Showing posts with label gia vực. Show all posts
Showing posts with label gia vực. Show all posts

Sunday, October 19, 2025

 Camp Gia-Vuc was one of the oldest SF camps in the 1st CORPS It was an old French camp (Indochina War) reopened by USSF in February 1962 BU A-5/1, to secure a population of 1500 HRE montagnards and about 300 Vietnamese in that area. The camp is situated near the Song Re river in the Quang Ngai province, about 80 miles from Danang and was originally in the II CORPS Tactical Zone but in 1964, the I and II CTZ borders were adjusted and the camp came under control of the I CTZ. Gia -Vuc was the southernmost camp in the 1st CTZ and its mission was surveillance and interdiction on infiltration routes. The Song Re valley know as Vietcong Valley was one of the major enemy supply/infiltration routes from Laos Eastwards to the Vietnamese costal lowlands.

It is believed that Gia-Vuc made a lot of Civic Action progress and improvements in the area and encountered more than their fair share of VC. When the camp was handed back to LLDB in 1969, there were approximately 6400 Hre and Vietnamese living in the area. Gia-Vuc was also known as the "Shangrila" of Vietnam and was becoming the social, cultural and political center of the Hre Montagnards. Colonel Harold R Aaron referred to Gia-Vuc as the most successful SF camp in Vietnam.

During most of its life, the camp lacked artillery, but at some stage had recoilless rifles to ward off enemy attacks. The camp defenses were virtually probed every night and suffered regular mortar attacks. Later on,
the fighting trenches were hardened against mortar attacks  by concrete capping of trenche and bunker system. Due to tropical rain storms flooding was not uncommon.


"An interesting fact about Gia Vuc is that, after it was turned over to the ARVN Rangers, it was besieged by PAVN as part of PAVN's invasion of RVN. The Rangers fought to the last man there, some 300 KIA or MIA." This additional information is thanks to Alex Humphrey (5th SFGA, Ba To 1964-65)

Imagine a green valley, slightly long than wide. Weaving through the middle is the Song Re river, running shallow over rocks and rapids during the dry season but fierce and often impossible to ford in the rainy season.  The floor of the valley has the terrain of a golf course, rolling into terraced rice paddies at the bottoms of the mountains ringing the valley.  At one end of the valley, far in the distance, a waterfall pours off the top of a ridge, falling nearly halfway to the bottom before losing itself in the trees.  Dozens of water buffalo graze near the streams and ponds.  The fog and clouds roll and tumble and slide up and down the mountains all day long...never remaining stationary for more than an hour.  Suddenly half the entire valley is invisible in misty white; 60 minutes later only little puffs float halfway up the hills.  Over there, a long skinny finger of fog flows down a long narrow valley, finally wrapping itself around one of the hamlets and then curling itself into a ball and floating away.  A dream world.  The Hre Montagnard villages perch clean and tiny on little hills, looking like a child's story of fairy-tale houses in a fairy-tale valley.

This is Gia Vuc, about 80 miles southwest of Danang and about mid-way to Laos.  The Special Forces camp is an old camp; the minefields in front still have some French mines in them and some of the Hre tribesmen speak a little French. The Hre are one of the large subgroups of the Montagnards with an estimated 150,000 people.  Most do not have the epicanthal eye fold, and most have a straight though short nose, not the flatter nose of most Vietnamese.  Most adults (especially the older) have had their front teeth either filed down or broken off, a tribal custom.


A few French genes visible in some who have white skin and some who have red hair. Running through the middle of our compound are bits and pieces of an old French road that once linked Kontum and Quang Ngai.  One day on patrol, I was amazed to see an old highway sign, rusty and full of bullet holes, that read "Kontum 25k."


Photo of CIDG's from Gia Vuc, due to their relax look, they must be closed to the camp
(note the old French road sign)  Photo, thanks to Loyd Little, A-113, 1965

Rice is the primary crop although tea, coconuts, cinnamon, honey, hemp and areca palm are grown. Growing wild are bananas, sugar cane, mangoes and a grapefruit-like plant. A typical hamlet has 50-60 people in 12-18 huts perched on hills.
Favorite drink is a quite potent rice wine. 

Altogether about 1,000 Hre live in this one long valley.  There is only one school in the valley, and it was built by an earlier SF team.  A teacher was recruited from Saigon and is paid by SF.   Hre have been fighting since the early 1950s, some with the French, some with the Viet Minh/Viet Cong.  Our housegirl is a captured Viet Cong and recruited (we think) to our side. 

Description of Gia Vuc is thanks to Loyd Little Sr Medic (E-6) at Gia Vuc 
(A-113 Sept. 8 to Nov. 2, 1965)

Friday, November 6, 2020

 



http://gia-vuc.com/indo/POSTESCCRINDOCHINE.htm?LMCL=ULcGGI&LMCL=x4Cz3N&fbclid=IwAR1ceZoMKUq9UTyzJTiy8SSnmrW1RpTIfMcOK__XjeSIGR53gjaSCmfafEI

Friday, October 30, 2020

 Trại LLĐB GIA VỰC , QUẢNG NGẢI 

I/ Trại LLĐB Gia Vực ở Quảng Ngải.
Ảnh 1: Trại LLĐB Gia vực từng là một đồn Pháp , được LLĐB Mỹ xử dụng từ tháng 1/1962 để bảo vệ dân Thượng Hre sống trong khu vực. Vào năm 1967 lực lượng của trại là 515 dân sự chiến đấu người bản địa (CIDG native - tức người Hre - Tài) tổ chức thành bốn đại đội, hai trung đội viễn thám (combat recon), và một toán TLC dưới sự chỉ huy của Phân đội (Detachment A-103). Sự lẻ loi của trại đã đc nhấn mạnh bởi vị trí của nó gần sông Re, một sông quá nông để di chuyển trong mùa khô nhưng nước chảy như lũ (raging torrent) trong lúc gió mùa (monsoons).
Ảnh 2: Trại GV tỉnh Quảng Ngải là trại ở tận cùng phía nam (southernmost) của Vùng I CT. Lính của trại đi tuần theo thung lũng sông Re về phía bắc thường đụng độ dữ dội (were aggressively screened) với VC vì thung lũng này là hành lang tiếp tế và xâm nhập bắc nam chánh của địch.
Ảnh 3: LL phòng thủ thiếu pháo binh nhưng đã giữ vài khẩu 106 không giựt để phản công khi cần.

Ảnh 4: Hào chiến đấu tại trại GV được tăng cường để chống cối và chống sói mòn do mưa.









Add caption







II/ Trại LLĐB Minh Long, Quảng Ngải.
1/ Trại Minh Long đã đc hoàn thành tại một vùng của dân Thượng Hre ở Quảng Ngải trong giữa tháng 11/1966, và phân đội A-108 bắt đầu hoạt động để bảo vệ khu vực này và con đường bộ (overland route) tới trại. Lực lượng trại đã chịu thiệt hại năng trong một nhiệm vụ phản ứng (reaction mission) ngày 6/3. VC kiểm soát đường bộ khiến trại phải dựa vào hai sân bay (cho máy bay thường và trực thăng) để tái tiếp tế. Sau này BTL Mỹ tại VN đã chỉ định LĐ 11 bộ binh của SĐ Americal trông nom trại này (nghĩa là trại gặp nguy hiểm thì cầu cứu LĐ) . Trong ảnh cho thấy trại ML đang đc xây dựng.
2/ Trại đc xây dựng bởi LL Ông Biển của hải quân Mỹ: mọi cơ giới nặng đều đc chỡ tới bằng trực thăng khổng lồ CH-54 để làm sân bay cũng như các công sự giữa đồi núi.
Image may contain: mountain, outdoor and nature
Nga Doan
Share

Wednesday, October 28, 2020

 "According to R Riesen book, the Hre nation was divided into:

*
The Northern Hre who fomented the 1949 revolt and from which they were drawing their guerrillas and partisans. They came under the outposts of Mambuk, Vimouk and Dakto
*
The southern Hre of Gia Vuc and Mankra who did not take part in the rebellion. Their land had not yet been occupied by the Viet-Minh who were mainly fighting in the Binh-Dinh province. This obviously made them more open to French influence, but there alliance would only be achievable via the Northern Hre which were already fighting on the French side.
In 1949 the Hre serving under Viet-Minh mutinied and using their weapons massacred 5000 Viets including settlers. In fear of heavy reprisal to follow, the mutineers converged to Kon Plong, Mambuk and Dakto asking the French for armed support. The Vietminh were quick in their reprisal and reoccupied momentary lost grounds while massacring the Hre population left behind. The Rebel Hre either went into maquis with French help or enlisted into French partisans forces to free their country of the Viet Minh in a movement called the "DOC LAP HRE" , the "Hre independence movement" for which the Kon Plong officers where devoted to."
Before his death René
managed to write a second book
"Le silence du ciel" - "The silence of the sky"
This book retrace his adventure with the French Colonial paratroopers & the GCMA and was published in 1956 but was never translated to English.
Jungle Mission
Author: René Riesen
Publisher: Crowell (1957)
Language: English
ASIN: B0007ED6N2
đọc thêm: https://www.vietnamroyaltourism.com/Hre-People-in-Vietnam.html

Sunday, October 11, 2020

 Việt Minh là lực lượng võ trang của ĐCSVN dưới tên gọi VN Độc Lập Đồng Minh Hội.

... Sau khi Nhật đầu hàng, CSVN với giúp đỡ của quân Nhật đã lợi dụng khoảng trống quyền lực tại Đông Dương để chiếm Hà Nội và tuyên bố thành lập VNDCCH vào ngày 2/9/45. Nhật đã cung cấp cho VM HÀNG CHỤC NGÀN TẤN võ khí cũng như HAI NGÀN LÍNH NHẬT ĐÀO NGŨ (sau này họ bị VM thủ tiêu -- Tài Trần) để tạo thành xương sống cho quân đội VM mới. Nên nhớ rằng trong lúc đó sức mạnh chánh của VM là xâm nhập vào hạ tầng cơ sở của thuộc địa Pháp cũng như mạng lưới thu thập tình báo (dựa vào dân Việt, thường có được nhờ VM khủng bố).  Sau khi quân Pháp trở lại (sau khi Nhật đầu hàng), lúc đầu VM chỉ có thể quấy rối quân Pháp và chỉ đánh nếu quân VM đông hơn Pháp. NHƯNG CUỐI NĂM 1949, sau chiến thắng của CS tại TQ, một nguồn vũ khí đã bắt đầu đổ vào bắc VN, nơi phần lớn lực lượng VM có mặt. Vào NĂM 1952, giúp đở của TC còn dồi dào hơn, khi đường mòn trở thành đường xe hướng vào khu vực phía bắc của Bắc Kỳ. Chiến cụ được chỡ bằng tài xế TC, trên xe tải TC vào vùng VM kiểm soát ở biên giới Hoa-Việt (từ THÁNG 7 1951 - THÁNG 7 1952, 6.280 TẤN VŨ KHÍ được cung cấp cho VM). Dọc theo các đường này là trạm xăng (petrol pump) cũng như súng phòng không TC. Trong các trại ở TC, lính TC đã dạy VM du kích chiến và chiến tranh chớp nhoáng (blitzkrieg) để họ trở thành đặc công, hiệu thính viên, lính pháo binh, sq và chính ủy. Vào năm 1952, VM đã trở thành một quân đội chính quy đáng sợ được huấn luyện kỷ và học tập chính trị/chính huấn bởi TC. VM đã có những sđ pháo binh nhẹ và nặng gồm vũ khí pháo binh và pháo phòng không quy ước với khoảng 6.000 cố vấn thuộc Khối Đông Âu (Easter Bloc). Tướng Giáp có thể tập hợp quanh ĐBP bốn sđ bộ binh và một sđ NẶNG, khoảng 49.500 chiến sĩ với 200 đại bác (75 và 105 ly) và một trung đoàn cao xạ do TC huấn luyện.

Trong giai đoạn đầu, đặc biệt tại miền nam, VM thực hiện một chiến dịch khủng bố, và tra tấn, chặt tay chân (mutilate) và giết bất cứ tù binh gốc Việt hay Pháp cũng như thường dân VN làm cho Pháp; sau đó tù binh Pháp được gửi đến trại TB/trại cải tạo mà cuộc sống ko kéo dài. Nên nhớ rằng trong chiến tranh, VM chỉ đánh khi có quân số áp đảo và thường thắng bằng cách tấn công biển người mà ko đếm xỉa đến tổn thất của chính họ.

VM gồm ba LL chánh sau đây:

1/ Quân VỆ QUỐC gồm các sđ với 3 trung đoàn cho mỗi sđ và mỗi trung đoàn có 3 TĐ.

2/ Quân bán chính quy gồm:

a/ TỰ VỆ là những đv địa phương (mỗi đv từ 100 - 200 ng).

b/ Những đv chống lính Dù gồm một đài quan sát, một nhóm an ninh và xung kích).

c/ Những nhóm quyết tử (suicide) là những toán 10 ng và huấn luyện chính trị bởi chính ủy.

3/ Những đv chính trị có nhiệm vụ thám sát (surveillance) và ám sát.

Tính tới NĂM 1953, quân VM khoảng trên 500.000 ng.

Ghi chú về lực lượng CEFEO: đây là một LL viễn chinh của quân đội Liên hiệp Pháp đầu tiên thành lập ở Đông Dương thuộc Pháp năm 1945 trong chiến tranh Thái Bình Dương. Sau đó họ chiến đấu và tổn thất khi chống VM từ 1946-54.

LL này phần lớn là lính bản xứ và tình nguyện tuyển từ lãnh thổ thuộc địa hay được Pháp bảo hộ, bao gồm lính Lê Dương phần lớn là tình nguyện gốc Âu châu. Việc tuyển mộ lính từ mẫu quốc bị cấm bởi CP trong chiến tranh Đông Dương lần 1 để tránh phản đối tại Pháp.-- Theo wiki. 

Troops/Lực lượng của hai phía

C.E.F.E.O195119521953 Viet Minh194719511952
Lính Pháp51 17550 737

59 526

     
Lính Bắc Phi11 00022 89236 628     
Lính Phi châu2 00013 28119 342     
Lính Lê Dương11 131 

16 664

16 586     
Indochinese/Lính Đông Dương 35 00086 00060 000     
Total/Tổng cộng:110 306

190 592

194 263 Quân chínhquy 50 000

110 000

180 000
         
Quân đội Quốc gia Việt Nam70 000135 000200 000 LL địa phương,
Dânquân   
50 000240 000224 400
/Quân đội Quốc gia Lào4 00010 00015 000     
Quân đội Quốc gia Cambodge

5 500

11 00011 000     
Total/Tổng cộng:79 500156 000226 00     
         
Combined forces total/Tổng kết:189 806346 592420 263 Tổng cộng: 
1
00 000
350 000404 400

Note: The C.E.F.E.O. carried the brunt of the fighting and while viewing the above troop figures, 
you need to  visualize the size of the territory that they had to control, see map at top of page.

Casualties/Tổn thất

 KIA/MIA(Chết/ Mất tích khi chiến đấu)WIA/Bị thương)POW taken(Tù binh bị bắt)POW returned (Tù binh trở về) 
C.E.F.E.O75 86765 12514 500 (known/được biết)8 516
Người dân Đông Dương thuộc Pháp.31 716N/A (không có số liệu)13 359 (known/được biết)1 039
     
Việt Minh200 000 (est/ước lượng)300 000 (est/ước lượng)200 000 (est/ước lượng)N/A
     
Quân Pháp ở ĐBP.2 7484 43611 7213 290
Quân VM ở ĐBP.7 900 (est/ước lượng)15 000 (est/ước lượng)N/A (ko có số liệu)N/A

20 000 of the French KIA/MIA were from main land France
with a very high proportion of NCO and Officers including 800 St Cyr graduates.

Có 20.000 chết và bị thương và bị thương là người Pháp với tỉ lệ khá cao là HSQ và SQ bao gồm 800 tốt nghiệp Trường Võ bị Saint Cyr.

Nguồn: cưu chiến binh Mỹ thuộc trại LLĐB Gia Vực, Quảng Ngải.


Friday, October 25, 2019

TRƯỚC 54, QUÂN ĐỘI PHÁP CÓ LẼ ĐÃ TRÚ ĐÓNG Ở  TIỀN ĐỒN 3, 4, VÀ 5 -- TRÊN TỈNH LỘ TỪ KONTUM ĐI QUẢNG NGẢI.

Bản đồ sau đây về vùng đông bắc của tỉnh lỵ Kontum, có làng Kon-Sơm-Luh, nơi xảy ra trận đánh lớn, sau HĐ Paris 1973, được nhắc đến trong các bài viết của Vương Mộng Long, Vũ đình Hiếu, Phạm Tín An Ninh, v.v...

ND495MAP.gif (2815×2054)

Một bản đồ cũng về vùng đông bắc Kontum: ND495MAP2insert.gif (1493×1106) 

Một bản đồ vẽ từ thời Pháp: New Page 1


Lời nói đầu: Trong thời gian qua, chúng ta đã nghe các bài về Tiền đồn 4 và 5 của Phạm Tín Anh Ninh hay 13 người cuối cùng trở về từ tiền đồn 3 và 4 Kontum của Mai Bá Tòng. 
Nhờ có đam mê về khảo cổ, trong lúc lang thang trên mạng, tôi đã tìm thấy bài của một người Pháp kể lại về hai đợt phục vụ (gần 5 năm) của người chú của y tên Maurice Millour tại Đông Dương. Chú của tác giả cũng từng hành quân trong khu vực mà sau này các đơn vị của sđ 23 bộ binh VNCH đã hành quân trong giai đoạn từ 1973-75. Đọc để thấy dân Pháp có tinh thần HOÀI CỔ (nostalgie) vì dù cha chú họ đã chết trong chiến tranh Đông Dương lần thứ 1,1946-1954, nhưng con cháu vẫn ghi nhớ sự hy sinh của cha chú của họ.
===

HOẠT ĐỘNG CỦA TIỂU ĐOÀN 4 BMEO TẠI KHU VỰC GIA VỰC TỪ 1948-51

Các cuộc hành quân liên quan đến thung lũng Gia Vực do Tiểu Đoàn 4 Khinh Chiến Viễn Đông viết tắt là B.M.E.O (Batallion de March Extreme-Orient), thực hiện trong thời gian 1949-51.

" 1/ Trong kỳ phục vụ đầu (37 tháng, từ 1948-1951) tại Đông Dương, chú tôi đã ở đại đội 1 thuộc Tiểu Đoàn 3 Khinh chiến Viễn Đông hay Tiểu đoàn 3 B.M.E.O và kế đó là đại đội 16 của Tiểu Đoàn 4 BMEO tại tiền đồn Kon Plong ở cao nguyên trung phần; đồn này khoảng 100 km đông bắc của Kontum, nằm trên một vị trí cao gần con đường đất từ Kontum dẫn tới Gia Vực, quận Ba Tơ Quảng Ngải, và cuối cùng là bờ biển miền trung (sau 1954 con đường này gọi là Liên Tỉnh Lộ 58) - xem bản đồ 1-3. 

                                       
Bản đồ 1 (đã được phóng đại) và bản đồ 2 (dưới đây) về con đường từ Kon Tum đi Gia Vực, Ba Tơ và Quảng Ngải - của hội National Geographic mà tôi là hội viên. 


                                                             
Bản đồ 3, chi tiết hơn, do Rene Riesen vẽ. 

Đồn Kon Plong được bao quanh bởi nhiều núi rừng và được xây trên một đồi nhỏ trong một thung lũng lớn trong đó có một làng Thượng. Đồn làm hoàn toàn bằng những khúc gỗ (log), trừ 2 căn nhà gạch và vài căn lợp tôn. Nhà chánh dài 25 m, cao và rộng khoảng 5-6 mét với một đầu là bịnh xá và đầu kia là phòng truyền tin. Phần dễ bị tấn công nhứt là phần đối diện với đồng cỏ và bảo vệ bởi một bức tường làm bằng các khúc gỗ (log) xen kẻ với lổ châu mai (fire port). Hàng rào phòng thủ cũng bằng những khúc gỗ: đó là hai hàng cây gỗ song song cách nhau từ 6-7 tấc, giữa là đất và đá cuội (pebble), gia cố bởi tre chẻ (split bamboo set) cột các khúc gỗ với nhau để hạn chế soi mòn bởi mưa. Việc xây dựng này ko dùng tới một cây đinh và giữ vững nhờ mây bện (braided rattan). Trong mùa mưa, nước đã sói mòn hàng rào, tạo nên các lổ nên phải sửa liên tục".
                                          
2/ Tiểu Đoàn 4 BMEO gồm một đại đội chỉ huy và bốn đại đội chiến đấu (các đ.đ.13-16) tổng cộng khoảng 1.000 người cộng thêm một đ.đ. huấn luyện, đó là đ.đ. 17.
Mỗi đ.đ. chiến đấu có khoảng 173 người chia thành bốn trung đội (platoon) với ba tiểu đội (squad) cho mỗi trung đội. Mỗi đ.đ. có hai sĩ quan (sq) Pháp, khoảng 15 hạ sq Pháp hay dân bản xứ và mười hạ sĩ (corporal) hay binh nhứt (private first class/PFC) hay binh nhì (private) Pháp. Lính Thượng có mặt trong cả 5 đ.đ: đ.đ.14 và 16 có dân Sê-đăng, đ.đ. 15 có dân Gia-rai và đ.đ. chỉ huy và 13 có cả hai sắc dân này.
Đ.đ.16 trang bị một đại liên FM 1924.29, xem hình, một cối 120 ly tại đồn Kon Plong, một cối 50 ly khi hành quân bên ngoài, và vài phóng lựu. Hạ sq trang bị tiểu liên MAS 38 hay Sten và phần lớn binh sĩ trang bị súng cũ của Canada thời đệ 2 thế chiến.

Lính Dù thuộc TĐ 1 Dù Lê-dương của Pháp bắn súng FM 24/29 trong 1 trận phục kích của VM năm 1952.


3/ NĂM 1949.
Đầu năm 1949, thiếu úy Jacques Pierre tới khu chiến thuật Ban Mê Thuột và tháng 2 chỉ huy đồn Kon Plong với quân số ko đầy đủ.
Ngày 25/5, thiếu uý rời đồn với một trung đội cộng (còn gọi là trung đội tăng cường, với quân số hơn một trung đội) khoảng 50 người, trong đó có 7 người Âu. Trong hai ngày, toán quân nhỏ này đã tới thung lũng sông Re, đi qua đồn Viklum và Violac, sau đó đi theo bờ phải của sông Re tới Gia Vực. Thiếu úy thấy ấp Gia Vực là căn cứ của một trung tâm tiếp tế lương thực của VM, mà lính VM khoảng 1 trung đội đã bỏ chạy khi đơn vị của ông tới. Sau khi đốt cháy kho lương này, đơn vị của thiếu úy trở về đồn Kon Plong qua những đoạn đôi khi rất dốc (via sometimes very steep paths): một đoạn chưa tới 10 km phải đi hơn 8 giờ. Cuộc hành quân này là một trong những lần thám sát đầu tiên của QĐ Pháp tại thung lũng sông Rê - lúc đó còn do VM kiểm soát.
Ngày 14/10, một đv thám sát gửi tới thung lũng này 3 ngày trước đó đã trở về đồn Kon Plong. Họ bị phục kích hai lần, phía bắc Gia Vực và đông của Kon Plong, với 1 chết và 2 bị thương. Trong hai lần phục kích này, binh nhứt Bellei, một y tá của đồn, vài lần đã xông vào lửa đạn địch để cứu kẻ bị thương. Cho hành động quả cảm này, y được 3 giấy khen cấp trung đoàn và một Croix de Guerre, xem hình, với sao đồng. Hai kẻ bị thương đưa về bv Pleiku hôm sau.

Croix de Guerre cho chiến công trên lãnh thổ Pháp
                                       
Croix de Guerre cho chiến công trên lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp (territoires outre-mère/TOM). 

4/ NĂM 1950
Tháng 2/1950, dân Thượng gốc Hre từng bị cưỡng bách tham gia Quân đội nhân dân của VM đã nổi dậy. Sau khi giết các cán bộ và chính ủy (cadre and commissar) của VM, họ kéo tới các đồn Pháp để xin bảo vệ. Thiếu úy Pierre nhanh chóng chụp cơ hội bằng vàng này (realize the potential of that situation) đã hỗ trợ cuộc nổi dậy. Ông cũng tổ chức đưa những ai tình nguyện vào một đơn vị bán quân sự toàn dân Hre dưới tên "Hre Hành Động" (Action Hre).
Ngày 7/4, cuộc Hành Quân "Adrien" được tung ra để hỗ trợ cuộc nổi dậy này và đẩy lui quân VM từ thung lũng sông Re tới bình nguyên ven biển của tỉnh Quảng Ngải. Một "Chiến Đoàn" (groupe mobile) tân lập khoảng 600 người với những thành phần của Tiểu Đoàn 2 Dù của lực lượng Viễn Chinh Pháp (2e BEP), Tiểu Đoàn 1 Dù thuộc địa* (1e BPC) và trung đoàn 2 bộ binh Viễn Chinh Pháp (2 ème REI) cộng với một đơn vị gồm 150 dân binh Hre tân lập và huấn luyện chưa đầy đủ.
Từ 7-13 tháng 4, chiến đoàn chuyển từ Kon Plong tới làng Gilang, đi ngang qua các đồn Vitiong, Viklum, Vipée, Dak Xérong, Monit, rồi vào thung lũng sông Re tới Ta-ma, và cuối cùng là Gilang. Trong giai đoạn này, chỉ có các thành phần tiền phương chạm súng lẻ tẻ với VM.
Từ ngày 14/4, một bãi đáp cho máy bay, các bãi thả dù và một trạm xá dã chiến (a landing zone, drop zones and a field first aid post) được lập ở Gilang. Các hành quân thám sát tại khu vực này gây tổn thất cho Tiểu Đoàn 2 Dù Viễn Chinh và trung đoàn 2 bộ binh Viễn Chinh. Tính tới 22/4, đã phát hiện 5 TĐ Việt minh (4.000 người) trong khu vực và tiến gần Gilang, dẫn tới quyết định bỏ thung lũng sông Re và rút về Kon Plong.
* Sau này có lẽ trở thành TĐ 1 Dù VNCH -- người dịch.

Hình 1: Đường dẫn lên đồn ViMuk, bạn có thể thấy hàng rào hay hào bằng gỗ và đất bảo vệ đồn này.

Hình 2 (của một phụ nữ Pháp có cha phục vụ tại Đông Dương cùng thời điểm): "Cờ của Việt Minh tặng bởi bạn của cha tôi. Cờ này bị tịch thu bởi em của bạn ba tôi khi ông ta chiến đấu tại Đông Dương, nhưng ko may mắn cả hai đã chết và ko có thêm thông tin. Trên cờ có hai dao găm và phù hiệu của lực lượng Dù và GCMA của Quân Đội Pháp".

Một phụ nữ Pháp, con gái của người bên phải trong ảnh trên đây, đã cung cấp ảnh.
                                         

Ba hình dưới chụp tại đồn Kon Plong. Hàng rào hay nhà cửa đều làm bằng những khúc gỗ, cột với nhau bằng mây (braided rattan) hay tre chẻ (split bamboo set), ko dùng đinh; nhưng dễ bị sói mòn bởi mưa.



Các cô gái Hre 


========================================================================= 
Các cuộc HQ liên quan đến thung lũng Gia Vực (tỉnh Quảng Ngải) do Tiểu đoàn 4 Khinh Chiến Viễn Đông (4e BMEO) của Pháp thực hiện, phần 2.
Người dịch: Khoảng thập niên 1960, khi quân Mỹ và VNCH lập trại LLĐB tại thung lung Gia Vực, họ cho biết gần đó có một trại lính hoang phế của VNCH, từng bị VC tấn công vào thời TT Diệm, gần như mọi quân nhân sống sót đều bị giết chết, phụ nữ và trẻ con bị đưa đi vào Trường Sơn.--Theo hồi ký Bên Đồi Trinh Nữ của Thảo Nguyên -- một sĩ quan BĐQ ở trại này. Gần trại LLĐB này có cột chỉ đường ghi "Kontum 25 km", chứng tỏ trước đây có đường lộ từ Gia Vực đi Kontum. 

5/ Cuộc hành quân kế tiếp có tên "Gien" diển ra từ 8-12 tháng 5 cùng năm. Thành phần tham dự là một Chiến Đoàn khác gồm đại đội 15 và 16 của Tiểu Đoàn 4 BMEO, đại đội khinh chiến (Compagnie de Marche) của TĐ 1 Dù Thuộc Địa (BPC) và một toán (section) của trung đội Trường sĩ quan (Officers School). Nhiệm vụ là đẩy lui VM ra khỏi ấp Gia Vực để lập một tiền đồn gần đó và tuyển mộ lính địa phương.
Cuộc hành quân không thành công nhiều vì vùng này ko có bất cứ quân số địch đáng kể (was empty of any significant number of enemies). Cũng ko có đường lộ/đường mòn (road or trail) khiến việc lập một tiền đồn không khả thi (viable) vì quá đơn độc (không có một đồn nào gần đó) và lại không có cơ hội cứu viện kịp thời (rescue in time) bằng đường lộ hay đường mòn.
Tiếp theo cuộc Hành Quân "Adrien", Pháp đã quyết định đưa dân Hre vào một đơn vị quân sự có tổ chức (structured). Dẫn tới việc thành lập vào giữa tháng 6 tại Kon Plong một đơn vị phụ lục quân số 26 (Unité Supplétive Militaire, viết tắt là USM 26) với quân số của một đại đội. Trang bị đầu tiên là hai khẩu FM Bren và một trăm súng trường.
Vào giữa tháng 7/1950, cấu trúc của đại đội này chỉ có 3 Hạ Sĩ Quan Âu châu. Đại đội này sau đó được tăng cường với vũ khí tự động và đổi thành đại đội biệt kích phụ lục quân số 26 (CCS/compagnie de commandos supplétives) - giống như dân sự chiến đấu hay CIDG sau này -- người dịch.
Hạ sĩ Rene Riesen của TĐ 4 BMEO và tác giả của sách "Mission spéciale en forêt Moi" (Nhiệm vụ đặc biệt trong rừng Mọi). Đây là sách DUY NHỨT nói về sự can dự của Pháp với dân thượng Hre, đã dịch sang Anh ngữ (với tựa "Jungle Mission" vào 1957).
R. Riesen nhận trách nhiệm giám sát các người tình nguyện Hre, dạy họ chiến tranh du kích và lập các nhóm tự vệ làng (village self-defence group), còn gọi là militia hay goum. R. Riesen đã sống vài năm với dân Hre, trở thành lãnh chúa (war chief) của họ dưới tên "Ba Tamoi" (ba của Mọi), hay "Ba tchiac gaho tabouac" (ba tóc bạc). Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Riesen là lập một đơn vị dân binh (partisan) tại làng Kon Pong, khoảng 20 km nam Kon Plong, với mục đích dựng một tiền đồn và lập một lực lượng dân vệ (militia). Việc kiểm soát làng này quả nhiên (indeed) rất quan trọng với đại đội 16 của Tiểu Đoàn 4 BMEO vì đại đội này bảo vệ, về phía bắc, đồn Kon Plong và, về phía tây, đồn nhỏ (redoubt) Kon Braith trên con lộ nối Kontum và Kon Plong.
Vào tháng 6, nhiều công tác sửa đường đã tiến hành ở tiểu khu (sub sector) Kon Plong, hoặc đi về nam tới đồn Kon Braith hay về bắc tới đồn Kon Kléang hay Gia Vực.
Ảnh 1: đồn Kon Plong, ảnh 2: khu vực Kon Plong và lân cận.

                                                

                                           

Ngày 31/12, lực lượng tự vệ "Thanh Niên Hre" tại khu vực Mang Mou/Mang Rha (thung lũng sông Re), võ trang với một FM, ba MG và 150 súng trường, chạy theo VM theo sau sự phản bội của phần lớn lực lượng này.

Đầu tháng Giêng, thông tin xác nhận bởi các toán tuần tiểu cho thấy sự có mặt của 400 Việt Minh chung quang Mang Mou và Mang Rha, và 1.200 người tại thung lũng Gia Vực.
Gaston Mille, chỉ huy của Tiểu Đoàn 4 Sơn Cước (TĐ 4 BMEO) đã quyết định tổ chức Hành Quân "Omer" dưới hình thức một đột kích vào khu vực kể trên của VM nhằm lấy lại tất cả hay một phần số vũ khí đã mất cũng như thu lượm tin tức nhằm có thể tái chiếm làng Mang Mou và Mang Rha. Sau năm ngày hành quân vào thung lũng sông Re, không có chạm súng với địch - đã biến mất và dân địa phương có vẻ không hợp tác và dưới sự kiểm soát của VM.

Lực lượng GCMA hành quân tại Gia Vực, 1951-52.

Vào 1951, Quân Viễn Chinh Pháp tại Viễn Đông (Corps Expéditionaire Francaise en Extrême-Orient hay CEFEO) đã có những đơn vị chống du kích trong tay nhờ vị tân tổng TL, tướng de Lattre de Tassigny. Những đv chống du kích tân lập này là "Đoàn Biệt Kích Hổn Hợp Không vận" (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés hay GCMA) và những Biệt Kích của Miền bắc (Commandos Nord Vietnam) cả hai dùng những lượng bán quân sự người bản xứ được huấn luyện tại địa phương (using paramilitary locally raised indigenous forces) và thường hoạt động sau lưng VM.
"Hre Hành Động" được thành lập năm trước bởi thiếu úy Pierre từ đồn Kon Plong được GCMA chuyển qua đại úy Hentic sau khi được giao nhiệm vụ tái tổ chức thành đơn vị quân sự chiến đấu cho GCMA.
Vào mùa thu 1951, đại úy Hentic với 2 hay 3 cán bộ Pháp và một lực lượng Hre 150-200 người, đã tiến hành nhiều đột kích sâu vào lãnh thổ kiểm soát bởi VM. Những đột kích kéo dài từ ba tuần tới sáu tuần đã tới những nơi như Vidzen, Vibliang, và Gilang và tập họp/qui tụ nhiều lính và dân suốt phần dưới của thung lũng sông Re.

Năm 1952

Ngày 26/4/1952, đại úy Hentic với chưa tới ba trăm lính Hre đã rời Gia Vực và vượt sông Re vào ngày 27 và tấn công Ba Tơ vào buổi sáng của ngày 2/5. Họ đã phá hủy những doanh trại và kho đạn VM cũng như BCH của trung đoàn 108 VM.
Và họ đã biến mất trong rừng trước khi VM có thể phản ứng.
Vào mùa đông 1952 với một trung đội biệt kích VN và một trung đội Hre (tất cả khoảng 100 người), đại úy Hentic đã thực hiện một cuộc thám sát sâu trong hai tháng đi ngang Dakto vào đất Lào hướng tới Attopeu. Trên đường đi, họ đã phá hủy các căn cứ VM và đặt mìn trên những đường mòn của VM. Trong nhiệm vụ trinh sát này, họ ĐÃ KHÁM PHÁ một mạng lưới các đường mòn rộng lớn và ngụy trang rất kỹ gồm những khu vực tập hợp và nghỉ ngơi, kho lương thực của VM. Đây là lần đầu tiên người ta thấy đường mòn HCM nổi tiếng! (This was the first sighting of the famous Ho Chi Minh trail!
Cuối năm 1952, những đường mòn dẫn tới thung lũng sông Re và Gia Vực được cải thiện để chuẩn bị cho việc có thể thành lập một đồn trong tương lai cho quân Pháp để kiểm soát khu vực này.
Vào tháng 12/1952, Gia Vực vẫn dưới kiểm soát của VM mà ko có dấu hiệu của một tiền đồn Pháp nhưng chiến tranh vẫn tiếp diển thêm hai năm!
Thông tin được tôi dịch từ website của Philippe Milour: http://philippe.millour.free.fr/index.html
cũng như từ con gái của đ.u. Hentic (Anne Alexandre): http://www.mahohentic.com
và các sách của R. Riesen như: Jungle Mission, Le Silence du Ciel và của Erwan Bergo như Les Heros Oublies.
Đây là phần hấp dẫn của lịch sử Gia Vực và nếu bạn muốn khám phá hơn về LL đặc biệt Pháp và TĐ 4 BMEO, hai đv đã chiến đấu trong rừng núi ở Cao Nguyên, hãy thăm phần về chiến tranh Đông Dương lần 1 (1945-54) ở: http://www.gia-vuc.com/frenchindochina.htm?LMCL=bzPD_W
Có một lần, trong khi trở về từ một lần tuần tiểu tại địa phương (hè 1967) bằng đường núi nằm kế phía đông bắc của Gia Vực I đã nhân thấy một khẩu tiểu liên MAT-49 rỉ sét. Nó nằm sâu 0.9-1.2 m ở bờ một rảnh nước sâu 1.5-1.8 m (it was located about 3-4 foot down on the side of a 5-6 foot gully). Tôi luôn thắc mắc làm thế nào mà nó lại ở đấy và lịch sử của nó. Tôi đã biết Gia Vực từng là một đồn Pháp, nhưng tôi đã ko ý thức rõ ràng mức độ hoạt động của VM tại khu này. Cảm ơn trung sĩ nhất Ron Knight.

Tên của các địa điểm. 



Liên quan đến tên và địa điểm (name and place), đặc biệt trong giai đoạn đầu của chiến tranh, rất ít bản đồ và vài tên được ghi chép theo phiên âm đễ hiểu bởi người Pháp. Trên bản đồ Mỹ của thập niên 1960, cũng làng đó nhưng được viết khác đi khiến khó mà tìm dấu vết chúng.
====
THÔNG TIN THÊM VỀ SÁCH JUNGLE MISSION R. RIESEN.
TIỀN ĐỒN KON- PLONG: khoảng 60 dặm đông bắc của Kontum và tính tới 1946 là tiền đồn xa nhứt của Pháp ở cao nguyên Kontum. Nó được xây ở giao điểm của các thung lũng của Kontum và núi dẫn tới Sơn Hà và Ba Tơ, xa lộ tới Lào, Cambodia, Bắc VN và những khu ven biển.
Năm 1946, đồn được giữ bởi một đ.đ. lính Thượng, từ 1946-48, đồn này gặp khó khăn khi Việt Minh cố gắng chiếm đồn, vì nó là trở ngại cho các hoạt động quân sự và chính trị của họ.
Năm 1948, quân Pháp đã chuyển từ chiến thuật phòng ngự sang tấn công, với những đột kích vào sâu trong các khu vực do VM kiểm soát. Đồn này năm 1948 có ba SQ, 15 HSQ người Âu châu, 150 biệt kích người bản xứ (indigenuous partisan commando) và 120 lính chính qui người bản xứ (regular native). Liên lạc với Kontum mỗi tháng một lần bằng công-voa. Đ.u. Pierre, đồn trưởng, tiến hành công tác dân sự vụ và lập một chợ để trao đổi hàng hóa -- nơi mà các bộ lạc xa xôi ở phía đông và tây của đồn gặp nhau để trao đổi hàng hóa và lương thực.
Từ bản đồ của ông, bạn có thể thấy R. Riesen đã đi tới Makra (Mangia), khoảng vài dặm nam của Gia Vực, và đi về phía bắc theo thung lũng Sông Re, do đó ông phải đi qua Gia Vực. Nên chú ý là một ít tên trên bản đồ của ông đã viết khác với tên dùng trên bản đồ 1960 của Mỹ.Tôi nghĩ lý do duy nhứt, như trong sách ông đã viết: ko có bản đồ cho khu vực này, ông đã ghi nhận và vẽ lại những địa điểm đã đi qua. Ông đã viết tên những địa điểm này dựa trên một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của ông. Tôi đã có được một bản đồ Đông Dương bằng lụa, mà tên một số làng đã viết khác với bản đồ 1960 của Mỹ!
Nguồn: J-L Delauve (Gia Vuc webmaster) hay Gia Vưc Tribute website (www. gia-vuc.com). 

Cập nhật: Với đam mê về khảo cổ, tôi đã viết bài này đã lâu, nhưng nay cập nhật sau khi đọc bài về trại Gia Vực của anh Trần Lý. Bài của tôi nói chi tiết về trại Gia Vực trong giai đoạn trước 1954. 
SJ ngày 31/8/2024.
Tài Trần