Showing posts with label không quân vnch. Show all posts
Showing posts with label không quân vnch. Show all posts

Friday, April 11, 2025

 ĐIỂM DANH CÁC BẠN GIÀ

Phần II
KHÓA I QUAN SÁT
Trần Phước

Khóa 1 Quan Sát Viên khai giảng vào đầu tháng 10-1952, lúc Khóa 1 Hoa Tiêu gần mãn khóa, chỉ còn huấn luyện giai đoạn chót nữa mà thôi. Khóa 1 Quan Sát Viên dài 6 tháng, gồm 6 sĩ quan học viên:

-Phùng Văn Chiêu

-Nguyễn Đình Giao

-Lê Minh Luân

-Đỗ Khắc Mai

-Đinh Thạch On và

-Trần Phước.

Tất cả sáu người chúng tôi đều là sĩ quan của các quân trường: Sĩ Quan Khóa 2 Quang Trung, Huế, Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định hay Thủ Đức và Khóa Sĩ Quan Nước Ngọt, ai cũng đã từng phục vụ bêb Lục Quân ít nhất đôi ba năm. Nên có vẻ già dặn, không như những sinh viên sĩ quan trẻ trung vui nhộn, chọc phá nhau, nên trong số chúng tôi rất ít người có tên cúng cơm như Khóa 1 Hoa Tiêu.

Sáu người cùng tốt nghiệp ra trường. Nhưng khi đỗi tới 1ier GAO (sau này là Phi Đoàn 1 Quan Sát), dưới quyền chỉ huy của một Capitaine Pháp Cotet bấy giờ. , chỉ có ba người là anh Nguyễn Đình Giao, anh Đinh Thạch On và tôi bay hành quân nhiều giờ nhứt vì anh Phùng Văn Chiêu đau hệ thống hô hấp, bay cao bị nghẹt thở, anh Đỗ Khắc Mai đau tai và anh Lê Minh Luân đau mủi. Trong khi đó, phía hoa-tiêu có trên mười người cọng thêm mấy hoa tiêu Pháp nữa, họ quần ba chúng tôi thở không ra hơi, có những hôm trời xấu làm tôi nôn mữa. Ngày nào chúng tôi cũng bay ít nhứt là hai phi vụ hành quân từ 7 tới 8 giờ bay.

Nhớ hôm đó, tôi bay với Capitaine Cotet trong một phi vụ huấn luyện điều chỉnh tác xạ pháo binh cho Quân Trường Pháo Binh Phú Lợi. Xong phi vụ, chúng tôi đáp ở phi trường Phú Lợi, được vị chỉ huy của quân trường này chở chúng tôi vào Câu Lạc Bộ Sĩ Quan uống ly rượu mừng, chuyện trò vui vẻ ồn ào thì tôi đứng không vững nữa vì quá mệt, mong chóng tan tiệc để được trở về đơn vị nghỉ ngơi; bởi vì khi bay điều chỉnh tác xạ, Capitaine Cotet quẹo ngặt quá, làm tôi nhứt đầu chóng mặt, đến đỗi có khi tôi định bỏ mặc phi vụ nửa chừng, nhưng cuối cùng vẫn cố gắng hoàn thành.

Một lần khác tôi bay hành quân với anh hoa tiêu Trần Bá Quy ở vùng Dầu Tiếng. Trước đó tôi đến 2ème Bureau (Phòng Nhì) của Pháp trong Căn Cứ Tân Sơn Nhứt lãnh một bản đồ hành quân., có đánh dấu mật mã (carte baptisée) trong đó ghi hướng tiến quân của các đơn vị Bộ Binh, các đặc điểm chính yếu như các trục giao thông, sông ngòi hay núi non. Chẳng hạ như Tây Ninh thì ghi Á, núi Bà Đen có tên C4,…Sau ba ngày bay hành quân, công việc trôi chảy; qua ngày thứ tư liên lạc giữa chúng tôi và anh Quy bị trở ngại vì hệ thống interphone hư, nên mỗi lần muốn quẹo mặt hay trái, tôi phải đứng dậy, vì với không tới, nắm vai hoa tiêu để ra dấu quẹo về mặt hay về trái. Trong lúc ra dấu xong, tôi chưa kịp ngồi xuống và buộc dây an toàn, thì anh Quy đã làm một cái quẹo rất ngặt về phía trái làm tôi té ngồi xuống sàn tàu bay, đầu óc choáng váng, tôi nhìn thấy bản đồ hành quân theo hướng cửa sổ bay ra ngoài mà không làm gì được., vì hôm đó, trời nóng nực, trong lúc bay, tôi đã mở cửa sổ cho thoáng, không ngờ vì hành động nông nổi này là một tai họa. May thay, lúc đó trời sa91p xế chiều, nên tôi đã xin phép vị Chỉ Huy Trưởng Chiến Trường rời vùng hành quân.

Phi cơ về đến đơn vị, tôi một mình lủi thủi vào Phòng Hành Quân, với lòng nặng trỉu đầy lo âu. Biết bao nhiêu câu hỏi bi quancứ lẫn quẫn trong đầu óc tôi, chẳng hạn như: Nếu bản đồ mật mã kia lọt vào tay địch thì sao? Hoặc nếu quân bạn bắt gặp được bản đồ này thi hậu quả như thế nào? Cả hai trường hợp đều bất lợi cho tôi, có thể tôi bị đưa ra Tòa Aùn Quân Sự để xét xử và bị phạt tù. Tôi đứng ngồi không yên, mất ngủ mấy ngày liền, nhưng tôi không hề kể chuyện này cho ai, ngay cả anh Quy cũng vậy. Nhưng điều thực tế trước mắt là cuộc hành quân vẫn còn tiếp diễn, tôi phải làm sao bây giờ? Tôi tìm lục bản đồ vùng hành quân rồi dùng trí nhớ mấy ngày hành quân vừa qua, tôi thuộc lòng môt phần lơn các mật mã của những điểm trọng yếu trong vùng hành quân; tôi lấy bút chì màu cố ghi lại, mong sao có thể giống bản đồ kia chừng nào càng tốt chừng đó. May thay, cuộc hành quân đã vượt qua phần quan trọng trong mấy ngày đầu rồi, nghĩa la có chạm địch hay không cũng chỉ diễn ra trong thời gian đầu mà thôi; nay tới giai đoạn bình định, các đơn vị Bộ Binh đóng quân, giũ gìn an ninh để cho công binh xây dựng đồn lũy, vì vậy nên tôi cũng không phải sử dụng bản đồ ật mã nhiều để hướng dẩn Bộ Binh hay điều chỉnh tác xạ Pháo Binh. Cuộc hành quân tiếp diển hơn một tuần lễ, mỗi ngày có hai phi vụ, tôi thi hành một phi vụ, rồi trao bản đồ mật mã lại cho anh quan sát viên phi hành đoàn kế tiếp. Nhưng từ khi tôi làm mất bản đồ mật mã, tôi tình nguyện bay luôn suuốt ngày hai phi vụ, ai cũng cho rằng tôi bay hăng say, nhưng không ai có thể hiểu được nỗi khổ tâm của tôi lúc bấy giờ. Phần quá lo lắng, phần bay nhiều mấy ngày liền, tôi phờ phạc và gầy hẵn đi.

Nhưng cũng chưa hết lo âu, vì sau khi hết hành quân, tôi phải đích thân mang bản đồ mậtmã kia trả lại cho 2ème Bureau Pháp, vì trước kia tôi đã ký nhận. Khi bước vào phòng nộp lại bản đồ tôi hết sức hồi hộp, nhưng cũng cố trấn tỉnh, vừa chào hỏi xã giao viên sĩ quan Pháp, vừa trao bản đồ ra. Chúng tôi bát tay nhau, nhưng nếu ai tinh mắt, chắc rằng sẽ thấy nét bối rối hiện ra trên vẻ mặt của tôi và tay tôi hơi run run, vì tôi sợ viên sĩ quan Phá nàykiểm điểm lại bản đồ mật mã này thì sẽ nguy cho tôi, phải giải thích làm sao? May thay, chuyện này không xãy ra, viên sĩ quan Pháp nhận lấy bản đồ, kéo học bàn, bỏ bản đồ vào một cách thông thường tự nhiên, rồi nói lời cám ơn. Bấy giờ tôi mới yên tâm ra về. Nhưng chuyện này đã ám ảnh tôi mãi cả mấy năm sau. Cho tới bây giờ, tôi cũng không rõ ai, bạn hay địch, có bắt gặp bản đồ này hay không.? Cũng có thể không ai nhặt được vì bản đồ này rớt ở một khu rừng già hay một rạch nước chưa có vết chân người đặt tới, rồi theo thời gian tự tiêu hủy vì phong sương.

Một khóa chỉ có 6 sĩ quan khóa sinh, nhưng lại là 6 con người cá biệt:

-Anh Phùng Văn Chiêu, có tướng là con nhà võ hơn hết, từ dáng người, điệu bộ, và cách ăn nói. Anh người Nam, to lớn, đẹp trai, có giọng nói ồm ồm, nên khi anh đối đáp với các huấn luyện viên Pháp chẳng khác gì là dân Gaulois chính cống. Anh là con người mau mắn, hay tình nguyện làm những công việc thay cho cả lớp học.

Sau gần 20 năm cách biệt, bổng một hôm, tôi nhận được thiệp mời đám cưới của cháu anh Phùng Văn Chiêu tại Houston, nơi tôi đang cư trú, tôi hết sức ngỡ ngàng, tôi nửa tin nửa ngờ vì bấy lâu chúng tôi bặt tin. Nhưng tôi càng sửng sốt hơn nữa khi tôi gặp lại anh Chiêu tại tiệc cưới hôm đó. Hình dáng anh Chiêu thay đỗi hẵn , chỉ có giọng nói vẫn như xưa. Nét đẹp trai, trẻ trung xưa kia biến đâu mất, nay khuông mặt xương và nhiều nét nhăn ở cổ. Anh cho biết lúc đó anh đang bịnh và từ Pháp mới sang Mỹ để dự đám cưới này. Vì biết tôi đang ở Houston nên mới gửi thiệp mời. Trong dịp vui này, anh Chiêu đã trỗ tài với nhiều bản nhạc tình Pháp tặng cô dâu chú rể. Thế mới biết, tuy bề ngoài hình dáng thay đỗi nhưng tính tình vuyi nhộn của anh Chiêu vẫn như thuở xa xưa.

Nhân dịp vui, chúng tôi nhắc lại chuyện xưa, hồi năm 1954, khi Phi Đoàn 1 Quan Sát đóng tại sân bay thành nội Huế, chúng tôi và nhiếu anh em phi hành khác cùng phục vụ nơi đây. Hồi đó, chúng tôi khoảng 15 người, đang còn trẻ, dưới 25 trên 20. Ngoài giờ công vụ ra, anh em thường hay lái xe chở em út đi tấm biển Thuận An hay đi tha9m lăng tẩm đền đài. Hoặc có nhiều anh trồng cây si ở các tiệm tạp hóa có người đẹp, nhưng chẳng có anh nào thành công nên vợ nên chồng.. Riêng anh Chiêu ở bên trong Đồn quân sựMang Cá, ngày ngày chỉ tà tà cuốc bộ ra cổng, thỉnh thoảng gặp anh em lái xe đi ngang qua, mời lên xe, anh Chiêu từ chối, lấy lý do đi tản bộ cho khỏe người. Thật vậy, anh bách bộ có vẻ thảnh thơi thong dong lắm, nhưng nếu ai để ý, sẽ thấy anh thường ghé một nơi, ở đó đã có người đẹp chờ sẵn. Anh Chiêu dấu diếm cũng phải, vì sợ các bạn phá đám, và hơn nữa sợ bị lộ tẩy vì trong 6 anh em, chỉ có anh Chiêu và tôi có gia đình mà thôi. Chỉ trong một thời gian ngắn chớp nhoáng kỷ lục, anh Chiêu đã để khổ, để lụy, để sầu và để…lại cho người con gái Huế, khóc hết nước mắt ngày tiển anh Chiêu rời cố đô, xuôi về Nam…

Và chính hôm nay, anh Chiêu nói với tôi, anh từ bỏ nước Pháp sang định cư tại Mỹ này cũng nhờ kết tinh của mối tình năm xưa ở Huế. Thật không ngờ con người đào hoa có khác. Mười năm sau, năm 1999, chúng tôi gặp lạo nhau cũng tại Houston này, nhân dịp anh đến dự Đêm Không Gian do anh em Không Quân ở đây tổ chức hằng năm vào tháng 11, trông anh Chiêu lúc nàu khỏe mạnh hơn năm trước, hay nói cách khác, mười năm nay, anh Chiêu không già. Thế mới biết, bệnh tật àm cho thể xác tàn tạ.

Về đời binh nghiệp, có lẽ anh Chiêu là vị sĩ quan đặc trách về yểm cứ lâu nhứt, từ khi căn cứ Không Quân Biên Hòa còn là Căn Cứ 3 Trợ Lực cho đến sau này trở thành Không Doàn Yểm Cứ của Sư Đoàn 3 Không Quân. Hiện nay, anh Chiêu đang ởvùng Los Angeles, California.

Anh Nguyễn Đình Giao.-khi đang học với chúng tôi chưa có biệt danh; sau này vì muốn phân biệt với anhTrần Đình Giao có bí danh là De Couteau, dòng họ của Tổng Thống De Gaulle?!, nên anh Nguyễn Đình Giao có tên cúng cơm là Giao Toét vì mắt anh mở lớn hơn thường. Anh Giao, con người tròn trịa, từ đầu đến chân, khuông mặt bầu bĩnh, đặc biệt có bộ râu quay nón, nên thỉnh thoảng có người gọi anh ta là Giao Fidel Castro, Chủ Tịch nước Cuba. Râu của anh Giao rậm, phải cạo hằng ngày mới không trông thấy. Nếu làm biếng không cạo, chỉ trong vòng đôi ba ngày, ai nhìn thấy cũng tưởng là dân A-rập.

Những năm đầu khi mới tới định cư ở Hoa Kỳ này vì quá vất vả về mưu sinh, anh Giao làm biếng cạo râu, cứ để mọc tự nhiên. Nhưng chính vì sự kiện này là một trở ngại lớn trong vấn đề xin việc làm. Hồi đó tuy anh mới ngoài 40 mà đầu tóc và nhứt là bộ râu quai nón của anh bạc gần hết. Mỗi lần đi xin việc làm, anh Giao phải nhuộm tóc nhuộm râu, vì sợ bị chê già cả. Nhờ lối hóa trang râu tóc này mà anh được một trường đại học thâu nhận, nhưng anh đã phải trả một giá đắt vì bị phản ứng thuốc nhuộm tóc làm anh hư da đầu. Bởi vậy, kể từ đó, anh không nhuộm tóc nhuộm râu nữa, trở thành cụ già râu tóc bạc phơ làm ngạc nhiên những người cùng sở. Có nhiều người tỏ vẻ thương xót, ái ngại hỏi lý do tại sao mới ngày nào, cách đây chỉ vài tuần lễ trông trẻ trung mà sao nay chóng già như thế. Anh Giao trả lời vì quá lo lắng về công việc, sợ không chu toàn nỗi (thực ra, công việc hiện nay đối với anh quá dễ dàng). Không ngờ câu trả lời ngay tình này lại có kết quả tốt. Kể từ sau đó, trách vụ của anh Giao nhẹ bớt đi.

Khi học cũng như khi hành, anh Giao rất kỷ luật, bay bổng rất tận tâm. Nhớ hồi đầu năm 1954, hai chúng tôi biệt phái ra Đà Nẳng bay bổng chung với G.A.O. của Pháp do Capitaine Martin chỉ huy, chỉ hai chúng tôi là quan sát viên nên bay ngày bay đêm. Tối nào, anh Giao cũng tẩm bổ, tự nấu thuốc Bắc để uống.

Khi có lệnh biệt phái một phi hành đoàn ra Bắc, lẽ ra tôi phải đi, nhưng anh Giao đã tình nguyện thay tôi, viì lúc ấy anh đang còn đọc thân và có bà con ngoài ấy. Hết thời hạn biệt phái anh Giao trở về đơn vị, xin xuất ngoại học Khóa Điều Hành Viên (navigateur) và sau này anh còn học hoa tiêu quan sát nữa. Bởi vậy, anh Giao có tới ba bằng phi hành: quan sát viên, na-vít và hoa tiêu.

Anh Giao đã từng là Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Không Quân Phan Rang, và chức vụ cuối cùng là Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 6 Không Quân. Chính bởi đặc điểm này làm tôi thắc mắc, vì với chức vụ Tham Mưu Trưởng là nhân vật trọng yếu thứ hai sau vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Khi mất nước, hầu hết các cấp chỉ huy của Sư Đoàn 6 Không Quân từ vị Tư Lệnh cho tới cấp Tá đều bị bắt cầm tù, riêng anh Giao thoát nạn, tôi hỏi nguyên do. Anh Giao đã kể chuyện lại như sau. Chắc mọi người còn nhớ Sư Đoàn 6 Không Quân sau khi có lệnh rút lui khỏi Căn Cứ Không Quân Pleiku, về trấn thủ Căn Cứ Không Quân Phan Rang. Việt Cọng sau khi chiếm cứ toàn vùng Cao Nguyên, đã dốc hết toàn lực vây hãm Căn Cứ Không Quân Phan Rang cho đến khi tràn ngập Căn Cứ này vào đêm 15 rạng 16-4-75. Vì chỉ trước đó hai ba hôm, Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn đã phái người cọng sự viên trực tiếp là cánh tay mặt của mình, vị Tham Mưu Trưởng Nguyễn Đình Giao về Bộ Tư Lệnh Không Quân để xin tăng viện. Chính trong thời gian nguy ngập này, Căn Cứ Không Quân Phan Rang thất thủ. Cũng như ngày 29-4-75, ngày Saigon loạn lạc sau một đêm bị Việt Cọng pháo kích vào thành phố và các điểm quân sự quan trọng của ta. Chính lúc ấy anh Giao đang bơ vơ ở khu Câu Lạc Bộ Huỳnh Hữu Bạc, chưa biết phải xử trí ra sao, bổng nhiên có một trực thăng UH-1 đỗ ngay trước mặt, anh Giao như người máy, leo lên trực thăng rời Saigon lánh nạn. Khi gặp nhau hàn huyên, anh Giao nhắc tới hai biến cố thoát nạn hi hữu này, anh thường tự hỏi, tại sao lại có chuyện may mắn như vậy. Tôi trả lời thay anh Giao, vì anh đã có một đời sống đạo đức nên được Ơn Trên phù hộ. Thật vậy, cà lớp học ai cũng thương mến anh Giao vì bản tánh hiền hòa.

Nay anh Giao và gia đình ở Costa Mesa, California, một thành phố nhỏ, yên lành. Anh vui thú điền viên, đúng với cả nghĩa đen lẫn nghĩa trắng. với cây kiểng, bông hoa, vườn tược. Trong vườn quanh nhà của anh trồng đủ những loại cây ăn trái, như hồng dòn, mận, pear, cam, quít, chanh, đặc biệt có cả cây thanh longnữa, làm tôi nhớ đến sản phẩm quí giá này tại Nha Trang. Ngoài ra, anh còn chăm sóc cho gần ba trăm gốc lan đủ loại, một vườn nhỏ cây long tu (aloe) và một dàn chậu hoa đủ màu treo lủng lẳng dọc vách nhà. Đặc biệt hơn cảlà lối đi, anh đã trồng loại cỏ Đại Hàn mịn như nhung. Ai có thấy tận mắt mới phục tài anh Giao về cách sưu tầm, chăm bón tỉ mỉ và nhất là tính nhẩn nại ít người già sánh kịp.

Anh Lê Minh Luân chết rục tù sau những năm tháng bị đày đọa khốn cùng ở lao tù cọng sản, thật tội nghiệp, là người duy nhất của khóa chúng tôi ra đi vĩnh viễn. Hồi còn học chung lớp, anh Luân được anh em kính nể vì ăn nói đàng hoàng và giao tế lịch sự, đặc biệt là lối phục sức của anh rất chỉnh tề. Anh Luân người nhỏ thó, da mặt trắng bạch, có thể ví là một bạch diện thư sinh. Theo anh em ở tù ra kể lại, thì vào khoảng 1977-78, anh Luân bị giam cùng với các cựu Đại Tá khác của QLVNCH trong trại Cốc thuộc Liên Trại 1 ở Yên Bái, Hoàng Liên Sơn. Trại Cốc được cất bằng tre trong một khu rừng sâu nước độc ở kín giữa hai vách núi. Sau một công tác vét ao tù nước động lâu năm, anh Luân và hơn 10 người khác nữa, trong số đó có cựu Đại Tá Võ Quế, họ đều bị sốt xuất huyết, phải ra nằm bệnh viện để chữa trị. Bệnh viện nầy nằm ngay lối ra của cốc ngay trên lộ đất, dẫn từ Yên Bái lên xã Việt Cường sát sông Hồng. Tại bệnh viện này, có bác sĩ củ của QLVNCH chữa trị. Sau một tuần lễ, anh Luân được xem như lành bệnh tuy chưa xuất viện vì còn yếu. Chính lúc ấy, anh lại ỉ I ra suối tấm gội hơi lâu. Chiều hôm đó, anh lên cơn sốt dữ dội và tắt thở trong đêm. Theo lời bác sĩ thì anh Luân bị nhiễm lạnh trầm trọng trong lúc trong người còn yếu thiếu sức đề kháng, nên anh bị sưng phổi nặng. Trước khi chết, anh em hỏi anh Luân cần gì không. Anh bảo:"Thèm một tách cà phê".

Anh Đỗ Khắc Mai là cái "rốn" của khóa, anh luôn luôn tỏ mình là người học rộng tài cao, nhưng kết quả ra trường cũng chẳng hơn ai. Anh hay làm mất thì giờ của các người khác trong lớp, vì anh thường hay tranh cải văn phạm (grammaire) hoặc đạt những câu hỏi ngoài đề tài bài học với huấn luyện viên người Pháp, bởi vậy giờ học thường bị kéo dài làm lọi người khó chịu.

Anh Mai là con người đầy tham vọng, cho nên trèo cao té nặng. Những năm 1962-63 anh giũ chức vụ Tham Mưu Trưởng, nhân vật thứ hai sau Tư Lệnh Không Quân, cựu Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền vì lúc đó chưa có chức vụ Tư Lệnh Phó Không Quân. Nha92m lúc phong trào tố cọng lên cao, anh Mai lợi dụng chức vụ đang nắm giữ, thường hay đến các Căn Cứ Không Quân tham gia những buổi học tập Tố Cọng để gây ảnh hưởng và thanh thế. Anh đã từng tham gia phong trào lật đỗ nền Đệ Nhất Cộng Hòa vào tháng 11 năm 1963, nên đã được tửơng thưởng với chức vụ Tư Lệnh Không Quân và tự động thăng hai cấp, đang mang cấp Thiếu Tá, chỉ cách một đêm, sáng ngày mai mang lon Đại Tá. Tự động vì sau khi có nghị định điều chỉnh cấp bậc, anh Mai chỉ được thăng Trung Tá mà thôi. Sau đó đưởc bổ nhiệm làm Tùy Viên Quân Sự của Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Tây Đức hồi bấy giờ. Hết nhiệm kỳ, anh Mai được lệnh triệu hồi về nước, nhưng anh đã bất tuân, ở luôn tại Pháp cho tới ngày nay.

Anh Đinh Thạch On , học viên khóa sinh trẻ tuổi nhất lớp, hiền lành và rất ít nói không những trong khi giao tế mà ngay cả lúc thi hành công tác cũng vậy. Tuồng như bắt buộc lắm anh mới đối đáp, anh ăn nói rất nhỏ nhẹ. Không những ít nói mà anh On còn ít cười nữa. Anh cười bằng đôi mắt hơn là bằng miệng, nếu có cười, anh chỉ cười nửa miệng thôi, dẫu câu chuyện có vui cách mấy. Nhớ những khi chúng tôi thay phiên công tác đang bay trên trời cũng chỉ nói hết sức ngắn gọn, đúng như áp dụng văn thư quân đội vậy.: rõ ràng, chính xác, ngắn gọn. Chẳng hạn như:

-A lô Phi Yến 2, đây Phi Yến 3, tôi đến thay anh đây.

-A lô Phi Yến 3, Phi Yến 2, tôi thấy anh rồi. Khoảng một giờ nữa sẽ có 3 chim ưng đến giúp anh.

-Phi Yến 3 hiểu. Phi Yến 2 anh về bình an.

-Cám ơn.

Anh On người vậm vỡ khỏe mạnh suốt thời gian học, chiều nào anh cũng ở trần trùng trục tập thể dục và tấm biển, đây là một trong những thú vui thích lành mạnh của anh. Không giống như một số anh em học viên khác trong đó có tôi, có thói xấu, ngoài giờ học thường hay châu đầu vào bàn vuông, xoa mạc chược.

Anh On học hành rất đàng hoàng, bởi vậy, anh là người thành công nhất của khóa chúng tôi sau này về chức vụ cũng như chuyên môn. Anh đã trở thành hoa tiêu vận tải và giữ chức vụ Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Không Quân cho đến ngày mất nước. Nhớ tối ngày 28-4-75, khi hay tin có lệnh di tản gia đình quân nhân ra đảo Phú Quốc, tôi đã đến Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 Không Quân để xin cho gia đình được di tản, nhưng không được cố Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên, Tư Lệnh Sư Đoàn chấp thuận. Tôi thấy anh On, Tư Lệnh Phó, ngồi bên cạnh, nhưng chúng tôi chỉ trao đỗi nhau bằng ánh mắt thay cho lời nói, vì tôi biết rất rõ tinh thần kỷ luật của anh On, chuyện gì cấp trên của anh không chấp thuận thì không bao giờ anh vượt quyền. Có lẽ vì vậy mà anh On được ở yên ở chức vụ Tư Lệnh Phó, một chức vụ mà nhiều hoa tiêu vận tải kỳ cựu hơn anh rất mong muốn. Thông cảm như vậy nên không bao giờ tôi trách anh On.

Sau này lưu lạc, chúng tôi gặp nhau tại nhà anh chị On ở Grand Prairie, gần Dallas, Texas, lúc ấy anh đang bay chở hàng hóa cho một công ty vận tải Hoa Kỳ. Tuy chúng tôi ở cách xa nhau hằng 4,5 giờ lái xe hơi, nhưng chúng tôi thường tham dự đám cưới qua lại của các con cái. Có lần chúng tôi ăn cơm chung tại một nhà người bạn vận tải ở Houston, lần gặp gợ nào tôi cũng không bao giờ nhắc lại chuyện củ. Nhưng chính chị On đã phiền trách anh On đã không đưa gia đình bà con bên vợ ra khỏi nước. Vẫn bổn tánh cố hữu, anh On làm thinh, không nói một lời. Vì muốn chị On thông cảm, lúc đó tôi mới kể lại chuyện trước kia tôi xin di tản gia đình ra Phú Quốc mà không được, để chứng minh rằng anh On không có thực quyền trong những ngày cuối mất nước. Và anh là con người kỷ luật, ngay vào những giờ phút nguy nan, anh vẫn tôn trọng triệt để lệnh cấm trại, luôn luôn ở cạnh vị Tư Lệnh, cấp chỉ huy trực tiiếp. Đã không có thực quyền lại không có thì giờ, thì làm sao chu toàn cho tất cả bà con nội ngoại được, và nhứt là tình hình xãy đến quá đột ngột, ngay gia đình tôi cũng là một nạn nhân, con gái đầu lòng của chúng tôi cũng bị kẹt lại, huống hồ là bà con xa.

Nay các con cái anh chị On khôn lớn đều lập gia đình và thành tài, có mấy người con trai đỗ đạt y khoa bác sĩ, nên anh chị đã về hưu vui thú tuổi già, bồng bế các cháu nội ngoại và hiện đang sinh sống tại vùng Panama City Beach, Florida, nắng ấm quanh năm, rất thích hợp với những người già.

Một khóa học 6 người, đã điểm danh 5 người rồi, còn một người nữa là ai? Xin thưa, chính tôi đây. Nói về tôi là chuyện không ai thích ngay cả người tự thuật và người nghe. Vì thông thường ai cũng muốn đánh bóng mình, nên làm cho người đọc thấy khó chịu vì có những điều quá lố hay không đúng/ Nhưng vì bản tánh tò mò, ai cũng muốn biết tại sao tôi lại có cái tên cúng cơm* lạ lùng, không giống lẽ thường, là tên cúng cơm nói lên rất đúng về một nét hay điểm độc đáo về hình dáng, như: sứt, sún, sẹo, lùn, cò, heo, phệ. Đen, nâu, vân vân…hay cá tính đặc biệt của một người, như: khào,khùng, ngắn, ngứa, phét, vân vân..

Chẳng hạn như trùng tên với tôi, có người mang tên Lục, vì có 6 ngón tay, có người tên Nùng, vì dáng người giống hệt người Thượng Du Bắc Việt, tuy anh bắn súng rất giỏi nhưng không ai gọi anh ta là Súng, có ngưới mang tên Volley vì anh ta đánh volley hay. Riêng tôi mang danh Mệ có ý nghĩa gì đây. Cách nay 15 năm khi viết bài đầu tiên Những Ngày Xa Xưa cho đạc san Ngàn Sao, tôi đã có giới thiệu biệt hiệu của tôi , cũng như gần đây chưa đầy hai tháng cũng tạ tờ đạc san Ngàn Sao này, xuất bản nhân đêm Không Gian ngày 18-11-2000, và ngày trước đó, trong đêm khu trục, tôi đã bạch hóa cũng như nói rõ về bút hiệu hay tên cúng cơm của tôi, nhưng nay tôi cũng xin nhắc lại vì hãy còn nhiều thiếu sót. Tuy danh hiệu Mệ có hai nghĩa: Tôn Thất và Già Cả. Nghĩa già cả mới thật oái oăm, đeo đẳn tôi suốt đời.

Xin nhắc lại, lúc trước khi Không Quân mới thành lập, đa số anh em Không Quân nói tiếng Bắc hay tiếng Nam, rất ít người nói tiếng Trung, tượng trưng là tiếng Huế. Ngay cả những người sinh trưởng ở Huế, cũng nói lơ lớ để cho người khác dễ hiểu. Riêng tôi nói tiếng Huế rặt, không bao giờ thay đỗi, ai hiểu được càng tốt, không hiểu cũng không sao, tôi không hề quan tâm. Bởi thái độ tỉnh bơ này nên mấy anh em, trong đó có anh Từ Bộ Cam, nói tiếng Bắc vá tiếng Huế rất sỏi, nói đùa, tôi là Mệ, người Tôn Thất. Tôi phân bua rằng, chính anh Cam mang họ Từ, mới là Tôn Thất thuộc họ ngoại, cùng họ với bà Từ Cung, mẹ của vua Bảo Đại. Thật sự, tôi không biết rõ bà con xa gần, thứ bậc như thế nào, chỉ nói qua lại cho vui nhộn mà thôi. Nhưng ai cũng biết, làm sao tôi thắng nỗi anh Cam về tranh luận, lại thêm anh Phạm Long Sửu người Huế phụ họa nữa. Ban đầu chỉ là đùa giởn, nhưng gọi riết đâm quen, dẫu tôi cải chính mấy cũng không được.

Danh từ Mệ, có thể là một tước hiệu trang trọng dành cho những người hoàng tộc, bất cứ đàn ông hay đàn bà, con vua cháu chúa, giòng họ Nguyễn Phước, nhưng tôi lại không phải , mang họ Trần. Tôi chỉ nhận tôi là Mệ, nghĩa là một bà già, người Huế gọi ông bà là Oân Mệ. Đối với tôi rất đúng.

Năm 1952, tôi mang lon Trung Uùy hai vạch vàng, tôi về Saigon công tác ở tại Camps des Mares, đường Frère Louis, hồi đó, nước ta còn dưới quyền đô hộ của thực dân Pháp, nên tên doanh trại và các đường sá đều mang danh từ Pháp. Hôm đó, tôi đứng đợi xe ở cổng gác, bổng một anh lính gác tiến lại và chào tôi, rồi khen tôi còn trẻ mà đã làm Quan hai. Tôi vui miệng hỏi lại Anh đoán tôi mấy tuổi mà cho rằng trẻ. Anh ta trả lời không ngập ngừng Quan độ dưới 45 và trên 40. Tôi chột dạ, tự nghĩ, mới có trên 20 mà già đến đỗi họ đoán tuổi gâp đôi. Cũng vừa xe Jeep mới trờ tới nên tôi cắt ngang câu chuyện, lên xe về phi cảng Tân Sơn Nhứt để đáp máy bay về lại đơn vị ở Huế vì lúc đó tôi còn ở Lục Quân.

Năm 1970, tôi hớt tóc ở một tiệm ở đường Nguyễn Huệ, người trẻ hớt tóc tôi xong, rồi mời tôi chuyển sang ghế kế bên cạnh để cho một ông già cạo râu cạo mặt. Vừa thấy tôi, ông già bảo Cụ tuy già nhưng người còn khỏe mạnh, bằng chứng là tóc cụ cứng và thẳng đứng. Nghe vậy, tôi hỏi lại*Oâng đoán tôi bao nhiêu tuổi?*. Oâng già trả lời ngay*Cụ độ dưới 75, trên 70*. Thất vọng ơi là thất vọng, tôi mới ngoài 40 mà già cở trên 70. Mười tám năm qua, tôi ở Không Quân, thường nghe người ta khen lính Không Quân nói chung, giới phi hành nói riêng, trong đó có tôi, là những chàng phi công hào hoa phong nhả, tôi cũng hãnh diện lây, nay nhớ lại lời nói thật của ông già cạo râu kia, tôi mới cảm thấy xấu hỗ.

Nhưng không ngờ sự già nua của tôi bên cạnh nhà tôi làm nhiều người chướng mắt, họ sỉ vả chúng tôi tận mặt. Đó là lúc chúng tôi ở tại trại tị nạn Orotes, Guam, hằng ngày gia đình chúng tôi cũng như mọi gia đình tị nạn khác, sắp hàng để xin cơm ăn. Các con cái chúng tôi đứng trước, rồi mới đến nhà tôi, còn tôi đứng sau chót. Mấy người sắp hàng kế bên họ chửi ngay vào mặt chúng tôi, rằng thằng già dịch bỏ vợ, vất con ở đâu mà đem con đỉ xí xọn theo. Nghe vậy, chẳng những tôi không giận mà còn cười thầm trong bụng, vì đâu có mắc mớ gì, chuyện nhà ai nấy biết.

Buồn cười nhứt là khi mới vào trong nội địa đất Mỹ, chúng tôi phải khai báo các giấy tờ ở sở di trú để xin Thẻ Xanh. Chúng tôi khai một dọc 10 đứa con. Nhân viên hữu trách kiểm soát lại giiấy tờ, họ cứ hỏi đi hỏi lại năm sanh của nhà tôi và hỏi trong số mười đứa con, những đứa con nào là con của vợ trước và đứa nào là con của nhà tôi, làm nhà tôi có vẻ thẹn thùng và bực mình lắm. Chúng tôi đoan chắc chỉ kết hôn một lần và tất cả mười đứa kia đều là con của chúng tôi.. Họ có vẻ nghi ngờ, may thay, tôi có mang theo đủ giấy tờ liền đưa ra để chứng minh. Mọi người đều mở tròn xoe mắt.

Xong, chúng tôi chào để ra về, liền có một nhân viên bảo chúng tôi nán lại. Chúng tôi chờ khoảng mươi phút với lòng hết sức băng khoăn. Bổng cánh cửa sực mở, một nhân viên từ văn phòng bên trong tiến ra, trao cho chúng tôi mười mấy Thẻ Xanh vừa bọc mica đang còn nóng hổi. Giờ đây chính chúng tôi há hóc mồm vì quá sung sướng về sự cấp phát nhanh chóng này, thường tình phải đợi cả đôi ba tháng. Tôi nghĩ, không những đây là kết quả của sự chứng minh giấy tờ đầy đủ, mà còn là một kỳ tích đối với họ, chứng kiến một ông già khọm có bà vợ trẻ măng sanh mười đứa con.

Một hôm, tôi làm mất chìa khóa vào nhà, tôi bèn lại sở làm việc kiếm nhà tôi ở đó. Đến nơi, ga95p một cô nhân viên Việt Nam, tôi liền nhờ nhắn cho tôi gặp nhà tôi. Tôi ngồi đợi cả 10 phút, chua thấy nhà tôi ra, nhưng thỉnh thoảng tôi thấy mấy cô Việt Nam đi ngang qua nhìn tôi. Sau đó, nghe nhà tôi kể lại, họ nhắn có o^ng già dịch muốn dê chị. Khi trao xong chìa khóa nhà cho tôi, nhà tôi trở vào bảo rằng chính là chồng mình. Các cô Việt Nam kia đều đồng thanh chê bai nhà tôi quá khờ dại, và khuyên nên bỏ đi, lấy chồng khác trẻ đẹp hơn, họ sẽ giới thiệu cho.

Những ngày kế tiếp có lần bắt buộc phải đối diện khi có những bữa cơm thân mật tổ chức tại một vài gia đình trong nhóm các chị làm việc cùng sở. Các cô Việt Nam kia khi gặp lại ha chúng tôi không biết phải xưng hô làm sao, vì từ trước tới nay, họ gọi nhà tôi bằng chị, nay không thể gọi tôi bằng anh, vì tôi quá già, hoặc ngược lại, nếu gọi tôi bằng bác thì không thể gọi nhà tôi bằng bác được, vì nhà tôi quá trẻ. Muốn đánh tan sự lúng túng kia, tôi liền bảo Quí chị cứ tự nhiên, gọi nhà tôi bằng chị, gọi tôi bằng bác, có sao đâu. Mấy cô kia liền xin lỗi nhà tôi, bấy lâu cứ gọi nhà tôi bằng chị mà lẽ ra phải gọi bằng bác mới đúng. Nhà tôi cười, trả lời Được gọi bằng chị, tức là tẻ và thân mật hơn, sung sướng còn gì bằng. Cách xưng hô này vẫn tồn tại cho tới ngày nay.

Có những lần các bạn bè thân còn trêu tôi nữa, bảo rằng tốt mái hại trống, tôi xấu hỗ, riêng nhà tôi có vẻ bực mình lắm. Có hôm tôi giới thiệu nhà tôi với một ông bạn trẻ mạc chược, ông ta há hốc mồm, ú ớ, không biết phải chào hỏi làm sao. Tôi sao lại bổn củ, bảo cứ gọi tôi bằng bác, nhà tôi bằng chị.

Năm 1991, tôi với một ông bạn lớn hơn tôi độ năm tuổi, tôi xem như anh, thường hay đi xoa với nhau. Hôm đó, tôi đến nơi xoa mà chưa thấy ông ta tới. Tôi điện thoại tìm kiếm, mới hay ông ta đang nằm tại nhà thương. Tôi tức tốc đến nơi, đang lúc ông ta đang ở trong phòng giải phẩu vì đứt động mạch chính dẩn máu lên đầu, tức là aneurysm. Sau khi giải phẩu, ông ta bị mê mang mấy tuần lễ liền. Ngày nào tôi cũng đến nhà thương thăm, đứng cạnh giường chừng mươi mười lăm phút rồi lặng lẽ ra về. Một hôm sau đó, như thường lệ, tôi đến thăm, muốn vào phòng bệnh phải đi ngang qua phòng y tá trực. Lần này vừa thấy mặt tôi, liền có mấy cô y tá đi theo tôi với vẻ mặt hân hoan, họ báo cho tôi congratulation!Your son was recuperating (Con của ông đã tỉnh lại). Vừa nghe, tôi hết sức ngâc nhiên, nhưng sực nhớ lại tác già của mình, tôi bèn trả lời Thank God and Thank you too (Cám ơn Chúa và cám ơn các cô nữa). Thật hết nước nói, lúc đó tôi mới trên 60 thôi mà đã già đến thế ư? Già đến đỗi người ta tưởng tôi là*Father* của một người ngoài 60. Nay thêm mười tuổi nữa thì tôi già đến cỡ nào? Và cho dẫu nhà tôi hiên lâm trọng bệnh đúng 9 năm nay, thân xác tàn tạ cũng không già bằng tôi.

XXX

Điểm danh Khóa 1 Quan Sát Viên chúng tôi có sáu người, qua những bước thăng trầm của đời binh nghiệp của mỗi người khác nhau, kẻ may mắn, người xui xẻo, kẻ bon chen, người tà tà, nhưng cuối cùng vẫn bắt kịp nhau ở cấp Tá tột cùng. Điều hết sức may mắn, nếu như so sánh về số thọ vì chiến tranh tàn khốc, thì khóa chúng tôi chỉ có một bạn ra đi vĩnh viễn, còn tại thế 5 người, bách phân mất mát chưa đầy 20%. Và một điều may mắn nữa là năm người hiện còn sống đang an hưởng tuổi già tại các nước tự do, trong khi còn biết bao chiến hữu và đồng bào ruột thịt đang sống thiếu tự do và vật lộn với chén cơm manh áo. Xin cám ơn Thượng Đế.

Ngày 16 tháng 1 năm 2001

Mệ

 

 

 

 

 

Monday, August 1, 2022

 Nguyễn Xuân Vinh (January 1, 1930 – July 23, 2022) was a Vietnamese-American aerospace scientist and educator. Vinh was Professor Emeritus of Aerospace Engineering at the University of Michigan, where he taught for nearly thirty years. His seminal work on the guidance, dynamics and optimal control of space vehicles and their interaction with the atmosphere played a fundamental role in space exploration and technological development.[4][5][6][7

                      


1/ Thay thế các chữ bằng trị số tương ứng.

NGUYỄN = 536155 = 25 = 7

XUÂN = 5615 = 17 = 8

VINH = 6155 = 17 = 8

Cộng lại: 7 8 8 = 23 = rất may mắn theo LTS.

Số 23 – Ngôi Sao Huy Hoàng của Sư Tử

(The Royal Star of the Lion)
Đây là số may mắn do hưởng phước đã tạo từ kiếp trước (karmic reward number) (1). Số 23 ban cho (bestows), không những chỉ là một hứa hẹn sẽ thành công trong nhửng nỗ lực ( endeavors) thuộc về cá nhân và nghề nghiệp, mà còn bảo đảm có sự giúp đỡ từ thượng cấp (help from superiors) và sự che chỡ/bảo vệ từ những người có địa vị cao ( protection from those in high places). Đây là một số rất may mắn, và số này ban phát (blesses) dồi dào hồng ân (abundant grace) cho người hoặc thực thể (entity) tượng trưng bởi số này. Số này, cũng nên được xem xét với những số khác (như ngày sanh hay tên) để có một sự phân tách toàn diện dựa theo lý thuyết số (full numerological analysis), điều này có thể đưa đến một kết quả không hoàn toàn may mắn. Nhưng trong những giai đoạn khó khăn, những số khác không có nhiều cơ hội tạo ra (bring about) sự rắc rối nghiêm trọng (serious trouble) khi có sự hiện diện của Ngôi Sao Huy Hoàng này của Sư Tử. Không số nào có thể thách thức với sức mạnh (strength) của Sư Tử và thắng được nó. / .
(Dịch từ trang 259 của quyển Linda Goodman’s Star Signs.)

Chú thích: (1) tỉnh từ Karmic xuất phát từ danh từ Karma, tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là hành động/số mệnh/nghiệp. Ấn độ giáo và Phật giáo tin rằng nghiệp là những hành động/việc làm của con người trong những kiếp trước, và (nghiệp này) sẽ quyết định số mạng của con người đó trong những kiếp sống sau này.
Viết khi đọc tin GS Nguyễn Xuân Vinh, cựu lịnh Không Quân VNCH, từ trần NGÀY 23/7/2022, thọ 92 tuổi.
TB. Theo LTS, những ai sanh ngày 1 tây, đi làm ở đâu cũng là xếp, là cấp chỉ huy, ít khi dưới quyền ai.

Tuesday, February 12, 2019

Một thời bay đêm - Phạm Văn Cần

Posted by   December 20, 2018  1167
Một thời bay đêm - Phạm Văn Cần
Thời gian chồng chất có lúc tưởng như đã quên đi tất cả quá khứ vui buồn chờ đợi ngày trở lại với cát bụi. Dầu vậy như người nào đó đã nói “Người ta có thể đem tôi ra khỏi quân đội nhưng không thể đem quân đội ra khỏi tôi“. Tôi không thể nào quên Không Quân. 

Khi con trai tôi còn nhỏ tôi thường dẫn nó lên Phi Đoàn những ngày nó nghỉ học. Trong khi tôi làm việc thì nó lang thang chơi trong hangar và trong bãi đậu phi cơ C-7A Caribou trước phi đoàn. Lúc đó khoảng 1973 viện trợ Mỹ đã giảm. Rất nhiều phi cơ bị đình động vì không còn đủ nhiên liệu và phụ tùng thay thế. Tôi còn nhớ có một lần tôi đi bay test một phi cơ đã được thay hai máy mới. Tôi ra xe đi bay thằng con đòi theo. Tôi chiều nó dẫn nó đi. Khi ra phi cơ tất cả phi hành đoàn đều mang dù theo chỉ trừ một mình tôi vì mang theo con trai cho nên tôi không thể đem dù. Nếu có chuyện gì thì thôi không có chọn lựa nào khác mà phải đem phi cơ về đáp an toàn. Chuyện qua quá lâu nhưng vì thương con nên đã phạm luật an phi cũng may mắn là đã không gặp chuyện gì rắc rối. 

Nhưng có lẽ vì thế mà đã vô tình gieo hạt giống Không Quân vào trong lòng con lúc nào không biết, để gần 40 năm sau nó vẫn nhớ và muốn nghe chuyện Không Quân tôi kể. Trong những bữa ăn họp mặt ở nhà con trai lớn. Chúng tôi thường bàn đủ chuyện thế sự thăng trầm của đất nước Việt Nam và thế giới. Nó vẫn thường hỏi tôi về chuyện bay bổng trong Không Quân. Hôm nay ráng xoá lớp bụi thời gian tôi viết lại đây một trong những mẫu chuyện kỷ niệm tôi còn nhớ của khoảng đời Không Quân mà tôi đã kể cho nó nghe. Những gì tôi kể lại đây có gì thiếu sót xin các niên trưởng, bạn hữu bổ túc vì hơn 40 năm đã qua trí nhớ cũng suy mòn dần. 

Tôi mê Không Quân từ khi còn đi học. Ngoài giờ rảnh rỗi, các bạn tôi thường rũ nhau đi xem đá banh, bơi lội. Còn tôi thì thích lên phi trường Tân Sơn Nhứt nhìn từ ngoài hàng rào kẽm gai những phi cơ C-47 mang cờ tam tài xanh trắng đỏ, hoặc Air France đáp và di chuyển về bến đậu. Nhìn những pilots bước ra khỏi phi cơ, trước mắt tôi họ như những thiên thần mới từ trên trời xuống. Giấc mơ của tôi trở thành một phi công lúc đó sao mà như đội đá vá trời. Bẵng đi một thời gian cuối cùng rồi giấc mộng thành phi công cũng thành sự thật. Năm 1962 tôi mãn khóa pilot bay T-28. Từ Mỹ trở về nước tôi được Bộ Tư Lệnh Không Quân chọn phục vụ trong phi đoàn 413 bay C-47. 

Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ lúc đó là chỉ huy trưởng của Liên Phi Đoàn Vận Tải gồm ba phi đoàn. 

Phi Đoàn 413, Phi đoàn trưởng Đại Úy Lý Tri Tình. Phi đoàn 415, Phi đoàn trưởng Đại úy Phạm Ngọc Trọng. 

Phi Đoàn 314 (VIP), Phi đoàn trưởng Thiếu Tá Phạm Ngọc Sang sau này là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 6 KQ. Phi Đoàn trưởng sau của 314 cùng là Trung Tá Đặng Ngọc Hiển. 413, 415, 314 là ba phi đoàn vận tải đầu tiên. Gồm có khoảng 30 phi cơ của Không Quân Pháp giao lại sau trận Điện Biên Phủ. Riêng Phi Đoàn 314 có 6 chiếc C-47 trong đó có chiếc CE (Charlie Echo). 

Charlie Echo trang bị đặc biệt để dành chở Tổng Thống Ngô Đình Diệm, năm chiếc còn lại thường dùng để chở nhân viên tháp tùng hoặc cargo. Thường thì chỉ dùng hai chiếc. Cũng nói thêm trong phi đoàn này có một chiếc Aerocommander củaTổng Thống Eisenhower tặng cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau này ông Kỳ lấy đặt tên là Kỳ Duyên Mai. 

Còn lại hai phi đoàn 413, 415 chia nhau hoạt động ngày lẫn đêm trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Ban ngày hoạt động khắp các vùng chiến thuật trong các nhiệm vụ: thả dù, tải thương, vận chuyển quân dụng, chuyển quân. Ban đêm thả trái sáng, soi sáng các vùng hành quân hay đồn bót đang bị Việt Cộng lợi dụng bóng đêm tấn công, chúng tôi soi sáng để quân bạn chống trả. Những năm 1960 -1968 từ những đơn vị du kích phá hoại, tấn công đồn bót lẻ tẻ đến năm 1968 chúng đủ mạnh để đánh trực diện với QLVNCH. 

Chúng tôi được biệt phái đi khắp 4 vùng chiến thuật. Mỗi vùng ban đêm có phi cơ C-47 bay bao vùng thả trái sáng. Những phi vụ này do Phi đoàn 413, 415 đảm nhiệm. Những phi vụ vận tải được điều động bay trong mọi thời tiết. Những phi công thuộc các phi đoàn trên hầu hết có trên dưới 10 ngàn giờ bay rất nhiều kinh nghiệm. 

Các phi đoàn luân phiên biệt phái cho các tướng vùng I, II mỗi tuần một phi cơ. Ngoài ra Air Việt Nam hàng tháng cũng xin biệt phái các phi công vận tải qua bay các tuyến đường Sài Gòn Paris, Sài Gòn Tokyo, Taiwan, Hong Kong, Singapore, đến tận Ấn Độ Bombay ... 

Có người nói phi công có thể bay vận tải bánh đuôi như C-47 thì có thể điều khiển được tất cả các loại vận tải tối tân khác? Các phi công vận tải C-47 của Việt Nam đã bay các loại Jet tối tân thời đó như Caravelle, bay đường Sài Gòn-Paris (Trung Tá Cung Thăng An). Hoặc bay Boeing 727, Boeing 707, Trung Tá Huỳnh Minh Bon, Trung Tá Trần Thanh Lịch. Hoặc các loại DC-6, DC-4 Trung Tá Quang (thầy giáo). Trung Tá Nguyễn Quế Sơn, Trung Tá Hà Hậu Sinh. Thiếu Tá Nguyễn Tấn Châu. 

Tết Mậu thân 1968. Tôi bay trên bầu trời Sài Gòn-Chợ Lớn thả trái sáng. Những trái sáng do hai áp tải thả xuống bằng một cái máng đặt ở cửa cargo, cửa cargo đã gỡ trống. Mỗi trái sáng nặng khoảng 10 kg được đặt trên máng. Dây kích hỏa an toàn được cài sẵn vào máng phóng. Trên phi cơ có hai đèn hiệu do trưởng phi cơ điều khiển. Đèn xanh chuẩn bị, đèn đỏ thả. Trái sáng được phóng ra ngoài sẽ có tiếng nổ nhỏ “bụp” rồi dù trắng bung ra giữ cho trái sáng lơ lửng trong không trung. Mỗi trái sáng là một triệu nến đèn, một mặt trời nhỏ, soi sáng vùng hành quân khoảng 3 - 4 phút. Mỗi trái sáng được tính ra khoảng mười ngàn đồng VNCH thời đó. Một phi cơ có thể chở từ 100 đến 200 trái sáng theo nhu cầu. 

Mậu thân 1968 tôi bay trên thành phố Sài Gòn thân yêu được mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông để soi sáng cho Sài Gòn, ngoài việc thả trái sáng soi sáng vùng hành quân cho quân bạn trong tay của chúng tôi không có một thứ vũ khí gì để chống lại Việt Cộng khi nhìn thấy chúng từ trên cao. Việt Cộng tấn công nhiều nơi lửa cháy, nhiều nơi loé sáng vì đạn nổ. Lúc đó lòng của tôi thật là đau đớn nặng nề, vừa bay vừa nhìn Sài Gòn bị tấn công nặng nề mà tự nhiên nước mắt trào ra vì thương tâm và oán giận. 

Tháng 5/1968, KQ QLVNCH được trang bị AC-47. Tôi là một phi công trong phi đoàn 417 Hỏa Long vận tải võ trang đầu tiên của KQVN đồn trú ở Tân Sơn Nhứt Sư Đoàn 5 Không Quân. Phi đoàn trưởng là Thiếu Tá Phạm Công Minh, Phi đoàn phó Đại úy Nguyễn Quế Sơn, trưởng phòng hành quân Đại úy Cung Thăng An. Hoa Kỳ chuyển giao khoảng 20 phi cơ AC-47 (AC = Attack Cargo) cho Việt Nam. Hỏa lực trang bị trên phi cơ là 3 Miniguns 7.62 ly mỗi khẩu có thể bắn 6000 viên một phút, 3 khẩu 18000 viên phút. Mỗi phi cơ đổ đầy xăng mang hai tấn đạn, hỏa châu. Phi hành đoàn gồm 2 pilots, 1 navigator, 1 flight mechanic, 2 load masters, 2 gunners gồm 8 người có thể bay suốt đêm. 

Bay đêm trên những phi vụ AC-47 là những giờ phút căng thẳng, mệt nhoài lạnh lẽo vì cửa cargo đã được gỡ bỏ. Phi hành đoàn phía sau phải đứng nghiêng nhiều giờ khi phi cơ nghiêng cánh bay trong vòng tròn. Khi phi cơ nghiêng cánh xạ kích mùi khói súng tràn ngập theo gió từ cửa sau lùa khắp khoang tàu lên đến cockpit. Nói là những đoàn viên trong phi hành đoàn vận tải võ trang mang chiến bào nhuốm mùi thuốc súng khi hành quân như những chiến sĩ bộ binh đánh trận dưới đất thì cũng không ngoa. 

AC-47 cất cánh từ lúc mặt trời lặn và hoạt động đến lúc mặt trời mọc. Có nhiều người trong Không Quân thời đó chỉ nghe đến AC-47 Hỏa Long chứ chưa bao giờ thấy vì ban ngày những phi cơ này lúc đó là thứ vũ khí mới được cất kỹ trong ụ có canh gác cẩn thận. 

Bay đêm nhiều giờ trên chiếc AC-47 căng thẳng mệt nhọc nhưng tôi lại rất vui vì tình trạng bất lực nhìn Việt Cộng đánh phá mà không có hỏa lực để đánh trả chúng không còn nữa. Chúng tôi có thể nhìn rõ mục tiêu dưới ánh hoả châu và tiêu diệt chúng từ trên cao. Hỏa Long AC-47 thực sự là những hiệp sĩ bảo vệ giấc ngủ cho miền Nam. Tình trạng mất đồn không còn xảy ra sau năm 1968. Mỗi đêm đều có những phi vụ Hoả Long túc trực. Khi một Hoả Long được điều động cất cánh đi hành quân thì một phi hành đoàn Hỏa Long khác sẽ túc trực sẵn sàng cất cánh để thay thế. 

Chúng tôi có một hệ thống truyền tin rất hữu hiệu. Các tiền đồn đều có trang bị PRC 25. Khi có đụng độ họ gọi về tiểu khu. Tiểu khu liên lạc về các đài kiểm báo. Vùng 4 CT Paddy (Trung Tá Nguyễn Bửu Lộc chỉ huy trưởng), Vùng 3 CT Paris (Đại Tá Vũ Văn Ước chỉ huy trưởng),Vùng 2 CT Pyramid (Trung Tá Huỳnh Bá Mỹ chỉ huy Trưởng), Vùng 1 CT Panama (Trung Tá Nguyễn Cầu chỉ huy trưởng). Trên đường đến vùng làm việc chúng tôi liên lạc với các bộ chỉ huy vùng I, II, III, VI bằng hệ thống VHF UHF. Đến mục tiêu thì đổi sang PRC 25 trực thoại với quân bạn. Trước khi đến mục tiêu chúng tôi thường yêu cầu quân bạn xác định mục tiêu bằng trái khói xanh, đỏ, tím, vàng nếu không có thì yêu cầu họ đốt mũi tên lửa chỉa về hướng địch. Những mũi tên lửa này thường là những cái đèn bằng lon sữa bò chứa dầu hỏa đốt sáng xếp trên miếng gỗ theo hình mũi tên có thể quay 360 độ để chỉ hướng địch và cho biết chúng đang ở phạm vi 100m, 200m, 300m và xin tác xạ. Cũng có trường hợp Việt Cộng dùng PRC 25 do chúng tịch thu được của ta hướng dẫn phi cơ tác xạ vào những nơi có quân bạn vì chúng không có những phương tiện như mũi tên lửa, trái khói cho nên chúng tôi biết chúng là Việt Cộng giả dạng. Trong những trường hợp này tôi thường để cho các bạn navigator đấu khẩu với bọn vẹm. Vẹm: Miền Bắc tự do gấp triệu lần Ngụy quyền. Ta: Mày nói mày có tự do vậy mày thử chửi Hồ Chí Minh rồi tao chửi Nguyễn Văn Thiệu cho mày nghe!!! ... Ê Vẹm! mày thử bắn lên trời một phát coi hay mày thử đốt lửa cho tao coi. Vẹm trả lời: Tụi bây thử bật đèn lên và bay thấp là tao bắn liền. Tuổi trẻ hăng máu không biết sợ tôi liền bật đèn pha sáng trưng anh em phi hành đoàn căng mắt tìm kiếm lửa đạn của Vẹm bắn lên. Nhưng Vẹm như chuột rút vào hang vì chúng biết bắn lên lộ mục tiêu là chúng rồi đời. 

Phi hành đoàn trực bay đêm sau bữa cơm chiều phải vào túc trực trong phi đoàn. Chúng tôi được điều động bay bất cứ lúc nào từ 7 giờ đêm đến 5 giờ sáng. Nhiều lúc đang ngủ ngon bị đánh thức để cất cánh lúc một hai giờ sáng. Mắt còn chưa tỉnh ngủ phi hành đoàn được xe đưa ra phi cơ. Mỗi người một nhiệm vụ trên phi cơ. Phi cơ đã được tiền phi từ lúc chiều. Ban đêm chỉ cần lên quay máy, cất cánh. Từ lúc điều động đến khi cất cánh chỉ có 5, 6 phút. Bay đêm trên mục tiêu tất cả 5 giác quan đều phải căng thẳng hoạt động. Hai mắt nhìn liếc qua các phi cụ. Nhìn ra ngoài xem mục tiêu. Tai phải nghe rõ yêu cầu của quân bạn. Miệng lúc nào cũng phải bận rộn liên lạc với quân bạn, qua interphone với navigator và gunners. Hai tay giữ vững cần lái. Hai chân đạp rudder điều hoà khi nghiêng cánh. 

Đêm nào một phi vụ AC-47 đụng trận ít nhất là hai lần có khi đến 5 lần. Có nhiều đêm cất cánh yểm trợ cho cho quân bạn từ 7 giờ đêm đến 5 giờ sáng. Sau những phi vụ bay đêm như thế phi hành đoàn ai cũng mệt, buồn ngủ tay chân rã rời. 

Sau Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi những phi hành đoàn AC-47 bị cấm trại. Ngày ngủ đêm bay. Xin kể lại một vài phi vụ mà tôi còn nhớ và vẫn còn xúc động khi kể lại. Một đêm chúng tôi được điều đến một đồn chỉ có 10 địa phương quân và vợ con họ trú đóng. Vị trí đồn này nằm ở ngã tư Kinh Xà No. 

Kinh này do Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho đào thẳng tắp từ Vị Thanh (Long Xuyên) đến Rạch Giá. Khoảng 2 giờ sáng một đêm sau năm 1968, chúng tôi bay trên không phận Cần Thơ thì được lệnh bay đến địa điểm trên. Khi đến mục tiêu liên lạc được với dưới đất chúng tôi được cho biết là lực luợng Việt Cộng rất đông đã vào đến hàng rào và sắp sửa tràn ngập vào đồn. Phía ta nhiều chiến sĩ đã bị thương và chết, quân số chỉ còn phân nửa. Sau này nghe kể lại vợ con của họ cũng ra chiến đấu, chồng bị thương vợ lên thay cũng cầm súng bắn. Những đứa con lính chưa đầy mười tuổi đầu mà cũng phụ khiêng đạn băng bó cho cha mẹ. Tôi bay trên mục tiêu đề nghị quân bạn rút hết vào đồn. Và đừng ai chạy ra ngoài khi nào xong xin các bạn cho biết và rút attenna xuống xin cho tôi vài phút để thanh toán mục tiêu. Quân bạn cho biết đã sẵn sàng. Tôi cho 3 khẩu minigun chuẩn bị bắn, và thả trái sáng soi sáng mục tiêu. AC-47 Hỏa Long nghiêng cánh 3 khẩu mini guns phun lửa dài xuống đất bao phủ hàng rào, bắn phủ ngay trên đồn. Sau đó tôi ngưng bắn và cho thả hỏa châu. Dưới ánh sáng hỏa châu những người lính địa phương quân và vợ con túa nhau ra khỏi đồn vui mừng. Chiến lợi phẩm họ thu được đêm đó là hàng trăm súng và mã tấu. Phần lớn Việt Cộng bị tiêu diệt một phần bị thương. Tôi gọi cho Paddy (Bộ chỉ huy HQ KQ Cần Thơ) xin trực thăng tản thương cho quân ta và gia đình của họ cùng với các Cộng quân bị thương về quân y viện Phan Thanh Giản Cần Thơ. Quân bạn dưới đồn cho biết còn một số Việt Cộng đang dùng xuồng ba lá trốn thoát dưới kinh. Trong lòng chẳng nhớ đã suy nghĩ ra sao mà tôi không tiếp tục truy sát chúng nữa. 

Bay AC-47 hàng đêm chúng tôi được dịp đi ngoại quốc mà không cần mang passport, hành lý, ngoại tệ chi cả.. Vì trong thời gian này ngoài những phi vụ bảo vệ lãnh thổ VNCH còn có một phi vụ AC-47 của KQVN hàng đêm được biệt phái đi Campuchia để bảo vệ thủ đô Nam Vang. Có tuần tôi đi “vượt biên” đi ngoại quốc đến hai lần. 

Cất cánh vào những lúc mặt trời lặn. AC-47 mang đầy xăng, đạn chậm chạp nặng nề rời khỏi Tân Sơn Nhứt. Cất cánh lúc 7 giờ tối sau 50 phút là chúng tôi đã đáp ở Phi trường Pochentong bên Cam bốt. Lúc đó Việt Nam yểm trợ giúp đỡ cho Thủ tướng Lonol chống Miên Cộng Khmer đỏ tay sai của Việt Cộng và Trung Cộng. AC-47 của Việt Nam đánh khắp vùng Biển Hồ, Siem riep, Ankor thom, Ankot Watt, Kampung Thum, Kampung Sum và giữ vững thủ đô Nam Vang và phi trường Pochentong là nơi Khmer đỏ thường pháo kích rất nặng nề. Mỗi lần thấy phía Bắc sông Mekong nháng lửa là tôi nghiêng cánh xạ kích vào mục tiêu đó. Cho đến khi quân Khmer bị tiêu diệt hoặc rút lui. Có lần bay như thế đến nữa đêm thì nhà máy điện phi trường Nam Vang bị pháo trúng. Phi trường đèn đuốc tắt ngúm, chỉ còn liên lạc được với đài kiểm soát. Tôi cho họ biết là xăng phi cơ chỉ còn 30 phút bay và đã hết đạn và trái sáng. Tôi cần đáp để đổ xăng và tái trang bị để cất cánh trở lại hành quân. Họ cho biết là không có cách nào khôi phục đèn phi đạo. Tôi yêu cầu họ cho bốn chiếc xe Jeep bật đèn soi sáng hai đầu phi đạo họ cũng không đáp ứng được. 

Về Sài Gòn thì không còn đủ xăng nên chỉ còn một con đường là phải đáp xuống Pochentong. Tôi dùng đèn pha C-47 rà tìm phi trường và cuối cùng cũng đáp được an toàn. Sau khi xăng nhớt đổ đầy, đạn trái sáng load đầy đủ. Thì Miên Cộng lại tiếp tục pháo kích như mưa vào phi trường. Tôi nghĩ ở dưới đất chắc cũng không xong và cũng không có chỗ tránh pháo. Nên tôi quyết định cất cánh trong màn đêm trên một phi đạo không có đèn. Sau khi cất cánh an toàn chúng tôi tiếp tục yểm trợ quân bạn đến khi trời sáng. 

Bây giờ mọi sự đã sang trang, tôi cảm ơn mấy anh trong phi hành đoàn đã giữ kín không báo cáo tôi vi phạm an phi nếu các anh báo cáo tôi đã đáp xuống và cất cánh trên một phi đạo không có đèn giữa đêm đen thì không biết chuyện gì đã xảy ra cho tôi. 

Một đêm tháng 5/1968, khoảng 2 giờ sáng, tôi đang bay trên mục tiêu nhà thờ Fatima Bình Triệu. Qua PRC-25 tôi được cho biết là Thủy Quân Lục Chiến đang đụng trận nặng xáp lá cà với Việt Cộng bên bờ sông phía Gò Vấp và họ bảo tôi đợi mà không cho chỉ thị hay yêu cầu gì rõ ràng. Tôi trả lời: Chúng tôi còn nhiều nơi cần yểm trợ không có thời giờ để coi mấy anh đánh cận chiến. Quân bạn cho biết là Việt Cộng bên kia sông dùng bập dừa, thân chuối, ruột xe hơi, xe Vespa đang lội qua sông để bắt tay với đám đã ở bên này sông. Tình hình rất nguy ngập nếu để chúng xáp nhập được với nhau thì phi trường Tân Sơn Nhứt và bộ Tổng Tham Mưu sẽ bị nguy hiểm. Qua tần số FM tôi đưa ra một đề nghị và nói các anh em TQLC đồng ý thì làm theo tôi còn không thì bỏ qua. Tôi dùng âm thoại bây giờ không còn nhớ call sign của họ và tôi là gì vì mỗi trận đánh đều có mật khẩu và tên gọi riêng. Tôi đề nghị mấy bạn đừng đánh cận chiến nữa, mà rút chạy về hướng nào an toàn. Khi nào rút xong cho tôi biết chi tiết. Và các bạn cứ để mặc cho chúng (bọn VC) lội qua sông khi nào chúng nó lội được quá phân nữa thì cho tôi biết. TQLC bàn nhau kế hoạch mới. Khoảng vài phút sau họ đồng ý theo lời đề nghị của tôi. Họ báo cho tôi biết là đã rút lui với khoảng cách an toàn và bọn Việt Cộng bắt đầu lội gần được nửa sông. Tôi đã ngưng bắn trái sáng khoảng 5 phút. Bây giờ tôi báo cho quân bạn biết là chúng tôi sẽ thả trái sáng trở lại và bắt đầu xạ kích. Tôi bấm cò bắn 3 khẩu miniguns cùng một lượt. 18 ngàn viên đạn/phút hụ lên như tiếng bò rống. Tôi bắn chận đầu và chặn đuôi Việt Cộng không cho chúng tiến lên cũng như rút lui. Tôi bắn trên bờ vị trí quân bạn đánh cận chiến với VC không lâu trước đó. 

Khoảng 5 giờ sáng, hơn 200 VC ra đầu hàng. Chúng ngồi dài theo dốc cầu Bình Lợi. Nếu toán còn lại sáp nhập được với bọn này thì việc gì sẽ xảy ra cho đồng bào ở Gò Vấp, Phi Trường Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham Mưu? 

5giờ 30 sáng, tôi báo cho TQLC biết sẽ rời tần số làm việc để về đáp Tân Sơn Nhứt. Người chỉ huy TQLC yêu cầu tôi cho biết tên và cấp bậc. Tôi hỏi bạn cần biết tên tôi để làm gì?, TQLC đáp để báo cáo thưởng huy chương cho tôi. Tôi trả lời trên phi cơ này chúng tôi gồm 8 người, nếu bạn đồng ý đề nghị báo cáo thưởng huy chương cho hết 8 người thì tôi sẽ đưa tên tất cả 8 người, còn nếu chỉ một mình tôi thì xin phép được từ chối. 

Bay trên AC-47 cửa cargo đã gỡ trống toác gió lùa phần phật vào phi cơ. Pilot và copilot thì được ngồi trong cockpit được che chở phần nào, còn anh em xạ thủ, áp tải, cơ phi thì phải liên tục đứng làm việc trong gió lạnh. Anh cơ phi nghe từng tiếng động cơ thay đổi rồi lên trao đổi đề nghị chúng tôi điều chỉnh động cơ. Mấy anh mới là những người xứng đáng được thưởng huy chương. Quân bạn TQLC có lẽ nghe rõ nhưng không trả lời... tôi rời tần số về đáp ở Tân Sơn Nhứt. 

Sau này mỗi lần nghe ca sĩ Thanh Thúy hát Một Chuyến Bay Đêm ... 

Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền 
Người trai đi viết câu chuyện một chuyến bay đêm 
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió 
Đời ngây thơ xưa lại nhớ lúc mình còn thơ. 
Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo 
Đường Minh Đế nhàn du khắp tinh cầu... 


Lời ca thật là đẹp mô tả phi công như một ông hoàng rong ruỗi ngắm trăng sao. Nhưng chúng tôi bay đêm chỉ thấy toàn lửa đạn, áo bay khét mùi thuốc súng. Bay đêm trên Hỏa Long AC-47 là một cực hình. Phi hành đoàn phải túc trực bay từ lúc mặt trời lặn đến mặt trời mọc. Những chuyến bay đêm này không có nhẹ nhàng thơ mộng như bài hát. Những người Không Quân Việt Nam khi bay đêm không có “níu áo hằng nga” và bầu trời cũng không có có xanh như màu áo của Đường Minh Đế nhàn du... Có lẽ bài hát mô tả một chuyến bay hàng không dân sự êm đềm nào đó được bay bằng auto pilot đường dài và pilots có thể ung dung ngắm trăng sao? 

Ánh hỏa châu đã trở thành rất quen thuộc với quân dân miền Nam, ánh hỏa châu đã đi vào văn chương, văn nghệ. Từ vĩ tuyến 17 cho đến mũi Cà Mau. Mỗi đêm những ánh hoả châu soi sáng cho các anh chiến sĩ đi tìm diệt Việt Cộng. Có mấy ai nghĩ về những người lính KQ “tác giả” của những ánh hỏa châu, những người bay âm thầm soi sáng đêm đen giữ yên giấc ngủ cho mình? 

Tôi rời phi đoàn Hỏa Long 417 khoảng năm 1970. Phi đoàn 417, lúc này đã đổi danh xưng thành 817, dời ra Nha Trang, Trung Tá Huỳnh Văn Tòng là phi đoàn trưởng cho đến ngày mất nước. 

Để kết thúc xin kể lại một câu chuyện ít ai biết về một phi vụ có liên quan đến những nhân vật lịch sử, tưởng chừng đã đi vào quên lãng dưới lớp bụi ký ức thời gian. 

Phi vụ đón Quốc Trưởng Nguyễn Khánh mồng 2 tết 1964 từ Đà Nẵng về Sài Gòn. Hôm đó tôi là sĩ quan trực Liên Đoàn 33 Tác Chiến từ 7 giờ tối mồng một Tết đến 7 giờ sáng mồng hai Tết. Tất cả mọi việc trong đêm không có gì bất thường. Gần 4 giờ sáng Trung Úy Trưởng Phi cơ Nguyễn Đình Thành ký giấy nhận chiếc C-47 số đuôi CE (Charlie Echo) sau đó cùng với Đại Úy Đỗ Thọ ra bến đậu VIP. 

Hoa tiêu phụ trong sổ ghi là Chuẩn Úy Đặng Văn Âu (?) được Trung Úy Thành gạch đi và ký tên thay vào đó là Đại Úy Đỗ Thọ là hoa tiêu phụ. 4 giờ sáng đúng, Charlie Echo cất cánh từ Tân Sơn Nhứt lấy hướng Ban Mê Thuột, Pleiku, Quảng Ngãi , Đà Nẵng. Khoảng 5 giờ sáng một tiếng đồng hồ sau khi Charlie Echo đã cất cánh, Đại Úy Nguyễn Mạnh Bổng còn mặc quần áo ngủ hớt hãi chạy vào bàn làm việc của sĩ quan trực nói như người mất hồn nét mặt còn chưa tỉnh ngủ hẳn: 

- Anh anh đừng cho Charlie Echo cất cánh!! Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao? 

Đại Úy Bổng trả lời: 

- Tôi thấy nó rớt ở đầu phi đạo Tân Sơn Nhứt rồi. 

Quá ngạc nhiên tôi đáp lại: 

- Charlie Echo đã cất cánh được khoảng một tiếng đồng hồ rồi, tôi đâu có thẩm quyền không cho nó cất cánh hay là kêu nó quay lại hơn nữa đây là phi vụ đón Quốc Trưởng. Đây điện thoại Đại Úy gọi cho TACC hay Pyramid ra lệnh cho Charlie Echo quaylại! Tôi còn nói thêm. Giờ này chắc nó đã gần tới Ban Mê Thuột... 

Đại Úy Bổng cầm điện thoại suy nghĩ một lúc rồi gọi liên lạc với ai đó. Sau đó ông cúp máy rời phòng sĩ quan trực rồi lái xe về nhà. Đến 7 giờ 30 sáng mồng 2 Tết năm 1964. Đà Nẵng gọi về Tân Sơn Nhứt hỏi tôi là sao giờ này vẫn chưa thấy Charlie Echo đáp ở Đà Nẵng?. Và hỏi tôi nó đã cất cánh chưa và cất cánh lúc mấy giờ. Tôi trả lời Đà Nẵng xong thì đúng lúc đó phiên trực của tôi đã hết tôi bàn giao lại cho Chuẩn Úy Sết (quên họ) anh là Navigator. 

Cho đến chiều ngày mồng 2 Tết tôi trở vào phi đoàn thì được biết là chiếc Charlie Echo Trưởng Phi Cơ là Trung Úy Nguyễn Đình Thành, Hoa Tiêu phụ là Đại Úy Đỗ Thọ đã đâm vào núi Trà Bồng trên đường đi Pleiku Quảng Ngãi. Cũng xin nói thêm chiếc Charlie Echo là phi cơ VIP dành riêng cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi ông chưa bị tướng Dương Văn Minh đảo chánh và giết. 

Phạm Văn Cần
10/2014

CHIẾN CÔNG CUỐI CÙNG – KQ Nguyễn Viết Trường

KQ: NGUYỄN VIẾT TRƯỜNG
CHIẾN CÔNG CUỐI CÙNG - Nguyễn Viết Trường
Đời sống Quân ngũ đối với một Quân nhân Tác Chiến thời Binh lửa ngập tràn Quê hương, trong cuộc Chiến Tranh tương tàn Việt Nam, ai cũng có những chiến công của riêng mình, ít hay nhiều không đáng kể, mà qua đó đã chứng minh được sự hy sinh, và tinh thần đấu tranh cho Hòa Bình Dân Tộc của cả một Thế Hệ làm Trai sinh ra, lớn lên trong một đất nước Điêu Linh Chinh Chiến…
Trong phạm vi của bài viết tự truyện này, cho phép tôi được thuật lại một chiến công cuối cùng của tôi, vào thời điểm những ngày hấp hối của Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa ( cuối tháng 04 năm 1975).
Một tháng trước ngày nước mất, tôi và anh Nguyễn ngọc Di thuộc Phi Đoàn Thần Ưng 116, đã được lệnh của Quân Đoàn IV Quân Khu IV và Sư Đoàn IV Không Quân, phải túc trực thường xuyên tại Căn Cứ Không Quân Trà Nóc, để bay những Phi Vụ khẩn cấp và đặc biệt, hầu phát giác, ngăn chặn và tiêu diệt sự có mặt của Phiến Cộng trong âm mưu tiến chiến Cần Thơ và Phi Trường Trà Nóc của bọn cướp nước này.
Chúng tôi là những Phi Công mang hai Chỉ Số, nên trong mọi Phi Vụ, chúng tôi được phép bay một mình trong các Phi Vụ Hành Quân.
Vào một chiều cuối tháng tư, tôi được lệnh cất cánh để Bao Vùng và Quan Sát tìm kiếm những âm mưu xâm nhập của Việt Cộng vào Cần Thơ.
Khoảng 05:00 chiều hôm đó, sau một thời gian bay bao vùng, tôi phát giác phía Tây Bắc Ô Môn, trên những dòng sông uốn khúc có khoảng trên 120 chiếc thuyền đủ loại, đang di chuyển về hướng Phi Trường Trà Nóc.
Thấy khả nghi, tôi báo cáo và xin xác định quanh vùng này có cuộc Hành Quân nào không? Và vị trí Quân Bạn có gần hướng đi của những chiếc thuyển này không?
Sau khi được báo cáo không có cuộc Hành Quân nào gần đó, và cũng không có Quân Bạn gần đó, tôi quyết định sẽ tìm ra sự thật những chiếc thuyền này là Dân hay là Địch, trước khi có những hành động thích nghi với bối cảnh lúc ấy.
Sau một hồi Quan Sát, tôi nhận định đoàn thuyền đủ loại này đã không thể là của Quân Bạn thì cũng không thể là của Dân Chúng được, mà chính là của Địch Quân, trong lúc tôi chưa có quyết định dứt khoát, thì trên tần số tôi nhận lệnh trực tiếp của Tướng Nguyễn khoa Nam cho phép tôi toàn quyền hành động tiêu diệt đoàn thuyền này, vì đó chính là đoàn thuyền của Việt Cộng, chúng có ý định tấn công Phi trường Trà Nóc vào buổi tối hôm đó.
QUAN SAT CO L19 KHONG QUAN VNCH.jpg
Sau khi nhận được Lệnh này, tôi bay lên cao và bay ra khỏi tầm quan sát và nghi ngờ của đoàn thuyền, tôi đợi đoàn thuyền đi vào khúc sông mà hai đầu sông tẽ ra làm đôi, đến lúc đó tôi mới quay trở lại vùng để mở cuộc tấn công.
Trong thời gian chờ đợi, tôi liên lạc với hai đơn vị Pháo Binh gần nhất, cho tọa độ và nói họ sẵn sàng đợi lệnh mới khai hỏa, mặt khác tôi liên lạc với phòng Hành Quân Chiến Cuộc xin cung cấp tối đa các Phi Tuần Khu Trục, và được họ cho biết sẽ thỏa mãn tối đa cho tôi những Phi Tuần Khu Trục cánh quạt AD5, AD6 Biệt Phái.
Theo kinh nghiệm Chiến Trường của tôi, thì hiệu quả của các Khu Trục Cánh Quạt rất tốt vì số bom đạn và giờ hoạt động trên vùng của các Khu Trục Cánh Quạt vừa mang nhiều bom lại bay được nhiều giờ.
Thời tiết chiều hôm đó thật quang đãng, bầu Trời trong xanh và gió êm, rất thuận tiện cho tôi thi hành nhiệm vụ.
Khi chiếc cuối cùng của đoàn thuyền lọt vào khúc sông có hai đầu tẽ hai, tôi bắt đầu Điều Chỉnh Pháo Binh nổ chặn hai đầu của khúc sông định mệnh này.
Tôi thấy đoàn thuyển bắt đầu rối loạn, một số Việt Cộng tháo chạy lên hai bờ, vừa lúc ấy có hai Phi Tuần lên vùng, tôi ngưng Điều Chỉnh Pháo Binh, và liên lạc với hai Phi Tuần Khu Trục, tôi mô tả mục tiêu thật rõ ràng, ngắn gọn và khúc triết, khi được biết những đoàn thuyền này sẽ tấn công Phi Trường, thì những Phi Công Khu Trục rất hăm hở quyết thanh toán hết bọn Việt Cộng ác ôn này,
Tôi đề nghị một Phi Tuần sẽ đánh hai bên bờ sông, và một Phi Tuần sẽ đánh ở hai đầu khúc sông định mệnh này.
Vỉ “tứ bề thọ Địch” nên Địch Quân chỉ còn là miếng mồi ngon cho hai Phi Tuần Khu Trục kế tiếp tiêu hủy trọn vẹn hơn 120 chiếc thuyền.
Quang cảnh lúc ấy khói lửa ngập tràn…
Sau khi thanh toán mục tiêu, tôi báo cáo cho Trung tâm Hành Quân Không trợ, Phòng Hành Quân Chiến Cuộc biết kết quả.
Trước khi rời vùng về đáp Phi Trường Trà Nóc, tôi quay nhìn lần cuối hiện trường, cả một dòng sông nhuộm đỏ máu Quân Thù, mảnh vỡ của những chiếc thuyền trôi lềnh bềnh trên sông…
Chiến tranh là thế đấy, mình không diệt họ thì họ sẽ diệt mình….
Tướng Mạch văn Trường theo lệnh của Tướng Nguyễn khoa Nam đã cùng các Phóng Viên đài truyền hình Cần Thơ đáp trực thăng xuống ngay hiện trường, hình ảnh nơi đây được trực tiếp chiếu trên màn hình TV Cần Thơ, theo báo cáo của phía Bộ Binh thì :
• Hơn 120 chiếc thuyền đủ loại bị bom đạn phá hủy
• Hàng tấn vũ khí và đạn dược tịch thu được
• Đếm được 92 xác của Cộng Quân, số bị nát thây không kể.
Sau đó, tôi được Lệnh của Tướng Tư lệnh Quân khu Nguyễn khoa Nam là chính tôi phải trình bày tự sự trên đài truyển hình để dân chúng vững niềm tin vào Quân đội.
( Một chi tiết khá ngộ nghĩnh mà tôi đến nay vẫn còn nhớ, tôi đã có nói với Trưởng phòng Hành Quân, của Phi Đoàn Thần Ưng 116, là thiếu tá Bùi kiêm Điền (Khóa 61), tôi lên đài truyền hình, sẽ đeo kính đen khi trình bày. Thiếu tá Điền hỏi tôi tại sao vậy? Tôi đáp: Vì tôi còn có nickname là Trường kính Đen mà! )
Sau đó, tất cả các Phi Công tham chiến trận đánh này đều được tưởng thưởng huy chương .
Riêng tôi được tưởng thưởng Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu và được lên Lon Đặc Cách.
Đáng tiếc, chưa kịp khao Lon cùng các Chiến Hữu, thì ngày 30 tháng 04 đã đến.
Sáng 30 tháng 4 năm 1975 oan nghiệt, tôi vẫn còn đang bay Quan sát trên vùng trời Cần Thơ, được chứng kiến sự hỗn loạn tại căn cứ Không Quân Trà Nóc, và sự ra đi đầy máu và nước mắt của một số Phi Công Trực Thăng.
Sau khi thấy Chuẩn tướng Nguyễn hữu Tần lên Phi Cơ tháo chạy ra nước ngoài, tôi đã lấy chiếc Phi cơ của anh Vũ hiếu Mưu từ Cà Mau trở về Trà Nóc đáp, rồi rủ anh Lê xuân Phong cùng đi, tôi cất cánh và nhắm hướng Thái Lan trực chỉ.
Tôi bay được khoảng nửa đường bay, anh Phong đề nghị với tôi, quay trở lại đáp Phi trường Long Xuyên, rồi liên lạc với toán quân của Hòa Hảo, để tiếp tục đánh trả bọn cuớp nước.
Đề nghị này thật hợp với tâm trạng của tôi lúc đó, nên tôi đã quay về đáp Phi trường Long Xuyên.
Một quyết định mang đến đời tôi nhiều khổ đau tột đỉnh.
• Tôi đã gặp lại người bạn thân nhất của tôi là anh Nguyễn ngọc Trung, anh từ Sóc Trăng
cùng anh Hiệp đáp Long Xuyên, với viên đạn thù còn nằm sâu trong óc, anh đã là một Sĩ Quan Không Quân thuộc Sư Đoàn IV KQ tử trận sau cùng trong cuộc Chiến tương tàn Nam Bắc.
• Tiếp đến tôi đã bị đi tù Cải Tạo tại miền Bắc nước Việt “mút mùa lệ thủy”,
tiếp nữa là ở tù vượt biên, và sau nhiều lần vượt biên không thành, cuối cùng rồi cũng sang được đất Hoa Kỳ vào năm 1991 trong Chương Trình Tỵ nạn Chính Trị HO8.
• Sau cùng là đã chịu cảnh Gia Đình tan nát, vợ tôi đi vượt biên đã bị bọn ác ôn Thái Lan
làm nhục và chúng đã đang tâm chặt vợ tôi ra làm nhiều khúc khi nàng kháng cự lại chúng. Tin này do vợ tôi báo mộng với mẹ và đứa con gái đầu lòng cùng một đêm sau một thời gian dài biệt vô âm tín.
Tôi viết câu chuyện này để nhớ lại và khắc ghi những dữ kiện đã xảy ra trong cuối đời Quân Ngũ của tôi..
Đó cũng là Thân phận của một người Trai thời loạn.
KQ: NGUYỄN VIẾT TRƯỜNG

Thursday, March 29, 2018

http://philong31.blogspot.com/2017/07/hoi-ky-chien-truong-phi-cong-quan-sat-l.html

Monday, March 26, 2018

CÁC ANH HÙNG TRONG GIỜ PHÚT CUỐI CỦA KHÔNG QUÂN VNCH .
Vào rạng đông ngày 29/4 , KQ VNCH mặc cho số phận đã buông xuôi (haphazardly) khi rất nhiều máy bay A-37 , F-5 , C-7 , C-119 và C-130 bắt đầu bay sang Thái lan trong khi trực thăng UH-1 cất cánh để ra hạm đội 7 . (Có một chiếc L-19 đã đáp xuống tàu Mỹ) . Tuy nhiên một vài phi công của VNCH đã Ở LẠI CHIẾN ĐẤU để chống lại đà tiến quân của quân bắc việt . Một chiếc AC-119 đã bay suốt đêm 28 rạng ngày 29 để thả trái sáng và bắn vào đoàn quân CSBV . (Nghĩa là hết đạn thì xuống lấy đạn và bay tiếp) . Vào rạng đông ngày 29/4 , 2 khu trục A-1 Skyraider bắt đầu hoạt động trên vành đai của Tân Sơn Nhứt ở cao độ 760 m cho tới một chiếc bị rơi , có lẽ từ hỏa tiển tầm nhiệt SA-7 . Lúc 07:00 , chiếc AC-119 này trong khi đang bắn vào đội hình của Bắc quân ở phía đông của TSN cũng bị trúng SA-7 , bốc cháy và rơi xuống đất . Do tình hình tại TSN quá bi đát , việc di tản bằng máy bay thông thường bị hủy bỏ và chiến dịch Frequent Wind (bằng trực thăng) đã bắt đầu .
Dịch từ wiki
Tôi sẽ kiếm thêm tài liệu về các ANH HÙNG này . Chiếc C-119 với phi hành đoàn 9 ng chỉ có 1 sống sót nhưng bị thương nặng . Phi cơ đã rơi vào khu đất trống trong phi trường , mãi đến gần đây mới lấy được hài cốt , nhờ sự giúp đở của anh em KQ tại VN .
https://www.youtube.com/watch?v=IiA0fQhr13Q
https://www.youtube.com/watch?v=xA983-Tr97E&feature=share

Saturday, September 17, 2016

SĐ 6 KQ VNCH .




Đọc thêm ở :
http://hoiquanphidung.com/content.php?3914-H%E1%BB%99i-Ng%E1%BB%99-S%C6%AF-%C4%90O%C3%80N-6-KH%C3%94NG-QU%C3%82N
Bài về Đan Hoài Bửu ở :
https://dongsongcu.wordpress.com/2016/06/08/phi-doan-i-khu-truc-phan-v/