Showing posts with label 30/4/75. Show all posts
Showing posts with label 30/4/75. Show all posts

Thursday, February 1, 2018

Bắc Kỳ 9 nút – Bắc Kỳ 2 nút …

Tác giả : Phiệt Mai 

image
Bắc Kỳ 2 nút
“Anh hãy đi cho khuất mắt tôi, các anh đeo dai như con đỉa. Chúng tôi đã sợ các anh quá rồi! Hai mươi mốt năm trước, chúng tôi đã phải bỏ cả nhà cửa làng xóm để chạy xa các anh vào đây, vậy mà bây giờ các anh vẫn lại theo bám, không buông tha!”
Đó là lời người con gái ở Hố-Nai Biên-Hòa (bắc kỳ 9 nút) nói với tên bộ đội (bắc kỳ 2 nút) khi hắn theo tán tỉnh cô sau 30-4-1975. Cô là thế hệ thứ hai của một gia đình di cư vào Nam sau 20-7-1954. Tội nghiệp cô gái bắc kỳ! Chúng tôi, những người lính thời ấy, trách nhiệm thế nào với nỗi nghẹn ngào cay đắng này của cô?
 
image
Note: Một số hình ảnh trong bài viết này là hình minh họa
Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Cái gì khiến cô gái bắc kỳ này lại sợ tên bộ đội bắc kỳ kia? Trải nghiệm thực tế, đơn thuần trong sinh hoạt xã hội của “bác” Hồ trước và sau những năm 1975 để giải mã những nguyên nhân căn bản khiến con số 9 nút phải thua con số 2 nút:
image
Bắc Kỳ 9 nút
Ở năm thứ 5 của đời tù tội, lần đầu tiên mẹ tôi đi thăm tôi ở trại Ba-Sao Nam-Hà, quà cho tôi thật khiêm tốn, trong đó có hai hộp sữa đặc là đáng quý nhất. Tôi nói đường xá xa xôi, mẹ mang làm chi hai hộp sữa này cho nặng, thì mẹ tôi cho biết bà mua ở Hà-Nội khi đi ngang qua. Chia tay, tôi ôm hai hộp sữa vào lòng, nghĩ tới chiều nay có được cái “ngọt ngào của cuộc đời”, cái ngọt ngào đã biến mất trong suốt hơn 5 năm trong đời tù đày, mà đôi chân tôi bước đi khấp khểnh, cao thấp như đang ở trên mây.
 
image
Thế nhưng, trời sập rồi! cái đinh vừa đâm lút vào hộp sữa thì một dòng bùn đen túa ra, tôi mềm người rũ gục như một tàu lá úa. Ngồi cạnh tôi, người bạn thân trong tù đang chờ được chia xẻ, đôi mắt trợn tròn rồi rủ xuống như muốn khóc! Bóc nhãn hiệu ra, thấy cạnh hộp sữa có một vết hàn. Như thế là người Hà-Nội đã tinh vi sáng tạo: rút ruột sữa ra, bơm bùn đen vào rồi hàn lại. Quả thật (mẹ tôi), Bắc Kỳ 9 nút đã thua Bắc kỳ 2 nút!
 
image
“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tôi đã học cái văn hóa đó ở nhà trường. Ở nhà, trong hoàn cảnh nghèo, mẹ tôi thường nhắc nhở anh em chúng tôi phải luôn giữ cái chất “bần tiện bất năng di” ấy. Đó là cái nhân cách căn bản được giáo huấn ở học đường miền Nam Việt-Nam, ở cái đất nước mà con người hiền hòa, chân chất, đơn thuần, vô tư không ôm hận thù, không biết cướp bóc, lừa bịp, đểu cáng vv. Đó chính là cái đất nước ở phía sau vĩ tuyến 17 kia.
 
Còn ở miền Bắc, cái đất nước trước vĩ tuyến 17 thì sao? Người ta dạy nhau cái gì ở nhà trường và ngoài xã hội? Người ta dạy nhau rằng “bần cùng sinh đạo tặc”. Hậu quả là sau 30- 4-1975, người Bắc Kỳ, tay cầm dao, tay cầm súng, tràn vào miền Nam điên cuồng giết người cướp của, hành động của “kẻ dã man thắng người văn minh” mà nhà nữ văn sĩ C/S Hà-Nội  Dương Thu Hương đã nhận xét.
image
Sự thật đã chứng minh “con người ít nhiều là sản phẩm của xã hội”, vậy thì xã hội man rợ tất nhiên sản xuất ra con người dã man. Từ cái bản chất dã man này, tự nó, sinh ra tệ trạng sinh hoạt đầy tính chất nguy hiểm, độc ác, gian manh, quỷ quyệt khó lường v.v. Đó là kết quả tất yếu không cần lý giải.
 
Chỉ có một mẩu cá khô lấy trộm trong khi vận chuyển lương thực, ông chiến hữu của tôi miệng phải ngậm miếng cá đó, cổ đeo cái bảng viết hai chữ “ăn cắp”, đứng trước cổng trại suốt ba ngày! Miếng ăn quý hơn mạng người! Ông ngục sĩ Nguyễn-chí-Thiện khi còn sống đã nói rằng: “miền bắc thắng miền nam là do chế độ lương thực tem phiếu”. Ông đúng hay sai? Đây là câu trả lời: “Em xin anh, chúng em mà nói trên đài thì ở ngoài kia, cha mẹ và vợ con em sẽ bị cắt hộ khẩu, họ sẽ chết đói!”. Đó là lời của ba tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh.
 
image
Tôi còn nhớ, ngày 3/9/1978, ngày giỗ “bác” Hồ của nhân dân bắc kỳ (2 nút), tại trại giam ở Yên-Bái, địa danh có cái tên nghe rợn người: “Ma thiên lãnh!”, tù nhân được nghỉ một ngày để chuẩn bị làm giỗ “bác”. Bàn thờ được trải khăn đỏ, sau bàn treo lá cờ to, trên bàn có hình “bác”, trước “bác” đặc biệt có một mâm hoa quả bằng hình vẽ mà trước đó, nguyên một ngày, ông tù nhân Lê-Thanh, họa sĩ kiêm điêu khắc gia có tiếng trong quân đội miền Nam “thua cuộc”, đã phải vẽ trên cả chục bản để ông cai tù trưởng trại lựa chọn.
 
Sau khi đã nhuần nhuyễn nói về tài thao lược và đạo đức của “bác”, trưởng trại để ý thấy tù nhân xì xầm về bức họa trái cây kia, ông bèn rất là trân trọng và tự tin nói rằng: “bác thường dạy “trong đấu tranh gian khổ, tính chất khắc phục là quan trọng”, cho nên khả năng “biến không thành có, biến khó thành dễ” là thành tích luôn được biểu dương, khen thưởng”!
 
Giỗ “bác” hôm nay, “bác” được ăn hoa quả giấy. Quả nhiên gậy “bác” đập lưng “bác”! Phần tù nhân, nghe xong chỉ thấy họ lặng im. Tôi đoán họ đang nghĩ đến nhờ ngày giỗ “bác”, bữa ăn trưa nay được tăng thêm trọng lượng.
 
image
Ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) nằm cạnh tôi kể chuyện anh: “Bọn công an (bắc kỳ 2 nút) cùng người giúp việc nhà anh, là chị đã xin nghỉ việc vài ngày sau 30/4/1975, đạp cửa bước vào và lớn tiếng hỏi anh: “lương lính, quân hàm thiếu tá, một tháng anh lãnh bao nhiêu? Anh trả lời chỉ vừa đủ sống cho hai vợ chồng và năm đứa con. Tên công an quát lớn: chỉ đủ sống thì làm sao anh có cái nhà to thế này? Đây là anh đã lấy của nhân dân, vậy bây giờ anh phải trả lại cho nhân dân. Anh có ba ngày để dọn ra khỏi căn nhà này.”
 
Một hơi thở dài, rồi một cơn ngủ thiếp của một ngày “chém tre, chặt gỗ trên ngàn, hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai” của ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) đã thay cho phần kết của chuyện kể mà tôi thiển nghĩ, những người dân miền Nam, cái đất nước ở sau con sông Bến-Hải kia đều đã biết cái số phận căn nhà đó ra sao.
Inline image 1
 
 
Những ngày vừa qua, nhân lễ kỷ niệm 50 năm anh em Tổng Thống Ngô-đình-Diệm bị sát hại, vài đài truyền hình có chiếu lại hình ảnh của gần một triệu người bắc kỳ (9 nút) bồng bế, gồng gánh, mang theo những chổi cùn, rế rách, luộm thuộm dắt díu nhau lên con tàu “há mồm” xuôi nam. Sau đó họ được định cư ở những vùng xa, vùng xâu, hoang vu hẻo lánh, lập nghiệp. Mơ ước cư ngụ ở giữa thành phố ồn ào, xôn xao, đối với họ chỉ là hoài bão.
 
Thế còn 30-4-1975, bắc kỳ (2 nút) xuôi nam thì sao? Vai đeo súng, tay cầm dao, nghênh ngang tràn vào thành phố cướp của, lấy nhà, chiếm đoạt, chễm chệ ở trong những căn nhà lớn ngay giữa thị thành. Áp đẩy khổ chủ đến vùng xa, vùng sâu có tên gọi là “kinh tế mới”! Cái tư thế “chễm chệ” kể trên, mỗi ngày một phát triển lớn, tới độ, bây giờ 38 năm sau, gần như toàn thể những thành thị ở miền nam, trên những đường phố lớn, trong những căn nhà to, chủ nhân đều là bắc kỳ (2 nút). Như vậy, chẳng phải rõ ràng bắc kỳ (2 nút) không những chỉ thắng bắc kỳ (9 nút), mà còn thừa thắng xông lên, áp đảo luôn cả những nam kỳ chủ nhà, không nút nào hay sao?
 
image
Tên công an chính trị viên, phó trại giam, tốt nghiệp viện triết học Marx, trong đối thoại về chủ nghĩa Cộng-Sản, hỏi tôi rằng “chân lý có thay đổi không?” Tôi trả lời: “đã là chân lý thì không thay đổi”. Hắn cười.
Hôm nay, hắn đúng, tôi sai. Chân lý của Marx quả đã thay đổi. Thế giới C/S của Marx đã xây dựng gần một thế kỷ, hoàn toàn sụp đổ. Học trò của Marx đã chia tay ý thức hệ với Marx, lũ lượt bỏ chạy qua vùng đất tư bản, thấy của cải vật chất phong phú thừa thãi mà chóng mặt, hoa mắt nên làm càn làm loạn”. “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, gia sức trấn lột, cướp bóc, lừa bịp, điên đảo, tham nhũng bừa bãi, trơ tráo tới độ vô văn hóa, vô nhân tính.
 
image
Trở lại con số 9 nút (1954) và con số 2 nút (1975) mà người ta mệnh danh là bắc kỳ cũ và bắc kỳ mới, với những chuyện xảy ra ở trên một đất nước xa Hà-Nội tới ngàn dậm này: Đất nước Hoa-Kỳ.
“Này chị kia, ở nước Mỹ chợ nào cũng có chỗ cất shopping- car, sao chị lại bỏ bừa sau xe của tôi?“ Cứ tự nhiên như ở Hà-Nội!, “Nhà tôi” (bắc kỳ 9 nút), bực mình la lớn. Hai bà (bắc kỳ 2 nút) tỉnh bơ, nổ máy xe biến mất. Còn lại là hai tôi, mỗi người đẩy một xe đưa vào chỗ cất.
 
image
Một lần khác, người bạn tôi kể rằng “Đi chợ, mua vội, tay chỉ cầm có hai gói cà-phê, đang xếp hàng chợt một chị bắc kỳ (2 nút) chen ngang vào đứng trước anh, anh phản đối thì chỉ hỏi lại: “xe của ông đâu?” Anh giận quá la lớn: “Đây là ở nước Mỹ, mua nhiều hay ít đều phải xếp hàng chứ không phải ở Hà-Nội của chị”.
 
Tại một nhà hàng, cháu gái của tôi cầm tờ biên lai tính tiền do bạn trai là người Mỹ trả, tới nói với người thâu ngân rằng: “chúng tôi gọi hai tô bún thịt nướng chứ đâu phải chả cá thăng-long mà tính nhiều thế này?” thì được thâu ngân viên buông gọn một chữ “nhầm”, rồi đếm tiền hoàn lại, không một lời xin lỗi. Tôi đoán chắc người Hà-Nội, chủ nhân (2 nút) tưởng Mỹ khờ khạo (đã bị bác và đảng đánh bại), nên mập mờ đánh lận con đen.
 
Trên đường về nhà, dọc hai bên đường, ở giữa lòng cái thủ đô có tên Little Saigon này, lác đác những căn nhà to như dinh thự mà người Hà-nội đã bỏ tiền triệu để sở hữu một cách ngạo nghễ, khiến tôi chợt nhớ đến ông chiến hữu bại trận của tôi năm xưa đã phải “trả nhà cho nhân dân” (nhân dân Hà-Nội), mà xót xa!
 
image
Tôi miên man tự hỏi, chẳng lẽ từ niềm tự hào “đánh thắng hai đế quốc lớn” của người Hà-Nội đang được thể hiện một cách ngang ngược, lỗ mãng, vô văn hóa ngay giữa cái thủ đô của người Việt tị nạn trên đất nước Hoa-Kỳ này đến vậy sao? Lý do gì họ có mặt nơi này? phần đất nơi cư ngụ cuối cùng, mà những người hoảng sợ đã phải bỏ nhà bỏ của để chạy xa họ? Tôi đang nghĩ đến người con gái bắc kỳ (9 nút) ở đất Hố-Nai Biên-Hòa năm xưa. Tôi ước ao được gặp lại cô ở nơi này, nơi cư ngụ cuối cùng của những người kinh hoàng, hoảng hốt bỏ lại quê hương, chạy trốn những kẻ bạo tàn! Tôi muốn lại được nghe cô nói rằng “Các anh hãy đi cho khuất mắt tôi, tôi đã sợ các anh quá rồi, chạy xa các anh tới nửa vòng trái đất mà các anh vẫn không buông tha!”
 
image
Ông nhà văn Hoàng-hải-Thủy của miền nam cũ, mới đây cay đắng than rằng “Nếu một ngày nào đó trên đất nước Hoa-Kỳ này, giữa nơi ở của những người Việt tị nạn có phất phới lá cờ đỏ sao vàng thì xin cho tôi được chết trước!” Nghe mà xót xa cay đắng quá! Mong là con bài 2 nút sẽ không thắng ngược 9 nút thêm lần nữa! 
Trọng Nghĩa & Chris Phan… thực hiện

Friday, April 22, 2016

Thần may mắn đã về phía CSVN năm 1975 khi Nixon bị mất chức và vua Faisal của Saudi Arabia bị ám sát . 
Có 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sụp đổ của VNCH : 
1/ Nixon từ chức vì Watergate năm 1974 . Do vậy , ko còn ai thực hiện các cam kết mật của ông với TT Thiệu . " Nixon hứa rằng sẽ dùng KQ để giúp VN nếu cần . . . Năm 1974 , BT quốc phòng Mỹ James Schlesinger khi ra điều trần trước QH tháng 6/1973 nói 'ông sẽ khuyến cáo tiếp tục dội bom bắc VN nếu họ mở tổng tấn công đánh VNCH' . . . Năm 1975 , khi miền nam bị tấn công , QH mỹ từ chối giúp VN vì : sự chống đối của dân mỹ và do di tản quá nhanh , quân VNCH đã để lọt nhiều trang bị cho csbv" . (xem Paris Agreement 1973 trên wiki)
2/ Trong tháng 3/75 , Vua Faisal của Saudi Arabia nói với Kisinger "sẽ viện trợ cho VNCH vô điều kiện để chống đở cuộc xâm lăng của CSBV" . Rất tiếc , BA NGÀY SAU , ông bị ng cháu , từng học ở mỹ , bắn chết ngày 25/3/75 ; (lúc đó , tôi đã xúc động khi đọc bài báo này trên Time) . Cái chết này là một đòn nặng cho VNCH .
Ông này , rất CHỐNG CỘNG , từng nói với 1 nhà ngoại giao LX : "Trở về Moscow và nói họ hảy nhìn nhận Thượng đế , thì ngày mai tôi sẽ mở TĐS tại Moscow . " (Theo Economist) . Và rất đa nghi khi cho rằng có sự liên minh giửa chủ nghĩa Zionist và CS . Vì Saudi Arabia có sản lượng dầu lớn nhứt trong khối OPEC , nên trong cuộc chiến 1973 của Ai cập đánh Do Thái , để trừng phạt phương Tây ủng hộ Do thái , ông làm giá dầu tăng BỐN lần . . . Các nước phương Tây , kể cả mỹ , lúc đó đều khốn đốn vì giá dầu tăng . Khi bị ám sát , theo thuyết âm mưu (conspiracy) , ông chết vì lý do này .
Nhân xét : Dù cho QH Mỹ ko giúp VN (khiến TT Ford bó tay) nhưng nếu vua Faisal ko bị ám sát thì cục diện VN có thể thay đổi . Vì VNCH rất cần tiền để mua xăng , đạn dược , v.v... mà vua lại sẳn sàng giúp ko điều kiện .
Đúng là thần may mắn đã về phía CSVN trong năm 1975 .
QUỐC VƯƠNG FAISAL Muốn Viện Trợ Cho Việt Nam Cộng Hòa
Nguồn : https://www.facebook.com/vuottuonglua/posts/888183304557273:0
. . . 
"Tuy nhiên lúc đó lại có một tia sáng hy vọng mong manh đối với vấn đề trợ giúp cho Miền Nam Việt Nam phát xuất từ vùng sa mạc Trung Đông.
Theo Frank Snepp thì trong những cuộc thương thuyết con thoi giữa các nước Trung Đông nhằm giải quyết hòa bình giữa các nước Ả Rập và Do Thái, vào ngày 19 tháng 3 năm 1975, Ngoại Trưởng Henry Kissinger ghé thăm nước Ả Rập Saudi (Saudi Arabia,) quốc gia sản xuất dầu hỏa hàng đầu của thế giới. Ngày 23 tháng 3 trước khi rời Riyad, Thủ Đô Saudi Arabia, Ngoại Trưởng Kissinger vô cùng ngạc nhiên khi Quốc Vương Faisal, vốn là một người rất mến phục và ủng hộ Tiến Sĩ Kissinger, đã nói riêng với ông là Quốc Vương muốn dành cho Ngoại Trưởng Hoa Kỳ một ân huệ cá nhân.
Quốc Vương Faisal nói rằng ông rất kính phục lòng can đảm của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do cho chính họ. Vua Faisal nói rằng vì cảm tình đối với nhân dân Miền Nam Việt Nam và một phần cũng vì cảm tình với Ngoại Trưởng Kissinger, nhà vua và chính phủ Ả-Rập Saudi sẵn sàng bảo đảm cho việc viện trợ cho vay một số tài khoản “vĩ đại” (a huge grant-in-aid) cho chính phủ Saigon nhằm bù đắp cho việc viện trợ của Hoa Kỳ bị cắt giảm. Ngoại Trưởng Kissinger ngạc nhiên và vui mừng cho đến độ sững sờ vì đây là một “phép lạ trên sân khấu” (deus ex machina) mà ông hằng mong đợi sẽ xảy ra để giúp cho ông ta thực hiện được chiến lược về ngoại giao của ông tại Đông Dương.
Nhưng bất hạnh thay, đề nghị viện trợ của Ả Rập Saudi cũng trở thành vắn số và phù du như những môn thuốc giải độc khác trước đây nhằm chữa chạy cho cuộc chiến tranh Đông Dương trong gần 30 năm. Chỉ có ba ngày sau khi đưa ra đề nghị này với Kissinger, Quốc Vương Faisal lại bị một người cháu giết chết vì ganh tức và hy vọng viện trợ cho Việt Nam cũng bị chôn vùi cùng với cái chết của Vua Faisal nước Ả Rập Saudi.
Frank Snepp cũng cho biết thêm rằng trong khi tiếp xúc với Ngoại Trưởng Kissinger mấy tuần trước đó, chính Đại Sứ Martin đã đưa ra ý kiến nên tìm cách vận động yêu cầu xin viện trợ từ nước Ả Rập Saudi. Tuy nhiên sau cùng thì chính Quốc Vương Faisal là người đã xúc tiến dự án đề nghị này. Ngay cả sau khi Quốc Vương Faisal từ trần, Đại Sứ Martin vẫn còn thúc đẩy Ngoại Trưởng Kissinger tiếp tục vận động cho kế hoạch viện trợ này nhưng chẳng có đi đến đâu vì người kế vị còn phải chú trọng đến những vấn đề khác. Frank Snepp: Sách đã dẫn. Trang 216.
Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng Trưởng Phát Triển trong những năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa cũng có cho biết thêm về chuyện này như sau:
“Cuộc viếng thăm của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ vào cuối tháng 2 năm 1975 đã cho thấy sự thật hiển nhiên là sự viện trợ của Hoa Kỳ đang đỗ vỡ và sau đó lại còn có thêm nhiều diềm xấu tiếp diễn: Những thất bại tại Cao Nguyên, sự thất thủ của các Tỉnh Miền Trung cùng Đà Nẵng và việc Hoa Kỳ cúp viện trợ là những dấu hiệu tồi tệ nhất.
Thêm vào đó lại còn có vụ Quốc Vương Saud al Faisal của nước Ả Rập Saudi bị ám sát ngày 25 tháng 3 năm 1975. Vua Faisal đã bày tỏ cảm tình và niềm ngưỡng phục về công cuộc chiến đấu chống cộng sản của nhân dân Miền Nam Việt Nam và ông đã đề nghị trợ giúp cho Việt Nam. Vào đầu năm 1975, Quốc Vương Faisal đã chấp thuận trên nguyên tắc sẽ cho Việt Nam vay một số ngân khoản “nhiều trăm triệu” Mỹ kim. Số tiền này sẽ được sử dụng nhằm đẩy mạnh nền kinh tế của Miền Nam Việt Nam và đồng thời cho phép Tổng Thống Thiệu mua nhiên liệu và vũ khí đạn dược của bất cứ quốc gia nào muốn bán cho Việt Nam. Một giải pháp khác được đề nghị cho kế hoạch cho vay này của Quốc Vương Faisal là Ả Rập Saudi sẽ bảo đảm cho việc Hoa Kỳ viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa. Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nghiêng về phía bảo đảm cho vay hơn là vì điều này sẽ loại trừ được những vấn đề khó khăn có thể xảy ra nếu phải mua những vũ khí chiến cụ của Mỹ ở ngoài thị trường Hoa Kỳ. Sự thật là toàn bộ guồng máy những vũ khí trong chiến tranh Việt Nam đều được sản xuất tại Hoa Kỳ (made in USA) do dó mà không thể nào mua sắm vũ khí đạn dược từ một nước ngoại quốc nào khác.
Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nhớ lại rằng “Có lẽ dường như là một điều kỳ cục nếu liên kết dầu hỏa của Ả Rập Saudi với sự sống còn của Miền Nam Việt Nam trong nỗ lực tìm kíếm viện trợ về quân sự, tuy nhiên trong những ngày đen tối nhất của tháng 4 năm 1975 thì chẳng có chuyện gì là kỳ cục cả. Khi người ta đang sắp sửa bị chết trôi thì ai cũng đều cố gắng nắm vào cái gì đang nổi trên mặt nước”.
Người Việt Nam tin rằng số phận của họ đã đến chỗ tuyệt cùng: Khi mà kế hoạch của Quốc Vương Faisal sắp sửa được thực hiện thì nhà vua lại bị một người cháu giết chết. Tổng Thống Thiệu đã gửi một bức công điện phân ưu đến Hoàng Gia Ả Rập Saudi và đồng thời khẩn nài chính phủ Ả Rập tiếp tục kế hoạch viện trợ của cố Quốc Vương Faisal. Chính phủ Ả Rập Saudi trả lời rằng họ sẽ cứu xét đề nghị này và Tổng Thống Thiệu đã gửi Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc sang thăm viếng Ả Rập Saudi. Người Việt Nam tự than thở rằng chính số của họ là sẽ bị bỏ rơi.” Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold Schecter: Sách đã dẫn, trang 306.
Trong một cuốn sách mới xuất bản vào năm 2005, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng có nói thêm về việc này và cho đăng nguyên văn bức điện văn của Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc gửi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phúc trình về việc này như sau:
“Vừa vào phòng, ông Thiệu đưa cho tôi xem một công điện đề ngày 14 tháng 4 năm l975 do Ngoại Trưởng Bắc gửi từ Luân Đôn về. Ông Bắc vừa ở Saudi Arabia đi Luân Đôn. Chuyến đi của ông có mục đích xin Quốc Vương Haled Crown (tiếng Anh là Khalid), vừa kế vị Quốc Vương Faisal, đồng ý cho Việt Nam Cộng Hòa vay tiền như phụ vương của ông đã bị ám sát.
Luân Đôn ngày 14 tháng 3 năm 1975
Công tác tôi đi Saudi Arabia đã được kết thúc thành công. Tôi được tiếp kiến Vua Haled Crown, Hoàng Tử Rabed và Hoàng Tử Abdullab (cũng là Thủ Tướng) Đệ Nhất và Đệ Nhị Phó Thủ Tướng. Tất cả, đặc biệt là Vua Haled đã cho tôi những bảo đảm vững chắc về việc tiếp tục yểm trợ và viện trợ kinh tế cho Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã thảo luận kỹ càng với Hoàng Tử Rudal Faisal (Bộ Trưởng Ngoại Giao,) Hoàng Tử Massoud (Thứ Trưởng Ngoại Giao) và ông Amant (Tổng Trưởng Dầu Lửa và Tài Chánh).
Về viện trợ sắp tới tôi đã cung cấp cho chính phủ Saudi một bản giác thư trình bày chi tiết về nhu cầu viện trợ và tình hình tại Miền Nam. Tôi hy vọng là quyết định về khoản tiền và phương thức của viện trợ sẽ được chính phủ Saudi cứu xét sớm” [Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Cơ sở Xuất Bản Hứa Chấn Minh, San Jose, Califoria, 2005, trang 310-311].
Bức điện văn này đề ngày 14 tháng 4 năm l975 và chỉ một tuần sau đó thì Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu từ chức, nửa tháng sau đó thì Miền Nam rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Tuy nhiên vào những ngày tháng 4 năm 1975, việc nước Ả Rập Saudi hứa sẽ trợ giúp cho Việt Nam Cộng Hòa cũng phải được xem như là một “phép lạ”, dù rằng đó chỉ là một phép lạ trong ảo tưởng mà thôi.
Sau 1975, người viết có cơ hội làm việc tại Jeddha, nước Ả Rập Saudi, trong một thời gian và có nghe nói đến việc nầy. Một vài người Ả Rập của người viết cho biết rằng vào khoảng cuối năm 1974, Việt Nam Cộng Hòa có tham dự một cuộc triển lãm quốc tế tại Thành Phố Hải Cảng Jeddha, lúc bấy giờ là Thủ Đô thương mại và ngoại giao của Vương Quốc Ả Rập Saudi. Trong cuộc triển lãm nầy, Việt Nam đã gởi sang trưng bày những bức tranh cũng như là một sô bàn ghế sơn mài, đa số là của công ty Thành Lễ và những sản phẩm này đã được dân chúng, nhất là giới thương lưu giàu có trong Hoàng Gia nhiệt liệt tán thưởng, nhờ đó mà họ có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa. Quốc Vương Faisal là một trong những người đó. Họ cũng xác nhận chuyện Vua Faisal có ý định viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa tuy nhiên vì phía
Việt Nam quá chậm chạp trong việc xúc tiến kế hoạch này cho nên sau khi Nhà Vua bị ám sát thì vị Hoàng Thái Tử (crown prince) là Kbalid ibn Abdulaziz lên nối ngôi không biết gì nhiều về việc này, do đó mà kế hoạch đã không được xúc tiến và bất thành.
Dường như đó cũng là vận nước cho nên Miền Nam đã bỏ lỡ mất cơ hội có một không hai này. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa cũng gặp nhiều sự không may vì Quốc Vương Khalid (1975-l982) là người có đầu óc bảo thủ, không chú trọng nhiều đến những vấn đề bên ngoài thế giới Ả Rập cho nên ông ta không để ý đến việc Quốc Vương Faisal đã có quyết định trợ giúp cho Miền Nam Việt Nam chống lại cộng sản. Tuy nhiên sau khi lên ngôi, Quốc Vương Khalid lại chọn Hoàng Tử Fabd ibn Adulaziz làm Hoàng Thái Tử kế vị thì ông này lại là người không những am tường về các vấn đề quốc tế mà lại còn là người chống cộng sản rất tích cực. Sau khi Vua Khalid băng hà vào năm 1982, Hoàng Tử Fadb ibn Abdulaziz trở thành Quốc Vương trị vì nước Ả Rập Saudi từ năm 1982 cho đến đầu tháng 8 năm 2005. Trong thời gian trị vì, Vua Fadh đã viện trợ vô cùng tích cực cho phong trào kháng chiến A- Phú-Hãn chống lại cộng sản Liên Xô trong mấy thập niên và sau cùng thì Liên Xô phải triệt thoái ra khỏi A-Phú-Hãn.
Nếu Quốc Vương Fahd lên ngôi thay cho Quốc Vương Faisal ngay từ năm 1975 thì biết đâu tình hình Việt Nam lại chẳng có thể một vài thay đổi ?
(còn tiếp)

Sunday, June 14, 2015


NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI CẦN BIẾT:

Nguyễn Đức Chương
Tên Trưởng Công An Huyện Định Quán (Tân Phú) - Đồng Nai là Nguyễn Đức Chương, Cậ́p bậc Thiếu Tá. Vợ y là Nguyễn Thị Huệ, con của một Đại tá cục Hậu Cần, thuộc Tổng Cục II Tình Báo Việt Cộng. Tên Chương, nó là tên sát máu đắc tội với nhân dân Việt Nam.
Năm 1978 nó là Đội Trưởng Đội Điều Tra xét hỏi thuộc Huyện Tân Phú (Định Quán), Đồng Nai. Vào tháng 5, 1978 có một số Binh Sĩ QLVNCH không chịu Trình diện học tập như lệnh Ban Quân Quản, họ lẩn trốn trong Rừng Phương Lâm, gần cây số 125. Cùng phá rừng làm rẫy tạm sống, bị dân phát hiện báo lại Công an "có một số tàn quân QLVNCH ẩn trốn làm rẫy trong rừng quanh đó …"
Được tin này, tên Nguyễn Đức Chương huy động toàn lực lượng Công An thuộc quyền y, vây bắt 21 binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 2, Trung Đoàn 48 thuộc Sư Đoàn 18 bộ binh VNCH, đem về Huyện Tân Phu ́- Đồng Nai để điều tra xét hỏi. Sau đó y cho lệnh tập trung toàn dân ở Huyện Tân Phú đến coi xử án những tên lính tàn dư của ngụy quân … Nó cho trói cả 21 người vào quanh cột cờ, cho tra khảo và đánh đập rất tàn nhẫn, tiếp theo cho công an đi lấy những mảng kiến vàng đổ lên đầu từ̀ng người từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, tiếp đó y cho đọc bản án tử hình.
Trong đó có người giữ trong mình Giấy Chứng chỉ tại ngũ tên Nguyễn văn Phúc, cấp bậc Thiếu Tá, Chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 48, Sư Đoàn 18 Bộ binh QLVNCH. Nhưng Ông này tự nhận là Trung Úy Đại Đội Trưởng thôi, còn Chứng chỉ tại ngũ là của Vị chỉ huy tôi. Tên Chương giận lên ... dí súng K54 vào đầu nổ súng từng người một. Hành động tàn ác này nhằm khủng bố tinh thần người dân lúc đo .
Đến tháng 7-1978 cũng chính y, được Dân báo cho biết có một số tàn quân nữa ở trong rừng quanh đó, tối xuống lại hay ra chợ Phú Hoa mua lương thực (dân dành cho), nghe vậy y cho mai phục bắn chết 6 người tại chỗ, bắt sống 4 người. Bốn người này cũng bị y bắn chết sau hai ngày. Tên bốn người này là: Vòng A Lý, Lý Phát Sáng, Siêu Nhật Kiêu và Vòng A Sáng. Bốn Anh này thuộc Lính Lôi hổ (dân tộc Nùng), người Phương Lâm.
Từ đó tên Nguyễn Đức Chương này được khen thưởng,thăng chức Đại Úy. Vế nhận chức Trưởng Công an Huyện Định Quán. Ở đây vào 8-1978, y ra lệnh cho hết binh sĩ VNCH ở trong vùng y trách nhiệm đến Đồn Công an ngủ từ 5 giờ chiều đến 9 giờ sáng hôm sau mới được về. Việc này kéo dài đến mãi 1985 mới nới lỏng việc tập trung này. Ờ địa danh Định Quán không ai mà không hay biết tên ác ôn Nguyễn Đức Chương. Những gia đình ở địa phương này có dính líu đến Chế độ cũ tại Miền nam, khi nghe đến tên Chương là kinh hồn rổi.
Năm 1997 đến 2008 y đã chiếu tướng riêng Tín đồ Cao Đài và tìm hại họ ở Định Quán. Y cho Công an đội lốt Côn đồ hãm hại cướp phá Thánh Thất Cao Đài nhiều lần không được. Nhưng cuối cùng Y cũng cướp được lấy đất bán chia nhau.
Nhờ sự đở đầu của tên Giám Đốc Công An Đồng Nai, và tên Tư Âu, y đã gạt số người Hoa giàu có ở Định Quán vượt biên theo dạng bán chính thức, lấy vàng người ta, nhưng không hiểu sao tàu bị nổ, người đi chết hết ...
Năm 1993 Giám Đốc Công An chuyển y về Tỉnh, nhưng Y xin ở lại tiếp tục làm Trưởng Công An Định Quán, y tự tuyên bố, nếu y đổi đi khỏi Định Quán thì không ai đắc lực để lo xuể công việc như y tại đây. Thế nên Y vẫn được ở nhiệm sở cũ cho đến ngày Cục Tình báo lo cho y Xuất cảnh đi Mỹ theo dạng con gái y bảo lãnh (vì y đã lo xa cho con gái y đi Du học, lấy chồng Việt Kiều để được ở lai Mỹ luôn từ trước) - Hiện nó ở California, Hoa Kỳ. Xin đồng bào ở California hãy để ý. "NỢ MÁU" tên ác ôn Nguyễn Đức Chương phải trả bằng "MÁU". Luật NHÂN QUẢ không thể thoát khỏi!

Chúng tôi những thân dân của những người lính VNCH, thuộc Tiều Đoàn II –Trung Đoàn 48 Sư Đoàn 18, bị tên Nguyễn Đức Chương hành quyết năm 1978, xin bà con Hải Ngoại, đặc biệt các Gia Đình Sĩ Quan đi theo dạng HO quê Định Quán -Tân Phú- Đồng Nai:
Hãy mạnh dạn vạch mặt tên Nguyễn Đức Chương ác ôn này với Chính Phủ Mỹ, và Cộng Đồng Người Việt về tội giết những Anh em Đồng đội VNCH chúng ta. Trường họp các Anh có người thân đi tù CS về bị quản chế, bị hành hạ như thế, thì tâm trạng đớn đau như thế nào. Chính thế nhờ mọi người hãy vạch mặt nó cho mọi người biết, đề xử tội nó!


Hình ảnh những người Miền Nam VIỆT NAM CỘNG HÒA bị Việt Cộng bỏ tù.

Monday, April 27, 2015

HUỲNH BỬU SƠN : PHỎNG VẤN .
Chuyên mục Tuần Việt Nam của báo điện tử Vietnamnet.vn hôm thứ Ba dẫn lời của một khách mời tham dự cuộc "Tọa đàm 40 năm ký ức ngày thống nhất" (Kỳ 1), nói:
"Khoảng 11 giờ trưa 30/4/1975, tôi nghe tiếng gầm rít của xích sắt tốp xe tăng đầu tiên từ Thị Nghè tiến vào trung tâm. Tôi và nhiều người kéo nhau đứng sát tường rào của khu trường dược nhìn ra. Đứng sát tôi là anh đại úy dù, người chỉ huy đại đội dù tử thủ trước khi có lệnh đầu hàng. Anh ta mặc nguyên bộ đồ dù, chỉ để đầu trần," ông Huỳnh Bửu Sơn được dẫn lời nói.
Ông Sơn được tờ báo giới thiệu là 'Chuyên gia tài chính – ngân hàng. Trước 30/4/1975, ông là thành viên ban lãnh đạo Nha phát hành Ngân hàng quốc gia Việt Nam và là người giữ chìa khóa kho vàng 16 tấn; sau năm 1975 là thành viên “Nhóm thứ 6” giúp việc cho lãnh đạo TP.HCM và cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt'.
Vẫn ông Sơn được dẫn lời nói tiếp:
"Chiếc xe tăng đi đầu cắm cờ Giải phóng đột nhiên quay ngoắt lại, leo lên lề, tiến sát vào tường rào. Tôi nhìn thấy rõ họng pháo sâu hun hút với những hình răng cưa ở miệng súng. Một người lính trên tháp pháo đột nhiên đứng dậy, rút súng ngắn, lên đạn. Thời gian bỗng như đông cứng lại trong đầu, tôi nhắm mắt chờ tiếng súng nổ. Nhưng người chỉ huy đứng trên tháp pháo đưa tay gạt khẩu súng ngắn xuống. Anh từ tốn hỏi người lính dù: “Đã đầu hàng rồi sao anh còn ở đây?”. Viên đại úy dù trả lời: “Chúng tôi đã tuân lệnh buông súng, tôi chỉ đứng đây xem thôi”.
"Người chỉ huy phất tay, chiếc xe tăng quay ngoặt trở lại ầm ầm phóng về phía dinh Độc Lập. 5 hoặc 6 chiếc đi sau chạy theo, tiếng xích sắt ken két nghiến trên đường nhựa.
Lát sau tôi nghe một tiếng “ầm” rất lớn. Lúc đầu cứ ngỡ là tiếng đại bác. Sau này mới biết là tiếng xe tăng húc đổ cổng dinh Độc lập.

"Bàn tay của người chỉ huy chiếc xe tăng gạt khẩu súng ngắn đã lên đạn xuống là tín hiệu rõ ràng nhất khiến tôi tin rằng chiến tranh đã thực sự kết thúc," Tuần Việt Nam tường thuật lời ông Huỳnh Bửu Sơn.

06:13



23:29
Bộ đội Bắc Việt bắn nhau ngay trong Dinh Độc Lập ngày 30/04/1975, theo lời kể của Thượng tướng QĐNDVN Nguyễn Hữu An:
 "...mấy quả đạn cối 82 (hoặc 81) nổ liên tiếp ngay trên sân cỏ. Duyến ôm lấy mặt kêu lên: "Tôi bị thương rồi!". Tôi bảo chiến sĩ gác cho tù binh chạy vào trong hầm.
Mấy quả đạn cối nổ, chỉ có mình đồng chí Duyến là chẳng may hỏng một bên mắt. Tôi hỏi một sĩ quan tù binh xem xung quanh đây còn lực lượng nào dám kháng cự nữa không. Không có.
Như thế là "quân ta bắn quân mình" thôi. Chiến tranh khó tránh hết được cái chuyện quái gở ấy..."
Báo Việt Nam có bài 'Hồi tưởng trận đánh Dinh độc lập qua ký ức Thượng tướng Nguyễn Hữu An' (1926-1995), tư lệnh Quân đoàn 2 từ 1975-1979.

22:59

ĐỀ NGHỊ TAN HÀNG .
Từ Hoa Kỳ, ông Trịnh Xuyến, một cựu sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa từng đi cải tạo, gửi cho BBC một đoạn hồi ký mà ông hồi tưởng lại giây phút bàn giao chính quyền ở Mộc Hóa, Long An, cho 'quân Giải phóng' và tân chính quyền tháng 4 năm 1975. Ông khẳng định, đây là những gì mà ông chứng kiến tận mắt và không bao giờ quên:
“Buổi tối khoảng 7 giờ hơn, đơn vị chủ lực của Việt Cộng vào tần số của chúng tôi, đòi nói chuyện với cấp quân sự cao nhất, người này xưng là Xích Điếu, Chánh trị viên của tỉnh.
“Ông Huy bắt máy nói tôi là Đại tá Huy, Tỉnh trưởng liền bị hắn chặn họng sửa lưng:

“Các anh là Nguỵ không được xưng danh đại tá với Cách Mạng,xong hắn ra lệnh,sáng ngày mai lúc 9 giờ cho ba chiếc tàu lên Cải Rưng đón Cách Mạng,mỗi tàu chỉ có hai người, một nói máy và một lái tàu, đích thân anh dẫn ba tàu này, trong tàu không có súng đạn, mọi sai phạm sẽ bị xử lý.
“Ông Huy tái mặt,mồ hôi ông vã ra nói vài câu sẽ thi hành.Tôi đi theo, ông nói mời họp ngay,tôi thông báo cho các nhân vật còn lại,đa số là các trưởng phòng bên quân đội, có ông phó Đức và vài người bên toà Hành chánh tôi không nhớ rõ.
"Ông Huy cho biết nội dung mới nói chuyện với tên chính trị của Việt Cộng, hỏi ý kiến mọi người bây giờ mình giải quyết như nào, cả phòng họp yên lặng.
ĐỀ NGHỊ TAN HÀNG
Tôi đề nghị đằng nào mình cũng tan hàng, mình tập trung Bộ chỉ huy,có 3 xe cơ giới của Đại úy Kiệt hộ tống xuống Kiến Bình gặp Thiếu Tá Đạo lấy tiểu đoàn của Đại úy Nguyễn thành mở đường máu ra Cai Lậy mình tan hàng.
“Ông không chịu, nói: tất cả ở lại bàn giao, lệnh cho ông Đức (phó của ông) làm ba mươi phần cơm canh chua,cá kho đãi Cách mạng. Các trưởng phòng,ty sở, tôn giáo, nhân sĩ có mặt trước dinh lúc 10 giờ đón Cách Mạng.
“Trong lúc đứng chờ họ tới,một cảnh tượng kinh hoang xẩy ra,nhìn xéo sang cổng Toà Hành Chánh,tôi ngó thấy Trung sỹ Hồng thuộc ty An ninh Quân đội cưỡi xe Honda, một chân chống trên bờ hè, máy xe vẫn nổ tìm lối đi, kẹt nỗi từ bến nước tên Xích Điểu, ông Huy và đám xây lố cố từ rừng tràm ra,đang nghênh ngang tiến về dinh.
“Trung sỹ Hồng không có đường chạy, bị một phụ nữ mới được thả ra từ Trung tâm cải Huấn cùng mấy tên mang AK và dây nhợ từ ty An ninh Quân đội bước ra, đang nhớn nhác kiếm Hồng,
“Thoáng thấy Hồng, mụ la nó đó,nó đó,chợt một tràng AK nổ chát chúa,Hồng gục chết không lời trăn trối. Tôi bàng hoàng hoa cả mắt.

“Họ tới trước cổng dinh, có một tên Việt Cộng mặc đồ đen,vai quàng chiếc khăn rằn.mũ tai bèo,chột một mắt vung tay hô to Đả đảo Mỹ Ngụy, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm. Tôi nghe mà ù tai bởi những lời lẽ ghê rợ sắt máu…”, ông Trịnh Xuyến chia sẻ với BBC từ Hoa Kỳ.
NƯỚC MẤT THÌ ĐỜI MÌNH CŨNG TAN !
- Rất nhiều ng tị nạn , giai đoạn đầu sau 1975 , đã nghĩ rằng tình hình VN là ko thể đảo ngược (irreversible) .
1/ Anh bạn ở phòng kế bên vừa kể truyện chuyển trại (từ nam) ra bắc năm 1976 .
Sau khi bị giam ở thành ông 5 (trại của LĐ 5 CBKT ở Hốc môn) và trại Quân cảnh gần Biên hòa , ông và anh em tù được giải ra bắc .
Họ bị đưa xuống 1 tàu rất lớn * , gồm nhiều ngăn , anh em tù ngồi chồm hổm , KO THỂ DUỔI CHÂN ĐC vì rất đông (toàn cấp tá trở lên) . Bộ đội CS thẩy đồ ăn từ các lổ * xuống . Họ bắt loa kêu gọi : MỖI ĐỨA MỘT GÓI ! (Chắc sợ tù giành nhau gói cơm vắt muối mè) . Nước uống cũng đưa xuống bằng bình nhựa kèm theo các ly nhựa . (Khi tôi ra tù , ba tôi kể , Đại tá Q.Y. VÕ KHẮC ... - là em của bạn của ba tôi , vì thấy một số tù bị ngất xỉu và chết do NGỘP THỞ và NÓNG BỨC nên lên tiếng phản đối , đã bị đánh chết ném xuống biển ) .
* Đây là tàu chở hàng , có vài lổ lớn , khi tù xuống hết khoang tàu , họ rút thang , tù chẳng khác trâu bò !!! Phải nói là thua trâu bò vì chúng có ích cho họ hơn là tụi tui ! Nếu ko thì cs ko đối xử với tù như vậy !
2/ Tụi tôi , cấp úy , ra bắc năm 1977 cũng bằng cách này nhưng lần này CS rút kinh nghiệm nên tụi tôi ĐỞ KHỔ HƠN NHIỀU vì ko bị ngộp thở và chết do quá đông - như đàn anh đi năm 76 . Tụi tôi được phát bánh mì đường - nhưng bị thiu (có lẽ do đặt mua từ nhiều ngày trước) . . . ỉa đái vào thùng , khi đầy thì bộ đội thả dây xuống kéo lên (nghĩa là bộ đội phải hốt cứt cho tù) . . . Tui bị ói mửa , nằm vùi kế bên thùng phân . Khi tàu cặp bến , sau khi đi bộ 1 đoạn mà CA và chó béc-giê dàn chào 2 bên . . . rồi lên xe lửa chở hàng . . . khi chạy bị dân 2 bên đg ném đá tới tấp .
Tới Yên Bái thì tụi tui đc chuyển lên Molotova của bộ đội đi về trại tù . Các trại này lợp bằng tre nứa - do cấp tá đã làm trước đây . Tụi tui đc phát lương khô 701 của TQ . Nghỉ đc 1-2 ngày là bắt đầu đi lao động như lên rừng chặt cây . . . sau đó đốt rừng để trồng bắp . . . đi chặt tre hay chặt cây về xây hội trường hay làm cầu . . . thỉnh thoảng lấy măng cho nhà bếp . . . có lần , đói quá , tôi đã ăn măng sống và ngất xỉu vì ngộ độc . Một anh bạn , khi làm cầu té đập đầu vào đá : anh phải nằm bịnh xá , và mỗi ngày cứ vào giờ cố định , anh lên cơn nhức đầu và lăn từ giường xuống đất ; các bs (quân y chế độ cũ) của bịnh xá chỉ biết chích codein cho anh để anh ngủ ; ngày hôm sau , tới giờ đó , lại nổi cơn đau . Lúc đó tôi cũng ở bịnh xá vì sốt ko rỏ nguyên nhân .

NÓI THÊM : Năm 1981 , tôi đc chuyển từ trại B của trại NAM HÀ ra trại C để phóng thích . Tôi ko nhớ bao nhiêu người . Trong lễ PT , một số CA đã nói : CUỘC SỐNG CÁC ANH TRƯỚC ĐÂY NAY LÀ ƯỚC MƠ CỦA CHÚNG TÔI (SIC) !!! . Một bạn tù khiếu nại vì sai địa chỉ trong giấy ra trại , anh CA nói , anh làm khó chúng tôi vì sau khi về SG sẽ vượt biên hết ! (sic) !
Tụi tôi đc phát cơm vắt muối mè , ngồi chồm hổm trên Molotova ko mui (ko sợ dân ném đá như lúc mới tới miền bắc) .chạy từ Phủ Lý đi HN . Tôi bị ói mữa . . . tới ga Hàng Cỏ , các bạn tôi theo CA lên xe lửa . . . tôi cứ nằm lì ngoài đường , dân bu quanh . . .CA điểm danh thiếu ng nên ra kiếm tôi "anh phải lên xe hỏa về miền nam" , tôi trả lời , đang mệt vì ói mửa , xin ở lại HN vài ngày thăm bà con . CA nói , ko đc , anh phải lên xe . . . (Họ sợ tôi nói sự thật nên đuổi tôi về miền nam ) . Tới Huế hay ĐN , dân hay tin cho tụi tui đồ ăn .
Trên nguyên tắc , khi về tới SG phải trình diện CA ở đường Phan Thanh Giản . . . Đứng bên kia đg , thấy anh em tù TRANH NHAU nộp giấy ra trại qua 1 cửa sổ nhỏ ở cổng của 1 villa rất lớn , tôi chửi thề : "Đ.M. , sao năm 75 ko tranh xuống tàu cho đc việc , giờ lại tranh nhau nộp giấy . . ." tôi bỏ về .
Một tuần lễ sau , tôi đến lần nữa . CA nói , tại sao ko trình diện đúng hạn , tôi nói , vì bịnh nên ko đi đc . Tôi luôn luôn chống đối CS (bằng chứng chưa bao giờ về vn dù thân nhân rất nhiều) . Khi khai lý lịch , tôi luôn ghi sanh tại Thủ Dầu Một . CA bảo sao ko ghi tên mới , tôi trả lời , vì đi cải tạo nên ko biết tên mới ! .

Saturday, April 25, 2015

Saturday, November 27, 2010

CUỘC TRIỆT THOÁI CAO NGUYÊN 1975 QUA LÝ THUYẾT SỐ

San Jose ngày 10 tháng 03 năm 2010 (để nhớ lại những ngày tháng 3 năm 1975 đầy bi thảm) .

Thưa các bạn ,

Tôi xin gửi đến các bạn một bài nghiên cứu về cuộc triệt thoái cao nguyên năm 1975 qua lăng kính của khoa tử vi Lý Thuyết Số (Numerology) . Đây là một cái nhìn mới lạ về sự sụp đổ của Việt nam Cộng hòa , nó cũng hổ trợ cho câu nói của người xưa “trong cái họa có che dấu cái phúc “ . Nếu không có Tháng Tư Đen thì làm sao có hàng triệu người VN được định cư ở nước ngoài mà phần lớn là các nước tiên tiến , giàu có ; một điều mà trước năm 1975 có nằm mơ cũng không thấy . (Người viết bài này nhờ đã học “đại học lao động cải tạo “ trong gần 6 năm nên mới được đến Mỹ năm 1994 ) .


NHÌN LẠI CUỘC TRIỆT THOÁI CAO NGUYÊN NĂM 1975 QUA LĂNG KÍNH CỦA LÝ THUYẾT SỐ

Trong cái họa có che dấu cái phúc (lời cổ nhân) .

       A / Theo khoa Lý Thuyết Số (Numerology) , một nhánh của tử vi Tây phương – chuyên nghiên cứu về các số và ảnh hưởng của chúng đối với con người và sự kiện – thì mỗi chữ (letter) trong alphabet đều có một trị số tương ứng , ví dụ như a = 1 , b = 2 , c = 3 , v.v... ( xin xem bản trị số ở phần G của bài viết này ) . Từ yếu tố này , qua một vài phép tính cộng , ta có thể tính được tên họ của chúng ta bằng bao nhiêu . Con số cuối cùng này sẽ tác động lên số mạng của chúng ta .

       B / Chúng ta đều biết tên của những người đã dự cuộc họp tối mật ngày 14 tháng 3 năm 1975 tại Cam Ranh – đã đưa đến một quyết định gây choáng váng cho toàn dân toàn quân VNCH , là bỏ cả vùng cao nguyên Trung phần rộng lớn , đưa các đơn vị chủ lực quân còn lại của quân đoàn 2 rút lui về vùng duyên hải (tỉnh Phú Yên) theo liên tỉnh lộ (LTL) 7 , một con đường hư hỏng nặng và đã lâu không xử dụng ; để sau đó tái trang bị , bổ sung quân số, và tái chiếm Ban Mê Thuột !!! Các vị này cho rằng việc triệt thoái sẽ thành công nhờ yếu tố bất ngờ vì nghĩ rằng quân Cộng sản Bắc Việt chỉ tập trung quân để ngăn cản mọi di chuyển trên quốc lộ 21 (Nha Trang đi Ban Mê Thuột) và quốc lộ 19 (Qui Nhơn đi Pleiku) .   
     Nhưng làm sao giử được yếu tố bất ngờ khi một cuộc lui binh mà lại có sự tham dự của khoảng 180 ngàn dân thường . Chỉ vài ba ngày sau cuộc triệt thoái bắt đầu thì quân CSBV đả kéo đại pháo 130 ly tới quận lỵ Thuần Mẩn (ở phía đông bắc của Ban Mê Thuột) và từ đây pháo xối xả và chính xác vào đoàn quân xa và dân xa đang triệt thoái trên LTL 7 nhất là vào thị trấn Cheo Reo (tỉnh lỵ của tỉnh Phú Bổn ) .( Quyển Where The Domino Fell thì cho biết “đại pháo của quân CS đã cắt đoàn người và xe di tản thành nhiều khúc . . .và hơn 100 ngàn dân và 15 ngàn quân đã chết trong cuộc rút lui này “ . Các nhà báo đã gọi liên tỉnh lộ 7 là con đường của máu và nước mắt vì trong suốt cuộc chiến VN chưa bao giờ có một cuộc lui binh mà tổn thất về quân và dân lại khủng khiếp như vậy . )
     Như ta đã biết , cuộc triệt thoái này đã mở đầu cho sự sụp đổ dây chuyền – giống như các con cờ domino – của các tỉnh và thành phố còn lại của miền Nam Việt nam . Nay dựa vào cách tính toán của Lý Thuyết Số, tôi xin phân tích tên họ của những nhân vật đã quyết định cuộc lui binh đầy bi thảm này .
     
    B1/ Tổng Thống Nguyển văn Thiệu :
                                                N G U Y E  N     V A N       T  H  I E U
Thay các chữ bằng số :          5  3  6 1  5  5      6  1  5       4  5  1 5  6
Cộng các số này lại :                       25                 12               21
Biến các số thành hàng đơn vị :       7                    3                 3
Cộng lần chót : 7 + 3 + 3 = 13 = 1+3 = 4 .

    B2 / Thủ tướng Trần Thiện Khiêm :
                                                T R A N     T H I E N      K H I E M
Thay các chữ bằng số :          4 2  1  5     4  5 1 5 5      2  5 1 5  4
Cộng các số này lại :                   12              20                  17
Biến chúng thành hàng đơn vị :    3                2                    8
Cộng lần chót : 3 + 2 + 8 = 13 = 1+3 = 4 .

    B3 / Đại tướng Cao văn Viên :
                                                              C A O       V A N      V I E  N
Thay các chữ bằng số :                        3  1  7       6  1  5      6 1 5  5
Cộng các số này lại :                               11            12             17
Biến các số này thành hàng đơn vị ,
riêng 11 và 22 phải giử nguyên , do đó
ta lại có :                                                 11              3              8
Cộng lần chót : 11 + 3 + 8 = 22 = 2 + 2 = 4 .

    B4 / Trung tướng Đặng văn Quang :
                                                   Đ A N G      V A  N     Q U A N G
Thay các chữ bằng số :             4  1  5  3      6  1  5      1  6  1 5  3
Cộng các số :                                  13             12               16
Biến các số thành hàng đơn vị :       4                3                7
Cộng lần chót :           4 + 3 + 7 = 14 = 1 + 4 = 5 .

    B5 / Thiếu tướng Phạm văn Phú :
                                                      P H A M      V A N      P H U
Thay các chữ bằng số :                8  5  1  4      6  1  5      8  5 6
Cộng các số :                                     18             12           19
Biến các số thành hàng đơn vị :          9                3             1
Cộng lần chót : 9 + 3 + 1 = 13 = 1 + 3 = 4 .

     C1 / Ta thấy các tướng Thiệu , Khiêm và Phú đều có tên họ cộng lại bằng 13 , tướng Viên bằng 22 và tướng Quang bằng 14 . Bà Linda Goodman , chiêm tinh gia nổi tiếng người Mỹ trong quyển Linda Goodman's Sun Signs đã giải thích : “ Số 13 không xấu như nhiều người nghĩ . Người xưa nói ai biết xử dụng số này sẽ có được quyền lực và sự phục tùng từ kẻ khác . Số 13 liên quan đến quyền lực và nếu điều này được dùng vào mục đích vị kỷ thì sẽ mang sự hủy diệt cho chính nó “ . (Trang 251-252 của sách đã dẩn) . Các nhân vật mang số 13 trên đây đều có nhiều quyền lực nhưng vì chỉ biết lo cho mình nên cuối cùng họ đã hủy diệt cả sự nghiệp và cả đất nước mà họ đã từng sống chết bảo vệ . Trừ tướng Phú đã tự sát , hai vị còn lại đã phải sống lưu vong ở nước ngoài – với thân bại , danh liệt , cô đơn , tủi nhục – trong những năm tháng cuối đời .

     C2 / Cũng theo bà Goodman , thì “ hình ảnh tượng trưng cho số 13 là bộ xương , là thần chết , tay cầm lưởi hái , đang tàn sát biết bao con người còn rất trẻ , đang chen lấn dẩm đạp lên nhau , tìm cách thoát thân trên một cánh đồng cỏ mới mọc . “ Một cảnh tượng gần như tương tự một cách kỳ lạ đã xảy ra tại tỉnh lỵ Cheo Reo , nơi mà dân thường và các đơn vị Thiết giáp , Pháo Binh , v.v... của VNCH đã dồn cụt trên một diện tích nhỏ hẹp và đã bị tàn sát trong tức tưởi bởi những trận mưa pháo chính xác và kinh hồn của bộ đội CSBV . Một bà vợ lính Biệt động quân sau khi tới Tuy hòa nghỉ dưởng một tuần đã đi ngược đường lên tỉnh lộ 7 để tìm chồng con bị thất lạc . Chị cho biết “. . . ngỗn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy , những bộ xương người còn vương vãi đó đây , bao nhiêu nấm mộ lấp vội bên đường . Cả một vùng xông mùi tử khí . Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số . . . “ . (Xin đọc Rừng Khóc Giửa Mùa Xuân của Phạm Tín An Ninh) . 

     C3 / Bà Goodman lại nói  “ số này củng cảnh báo về chuyện không ai ngờ được lại sẽ xảy ra “ .
Nào ai học được chữ ngờ vì miền Nam Việt Nam đã sụp đổ quá nhanh , với hàng trăm ngàn người vào tù , các đợt cải tạo tư sản , đổi tiền , v.v... ; hàng triệu người phải bỏ nước ra đi mà gần nữa triệu đã chết , mất tích vì hải tặc , vì bộ đội biên phòng , hoặc vùi xác trong biển sâu v.v... Một số lớn phụ nữ còn bị hảm hiếp , làm nô lệ tình dục , v.v...

     C4 /  Bà còn nói thêm “ Số 13 củng là số của đổi đời (upheaval) , để cho người ta có thể làm được điều hoàn toàn mới – mà trước đó không ai làm được . Số này dính liền với thiên tài – cũng như với các nhà thám hiểm – là số phá vở những gì có tính chính thống và là những khám phá trên mọi lãnh vực “ .
     Sau biến cố bi thảm 30 tháng 4 , người Việt đã có mặt hầu như khắp thế giới mà phần lớn là các nước phương Tây , giàu có . Đa số đã có cuộc sống ổn định , sung túc thậm chí có người thành triệu triệu phú . Những người đến Mỹ , nếu trên 20 tuổi thì thi vào đại học cộng đồng , hoặc vừa đi làm vừa đi học nghành nghề thích hợp , để mong tiến xa hơn nửa vì nhà nước sẳn sàng giúp đở tài chánh người muốn đi học dù cho họ ở tuổi 70 hay cao hơn . Còn trẻ em thì được chăm sóc y tế toàn diện đến ít nhứt là 18 tuổi và được hấp thụ một nền giáo dục – tiên tiến , phóng khoáng , kích thích tính sáng tạo và tự lập nơi các em mà lại hoàn toàn miễn phí . Đây là những điều mà ở VN ngày nay , đất nước của câu nói “vì lợi ích trăm năm ta trồng người “ có nằm mơ cũng không thấy . Thật tội nghiệp cho đa số trẻ em VN !
     Tỉ lệ người VN có trình độ đại học củng tương đối khá cao nếu so với một số cộng đồng khác , đặc biệt là Á châu , đã có mặt ở Mỹ trước chúng ta . Có lẻ một phần do truyền thống hiếu học . Một số đã giử chức vụ chóp bu trong các nghành nghề kỷ thuật cao hay chỉ dành cho phái nam như nữ kỷ sư Dương Nguyệt Ánh , người phụ trách việc chế bom áp nhiệt dùng phá hang động ở A Phú Hản . Hay một phụ nữ Việt là phi công chiến đấu trong Thủy quân Lục chiến Mỹ , v.v... (Trong cuộc chiến VN , tuy là rất khốc liệt nhưng phụ nữ dù có vào quân đội , củng chỉ phục vụ ở hậu cứ  hay các thành phố để làm công tác không chiến đấu như y tá , cán sự xã hội , v.v..  Tôi chưa thấy ai làm tài xế  lái quân xa , huống hồ lái máy bay chiến đấu  . . . ) .Tóm lại nhân tài VN ở hải ngoại đã nở rộ như hoa mai mùa xuân , đây là niềm an ủi cho người đã phải đau khổ rời bỏ quê hương , và cũng là niềm hảnh diện cho họ ; đúng như lời người xưa “ trong cái họa có che dấu cái phúc “ .
      Trước 1975 ở miền Nam Việt Nam , ngoài một số ít được học bổng do quá xuất sắc , thành phần còn lại chỉ có thể du học với điều kiện học giỏi , hợp lệ tình trạng quân dịch và tự túc mọi chi phí ăn ở trường lớp . Củng có một số rất ít được du học vì là con của các ông lớn . (Bản thân người viết bài này , gia đình rất giàu nhưng do học dở nên không thể du học ; mải đến năm 47 tuổi mới được sang Mỹ vì đã tốt nghiệp đại học trong 6 năm về môn “lao động cải tạo” ở VN ! ) .
 
       D / Theo Lý Thuyết Số (Numerology) , một con số hay một cá nhân hay một đất nước đều đc xem như một THỰC THỂ (entity) . Ví dụ : trước năm 1975 , VNCH được xem là một thực thể (entity) chính trị * .
Năm 1975 là 1 số  . Ta thử xem thực thể này bằng bao nhiêu ? Ta cộng các số : 1 + 9 + 7 + 5 = 22 . Theo bà Goodman thì :
“ Số 22 được tượng trưng bởi hình ảnh một Người Tốt (Good Man) bị mờ mắt vì sự ngu dốt (folly) của những kẻ khác . . . Trên hình vẻ cho thấy người này có vẻ không phòng thủ gì trước một con cọp dữ đang bắt đầu tấn công hắn . Số này cũng cảnh báo về ảo tưởng và lừa dối . Nó cho thấy một người tốt (hoặc thực thể) đang sống trong hạnh phúc và thỏa mản , và tin tưởng không có vấn đề gì xảy ra , nhưng thực tế thì không phải vậy . Nó cho thấy một người đang nằm mơ , chỉ thức dậy khi nguy hiểm bao quanh hắn , nhưng lúc đó thì quá muộn . Nó cảnh báo về những sai lầm trong phán đoán , khi đặt lòng tin vào những kẻ không đáng tin cậy . . . “ .
Nếu 22 là ngày sanh , người này nên cẩn thận và luôn  cảnh giác/canh chừng  ( caution and watchfulness )  trong những vấn đề về nghề nghiệp và cá nhân . Điều bắt buộc (karmic obligation) đối với người này phải tỉnh táo hơn  , phải kềm chế (curb) sự lười biếng về tâm linh  , và phát triển hơn sự năng nổ về tâm linh – để thực hiện khả năng riêng (của mình) nhằm thay đổi sự việc , cũng như để ngăn ngừa sự thất bại bắng cách quyết tâm đạt được sự thành công ( by simply ordaining success ) . Khi trách nhiệm cá nhân này được nhìn nhận , thực hành và cuối cùng  được  nắm vửng , người mang số 22 sẽ làm chủ mọi sự kiện , không còn bị mờ mắt bởi sự ngu dốt của kẻ khác , và sẻ thấy ý tưởng và niềm mơ ước của mình được thực hiện . Bất cứ ai sanh ngày 22 cần phải đọc đoạn nói về số 4 và 8 , bắt đầu ở trang 269 “ .
(Dịch từ trang 258-259 của sách đã dẩn) .
Xin quý bạn hảy thay thế các từ một người tốt , người này hay thực thể bằng từ miền Nam Việt Nam hay VNCH thì quý bạn sẽ thấy sự chính xác một cách lạ thường của những gì đã xảy ra vào năm định mệnh 1975 ở miền Nam Việt Nam .
 
      E / Không ai biết chính xác khoa tử vi này có từ lúc nào nhưng mọi người đều công nhận ông tổ của nó là Pythagore , nhà toán học cổ Hy Lạp (569-475 trước công nguyên) . Các bạn đã thấy sự ứng hợp một cách lạ thường giủa những giải thích từ xa xưa về ý nghĩa của số 13 và 22 và những gì đã xảy ra cho đất nước và dân tộc thân yêu của chúng ta trong và sau năm 1975 .

     F / Trị số của các chữ :
a = 1 , b = 2 , c = 3 , d = 4 , e = 5 , f = 8 , g = 3 , h = 5 , I = 1 , j = 1 , k = 2 , l = 3 , m = 4 , n = 5 , o = 7 , p = 8 , q = 1 , r = 2 , s = 3 , t = 4 , u = 6 , v = 6 , w = 6 , x = 5 , y = 1 và z = 7 .

     G / Tôi viết bài này không nhằm chỉ trích năm nhân vật đã có quyết định dẩn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vì tôi rất thích câu châm ngôn “ chúng ta không thể quên , nhưng chúng ta có thể tha thứ ' (we can't forget , but we can forgive) và xin nhớ rằng sự sụp đổ này không chỉ đem đến tai họa mà thôi . (Xin xem lại phần C 4 ) . Tôi chỉ muốn cùng các bạn xem lại một giai đoạn đau thương nhất trong lịch sử Việt Nam qua lăng kính kỳ diệu của khoa tử vi Lý Thuyết Số . Xin chào quí bạn ./. 
 * Trước đây ng CSVN gọi CP VNCH là "ngụy quyền" : vậy HQ của nước nào đã đánh nhau với HQ Trung quốc tại Hoàng Sa năm 1974 ? .