mỹ“. Giáp khẳng định: “giới truyền thông Mỹ sẽ là một yếu tố quyết định trong sự thắng thế của Bắc Việt”. Điển hình là cảnh một đoàn quay phim ba người của một đài truyền hình Hoa Kỳ đứng bên cạnh một ngôi mộ tập thể ở Huế. Ngôi mộ này vừa mới được phát hiện sau trận đánh Mậu Thân. Tìm ra do những ngón tay còn sơn móng đỏ giơ ra khỏi mặt đất của những người đàn bà đã bị chôn sống khi đang cố bươi cào ra khỏi hố đất. Đoàn quay phim đứng hờ hững bên cạnh mộ và không có ý quay phim. Có người hỏi tại sao, thì họ trả lời: “Chúng tôi không đến đây để quay phim tuyên truyền chống cộng sản!".


Nhắc về Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, Siemon-Netto trách đám nhà báo đồng nghiệp chỉ luôn đi theo hành quân với quân đội Hoa Kỳ hoặc quân đội Đồng minh và gửi những hình của các Quân nhân này ra quốc tế, mà quên hẳn đi hàng quân tinh nhuệ đã bảo vệ quê hương họ cho tới những giờ phút cuối cùng trước khi mất Saigon ngày 30.4.1975. Ông ca ngợi những gương anh hùng quân đội: Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú... là những nhân vật mà ông đã từng gặp trên đường nghiệp vụ và giờ đây họ đã đi vào lịch sử.

Siemon-Netto yêu thương từ đứa trẻ bụi đời trên đường phố, đến thân phận những người đàn bà trong chiến tranh… Trong cuốn sách còn chứa đựng rất nhiều, về con người văn hóa lịch sử Việt Nam, về cái chết của vợ chồng Bác Sĩ người Đức Krainik và hai đồng nghiệp của họ: Alois Alteköster, Raimund Discher trong vụ tàn sát Mậu Thân Huế.


Trong vài hàng giới thiệu này tôi không thể chuyển tải tất cả chi tiết trung thực và đứng đắn trong cuốn sách của Siemon-Netto, người mang sứ mạng cao cả của Nhà Báo và của nhà Thần Học để trải lòng viết ra cuốn sách có giá trị lịch sử này. Tôi thiết nghĩ và cầu mong cuốn sách này sẽ là cuốn sách kinh điển để lại cho thế hệ mai sau một cái nhìn trung thực và có lương tâm về cuộc chiến Việt Nam. Các bậc phụ huynh của những thế hệ sanh sau cuộc chiến hãy khuyến khích con cháu tìm đọc cuốn sách này để hiểu chính xác về chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách được chính tay tác giả viết bằng hai thứ tiếng: tiếng Đức như đã nêu từ đầu: “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam. Warum die Falschen siegten“ và tiếng Anh đã được xuất bản lần thứ hai là: “Triumph of the Absurd”

Mong lắm thay!!!


Bs Hoàng Thị Mỹ Lâm

Berlin, 27.11.2016

http://bacaytruc.com


Trái tim của một phóng viên Đức cho Việt Nam


Uwe Siemon-Netto - Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này. Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách kinh điển của nhà báo, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương.

Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp còn mải mê giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh trông như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với thân thể biến đổi đi chỉ vì muốn tìm một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là phải đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn biết đùm bọc lẫn nhau cùng những đàn trâu.

Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và các vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn tránh.


Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa...


Uwe Siemon-Netto (uwesiemon.blogspot): Sinh năm 1936 tại Leipzig, Germany. M.A. thần học hệ Lutheran t ại Chicago. Ph.D. Thần học và Xã hội học về tôn giáo tại đại học Boston. Hiện là giám đốc điều hành Trung Tâm Thần Học hệ phái Lutheran tại Capistrano Beach, California.

Khởi sự viết báo từ 1956. Ký giả bán thời gian cho nhiều cơ sở báo chí khắp nơi trên thế giới bao gồm Việt Nam với 53 năm kinh nghiệm phóng viên. Đã xuất bản 5 đầu sách và nhiều tiểu luận.


Bài viết dưới đây là lời bạt cho cuốn sách viết về cuộc chiến Việt Nam theo trải nghiệm của tác giả: “Đức – A reporter’s love for a wounded people”.


Hậu quả của khủng bố và hiệu lực của hy vọng.

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày "giải phóng". Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.


Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?


Tài xế xích lô chờ đợi các hành khách vô hình trước cổng ga xe lửa đã ngưng hoạt động tại Huế


Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.


Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc "giải phóng”. Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai? Có phải miền Nam đã được "giải phóng" khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí? Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?


Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?


Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc "chiến tranh nhân dân." Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó.


Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì "chiến tranh nhân dân" phải được hiểu là cuộc "chiến tranh vì nhân dân." Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh vì nhân dân mà chính là chiến tranh chống lại nhân dân.


Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là "vắng mặt không phép," câu hỏi đó là:


"Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?"


Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.

Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này. Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách kinh điển của nhà báo, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp còn mải mê giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh trông như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với thân thể biến đổi đi chỉ vì muốn tìm một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là phải đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn biết đùm bọc lẫn nhau cùng những đàn trâu.


Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và các vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn tránh. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.


Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đáng lý họ phải thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).


Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp thuộc loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.


Nhưng không có hành vi tàn ác nào của một vài đơn vị vô kỷ luật Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ:

"Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?"


Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau:


"Tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?"


Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.


Không có ai sinh ra là đã hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa độc tài toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).


Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm những người còn sống sót mà tôi đã phỏng vấn cho là bị ám ảnh hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Lý thuyết và quan điểm đưa ra về cái thảm hoạ ấy từ trong tháp ngà của đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.


Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để khoác lác ra oai. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối địch nhau đã xẩy ra như sau:


Giáp:

"Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!"

Charton:

"Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi, cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân... bằng các phương tiện khủng bố."

Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn nhận định đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.


Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó sẵn sàng bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Mỹ chiến đấu tại Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa dân chủ và tiêu diệt một xã hội tự do.


Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng sự bi quan này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, khi quá khứ được khép lại, tương lai luôn luôn được mở ra. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa tể của lịch sử. Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại hậu quả tàn khốc đó, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó rồi sẽ xẩy ra.

Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?

From: The fruit of terror and the virtue of hope (Uwe Siemon-Netto)


Dịch giả Lý Văn Quý


Danlambaovn.blogspot.com


***

Tưởng niệm


Cuốn sách này được viết nhằm tưởng nhớ vô số các nạn nhân vô tội trong cuộc xâm chiếm Miền Nam Việt Nam bởi Cộng sản, đặc biệt là:

- Hàng trăm ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị tàn sát trong các làng mạc và thành phố, nhất là tại Huế;

- Hàng trăm ngàn chiến sĩ và công cán chính VNCH đã bị hành quyết, tra tấn hoặc bỏ tù sau khi chiến tranh kết thúc;

- Hàng triệu người đã bị xua đuổi ra khỏi quê hương và hàng trăm ngàn người đã bị chết đuối trong quá trình đi tìm tự do;

- Các chiến sĩ VNCH đã anh dũng chiến đấu khi đã mất tất cả và các tướng lãnh oai hùng đã quyên sinh vào những giờ phút cuối cùng;

- Các thanh niên Nam, Bắc Việt Nam động viên vào quân ngũ đã bỏ mạng trong cái gọi là "chiến tranh giải phóng" nhưng đã không mang lại tự do cho ai;

- 58.272 binh lính Hoa Kỳ, 4.407 Đại Hàn, 487 Úc; 351 Thái và 37 Tân Tây Lan đã hy sinh tại Việt Nam ;

- Các đồng hương người Đức, trong đó có BS Horst-Günther và Elisabetha Krainick, BS Alois Alteköster, BS Raimund Discher, GS Otto Söllner, Bá Tước Hasso Rüdt von Collenberg và nhiều người khác đã đến như những người bạn và phải trả giá bằng mạng sống của họ.


Uwe Siemon-Netto

Dịch giả Lý Văn Quý

Thursday, May 16, 2024

 

Casualties - US vs NVA/VC

69th Armor PageRay's Home PageE-Mail Me












Note: NVA casualty data was provided by North Vietnam in a press release to Agence France Presse (AFP) on April 3, 1995, on the 20th anniversary of the end of the Vietnam War. The entire press release is reproduced below.

US casualty information was derived from the Combat Area Casualty File of 11/93, and The Adjutant General's Center (TAGCEN) file of 1981, available from the National Archives. Additional information was derived from the sources listed at the end of this document.

Entire War

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces47,378 1304,704 22,338 3766 4
ARVN223,7481,169,763NANA
South Korea4,40717,060NANA
Australia4692,9406NA
Thailand3511,358NANA
New Zealand55212NANA
NVA/VC1,100,000600,000NA26,000 5

Note 1: there were an additional 10,824 non-hostile deaths for a total of 58,202
Note 2: of the 304,704 WIA, 153,329 required hospitalization
Note 3: this number decreases as remains are recovered and identified
Note 4: 114 died in captivity
Note 5: Does not include 101,511 Hoi Chanh

Legend: KIA = Killed In Action WIA = Wounded In Action MIA = Missing In Action CIA = Captured In Action


1968 Tet Offensive

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces1,5367,76411unknown
ARVN2,7888,299587unknown
NVA/VC45,000unknownunknown6,991


Casualties By Year

1961-1965

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces1,8647,33718unknown
ARVNunknownunknownunknownunknown
NVA/VCunknownunknownunknownunknown

1966

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces5,008 129,99261unknown
ARVN11,95371,584unknownunknown
NVA/VC71,473unknownunknown3,247

Note 1: there were an additional 1,045 non-hostile deaths for a total of 6,053

1967

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces9,378 156,013113unknown
ARVN12,71676,299529unknown
NVA/VC133,484unknownunknown6,065

Note 1: there were an additional 1,680 non-hostile deaths for a total of 11,058

1968

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces14,594 187,388176unknown
ARVN28,800172,512587unknown
NVA/VC208,254unknownunknown9,462

Note 1: there were an additional 1,919 non-hostile deaths for a total of 16,511

1969

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces9,414 155,390112unknown
ARVN22,000131,780683unknown
NVA/VC132,051unknownunknown5,905

Note 1: there were an additional 2,113 non-hostile deaths for a total of 11,527

1970

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces4,221 124,835101unknown
ARVN23,000137,770727unknown
NVA/VC86,591unknownunknown3,934

Note 1: there were an additional 1,844 non-hostile deaths for a total of 6,065

1971

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces1,380 118,10916unknown
ARVN19,901123,545727unknown
NVA/VC19,320unknownunknown2,304

Note 1: there were an additional 968 non-hostile deaths for a total of 2,348

1972

ForceKIAWIAMIACIA
US Forces300 13,93611unknown
ARVN25,787139,731727unknown
NVA/VC4,261unknownunknown1,349

Legend: KIA = Killed In Action WIA = Wounded In Action MIA = Missing In Action CIA = Captured In Action

Note 1: there were an additional 261 non-hostile deaths for a total of 561


Troop Levels

As of 1 January 1968

ForceTotal StrengthSupportCombat Arms
US Forces409,111346,26062,850
ARVNNot AvailNot AvailNot Avail
NVA/VC420,000unknownunknown

As of 1 January 1969

ForceTotal StrengthSupportCombat Arms
US Forces440,029372,42967,600
ARVNNot AvailNot AvailNot Avail
NVA/VC332,000unknownunknown
The figures for relative strengths assume the following: On January 1, 1969 there were 110 battalions in Vietnam (98 Infantry, 3 tank, and 9 artillery). An Infantry battalion had 656 infantrymen (4 companies per battalion with 164 men per company). An armor battalion had 204 tankers (3 companies per battalion with 68 tankers per company). An artillery battalion had approximayely 300 men. Therefore, the number of actual "trigger pullers" added up to 67,600. Note that this was "authorized strength". Most battalions were not even close to their TO&E strength during the war, with many infantry companies operating with 80 men. This was true despite the fact that the parent divisions reported being at, or slightly over, authorized strength. There were a large number of REMFs in Vietnam.


U.S. Army KIA by Unit

Source: National Archives and Records Administration

UnitNicknameKIAComment
1st Cavalry DivisionFirst Team5,464-
25th Infantry DivisionTropic Lightning4,561-
101st Airborne DivisionScreaming Eagles4,022-
1st Infantry DivisionBig Red One3,151-
Various Individual Units-2,872See Note 1 below
9th Infantry DivisionOld Reliables2,629-
4th Infantry DivisionIvy Division2,541-
173rd Airborne Brigade (Separate)Sky Soldier1,758-
1st Aviation Brigade-1,706-
196th Light Infantry Brigade-1,188-
11th Light Infantry Brigade-1,109-
Military Assistance Command VietnamMACV1,017Advisors to ARVN
198th Light Infantry Brigade-987-
United States Army VietnamUSARV847Headquarters - includes advisors
5th Special Forces Group (Airborne)Green Berets834-
23rd Infantry DivisionAmerical809non-brigade units
199th Light Infantry BrigadeRedcatchers757-
11th Armored Cavalry RegimentBlackhorse729-
1st Logistical Command-598-
5th Infantry Division (Mechanized)Red Diamond5301st Brigade only
I Field Force VietnamIFFV353-
82d Airborne DivisionAll American2283rd Brigade only
1st Signal Brigade-193-
II Field Force VietnamIIFFV80-
Engineer Command-64-
Unit unknown-6-

Note 1: This group is comprised of the following individual units with no further breakdown

17th Field Hospital (An Khe)
22nd Surgical Hospital (Phu Bai)
71st Evacuation Hospital (Pleiku)
91st Evacuation Hospital (Tuy Hoa)
95th Field Hospital (Qui Nhon)
3rd Field Hospital (III Corps)
7th Surgical Hospital (III Corps)
45th Surgical Hospital (III Corps)
93rd Evacuation Hospital (III Corps)
80th Engineer Group
121st Assault Helicopter Company
18th Military Police Brigade
89th Military Police Brigade
8th Transportation Group
48th Transportation Group
11th Aviation Group
12th Aviation Group
23rd Artillery Group
108th Artillery Group
35th Engineer Group
45th Engineer Group
34th General Support Group
506th Field Depot


Additional Casualty Statistics

Source: Combat Area Casualty File of 11/93, National Archives

All US Forces KIA in Vietnam = 58,169

US Army Soldiers KIA in Vietnam = 38,190

US Army Infantrymen (MOS 11B, 11C, etc.) KIA in Vietnam = 20,460

US Army Helicopter Crewmen KIA in Vietnam = 3,007

US Army Scouts KIA in Vietnam = 1,127

US Army Tankers KIA in Vietnam = 725 (equals 27% of all tankers ever assigned to Vietnam)

US Marines Killed In Action in Vietnam = 14,836

The highest loss-rate for any MOS was 11E (Armor Crewman) 27% KIA


U.S. Army KIA by Province

Source: Combat Area Casualty File of 11/93, National Archives

CodeProvinceKIAComment
99Province unknown6,276Military Region unknown
02Thua Thien2,893I Corps - Hue, etc.
23Binh Duong2,742III Corps
22Tay Ninh2,648III Corps
05Quang Ngai2,342I Corps - Border w/II Corps
07Binh Dinh2,211II Corps - Bong Son, An Loa Valley, etc.
04Quang Tin2,068I Corps - Tam Ky, etc.
01Quang Tri1,683I Corps - south of DMZ
06Kontum1,641II Corps - Dak To, Ben Het, etc.
42Hua Nghia1,424III Corps - Khiem Cuong, etc.
25Bien Hoa1,147III Corps
24Gia Dinh1,064Capital Special Zone - Saigon
08Pleiku1,015II Corps - Hwy 14, Ia Drang, etc.
27Long An1,002III Corps
03Quang Nam971I Corps - Da Nang, etc.
21Binh Long909III Corps
30Dinh Tuong794IV Corps - My Tho, etc.
14Phuoc Long679III Corps - Phuoc Binh, etc.
19Long Khanh558III Corps - Xuan Loc, etc.
**Unknown Code467NARA error
33Kien Hoa416IV Corps - Truc Giang, etc.
17Binh Thuan300II Corps - Phan Thiet, etc.
09Phu Yen282II Corps - Tuy Hoa, etc.
11Khanh Hoa275II Corps - Nha Trang, etc.
26Phuoc Tuy204III Corps - Vung Tau, Phuoc Le, etc.
18Binh Thuy176III Corps - Ham Tan, etc.
13Quang Duc171II Corps - Gia Nghia, etc.
10Darlac163II Corps - Ban Me Thout, etc.
35Phong Dinh146IV Corps - Can Tho, etc.
15Lam Dong143II Corps - Bao Loc, etc.
32Vinh Long142IV Corps
28Kien Tuong140IV Corps - Moc Hoa, etc.
16Ninh Thuan97II Corps - Phan Rang, etc.
36Kien Giang77IV Corps - Rach Gia, etc.
12Tuyen Duc76II Corps - Da Lat, etc.
29Kien Phong65IV Corps - Cao Lanh, etc.
47Unknown code60Possibly Saigon Area
38Ba Xuyen56IV Corps - Khanh Hung, etc.
34Vinh Binh49IV Corps - Phu Vinh, etc.
43Go Cong40IV Corps - Go Cong, etc.
93Province unknown34Military region 3 - III Corps
39An Xuyen33IV Corps - Quon Long, etc.
37Chuong Thien30IV Corps - Vi Thanh, etc.
92Province unknown25Military region 2 - II Corps
46Sa Dec25IV Corps - Sa Dec, etc.
41Phu Bon24II Corps - Hau Bon, Song Ba River, etc.
99Province unknown22Military region 1 - I Corps
31An Giang17IV Corps - Long Xuyen, etc.
81Offshore19Military Region 1 - I Corps
89Offshore unknown19Province & Military Region unknown
44Bac Lieu14IV Corps - Bac Lieu, etc.
82Offshore11Military Region 2 - II Corps
NZUnknown Code10NARA error
94Province unknown9Military region 4 - IV Corps
83Offshore2Military Region 3 -III Corps
84Offshore2Military Region 4 - IV Corps
20No code provided1NARA error, possibly Cam Ranh Bay
40Con Son Island1IV Corps
45Chua Doc1IV Corps - Shau Phu, etc.
48Unknown code1NARA error
49Phu Quoc Island1IV Corps
50DMZ0Demilitarized Zone


Sources

A Bright Shining Lie, Sheehan, Neil, New York: Random House, 1988

After Tet, Ronald H. Spector, New York: Random House, 1993

Code Name Bright Light, Veith, George J., New York: The Free Press, 1998

Inside The VC And The NVA, Lanning, Michael, New York: Random House, 1992

The Rise And Fall Of An American Army, Stanton, Shelby L., Novato, CA: Presidio Press, 1985

The Vietnam War, Nalty, Bernard C., New York: Smithmark Publishers, 1996

Vietnam: A History, Karnow, Stanley, New York: Viking, 1983

Vietnam At War: The History 1946-1975, Davidson, Phillip, New York: Oxford Univ Press, 1988


The Agence France Presse (French Press Agency) news release of 4 April 1995 concerning the Vietnamese Government's release of official figures of dead and wounded during the Vietnam War.

HANOI (AP) - April 4. Cinq millions de morts: 20 ans apregraves la fin de la guerre du Vietnam, le gouvernement de Hanoi a reacute veacute leacute, lundi, le bilan d'un conflit dent le nombre de victimes avait eacute teacute minore a l'eacutepoque pour ne pas affecter le moral de la population.

Selon Hanoi, il y a eu pres de deux millions de morts dans la population civile du Nord et deux autres millions dans celle du Sud. Quant aux combats proprement dits, les chiffres sent d'un million cent mille militaires tueacutes et de 600.000 blesseacutes en 21 ans de guerre.

Ce dernier bilan comprend a la fois les victimes de la guerilla vietcong et les soldats nord-vietamiens qui les eacute paulaient. Les preacute ceacute dentes estimations de source occidentale faisaient eacute tat d'un bilan de 666.000 morts parmi Ies combattants Vietnamiens.

Translation

The Hanoi government revealed on April 4 that the true civilian casualties of the Vietnam War were 2,000,000 in the north, and 2,000,000 in the south. Military casualties were 1.1 million killed and 600,000 wounded in 21 years of war. These figures were deliberately falsified during the war by the North Vietnamese Communists to avoid demoralizing the population.

End Translation

Note: Given a Vietnamese population of approximately 38 million during the period 1954-1975, Vietnamese casualties represent a good 12-13% of the entire population. To put this in perspective, consider that the population of the US was 220 million during the Vietnam War. Had The US sustained casualties of 13% of its population, there would have been 28 million US dead.


T O P69th Armor PageRay's Home PageE-Mail Me

Creation Date: Wednesday, June 19, 1996
Last Modified: Sunday, January 23, 2000
Copyright © Ray Smith, 1996, 1998, 2000
Number of visitors: 1,926,544

Saturday, January 1, 2022

 Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà người Mỹ không muốn thắng!


Bài này chép từ FB của Pham Thi My Hong .

Cuối năm, xin gửi đến các bạn một bài viết do một chiến hữu vừa gửi đến. Đọc xong, các bạn có thể hiểu được tại sao chúng tôi rất quí mến những quân nhân Hoa Kỳ sang chiến đấu tại Việt Nam, nhưng lại không ưa chính sách của Hoa Kỳ kể từ khi John Kennedy lên làm tổng thống.

Phi công Mark Berent cho rằng Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa có thể đã chiến thắng tại chiến trường Việt Nam vào những năm 67, 68. Nhưng qua những vụ ngưng ném thả bom trên đường mòn Hồ Chí Minh và miền Bắc Việt Nam, đã giúp cho Cộng Sản Bắc Việt mang quân và vũ khí vào miền Nam để đi đến chiến thắng cuối cùng vào tháng Tư 1975. Những phi công như ông đã bi trói tay và bịt mắt trước những cuộc di chuyển ồ ạt của cộng quân. Hãy nghe Mark Berent tâm sự… Nguyên tác là bài viết với tựa đề Rules Of Engagement, được in trong tác phẩm “To Bear Any Burden của Al Santoli".

Lần đầu tiên tôi tham chiến tại Việt Nam là vào năm 1965. Ðơn vị của tôi đóng tại căn cứ Không Quân Biên Hòa. Tôi bay phản lực cơ F-100s, tổng cộng hơn 200 phi vụ. Lần thứ hai tôi tham chiến ở Việt Nam là vào năm 1968, lúc đó tôi bay phản lực cơ F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi thuộc phi đoàn Cú Ðêm (Night Owls), có nhiệm vụ bay trên đường mòn Hồ Chí Minh trong vòng 7 tháng. Cuối cùng, 5 tháng chót tôi được chỉ định chỉ huy Woff FAC (Lực Lượng Không Kiểm Tiền Phương (Forward Air Control)). Lực lượng này bao vùng đường mòn Hồ Chí Minh từ Lào đến suốt Bắc Việt Nam. Ðó là thời điểm mà Tổng Thống Johnson ra lệnh ngưng ném thả bom. Do đó, có lúc các phi vụ được chấp thuận ném thả bom, có lúc phi vụ không được chấp thuận.. Chẳng cần dấu diếm, nhiều lần một số anh em phi công chúng tôi tự thi hành nhiệm vụ thả bom đường mòn, mà không cho ai biết.

Tại Việt Nam, có vài điều rất đỗi ngạc nhiên. Thứ nhất là tôi được tưởng thưởng nhiều huy chương. Nhưng có một trường hợp tôi từ chối nhận một huy chương cao quý của Hoa Kỳ là Purple Heart, Lý do là vì một người bạn Lực Lượng Ðặc Biệt của tôi vừa mới trốn được Việt Cộng bằng cách đi bộ 26 cây số trong đêm tối, với viên đạn 51 ly còn nằm trong một cánh tay và tay kia dìu một người lính Việt Nam Cộng Hòa đang bị thương. Do đó, đối với tôi, cái huy chương cao quý Purple Heart không có một giá trị gì cả, tôi không xứng đáng để nhận!

Tôi hết nhiệm kỳ tại Việt Nam và được chỉ định về phục vụ tại một căn cứ không quân tại California. Không Quân Mỹ muốn xử dụng tôi hết mình và để tôi thăng tiến hơn, họ gửi tôi đi học để lấy bằng kỹ sư tại một đại học dân sự. Sau khi tốt nghiệp, tôi được bổ nhiệm một chức vụ khả quan về tiền bạc và tương đối nhàn hạ tại Phi Ðoàn 69 Chiến Thuật, sống cuộc đời thoải mái. Nhưng khốn nỗi, mỗi lần tôi cầm tờ báo thì lại được tin một người bạn thân của tôi bị bắn hạ và tử trận tại chiến trường. Không chịu nổi nữa, tôi xin với thượng cấp để được bay F-4s, một phản lực cơ tân tiến hơn so với F-100s và tôi đã được chấp thuận để trở lại chiến trường Việt Nam.

Trong 7 tháng đầu khi bay F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi vẫn thuộc Phi Ðoàn Cú Ðêm (Night Owls). Lệnh ngưng thả bom của Johnson bắt đầu có hiệu lực một tháng trước khi tôi trở lại chiến trường. Do đó, phi công chúng tôi không có cơ hội thả bom miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi chỉ còn biết bay ầm ì, rồi nhào lên lộn xuống trên đường mòn Hồ Chí Minh bên ranh giới nước Lào. Ðó là dọc theo vùng rừng núi cao Karst Mountains (Lào). Và nếu chúng tôi lợi dụng ngưng thả bom để bay xuống phía Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam để phá hủy những đoàn xe tiếp liệu của Cộng Sản Bắc Việt dọc theo đường mòn, thì thực sự với F-4s không đủ khả năng này, vì chúng tôi phải bay trong bầu trời dầy đặc sương mù và mây thấp che kín tầm mắt quan sát. Nhiều lần chúng tôi cho một phản lực thả trái sáng và sau đó phản lực khác theo sau thả bom.

Nhưng khi trái hỏa châu vừa thả ra là mấy tên lái xe Việt Công đều chửi thề: “Mấy thằng phi công Mỹ ngu xuẩn đang sắp thả bom. Hãy ngừng xe lại và táp vào lề đường. Trước sau gì chúng cũng đâm vào dãy núi Karst…” Và đúng như thế, nhiều phi công của chúng tôi đã đâm máy bay vào dãy núi này mà chẳng thả trúng một xe tiếp liệu nào, chỉ vì tầm nhìn quá hạn chế do thời tiết.

Mãi đến khi Mỹ mang máy bay Spectre–AC130 có trang bị vũ khí và có trang bị cả dụng cụ quan sát ban đêm như màn hình TV và những dụng cụ điện tử có thể cảm giác được khói bay ra từ ống khói của xe vận tải, đồng thời máy bay này có khả năng nhìn qua đêm tối và mây mù.

Chúng tôi liên lạc chặt chẽ với Spectre-AC130 để thực hiện 2 nhiệm vụ: Một là áp lực những ổ súng phòng không của địch ngõ hầu chúng tôi có thể bắn hoặc thả bom trúng mục tiêu. Thứ hai là hướng dẫn chúng tôi tới mục tiêu cần tiêu diệt. Và kể từ đó, chúng tôi đã phá hủy rất nhiều xe vận tải tiếp liệu của địch. Tôi nhớ rõ, một lần, trong một đêm tôi bắn trúng 14 xe tiếp liệu của địch.

Mỗi khi máy bay Spectre-AC130 nhìn thấy đoàn xe, những phi công này sẽ đánh dấu cho chúng tôi bằng nhiều cách. Họ tác xạ vào mục tiêu bằng súng liên thanh 20 ly và cho chúng tôi biết đó là mục tiêu cần tiêu diệt. Hoặc giả họ ném hỏa châu để soi sáng cả đoàn xe phía dưới và chúng tôi cứ theo đó mà thả bom. Ngoài ra, họ còn có thể thả một khối hỏa châu nặng, có thể cháy sáng tới 20 phút. Họ ném một khối hỏa châu này trước đoàn xe và một khối khác phía cuối đoàn xe, và cho chúng tôi biết cứ thế mà thả bom trong đoạn đường giữa hai khối ánh sáng. Vì vậy, chúng tôi đã phá hủy được nhiều đoàn xe tiếp liệu của cộng sản. Ðường mòn Hồ Chí Minh đã bị cầy nát làm trở ngại cho việc cộng sản chở tiếp tế vào miền Nam Việt Nam. Thiển ý của phi công chúng tôi, chiến tranh đã có thể chấm dứt bằng quân sự!

Nhưng thật đau lòng, trong khi lệnh ngưng thả bom bắt đầu vào tháng 11 năm 1968, tất cả chúng tôi đau điếng! Anh em phi công chúng tôi đã trải qua bao nhiêu lần được lệnh ngưng thả bom và mỗi lần như thế chúng tôi cảm thấy như bị một quả đấm vào mặt, vì người ta đã phá tan đi những gì chúng tôi đang thắng thế.

Thi dụ, trong giai đoạn 1966-67, bạn bè chúng tôi, những phi công can trường, đang bay các phản lực cơ F-105s và F-4s trên lãnh thổ Bắc Việt, một nơi đầy nguy hiểm vì hỏa tiễn địa-không tối tân nhất SAM và màng lưới ra-đa của Nga đầy rẫy dưới đất. Nhưng vì Những Quy Tắc Giao Chiến (Rules Of Engagement), chúng tôi đã chiến đấu một cuộc chiến mà tay chúng tôi đã bị trói chặt, mắt chúng đã bị chọc thủng mù lòa và một nửa đạn dược trang bi đã bị cắt giảm.

Nhưng những viên chức chính phủ như Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara thì lại tuyên bố với công chúng rằng các phi cơ Mỹ không có bi cắt giảm bom đạn và bom đạn Mỹ không bao giờ thiếu?. Nhưng thực tế, chúng tôi đang chứng kiến bom đạn Mỹ ở Việt Nam đã bị cắt giảm nhiều, nhất là của không Lực Mỹ! Chúng tôi đã chứng kiến bạn chúng tôi bay ra Bắc với trang bị kém hơn thời Ðệ Nhị Thế Chiến, chỉ vỏn vẹn với 2 trái bom: 250 và 500 ký và 2 thùng bom lửa (Napalm) trong một phi vụ phá hủy đường rầy xe lửa. Ðiều hiển nhiên là chúng ta không thể cắt đường rầy xe lứa bằng bom lửa, mà thực ra bom này chỉ làm cháy cỏ và cây cối chung quanh đường rầy!. Chúng tôi cho rằng quyết đinh ngưng thả bom và cắt giảm đạn dược là MỘT TỘI PHẠM của những người có thẩm quyền. Nhiều khi chúng tôi đã đối đầu với một số hoa tiêu từ chối lệnh bay thả bom, dù họ có phải ra toà án quân sự!

Các quan chức này lại nói loanh quanh rằng không có thiếu bom tại Việt Nam. Nhưng tại Sài Gòn, những tầu thương mại chuyên chở bom đạn bị tắc nghẽn tại các hải cảng, vì hải cảng không đủ rộng để có thể đem xuống những bom và vũ khí lớn quá tầm trưc tiếp vào bờ. Trong khi đó, vũ khí nhỏ và dụng cụ y khoa thì được Việt Cộng hối lộ và chở về mật khu.

Vào thời điểm đó, tôi vẫn còn nghĩ rằng với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chính phủ Sài Gòn biết phải làm gì để chiến thắng. Nhưng một thời gian sau đó, tôi nhận thức được rằng: “Hình như người ta (Mỹ) không muốn và không cho phép để thắng cuộc chiến tranh này!” chỉ vì Hoa Thịnh Ðốn đã áp đặt cái “Nguyên Tắc Giao Chiến “ oái oăm này!?

Chúng tôi đành phải bay lên phía bắc Lào để yểm trợ cho Vang Pao, người lãnh đạo của lực lượng H’mong, một bộ lạc sống trên đồi núi, đang chiến đấu với quân cộng sản Bắc Việt và cộng sản Lào (Pathet Lào). Nhưng tại đây, lại có lệnh không được thả bom gần các chùa chiền. Trong khi ai cũng biết cộng sản Lào đang đóng quân đầy trong các chùa chiền ở Lào với đầy đủ vũ khí. Nhiều lần chúng tôi đã bị bắn từ chính trong các chùa. Có lần chúng tôi không chịu được, đã bay qua chùa và thả một trái bom vào chỗ có súng bắn lên, và ầm ầm kho đạn của địch nổ vang và cháy suốt mấy tiếng đồng hồ.

Có một câu chuyện ai cũng biết là ở Trung Tâm Văn Hóa Trung Hoa (Chinese Cultural Center) tại Plaine des Jarres (Lào) như sau: Chúng tôi không được lệnh thả bom trong vòng 3 cây số chung quanh trung tâm này. Vào một đêm, một phi công tức khí lén thả một trái bom vào trung tâm này và kho đạn ở đây đã nổ trong suốt một tuần lễ!

Sau khi lệnh ngưng thả bom trên lãnh thổ Bắc Việt vào tháng 11 năm 1968, chúng tôi chỉ được phép thả bom khi xe tiếp tế của Việt Cộng ở đường mòn Hồ Chí Minh trên phần lãnh thổ nước Lào mà thôi, và chỉ được thả bom vào ban đêm. Như vậy là chúng tôi gần như tự tử rồi! Ban đêm không thấy đường, súng phòng không bắn như sao, chúng tôi chỉ còn cách đâm máy bay vào dãy núi Karst là xong! Có một ngày quang đãng, tôi đếm được 100 xe tiếp tế nối đuôi nhau tại Ðèo Mụ Giạ thuộc Bắc Việt Nam. Những chiếc xe này đậu sẵn để đợi đêm tối di chuyển vào đường mòn. Và dĩ nhiên chúng tôi được lệnh cấm chỉ thả bom đoàn xe. Ðó là quy tắc giao chiến đấy!!

Chúng tôi cũng không thể thả bom đường xe lửa tiếp tế từ Trung Cộng vào Bắc Việt. Mỹ cũng không thể phong tỏa hải cảng Hải Phòng… Tất cả những gì Nixon làm năm 1972 là để Bắc Việt có cơ hội mang tiếp tế vào miền Nam. Ðáng lẽ chúng ta phải chặn đứng việc cộng sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí cho chiến trường miền Nam mới phải?

Vai trò ưu tiên của Không Lực Hoa Kỳ là chặn đứng khả năng tiếp tế vũ khí đạn dược vào chiến trường Miền Nam. Ðây là một sự “tuyệt đối phải ngăn chặn.” Ðó là mục tiêu duy nhất của Không Lực hầu yểm trợ lực lượng Mỹ và đồng minh tại Nam Việt Nam. Chúng ta phải thả bom các cơ sở chế tạo đạn dược và vũ khí, vì chính nơi này sản xuất phương tiện để giết những người lính Mỹ. Lý do nữa là Không Lực phải giúp lính tiêu diệt kẻ thù dưới đất. Tất cả Không Lực làm, từ chuyên chở, đến chiến đấu đều chung mục đích giúp cho toàn quân đội Mỹ ngoài chiến trường tại miền Nam Việt Nam.

Nhưng buồn thay, tại Việt Nam, chúng tôi đã không được phép thực thi những sự “tuyệt đối phải ngăn chặn” này. Thử nghĩ xem Tù Binh Chiến Tranh Mỹ (POW) do đâu mà có. 85% POW là hoa tiêu và phi hành đoàn. Họ bi bắn hạ chung quanh những vị trí có hỏa tiễn SAM và phi cơ MIG. Nơi mà những hoa tiêu này đã thấy từ khi cộng sản Bắc Việt và Nga Sô lúc còn dang xây cất. Còn tại chiến trường Miền Nam, lính Mỹ chết bởi những vũ khí, đạn dược và tiếp liệu do Bắc Việt chuyên chở vào Nam, mà chúng ta không ngăn chặn được hay chúng ta không muốn ngăn chặn?!.

Chúng tôi đã từng thấy từng đoàn xe vận tải nối đuôi nhau ngay ban ngày. Những xe này thuộc Lực Lượng Chuyên Chở 559 từ Hà Nội đổ vào.

Chúng tôi bay trên đầu đoàn xe và đôi khi chỉ cho chúng một chút sợ hãi bằng cách ném xuống vài thùng xăng phụ hay một vài trái hỏa tiễn gọi là. Vì chúng tôi không được phép mang cả phi đoàn phản lực đến đó để thả bom, chỉ vì lệnh cấm.

Tôi đã từng chứng kiến một làng người Thượng ở Nam Việt Nam bị Việt Cộng ném lửa đốt cháy cả làng. Chúng đốt sống cả trẻ thơ, phụ nữ và tất cả những gì còn sống, chỉ vì dân làng không chịu phục tùng lệnh của chúng.

Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà chúng ta không muốn thắng!

Tác giả: Mark Berent

Chuyển ngữ: Thái Dương

28-12-2018

Hình này do tôi tìm trên mạng: trong khi các lãnh đạo thực hiện cuộc chiến không muốn thắng thì lại có những cố vấn QS hết lòng với chiến hữu VNCH như thiếu tá Norman Schwarkopt Jr., cố vấn của TĐ 5 dù.