Showing posts with label sư đoàn 5. Show all posts
Showing posts with label sư đoàn 5. Show all posts

Sunday, February 22, 2026

 

Trận Phước Quả

  NGUYỄN NGỌC THẠCH


Núi Bà Rá, nhìn từ Dinh Tỉnh trưởng Phước Long

1.


Sau hai năm rèn luyện ở quân trường Đa Lạt, tôi ra trường vào cuối năm 1965, vào lúc cuộc chiến tranh Việt Nam đang leo thang. Tôi chọn đơn vị là Sư đoàn 5 Bộ Binh vì thích gần Sài Gòn. Theo thông lệ để hoàn tất chương trình huấn luyện của người sĩ quan hiện dịch, sau khi mãn khóa ở Đa Lạt chúng tôi còn phải qua thêm một khóa huấn luyện "Rừng Núi Sình Lầy" 42 ngày tại trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Nhưng sau khi học được có 15 ngày ở trường BĐQ/Dục Mỹ thì một vị sĩ quan đại diện của Sư đoàn 5 là Đại úy Thường ra tận Dục Mỹ để nhận lảnh 40 người đã chọn Sư đoàn 5 về trước. Chiếc hải vận hạm HQ402 đưa chúng tôi về Sài Gòn. Khi ghé bến Bạch Đằng thì có xe GMC chờ sẵn đưa thẳng chúng tôi lên Phú Lợi Bình Duong, nơi đặt Bộ Tư Lệnh của Sư đoàn 5 Bộ Binh. Sau đó chúng tôi được phân phối thẳng ra các đơn vị mà không cho chúng tôi hưởng ngày phép mãn khóa nào. Toán tôi gồm có bốn đứa: Lưu Văn Bính, Nguyễn Minh Cơ, Lê Ngọc Ấn và tôi được trực thăng đưa thẳng lên Chơn Thành trình diện BCH/ Tiểu đoàn 3/ Trung đoàn 9/ Sư đoàn 5 Bộ Binh, lúc đó Đại úy Trần Văn Mẫn là Tiểu đoàn trưởng. Ngay đêm hôm sau, Đại đội 11 do Đại úy Nguyễn Minh Quân khóa 17 Đà Lạt làm Đại đội trưởng bị VC tấn công ở ấp Tân Khai nằm cạnh quốc lộ 13 cách An Lộc 12 cây số về hướng Nam và cách Chơn Thành 20 cây số về hướng Bắc. Trong trận này Chuẩn úy Sơn Trung đội trưởng đã bị hy sinh. Ngay ngày hôm sau tôi và Ấn được đưa về đại đội này để nhận lãnh chức vụ đầu tiên làm Trung đội trưởng. Đại đội 11 hiện đang tăng phái cho Tiểu khu Bình Long, đóng cạnh sân bay An Lộc, Bình Long, gần phía cổng Quản Lợi. Còn Tiểu đoàn 3/9 (-) thì đóng ở quận Chơn Thành nằm bên cạnh quốc lộ 13 cách thị xã An Lộc 30 cây số về hướng Nam.


Sư đoàn 5 Bộ Binh chịu trách nhiệm trong khu 32 Chiến Thuật phía Bắc Sài Gòn, bao gồm ba tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phuớc Long. Riêng Trung đoàn 9 chịu trách nhiệm trong vùng biên giới Việt-Miên, chạy dài qua hai tỉnh Bình Long và Phước Long. Đây là một vùng rừng xanh đất đỏ với những đồn điền cao su bạt ngàn chạy dài từ Dầu Tiếng, Thủ Dầu Một lên đến Hớn Quản, Lộc Ninh, qua Bố Đức, Đồng Xoài, Bà Rá.


Sau khi ra đơn vị đuợc một tuần thì có tin người bạn cùng khóa là Đỗ Bá đã hy sinh ở Phú Hòa Đông Bình Dương. Đây là người hy sinh đầu tiên của khóa 20 Võ Bị Đà Lạt chúng tôi. Sau khi làm Trung đội trưởng được ba tháng, tôi lên làm Đại đội trưởng Đại đội 11 thay thế Đại úy Quân về làm Tiểu đoàn phó. Đến đầu năm 1967 thì Tiểu đoàn được lệnh hành quân lên vùng Phuớc Long, lúc đó tôi là Trưởng ban 3 Tiểu đoàn, thay thế Nguyễn Duy Liêm khóa 16 Đà Lạt có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác. Tiểu đoàn đuợc vận chuyển bằng phi cơ từ Chơn Thành lên Phước Long. Sau đó Tiểu đoàn được lệnh di chuyển lên vùng hành quân. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn là mở các cuộc hành quân truy lùng tiêu diệt địch trong vùng biên giới Việt Miên, gần mật khu Bù Gia Mập để tiến hành công tác bình định xây dựng nông thôn qua các xã Phước Sơn, Phước Quả, Phước Lộc và Hiếu Phong, nằm trên liên tỉnh lộ từ Phước Bình qua Quảng Đức, đường lên Ban Mê Thuột và để hoàn thành nhiệm vụ nói trên, Tiểu đoàn được bố trí nhu sau: BCH/TĐ + Đại đội Chỉ huy + 1 Đại đội Tác chiến đóng tại đồn Phước Quả, 1 Đại đội Tác chiến đóng tại đồn Phước Lộc, cách đồn Phước Quả 3 cây số, và 1 Đại đội Tác chiến hoạt động lưu động qua các xã trong vùng trách nhiệm.


Sau thời gian 6 tháng, Tiểu đoàn đã hoàn thành công tác bình định xây dựng một cách thật là tốt đẹp. Ngăn chặn sự xâm nhập của VC từ vùng biên giới Việt Miên, chận đứng bàn tay khủng bố phá hoại của VC, mà đêm đêm thường về thu thuế cướp đoạt lương thực tài sản của dân lành, yễm trợ hữu hiệu cho đoàn cán bộ Xây đựng Nông thôn trong công tác Bình định và Xây dựng. Dân chúng ở các vùng xa xôi được đưa về, xây dựng nhà cửa, trường học chợ búa, chùa chiền, nhà thờ, đem lại cuộc sống thanh bình thịnh vượng cho đồng bào. Công việc làm ăn sản xuất đang được phát triển, sản phẩm của vùng đất này là cà phê, tiêu, cao su và rất nhiều vườn mít, mít nghệ đặc biệt của Phước Quả rất thơm ngon. Dân ở đây đa số là người công giáo di cư từ miền Bắc vào năm 1954. Ở xa hơn trong rừng sâu là dân Thượng, người Thượng họ rất thật thà chất phát thường mang ra chợ bán những sản phẩm như gà, heo, thú rừng, măng le hay các vật dụng đan bằng mây tre v.v...


2.


Trong thời gian đó, vào khoảng tháng 9 năm 1967, chúng tôi đã chứng kiến một cảnh tàn sát vô cùng dã man của VC khi họ tấn công vào làng Dakson, một làng của người Thượng, ở phía Đông Bắc thị xã Phước Long và cách mật khu Bù Gia Mập chừng 10 cây số. Trước khi rút đi, Cộng quân đã đốt sạch giết sạch tất cả dân chúng trong làng. Nhìn những thân người bị cháy đen mà đa số là đàn bà con nít nằm chết cong queo trong đống than hồng còn đang bốc khói, chúng tôi không khỏi bùi ngùi liên tưởng đến bọn giặc Tàu phương Bắc đã từng đối xử với dân tộc Việt Nam ta trong thời kỳ Bắc Thuộc: "nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ". Trong trận này VC cũng đã phục kích bắn chết Trung úy Khương, Trưởng ty Cảnh sát Phước Long, trên đường đi cứu viện, chiếc xe Jeep đã bị VC bắn B40 bốc cháy trước khi Tiểu đoàn của chúng tôi đến nơi.


Đến ngày 26 tháng 10 năm 1967 thì VC mở cuộc tấn công đại quy mô vào đồn Phuớc Quả. Vào khoảng 11 giờ đêm tôi nghe một loạt súng bắn báo động, lập tức tôi nhảy xuống hầm Trung tâm Hành Quân để liên lạc với các toán tiền đồn phục kích bên ngoài. Phản ứng của tôi thường rất là nhanh, chỗ tôi nằm trong căn nhà tranh sát cạnh hầm nên tôi phóng nhanh vô hầm. Vừa ngay lúc đó VC bắt đầu pháo kích dử dội, pháo như mưa đều khắp mọi nơi trong đồn. Ngay chỗ tôi nằm, ở phía đầu nằm tôi có treo một tấm poncho để che mưa che nắng, sau này nhìn lại tấm poncho rách nát, không còn một chỗ nào lớn hơn bàn tay. Trung úy Nhơn, Tiểu đoàn phó, có nuôi một con két nhỏ xíu cũng bị đứt đầu, nếu như tôi chỉ chậm chân chừng vài giây đồng hồ thì chắc đã nát thây.


Những người chạy xuống hầm sau tôi đa số đều bị thương, trong số đó có Trung sĩ Võ Đà ban 5 Tiểu đoàn bị thương rất nặng. Bị đứt mạch máu ở cỗ, quỵ ngay dưới chân tôi, máu phún ra có vòi. Y tá đến băng nhưng không cứu kịp vì máu ra quá nhiều, ngồi chết dưới chân tôi. Số người bị thương nằm la liệt trong hầm, trong toán cố vấn Mỹ cũng có người bị thương nặng nằm ở một gốc hầm.


Trong lúc đó thì các Đại đội trưởng báo cáo tình hình ở các phòng tuyến đang bị tấn công với một hỏa lực rất là mãnh liệt. Tôi gọi báo về Tiểu khu để xin pháo binh yểm trợ, nhưng tình hình ở BCH/Tiểu khu lúc đó cũng đang lúng túng vì đang bị pháo kích. Bởi vì khi địch mở một cuộc tấn công lớn, thường thì nó pháo kích khắp nơi để cho ta không biết đâu là điểm, đâu là diện, chỗ nào là mục tiêu chính, chỗ nào là mục tiêu phụ. Và vì tôi nắm vững tình hình ở đây, nên tôi quyết chắc là nó đánh điểm chính là ở đây, đồn Phước Quả. Tôi báo cho Tiểu khu biết rõ tình hình đang nghiêm trọng để tập trung yểm trợ về đây và đồng thời báo về Bộ chỉ huy Trung đoàn 9 ở Chơn Thành biết để theo dỏi.


3.


Có một sự việc đáng nhớ là trước đó chừng một tháng có một lao công đào binh bỏ trốn, LCĐB là những quân nhân đào ngủ bị phạt đưa ra chiến trường đề làm lao dịch, cho nên Thiếu tá Tôn Văn Lượng, Tiểu đoàn trưởng, liền cho thay đổi ngay kế hoạch phòng thủ. Lúc trước súng đại liên đặt ở các pháo đài góc, sau thay đổi lại đặt vào giữa các cạnh tuyến. Vì vậy khi VC mở các đợt tấn công biển người vào giữa các cạnh tuyến, liền bị hỏa lực hùng hậu của các khẩu đại liên của ta chận đứng. Một điều đáng nói là vào năm 1967, quân đội ta vẫn còn dùng súng Garant, Carbine, Thompson, Trung liên đầu bạc từ thời Đệ Nhị Thế Chiến. Trong khi đó thì phía VC đã có súng AK47, B40, B41, thượng liên nồi, súng phun lửa rất là tối tân.


Quân ta chống trả quyết liệt nhưng vì hỏa lực của địch quá mạnh nên độ nửa giờ sau thì một pháo đài góc đã bị tràn ngập. Không chần chờ Thiếu tá Lượng liền quyết định tung ra Trung đội Quân báo để tái chiếm lại pháo đài góc đó. Trung đội Quân báo là một lực lượng để bảo vệ Bộ chỉ huy và là lực lượng trừ bị duy nhất của Tiểu đoàn, chỉ được sử dụng trong tình thế thật lâm nguy.


Sau khi Quân báo đi rồi thì thành phần còn lại trong hầm Trung tâm Hành quân lo bố trí phòng thủ lại cho kỹ, những thùng lựu đạn cho mở nắp sẵn sàng để sử dụng khi địch tới gần và tôi cũng đã gọi pháo binh để chuẩn bị sẵn các loại đạn đầu nổ cao. Nếu trong trường hợp bị địch tràn ngập thì sẽ xin pháo binh bắn đạn nổ cao trên đầu, tiêu diệt địch ở bên ngoài, còn bên ta tất cả ở trong hầm sẽ vô hại. Tuy nhiên đây là một quyết định cuối cùng khi đã lâm vào tình thế tuyệt vọng.


Chừng 15 phút sau Trung đội Quân báo báo cáo là đã chiếm lại được pháo đài góc, chận đứng sự xâm nhập của địch, giữ vững được phòng tuyến. Chúng tôi rất mừng, nhưng với áp lực địch quá mạnh tôi sợ các đợt xung phong kế tiếp sẽ dữ dội hơn nên tôi nói với Cố vấn Mỹ xin phi cơ chiến đấu phản lực lên yểm trợ. Cố vấn Mỹ đi theo Tiểu đoàn thường là họ lo giúp đở xin phương tiện tản thương hay yểm trợ hỏa lực. Họ gọi rất là nhanh qua hệ thống liên lạc tối tân và trực tiếp bên phía Mỹ.


Một lúc sau Đại úy Cố vấn cho biết là máy bay đã cất cánh và yêu cầu ngưng tác хạ các loại súng vòng cầu để máy bay vào vùng. Tôi gọi ngưng các loại súng cối và pháo binh và cho đốt mũi tên lửa lên để cho máy bay thấy. Mũi tên lửa là một tấm ván lớn cắt theo hình mũi tên, trên đó có gắn các lon sửa bò trong nhét vải bố tẩm dầu cặn và quay trên một trục. Khi đốt lửa lên và quay mũi tên chỉ về hướng địch đang tấn công, thì máy bay sẽ thấy rõ vị trí của địch mà đánh. Tôi xin dội bom theo hướng mũi tên xa 500 thước. Sau khi dội trái bom đầu tiên, Đại đội trưởng ở ngoài tuyến báo cáo cho biết là xa quá vì địch quân đang bám sát hàng rào rồi, phải đánh gần lại. Tôi liền yêu cầu gần lại 200 thước và các quả bom sau đã đánh trúng mục tiêu. Sáng ra thấy các bộ phận con người bay văng tung toé lên nóc nhà trông rất là ghê rợn. VC tiếp tục mở thêm nhiều đợt tấn công nữa nhưng không thành công, nên đành phải chịu rút lui trước khi trời rạng sáng.


Chiếc máy bay trực thăng tản thương đã đáp xuống khi trời còn chưa sáng hẳn. Chúng tôi vô cùng biết ơn và cảm phục những người phi công chiến đấu cũng như phi cơ trực thăng tản thương đã can đảm băng mình trong lửa đạn, trong đêm tối cực kỳ nguy hiểm để cứu nguy cho quân bạn. Một điều rất khó khăn và nguy hiểm cho không quân yểm trợ là vị trí đồn Phuớc Quả nằm gần chân núi Bà Rá. Sáng ra thu dọn chiến trường địch quân chết quá nhiều khoảng trên 200 xác trong và ngoài hàng rào đầy mìn bẩy và tịch thu được một số rất lớn vũ khí tối tân đủ mọi loại như K54, AK47, CKC, B40, thượng liên nồi và đặc biệt là hai cây súng phun lửa với hai bình hơi trông rất là lạ. Có một lính Quân Báo chui ra hàng rào để lấy chiến lợi phẩm bị mìn nổ cụt chân. Và vì không thể nào lấy hết xác để chôn cất được, cho nên sau cùng phải dùng dầu tưới lên để thiêu đốt tất cả.


4.


Sau chiến thắng to lớn này tưởng đâu là sẽ được yên ổn trong một thời gian dài nhưng không ngờ chỉ vài ngày sau là chúng liền mở ngay một trận kế tiếp để phục thù. Đại đội 9 đang hoạt động lưu động bên ngoài, giữ nhiệm vụ an ninh lộ trình từ Phước Quả ra Phước Bình. Thì vào lúc 12 giờ trưa bị VC dùng vận động chiến mở một cuộc tấn công chớp nhoáng tràn ngập Đại đội 9. Tôi nghe tiếng thều thào trong máy của Linh ĐĐT/ĐĐ 9 cho biết là VC đông lắm yêu cầu cho bắn ngay trên đầu, rồi im bặt.


Chúng tôi tức tốc sử dụng hỏa lực súng cối 81 ly để yểm trợ và điều động một lực lượng ra tiếp cứu, nhưng vì lực lượng địch quá mạnh. Sau đó Khu 32 Chiến thuật liền cho tăng viện Tiểu đoàn 31 BĐQ do Đại úy Trắng chỉ huy, đỗ quân từ Nhà thờ Phước Sơn đi xuống. Khi đến cua Phước Quả thì bị chạm địch rất mạnh, chiếc commando car bị bắn cháy, TĐ 31/BĐQ bị áp đão vì địch quân quá đông vì chiến trường do họ sắp đặt. Vì vậy sau cùng TĐ 31/BĐQ phải rút vô chân núi Bà Rá khi trời tối và tìm đường về đến đồn Phước Quả. Qua ngày hôm sau được tăng viện thêm Tiểu đoàn 36 BĐQ mới giải tỏa xong. Khi ra thu dọn chiến trường, Trung úy Lê Sĩ Linh ĐĐT/ĐĐ9 đã hy sinh bên hố chiến đấu kiến bu đầy người và bên cạnh đó còn có mâm cơm với 3 quả trứng luột còn nguyên chưa kịp ăn.

 

Lê Sĩ Linh, khóa 20 Đà Lạt là một chiến sĩ can trường đã từng tham dự trận chiến giải tỏa Chi khu Lộc Ninh. Ngoài ra còn có 2 sĩ quan Trung đội trưởng đã anh dũng hy sinh đó là Thiếu úy Sến, khóa 21 Đà Lạt và một Chuẩn úy mà tôi quên tên, là cháu ruột của Đại tá Sáng - Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh lúc đó. Rồi tiếp theo sau đó không lâu, VC lại mở một cuộc tấn công kế tiếp vào tiền đồn Phước Lộc do Đại đội 10 trấn giữ, do Trung úy Trần Hửu Tâm khóa 21 Đà Lạt làm Đại đội Trưởng. Tâm vừa mới được thăng cấp đặc cách ngoài mặt trận. Trước kia Tâm học khóa Biên Tập Viên Cảnh sát, đã tốt nghiệp và đã đi tu nghiệp bên Mã Lai. Nhưng sau đó Tâm lại đổi ý không thích ngành Cảnh sát mà tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc Gia.

 

Đồn Phước Lộc nằm trên ngọn đồi bên cạnh liên tỉnh lộ Phước Bình - Quảng Đức, cách đồn Phước Quả 3 cây số về hướng Đông. Trong đêm đó VC kéo đại lực lượng tới tấn công. Tâm cho biết là địch rất đông, hỏa lực địch rất mạnh, cho nên tôi đã gọi xin pháo binh yểm trợ ngay. Sau đó vì địch mở nhiều đợt xung phong quá dữ dội cho nên tôi phải nhờ cố vấn Mỹ gọi chiến đấu cơ lên yểm trợ gấp. Nhờ vào sự yểm trợ vô cùng hữu hiệu của các phi tuần phản lực mà đã chận đứng được các đợt xung phong biển người của địch. Và vì theo lời Tâm yêu cầu cho yểm trợ thật sát cạnh, cho nên có một quả bom rớt quá gần, gây cho bên ta một số bị thương. Trong số đó tôi nhớ có Thượng sĩ Hồ Hến Lòng, là một Trung đội trưởng người Nùng rất dày dạn chiến trường, đã bị thương nặng và sau này phải bị giải ngũ.


Đại đội 10 đã chống trả vô cùng anh dũng, giữ vững phòng tuyến cho đến sáng buộc địch quân phải chịu rút lui để lại trên 100 xác chết và la liệt súng đạn đủ mọi loại. Sau đó phải dùng xe ủi đất mới thu dọn sạch hết được. Đây là những chiến thắng to lớn của Quân đoàn III vào lúc đó, và đã có một bản nhạc để ca ngợi 72 tay súng oai hùng giữ đồn Phước Lộc, cũng như bài ca Phước Quả và trước đó là bài ca chiến thắng Lộc Ninh.


Nguyễn Ngọc Thạch

Khóa 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Tác giả gởi



Cùng Tác Giả:

 

Trận Phước Quả Nguyễn Ngọc Thạch Hồi ký

Con Đường Bi Đát - III Nguyễn Ngọc Thạch Tham luận

Con Đường Bi Đát - II Nguyễn Ngọc Thạch Tham luận

Con Đường Bi Đát - I Nguyễn Ngọc Thạch Tham luận

Đường Tìm Tự Do - IV: Vượt Biên Và Vượt Biển Nguyễn Ngọc Thạch Hồi ký

Đường Tìm Tự Do - III: Trốn Trại Nguyễn Ngọc Thạch Hồi ký

Đường tìm tự do - II: Tù Cải Tạo Nguyễn Ngọc Thạch Hồi ký

Đường Tìm Tự Do - I: Những Ngày Cuối Cùng Của Trường Bộ Binh Nguyễn Ngọc Thạch Hồi ký

Sunday, August 3, 2025

DO TỪNG BỊ NÉM BOM LẦM, GẦN MỘT TRUNG ĐOÀN VNCH THÁO CHẠY, KỂ CẢ "ĐẠI BÀNG" CỦA HỌ.

                       



ẢNH 1: PHÓNG VIÊN LỖ MẠNH HÙNG, 12 TUỔI, LÀ PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG NHỎ TUỔI NHẤT VN. CHỈ 12 TUỔI VÀO NĂM 1968. LÚC ĐÓ AI CŨNG CÓ THỂ LÀM PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG, CHỈ CẦN CÓ GIẤY PHÉP CỦA BỘ THÔNG TIN VNCH. BA ẢNH DƯỚI LÀ PHÓNG VIÊN CỦA CÁC HÃNG THÔNG TẤN. 
ẢNH 2-3-4: MỘT TOÁN QUAY PHIM GỒM 3 NGƯỜI: MỘT NGƯỜI PHỎNG VẤN, MỘT QUAY PHIM (CAMERAMAN) VÀ MỘT VỀ ÂM THANH (SOUNDMAN).



ẢNH 5: OANH TẠC CƠ B-57 MANG ĐƯỢC 9 BOM 500 CÂN Ở BỤNG VÀ 4 BOM 750 CÂN Ở CÁNH. VÕ TRANG 2 KHẨU ĐẠI BÁC 20 LY TRÊN MỖI CÁNH, BAY ĐƯỢC 4 GIỜ.  

ẢNH 6: SAU KHI BỊ MTGPMN CHẶT TAY VÌ KO HỢP TÁC, MỘT PHỤ NỮ NHẬN TAY GIẢ TỪ 1 BÁC SĨ MỸ. 

ẢNH 7: MỘT ÂM THOẠI VIÊN HAY ATV CỦA TOÁN CỐ VẤN TỈNH VÀ 1 ĐỨA BÉ. 

ẢNH 8: ĐPQ VƯỢT SÔNG BẰNG THUYỀN Ở TỈNH LONG AN. 

ẢNH 9-10: SÂN BAY BIÊN HÒA, NƠI ĐỒN TRÚ CỦA TĐ 145 KHÔNG VẬN MỸ
     



    ============= 

Trong hai cuộc HQ gần đây, máy bay bạn đã oanh kích lầm trung đoàn 9 sđ 5 bộ binh VNCH, nay với máy bay B-57 đang bay trên đầu, các người lính của trung đoàn lại sai lầm khi nghĩ rằng máy bay đồng minh lại oanh kích họ lần nữa.

- Hành động này (trao trả xác chết binh sĩ KPC) phản ánh cam kết của Thái Lan đối với các nguyên tắc nhân đạo quốc tế và tôn kính tất cả những người lính tử trận trong chiến đấu, bất kể họ trung thành với quốc gia nàoChúng tôi thấu hiểu những khó khăn chung mà binh sĩ cả hai bên phải đối mặt, khi mỗi người đều thực hiện nhiệm vụ của mình vì lợi ích của đất nước -- Thông báo của CP Thái Lan ngày 27/7/2025 khi trao trả xác của lính KPC tử trận. 

Lời nói đầu: 

Những trận đánh mà tôi dịch sau đây đã xảy ra trong tháng 4 và 5 của năm 1965, hơn ba năm trước khi tôi đi lính năm 1968. Những tin này có thể đã đăng trên báo chí VNCH thời đó, nhưng nội dung ko có nhiều chi tiết như bài viết sau đây vì CP VNCH muốn giữ bí mật quân sự ko cho đối phương biết; cũng như ko muốn giao động tinh thần dân chúng, chẳng hạn như lúc đầu còn ghi rõ số lính chết và bị thương, nhưng sau này họ chỉ dùng các chữ như " này bị thiệt hại trung bình, nhẹ hay ko đáng kể, v.v... Thời đó mỗi ngày đều có buổi họp báo tại đường Tự Do của SG với hai phát ngôn viên chánh là Trung tá Trần văn Ân và Lê Trung Hiền. Thời đó báo chí ngoại quốc như Mỹ, Pháp, Đức, v.v... thường đi theo các đv tác chiến của Mỹ để làm phóng sự. Quân đội Mỹ rất coi trọng báo chí đến độ khi phóng viên quay 1 phim ở mặt trận Quảng Trị vào buổi sáng bằng phim 16 ly, xem hình, sau đó họ bỏ vào phong bì chuyên dùng để nhờ chuyển gấp về SG bằng bất cứ máy bay khả dụng có mặt đó như trực thăng, C-123, C-130, v.v...

Có thể chiếc này chỉ bay tới Huế hay Đà Nẳng, thì phi hành đoàn có nghĩa vụ chuyển phong bì này cho máy bay nào bay về SG. Do vậy thường trong ngày là phong bì tới SG. Khi tới SG, các phim này được xử lý lập tức tại các lab của hãng thông tấn như AP, UPI, Reuter, AFP, v.v... và chuyển hình ảnh về Mỹ qua vệ tinh -- gần như ko qua kiểm duyệt. Do vậy đây là lần đầu tiên trong lịch sử, người dân Mỹ có thể xem chiến sự xảy ra trong ngày (ko qua kiểm duyệt) ở cách họ nửa vòng trái đất. Bài vở thì chuyển qua teletype (viễn ấn tự)

Chuyển ngữ từ trang 598-599 và 611-613 của quân sử của lục quân Mỹ ở: Advice and Support: The Middle Years, January 1964-June 1965

Sau đây là phần chuyển ngữ từ quân sử chính thức của Mỹ.

...

"Ba ngày sau đó, ngày 8/5/1965, tình báo cho biết có một TĐ quân giải phóng và một kho súng ở khoảng 10 km tây bắc của thị xã Thủ Dầu Một. Vì thông tin đã cũ vài ngày, liên quân Việt-Mỹ đã chọn kho súng làm mục tiêu mà ko chọn TĐ địch. Ba bãi đáp được Không quân dọn bãi vào sáng ngày 8 tháng 5 năm 1965 để cho 32 máy bay Huey đổ quân, bảo vệ bởi 25 gunship của TĐ 145 Không vận Mỹ, đóng tại sân bay Biên Hòa, xem hình, cũng như 10 chiếc H-34 VNCH. Một chiếc H-34 chở nhân viên tình báo và hai hồi chánh viên bị bắn rơi bởi 1 đại liên 12.7 ly. Hai TĐ của trung đoàn 9 đã đổ quân đúng kế hoạch. Theo kế hoạch, trực thăng Mỹ sẽ bốc TĐ thứ ba thuộc trung đoàn 7, đổ vào vị trí án ngữ, nhưng giờ chót được lịnh bảo vệ nơi máy bay rơi; họ ko tìm thấy ai sống sót. Trong khi đó, trung đoàn 9 tiến quân thành hai cánh từ nam tới bắc. Họ ko tìm thấy kho súng, nhưng giết 2 tên nổi loạn (rebel), tịch thu 75.000 đồng tiền VNCH, và hủy gần 30 tấn gạo trước khi bắt tay với TĐ thứ tư đã đến trước bằng đường bộ. Ba TĐ lập chu vi phòng thủ để nghỉ qua đêm, viết tắt là NDP, gần sông SG. Sáng ngày kế, 9/5/1965, ba TĐ tiến quân thành 9 mủi, mỗi mủi một đ.đ., đi cách nhau 50 mét xuyên khu rừng rậm rạp. Khi họ tiến, họ gặp hỏa lực địch càng lúc càng mạnh. Lúc trưa, họ thấy một vị trí phòng thủ hình móng ngựa bỏ hoang có đường kính 750 m. Họ chiếm vị trí này, với mỗi TĐ lo mặt bắc, đông, và nam. Các súng tự động phụ trách mặt phía tây, một cánh đồng khá bằng phẳng. Hỏa lực địch, kể cả cối, tiếp tục tăng trong suốt ngày (day wear out). Chỉ huy trung đoàn 9 xin viện quân, nhưng TL của sđ 5, chuẩn tướng Trần Thanh Phong, từ chối, vì nhận định tình hình quá nguy hiểm. Mười ba máy bay Skyraider VNCH và 4 chiếc B-57 của Mỹ đã oanh kích bằng bom, rocket, và đạn đại bác 20 ly. Mười khẩu 105 và hai khẩu 155 ly của VNCH, bắn khoảng 1.700 quả. Pháo ko hiệu quả vì cấp chỉ huy sợ đạn rơi gần chu vi. Có lẽ họ đã nhận định đúng vì lúc 1800, vài quả đã rơi bên trong chu vi. Trong hai cuộc HQ gần đây, máy bay bạn đã oanh kích trung đoàn 9, nay với máy bay B-57 đang bay trên đầu, các người lính lại sai lầm khi nghĩ rằng máy bay đồng minh lại oanh kích họ lần nữa.  15 phút sau, kèn thúc quân báo hiệu VC xung phong. Bị rúng động bởi lần ném bom trước và đối diện một tấn công rõ ràng của địch, các người lính "đã mất tinh thần (wilt), bỏ chạy trong rối loạn." Cố vấn trung đoàn, thiếu tá Thomas Brogan và các cấp dưới dùng tất cả phương tiện có sẵn, kể cả sức mạnh, để chận đứng sự rút chạy, nhưng vô ích. Vài sĩ quan VN cũng cố gắng tập hợp lính, nhưng phần lớn, kể cả trung đoàn trưởng trung đoàn 9, người từng được 13 huy chương do dũng cảm, cũng bỏ chạy. Lính tráng chạy về hướng tây, các gunship Mỹ bắn yểm trợ. Cuộc rút chạy để lại 200 lính VNCH, phần lớn bị thương, và 16 cố vấn. Số quân này lập 1 chu vi khoảng 1 km phía tây của vị trí ban đầu. Một trực thăng bất chấp hỏa lực địch để cứu 3 cố vấn bị thương. Do áp lực từ phía Mỹ, tướng Phong đồng ý cho đổ quân vào ban đêm - 1 điều rất hiếm vào thời đó, để trực thăng Mỹ đổ một TĐ lúc 2000 g. May mắn thay, quân phòng thủ chỉ bị quấy rối suốt đêm. Lúc 0700 g ngày 10/5/1965, trực thăng đổ 1 TĐ Dù để tăng viện và bảo vệ việc bốc quân ngày kế. Đây là lần thứ hai chỉ trong vài tuần, ba TĐ quân CP đã bỏ chạy. (Vì ngày 19/4, ở Quảng Tín, ba TĐ cũng bỏ chạy--ND). Tổng kết: cuộc rút chạy này khiến nam VN có 32 chết, 122 bị thương, 36 mất tích, 1 trực thăng rớt, gần 100 súng mất. Phe Mỹ có 2 chết và 3 bị thương. Một thương binh Mỹ là 1 trong 6 lính của lữ đoàn 173 Dù tham dự HQ như quan sát viên. Được biết tổn thất địch từ cuộc HQ ba ngày này là 4 chết với 3 người bị bắt và 4 súng tịch thu. BTL quân sự Mỹ tại VN hay MACV đã gửi các toán để giúp xây dựng tinh thần chiến đấu của ba TĐ mất tinh thần này (broken). 

Cuộc rút chạy với quy mô lớn xảy ra ngày 19/4 tại QK-2 và 9/5 tại QK-3 đã đặt ra nhiều câu hỏi quan trọng. Quân nam VN đã chiến đấu giỏi trong nhiều trận vào tháng 4 và 5. Liệu 2 cuộc rút chạy này có phải là một lỗi lầm nhất thời, hay là điều báo trước của một tan rả lớn hơn trong tương lai? MACV ko chắc chắn, nhưng chắc chắn đã thông cảm (appreciate) hoàn cảnh khó khăn này của người lính quèn (plight). Dù giao động trước tình hình chính trị ko ổn định của đất nước, thiếu một cam kết vững chắc cho 1 chính nghĩa, và đôi khi bị chỉ huy bởi những chỉ huy dở, những người lính nam VN vẫn chịu đựng nhiều nguy hiểm và khó khăn nhiều năm. Liệu họ sẽ tiếp tục như vậy hay số lượng ngày càng tăng và vũ khí mới của kẻ thù sẽ là giọt nước tràn ly? (final straw). Ở chừng mực nào đó, sức mạnh quân sự của Mỹ trên không và có lẽ trên mặt đất, có thể thuyết phục quân nam VN ở lại chiến đấu?

....

TRƯỚC ĐÓ VÀO NGÀY 19/4/1965:

Một biến cố còn đáng xấu hổ (embarrass) hơn đã xảy ra khi một HQ khác diễn ra ở khu Việt An thuộc Quảng Tín -- một HQ thứ 4 kể từ tháng 2/1965. SĐ 2 tập hợp sáu TĐ và 6 pháo đội yểm trợ bởi máy bay để tấn công BCH của trung đoàn 1, và 4 TĐ quân giải phóng hay PLAF, và một đ.đ. pháo. HQ bắt đầu ngày 18/4 khi 2 cánh quân tiến về tây nam từ quận lỵ Thăng Bình tới vùng đất bằng phẳng ở một chân đồi (piedmont). Cánh phía bắc tiến quân vô sự, nhưng cánh phía nam gặp hỏa lực dữ dội càng lúc càng tăng của khoảng 2 TĐ địch từ 3 ngọn đồi. Sau một loạt oanh kích, một đ.đ. của TĐ 3 TQLC đóng quân trên 1 đồi trong khi phần còn lại của TĐ này và hai chi đội M113 lục soát chung quanh sườn phía nam của kẻ thù và đụng một vị trí quan trọng của địch trên 1 ngọn đồi thứ 2. Một số quần áo đẫm máu đáng kể tìm thấy gần làng chiến đấu Thanh Yên đã củng cố báo cáo của dân làng rằng oanh kích đã giết khoảng 150 quân nổi dậy (insurgent). Quân nam VN đóng quân qua đêm. Sáng ngày kế, các chỉ huy đã đứng nhìn oanh kích. Các tóan quân cuối cùng đã di chuyển lúc 1300, chiếm các mục tiêu mà ko đụng độ lúc 1600. Lúc đó, một quan sát cơ thấy quân nổi dậy di chuyển xa hơn về hướng tây tới ấp Chiên Sơn. Sau khi pháo binh bắn dọn bãi một lúc, TĐ 3 TQLC và 2 chi đội M-113 tiến quân theo hàng ngang qua cánh đồng hướng về ngôi làng. Lúc 1725 địch đã nổ súng dữ dội, dù ko liên tục (erratic). Ngoài đại liên, SKZ 57-ly và cối 81 ly, còn có cối 4.2-in hay 107 ly (có lẽ lấy được từ VNCH vì CS chỉ có cối 61, 82 và 120 ly -- ND).

Trước hỏa lực dữ dội này, các M-113 quay đầu và rút chạy (turn about). Thấy M-113 bỏ chạy, TQLC cũng chạy theo. Pháo binh bạn ngừng bắn và các L-19 của Mỹ cũng ko thể thuyết phục 2 Skyraider đang có mặt tấn công địch. Các sq VN và cố vấn cũng ko thể ngăn sự rút chạy này, nhưng họ đã thành công khi lèo lái đám đông này vào 1 giao thông hào bỏ hoang của địch nơi TQLC có thể cố thủ. Tại đây, các sq đồng minh đã tổ chức phòng thủ. Nhưng sau đó địch đã điều chỉnh pháo vào vị trí mới này, và 1 lực lượng lớn của địch tấn công họ. 4 cố vấn bị thương, và, dù cố gắng hết sức của các sq còn lại và cố vấn, TQLC lại bể tuyến lần nữa. Thêm một cố vấn bị thương khi ông dùng đại liên 12.7 ly của M-113 để bảo vệ rút lui. BTL của sđ 2 lần nữa từ chối dùng pháo vì quân 2 bên quá gần, nhưng cuối cùng tướng Hoàng xuân Lãm, TL của sđ, ra lịnh một TĐ BĐQ và 1 TĐ bộ binh cứu viện. Kế hoạch phá sản khi hoảng loạn của TQLC đã lây sang 2 TĐ mới, khiến họ nhanh chóng rút chạy. Cố vấn của TĐ BĐQ cố gắng kêu gọi BĐQ tử thủ cho tới khi khám phá địch bắt đầu chia cắt TĐ ông. Và ông cũng rút theo. KẾT QUẢ: phe đồng minh có 26 chết và 86 bị thương, 28 mất tích, và quân nổi dậy tịch thu hay phá hủy 8 súng cộng đồng và 25 súng cá nhân.

Sau 2 ngày HQ, phe đồng minh đếm 53 xác địch và ước tính đã giết thêm 297 người, MACV cho rằng con số sau do suy diễn nhiều. Cố vấn nghĩ rằng kế hoạch ban đầu hợp lý, dù Lãm ko thu thập nhiều tin tức tình báo trước khi HQ. Ông này cũng ko coi trọng việc phối hợp giữa các cánh quân và tích hợp pháo binh vào kết hoạch toàn diện, đã làm hư hỏng mọi cố gắng. Một khi HQ bắt đầu, chỉ huy và kiểm soát trở nên lộn xộn trong vài lần. Tệ hơn nữa, pháo binh ko hoạt động nhiều trong cuộc HQ do sai lầm của chỉ huy, khó khăn khi phối hợp với máy bay, và sợ bắn lầm. Sau đó, quân VN đã cách chức ba chỉ huy. Sự rút chạy của ba TĐ cùng 1 lúc-- trong đó của 1 đv thiện chiến của tổng trừ bị--là điều chưa từng xảy ra. Đó là 1 bằng chứng đáng báo động về tinh thần chiến đấu đang hao mòn (fray) trong những lực lượng của QĐ-1 và có thể sụp đổ trong những hoàn cảnh bất lợi. 

18 ngày trước đó, Tổng Thống Johnson đã từ chối khuyến nghị của Bộ Tham mưu Hỗn hợp Mỹ, viết tắt  JCS rằng Lục quân nên gửi 1 sđ sang VN, và, 6 ngày trước trận Chiến Sơn, ông đã từ chối một khuyến cáo của JCS về việc gửi sang VN một lực lượng gồm ba-sư đoàn Hàn-Mỹ, và lần này Johnson đồng ý.  Trận Chiến Sơn chắc chắn ko phải lý do của các chính sách mới, nhưng có thể nằm trong đầu óc của những nhà hoạch định kế hoạch quan trọng./.

San Jose ngày 4//8/2025, cập nhật ngày 7/8/2025.

Tài Trần

==========




Friday, May 20, 2022

NGUYỄN TƯỜNG TUẤN, cựu đại đội trưởng trính sát sư đoàn 5. Hiện nay là một người truyền cảm hứng (motivational speaker). 

NGUYỄN = 7

TƯỜNG = 46753 = 25 = 7

TUẤN = 4615 = 16 = 7

Cộng lại: 7 7 7 = 21 = rất may mắn.

Ý Nghĩa Của Số 21 - Vuơng Miện Của Nhà Thông Thái
(The Crown of the Magi )
21 đuợc tuợng trưng/biểu tuợng (is pictured) bởi “Vũ trụ", và còn đuợc gọi là “ Vuơng miện của nhà Thông thái”. Nó hứa hẹn sẽ có thành công tổng quát, và bảo đảm sẽ có sự thăng tiến, danh dự/kính trọng (honours), phần thuởng, và địa vị cao một cách chung chung (general elevation) trong cuộc sống và nghề nghiệp. Nó cho thấy sẽ thắng lợi sau một cuộc tranh đấu lâu dài (it indicates victory after long struggle), bởi vì “Vuơng miện của nhà Thông thái” chỉ có đuợc sau nhiều thử thách về tinh thần cũng như những thử thách khác về quyết tâm của họ (for the “Crown of the Magi” is gained only after the long initiation, much soul-testing and various other tests of determination). Tuy nhiên, nguời hay thực thể này được ban phúc/phù hộ bởi (blessed with) số 21 sẽ chắc chắn có được thắng lợi cuối cùng sau khi vuợt qua mọi thử thách và chuớng ngại (may be certain of final victory over all odds and all opposition). Đây là số rất may mắn do tạo đựoc nhiều nghiệp tốt trong những kiếp truớc (it's a most fortunate vibration – a number of karmic reward) .

Dịch từ sách đã dẫn nơi trang 258.

Thursday, November 5, 2020

 Đời Lính Chiến

Nguyễn Văn Khôi

(Đặc San Lâm Viên)


Vô tình xem trên Google bài thơ “Thương Ca” của Lê Thị Ý nên lại nhớ đến bài “Tưởng như còn người yêu” do Phạm Duy phổ nhạc.


Thi sĩ Lê Thị Ý làm bài thơ này khi đang ở trên Pleiku. Nhà thi sĩ gần nhà quàn của lính, khiến thi sĩ thường nhìn được cảnh những người vợ lính tới nhận xác chồng do đó mới làm ra bản "Thương Ca" này.


Tôi cũng có ở trong 1 Trung Đội PB nằm trong Quận LệTrung, sát tỉnh Pleiku vài tháng trước khi được giải ngũ vào tháng 6 năm 1966.


oOo


Chiếc Caribou chở tôi từ Phi Trường Tân Sơn Nhứt ra Pleiku.


Hôm đó chiéc phi cơ, chỉ chở có 2 người, 1 Thiếu Uý PB là tôi và 1 Trung Uý Bộ Binh.


Khi chúng tôi tới Pleiku chiều hôm đó, cả phi trường không có lấy một chiếc phi cơ nào khác nữa. Cái phi trường này nằm trên một ngọn đồi mà một bên là vách núi. Phi trường lúc đó hoang vắng đến nản người.


Trời thì se lạnh, tuy không mưa, nhưng trên trời đầy mây xám. Những cụm mây đó đang trôi lững lờ, khiến cho ai cũng phải cảm thấy có một nỗi buồn man mác...


Biết được cái bài thơ Thương Ca và nhất là nghe được bài “Tưởng như còn người yêu” do Phạm Duy phổ nhạc cùng nhân ngày “Tháng Tư Đen” năm nay năm 2019. Tôi ... bâng khuâng nhớ đến cuộc đời gian khổ của đời Lính Chiến...


Là lính chiến tôi cũng thắc mắc như nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ “Mầu Tím Hoa Sim”:


“... Là chiến binh mấy người đi trở lại

mà lỡ mình không về thì thương người vợ chờ...“


nên trong thời gian còn là LÍNH CHIẾN tôi không nghĩ tới chuyện lập gia đình. Nhưng cũng:


Không chết người trai khói lửa mà...

Đau khổ người vợ chờ vô vọng nhiều năm...


Nhớ lại những ngày còn là Lính Chiến trong QLVNCH


Sau khi ra trường khóa 14 Pháo Binh, Thủ Đức, tôi được đưa về Tiểu Đoàn 5 PB, thuộc Sư Đoàn 5, Quân Đoàn 3. trong QLVNCH


Là Chuẩn Úy nên tôi sẽ được chỉ định làm Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh (SQTS PB) cho một đơn vị Bộ Binh, Dù hay Thiết giáp nào đó.


Vì không thích nghề Lính, nên đã không tình nguyện vào lính. Nhưng khi đã bị động viên vào Thủ Đức và một khi đã chấp nhận vào lính rồi thì tôi đã cố hết sức hoàn thành Trách Nhiệm được giao phó: Trách nhiệm của một Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh.


Ngoài mặt trận, mỗi khi đụng độ với tụi Việt Cộng, đạn Pháo của tôi luôn luôn nhanh và chính xác, do vậy anh em binh sĩ lúc nào cũng thích tôi.


Mấy vị Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Đoàn Trưởng Bộ Binh nào cũng muốn có Thiếu Úy Khôi làm Sĩ Quan Tiền Sát hoặc Sĩ Quan Liên Lạc bên cạnh họ.


 Vào những năm 1963, 1964, 1965 các vị như

Đại Úy Nguyễn Văn Đương, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 33 BĐQ đã có Th.Uý Khôi làm SQ Tiền Sát trong 1 năm trời ở Tây Ninh.

Đại Úy Lê Nguyên Vỹ lúc còn là Tiểu Đoàn Trường TĐ 2/9, (Tới 30-04-1975 là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 5BB và đã tuẫn tiết vào thời điểm này).

Trung Tá Chuyên, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 BB có tôi làm SQ Liên Lạc khi Trung Đoàn từ Bình Dương đi giải tỏa Paris Tân Quy rồi giải tỏa Phú Hòa Đông. Sau này tôi không biết gì thêm về Tr. Tá Chuyên.

Đại Úy Nguyễn Văn Của Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2/8 trong Trung Đoàn 8 của Trung Đoàn Trưởng Chuyên. (Tới 30-04-1975 là Đại Tá Của bị đi cải tạo, bị đưa ra Bắc và đã bị chết ngoài đó

Anh em binh sĩ trong Trung Đoàn cũng rất tin tưởng nơi tôi.

Cùng mấy vị hiện đang ở bên Mỹ này:

Cựu Đại Tá Hồ Sĩ Khải, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5 PB.

Cựu Thiếu Tá Khổng Năng Hạnh, Pháo Đội Trưởng PĐ B/51 PB.

Cựu Thiếu Tá Bửu Hạp, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 221 PB.

(Tôi đã gặp lại: Đại Tá Hồ Sĩ Khải, Thiếu Tá Khổng Năng Hạnh. Tôi chỉ chưa trực tiếp gặp được Th.Tá Bửu Hạp nhưng đã được nói chuyện với nhau qua điện thoại)


Họ có thể chứng thực những điều tôi nói.


Đời Lính Chiến của tôi chấm dứt vào cuối tháng 6 khi tôi được giải ngũ sau 4 năm thi hành Lệnh Động Viên.


oOo


Khi tôi và Thiếu Úy Nguyễn Quang Toàn (hiện đang ở Mỹ) được Đại Úy Bửu Hạp, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 21 PB trên Kontum, cho giải ngũ trước 1 tháng, chúng tôi trả quần áo Lính để ra về với bộ đồ Dân Sự. Nhưng ra tới Sân Bay mới được cho biết rằng:


Phải là Quân Nhân mới được lên Phi Cơ để về Tân Sơn Nhất. Thế là chúng tôi lại phải về Tiểu Đoàn xin lại hai bộ đồ số 2 (bộ quần áo Kaki) mặc vào rồi  mới trở ra sân bay.


Đây đúng là cái điềm báo trước là chúng tôi sẽ còn phải mặc quần áo lính một lần nữa!!!


oOo


Giải ngũ được hơn 1 năm thì biến cố “Tết Mậu Thân 1968” xẩy ra khiến Miền Nam VN phải Tổng Động Viên và ... chúng tôi phải Tái Ngũ.


Tái ngũ rồi tôi xin và được Biệt Phái Ngoại Ngạch về trường Trung Học Nguyễn trãi tại Saigon làm “Lính Kiểng”.


Đến ngày 30-4-1975, tên khốn kiếp Dương Văn Minh, được đưa lên làm Tổng Thống Miền Nam để ... ra lệnh cho binh sĩ miền Nam buông súng đầu hàng tụi Cộng Sản Hà Nội.


Tan hàng rồi các Sĩ Quan của QLVNCH phải đi tù, đi vào những trại mà tụi VC gọi là “Trại Cải Tạo”.


Lúc đó, tuy không còn là Lính Chiến, nhưng vẫn là Đại Uý của Quân Lực VNCH, nên tôi cũng phải vào tù.


Là “nhà Giáo”, đáng lẽ tôi chỉ bị tù có 3 năm thôi, nhưng trong một lần TỰ KIỂM, tôi đã khai ra là tôi đã từng làm Quản Lý quán cơm Sinh Viên kiêm Đại Diện Sinh Viên trong Đại Học Xá Minh Mạng (230 Minh Mạng, Quận 5, Saigon) từ tháng 1 năm 1967, Do đó tôi bị tù thêm 3 năm nữa.thành 6 năm tất cả.


Tổng Cộng là tôi đã bị "Tù Cải Tạo" trong 6 năm.


Qua bài “Tưởng như còn người yêu”, tôi sống lại những ngày tôi ở trong một Trung Đội trong Quận LệTrung ngay sát Tỉnh Pleiku, từ đó tôi thấy lại những ngày tôi đã sống trong quân ngũ từ năm 1963 tới 1966 cùng với những cuộc hành quân mà tôi được tham dự cùng với những vất vả, gian truân của nó.


Vào dịp 30 tháng 4 năm 2019 này, tôi đã được đọc bản ghi tên những Y Sĩ đã hy sinh.


Trong đó có tên của Y Sĩ Trung Uý Phạm Bá Lương và Y Sĩ Trung Uý Nguyễn Văn Nhứt, làm tôi nhớ đến những ngày chúng tôi cùng ở trên Quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương.


Hồi đó, Pháo Đội B/5 (Pháo Đội B thuộc Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh) của tôi với Pháo Đội Trưởng Khổng Năng Hạnh đóng ở đầu Quận Bến Cát trên Quốc Lộ14 từ Bình Dương lên. Pháo Đội của tôi nằm bên Trái con đường, thì bên kia là nơi Bộ Chỉ Huy trung Đoàn 7BB mà Trung Đoàn Trưởng là Trung Tá Nguyễn Văn Tư, nằm sát với Quốc Lộ 14.


Bên Trái con đường từ Bình Dương lên là phòng ngủ của Đại Uý Pháo Đội Trưởng PĐ B/5 và 2 Thiếu Uý Sĩ Quan Tiền Sát PB chúng tôi, Th Uý Hòa và Th Uý Khôi.


Bên kia đường là phòng ngủ của Trung Uý Y Sĩ Trung Đoàn Phạm bá Lương.


Tôi và bác sĩ Lương là bạn học thời Trung Học. Chúng tôi cùng học Chu Văn An Hà Nội từ lớp Đệ Lục B1 niên khóa 1950-1951 đến CVA Saigon. Niên khóa 1955-1956 chúng tôi cùng học lớp Đệ Nhất B3, năm cuối của Trung Học.


Lên Đại Học thì Phạm Bá Lương học Y Khoa còn tôi thì học hành chẳng ra gì để rồi bị động viên vào Thủ Đức.


Đã gần 10 năm, chúng tôi không gặp nhau, nay ở Bến Cát chúng tôi mới gặp lại nhau trong một cuộc hành quân mà tôi làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh cho Trung Đoàn 7 BB. Bác sĩ Lương làm Y Sĩ Trưởng của Trung Đoàn.


Làm SQ Tiền Sát hay SQ Liên Lạc thì không có việc gì làm trong Pháo Đội nên trong những ngày không hành quân, tôi thường sang phòng của bác sĩ Lương ngồi tán dóc.


Một hôm bác sĩ Lương hỏi xin tôi mấy miếng gỗ của những thùng đạn 105 ly sau khi đã lấy qủa đạn ra. Tôi đồng ý và bảo Lương cho lính sang chỗ tôi mà lấy... Thế là hôm sau bác sỹ Lương cho tài xế lái chiếc xe Jeep cứu thương vào Pháo Đội tôi xin mấy tấm ván về.


Khi chiếc xe cứu thương về rồi, Ông Trung Sĩ Khẩu Đội Trưởng Mô A Mìn mới phàn nàn với tôi là:


“Sao Thiếu Uý lại cho chiếc xe cứu thương đó vào đây. Sui lắm đó.”


Lúc đó tôi mới giật mình, nhưng cũng cố vớt vát lại, nói rằng:


“Không sao đâu! Số tôi tốt lắm không ngại gì cả."


Trong các cuộc hành quân thì tôi và Th. Uý Hòa thay phiên nhau đi làm SQ TS hay SQLL.


Thế rồi sau một lần hành quân, tôi "dù" về Saigon, vì kỳ hành quân tiếp thì đến phiên Th. Uý Hoà. Tôi thì "Ba Gai" thật, nhưng không bao giờ làm trở ngại các cuộc hành quân hết. Không có tôi thì vẫn còn SQ khác đi làm SQTS hoặc SQLL. Bao giờ tôi cũng có mặt khi cần.


Lần này thì khác.


Tôi mới về nhà ở 214 Võ Di Nguy gần Rạp Ciné Văn Cầm, Phú Nhuận, được 2 hôm thì có xe từ Tiểu Đoàn tới nhà tìm tôi, nhưng lúc đó tôi không có nhà, nên chỉ được nhắn lại là phải lên Tiểu Đoàn ở Phú Lợi để lên Bến Cát gấp, Thiếu Uý hoà đã chết.


Thì ra khi tôi dù về Saigon thì Trung Đoàn 7 của Trung Tá Tư đã mở một cuộc hành quân và Pháo Binh phải cử Thiếu Uý Hoà đi làm SQ Liên Lạc, theo Trung Đoàn lên Bầu Bàng. Trong một đêm ở Bầu Bàng II, Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn đã bị lọt vào ổ phục kích của Việt Cộng nên Trung Uý Y Sĩ Phạm bá Lương và Thiếu Uý Hoà đã bị tụi VC bắn chết. Trong trận này, Trung Tá Tư lại thoát khỏi tay tụi VC vì ... Tr.Tá Tư nhà ta nói rằng Tr. Tá đã leo lên một cái cây nào đó trốn.


Nhân đây tôi xin kể một chuyện về Số Mạng.


Pháo Đội B/5 của tôi nằm sát với Sân Bay Trực Thăng, nên tôi thường ra đó tán dóc với Trung Sĩ Mỹ trông coi Sân bay. Anh Trung Sĩ da đen này cũng bị “động viên” như tôi ... rồi chúng tôi thân nhau và khi nào muốn về Saigon, đúng ra là về Bình Dương là tôi xin anh ta một chỗ trên chuyến trực thăng tới. Năm 1964 đó, nếu không có “mở đường” thì quân nhân chúng tôi chỉ có một phương tiện là Trực Thăng để đi từ Bình Dương lên Bến Cát và ngược lại.


Hôm tôi dù về Saigon, bạn Lương của tôi cũng muốn dù như tôi, nên đã bảo tôi xin anh bạn Trung Sĩ coi Sân Bay dành cho 1 chỗ. Anh ta đã bằng lòng.


Nhưng khi có chiếc Trực Thăng tới, bác sĩ Lương lại nói rằng Tr. Tá Tư không có mặt ở đây, nếu tớ đi thì khi ông ta về, ômg ta chửi cho, thôi cậu đi đi tớ không đi...Thành ra hôm đó Lương ở lại để dự cuộc hành quân lên Bầu Bàng II và đã bị chết ở đó. 


Nếu Lương đi với tôi hôm đó thì ... sau đó sẽ bị phạt nặng nhưng ... không Chết.


Trong trận Bầu Bàng II đó, tôi mất 2 người bạn: Thiếu Uý Hòa và bác sĩ Lương.


Nhận được lệnh phải lên Phú Lợi, tôi vội lên đó ngay với bộ đồ của Lính Dù.


(Chúng tôi được phát quần áo của lính Dù, của Lính Thủy Quân Lục Chiến để mặc khi đi làm SQTS hay làm SQLLPB với những binh chủng trên.)


Trước khi lên Bình Dương để vào Phú Lợi, tôi định ghé vào Tổng Y Viện Cộng Hòa  để chào bạn Lương tôi lần chót. Nhưng rồi tôi lại không tới chào vì không biết rằng những người ngồi quanh quan tài kia có phải là gia đình bác sĩ Lương hay không. Tôi phân vân như vậy vì tôi không thấy bạn Phạm Bá Đường, anh của Lương mà cũng là bạn của tôi nữa.


Đi qua đám tang, tôi ra xe đi Bình Dương, rồi vào Phú Lợi, vào Tiểu Đoàn 5 PB.


Từ TĐ 5 PB này tôi được một Trung Uý (mà tôi đã quên mất tên) đưa tôi ra Sân Bay.


Tới Sân Bay tôi đã thấy có một Trung Uý đã cũng đang đứng chờ. Trung Úy này cao ráo, trông khá đẹp trai, nhưng có vẻ hơi buồn.


Lên tới Bến Cát, vào phòng ngủ của mình mới thấy là chỉ còn 1 cái giường, cái giường của Th. Uý Hòa đã được dẹp đi rồi. (Từ trước, 2 đứa chúng tôi cùng chung 1 phòng.)


Lúc đó tôi mới thấy rằng chiếc xe cứu thương đi vào Pháo Đội là Sui thật.


Mấy ông Trung Sĩ của tôi cũng không nhắc lại việc đó với tôi nữa. Nhưng nếu họ có phàn nàn với tôi thì tôi cũng sẽ cho họ biết rằng:


"Đó chỉ là cái điềm báo trước rằng Pháo Đội mình sẽ bị SUI, chứ không phải là cái việc xe Cứu Thương vào mới làm cho Pháo Đội SUI. Cái xe đó không vào thì Pháo Đội mình vẫn mất Th. Uý Hòa như thường."


oOo


Sau này lên tới Quận Dầu Tiếng, tôi mới biết rằng Trung Uý đứng chờ Trực Thăng với mình hôm trước là Tr. Uý Y Sĩ Nguyễn Văn Nhứt lên thay Tr. Uý Y Sĩ Phạm bá Lương.


Lên tới Bến Cát được 1 hay 2 ngày, Trung Đoàn 7 cùa Trung Tá Nguyễn Văn Tư mở cuộc hành quân lên Dầu Tiếng, bắt đầu từ Chơn Thành.


Trong cuộc hành quân này:


Tôi, Thiếu Uý Khôi sĩ quan khóa 14 PB lại được chỉ định làm SQ Tiền Sát PB cho TĐ 2/7 với TĐ Trưởng là Đại Uý Luông. Tiểu Đoàn 2/7 này sẽ là TĐ đi đầu, đi mở đường vào Dầu Tiếng. Trong khi đó thì Thiếu Uỷ Vũ Đình Kỳ là sĩ quan đàn em (khóa 15 PB hay 16 PB) lại được Đại Uý Võ Văn Sáng, TĐ Trưởng TĐ51 PB của tôi cử làm SQ Liên Lạc bên cạnh Trung Tá Tư.


Trên đường vào Dầu Tiếng


Trong đêm đầu hay đêm thứ 2, một toán VC chạy qua nơi mà bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi tạm nghỉ qua đêm, gần nơi tạm nghỉ của Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Chúng chạm phải mìn chiếu sáng, TĐ chúng tôi có bắn ra, nhưng chúng không bắn trả mà ... đi luôn. Thế là chúng tôi biết rằng mục tiêu của chúng là “Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn”.


Tôi báo ngay cho Th. Uý Kỳ là tụi VC muốn tấn công các bạn đó, bạn phải nói với Đại Uý Thái là cho 4 khẩu 105 ly sẵn sàng Trực Xạ đi. (Pháo Đội B của tôi mà Pháo Đội Trưởng là Đại Uý Nguyễn Văn Thái cũng đi cùng với Trung Đoàn 7 này lên Dầu Tiếng.)


Ít phút sau, qủa là có tiếng trực xạ nơi Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn.


Trận chiến chỉ chừng nửa giờ thôi. Với sự chống trả của quân ta, tụi VC phải rút, nhưng cũng làm cho Th. Uý Kỳ sợ hết hồn. Rồi không biết tại sao TĐ 5 PB lại đưa Đại Uý Giỏi Tiểu Đoàn Phó TĐ 5 PB vào thay Th. Uý Kỳ, và Th.Uý Kỳ được đưa sang mặt trận khác. Mấy tên lính trong toán Tiền Sát của tôi nghe tôi cho biết như vậy, nên đã nói với tôi rằng: Th. Uý Kỳ lại chạy cho mà xem. Tối hôm sau, chúng tôi lại nghe thấy tiếng Th Uý Kỳ quýnh quáng gửi điện văn xin bắn trên máy.


Trước hôm vào quận, Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2/7 có nói với các sĩ quan trong TĐ rằng, tụi mình sẽ có một cái may lớn lắm.


Chúng tôi có nói lại rằng: "Vào trong quận, chúng ta được nghỉ là may rồi còn gì!!!"


Đại Uý Luông bảo rằng: "Không phải, việc TĐ được nghỉ đã được ghi sẵn trong Dự Lệnh Hành Quân rồi. Cái may này là cái may lớn lắm. Mỗi khi tao nằm mơ thấy được như vậy là tao sẽ có một cái may lớn lắm, chứ không phải là cái may được nghỉ đâu!"


Vào tới Dầu Tiếng rồi, TĐ 2/7 chúng tôi được nghỉ lại trong Quận vì TĐ đã là TĐ đi mở đường tử Chơn Thành tới quận Dẩu Tiếng này như đã được ghi trong “Dự Lệnh Hành Quân”.


Thế rồi, sau khi nghỉ trong Quận 1 đêm, Trung Đoàn tiếp tục cuộc hành quân, tiến vào Làng 13 để rồi cả Trung Đoàn bị phục kích trong làng đó.


Trong trận này toàn bộ các sĩ quan trong bộ Chỉ Huy Trung Đoàn đều bị giết:


Trung Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Đoàn Trưởng.

Trung Đoàn Phó, Sĩ Quan ban 2, ban 3.

Trung Uý Y Sĩ Nguyễn Văn Nhứt

Đại Uý Giỏi, Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh

Nhiều Sĩ Quan của các Tiểu Đoàn khác trong Trung Đoàn


Thế là TĐ 2/7 chúng tôi lại phải sẵn sàng lên đường. Lúc đó, Đại Uý Luông mới nói với chúng tôi rằng: "Đây mới là cái may lớn mà tao được báo trước đấy!"


Nếu không có may mắn, thì tôi, là sĩ quan đàn anh của Th.Uý Kỳ phải là SQLL PB bên cạnh Trung Tá Tư. Sẽ không có vụ xin xỏ để Đại Uý Giỏi vào thay, và dĩ nhiên là tôi phải có mặt bên cạnh Tr.Tá Tư để cùng bị VC giết chứ.


Biến cố đó làm cho khoảng 800 quân nhân của QLVNCH bị chết. Lý do là có NỘI TUYẾN, tên nội tuyến này lại là tên Trung Sĩ  trong Ban Truyền Tin của Sư Đoàn. Bởi thế bao nhiêu Lệnh Lạc gì của Sư Đoàn hay Trung Đoàn đều bị tụi VC biết trước hết.


oOo


Là Lính Chiến, tôi may mắn là chưa có Vợ, nên không phải tìm cách nịnh nọt ai cả. Chẳng bao giờ sợ ... có người phải ca bản “Ngày mai đi nhận xác chồng”.


Nhưng đã là Lính thì dù không là Lính Chiến cũng vẫn phải gặp những hậu quả dành cho Lính.


Sau khi hết hạn 4 năm bị động viên, tôi được giải ngũ, vào cuối tháng 6 năm 1966.


Biến cố “Tết Mậu Thân năm 1968 khiến Miền Nam phải Tổng Động Viên và ... vào tháng 8-1968, tôi lại phải mặc quần áo Lính một lần nữa. Có điều là lần này tôi không còn là Lính Chiến nữa mà là "Lính Kiểng."


Tôi đã được “biệt phái ngọai ngạch” về Bộ Giáo Dục để được đưa về trường Trung Học Nguyễn Trãi bên Khánh Hội, Quận Tư Saigon làm Giám Thị kiêm Tư Nhân Dậy Giờ.


Yên chí rằng sẽ không ai phải “ngày mai đi nhận xác mình” nữa nên tôi đã lập gia đình năm 1969.


Tới ngày 30 tháng Tư năm 1975, anh bạn Mỹ dâng Miền Nam VN cho Trung Quốc. Tụi Trung Cộng này đã để mặc cho tụi Việt Cộng từ Bắc vào chiếm Miền Nam VN. Thế là tụi VC miền Bắc ào vô chiếm Miền Nam và chúng bắt các Sĩ Quan trong QLVNCH của Miền Nam phải trình diện đi tù, đi vào những cái mà chúng kêu là "Trại Cải Tạo."


Tù cải tạo thì ít nhất là một năm, cho tới bao lâu thì chẳng ai biết cả. Tôi là một Sĩ Quan trong QLVNCH nên tôi phải đi tù thôi. Tôi thì chỉ bị Tù có 6 năm thôi. Nhưng có người, bà vợ phải nuôi tới 17 năm


Nếu khi còn là Lính Chiến của QLVNCH Miền Nam thì người vợ Lính có phải đi nhận xác chồng, thì dĩ nhiên là rất đau khổ, nhưng còn  nhận được một số tiền Tử Tuất rồi vài năm sau, thời gian cũng làm cho các bà Qủa Phụ nguôi dần.


Nhưng khi chúng tôi bị đi “Tù Cải Tạo” thì khác:


Cái khác đầu tiên là ... người chồng chưa chết, chỉ bị đi tù thôi.


Cái khác thứ hai là Thăm Nuôi.


Lúc đầu, khi tụi VC mới chiếm Miền Nam thì gạo hãy còn đầy trong các kho của Quân Đội cũng như của Tổng Cục Tiếp Tế trong toàn Miền Nam, nên chúng lấy ra nuôi các tù Cải Tạo chúng tôi. Nhưng chỉ 1 năm sau... Phần thì chúng vơ vét mọi thứ mang về Bắc, phần thì theo "Quốc Sách" của chúng, chúng bắt các bà vợ của Tù Nhân phải đi nuôi những người chồng của họ đang bị tù. Do đó dân chúng Miền Nam mới biết đến hai chữ “Thăm, Nuôi”


oOo


Chồng tử trận thì rất đau khổ. Sau đó còn phải “nuôi con” nữa nhưng còn có tiền Tử Tuất và chính quyền Miền Nam luôn luôn có cách hữu hiệu để giúp những bà qủa phụ này. Vả lại trong thời của VN Cộng Hòa thì kiếm sống rất dễ.


Bây giờ, đúng là “đổi đời”.


Những bà Vợ Tù Cải Tạo tuy không đau cái đau của người “đi nhận xác chồng” nhưng lại đau cái đau của những người mới bước vào đời để tìm cách kiếm sống, kiếm cách nuôi chồng, nuôi con trong một thời gian...vô hạn định.


Trong những cái đau khổ, thì cái đau khổ của mấy bà vợ “đi nhận xác chồng” thì rất là lớn vì họ vĩnh viễn mất chồng. Trong khi đó, những bà vợ của những Tù Cải Tạo thì...chưa mất chồng, nhưng phải gian khổ nuôi chồng, nuôi con trong một xã hội nghèo đói, đầy dẫy những bất công, trong một thời gian gần như vô tận!!!!


Trong những hoàn cảnh này, ai khốn khổ hơn ai???


Tôi chỉ bị tù có 6 năm thôi, mà khi tôi được tha về, những gì bà Vợ tôi còn giữ lại được chỉ là …. cái xác nhà. (Bà vợ tôi phải làm dữ lắm mới khiến tụi nó không chiếm được cái nhà của chúng tôi.)


Vì phải lo buôn bán, kiếm tiền nuôi gia đình, gồm cả tôi trong tù, vợ tôi cùng 3 đứa con, thằng con lớn nhất mới có 5 tuổi, thằng thứ hai mới được 3 tuổi và con bé út thì mới có mấy tháng, phải dời nhà để sang nhà bố mẹ tôi ở  bên Võ Di Nguy, Phú Nhuận gần rạp Ciné Văn Cầm, nhờ ông bà coi các cháu để đi buôn, bán.


Tụi VC thấy nhà tôi bỏ trống nên chúng tới khóa cổng nhà tôi lại. Một cô học trò của tôi ở gần đó thấy thế mới chạy sang báo cho vợ tôi biết. Thế là bà vợ tôi tức tốc chạy về, muợn ai đó cái kềm, cắt cái xích khóa cổng đó đi....tụi VC trong Phường tới tính nạt nộ nhà tôi, chúng hỏi:


- Ai cho chi. Cắt cái khóa này vậy?


Bà vợ tôi hỏi lại:


- Tại sao các anh lại khóa  cái cổng nhà tôi lại


- Nhà chị đi Vượt Biên nên Phường tới lấy.


- Ai nói là tôi đi vượt biên, tôi chỉ tạm sang ở bên bố, mẹ chồng tôi ở để tiện việc buôn bán chứ có bỏ cái nhà này đâu mà các anh định lấy.


Thế là chúng mới không lấy được cái nhà của tôi.


Lúc tôi về, chúng tôi chỉ còn lại căn nhà trống. TV, tủ lạnh, bộ Salon và cái xe Honda của tôi ngày xưa dùng để đi làm, đi dậy học, bên trường công Nguyễn Trãi cũng như bên những trường Tư như Trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân, trường Đắc Lộ trên đường Lê Văn Duyệt, xế cổng trại Dủ Hoàng Hoa Thám đã được lần lượt ra đi để lấy tiền ... thăm, nuôi tôi.


Tôi chỉ bị tù có 6 năm mà còn như vậy. Gia đình của các vị khác, họ bị tù lâu hơn tôi, thì còn thê thảm thế nào!!! Chưa kể đến gia đình của những vị đã bị chết trong "trại cải tạo" như gia đình Đại Tá Nguyễn Văn Của, cùng những gia đình khác mà tôi không biết.


oOo


Kể lại những chuyện này không phải là để bầy tỏ lòng căm hờn, thù ghét tụi Việt Cộng, mà đơn thuần là chỉ để mai này các con, cháu tôi nhớ lại những biến cố đã xẩy ra cho tôi.


Tôi sinh ngày 28 tháng 1 năm 1935, tới nay, tôi đã 84 tuổi rồi.


Tôi cũng sắp ra đi thôi


Xin tạm ngưng ở đây.


San Francisco, Thứ Tư ngày 8 tháng 5 năm 2019

Nguyễn Văn Khôi

(Đặc San Lâm Viên)




Qua những truyện tôi kể trên, những người là Lính Chiến như tôi phải tin vào SỐ MẠNG: Sống, Chết có Số.


Và Có nhiều dấu hiệu báo cho mình biết trước những điều May cũng như Rủi, như

Cái may mắn của anh em trong TĐ 2/7 mà Đại Uý TĐ Trưởng được báo trước.

Hoặc Cái xe Jeep cứu thương vào Pháo Đội B của tôi trên Bến Cát đã báo trước cái không may của Pháo Đội là Th. Uý Hòa sẽ bị Tử Trận.

Ngay trước khi gia đình tôi được rời VN sang Mỹ: Cây Mai trong vườn nhà tôi đã nở đẹp 2 lần để báo trước cái may của gia đình chúng tôi.

Một lần trước Tết, báo cho biết là chúng tôi sẽ nhận được cái L.O.I.(Letter of Introduction = Thư Giới Thiệu) của Tòa Đại Sứ Mỹ bên Thái Lan.

Có cái L.O.I. thì Sở Dịch Vụ Xuất Nhập Cảnh ở đường Nguyễn Trãi mới nhận (tiền) làm hồ sơ xin Xuất Cảnh

Lần thứ 2, gần Tết báo cho biết là gia đình tôi sắp được Phái Đoàn Mỹ Phỏng Vấn

(Tôi không đưa hình cây mai nở hai lần ra đây, vì không giữ được, nên không có gì làm chứng cho những thời gian đó được, dù đó là sự thật).

Sunday, March 8, 2020

Dầu Tiếng: Chiến Tranh và Hòa Bình
Lưu Thanh Bình
1. Dấu lặng trước cơn bão :
Năm 1972, năm thứ tám Mỹ đổ quân trực tiếp vào miền Nam, khi ấy dư luận Mỹ đã quá ngán ngẫm về một cuộc chiến tranh xa xôi tốn kém về người và của, nên Hiệp Định Paris là lối thoát hợp lý nhất, Hoa Kỳ chấp nhận hy sinh đồng minh để rút quân trong danh dự. Sau ngày 27.1.1973, ngày Hiệp Định có hiệu lực thì tình trạng ngưng chiến theo kiểu da beo xảy ra khắp miền Nam, dù hoà bình chỉ là tạm thời nhưng cũng thắp lên hy vọng vọng cho bao người, bao gia đình. Tại Dầu Tiếng, ranh giới là suối Dứa và suối Làng Hai. Hai bên bờ suối là hai màu cờ khác nhau. Buổi chiều, bên này bên kia ngầm thỏa thuận để lần lượt xuống suối tắm giặt. Trong kia là vùng an dưỡng, bệnh xá Miền. Còn chợ Trị Tâm thì hàng hoá đầy ắp vì đường liên tỉnh từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng thông suốt, xe đò Sài Gòn - Dầu Tiếng, Bình Dương - Dầu Tiếng chạy liên tục, dĩ nhiên phải mượn đường qua Tây Ninh ( Khiêm Hanh) vì Bến Súc đã là vùng giải phóng từ lâu. Do phải chạy vòng nên đường xa gấp đôi và giá cước cũng gấp đôi. Ai cũng biết phân nửa số hàng hoá đó đi về đâu, nhất là xà bông, pin đèn, vải nylon (để may võng), thuốc tây, hàng gia dụng và lương thực thực phẩm. Thân nhân ra vô thăm viếng nhau cũng dễ hơn. Và dĩ nhiên buôn lậu vô “trỏng” là nghề một vốn bốn lời, nhất là thuốc tây nên nếu gọi Trị Tâm là một thị trấn hậu cần của Mặt Trận GPMN cũng không ngoa. Khi đó bán kính an ninh của Trị Tâm chỉ có hơn 2 km mà thôi. Trên bản đồ, nhà đánh dấu đỏ chi chít. Đường Trường Sơn, Molotova mở đèn chạy sáng đêm mà không còn sợ B52 nữa. Giống như dân đi biển nhìn trời và bọt sóng có thể đoán trước cơn bão, người Dầu Tiếng bình thường cũng có thể đoán được những gì đang diễn ra trong rừng cao su với những dòng chảy tiếp tế liên tục không dứt từ ngoài thị trấn vào. Đó là dấu hiệu báo trước một cơn bão sấm sét sẽ đổ ụp xuống nay mai.
Sau Tết Ất Mão1975, Dầu Tiếng bước vào mùa khô, nắng gay gắt và bụi mù bốc lên theo từng chuyến xe hối hả chạy xuôi ngược. Không khí của Dầu Tiếng giống với vùng cao hơn là đồng bằng, nhiệt độ ngày đêm chênh lệch rất lớn, nhất là cái nắng khô hanh ban ngày rất khó chịu. Những dãy nhà mái tôn đứng im lìm, không gian nóng bức như đặc quánh lại. Buổi tối, gió núi và sương mù từ đồn điền cao su mênh mông thổi về, nghe như trong gió có tiếng xôn xao mơ hồ. Ban ngày, người ta gia cố vòng đai phòng thủ bằng những bao cát cao chất ngất. Radio loan báo tin thất thủ Phước Long kèm mấy bài hát rên rỉ nghe não lòng. Khi ấy, chương trình viện trợ khẩn cấp 300 triệu đô cho miền Nam đang nằm trên bàn họp của lưỡng viện Hoa Kỳ, và phái đoàn đại biểu sắp sang Sài Gòn. Chính quyền toan dùng lá bài thất thủ PhướcLong làm áp lực với Mỹ, nhưng đó chính là con dao hai lưởi, và quả nhiên chì mất mà chài cũng chẳng còn. Tiền không có mà tinh thần chiến đấu thì sa sút thảm hại. Cộng thêm phán đoán sai lầm về hướng tiến công chủ lực của quân đội miền Bắc (Ban Mê Thuột chứ không phải Pleiku), xem như số phận đã an bài. Và số phận cũng đã chọn quê hương Dầu Tiếng phải đổ nát tan hoang để Sài Gòn còn được nguyên vẹn.
2. Chiều 11 tháng 3 bên kia sông nhìn về Dầu Tiếng:
Tôi vẫn còn nhớ nắm cơm do sư cô ân cần trao cho chiều hôm đó, chỉ kèm chút muối đậu mà sao ngon quá. Sáng tinh mơ, do chạy trối chết băng sông nên trên mình tôi chỉ có bộ pyjama và quơ vội cái mắt kiếng cận. Lúc ra đến bờ sông đứng chờ đò, tôi mới thấy tiếc cái đồng hồ Longins mới sắm và cái bóp trong có giấy tờ tùy thân cùng tiền bạc. Nhưng biết làm sao, vầy là cũng hơn bao người rồi. Ngoảnh nhìn về bên kia sông, một vùng trời đầy tang thương, từng bựng khói đen bốc lên kèm tiếng ì đùng không dứt. Quanh tôi là những ánh mắt lo lắng đăm đắm nhìn về thị trấn, nơi ấy còn tài sản tích cóp bao nhiêu năm, còn những người thân kẹt lại giữa hai làn đạn. Và bọn người hôi của đang thả sức lùng sục. Trời gần về chiều, dòng người qua sông càng lúc càng đông mang theo bao nhiêu tin tức mới, càng gây thêm hoang mang lo lắng. Cánh đồng Bến Củi đông nghịt người hỗn độn xuôi ngược tới lui tìm thân nhân bị tản lạc và lo chỗ trú qua đêm.
Xế chiều thì có tiếng máy bay gầm rú nghe đinh tai điếc óc. Những chùm đạn pháo phòng không nổ lụp bụp trên bầu trời, in lên nền trời xanh những cụm mây trắng nhỏ. Hai chiếc F5 đảo lượn vài vòng rồi chúi xuống trút bom khu vực cổng Hãng, nơi có mấy chiếc T54 đậu trong sân. Rồi nghiêng cánh bay thẳng về Biên Hoà. Ngay tại đầu cầu Tàu, có một lô cốt dã chiến bằng bao cát, mái tôn. Chiều hôm đó, mấy chiếc tăng T54 lù lù bò từ trong ấp 4 ra và thong thả chỉnh hạ nòng trực xạ. Những quầng lửa đỏ pha cam phụt ra từ nòng súng trông như hoa chuối. Chỉ hai lượt là thổi bay nóc và còn trơ mấy bao cát vương vãi.
Dân Dầu Tiếng quá quen với tiếng đề pa của trọng pháo, nếu là một tiếng cốc khô khốc thì nhanh chóng cúi xuống, khoảng vài giây sẽ có tiếng rít xẹt ngang trên đầu. Còn nếu viên đạn rơi xuống gần thì dĩ nhiên không thể nghe được tiếng đề pa mà chỉ nghe ( hoặc không còn được nghe mãi mãi) tiếng ầm ầm cùng đất cát văng đầy người.
Có rất đông người trú trong một lò gạch ven sông, đêm hôm đó một số đã bị thương vong do một quả pháo lạc. Tôi may mắn đã rút ra ngoài đám ruộng trống từ chiều, do không chịu được không khí ồn ào chật hẹp. Không ai ngủ được vì tâm trạng rối bời, vì đạn pháo, những tiếng la hoảng bất chợt, tiếng trẻ nít khóc và hoả châu giăng đầy trời. Tiếng súng giao tranh chỉ còn nghe nhiều hướng chi khu, nhất là lựu đạn còn các nơi khác nghe rời rạc hoặc im hẳn tiếng súng.
Khi trời sáng thì đám đông hàng ngàn người rùng rùng chuyển động, không ai bảo ai cùng kéo về hướng làng 2 Bến Củi, về sau mới biết do quân Giải Phóng mở một khoản trống cho người dân chạy lánh nạn khỏi vùng chiến sự. Lần đầu tiên tôi thấy tận mắt nón tai bèo, súng AK băng cong báng gỗ và cờ xanh đỏ. Rất nhiều người ở trần chỉ mặc độc chiếc quần xà lỏn, nhìn biết ngay lính đào ngũ nhưng đối phương cũng chỉ khoác tay cho qua, không ai bị bắt giữ. Có lẽ vì đông quá (khoảng 5 ngàn người). Qua khỏi Bến Củi chừng hai km thì tôi và người bạn phát hiện ông quận trưởng bận quần xà lỏn đội nón lá rách tay cầm roi chăn bò lẫn trong đàn bò và đoàn người lánh nạn trong khi phía sau lưng, bên kia sông tiếng súng đạn đánh nhau còn ầm ầm (đa số sĩ quan chi khu đều chết vùi thây trong giao thông hào. Sau này chỉ phân biệt được nhờ tấm thẻ bài). Cũng giống như vậy là đồn suối Dứa, do bị vây bốn phía nên hầu như tất cả đều nằm lại tại đồn.Riêng hai đại đội tăng phái của tiểu đoàn ĐPQ 354 đóng ở vòng ngoài đều trở thành tù binh, bị dẫn bộ cắt rừng về Kà Tum trước khi thanh lọc. Riêng đồn pháo binh đóng tại ấp Một, mãi đến đêm 13 mới tự động tan hàng, khi đó quân số chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.
3. Sau ngày 30.4.1975:
Hồi đó thỉnh thoảng có một chiếc xe chạy vòng vòng quanh thị trấn giống như quảng cáo tuồng hát xưa kia, nhưng không phải quảng cáo mà là thông báo dân chúng tập trung “4 giờ chiều sân bay” để xem toà án quân sự cách mạng xét xử công khai. Chiếc xe này (hiệu Daihatsu) của một người buôn bán ngoài chợ, sau này cũng được trưng dụng trong chiến dịch đổi tiền và cải tạo tư sản công thương nghiệp. Cụm từ “4 giờ chiều sân bay” một thời rất nổi tiếng, cùng với những phiên toà không luật sư và thẩm phán.
H. nguyên là nhà thầu củi cao su, cưa cây gãy đổ và già cỗi, cũng là nhân vật trung gian giữa Tây chủ đồn điền và bộ phận kinh tài Mặt Trận GPMN. Nghĩa là nhận tiền thuế từ Hãng Michelin rồi đem vô rừng nộp. Nhưng không đưa đủ mà ngắt lại một khúc. Đồng thời làm gián điệp cho cả hai bên, nên công cũng lắm mà tội cũng nhiều. Khi bị toà án quân sự Thủ Dầu Một tuyên án tử hình thì ông khụy xuống, đi không nổi phải có người dìu lên xe ( không hiểu sao khi tội nhân đứng nghe đọc bản án thì được nhìn tự do, chỉ khi tuyên án xong thì mới bị bịt mắt).
Một ông khác là sĩ quan Ban hai (An ninh điều tra), nghĩa là “có nợ máu với nhân dân”. Bị cán bộ Dầu Tiếng xuống Sài Gòn lùng bắt và chở về xử tội. Khi nghe tuyên án thì ông đứng thẳng người, đưa mắt nhìn quanh và khẽ nhếch mép. Theo lời kể lại, khi đến hiện trường trong lô cao su ông ta còn xin ba điều: một là cho vợ con lãnh xác về chôn, hai là cho uống một ngụm nước (?), và ba là xin xử bắn chứ đừng chém. Vừa dứt lời thì một người bước ra nạt lớn : “ĐM mày, trước kia mày tra khảo ba tao tới chết mày có cho ổng uống nước không? …”
( bỏ một đoạn)
Thực ra bộ đội chính quy miền Bắc rất thân thiện và dễ gần, thậm chí còn hơi… ngây thơ nữa. Họ nhìn quanh cái gì cũng lạ lẫm cả. Ngán nhất là mấy tay 30, chỉ cần nghe tiếng nhạc vàng phát ra từ nhà ai là đàng hoàng bước vô tịch thu cái máy hát ngay. Khi đó người ta định nghĩa nhạc vàng rất đơn giản: tất cả nhạc nào không phải nhạc đỏ ( nhạc cách mạng ) là nhạc vàng. Cũng như toàn bộ sách ngoại văn đều là phản động, kể cả từ điển. Đường từ Dầu Tiếng về Bình Dương qua Bến Súc đã lưu thông trở lại mặc dù rất xấu, đá xanh lởm chởm, ổ gà ổ voi lu bù nên bác tài cho xe chạy tránh bên phải rồi lại đánh tay lái qua trái liên tục. Mỗi xã, mỗi ấp đều đổ ra đường làm cổng chào và chốt gác, quan trọng nhất là một cây tre đực làm barie sơ sài nhưng bất khả xâm phạm, một đầu cột một tảng đá to, đầu kia cột ghịt vào một cây cọc cắm sâu xuống đất, khi thả lỏng dây ra là tự nhiên thanh chắn sẽ ngóc đầu lên. Đường thì xấu, xe thì chật cứng người ta và hàng hoá, lại cứ dừng liên tục vì chốt gác nên từ Dầu Tiếng đến Bình Dương chỉ 60 km mà bò từ sáng đến xế trưa mới tới. Đến bây giờ tôi vẫn còn ớn khi hồi tưởng lại hình ảnh của mấy tay du kích quàng khăn sọc carô đen trắng, súng lăm lăm cầm tay, mặt hầm hầm như đang tìm kẻ thù giai cấp trên xe. Tất cả hành khách đều phải xuống xe đi hàng một qua trạm, bên trong có mấy cặp mắt nhìn lom lom thấy ghê. Trong khi đó một người lên xe đi suốt từ đầu trên xuống đầu dưới, quan sát kỹ cả dưới gầm ghế, không bỏ sót một vật gì. Rồi có tiếng quát: bịch -gạo -ai -đâây, bao - than - ai - đâây? (im lặng). Như vậy là đồ vô chủ, đáng phải bị tịch thu (bây giờ tôi nghĩ họ cũng còn sống cả vì khi ấy họ còn trẻ lắm. Có khi nào họ nhớ lại và cảm thấy xấu hổ không nhỉ? Thực ra họ cũng chỉ là cấp thừa hành). Nhiều khi hành khách đã đi bộ qua trạm, lên xe gần đủ nhưng phải chờ một hai người còn kẹt đứng năn nỉ bỏ qua cho một hai món hàng cấm. Bị cấm nghiêm ngặt nhất là thịt bò, thịt trâu vì đó là sức kéo nông nghiệp. Nhà nào muốn hạ thịt thì phải làm đơn xin phép. Nên lúc bấy giờ bò bị rắn cắn, bò đạp trái, bò té giếng …lu bù, toàn là lý do chính đáng cả.
Xin kể câu chuyện đố vui về bắt dế nhủi. Đầu đề như sau: có 10 tàn thuốc, biết rằng cứ 3 tàn thì quấn ( hút) được 1 điếu.Vây làm sao với 10 tàn thì quấn (hút) được 5 điếu ? Thoạt tiên thì nhiều bạn nghĩ dễ ẹt : lấy 9 tàn quấn hút được 3 điếu. Hút xong còn lại 3 tàn thì quấn hút được 1 điếu nữa. Vị chi là đã được 4 điếu.Và còn 2 cái tàn. Đến đây là bí chắc. Lời giải như sau : mượn ai đó một cái tàn , gộp lại 3 tàn quấn thành một điếu.Hút xong trả lại cái tàn cho người ta!!.
4. Số phận thầy cô giáo Dầu Tiếng:
Sau ngày hoà bình, tôi theo dòng người hồi cư trở về Dầu Tiếng trình diện chính quyền mới. Giáo chức được xếp chung loại với thơ ký quận, thông tin chiêu hồi, nhân viên bưu điện, y tá … bỏ chung vào một rổ gọi là nguỵ quyền. Không phải sinh hoạt chính trị ba ngày mà là tập trung học tập tại chỗ. Chúng tôi bước vào bài học thứ nhất: đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta. Xen kẻ là những ngày lao động cực nhọc: lá tranh được những người lính đang học tập cải tạo cắt và sau đó xe máy kéo của công ty cao su chở về sân trường, phần còn lại là của thầy cô giáo: chẻ lạt, đánh thành tấm và đưa lên lợp mái. Cả tỉnh Bình Dương khi ấy chỉ ở Dầu Tiếng mới có cảnh tập trung cải tạo thầy cô giáo. Một mảnh đất đầy thù hận và bạo lực. Vậy mà khi có lịnh từ Ty Tiểu Học, thả thầy cô giáo ra chuẩn bị khai giảng năm học mới, nhiều người vẫn còn hậm hực (!). Sau này khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1990, qua báo chí tôi được biết không hề có phân biệt đối xử giữa người Đông Đức và Tây Đức. Thậm chí nhà nước Tây Đức (CHLB Đức) vẫn trả lương hưu cho công chức Đông Đức bình thường bằng quỹ của CHLB Đức. Và cũng vì không có phân biệt đối xử nên bà Merkel, một người sinh ra và lớn lên dưới chế độ XHCN Đông Đức mới trở thành Thủ tướng Đức, một quốc gia có nền kinh tế đứng đầu châu Âu. Hay ở Nam Phi, khi chế độ Apartheid sụp đổ, dưới chế độ hoà giải hoà hợp của Nelson Mandela không hề có tịch thu tài sản hay trả thù dân da trắng, cũng như ông vẫn duy trì bộ máy chính quyền gồm rất nhiều người trí thức, những công dân ưu tú của quốc gia. Vì vậy ông mới được trao giải Nobel hoà bình. Cũng xin nhắc lại ông Nelson Mandela đã phải chịu ngồi tù 27 năm ròng rã vì tội đấu tranh cho quyền bình đẵng của người da đen. Và Nam Phi nay là một cường quốc ở lục địa Phi Châu. Giờ nhìn sang nước láng giềng Campuchia, chế độ Polpot từng bị lên án là khát máu, là dã man, là diệt chủng, là bài tập thực hành chủ nghĩa Mao trên xương máu của người dân vô tội, nhưng bây giờ chỉ có lèo tèo mấy ông già sắp xuống lỗ phải ra toà, và Campuchia là một quốc gia đã bãi bỏ án tử hình từ lâu. Trở lại chuyện Dầu Tiếng, những năm sau đó, giáo viên bỏ nghề hàng loạt vì đồng lương dưới - mức - sống - tối - thiểu. Đồ đạc trong nhà lần lượt đội nón ra đi. Những đồ cổ nay tái xuất giang hồ: cối đá, xe ngựa, xe than, thuốc rê, Xuyên Tâm Liên trị bá bệnh. Thầy giáo áo bỏ ngoài quần, mang dép lê. Phần các cô thì áo dài cắt thành áo ngắn, không còn đâu cảnh những tà áo dài tha thướt, yểu điệu đi giữa sân trường, tay cầm cây dù màu sặc sỡ nữa. Có lần tôi xót xa nhìn các cô đứng túm tụm, chia nhau từng thìa nhỏ bột ngọt, đó là tiêu chuẩn của mỗi người/tháng. Đúng là “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Ôi những con người chấp nhận số phận, nhẫn nhịn chịu đựng và nuốt cục nghẹn vào trong. Giờ điểm lại: người còn kẻ mất, kẻ ra nước ngoài người về thành phố, kẻ chuyển nghề người bỏ dạy. Chuyện cũ như nước trôi qua cầu, nay hầu hết tóc đã muối nhiều hơn tiêu, hồi tưởng lại sao luống ngậm ngùi. Còn những người cao giọng giảng về đấu tranh giai cấp, về chuyên chính vô sản; những người đã từng nổi giận vì bị chê Phòng Giáo Dục giống sạp trái cây Cầu Ngang thì giờ đây sở hữu hàng trăm héc ta cao su, đi xe hơi ở nhà biệt thự. Cũng có (tuy hơi hiếm) những con ngưòi ngay thẳng bộc trực sống cuộc đời liêm khiết như anh Ba H, khi sát nhập Dầu Tiếng và Bến Cát làm một huyện thì anh là Trưởng Phòng Giáo Dục, sau đó chuyển về làm trưởng phòng tổ chức công ty cao su Dầu Tiếng đến khi về hưu. Một cuộc đời đạm bạc và không màng tư lợi.
5. Vài kỷ niệm thời dạy học ở Dầu Tiếng:
Có người nói nghề dạy học là nghề đưa đò, vì các em ngày một tiến bộ: cấp hai, cấp ba, đại học và đi làm, còn thầy năm này qua tháng nọ cứ lấy sự tiến bộ của mấy lứa học trò làm vui. Vui vì được thấy em thành đạt, vui hơn khi được thấy em ngày thành gia thất, bây giờ càng vui hơn vì được các em mời thầy đến mừng các em ngồi làm sui. Bởi vì thầy cô tiểu học là người khai tâm mở trí thuở ban đầu cho con trẻ. Mỗi người phụ trách một lớp vài mươi em, dạy tất tần tật các môn, gặp nhau mỗi ngày nên học trò cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ hành vi thái độ ứng xử đến những điều căn bản như nét chữ viết, bản cửu chương, cách bao bìa dán nhãn, bảo quản tập sách, dạ thưa, chào hỏi, nói chung là học ăn học nói, học gói học mở… Các bạn nào đã từng có con nhỏ học tiểu học đều biết các cháu xem lời thầy cô là đúng tuyệt đối, nói gì là răm rắp nghe theo, phụ huynh không được “nghi ngờ”. Nên kỷ niệm về thầy cô tiểu học cũng in sâu đậm trong trí các em hơn là các thầy cô dạy môn sau này. Ở Dầu Tiếng, ngày 2 tháng 9 hàng năm là ngày các em mời thầy cô cũ về họp mặt. Rất nhiều em giờ là cán bộ lãnh đạo trong ngành cao su. Nhớ lại năm1978 khi tôi đang dạy học ở làng 18 (hiệu trưởng cũng phải đứng lớp vì thiếu giáo viên), khoảng 10 giờ sáng thì nghe xôn xao cuối lớp, hỏi thì có em nhanh nhảu trả lời dạ thưa thầy nó bị…xỉu. Sao vậy, sao xỉu? Dạ thưa thầy nó đói. Trời ơi, con trẻ sao khổ thế này! Tôi muốn rớt nước mắt mà phải kìm lại, giả lảng qua chuyện khác: xức dầu, bắt gió và cho em về sớm. Thực ra lúc đó tôi cũng đâu có ăn sáng (và chắc nhiều người cũng vậy). Không biết bây giờ em có còn nhớ thầy không, nhưng chuyện hôm đó theo tôi đến tận bây giờ. Tôi còn nhớ chỉ vài ngày sau thì trên radio có thông báo bộ đội Việt Nam đánh qua Campuchia.
Năm 1976 tôi dạy lớp năm trường Định Thành, lớp cuối cấp một vì có nghiệp vụ sư phạm chính quy. Lớp toàn học sinh nam, học rất giỏi; mặc dù trường lớp tạm bợ vì sau chiến tranh, lớp chỉ còn mấy bức tường, mái lợp tạm bằng tranh. Thường đến tiết cuối là thầy trò đều oải, nên tôi phải hâm nóng bằng mấy bài hát. Không hiểu sao chúng khoái hát bài “Bão nổi lên rồi” lắm, sau mới phát hiện chúng trêu người bạn tên Sơn có cha tên Hai Bảo. Biết vậy mà Sơn cũng gân cổ đập bàn hát to không kém ai. (Đúng là phong cách Hướng Đạo. Bạn trêu ta thì ta trêu lại!). Sơn bị sốt bại liệt từ nhỏ, cả hai chân đều teo tóp, đi lại phải chống hai tay mà lết. Nhà ba má em nghèo (ở ấp Hai) nhưng cũng cố cho con ăn học, mong em có chút chữ nghĩa nuôi thân. Tiếc là khi đó đã có máy tính, Internet gì đâu. Em học lực chỉ trung bình nhưng ngoan và vui. Thường làm trò bằng cách vắt hai chân lên cổ tức cười lắm. Một em học chung (tên gì tôi quên mất) thường đến nhà chở bạn bằng xe đạp, Sơn tự trèo lên baga một mình không nhờ ai, cũng có khi bạn cõng em về. Giờ em ngồi sửa quẹt bơm ga ở ngã ba cây Vừng , gần chợ chiều. Hôm rồi về thăm Dầu Tiếng thầy trò có chụp chung nhau một tấm hình kỷ niệm.
Mấy năm ở Dầu Tiếng tôi tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống… còn, nhất là lĩnh vực nông nghiệp: sạ, cấy, cắt, đập lúa; trỉa lúa gò, trỉa đậu, đặt hom khoai mì; quơ củi trong lô, làm cỏ mía, đặt trúm đặt lợp, đặt sa mùa cá chạy, thả đáy,trút đục, đánh bẫy lủi. Nhậu rượu đế mồi cua đinh, cá chạch, tép sống. Xin nói thêm về mùa cá chạy. Tháng năm, khi những cơn mưa lớn đầu mùa đổ nước trắng đồng và chảy ra sông suối, ấy là lúc cá sông ngược dòng tìm nơi đẻ trứng. Cuối năm, khi trời dứt mưa và trở gió thì cá lại theo nước xuống tìm đường ra sông lớn. Đó là quy luật ngàn năm của tạo hoá. Và con người cứ theo quy luật đó mà thâu tóm sản vật của đất trời. Những cơn gió chướng (gió Bấc) hiu hiu thổi vào lúc nắng sớm, người ta đặt những cái lợp làm bằng tre đan tại những nút thắt, cá theo dòng nước đổ chui vào nằm đó chờ người ta trút lợp, bao nhiêu tôm tép, cá lớn cá nhỏ đều nhảy tưng tưng (hoặc không đặt lợp mà thay bằng sàn tre đan khít cũng được). Thêm bánh tráng rau sống nước mắm ớt là được một bữa huy hoàng tại chỗ.
Có một dụng cụ để làm cỏ gốc khi cây cao su còn nhỏ, dân Dầu Tiếng không gọi là cái cuốc mà gọi là cái “xạc lai”. Hình chữ nhật cở hai bàn tay người lớn, một góc có tai để tra vào cán. Rất nhẹ, dễ dẫy cỏ, gom đống, kéo rê… đồng thời cũng dùng để làm cỏ đậu, dễ luồn lách giữa hai gốc, hai hàng đậu. Chỉ có dân làm cao su mới biết, khi hỏi dân xứ khác có biết cái xạc lai không thì họ hỏi lại “hả”, trông ngố lắm.
6. Xin giữ màu xanh cho quê hương:
Kinh tế Bến Cát bây giờ đã bỏ xa Dầu Tiếng rồi. GDP đầu người cao hơn gấp hai, gấp ba Dầu Tiếng, giao thông hết sức thuận lợi nên các dịch vụ như xây dựng, địa ốc, ngân hàng, bệnh viện, vận tải… rất phát triển, tư nhân sắm được xe hơi cũng nhiều hơn. Thị trấn Mỹ Phước dành hẳn phân nữa đất đai cho các khu công nghiệp, khu dân cư mới. Bây giờ nhìn chợ Bến Cát (cũ) đứng khép nép sao mà tội nghiệp trong khi khu dân cư mới với mấy khu phố thương mại, siêu thị thật hoành tráng. Nhưng cũng có một bộ phận mất đất đai nhà cửa nghề nghiệp cho công nghiệp hoá, cho các khu công nghiệp và hạ tầng giao thông. Rõ ràng người ta chấp nhận hy sinh quyền lợi của một bộ phận dân cư này để một bộ phận dân cư khác làm giàu. Tôi rất nghi ngờ hiệu quả của việc tái định cư. Cầm bó bạc đền bù và chun vô mấy cái nhà hộp bốn bề bê tông tường gạch ư?. Những người đã quen với cái cuốc, máy bơm tưới, liếp rau luống cải, quen với cái liềm cắt lúa cắt cỏ, giàn dưa leo, chiếc xe bò và những liếp bánh tráng. Những người đã quen với việc tiện đâu đái đó, đê mê ngữa mặt nhìn trời và thưởng thức gió mát hiu hiu thổi, bây giờ tập làm quen với bô tiểu bồn cầu. (Xin các bạn đừng cười, nếu ai đó nói đái đường không khoái thì tôi nói thật, đó là nói láo). Chuyển đổi nghề nghiệp ư? Có ai thống kê dùm đời sống người dân vài năm sau giải tỏa như thế nào ? Bao nhiêu % thành công, bao nhiêu % thất bại ? Khi trao tiền đền bù là xong phần trách nhiệm của nhà đầu tư rồi ư? Lái xe ôm, cất nhà trọ, buôn bán nhỏ,… Người ta cứ hay đưa lên gương điển hình như trồng chăm sóc hoa kiểng trong các khu công nghiệp, tiểu thương, chủ nhà trọ… nhưng bỏ qua cảnh ly tán, cốt nhục tương tàn vì đồng tiền đền bù giải tỏa rẻ mạt, đó là chưa kể nguy cơ tha hoá do có tiền đột xuất. Tôi biết có một trường hợp chồng chăn vịt chạy đồng, vợ trồng lài (hái nhụy ướp trà), ngủ một đêm thức dậy thành triệu phú. Việc đầu tiên là sắm ngay sợi dây chuyền vàng đeo xệ cổ và chiếc xe Dream II, vô nhà hàng karaoke, bia ôm mà gót chân còn nứt và móng còn dính phèn. Tự nhiên bạn bè nhiều vô kể. Và “người ta” sao mà thơm quá còn vợ mình thì chua lè.Và chuyện gì phải đến thì đã đến… Đã lâu tôi không còn nghe nói về anh ta nữa. Gọi là nạn nhân thì cũng đúng mà cũng có thể không đúng. Trở lại chuyện quê nhà, Dầu Tiếng có thể còn người nghèo, có thể còn cảnh chạy gạo từng bữa , có thể còn có những em nghèo học giỏi phải bỏ học dỡ dang vì gia cảnh. Nhưng những cảnh đó không điển hình. Nếu hai vợ chồng cùng là công nhân cao su, thì có thể lo ăn học tươm tất cho hai đứa con. Làng 14, làng 18 đã có trung học cơ sở (hết lớp 9), và làng 10 đã có trường PTTH ( hết lớp 12). Cầu trời mấy ông quy hoạch đừng “hoạch” quê hương (vợ) tôi, xin hãy giữ màu xanh cho con cháu, xem như của để dành. Thế mạnh của Dầu Tiếng là phát triển bền vững nhờ cây cao su, và du lịch sinh thái. Đó là con đường thoát nghèo căn cơ lâu dài. Nếu con đường Suối Giữa - Cầu Ông Cộ - Bến Súc hoàn thành thì từ Sài Gòn, Thị Xã TDM đi Dầu Tiếng có xa xôi gì ? Hồ Dầu Tiếng – Núi Cậu – Chùa Thái Sơn - Hồ Cần Nôm là một khu du lịch liên hoàn, ngay bây giờ đã là một nơi hành hương nổi tiếng, các tour du lịch viếng núi Bà Đen luôn luôn phải ghé qua núi Cậu trên đường về. Chỉ hơi tiếc là trước chùa có hàng trăm sạp bán hàng , quà lưu niệm mà có cái nào của Dầu Tiếng đâu: muối ớt Trảng Bàng, bánh tráng sữa, bánh tráng phơi sương, bánh tráng mè, khô cá, khô bò, vòng mã não, chuổi tràng hạt, hàng sơn mài, hàng đồi mồi, nón quạt lá buông,thú nhồi bông, kẹo dừa Bến Tre, quần áo sida ( second hand), mắt kiếng, dây nịt, cây củ rễ thuốc Nam vô bịch…. toàn là đem nơi khác tới. Hàng mây tre lá vắng bóng hẳn (đủa tre, đủa xới cơm, rổ rá rế, liềm cuốc, đục, nơm, lồng chim, giỏ bội…) trong khi chính đây lại là truyền thống của Dầu Tiếng. Mỗi năm, Dầu Tiếng đều có tổ chức cuộc thi chạy việt dã leo núi Cậu. (Một trong bốn cuộc thi leo núi truyền thống đầu Xuân, ba cuộc thi kia là: Núi Chứa Chan, Núi Bà Đen và núi Bà Rá). Một hình thức quảng bá du lịch địa phương rất tốt. Hôm rồi tôi khám phá được một bãi bồi ven hồ cỏ xanh mướt rượt, tôi cứ đứng nhìn bồi hồi ước gì được đưa các em Hướng Đạo Sinh đến đây tham quan cắm trại. Chỉ lo nếu các nhà làm quy hoạch biết được, lên dự án làm sân gôn hay trại ngựa giống thì…hu hu.

Hồ Dầu Tiếng
7. Ngày Tết, quê hương, đất nước, ông bà:
Thầy Gia Quang (ba của bạn Nguyễn Vinh Quy, tôi có nhắc tới trong bài Sân trường yêu dấu) hiệu phó trường Định Thành là bậc cha chú, khi bất đồng ý kiến là ông quát : Mày biết cái gì? Lúc tao đi dạy thì mày còn đang ở …Cuba lận. (Có khi còn ở dưới đầu gối của ba chớ không được Cuba nữa). Ngẫm cho kỹ ông nói cũng đúng. Thân xác này là hoa của đất, lớn lên từ đất mà. Hai tiếng quê hương, đất nước, ông bà… coi vậy mà thiêng liêng lắm. Nhất là chúng ta, những người được nuôi lớn lên từ sản vật của đất Dầu Tiếng và nước mát của nguồn sông Sài Gòn… Nếu lỡ có trăm tuổi thì hồn phách cũng vượt đại dương mà về nơi chôn nhau cắt rún. Ở dưới chắc không phân biệt địch ta gì đâu. Ngày 25 Tết đi dẫy cỏ mả ông bà, tôi thấy ai cũng tiện tay thắp vài nén nhang cho những nấm mồ bên cạnh cho đỡ hiu quạnh, cũng là truyền thống hoà hợp tốt đẹp của dân tộc ta đó. Riêng tôi thì cứ theo đúng lệ cũ : mồng một Tết cha, mùng hai Tết vợ mùng ba Tết Thầy. Nên mùng hai Tết về Dầu Tiếng là phải nghiêm chỉnh chấp hành nếu muốn chơi xả láng mấy mùng còn lại, có khi qua mùng tới mền cũng chơi luôn. Ngày ba mươi cuối năm nay là ngày Thứ Bảy 13.2.2010. Thường lệ, chiều hôm đó nhà của người Việt nào cũng có mâm cơm cúng ông bà gồm thịt kho hột vịt, dưa giá, bánh tét, tô canh khổ qua… mà rước ông bà về ăn Tết với con cháu. Khấn hương xong, bạn hãy đứng nhìn làn khói tỏa xem có lên cao thẳng như sợi chỉ không. Ấy là ông bà đang chứng minh cho lòng thành của bạn đó. Không biết bên Mỹ có mảng cầu dừa vừa đu đủ xoài xài không. Đó là ngụ ý muốn xin “ ngó lên thì không bằng ai, ngó xuống nhiều “ai” không bằng mình” đó mà. Xin nói thêm về trái khổ qua. Ba ngày Tết, đến nhà ai cũng thịt kho tàu, hột vịt, dưa giá, củ kiệu, bánh tét, củ cải mặn, bánh tráng… thét phát ngán tới cổ họng. Chỉ còn canh khổ qua là húp được. Đăng đắng hợp với khẩu vị đám cháu ông Lưu Linh. Mà sao bây giờ trái lớn, dầy cơm, và ít đắng quá. Một người bạn (là anh Giàu, rể của lớp B5) chỉ cho bí quyết giữ cho trái khổ qua không rục vì hâm đi hâm lại: bỏ nồi canh khổ qua vô tủ lạnh, ăn tới đâu múc ra hâm lại tới đó ( nếu có lò vi sóng thì càng tốt) như vậy lúc nào võ cũng dòn (hình như ai cũng khoái ăn võ hơn ăn thịt). Hồi nhỏ, tôi vừa mong Tết mau tới mà cũng sợ muốn chết vì cái khổ chùi lư. Một bọc trái khế chua để trước mặt kèm theo mớ giẻ vụn và chai dầu hôi. Chà đi xát lại còn hơn Mỹ đi càn mà nó không chịu bóng. “Teng” (xỉ đồng) ra đen thui cả mấy ngón tay. Xong rồi đem phơi nắng, lau lại lần chót trước khi đưa lên bàn thờ. Bây giờ có dịch vụ chùi lư rồi, người ta treo bảng chùi lư … lấy liền đầy đường. Sướng thiệt. Thứ hai là ngắt đuôi cọng giá trước khi làm dưa (ngâm nước muối). Trời đất ơi. Chị em tôi cứ vừa làm vừa thở dài sườn sượt như con gái bị ép gã vậy. Thứ ba là lặt lá mai. Xong rồi phải hốt dọn gom đốt nữa chứ. Giờ có dịch vụ cho mướn chậu mai ba ngày Tết hoặc mướn bảo quản chăm sóc suốt năm, chớ nhà chung cư hoặc phố liên kế lấy đâu ra mặt bằng mà chứa. Cuối cùng là rửa nhà. Nghĩa là muốn lấy được tiền lì xì cũng chua lắm. Ngày nay, đến Tết trai thanh gái lịch Dầu Tiếng và vùng lân cận hay rũ nhau đi chơi núi Cậu, lễ chùa Thái Sơn và tụ tập sinh hoạt tại hồ Than Thở. Vui lắm. Tôi có đứa cháu vợ năm rồi phải bỏ thầu cả trăm triệu mới được giữ xe khu du lịch Núi Cậu. Nếu được bỏ phiếu chọn biểu tượng Dầu Tiếng tôi sẽ chọn hình ảnh dãy núi Cậu và hồ Dầu Tiếng.Và con chim đa đa.
Lưu Thanh Bình
12 - 2009