Showing posts with label mang búc. Show all posts
Showing posts with label mang búc. Show all posts

Saturday, September 7, 2024

HỒN MA LÍNH MỸ VÀ LÍNH THƯỢNG TRONG RỪNG MĂNG CANH.

JOINT OPERATIONS MAP: Bản đồ trại Plateau Gi, trại Mang Búc, và rừng Măng Canh. Theo bản đồ, trại Chương Nghĩa nằm kế liên tỉnh lộ (LTL) từ Kontum đi Quảng Ngải. Sau này, trại Plateau Gi đổi thành chi khu Chương Nghĩa. Ở khu vực này có tượng Đức Mẹ cụt tay Măng Đen rất nổi tiếng -- hiện nay là địa điểm hành hương của người Công giáo VN.

                                

BẢN ĐỒ KON SƠM LUH


Lời nói đầu: Plateau Gi là một cao nguyên che phủ bởi rừng và cỏ, nằm giữa Sông Dak Nghe Dak Pone, khoảng 24 dặm hay 38,6 km đông bắc của tỉnh lỵ Kontum của Cao nguyên Trung phần của VN. Plateau là chữ Pháp của "cao nguyên" và Gi là viết tắt của chữ Garde Indigène để chỉ những người Thượng đi lính nghĩa quân thời Pháp. Hơn nữa, có 1 đồn cũ của Pháp ở đây và bị chiếm bởi VM năm 1954. 

Trại Plateau Gi, nằm ở rìa phía tây của cao nguyên này, thành lập đầu tiên vào năm 1962 bởi CIA như một phần của chương trình DSCĐ. Năm 1965, LLĐB Mỹ lập một toán A tại trại Plateau Gi. Như hầu hết những trại LLĐB Mỹ khác ở Cao nguyên, Toán A-242 ko có đường lộ để nối kết với thế giới bên ngoài. Trại được tiếp tế nhờ 1 phi đạo, nằm gần trại, làm bằng vỉ sắt PSP trên đất đỏ. Trại hình tam giác, nằm ở 1/4 dặm phía đông bắc của phi đạo, và được bảo vệ bởi một bãi mìn. Một đường bằng đất từ phi đạo là con đường an toàn đến trại, xem hình. Trong ảnh, một máy bay C-7 Caribou đang đáp xuống phi đạo.                            

                          




Trong mùa xuân và hè năm 1967, một khía cạnh đặc biệt kinh khủng (grisly) trong khu vực này ở bắc thị xã Kontum liên quan đến việc khám phá gần như liên miên (constant) những hài cốt của những đụng độ trước đó. Vào tháng Sáu, một số hài cốt của lính LLĐB Mỹ và DSCĐ đã được khám phá bởi các toán tuần tiểu ở vài địa điểm khác nhau. 

Một số người nói rằng rừng núi phía bắc của Kontum bị sương mù bao phủ này đã bị ám ảnh bởi hồn ma của những người chết. Thật như vậy khi rừng núi này đầy tiếng kêu khóc và thì thầm, đặc biệt vào buổi tối. Rừng Măng Canh, bắc của Plateau Gi, là một chỗ như vậy. 

Ngày 11/7/1967, là một ngày mùa hè tiêu biểu của VN. Mưa nặng hột từ gió mùa tây nam rơi khắp phần lớn Cao nguyên miền Trung. Tầm nhìn hạn chế với trần mây rất thấp khiến mọi phi vụ khó khăn. Tuy nhiên, điều kiện thời tiết như vậy, lại là lý tưởng đối với kẻ thù khi họ cần di chuyển vào ban ngày.

Vào ngày đó, đại úy William Fergusson, trại trưởng, cùng với chuyên viên bậc 4 hay SP4 Harvey Colvin, và TS Martin Robert Grossman, y tá, dẫn một đ.đ. DSCĐ trong một nhiệm vụ thám thính và lục soát ở phía nam của trại. Grossman, mới tới trại ba ngày trước đó, ngày 8/7, đã tham dự cuộc tuần tiểu này. Lúc 3g chiều, Fergusson và đv nhỏ của y đã lập một vị trí dọc theo một đường xâm nhập, mà họ đã biết từ lâu, từ đường mòn HCM bên Cam-bốt. Y hy vọng sẽ phục kích một đ.đ. vận chuyển của CSBV đưa vũ khí và tiếp tế vào VNCH.

Chỉ một lúc sau, một người Thượng đơn độc và một con chó xuất hiện đi lên đường mòn. Khi con chó đánh hơi người, nó sủa báo động, và cả hai quay đầu, chạy ngược về phía sau. Đại úy Fergusson phỏng đoán người Thượng này là một trinh sát của địch. Y ra lịnh cho Colvin và khoảng 30 DSCĐ đuổi theo. Y dặn Colvin cố gắng thu lượm tin tức và tránh giao chiến vì ko muốn lộ vị trí phục kích của đ.đ.  

Dẫn lính DSCĐ, Colvin đi xuống đường mòn. Gần một điểm vượt sông ở cuối đường mòn, Colvin đã thấy những phần tử của 1 đv CSBV di chuyển về hướng tây. Một người lính DSCĐ đã nhận thấy một sq CSBV chỉ huy một khẩu súng máy cỡ nòng lớn ngay gần đường mòn. Bất chấp lời dặn trước đó (admonition) của Fergusson, lính Thượng đã lập tức nổ súng và lấy khẩu súng này. Sau này Fergusson giải thích, "Có một phần thưởng 35 đô cho một khẩu súng máy. Số tiền lớn cho lính Thượng." Chỉ trong giây phút, rừng rậm chung quanh đầy tiếng súng tự động và tiếng nổ. Những kẻ phục kích, ý nói lính DSCĐ, giờ đây bị phục kích.

Chỉ trong thời gian ngắn, vài lính DSCĐ bị thương. Tuy nhiên tổn thất quan trọng nhứt là máy truyền tin bị phá hủy, và nó là liên lạc duy nhứt giữa Colvin và Fergusson.

Ở đầu phía trên của đường mòn, đại úy Fergusson nghe tiếng súng nổ vang ở gần chân núi. Fergusson liền gọi Colvin nhưng ko được. Y liền tập hợp 50 DSCĐ để tiếp cứu Covin. Y tá Grossman, do đang bị nhiễm trùng đường ruột, đã ở lại với khoảng 40 DSCĐ. 

Fergusson đã nhanh chóng tìm được vị trí của Colvin và đồng đội. Họ đã bị lọt vào ổ phục kích hình chữ "L". Họ sẽ bị bao vây và tiêu diệt, vì lực lượng địch ko phải là một đ.đ. vận chuyển trang bị nhẹ, như họ nghĩ, mà một đv lớn, tăng cường bởi một đ.đ. trang bị cối và súng liên thanh. 

Địch đã ở sát đến độ họ có thể ném lựu đạn Trung Cộng vào DSCĐ, và những người này nhanh chóng chụp và ném trả. Chỉ sau vài phút, đại úy Fergusson nghĩ rằng ông sẽ bị cầm chân. Ông gọi gấp về trại để cầu cứu. Trại liền chuyển tiếp tin này về Kontum. 

Thiếu tá Walt Potock, là tiền sát viên không quân đang trực tại Kontum. Dù thời tiết xấu, y cất cánh lập tức. Để tới trại Plateau Gi, y phải bay dưới trần mây và phía trên thung lũng chật hẹp của Sông Dak Nghe. Y càng bay, thung lũng càng hẹp. Mây thấp đến nỗi đã che những đỉnh núi quanh y. Khi cách Kontum khoảng 20 dặm, y thấy có một khoảng trống hẹp trên núi dẫn xuống một đồng bằng rộng lớn có rừng chen lẫn với cỏ -- đó là Plateau Gi. Y đã bay đoạn đường từ Kontum đến Plateau Gi dài 24 dặm trong chỉ 20 phút. 

Sau khi tới khu vực, Potock liên lạc với Fergusson. Fergusson báo cáo tình hình, và đánh đấu vị trí bằng lựu đạn khói. Potock hạ cao độ còn 400 feet, ngay sát tán rừng, để dụ địch nổ súng hầu phát hiện mục tiêu và câu giờ để Fergusson và Colvin lập chu vi phòng thủ. 

Potock cho Fergusson biết, do thời tiết và địa thể, rất khó đánh bom. Vì Fergusson khẩn hoảng cầu cứu, Potock nói rằng y sẽ cố gắng giúp đỡ Fergusson. Y gọi hai máy bay Skyraider, xuất phát từ Pleiku, bảo họ tới trại Mang Buk -- nằm trên sông Dak Nghe, và 18 dặm tây bắc của Plateau Gi. Khoảng 45 phút sau, Potock gọi Fergusson nói rằng y sẽ rời vùng để gặp Skyraider ở Mang Buk. Hai chục phút sau, Potock trở lại với hai Skyraider. Khi địch nghe tiếng máy bay Skyraider, họ đoạn chiến và tìm cách vượt sông. Potock đánh dấu địch bằng hỏa tiển khói. Sau đó y hướng đẫn Skyraider thả bom chùm vào các vị trí địch và những nơi nghi ngờ đường rút lui. Thành công mỹ mãn vì địch ngừng tấn công DSCĐ.

Sau đó, khi lục soát kỹ lưỡng khu vực phát hiện chín xác và ngoài ra còn nhiều vết máu. Ngày kế, TĐ 1/12 của sđ 1 Không kỵ được đổ quân để lục soát khu vực, đếm được tổng cộng 21 xác bắc quân, bao gồm TĐ trưởng.

Hành động trên đây đã được ghi nhận trong Báo cáo Hành quân của Liên đoàn 5 LLĐB cho giai đoạn chấm dứt ngày 31.7.1967:

"Các thành phần tham dự cuộc HQ lục soát của trại Plateau Gi A-243 tại Tỉnh Kontum, đã chạm súng với 1 đ.đ. tăng cường của csbv lúc 1500g ngày 11.7. Họ bị tấn công bằng súng cối 82 ly và súng tự động cho tới 2030g. Địch đã rút khi pháo binh can thiệp. Kết quả: 6 lính dscđ bị thương, chín bắc quân chết, và tịch thu hai AK-47."

"Cuộc chạm súng xảy ra vào ngày 11.7 khi một toán tuần tiểu gồm 30 DSCĐ của trại LLĐB Plateau Gi phục kích một đ.đ. tăng cường của csbv di chuyển từ tây sang đông trên một đường xâm nhập. Sơ khởi có hai cán binh csbv chết. 90 lính DSCĐ của trại được gửi tới để tăng cường cho đv này. Sau khi máy bay ném bom, các DSCĐ chuẩn bị tấn công. Nhưng họ đã hoãn tấn công khi biết lực lượng địch quá đông về võ khí và quân số. Pháo binh từ sđ 1 Không kỵ đang có mặt trong vùng đã yểm trợ cho dscđ rút lui. Ngày hôm sau ba đ.đ. của TĐ 1/12 không kỵ được trực thăng vận chở tới trại, nhưng lục soát ko kết quả vì địch đã rút.

Sau đó một sự kiện hơi buồn cười đã xảy ra. Khi DSCĐ của trại trở về trại, họ đi hàng một dọc theo một đường mòn trong rừng tối. Trong những trường hợp như vậy, những chướng ngại gặp trên đường đi được người đi trước nhận dạng và chuyển về người đi sau bằng các từ như "Có đá phía trước hay khúc gỗ, v.v..." Đối với người Thượng, rừng là nhà và ko có gì khiến họ sợ hãi. Do vậy khi họ gặp một con rắn hổ mang vua, họ đã ko nói điều đó với kẻ đi sau. Họ chỉ cần bước qua một bên. TS Grossman, chưa bao giờ gặp rắn này, nên đã bắn gần 1 loạt đạn M-16 vào rắn. Cả đ.đ. ko biết gì hết, đều nằm xuống, tìm chỗ núp. Sau khi biết được sự thể, đoàn quân tiếp tục.

NÓI THÊM về thiếu tá Wal Pollock. 

Cũng như các phi công khác, Walt Pollock, trước khi đến VN phải tham dự lớp Mưu sinh Thoát hiểm (Jungle Survival School) tại căn cứ Clark ở Philippines. Mọi học viên được phát trang bị tối thiểu như sau -- 1 cái dù (để làm lều hay võng), một cái mùng, poncho, túi đeo lưng, bi-đông nước, và 1 con dao. Trong 4 hay 5 ngày, họ học cách mưu sinh sau khi máy bay bị bắn rơi, làm cách nào để nhóm bếp mà ko có diêm quẹt, tìm kiếm và nấu thức ăn (phần lớn là các loại rể giống khoai tây), cách kiếm nước uống từ cây cỏ trong rừng, v.v...

Sau đó Pollock đến căn cứ Tân Sơn Nhứt Sài Gòn và đi học 1 lớp để làm quen chiến trường VN tại căn cứ Bình Thủy. Sau đó Pollock được gửi đến căn cứ Nha Trang để phục vụ tại Phi đoàn Không yểm Chiến thuật 21, viết tắt là TASS 21. Sau đó Pollock bay lên Pleiku nơi đặt BCH của TASS 21, và sau đó chuyển về căn cứ Kontum.

Kể từ năm 1966, năm Phi đoàn Không yểm Chiến thuật hay TASS được thành lập để yểm trợ các cuộc hành quân (HQ) trong 4 vùng chiến thuật. 

TASS 19 đặt tại căn cứ Biên Hòa.

TASS 20 đặt tại căn cứ Đà Nẳng

TASS 21 đặt tại căn cứ Pleiku

TASS 22 đặt tại căn cứ Bình Thủy.

TASS 23 đặt tại căn cứ Nakhon Phanom Thái Lan để yểm trợ HQ tại Lào và Cam-bốt.

Trước khi Pollock tới VN, đã có 13 tiền sát viên không quân, viết tắt là FAC của TASS 21 tử trận. Hai người mới nhứt là đại úy Hilliard Wilbanks, 34 tuổi, bị bắn rơi ngày 24.2.1967 sau khi nhận dạng và can thiệp kịp thời 1 cuộc phục kích được ngụy trang rất kỹ nhắm vào một TĐ BĐQ của nam VN. Người kế là thiếu úy John Wayne Mower, 26 tuổi, đã bị bắn rơi khi định cất cánh từ trại LLĐB Plateau Gi của Toán A-243 ngày 25.3.1967. Trên máy bay có trung sĩ LLĐB Albert Files, Jr. của Toán A-243. 

=========

CHUYỂN GIAO TRẠI LLĐB PLATEAU GI CHO QLVNCH

Plateau Gi, Nam Việt Nam, 20/01-- Mười quân nhân Mỹ đã bàn giao trách nhiệm cho 10 quân nhân VNCH, lên một trực thăng và với những lời giả từ đầy trìu mến.

Đây là trại thứ sáu trong số 62 trại của Nam VN được người Mỹ chuyển giao toàn diện cho VN, và việc chuyển giao này là biểu tượng của những chương trình nhiều tranh cãi về việc rút vài ngàn quân Mỹ năm nay. 

10 người Mỹ này thuộc Toán A-234 LLĐB phụ trách một tiền đồn phòng thủ vững chắc với 450 lính Thượng ở khoảng 300 dặm Anh đông bắc Sài Gòn. Thay thế họ là 10 sq và trung sĩ của LLĐB VN. 


Chuyển ngữ từ: HFCI1603.pmd


Thursday, September 7, 2017

MỘT VÍ DỤ VỀ CÁI CHẾT ĐƯỢC BÁO TRƯỚC CỦA VNCH: TRẠI MANG BÚCCHI KHU CHƯƠNG NGHĨA THẤT THỦ NĂM 1974.

- Chiến trường quyết định bởi quân nhu -- Châm ngôn quân sự của Pháp 

Lời nói đầu: do quân viện cho VN bắt đầu bị cắt giảm sau HĐ Paris 1975, quân đội VNCH đã chiến đấu trong tình trạng khan hiếm mọi thứ từ xăng dầu đến đạn dược đến độ năm 1974 cả tỉnh Kontum chỉ có một chiếc Chinook CH-47 phụ trách tiếp tế, phần lớn tiếp tế hay tản thương dựa vào đường bộ, lính viễn thám phải đi bộ vào mục tiêu...
Bài viết sau nói về hậu quả nghiêm trọng do quân viện bị cắt giảm mạnh và hai ví dụ điển hình của hậu quả này - đồn Mang Búc và chi khu Chương Nghĩa thất thủ năm 1974. 

". . . Vào giữa năm 1972, lực lượng CS ở miền Nam gồm có 176.000 quân CSBV chia thành 11 sư đoàn và 24 trung đoàn biệt lập, cộng thêm 200.000 quân thuộc các đơn vị tỉnh và địa phương của MTGPMN.
Quân lực VNCH lúc đó có 200.000 quân gồm 13 SĐ bộ binh được sắp xếp như sau: quân khu 1 có 3 SĐ bộ binh + SĐ dù + SĐ TQLC + 1 thiết đoàn + 6 tiểu đoàn BĐQ. QK 2 có 2 SĐ bb, 1 thiết đoàn và 18 TĐ BĐQ. QK 3 có 3 SĐ bb, 1 thiết đoàn, 9 TĐ BĐQ. QK 4 có 3 SĐ bb, 1 thiết đoàn và 12 TĐ BĐQ. 
Mổi thiết đoàn có 1 chi đoàn chiến xa hạng trung M-48 và 2 chi đoàn thiết kỵ ( gồm có 1 chi đội chiến xa hạng nhẹ M-41 và 2 chi đội thiết vận xa M-113); riêng QK 4 vì nhiều vùng sình lầy nên chỉ có M-113, không có chiến xa. 
Thêm vào đó là 283.000 quân của 323 TĐ địa phương quân và 184.000 nghĩa quân. KQ của VNCH có 30.000 người và 1.200 máy bay.
Lực lượng quân CSBV tiếp tục phát triển trong năm 1974. Vào tháng 3, họ đã có 185.000 quân chính qui tại miền nam, hỗ trợ bởi 500-700 chiến xa, 350 khẩu đại bác 122 và 130 ly, và 24 trung đoàn phòng không trang bị hỏa tiển SAM-2, SAM-3, và SAM-6. (Lúc đó đã có hỏa tiển tầm nhiệt vác vai SA-7* xử dụng tại miền Nam, gây rất nhiều thiệt hại cho máy bay bay chậm như trực thăng -- người dịch). 
Trong lúc đó, các đơn vị của VNCH ngày càng thiếu thốn vũ khí/đạn dược khi quốc hội Mỹ cắt giảm lớn lao nguồn quân viện cho VN. Không Quân chỉ còn xử dụng 921 máy bay trên 1277 chiếc, và sự thiếu hụt về xăng dầu/đạn dược đã buộc họ cắt giảm 40% phi vụ và 60% hỏa lực kể từ 1973.
Nếu trong khi năm 1972, QLVNCH đã được tiếp tế 66.500 tấn chiến cụ/tháng, thì kể từ tháng 7/1974, con số này là 18.267 tấn/tháng. Kho vũ khí của QLVNCH giảm đi ¼: không có trực thăng và chỉ có BỐN chiếc F-5 được thay thế cho những chiếc bị bắn rơi hay bị tai nạn lúc hành quân. QLVNCH chỉ còn xử dụng 1/5 đạn dược và 1/10 xăng dầu nếu so với lúc quân viện được tiếp tế đầy đủ. Người lính bộ binh chỉ được xử dụng 85 viên đạn/ngày và mỗi khẩu đại bác là bốn viên/ngày.
Kể từ tháng 9/1974, toàn bộ các trực thăng (trên cả nước) chỉ thực hiện được 2.000 giờ bay/tháng bao gồm tải thương. 1/5 máy bay phải nằm ụ và đại bác thì chỉ còn xử dụng BA quả mỗi ngày.
Trong khi đó, quân CSBV đã lên tới 200.000 người với 600 khẩu pháo và 1000 chiến xa. Quân lực VNCH, tính tới đầu năm 1975 trên giấy tờ là 450.000 người, kể luôn luôn thành phần tiếp vận. Bao gồm 11 SĐ BB, 1 SĐ Dù, 1 SĐ TQLC, 2 trung đoàn biệt lập, 21 thiết đoàn thiết giáp**, 43 TĐ BĐQ và 18 TĐ pháo binh. Mức độ đào ngũ là 24.000 người/tháng. Con số đầy kinh hoàng này cho thấy tinh thần chiến đấu sa sút của QLVNCH tính tới cuối năm 1974. Sự gần như bỏ rơi của đồng minh (Mỹ) và thương vong tiếp tục cao đã làm suy yếu rất nhiều (ate up away at the spirits) tinh thần các cấp trong QLVNCH..." (HẾT).
Dịch từ : The Vietnam War, 1959-1975, trang 206-7.
NHẬN XÉT: Câu nói "chiến trường quyết định bởi quân nhu" đã rất đúng khi áp dụng vào tình hình quân sự trước khi miền Nam sụp đổ. Vì quân viện Mỹ cho VNCH bị cắt giảm mạnh tới 80 % nên mỗi đại bác chỉ được bắn 3 quả mỗi ngày, lính bộ binh chỉ được bắn 85 viên mỗi ngày, v.v... Lúc đó tôi đang hành quân ở 1 TĐ bộ binh của SĐ 7 nên rất hiểu sự nghiêm trọng của vấn đề này. Có lần tiểu đoàn hành quân trực thăng vận mà chuyển quân từ sáng đến chiều mới xong - đánh chác được gì khi chuyển quân kiểu đó! 
San Jose ngày 14.12.10 lúc 1:33 sáng.

* Theo wiki, có khoảng từ 40-50 máy bay trực thăng và cánh quạt của VNCH và Mỹ bị SA-7 bắn rơi trong giai đoạn từ 1972-75. Theo 1 nguồn tin, hỏa tiển này đã dùng từ 1968.
** 
Tính đến năm 1975, lực lượng Thiết giáp Việt Nam Cộng Hòa gồm có 1 Bộ Tư lệnh tại Trung ương và 4 Bộ tư lệnh Lữ đoàn tại 4 Quân khu, trong đó gồm có: 3 Thiết đoàn chiến xa M-48, 14 Thiết đoàn thiết kỵ M-113 và 6 Thiết đoàn chiến xa M-41 được phối trí đều và thích ứng theo địa hình cho 4 vùng chiến thuật: Vùng 1, 2 và 4, mỗi vùng 5 Thiết đoàn, Vùng 3 có 6 Thiết đoàn. Ngoài ra phối trí cho các Tiểu khu, mỗi Tiểu khu có 1 chi đội thám thính xa Cadillac Gage Commando Vehicle V-100 (di chuyển bằng bánh hơi, rất cơ động và nhanh lẹ). Một Chi đoàn gồm đủ các loại: M-48, M-41, M-113 và V-100 để cho khoá sinh tập huấn tại Trường huấn luyện Thiết giáp. Số còn lại thuộc dụng Bộ Tư lệnh Thiết giáp Trung ương. Tổng số là 21 Thiết đoàn.

==========
...
TRẠI MANG BÚC 
Nằm trên một ngọn đồi kế sông Dak Nghe, khoảng 4.000 bộ hay 1.219 m trên mặt biển, trại Mang Búc, có một sân bay, nguyên trước đây là một trại LLĐB của Mỹ, cách Kontum hơn 50 km về phía đông bắc và khoảng 30 km tây bắc của chi khu Chương Nghĩa, còn gọi là Plateau Gi, cũng từng là một trại LLĐB Mỹ, cũng có một sân bay.  
Một đường tiếp tế của cs, địa phương gọi là A-16, nối Kontum với tỉnh Quảng Ngải và Bình Định, đi ngang phía nam Mang Búc. Một đồn nhỏ đặt ở Mang Búc gồm hai đại đội (đ.đ.) ĐPQ và hai trung đội nghĩa quân (NQ), ko khả năng quấy rối mọi di chuyển trên đường này. Chi khu trưởng đóng tại Chương Nghĩa được lịnh phải giữ một đ.đ. trong trại và tuần tiểu xa tới hai km. Hỏa lực của trại gồm hai khẩu 106 ly không giựt, xem hình, hai cối 81 ly, và vài súng đại liên.
              
Súng không giựt 106 ly

Nhận thức được đe dọa của Mang Búc cũng như dễ bị tấn công, tỉnh trưởng Kontum, trung tá Mai xuân Hậu, đã cho dân di tản khỏi đồn này từ tháng 6/74; nhưng vào lúc cs bắt đầu bao vây vào ngày 25/7, vẫn còn 800 người ở lại.
So sánh với các cuộc bao vây khác, ở Mang Búc nhẹ hơn: chỉ có 3.000 đạn pháo rơi vào trại giữa 25/7 - 4/8, trong khi chi khu trưởng báo cáo có 55 địch chết. Ngoài hỏa tiển 107 ly, còn có cối 82 ly. Ngày 18/8, sau một thời gian im tiếng súng, trại lần nữa bị pháo nặng. Ngày kế, hai TĐ của trung đoàn 66 sđ 10 csbv, hỗ trợ bởi pháo, đã tràn ngập trại. Không có pháo binh và ko có không yểm do trần mây thấp, những lính trú phòng rút về Chương Nghĩa, tiền đồn cuối cùng của tỉnh Kontum. Địch quân ko còn ở xa nữa.
...
Trong giai đoạn một của cuộc bao vây trại Mang Búc (ở đông bắc tỉnh lỵ Kontum), đang diển ra, phần còn lại của tỉnh Kontum tương đối yên. Ngày 2/8/1974, Chuẩn tướng Lê trung Tường, Tư lịnh (TL) của sđ 23 VNCH và trách nhiệm an ninh của các tỉnh Tây nguyên (Kontum, Pleiku, Darlac và Quảng Đức), đã chuyển Bộ tư lịnh (BTL) chánh của ông từ Kontum về một vị trí, có lẽ là Hàm Rồng, từng là trại Enari của sđ 4 bộ binh Mỹ, gần trung tâm hơn đặt tại Pleiku - cũng là nơi đặt BTL QĐ/QK-2. Tại Kontum, ông để lại BCH tiền phương và một đv bộ binh khá lớn (sizable) dưới quyền chỉ huy của TL phó - ĐT Vũ thế Quang. Lực lượng (LL) dưới quyền ĐT Quang gồm trung đoàn 45 VNCH (do ĐT Phùng văn Quang chỉ huy), nhiệm vụ bảo vệ những đường tiến sát từ hướng ĐÔNG BẮC vào thị xã Kontum và hành quân (HQ) trong vùng rừng núi giữa liên tỉnh lộ 5-B (LTL-5B) đi từ Kontum đến Quảng Ngải và TIỀN ĐỒN 4. Ở khoảng 15 km đông bắc Kontum, tiền đồn 4 đã mất sau một cuộc tấn công của csbv vào mùa hè và chưa bao giờ tái chiếm bởi quân VNCH. Tiền đồn này đã từng là căn cứ để đánh phá một con đường của csbv, còn gọi là ĐƯỜNG 715, mà quân cs xây dựng chạy từ Võ Định, đông bắc Kontum, tới Bình Định. Phía bắc tiền đồn 4 là TIỀN ĐỒN 5, cũng với nhiệm vụ như trên, cũng đã mất trong mùa hè. (Chú ý: tiền đồn 5 này khác với CĂN CỨ 5, nằm phía tây QL-14 và phía nam Dak To, nơi xảy ra ác chiến giữa bộ binh và Dù VNCH với quân csbv trong năm 1972 --người dịch). 
ĐT Quang đã có trung đoàn 40, thuộc sđ 22 VNCH, bảo vệ những đường tiến sát tây bắc vào TP Kontum. Hai TĐ của trung đoàn 44 làm trừ bị sau lưng trung đoàn 40 ở tây bắc của TP, trong khi TĐ thứ ba đang tái huấn luyện ở Ban Mê Thuột. Ba TĐ ĐPQ giữ những tiền đồn dọc theo các đường tiến sát bắc và tây bắc, trong khi TĐ ĐPQ thứ tư và hai TĐ BĐQ bảo vệ các phần (reach/part) phía nam của tỉnh và Đèo Chu Pao. 
Dù ĐT Quang nghĩ rằng ông có thể bảo vệ tp Kontum, các phối trí của QLVNCH ở cao nguyên đã thiếu TÍNH LƯU ĐỘNG - đã từng cho phép QĐ 2 triển khai nhanh chóng các lực lượng bằng không quân - từ những toán nhỏ đến nguyên cả sđ - để đáp ứng các đe dọa của địch và một mức độ nào đó (somewhat) vô hiệu hóa các lợi điểm về chủ động và bất ngờ của địch. Những hạn chế về xăng dầu và bảo trì đã gần như loại bỏ tính lưu động của VNCH nhờ vào không quân. (NÓI THÊM : Trước khi ký kết HĐ Paris 1973, nhờ LƯU ĐỘNG TÍNH CAO (nhiều trực thăng hay C-130 và xăng nhớt đầy đủ), quân VNCH chuyển quân rất nhanh vì mỗi chiếc C-130 Hercules có thể chở 92 lính bộ binh hay 64 lính nhảy dù hay 74 băng-ca với 5 y tá và bay xa 3.800 km với tốc độ tối đa 590 km/g, tốc độ bình phi 541 km/g; nó cũng có thể chở 2 xe M-113 hay một đại bác tự hành hiệu CAESAR do Pháp sản xuất, nặng 17.7 tấn, bắn đạn 155 ly ĐI XA 42 KM, nếu dùng đạn có hỏa tiển trợ lực sẽ đi xa hơn 50 km. Trực thăng Chinook CH-47 có thể chở từ 33-55 binh sĩ hay 24 băng-ca và ba y tá hay 10.888 kí hàng hóa. Trực thăng HH-1B chở được 14 lính hay 6 băng-ca -- người dịch). 
                 

Ảnh trên: C-130, ba ảnh dưới: đại bác CAESAR 155 ly






Các toán viễn thám, viết tắt theo tiếng Anh là LRRP, trước đây được chở bằng trực thăng, nay phải đi bộ tới khu vực mục tiêu, do đó tầm hoạt động và số ngày hoạt động của họ trong rừng bị cắt giảm nghiêm trọng (drastically). Khả năng tiếp tế bằng không quân cho cả tỉnh Kontum bây giờ chỉ dựa vào một chiếc Chinook CH-47; do đó, hầu như mọi tiếp tế đều bằng xe tải, cố gắng đến các tiền đồn càng gần càng tốt, sau đó phải leo dốc đến tiền đồn. Việc tải thương thì làm ngược lại. Do đó, ngay cả thời tiết tốt, QLVNCH cũng ko thể tiếp viện hay cứu các tiền đồn xa xôi như MANG BÚC.
Khi tiền đồn này bị tràn ngập, mặt trận B-3 csbv đã mở các cuộc tấn công vào các tuyến phòng thủ của tỉnh Kontum khiến "trói chân" các lực lượng trừ bị vốn đã ít ỏi của QK-2, ko thể tiếp viện cho Mang Búc. Áp lực của địch đã giảm sau khi Mang Búc thất thủ, và quân chánh phủ (CP) tại Kontum đã tập trung vào Đường 715 của địch mà vào giữa tháng Chín 1974 đã kéo dài tới trong vòng 15 km của ranh giới của tỉnh Bình Định và Pleiku, bằng cách đi vòng quanh tuyến phòng thủ phía đông của Kontum. QĐ 2 đã gửi những toán viễn thám tấn công đường này bằng cách đặt mìn và phá hủy xe tải và cơ giới làm đường, và bằng không kích. BỐN ĐẠI BÁC 175-ly của Kontum, mà hỏa lực điều chỉnh bởi một chiếc L-19 DUY NHỨT của tỉnh, cũng đã bắn phá đường 715. Những cuộc tấn công liên tục (persistent) này đã gây tổn thất cao cho những toán làm đường và tạm thời ngăn ko cho csbv kéo dài đường này.
              
Đại bác tự hành 175 ly M-107

CHI KHU CHƯƠNG NGHĨA
Trong khi QĐ 2 đánh phá Đường 715, mặt trận B-3 csbv chuẩn bị tấn công chi khu (CK) Chương Nghĩa. Ý thức điều này, QĐ 2 đã chuyển TĐ 245 ĐPQ, đang HQ ở tây của Kontum, tăng cường cho CK Chương Nghĩa. Cuối tháng 9/74, tại CK Chương Nghĩa có 600 quân - gồm 280 quân của TĐ 254 ĐPQ, một đ.đ. ĐPQ, và 9 trung đội nghĩa quân. Tuyến phòng thủ gồm một vành đai các tiền đồn xa 6 km từ trại, một vành đai trung gian cách trại ba km, và vành đai trong cùng cách khoảng 1 km. Khoảng 2.000 dân thường sống trong chu vi trại. 
Quân csbv tấn công các tiền đồn NGÀY 30/9/1974. Hai đại bác 105 ly ko thể yểm trợ hữu hiệu các trung đội hay đ.đ. đóng rải rác và các tiền đồn lần lượt thất thủ. Dù cho TL của QĐ 2 đã ra lịnh hai khẩu tự hành 175-ly M107 (bắn đạn nặng 67 kg đi xa 34 km dù ko chính xác khi bắn quá xa) phải di chuyển theo LTL 5-B chạy từ Kontum để bảo vệ cho Chương Nghĩa nhưng đường quá xấu khiến di chuyển súng rất chậm. Khi quân csbv tiếp tục tấn công vào ngày 1 tháng 10, QĐ 2 đã gửi một đ.đ. ĐPQ bằng trực thăng tới Chương Nghĩa. 
Ngày 2/10, năm tiền đồn đã mất và trại bị pháo kích nặng. TĐ 251 ĐPQ chuẩn bị ở sân bay Kontum để chờ trực thăng chở vào Chương Nghĩa nhưng sân bay Kontum bị pháo nặng nên ko thể chuyển quân. Hai đại bác 175-ly thì ngoài tầm bắn.
Cuộc tấn công cuối cùng đã bắt đầu ngày 3/10 khi pháo csbv tập trung bắn vào BCH chi khu và BCH của TĐ 254 ĐPQ. Sau hàng ngàn quả đạn là cuộc tấn công của một TĐ thuộc trung đoàn 28 csbv vào chi khu và TĐ 254 ĐPQ. Các vị trí phòng thủ nhanh chóng bị tràn ngập. Chi khu đã mất, và rất ít người sống sót. Dù không quân đã tấn công trung đoàn 28 và pháo binh của chúng, tiền đồn lớn và cuối cùng của tỉnh Kontum đã mất. Không có hỗ trợ của pháo binh, nam VN ko thể giữ một đồn bót nhỏ và xa xôi chống lại một cuộc tấn công quyết định và có pháo binh hỗ trợ. 
Dịch từ trang 122-123 của quyển From Cease-fire to Capitulation (Từ ngưng bắn đến đầu hàng) của ĐT Le Gro thuộc Văn phòng Tùy viên Quốc phòng (DAO) ở VN.  
San Jose ngày 23 Oct 2020.
Cập nhật ngày 15 Aug 25.
Dưới đây là hình ảnh của Mang Búc và Chương Nghĩa.