TRẬN MẬU THÂN TẠI HUẾ
PHẦN 2: LỮ ĐOÀN 3 CỦA SĐ 1 KHÔNG KỴ
GIẢI CỨU HUẾ.
Mặt nam Huế ở hữu ngạn sông Hương.
Lời nói đầu: Tôi viết bài này để TRẢ LỜI vài "còm"
trên bài "Mùng ba Tết đẫm máu tại sân bay Tân Sơn Nhứt (TSN)" khi cho
rằng tác giả Erik Villard "NÓI PHÉT":
Hai trận đánh này, do Villard
mô tả, đã xảy ra gần như cùng lúc, khoảng 03:30 sáng ngày 31/1/1968 hay mùng ba
Tết Mậu Thân: 1/ Tại sân bay TSN, chỉ từ khoảng 3 g sáng đến tối, nghĩa là chưa
tới 24 GIỜ, bộ đội VC và CSBV đã chết TRÊN 600 NGƯỜI. Phía Mỹ có 22 chết và 82
bị thương, phía VNCH có 29 chết và 15 bị thương. 2/ Nhưng tại Huế, nhờ chuẩn bị
kỹ lưỡng với ít nhứt là 14 TĐ tham dự, gồm nhiều binh chủng khác nhau, chỉ
trong HAI NGÀY ĐẦU, GẦN NHƯ NGƯỜI Cộng Sản ĐÃ LÀM CHỦ Huế, trừ thành Mang Cá và
sân bay ở tả ngạn, và BCH tiểu khu và doanh trại MACV ở hữu ngạn. Tác giả Erik
Villard đã TRUNG THỰC khi viết về trận đánh tại sân bay TSN khi khoảng 5 hay 6
tù binh vc/csbv đã bị chi đội C của chi đoàn 3 của thiết đoàn 4 Mỹ HÀNH QUYẾT.
Có lẽ do trận đánh quá ÁC LIỆT nên lính Mỹ đã vi phạm Quy ước Genève về Tù
binh. Trong khi đó tại Huế, trong kinh thành chỉ có trung đội thám báo 36 người
và đại đội Hắc Báo của VNCH thiếu vì 1 trung đội của đ.đ. này sang hữu ngạn để
bảo vệ BCH Tiểu khu (TK). Còn lại là lính văn phòng và tiếp liệu, ko có kinh
nghiệm tác chiến. Bốn xe tăng VNCH từ phía nam Huế tiếp viện đều bị trúng B40.
TĐ 7 Dù, cùng xe M113 về tiếp cứu, bị chận đánh tơi tả khi cách kinh thành
khoảng 400 m về phía tây bắc và thiệt hại phân nữa. Sau đó được TĐ 2 Dù tăng
viện và cả hai TĐ Dù kéo vào Mang Cá. Bốn TĐ của trung đoàn 3 thuộc sđ 1 VNCH
ko thể tiếp cứu vì bị chận đánh trước khi tiếp cận Huế, chỉ có 1 TĐ đi ra biển,
nhờ tàu HQ, chạy vào sông Hương và sau đó đến Mang Cá. TL của quân Mỹ tại khu
vực Huế chỉ có thể gửi 1 đại đội TQLC ko đủ quân số để giải cứu doanh trại MACV
tại hữu ngạn Huế. Sợ bị phục kích trước khi đến MACV, họ xin cứu viện. Sau đó 1
đại đội TQLC với xe tăng M-48 dẫn đầu, 4 giờ sau đã tới MACV với thiệt hại nhẹ.
Sau đó đ.đ. này cho hai trung đội vượt sông để cứu tướng Trưởng ở Mang Cá nhưng
bị tấn công khi đang ở trên cầu. Vì bị thương vong 1/3 quân số, 2 trung đội rút
về MACV. Vậy tại sao có thể bảo rằng tác giả Villard nói phét?
Nói thêm về sđ 1 Không kỵ:
*
Lực lượng trực thăng Mỹ chia làm trực thăng TẤN CÔNG (assault copter) và trực
thăng KHÔNG KỴ (air calvary copter). Những đv này thi hành nhiệm vụ hơi khác
nhau. Các đại đội trực thăng tấn công có trách nhiệm chánh là tấn công mục tiêu
mặt đất của địch, nhưng họ cũng thực hiện việc tiếp tế, tải thương (medevac),
và hỗ trợ hỏa lực cho đv bạn khi đụng địch.
Các
nhiệm vụ không kỵ thường có nhiệm vụ không thám các vị trí
địch với vài trực thăng thám thính và trực thăng võ trang (gunship), rồi không
vận một trung đội bộ binh thuộc đv không kỵ này vào chiến trường. Các trực
thăng không kỵ khác yểm trợ hỏa lực cho trung đội này, giống như các đại đội
trực thăng tấn công yểm trợ cho bộ binh khi giao chiến. Không kỵ cũng có thể chở
những đv lớn tới chiến trường nếu cần.Ngoài những nhiệm vụ như trên, các toán
không kỵ tiến hành những nhiệm vụ không thám tổng quát và đánh giá kết quả của
các cuộc ném bom, đặc biệt do B-52 gây ra cho đối phương.
Một
PHI ĐOÀN (squadron) không kỵ điển hình gồm ba TOÁN không kỵ (air calvary troup
hay ACT) và một toán chỉ huy. Một toán ACT gồm một TRUNG ĐỘI (platoon) có từ 6
tới 8 trực thăng chở quân (trực thăng UH-1 Iroquois hay "Huey" do
hãng Bell sản xuất) và một trung đội từ 8 hay 9 chiếc trực thăng võ trang, có
tên là Cobra (ký hiệu AH-1 Cobra do Bell sản xuất). Mỗi toán ACT cũng có một
trung đội thám thính từ 8 hay 9 trực thăng quan sát nhẹ, thường gọi là
"Loach" (ký hiệu OH-6 Cayuse do Hughes sản xuất).
Đơn
vị không kỵ đầu tiên có mặt tại VN là sđ 1 Không Kỵ năm 1965. Có tổng cộng có
NĂM phi đoàn không kỵ, bao gồm phi đoàn 1/9 Không kỵ nổi tiếng của sđ 1 Không
kỵ. Ngoài ra, khoảng 20 phi đoàn không kỵ phục vụ trong các đv bộ binh, thiết
giáp và cơ giới (mechanized). Phi đoàn không kỵ cuối cùng rời VN đầu năm 1973.
Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 401 - 412 của quyển Staying The Course của Erik Villard.
Từ 2- 10/2/1968: Lữ đoàn 3 của sđ 1 Không kỵ nhập trận
...
“Khi trung tướng Hoàng xuân Lảm và trung tướng Cushman, xem hình, tư lịnh (TL) của lực lượng 3 thủy bộ họp tại Đà Nẳng vào đêm 1/2/1968 để thảo luận tình hình Huế, họ đã đồng ý rằng quân nam VN sẽ trách nhiệm giải tỏa thành nội Huế, còn TQLC Mỹ giải tỏa hữu ngạn sông Hương hay Khu Tam giác. (Nói thêm: lực lượng 3 thủy bộ là một lực lượng gồm nhiều binh chủng khác nhau, đặt dưới quyền của TQLC – người dịch). Họ cũng đồng ý hạn chế tối đa sự thiệt hại gây ra cho thành phố lịch sử này. Để tạo áp lực vào hướng tiếp tế của CS từ hướng tây, Cushman được lịnh của Westmoreland là dùng sđ 1 không kỵ. TL của sđ này, tướng Tolson, giao trách nhiệm cho lữ đoàn 3 của ĐT Campbell, xem bản đồ 35.
Phù hiệu của Lực lượng 3 Thủy bộ
Tướng Trưởng nói chuyện với tướng
Tolson, TL của sđ 1 Không kỵ và tướng Đống.
BẢN ĐỒ SỐ 35. TÌNH HÌNH BẠN,
2-10/2/1968.
Tình huống đã khiến Campbell điều quân với thận trọng. Một
cuộc đổ quân bằng trực thăng chống lại tường thành phía tây
của Kinh thành Huế thì không được vì hỏa lực từ mặt đất chung quanh Huế quá
dữ dội và pháo binh của lữ đoàn tại trại Evans thì quá xa để
yểm trợ. (Trại Evans này cách Huế 24 km về phía tây bắc -- ND).
Campbell biết rằng Bắc quân rất đông trong TP nhưng ko biết
quân số và cách bố trí. Một cuộc thám sát bằng trực thăng cho thấy họ ở khắp
nơi. Một phi công trực thăng và một trung đội trưởng thuộc TĐ 299 trực thăng,
sau này cho biết cờ VC bay phất phới khắp các làng dọc QL1 từ km số 17
tới Huế. Campbell ko muốn mạo hiểm khi thả một hay hai TĐ để chống lại 1
đối phương vượt trội về sức mạnh. Hơn nữa, dù đổ quân xuống nơi nào, rất khó
tiếp tế cho họ bằng trực thăng vì thời tiết xấu và hỏa lực phòng không dày đặc
của bắc quân.
Điều ông lo nhứt là ko đủ thực phẩm, nhiên liệu, và đạn dược
để hỗ trợ cuộc hành quân (HQ). Địch làm chủ Huế đã cắt đứt (sever)
liên lạc đường bộ giữa sđ 1 không kỵ và Phú Bài. Các đ.đ. vận tải phục vụ cho
sđ 1 không kỵ có căn cứ tại Phú Bài, hiện ko thể chạy tới trại Evans và Đà
Nẳng. Ống dẫn dầu ở một kho xăng từ bờ biển tới Phú Bài đã bị cắt. Với tình
hình này, phải mất vài tuần để mở lại QL1 giữa Đà Nẳng và trại Evans.
Đặc công đã đặt mìn phá đường QL1 ở phía bắc trại Evans,
khiến xe ko thể đi tới Đông Hà. Các đ.đ. vận tải đồn trú ở Đông Hà thì phải lo
cho sđ 3 TQLC Mỹ. Tình hình càng khó khăn khi các hoạt động của VC trên sông
Thạch Hản đã tấn công 1 số tàu tiếp tế từ Cửa Việt tới Đông Hà, làm giảm số
xăng dầu và đạn dược chứa tại căn cứ TQLC này. Do đó ĐT Campbell phải dùng máy
bay C-130 và CH-47 bay tới Đông Hà để tiếp tế cho lữ đoàn của ông tại trại
Evans. Tuy nhiên do thời tiết xấu và khả năng của C-130 đã hạn chế nhu cầu của
lữ đoàn. Vì trên toàn quốc chỉ có khoảng 80 máy bay C-130. Với tình hình trên
ĐT Campbell bắt đầu kế hoạch giải cứu TP này.
Vì thiếu trực thăng và xăng máy bay tại trại Evans, ông phải
đổ quân làm nhiều đợt. Chiều hôm đó, TĐ 2/12 không kỵ, lên trực
thăng dưới trời nhiều mây (overcast) và bay tới km số 17. Binh sĩ phải để lại
ba-lô -- sẽ chở sau -- để có thể chở được nhiều người. Mỗi ba-lô đều có poncho
và áo sweater. Sau khi đổ quân, trời bắt đầu mưa. Sau khi ăn một bữa ăn lạnh
lẻo, họ trải qua 1 đêm trên cánh đồng đầy bùn gần km số 17.
Vào sáng 3/2, 400 lính của TĐ 2/12 không kỵ đã tập hợp nghe
lịnh. Họ phải dùng 1 lộ trình quanh co (circuitous) để tới Huế bằng cách đi về
phía nam và rẻ về hướng đông, thay vì đi theo QL1 vì sợ mìn bẫy và phục kích.
Ông cũng lo vì pháo đội 105-ly thường tăng phái cho TĐ cũng chưa tới km số 17
-- có lẽ do thời tiết và thiếu trực thăng CH-47 -- nhưng nếu may mắn, quân của
ông sẽ tới kinh thành trước khi trời tối.
Xuất phát lúc 0700, TĐ đi về phía nam khoảng 1.500 m và rẻ
về phía đông nam để tới Huế, với QL1 ở bên trái trục tiến quân. Trong vài giờ
kế, họ ko thấy dấu hiệu của VC trừ 1 tên bắn sẻ vài phát trước khi biến dạng.
Lúc 0945, khi còn khoảng 4 km về phía tây bắc của kinh thành Huế, họ gặp một ấp
nhỏ có tên thôn Liễu Cốc Thượng. Khi quân Mỹ vào ấp, dân đã chạy
vào một khu rừng cây ở cách đó 200 m về phía đông nam. Trong
ấp lính Mỹ thấy giao thông hào và hố chiến đấu mới đào cũng như hàng trăm lá cờ
nhỏ của CSBV -- nhưng hình như địch rất gần họ.
Khi lính lục soát ấp, từ khu rừng cây ở phía nam, lính bắn
sẻ VC bắt đầu bắn vào quân Mỹ. Tham khảo bản đồ, trung tá Richard Sweet biết
rằng khu rừng cây này tương ứng với làng Thôn Quế Chữ và phía
nam là làng Thôn La Chữ. Nói thêm: năm
1969, khi hành quân ở TĐ 53 ĐPQ thuộc tiểu khu Gia Định, tôi đã xài bản
đồ không ảnh, rất chính xác, vì do máy bay chụp từng đoạn và ráp lại, khu
nào nhiều nhà dân hay nhiều rừng đều hiện rõ trên bản đồ này -- ND).
Bản đồ không ảnh
Ông liền gọi 2 khẩu 105-ly của VNCH ở km 17. Vì ko có thông
dịch viên để điều chỉnh pháo binh, nên ko hiệu quả. Do trần mây thấp nên không
quân ko thể can thiệp, lữ đoàn đã gửi gunship để bắn phá Thôn Quế Chữ trong
khoảng 1 giờ cho tới khi bắn lầm vào TĐ 2/12 không kỵ, giết chết 1 và làm bị
thương 4. Trung tá Sweet gọi trực thăng ngừng bắn. Dù trực thăng bắn phá ko làm
đối phương nao núng, nhưng tướng Tolson TL của 1 không kỵ vẫn yêu cầu Sweet
chiếm Thôn Quế Chữ càng nhanh càng tốt. Trung tá Sweet trình bày với TL nên chờ
khi pháo binh Mỹ có mặt tại km 17 để giúp ông, nhưng TL ko đồng ý. Vì hết cách
nên Sweet phải tấn công TRỰC DIỆN vào Thôn Quế Chữ.
Y hệt như một cuộc tấn công thời đệ Nhứt thế chiến, khoảng
150 lính Mỹ xung phong xuyên qua đồng trống giữa họ và Thôn Quế Chữ. Lính CSBV
núp trong hàng cây ở bìa làng bắn đạn liên thanh và cối vào quân Mỹ, đã bắn gục
một số lính đi đầu, ko có gì che chở ngoài 1 nghĩa địa nhỏ giữa cánh đồng. Trực
thăng OH-6, có biệt danh Loach, xem hình, đã xuất
hiện để tấn công đối phương. Quân Mỹ đã tới hàng cây một lúc sau trưa, khiến
địch rút sâu vào Thôn Quế Chữ. Chín lính Mỹ chết, vì đạn bắn sẻ trúng
đầu, và 48 bị thương.
Khi vượt khỏi hàng cây, lính Mỹ đã phát hiện một mạng lưới
các giao thông hào và hố chiến đấu đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Điều này chứng tỏ đối
phương đã bỏ nhiều công sức và thời gian để đón đánh quân Mỹ. Hàng rào bằng tre
và dừa bao quanh mỗi nhà cũng là tuyến phòng thủ thiên nhiên, xem hình.
Thôn La Chữ: trực thăng mang tiếp tế
cho lính của sđ 1 không kỵ, ảnh trên; lính Mỹ đang chiến đấu trong làng, ảnh
dưới.
Vào giữa buổi chiều, phần còn lại của TĐ đã vào làng. Vì
trời sắp tối nên trung tá Sweet đã quyết định phòng thủ qua đêm. Chỉ 1 thời
gian ngắn sau khi lính vừa đào xong hố cá nhân thì địch đã phản công. Súng nhỏ
và liên thanh bắn từ mọi hướng, và chẳng bao Sweet đã nhận ra rằng TĐ đã bị bao
vây với quân số đông hơn. Họ bị bắn bằng cối 82-ly, súng không giựt (SKZ)
75-ly, và đại liên 12.8 ly, vũ khí thường trang bị cho cấp trung đoàn. TĐ 2/12
đã đẩy lui vài đợt thăm dò và bắn gục một số lính bắn sẻ VC. Hỏa lực của VC đôi
khi dữ dội đến độ gần như lính Mỹ ko dám ngóc đầu khỏi hố cá nhân trong 1 hay 2
giây. Tuy nhiên VC ko thể phá thủng tuyến phòng thủ, và trận chiến từ từ
giảm và chấm dứt. Lính Mỹ trèo lên khỏi hố và nhận thấy hầu như mọi thứ nằm
trên mặt đất đều bị xé rách (shred). Khi chuyên viên bậc 4 Steven Johnson mở
hộp ration-C, xem hình, y thấy hộp này găm đầy mảnh đạn, nên ko ăn được.
Sau đó vài trực thăng đã có thể đáp xuống khoảng đất trống
giữa làng để tải thương. Khi TĐ bắt đầu sắp hết đạn, sĩ quan ban 4 lo về tiếp
liệu của lữ đoàn, thiếu tá William Scudder vơ vét mọi đạn và lựu đạn mà ông có
thể tìm ở trại Evans và năn nỉ vài phi công gan dạ bay tới Thôn Quế Chữ, vì nếu
ko tiếp tế, TĐ có thể hết đạn trong đêm.
Vào lúc này, trung tá Sweet ko biết
quân số và tên hiệu của đv đối phương bao vây TĐ. Sweet đã phỏng đoán (surmise)
rằng ông đã lọt vào một khu tập kết (staging area) người, vũ
khí, v.v... để đánh Huế, và địch sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nó. Sau này ông mới
biết Thôn Quế Chữ và Thôn La Chữ là nơi đóng quân của BCH của Mặt trận Thành
phố Huế, cũng như TĐ 416 của trung đoàn 5 csbv và ba TĐ
của trung đoàn 29 sđ 325C csbv, đv cuối cùng vừa đến từ Khe Sanh.
Trước đó vào buổi chiều, khoảng thời
gian mà TĐ 2/3 đang tiến đánh vào Thôn Quế Chữ, ĐT Campbell và BCH của lữ đoàn
3 dời từ trại Evans về km 17. Tướng Tolson cũng bay từ trại Evans đến km 17 để
theo dỏi diễn tiến của TĐ 2/3. Rõ ràng rằng TĐ 2 đang gặp nguy hiểm. Trừ phi
được yểm trợ đầy đủ, TĐ ko thể chịu đựng đợt tấn công quyết định kế tiếp. Theo
yêu cầu của ĐT Campbell, 1 đoàn xe từ trại Evans đã tới km 17 khoảng gần 1800 g
tối, mang theo đạn cho 2 khẩu 105 ly đã đến trước đó trong ngày. Với đạn pháo
vừa chở tới km 17, sq tiền sát viên pháo binh của TĐ, còn gọi là sq đề-lô,
và trung tá Sweet, và toàn thể binh sĩ đã nâng cao tinh thần chiến đấu, giữ
vững tay súng suốt đêm.
TĐ đã đối diện đợt tấn công vào sáng 4/2. Ngay trước 0700 g,
một loạt đạn 82-ly và hỏa tiển 122 ly đã trúng các vị trí Mỹ tại Thôn Quế Chữ.
Sau đó bộ binh CSBV tấn công chu vi phòng thủ từ mọi hướng. Phần lớn diễn ra
trong tầm dưới 20 m. BCH lữ đoàn 3 gửi 1 trực thăng trang bị rốc-két để giúp
TĐ, nhưng nó đã bị bắn rơi trước khi tới Thôn Quế Chữ. Vì ko thấy điểm yếu trên
tuyến phòng thủ của TĐ, bắc quân đã đoạn chiến sau 15 phút, gây cho 11
lính Mỹ chết và 51 bị thương.
Trong khi y tá chăm sóc thương binh, trung tá Sweet duyệt
xét tình hình. Ông biết rằng TĐ ông sẽ bị tràn ngập nếu ở lại Thôn Quế Chữ vì
chỉ còn khoảng 200 tay súng. Phần lớn chỉ ngủ chưa tới sáu giờ trong 2 ngày
qua, và họ gần như sắp hết nước. Đơn vị gần nhứt có thể giúp họ là TĐ 5/7 không
kỵ, vừa đến km 17 và cần ít nhứt 24 g để tới Thôn Quế Chữ. Dù cho thiếu tá
Scudder (của ban tư lữ đoàn) đã dùng một trực thăng cứu thương mang đạn đến
làng để tiếp tế và thiếu tá cũng rút súng lục để cảnh cáo một sĩ quan khác khi
ông này định cất dở hàng từ máy bay; nhưng tiếp liệu còn rất ít do đánh nhau
suốt ngày.
Vào cuối chiều của ngày 4/2, TĐ trưởng Sweet thảo luận với
các đ.đ. trưởng. Sau khi xem xét các giải pháp, ông quyết định TĐ sẽ phá vòng
vây vào buổi tối. Dù khó khăn của đv, Sweet ko muốn rút về km 17 mà ko hoàn tất
nhiệm vụ của ông (nghĩa là tiếp viện cho kinh thành Huế). Ông định di chuyển TĐ
về 1 khu vực ở cách đó 1.500 m về hướng đông nhưng đã bỏ ý định này sau khi máy
bay quan sát suýt bị bắn rơi vì các súng phòng không csbv. Nghĩ tới một điều mà
đối phương ko ngờ được, trung tá cho TĐ tiến sâu vào khu vực do địch kiểm soát,
tới 1 ngọn đồi nhỏ có tên Nhà Nhãn, mọc lên giữa cánh đồng vài
km tây nam của Thôn Quế Chữ. Trong khi đv cạn kiệt (deplete) của ông chỉ còn
khả năng tấn công giới hạn vào lúc này, Sweet biết rằng đỉnh của đồi này sẽ là
1 vị trí lý tưởng để quan sát Cộng quân khi họ di chuyển vào Huế. Sau khi lữ
đoàn trưởng đồng ý kế hoạch, trung tá Sweet quyết định rằng TĐ sẽ di chuyển lúc
2000 giờ. Ông suy luận rằng lúc đó trời sẽ hoàn toàn tối và kẻ thù, sẽ lo nấu
nướng và sửa chữa trang bị.
TĐ 2 đã chuẩn bị để thoát vòng dây khi trời tối. Binh sĩ đặt
những trang bị dư thừa thành 1 đống để lính công binh cột chất nổ vào, canh giờ
cho nổ sau đó trong buổi tối. Hai chiếc trực thăng UH-1 bay vào Thôn Quế Chữ để
tải vài chục thương binh, nhưng ko đủ chỗ để bốc 11 xác chết. Trung tá phải
chôn họ ở bãi cát để sẽ thu hồi những ngày sau đó.
Khi trời sụp tối, binh sĩ đã im lặng lập thành hai đoàn
quân, dùng băng keo và vải vóc để cột các trang bị hầu ko gây tiếng động khi di
chuyển. Một lúc sau 2000 g, TĐ đã tiến về hướng tây bắc tới một khe hở trên
phòng tuyến của kẻ thù, có chiều rộng khoảng 75 m. Lính canh của csvn đã ko
phát hiện họ. Sau khi tới 1 nghĩa địa ở giữa Thôn Quế Chữ và Thôn Liễu Cốc
Thượng, TĐ đi theo hàng một, với lính thám báo đi đầu, và bắt đầu đi về phía
nam. Vài phút sau đó, các lính thám báo đã gần như "đứng tim"
(freeze) khi âm thanh ko thể lầm lẩn của ai đó đang lên đạn (gun bolt being
drawn). Hóa ra lính Bắc quân đang lau súng, nên ko thấy lính Mỹ đang bò cách đó
vài mét. Lính thám báo bò trở lại và dẫn TĐ đi vòng quanh ổ súng liên thanh của
Bắc quân mà ko bị phát giác.
Khoảng 30 phút sau đó, trong khi đoàn quân vượt 1 con suối
nằm phía tây nam của Thôn La Chữ, họ nghe 1 tiếng nổ lớn ở 1 khoảng cách xa khi
vài cân Anh plastic đã biến đống quân cụ dư thừa thành 1 quả cầu lửa. Tới giờ
phút đã định trước, các đại bác 105 ly từ km 17 đã bắn đạn nổ mạnh và phốt-pho
trắng vào Thôn Quế Chữ và Thôn La Chữ để che chở việc rút quân của TĐ
2. Tuần dương hạm USS Canberra, đã dự trận, bằng cách bắn các thôn
mà csbv làm chủ với đạn 203 ly. Trong khi đó binh sĩ của TĐ âm thầm
lê bước (trudge) trong bóng đêm, người sau bám gót người trước. Phần lớn họ
bước đi loạng choạng (stagger) vì mệt lả, và nhiều người còn bị thương nhẹ. Khi
TĐ đến gần các làng theo cs, các lính canh CS lại nghĩ rằng đó là 1 đoàn quân
cs tiến về Huế, nên chúng dùng đèn pin để chỉ đường cho họ. Có lúc, 1 đv lớn
của VC trên đường vào Huế đã đi ngang họ, khiến họ im lặng và bất động cho tới
khi nguy hiểm đi qua.
Cuối cùng TĐ đã đến Nhà Nhãn sau khi hừng sáng của ngày 5/2
một lúc, họ mệt nhọc trèo lên đỉnh, hóa ra đây là 1 tiền đồn của 1 trung đội
VNCH. Với bức tranh toàn cảnh của Huế trải
rộng bên dưới họ -- trông có vẻ yên bình ngoài những cột khói bốc lên và thỉnh
thoảng tia sáng màu trắng cam của một vụ nổ ở xa -- lính Mỹ đóng quân và nghỉ
ngơi.
Ngay khi trung tá Sweet bắt đầu điều khiển
pháo binh và hải pháo vào những mục tiêu mà họ thấy ở đồng bằng bên dưới, đối
phương đã ngừng chuyển quân và tiếp liệu vào Huế vào ban ngày. Để ngăn chận
cộng quân tiến gần đồi vào ban đêm, sđ 1 không kỵ gửi cho TĐ một khẩu 12.7 ly
và một đèn pha cực mạnh. Dù Bắc quân ko định tấn công đồi Nhà Nhãn, họ đã cố
gắng cắt đường tiếp tế cho TĐ bằng cách bắn vào trực thăng tiếp tế. Một lính
bắn sẻ của đ.đ. B của TĐ, chuyên viên bậc 4 Carl Johnson, đã kể rằng hỏa lực
phòng không đã làm hư hại nặng hay bắn rơi ít nhứt 4 trực thăng. Để tránh hỏa
lực phòng không, các phi công trực thăng thay vì đáp xuống, đã đạp các thùng đồ
khi bay ngang đồi.
Ngày 5/2, lữ đoàn trưởng đã chuyển hai đ.đ.
của TĐ 2/501 của sđ 101 Dù, đang tăng phái cho sđ 1 không kỵ, từ trại Evans đến
km 17 để lập 1 căn cứ mới, có tên bãi đáp Sally, ở phía tây của km 17.
Với lính Dù ở giữa trại trại Evans và các rừng núi đầy CS ở phía tây, lữ đoàn
trưởng Campbell ko còn giao TĐ 5/7 Không kỵ nhiệm vụ bảo vệ trại Evans, mà di
chuyển 4 km về phía nam để thám sát ấp Nhơn Trung vì trước đây chúng đặt cối để
bắn vào trại Evans.
Khi 2 đ.đ. đi đầu tiến gần làng này khoảng
1030 g, họ bị bắn bằng súng nhỏ và cối. Cùng lúc, một trực thăng chỉ huy C-n-C
của TĐ 2/12 không kỵ, đã trúng nhiều phát (riddle) bởi các súng máy của cộng
quân ở 1.500 m về phía đông nam, khiến phải đáp khẩn cấp trên đất địch. Một lúc
sau đó, 1 chiếc khác đáp xuống để bốc phi hành đoàn, nhưng quân Mỹ cần thu hồi
máy bay lâm nạn. TĐ 5/7 không kỵ, được lịnh đổi mục tiêu và phải tiến tới máy
bay lâm nạn, nhưng bị địch đánh chận.
TĐ này tiếp tục tiến quân ngày kế, 6/2. Sau 1
chạm súng ngắn ngủi, họ đã đến nơi máy bay rơi và sau đó trở lại Thôn Trung. Họ
đã chiếm làng và thấy 1 kho tiếp liệu lớn đến nổi cần cả ngày để phá hủy. TĐ
5/7 không kỵ qua đêm tại Thôn Trung và tiếp tục tiến về Thôn Quế Chữ sáng ngày
7/2.
Khoảng 1100, khi đ.đ. đầu vào một ấp nằm giữa
Thôn Trung và Thôn Liễu Cốc, 1 trực thăng đáp xuống để dở hàng. Sau khi cất
cánh, nó bay thấp ngang qua Thôn Quế Chữ, hình như ko biết gì (oblivious) về
nguy hiểm bên dưới. Súng liên thanh và súng nhỏ bắn lên từ khu rừng khiến máy
bay bị thiệt hại nặng phải đáp khẩn cấp phía bên kia của Thôn Liễu Cốc Thượng.
Trung tá Vaught, TĐ trưởng, dù đã định sau đó sẽ tấn công Thôn Quế Chữ, đã cho
TĐ tiến về phía đông tới nơi máy bay rơi. Sau khi chờ đợi pháo binh và hải pháo
dọn bãi, TĐ tấn công Thôn Liễu Cốc Thượng. Họ khám phá hàng chục vị trí chiến
đấu chưa hoàn tất và dây điện thoại dầy đặt nhưng ko gặp tên VC nào. Binh sĩ đã
cứu phi hành đoàn, trong khi gunship trấn áp hỏa lực rời rạc (smattering) của
liên thanh và cối từ Thôn Quế Chữ. Với buổi tối sắp tới, TĐ trưởng cho đóng
quân qua đêm. Ông cho lập một chỗ để chứa đạn dược và tiếp tế, và chuẩn bị dụng
cụ y tế để chờ đánh lớn.
Sáng ngày 8/2, ông cho hai đ.đ. thăm dò Thôn
Quế Chữ. Một đ.đ. đã nhanh chóng vượt cánh đồng trống, nhưng đ.đ. đi hông phải,
cách đó khoảng 300 m, gặp hỏa lực mạnh, ngừng cách khu rừng 50 m. Trung tá gửi
2 trung đội từ 1 đ.đ. khác để giúp và gọi 1.500 quả đại bác từ km 17; vài giờ
sau đó đ.đ. này mới đoạn chiến, sau khi có 2 chết và 7 bị thương. Thấy rằng
Thôn Quế Chữ đã được phòng thủ kỹ lưỡng và có thể ko thể tấn công bởi 1 TĐ,
trung tá Vaught ra lịnh cho đ.đ. đầu tiên rút về Thôn Liễu Cốc Thượng để phòng
thủ đêm.
Sau khi nghe Vaught trình bày rằng ko thể tấn
công trực diện, lữ đoàn trưởng Campbell bắt đầu tìm cách khác. Ngày 9/2,
Campbell ra lịnh TĐ của Sweet từ Nhà Nhãn thăm dò Thôn La Chữ từ hướng nam. Khi
TĐ 2/12 này, rời khỏi ngọn đồi Nhà Nhãn, theo sau là trung đội nam VN từng đóng
trên đồi, họ bị chận đánh bởi 1 tiểu đội bắn sẻ và ngụy trang rất kỹ của csbv ở
chân đồi. Đạn cối và đạn súng nhỏ của bắc quân đã giết 2 lính Mỹ và làm bị
thương 12 người khác trước khi 1 toán của lính Không kỵ đánh bọc sườn (outflank)
đối phương, giết ít nhứt ba tên bắn sẻ. Khó khăn vẫn còn ở phía trước. Khi TĐ
đang vượt qua 1 cánh đồng lúa dẫn tới làng Thôn Bôn Trị, một làng nhỏ có rừng
cây bao quanh ở 1.500 m nam của Thôn La Chữ, một TĐ hay đông hơn của quân csbv
nổ súng từ hàng cây. Lính Mỹ chết 2 và bị thương 10. Không thể tiến và trời tối
nhanh, trung tá Sweet rút TĐ về đồi Nhà Nhãn để qua đêm.
Lữ đoàn trưởng Campbell cần thêm quân vào
chiến trường, nhưng ông ko đủ xăng máy bay, phụ tùng, và đạn pháo, mặc dù
(notwithstanding) những cố gắng can đảm của Không quân để giúp ông. Máy bay vận
tải chở lương thực, nhiên liệu, và đạn dược tới trại Evans, phải nhờ radar
hướng dẫn vì trần mây rất thấp, ít khi quá 91 m và đôi khi thấp hơn. Đôi khi
tầm nhìn kém đến độ người dưới đất ko thấy máy bay, mà chỉ thấy dù tiếp tế xuất
hiện từ mây thấp. Chỉ từ ngày 4 đến 8 tháng 2, C-130 đã bay 34 chuyến, mang
khoảng 1 triệu cân Anh tiếp tế. Dù như vậy, lữ đoàn trưởng cần QL1 khai thông
giữa trại Evans và căn cứ TQLC Mỹ tại Đông Hà trước khi ông có thể dùng cả lữ
đoàn.
Vấn đề tiếp vận tại phía bắc QK-1 ko chỉ ảnh
hưởng đến lữ đoàn 3. Tướng Palmer, chỉ huy Tổng cục Tiếp vận của Quân đội Mỹ
(USARV) đặt tại Long Bình đã báo với tướng Harold Johnson tham mưu trưởng Lục
quân Mỹ ngày 5/2 rằng "vấn đề khẩn cấp tại Vùng 1 chiến thuật (I CTZ) là
khai thông QL 1 ở bắc Đà Nẳng. Việc lực lượng 3 thủy bộ của TQLC hiện ko thể
khai thông QL có lẽ là yếu tố tiếp vận chính đã hạn chế việc hành quân ở bắc
Vùng 1." (Nói thêm: Theo như báo chí thời đó, 1 người lính tác chiến sẽ
cần 6-7 lính tiếp vận cho họ vì lính Mỹ chỉ uống nước chai hay Coca-Cola,
ko uống nước sông/suối như lính VNCH. Ở những nơi có điều kiện, họ ko ăn khẩu
phần ration-C, mà ăn thức ăn nóng, chở tới bằng trực thăng. Ở các căn cứ
như trại Evans, phải có trực thăng chở nước tới cho lính tắm. Còn về đạn
dược, lính Mỹ bắn thoải mái, ko tiết kiệm như lính VNCH. Lấy ví dụ, chỉ từ ngày
4-8/2/68, C-130 đã chở khoảng 1 triệu cân tiếp tế tới trại Evans -- ND).
Ngày 8/2, tướng Tolson TL của 1 không kỵ đã
nói với Palmer rằng vấn đề tiếp tế đã hạn chế hoạt động của sđ 1 không kỵ tại
Thừa Thiên và Quảng Trị. Tướng Tolson "đã rõ ràng nghi ngờ khả năng yểm
trợ về mặt tiếp liệu cho một lữ đoàn của sđ 101 Dù trong khu vực này bây giờ,
dù tình hình rất cần lữ đoàn này." Ông chỉ gửi pháo 105 ly đi kèm 1 TĐ bộ
binh tới sân bay C-130 ở tp Quảng Trị cho tới khi tình hình tiếp tế cải thiện.
Cùng ngày, TL của MACV tại VN đã thông báo với Đô đốc Sharp TL quân Mỹ ở
Thái Bình Dương và tướng Wheeler Tham mưu Trưởng liên quân, rằng cố gắng
để đưa các thành phần của sđ 101 Dù tới phía bắc của Vùng 1 sẽ "tạo một
thách thức lớn lao về tiếp liệu trong lúc thời tiết xấu và hỏa lực địch."
Trong 1 thông báo gửi tướng Johnson ngày 8/2, tướng Palmer đã viết "tình
hình tiếp vận nguy cấp. Ngoài không vận, nguồn tiếp vận chánh yếu cho phía bắc
Vùng 1 phải bằng đường thủy từ Cửa Việt, đang bị quấy rối bởi kẻ thù. Thời tiết
xấu cũng cản trở hành quân."

