Showing posts with label quốc lộ 14. Show all posts
Showing posts with label quốc lộ 14. Show all posts

Wednesday, May 24, 2023

 

68. Trong chiến dịch mùa khô 1973-1974, Chiến khu Đ đã phản công quân địch, tiến lên mở rộng vùng giải phóng, chuẩn bị cho thời cơ lớn trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh?

Đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, ta đã lập lại thế cân bằng và nghiên dần cán cân lực lượng về phía cách mạng. Một thế trận mới đã mở ra triển vọng đánh thắng giặc Mỹ theo lời di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuối năm 1973, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch mùa khô 1973-1974 phản công và tiến công nhằm đánh bại kế hoạch bình định của địch, tiếp tục mở hành lang, tạo bàn đạp vững chắc, mở rộng hơn nữa vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ, tạo thế và phát triển thực lực, chuẩn bị giành thắng lợi lớn hơn trong mùa mưa tới. Trong thực hiện kế hoạch mùa khô, phải thu hồi, làm chủ 4 xã ở Chiến khu Đ cũ, mở rộng và làm chủ một số khu vực phía nam sông Đồng Nai, đường 14 từ Đồng Xoài đi Bù Na, Bù Đăng, cô lập thị xã Phước Long và chi khu Phước Bình.

Đêm 4-11-1973, chiến dịch Bù Đăng-Tuy Đức (Quảng Đức) mở màn. Đoàn 249 đặc công R cùng bộ đội chủ lực tiến công địch trong căn cứ Bù Đăng, Tuy Đức, Đắc Sông và trụ lại đánh phản kích làm thiệt hại quân nguỵ thuộc sư đoàn 22 và đoàn biệt bích B1 đến chi viện, giải vây.

Chiến dịch Bù Đăng-Tuy Đức thắng lợi, mở ra một vùng giải phóng liên hoàn dọc theo tuyến biên giới từ Quảng Đức-Phước Long-Bình Long-Tây Ninh-Lộc Ninh nối liền xuống tới vùng trung tuyến Dầu Tiếng-Bến Cát-Củ Chi. Đặc biệt đường hành lang chiến lược từ hậu phương miền Bắc theo đường Trường Sơn có thể đi ô tô qua Chiến khu Đ về Lộc Ninh-thủ đô của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam từ khi ký kết Hiệp định Paris 1972.

Phố hợp với chiến dịch Bù Đăng-Tuy Đức, lực lượng vũ trang Chiến khu Đ và vùng ven đã tiến lên phản công, đẩy quân địch ra khỏi vùng căn cứ và vùng tranh chấp, giữ vững các cửa khẩu của chiến khu. Đầu tháng 1-1974, tiểu đoàn Phú Lợi và du kích xã đã chặn đánh trung đoàn 43 sư đoàn 18 nguỵ và 2 tiểu đoàn biệt động quân, diệt 134 tên, bắn cháy 6 xe thiết giáp. Bộ đội địa phương Châu Thành và Lái Thiêu đánh lui 1 tiểu đoàn bảo an, diệt 54 tên, bắn cháy 5 xe quân sự.

Trong lúc chiến dịch mùa khô đang diễn ra sôi động, Trung ương Cục chỉ thị “công tác xây dựng căn cứ là vấn đề rất lớn và cơ bản, bức thiết trước mắt cũng như lâu dài. Phải tạo được sự liên hoàn giữa các địa phương, các đơn vị của Quân khu và quân chủ lực Miền”.

Thực hiện chỉ thị của trên, Khu uỷ và Quân khu miền Đông đã chỉ đạo xây dựng vùng căn cứ mạnh cả kinh tế và an ninh quốc phòng; tập trung sản xuất lương thực để chống đói trước mắt và dự trữ lâu dài. Trong năm 1974, các đơn vị hậu cần Quân khu và hậu cần căn cứ đa gieo trồng và thu hoạch được 8.000 tấn lương thực. Bên cạnh đó, hậu cần Quân khu và các tỉnh Chiến khu Đ cũng mở được thêm nhiều cửa khẩu, thu mua nguồn hàng từ vùng địch đưa về căn cứ.

Các tuyến đường giao thông vận chuyển hàng hóa trong vùng căn cứ được lực lượng công binh làm tốt hơn, bắc được cầu dã chiến qua sông, suối, nhiều tuyến, nhiều đoạn chạy được xe ô tô vận tải, xe máy, xe quân sự. Từ những trung tâm Mã Đà (căn cứ Khu uỷ và Quân khu) đi ô tô được về Phước Hoà, Phước Tiến, Bình Mỹ, Bình Cơ… Đoạn Tà Lài, Vĩnh An đã có cầu phao để vượt sông Đồng Nai. Đặc biệt xe tăng và thiết giáp của ta có thể đi qua vùng Chiến khu Đ xuống tận vùng ven phía bắc và tây bắc Sài Gòn.

Nhìn chung, thế và lực ở miền Đông và Chiến khu Đ trong mùa khô 1974, đã mở ra rất lớn. Đây là một bước nhảy vọt của lực lượng ta sau cuộc tiến công chiến lược 1972. Căn cứ Chiến khu Đ đóng một vai trò quan trọng trong nhiệm vụ “trung chuyển” ở miền Đông, chuẩn bị cho những trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.
Comments

Thursday, December 8, 2022

 TÍNH TỚI THÁNG 9/1963, CON ĐƯỜNG TỪ ĐÀ NẲNG ĐI GIÀNG (NĂM TRÊN QL-14) VẪN THÔNG SUỐT.

"Tháng 9 năm 1963, một người bạn tôi đi khám sức khoẻ ở Quân Y Viện Duy-Tân, Đà-Nẵng. Anh ta lo hoàn tất hồ sơ sức khoẻ để theo học khóa Sĩ Quan Hải-Quân. Tôi theo bạn vào thăm Quân Y Viện. Khi tôi đang lang thang quanh khu nhận bệnh thì một chiếc xe Jeep tải thương ào tới. Bên hông xe có treo cái bánh sơ-cua vẽ hình đầu cọp nhe nanh. Xe đậu trước cửa phòng nhận bệnh. Trên băng-ca, một thương binh, đầu, mình băng kín. Chiếc Jeep thứ hai, có cần câu máy truyền tin, bám đuôi sau xe thứ nhứt. Một sĩ quan nhảy xuống. Anh ta ôm xốc người thương binh, chạy ào vào phòng nhận bệnh. Anh trung úy Biệt Động Quân hối hả, “Cấp cứu! Xin quý vị cứu giùm người lính này cho tôi! Thủ tục nhập viện sẽ làm sau! Mau lên! Quý vị làm ơn!” Cả phòng nhận bệnh nhốn nháo. Bác sĩ, y tá, nhân viên cứu cấp, vội vã chuyển người thương binh sang xe đẩy, đưa anh vào phòng mổ. Anh trung úy không được phép vào phòng giải phẫu. Anh bồn chồn, đi loanh quanh bên cái xe Jeep. Miệng anh bập bập điếu thuốc lá, khói phà liên hồi. Một sĩ quan khác, một thiếu úy, trên ngực có huy hiệu hình con rắn leo trên cây kiếm chúi đầu xuống (quân y) ngồi chờ trước vô-lăng xe tải thương, dáng băn khoăn. Tôi mon men làm quen,
- “Thiếu úy! Đánh nhau ở đâu vậy, thiếu úy?”
- “Trên Giàng! Cậu có nghe Hiên, Giàng không? Trên núi, sát biên giới Lào.”
- “Đánh lớn lắm hả thiếu úy?” Tôi tò mò hỏi thêm.
- “Cũng không lớn lắm. Đại đội chạm đại đội. Có điều là đụng địch trong rừng già, tản thương chậm trễ, khó khăn…”
- “Bên mình bị thiệt hại có nặng không thiếu úy?”
- “Thường thôi! Một chết, năm bị thương. Chỉ một ca này là nặng.”
- “Ông trung úy kia làm chức vụ gì vậy hả thiếu úy? Sao ổng có vẻ lo lắng cho anh lính bị thương quá vậy?”
- “Trung úy đại đội trưởng đó! Chúng tôi sống chết có nhau. Anh binh nhì bị thương, ông trung úy lo lắng cũng là chuyện thường ngày ở đây thôi! Khi nào cậu vào lính, có dịp ra chiến trường, cậu sẽ thấm cái tình huynh đệ chi binh…”
Suốt mấy ngày sau, trong đầu tôi cứ ám ảnh với khúc phim tản thương đầy xúc cảm trong quân y viện. Không bút nào tả nổi vẻ đẹp vừa oai dũng, vừa cảm động của một sĩ quan hai tay ẵm một thuộc cấp bị thương ào vào phòng nhận bệnh. Câu “Xin quý vị cứu giùm… Quý vị làm ơn!” cứ văng vẳng bên tai tôi. Tiếng cầu xin của người chỉ huy ấy thống thiết như tiếng của một người mẹ. Hoạt cảnh ngắn ngủi hôm đó đã khiến đời tôi thay đổi."
Nguồn: Hồi ký của cựu TT BĐQ Vương Mộng Long -- một trong những cây bút sáng giá hiện nay ở hãi ngoại.
Vương Mộng Long: Đường lên Hiên, lên Giàng
HON-VIET.CO.UK
Vương Mộng Long: Đường lên Hiên, lên Giàng
Gia đình tôi dọn về khu chùa Âm-Bổn, Hội-An khi tôi học xong Đệ Lục trung học Trần Quý Cáp. Tôi có bốn người bạn thân, Trần ngọc Lợi, Lê văn Bảy, Ngô Rân, và Lê hữu Mục. Năm đứa chúng tôi chơi với nhau từ Đệ Thất. Tối tối ch....

 Trải niềm tâm sự


Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc


Tướng Ngô Quang Trưởng, có nhiều tác giả viết về đề tài này, hôm nay không may cho tôi, phải đọc thêm những dòng chữ viết về ông, không mấy chỉnh cho lắm, ai mà biết được lòng người.


Tôi không muốn nêu tên những tác giả này vì không đáng cho người lương thiện, phải đề cập đến họ. Có ông viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM. Chao ôi! Năm 1961; tôi là pháo đội phó cho Trung Úy Phan Văn Phúc, (sau này ông ấy là chỉ huy trưởng pháo binh SĐ1BB), pháo đội A, Tiểu Đoàn 2 pháo binh, dẫn hai khẩu đội lưu động tại Quảng Ngãi, mỗi lần hành quân như vậy, dọc đường thường là tự bảo vệ, nhưng đôi khi cũng được đại đội Biệt Động Quân của Trung Úy Nguyễn Thừa Du bảo vệ dọc đường, tới vị trí đóng quân chúng tôi tự phòng thủ, yểm trợ hỏa lực cho cuộc hành quân, đại đội BĐQ của Trung Úy Du tấn công vào mục tiêu, cuộc hành quân đôi lúc do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh chỉ huy, có khi do Tiểu Khu Quảng Ngãi chỉ huy, khi chấm dứt hành quân lại kéo súng về rặng nhãn cạnh tòa án Quảng Ngãi nghỉ dưỡng quân. Cứ như vậy, ban ngày tiếp tục ứng trực hành quân, lên đường 15 phút sau khi nhận được lệnh, vì vậy ban ngày súng luôn mắc sau xe, đêm đến hạ súng xuống, để phòng thủ vị trí, vì đêm không có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực.


Sau đó tôi được lệnh làm pháo binh vị trí, nói cho vui là đi đóng đồn, tại những vị trí này không có đơn vị bộ binh bảo vệ, vị trí pháo binh đầu tiên tôi thiết lập trên đồi cầu Cộng Hòa, Nghĩa Hành; tại vị trí này tôi được tướng tư lệnh quân đoàn khen thưởng, lúc đó Đại Úy Nguyễn Văn Thiệu làm tiểu đoàn trưởng, Đại Úy Lê văn Thân chỉ huy trưởng pháo binh sư đoàn, Thiếu Tá Phan đình Soạn chỉ huy trưởng pháo binh quân đoàn, sau đó làm vị trí pháo binh đầu tiên cho đồi Minh Long, Quảng Ngãi. Ngày 12 Tháng Mười Một, năm 1961. Tại đồi Minh Long tôi nhận được lệnh về làm pháo đội trưởng Pháo Đội B/TĐ2PB, thay thế nhiệm vụ của Trung Úy Trương Duy Tài, (K4TĐ) Trung Úy Tài có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác. Lúc đó mỗi sư đoàn bộ binh chỉ có một tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu súng 105 ly kiểu M101) mà thôi, như vậy mỗi pháo đội chỉ có 4 khẩu đội. Tiểu đoàn 2 Pháo binh trước năm 1954 là 5me GAVN, sau năm 1954 mới có tên là TĐ2PB và trực thuộc SĐ2BB từ đó, sau năm 1963 được đổi tên là TĐ21PB. Đọc (Nhật ký hành quân của đơn vị). Pháo đội B của 5me GAVN năm 1951 bắn về làng tôi, (Xuân Bảng, Xuân Trưởng, Nam Định) thi hành tác xạ theo lệnh của secteur Hành Thiện, căn cứ trên báo cáo của tình báo địa phương, địch quân đang đồn trú tại làng tôi một đơn vị lớn, thực tế không có một đơn vị nào của địch, tin tình báo gì lạ vậy, mà chỉ có dân lành nằm chết khắp nơi trong làng! Dưới cơn mưa pháo, mẹ tôi ôm chúng tôi dưới gầm giường, hy vọng che chở mảnh đạn pháo binh không làm hại cho đàn con dại, mẹ Việt Nam vùng quê đơn giản suy nghĩ như vậy đó, thời gian qua mau, không ngờ đúng 10 năm sau tôi lại chỉ huy pháo đội này.


1/4 quân số đơn vị đã tham dự cuộc pháo kích năm 1951, vẫn còn tại hàng. Vừa nhận bàn giao xong, sau không đầy một tuần làm quen đơn vị, mùa Đông bắt đầu, cái lạnh giá buốt hành hạ, lần đầu tiên trong đời tôi thấy em bé gầy gò khoảng 6 tuổi, cõng một em khoảng 2 tuổi, cả hai không có đủ áo chống lạnh, oái oăm là cả hai cùng ngậm điếu thuốc xì gà rất lớn (Cẩm Lệ), hai điếu thuốc đang bốc khói, trông hai em rất hạnh phúc, cõng nhau đi ngoài trời gió lạnh tại ga xe lửa Tam Kỳ. Tôi bắt đầu nhập cuộc trở lại. Rồi cũng lại kéo hai khẩu súng đại bác của pháo đội B lưu động tại tỉnh Quảng Nam, ai cũng sợ phải làm nhiệm vụ lưu động, vì sợ phải gần đại tá tư lệnh, tôi lại bằng lòng với nhiệm vụ lưu động, vì dù sao tối đến cũng hay được ở thành phố, chính vị tiểu đoàn trưởng Đại Úy Nguyễn văn Thiệu, cũng muốn tôi làm nhiệm vụ này, ai cũng muốn được vô sự, tôi luôn mang vô sự đến cho ông.


 Được lệnh đóng vị trí tại chân núi Bà Nà yểm trợ hỏa lực cho trung đoàn Địa Phương (?) trung đoàn phó là Đại Úy Nguyễn văn Ngơi, vì Đại Úy Ngơi là trưởng phòng an ninh quân đội của SĐ5BB, lúc tôi là pháo đội phó pháo đội A, tiểu đoàn 5 súng cối, hơn nữa ông hay sang pháo đội uống cà phê nên mới nhớ tên ông, thật sự quên tên vị trung đoàn trưởng, hình như là Đại Úy Tất, cuộc hành quân chưa chấm dứt. Nhận lệnh kéo súng về hậu cứ, ngày hôm sau, lại nhận lệnh kéo súng đi Thường Đức, không có hộ tống dọc đường, đóng quân tại Thường Đức, yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 1, trung đoàn 4 (hay 6 ?) thuộc SĐ2BB do Đại Úy Võ Mạnh Đông làm tiểu đoàn trưởng, đơn vị này đang hành quân tại vùng Ben Hiên, Ben Hiên nổi tiếng là vùng nước độc, người ta đồn rằng: Qua suối là rụng hết lông chân, dưới lòng suối nước trong vắt, nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy suối, trông dòng suối thật hiền hòa, nào có ai biết giông bão đang chờ, hôm Tiểu Đoàn 1 băng qua suối, ba đại đội đầu vượt suối bình yên, không có một hiện tượng gì là nguy hiểm, nên an toàn, vô sự. Lúc đó Thiếu Úy Nguyễn Văn Lước là sĩ quan tiền sát của tiểu đoàn này, mỗi tiểu đoàn chỉ có một sĩ quan pháo binh đi để điều động hỏa lực pháo binh. Đại đội sau cũng vừa bắt đầu băng suối, chỗ sâu nhất chỉ tới háng mà thôi. thì thình lình nước chảy cuồng loạn, đúng là như thác đổ, cuốn mất một trung đội, mà lúc đó trời đang trong sáng, sau mới biết là do mưa lũ từ thượng nguồn, nước trào dâng, tràn về nhanh như vậy, cuối cùng trung đội này bị chết đuối mất 2 người. Tôi có lội xuống suối thử một lần, thấy không rụng lông chân, mà nhổ lông chân không cảm thấy đau.


Đ/U Đông lúc ra trường về TĐ5ND, rồi luân lưu về SĐ2BB dưới quyền trung đoàn trưởng Thiếu Tá Võ Hữu Thu kiêm tỉnh trưởng Quảng Nam, cả hai ông này đều là anh ruột của anh hùng Võ Đại Tôn. Đó là thời Đại Tá Lâm Văn Phát Tư Lệnh SĐ2BB, ba trung đoàn trưởng kiêm ba tỉnh trưởng Quảng Nam Thiếu Tá Thu, sau này Quảng Tín Đại Uý Thọ, vì năm 1961 chưa có tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi Thiếu Tá Tụ. Sau đó tôi kéo súng về Bến Giàng phía Tây của Thường Đức, cách Thường Đức khoảng 10 cây số đường chim bay, nhưng đi đường bộ thì khoảng 14 cây số, rồi lại được lệnh kéo súng về Khâm Đức hướng Tây của Bến Giàng khoảng 10 cây số đường chim bay, đường bộ khoảng 15 cây số. Tại đây tôi gặp Đại Úy Vũ văn Giai, chi khu trưởng chi khu Khâm Đức, lại Tây tiến nữa Ngoktavak cách Khâm Đức khoảng 11 cây số đường chim bay, khoảng 16 cây số đường bộ, đây mới là vị trí nằm ngay trên đường mòn HCM. Ngoktavak nơi khỉ ho cò gáy, chúng tôi gặp đại đội trưởng Bộ Binh, Thiếu Úy Bùi Đức Cẩn khoá 17 Võ Bị Đà Lạt, mới ra trường.


Từ Ngoktavak tới ngã ba biên giới khoảng 15 cây số đường bộ. Tại đây thiết lập vị trí pháo binh rất quy mô, vì nó nằm ngay trên đường mòn HCM. Phải rất thận trọng ấm ớ, là (chuối đó cưởng). Vị trí này nếu bay trên trời quí vị chỉ thấy vị trí hai khẩu pháo, trơ trọi trên đỉnh đồi, không thấy các cơ quan khác. Như nhà ở của các pháo thủ, hay hầm đạn đều nằm dưới mặt đất… Nhờ vậy tôi được tư lệnh sư đoàn khen thưởng. Tôi nói vòng vo Tam Quốc như vậy để quí vị đọc giả hiểu rõ tác giả, dù ở cấp bậc nào, viết về tướng Trưởng, không biết đọc bản đồ nào, mà lại viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM, trong khi Thường Đức nằm cách xa đường mòn HCM, khoảng gần 50 km, tôi không muốn biết tác giả có cấp bậc gì, trình độ nào, nhưng viết như vậy, thì bài viết này khả tín bao nhiêu? Tác giả viết nhiều điều buồn hơn vui, nhưng một điều hơi đè nặng trên vai vị tướng có nhiều điểm tốt hơn điểm xấu, tôi sợ nhiều người hiểu sai, không nên vì hằn học với hiện tại, mà làm mất đi sự cảm mến của hậu thế với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một vị tướng có nhiều điểm tốt hơn xấu mà bị bôi trét như vậy có chỉnh hay không? Ngay con cháu chúng ta, có còn coi trọng chúng ta hay coi thường chúng ta. Ôi một vị tướng có điểm cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy, vậy các quân nhân khác, sẽ bê tha tới mức nào đây! Đó chính là nguyên nhân tôi thấy phải có trách nhiệm viết, có đoạn tác giả viết đại để như thế này: (Khi nhận được tin nóng từ máy bay quan sát cho biết từ điểm X một đoàn xe địch rất đông đang từ đó di chuyển về hướng Quân Đoàn II). Tư lệnh Quân Đoàn I, lạnh lùng trả lời:– Hãy để cho nó đi!


 Lời nói nhẹ nhàng! Nhưng nó biểu lộ một sự lựa chọn vô trách nhiệm, nhất là nó phát ra từ lồng ngực của một quân nhân có tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy! Ôi! Có thể như vậy sao? Ông Trời tuy xa vời vợi, khó với tới, nhưng rất dễ cho mọi người cảm nhận được, trời ở nơi nao? Lời văn độc ác trời có thể thấy rất rõ, thấy rất chi tiết, thấy rất công bằng và phán xét rất công minh. Ra ngoại quốc ai mà không khắc khoải nhớ về quê hương thân yêu, tôi hoàn toàn chới với giữa giòng đời chen chúc bởi lòng vòng trong ghen tị, ôi chao với kẻ thù cũng có mà với bạn bè cũng khá nhiều, nhưng với bạn thì chan chứa độc ác, phát xuất từ ganh tỵ, cái ta cao chót vót, không dung tha một người nào, càng nhiều danh vọng, càng lắm tên bay, đạn lạc. Cả hàng tá tổ chức phục quốc, tôi không biết phải làm gì với sự mong muốn hèn mọn của mình, sau một thời gian suy diễn lung tung, tôi chỉ còn thấy tổ chức của ông Nguyễn Ngọc Huy là chỗ dựa tinh thần vừa phải, nên phải bước vào lắng nghe, xem thực hư thế nào, một buổi chiều Thứ Tư đẹp, Tháng Tư, năm 1986. Thật lòng mà nói, trước năm 1975 tôi nhìn Tướng Trưởng với con mắt thật bình thường, không ác cảm, mà cũng không có nhiều cảm mến. Trung Tá Nguyễn Văn Viên, người anh quí mến của tôi, năm 1954 là quyền tiểu đoàn trưởng TĐ5ND lúc đó Tướng Trưởng mới ra trường là trung đội trưởng, anh Viên rất tốt với ông Trưởng, mời về nhà dùng cơm nhiều lần. Nhưng rồi đường binh nghiệp của anh Viên lắm chuyện không hay, nên anh phải tự chọn con đường giải ngũ… Sau này lúc Tướng Trưởng (1 sao) làm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh Viên bị gọi tái ngũ với cấp bậc Thiếu Tá làm việc tại địa phương, chi khu, dưới quyền Tướng Trưởng, anh Viên không muốn gặp ai cả, lại còn mặc cảm thông thường thế nhân, bất ngờ Tướng Trưởng tới thăm đơn vị, nên anh Viên đành phải trình diện. Tướng Trưởng nhận ra cấp chỉ huy cũ của mình, nên Tướng Trưởng mời gặp tại văn phòng lúc 11:00 ngày hôm sau. Anh Viên rất thận trọng, đến trước giờ ấn định, nhưng vẫn không được như ý, anh bắt buộc phải ra về, anh hơi buồn rồi bỏ luôn. Anh nghĩ rằng Tướng Trưởng rất khó sắp xếp cho mình, anh rất thông cảm hoàn cảnh éo le, anh không muốn nhờ vả một ai, nếu anh muốn làm việc tại Sài Gòn lúc bị gọi tái ngũ, cũng không khó khăn. Không may nay gặp phải tình trạng này, nên anh buộc lòng phải gọi về Sài Gòn, gặp bạn cũ, xin về vùng lV, với mục đích chính, xa hẳn ảnh hưởng của Tướng Trưởng. Trước khi đáo nhận đơn vị mới anh Viên có cùng chúng tôi hàn huyên tại Sài Gòn. Anh không hề nói gì về việc anh xin thuyên chuyển. Mãi sau này khi gặp Tướng Chinh tôi mới biết. Tướng Chinh cũng như Tướng Giai đều nói, nếu biết anh Viên bị tái ngũ, thì anh Viên muốn về đâu, hai vị này đều có thể lo cho anh Viên được như ý.


Anh Viên được như ý, thuyên chuyển về Quân Đoàn lV, không may Tướng Trưởng lại về vùng lV, lần này may mắn không phải như trước do thời gian ngắn ngủi. Nên chưa gặp mặt trực tiếp. Tướng Nam thay thế Tướng Trưởng. Tướng Nam muốn cất nhắc anh Viên. Anh từ chối và xin Tướng Nam cho anh được an phận. Anh Viên lên Trung Tá thường niên rồi mất nước. Năm 1976 anh Viên xin được một chiếc máy đánh chữ và một chiếc máy quay ronéo, cả hai máy đều đã quá cũ, từ Tướng Đỗ Kế Giai, (Tướng Giai nổi tiếng như cụ Vương Hồng Sển) anh in được một số truyền đơn, rải tại Sài Gòn và Bà Rịa, không may bị lộ, Việt Cộng đã xử bắn anh Viên tại bến xe đò Bà Rịa năm 1976; sau 1 tháng tra tấn dã man. Việc này do Tướng Đỗ kế Giai kể lại, cho tôi tại San Jose, có Bác Sĩ Trần Lữ Y và Văn Văn Của cùng nghe. Tại bàn Tướng Giai không uống rượu, còn hai vị bác sĩ thì khỏi phải nói, tôi là bệnh nhân của Bác Sĩ Trần lữ Y tại Sài Gòn, trước năm mất nước. Chúng tôi có được buổi gặp mặt, tại tư gia anh NQV, anh NQV là một người bạn tốt, mà còn là một thành viên cốt cán của Giáo Sư Huy, anh cư trú tại phía Nam thành phố San Jose, tôi cố ý đến sớm hơn mọi người, để được nói vài câu chuyện, xa xưa, may mắn được gặp Tướng Trưởng tại đây. Tôi uống bia, còn Tướng Trưởng uống theo sở thích của ông, căn phòng rộng thênh thang, chỉ có hai chúng tôi. Đương nhiên tôi biết ông đã lâu, từ lúc sư đoàn Nhảy Dù thành lập trung tâm huấn luyện quân sự, lúc đó thì tôi chưa đội nón đỏ, cũng như chưa có tiểu đoàn Vương Mộng Hồng, tinh thần làm việc của ông, tôi không sao có thể so sánh với bất kỳ một ai, riêng sức chịu đựng làm việc thì tôi có thể theo chân ông được. Theo sau thôi! Chúng tôi cũng có những câu xã giao với nhau thường lệ, như mọi người. Sức khỏe của ông lúc đó không có gì khác cho lắm, nhưng hình như ông bắt đầu vào thời kỳ suy thoái, là con người ai mà không phải chịu cảnh sinh, lão, bệnh, tử! Tôi nghĩ rằng: Lúc này đất nước còn đang cần những người như ông, tôi biết ông sẵn lòng đóng góp, thật tình không biết tổ chức nào, có sức hấp dẫn với ông. Mới đây một người bạn không thân thiết, so sánh Tướng Trưởng với Tướng Nguyễn Chánh Thi, nhưng anh ta nặng đầu óc địa phương quá! Tôi mỉm cười cho qua chuyện, không bao giờ tôi lại đi so sánh hai vị niên trưởng, ở những lúc không cần thiết, tranh luận vô bổ, một người thì bày, một người thì dọn dẹp, một người thì to miệng, một người thì bé mồm; hãy để cho thế nhân bình luận cũng đủ lắm rồi!


 


Thưa niên trưởng tôi có một thắc mắc, niên trưởng có thể trả lời, nếu không muốn niên trưởng có thể không trả lời. Cái gì mà nghiêm trọng vậy? Lúc sắp mất nước, Không Quân quan sát thấy… Tôi vừa nói tới đó, ông giơ tay cắt ngang, ông thở dài chậm rãi nói: Tôi hiểu rồi! Tôi tưởng việc gì trọng đại, tôi nghĩ việc này anh phải biết rồi chứ, pháo binh phải hiểu hơn ai hết… Sau hiệp định Ba Lê quân đội ảnh hưởng nặng nề nhất, pháo binh chỉ được bắn mỗi ngày 20 viên đạn/một khẩu, trước đó bắn không hạn chế. Không phải chỉ có như vậy là thôi đâu, đến cuối năm thì chỉ còn 10 viên, rồi 5 viên… Không Quân còn bi đát hơn nữa, hạn chế các phi vụ, hạn chế xăng nhớt, hạn chế bom đạn, nếu mình cho đánh bom đạn bừa bãi thì là hành động tự sát. Vì khi các thành phố, cứ điểm của ta bị tấn công, lấy hỏa lực ở đâu để yểm trợ cho các đơn vị này, chúng ta bó tay, chịu đựng hay sao? Vấn đề này quân đoàn đã tiên liệu từ lâu, nếu có sự kiện xảy ra như vậy, quân đoàn có nhiệm vụ phải báo cáo ngay cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây có trách nhiệm điều động hỏa lực tiêu diệt lực lượng địch, như vậy việc tiêu diệt địch di chuyển bằng xe hay là di chuyển băng đồng, nếu không có đụng độ trực tiếp với các đơn vị cơ hữu của quân đoàn, thì đều do sự điều động hỏa lực của BTTM/QLVNCH. Quân đoàn bó tay, những sự kiện này xảy ra nhiều lúc rất đau đầu, tôi thấy đây cũng chính là một trong những lý do đưa chúng ta đến mất nước, lưu vong như ngày hôm nay. Vì thấy địch mà không được đánh, từ đâu ra nông nỗi này. Nhiều người không hiểu đã ăn nói bừa bãi, gây đau lòng nhau, không ích lợi gì, mà chỉ có lợi cho lòng tự tôn, tự đại của họ mà thôi, tôi thấy thương họ, hơn là oán hận họ, lúc này là giai đoạn cần phải thận trọng, thêm bạn bớt thù, đó mới chính là mục tiêu hàng đầu của chúng ta. Đã là con người ai cũng có những lúc lầm lẫn, tôi biết chính tôi đã có những lời nói, việc làm gây tổn thương người khác. Trong thời gian đó trăm ngàn dâu đổ đầu tằm, tôi chỉ còn biết công vụ và công vụ mà thôi; nội công vụ đã làm tôi quên hết mọi việc, gia đình xã hội tôi đều mắc lỗi, lỗi nặng, tôi rất ân hận vô cùng, xin gia đình, xin các chiến hữu hiểu, thông cảm và tha thứ tất cả hành động không vừa ý của tôi đã đối với họ. Tôi xin ngẩng cao đầu chịu tội. Trưởc linh hồn các chiến hữu đã khuất, trước ý chí cương cường các chiến hữu còn nuôi ý định quang phục quê hương, trước gia đình thân yêu của họ và của tôi. Cho nên khi Không Quân xin oanh tạc, tôi đành phải cắn răng mà nói, như anh đã nghe. Không lẽ mỗi khi có sự kiện xảy ra đau lòng như vậy! Tôi phải giải thích với từng người; về hoàn cảnh ê chề của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy hay sao? Thú thật tôi không có thì giờ, tôi cô độc lắm. Hoàn cảnh khó khăn, tàn độc mà chúng mình phải chịu chi có những người chung số phận, mới hiểu được, còn những vị chuyên ăn trên ngồi trốc làm sao hiểu được, họ là những người chuyên (ăn t… nói p… Mà thôi! Càng không nên tranh luận với những người này). Lúc đó tôi có trăm ngàn việc phải lo, đâu phải chỉ có những việc đơn giản như vậy đâu! Chúng ta hãnh diện là những quân nhân vào sanh ra tử, không trốn tránh trách nhiệm khi đất nước cần đến sự hy sinh xương máu của chúng ta, không lẽ bây giờ chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm với đồng bào ruột thịt của chúng ta, tôi không muốn lên tiếng vì tôi thấy khó chịu khi phải nói chuyện với những chuyên viên như vậy! Anh nên cẩn thận khi nói chuyện với họ! Tôi không quên toán tiền trạm năm Mậu Thân, do anh điều động thay anh Lưỡng đã giải tỏa áp lực địch cho tôi.


 


Thưa niên trưởng, đó là chuyện bình thường thôi! Thưa quí vị, sở dĩ có việc này là do, Tết năm Mậu Thân, Cộng quân tấn công vào Huế, vì bất ngờ, nên đặc công đã chọc thủng hàng rào phòng thủ của trại Mang Cá, rồi lần mò vào tới sân cờ của BTL/SĐ1BB. Các đơn vị cơ hữu của SĐ1BB đều không thể điều động được. Tướng Trưởng không liên lạc được với Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù, tất cả hệ thống liên lạc chỉ huy của Chiến Đoàn Nhảy Dù, cũng như nhiều hệ thống chỉ huy khác trong vùng đều bị phá, không liên lạc được, bắt đầu từ thời điểm đó, hệ thống liên lạc, cũng như vũ khí, đồ trang bị của địch, hơn hẳn ta! Nhưng trên hệ thống tác xạ của Pháo Binh, vì máy GRC5 dùng bình điện xe, nên công suất mạnh, nhờ vậy tổng đài của pháo binh vẫn liên lạc tốt, do đó tôi mới làm trung gian (nhận lệnh và chuyển lệnh) toán tiền trạm đã nhận lệnh của Chiến Đoàn Trưởng, do tôi chuyển lệnh, nhờ vậy toán tiền trạm đã có mặt kịp thời trợ giúp cho BTLSĐ1BB, tránh được điều đáng tiếc xảy đến. Tôi nhìn Tướng Tưởng mờ mờ qua giòng lệ hiếm hoi, tôi tự thấy mình đã có điểm sai, tôi không còn đủ can đảm hỏi ông điều nào nữa. Chúng tôi như đang ôn lại thế ra cửa máy bay, dấu giầy saut in đậm trên áng mây trắng rất hiền hòa miền Hậu Giang, miền Đông, v.v… Trận mạc đâu còn ý nghĩa gì, hãy quên đi, nhưng thế ra cửa phi cơ phải khắc ghi trong tủy sống. Tiếng thở dài không biết phát xuất từ lồng ngực nào, hãy tha thứ cho họ, hãy vui đi, hãy cười lên, cho dù là nụ cười muộn màng, héo hon. Lúc đó mới… Chợt nhận ra: Người làm nhiều điều vô vụ lợi cho tha nhân! Là người ngu đần, dại dột. Người hy sinh nhiều! Là người u mê nhất trần gian. Người giúp đỡ nhiều người! Là người muốn tự hủy hoại mình… Vì hậu quả sẽ nhận lại, chỉ có đắng cay mà thôi, chắc chắn sẽ được bồi hoàn không thiếu một chỉ! Đời sống là như vậy đó, càng oán hận lại càng u u minh minh. Người quên ơn, là người bất nghĩa, liệu đường mà đi, không được oán hận, mà phải đón nhận. Vui cười mà đi. Đừng buồn chi! Ai ơi! Tôi không đủ can đảm nhìn lại bóng ngày qua.


 


 


Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc



 

Friday, January 28, 2022

 Tiêu diệt chốt cầu 20 trên tỉnh lộ 8B

- 03 tháng 11, 2021 - 21:43

Từ trận đánh đồn Đạo Trung 31-1-1974…


http://cuuchienbinh.vn/tieu-diet-chot-cau-20-tren-tinh-lo-8b/


Từ sau khi quân ta tiến công và giải phóng Bù Bông ngày 4-11-1973, đoạn quốc lộ 14 từ Đắk Song đến Kiến Đức ta làm chủ hoàn toàn; do vậy việc đi lại từ Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Quảng Đức, địch chỉ dựa vào tỉnh lộ 8B. Đường 8B trở thành huyết mạch sống còn của địch. Và đồn Đạo Trung, trấn giữa đoạn đường từ Đắk Song về Gia Nghĩa, là “cái gai” đầu tiên ta phải nhổ.


Đồn Đạo Trung nay thuộc xã Nam BRang, huyện Đắk Song, là một chốt nằm cạnh cua hình chữ U sát tỉnh lộ 8B về phía đông, gần thị trấn Đức An tính từ Đắk Song đi Gia Nghĩa, cách ngã ba Thuận Hạnh nơi tiếp giáp giữa hai tỉnh lộ 8B gặp quốc 14 chừng 8km, cách cầu 20 khoảng 4km.


Đồn Đạo Trung cao gần như nhất khu vực, về hướng tây có thể nhìn tới tận Bù Bông, còn hướng đông có thể khống chế các hoạt động trên dãy núi Nam Nung - nơi đặt các cơ quan giải phóng tỉnh Quảng Đức. Do chốt đặt ở khúc đường cua nên phía bắc địch nhìn thấy rất rõ mọi hoạt động của ta. Còn về hướng nam cũng dễ dàng phát hiện mọi thứ trong tầm mắt, địa hình phức tạp dễ thủ, khó công vì ba mặt dốc đường, hướng đông nam hơi thoai thoải, nhưng muốn đánh được thì quân ta phải vượt qua tỉnh lộ 8B, với đội hình đông người rất khó triển khai.


Bố trí của địch ở đây là Tiểu đoàn bảo an số 259 gồm 83 quân, chốt rải rác ở các quả đồi lân cận. Đồn Đạo Trung có một trung đội pháo binh trang bị hai khẩu 105 ly, một khẩu ĐK57, một khẩu cối 81. Bao bọc quanh đồn có 3 hàng rào đơn, 1 hàng rào mái nhà hẹp; giao thông hào chạy quanh chốt... Từ năm 1969, địch đã học được cách chống đặc công của ta nên chúng làm nhiều lô cốt giả, cần ăng-ten giả. Vào ban đêm, chúng bí mật kéo thêm một hàng rào đơn cắt ngang quả đồi giữa lô cốt giả và lô cốt thật, nếu điều nghiên không kỹ, khi ta đã cắt hết các hàng rào bên ngoài mà tấn công vào sẽ bất ngờ gặp hàng rào ban đêm chúng mới kéo ra; khi đó bộ đội sẽ bị kẹt ở giữa.


Muốn cô lập được thị xã Gia Nghĩa, Đắk Song, Đức Lập, quân ta phải tiêu diệt được Đạo Trung. Diệt được Đạo Trung sẽ hạn chế được rất nhiều việc địch bắn phá và đưa quân càn quét vùng giải phóng, nhất là khu vực núi Nam  Nung …


Đầu tháng 1-1974, Trung đoàn đặc công 429 cùng trinh sát Trung đoàn 271 ba lần đi trinh sát điều nghiên thực địa, vào chốt  kiểm tra kỹ cách bố phòng của địch; sau đó đắp sa bàn hướng dẫn các mũi tiềm nhập tấn công; ban ngày trinh sát đặc công đặt đài theo dõi các hoạt động của địch bên trong chốt.


Đêm 31-1, rạng sáng ngày 1-2-1974, Tiểu đoàn 14 Trung đoàn 429 đặc công và Tiểu đòn 4 Trung đoàn 271 bộ binh phối hợp tiến công đồn Đạo Trung, nhưng do bị lộ ngay trên đường tiềm nhập, các mũi tiến công không phát triển theo kế hoạch. Mặc dù các chiến sĩ của 2 tiểu đoàn chiến đấu rất kiên cường, dũng cảm xung phong, nhưng trận đánh không thành công. 39 cán bộ, chiến sĩ của hai đơn vị đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trận.


…Đến chiến thắng chốt cầu 20 ngày 18-9-1974


Cuối tháng 6-1974, các đơn vị của Trung đoàn 271 thay nhau chốt các cao điểm để bảo vệ hành lang đường 14 đoạn Đắk Song - Kiến Đức. Riêng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 271  được điều về phía đông Bù Bông để huấn luyện và làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu của Trung đoàn.


Đầu tháng 8-1974, Trung đoàn 271 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 2 đi điều nghiên các vị trí địch trên tỉnh lộ 8B (đoạn từ Đạo Trung đi Gia Nghĩa), để tổ chức một số trận địa phục kích nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch.


Từ Bù Bông cắt về đường 8B khá xa. Rừng núi điệp trùng, bộ đội phải đi một ngày mới tới. Tiểu đoàn 2 cũng không dự kiến đánh đồn Đạo Trung, vì biết rằng sau bị tập kích ngày 31-1-1974 địch đã tăng cường bố phòng và cảnh giác cao độ.Tiểu đoàn cử nhiều đoàn cán bộ, trinh sát, điều nghiên bám nắm địch và tổ chức đặt đài quan sát để theo dõi địch trên tỉnh lộ 8B cả ngày lẫn đêm, nắm cho được quy luật hoạt động của địch. Tuy vậy chỉ phát hiện được từng tốp lính khi đi bộ, khi có xe chở đi tuần tiễu. Thỉnh thoảng mới có một xe quân sự chở hàng. Nói chung địch hoạt động không có quy luật.


Địa hình phức tạp nên tổ chức trận địa mai phục cũng gặp nhiều khó khăn Trong khi ta đang tìm chỗ phục, thì bất ngờ từ đài quan sát, anh em phát hiện một đại đội địch được mấy chiếc xe GMC chở đến. Sau đó, chúng hành quân lên một quả đồi trọc sát mép đường, đào hầm, xây dựng trận địa chốt để bảo vệ cầu 20 trên tỉnh lộ 8B. Tiểu đoàn 2 quyết định chọn chốt này làm mục tiêu tiến công.



Chốt cầu 20 nằm ở phía nam đồn Đạo Trung, nằm sát cầu 20, phía tây tỉnh lộ 8B, cách đồn Đạo Trung khoảng 3km theo đường chim bay, khoảng 4km theo đường 8B. Chốt do một đại đội quân ngụy Sài Gòn hành quân dã chiến chiếm giữ. Chốt được rào bằng gỗ và có một hàng rào dây thép gai phía trong. Địch đã xây dựng hầm hào công sự, nhưng chưa xây dựng kiên cố. Địch còn ở trong nhà che bằng ni lông.


Chốt cầu 20 từ khi địch đóng quân đã được Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 271 giám sát hằng ngày và tổ chức trinh sát nhiều lần, sau đó lên sơ đồ tác chiến thông qua chỉ huy Trung đoàn. Lực lượng tác chiến của ta chủ yếu là Tiểu đoàn 2 được tăng cường 2 đại đội phối thuộc là Đại đội cối 16, Đại đội công binh 19 và 2 khẩu đội ĐKZ 82 của Đại đội 17. Tiểu đoàn phân công như sau: Đại đội 3 làm chủ công, trực tiếp sử dụng 2 khẩu đội ĐKZ 82 phối thuộc, đánh từ trên đỉnh đồi xuống, Đại đội 1 đánh hướng bên trái, từ sườn đồi vào, Đại đội 2 để 2 trung đội làm dự bị cho Tiểu đoàn, cho 1 trung đội chốt chặn, phục kích đánh địch từ hướng đồn Đạo Trung xuống chi viện cho chốt cầu 20. Đại đội 19 của Trung đoàn tăng cường chốt chặn, phục kích sẵn sàng đánh địch từ hướng Gia Nghĩa lên. Không sử dụng pháo cối chi viện cho đơn vị đánh chốt cầu 20, mà Tiểu đoàn dùng cả 2 đại đội hỏa lực là Đại đội 4 của tiểu đoàn và Đại đội cối 16 của Trung đoàn tăng cường để tập kích và kiềm chế pháo từ đồn Đạo Trung. Pháo mặt trận sẽ kiềm chế pháo từ trận địa địch ở núi Lửa.


Đêm 17-9-1974, Tiểu đoàn 2 vào chiếm lĩnh trận địa. Trong quá trình tiềm nhập, hướng Đại đội 3 có đồng chí Lê Thanh Hải, trinh sát Đại đội 21 dẫn đường đạp phải mìn, hy sinh, nhưng đơn vị tiếp tục chiếm lĩnh trận địa. Ban đầu, địch có nghi ngờ nhưng có lẽ nghĩ là thú rừng đạp mìn và không dám đi kiểm tra, nên quân ta vẫn giữ được bí mật.


Khoảng 5 giờ sáng ngày 18-9-1974, Tiểu đoàn 2 nổ súng tấn công. Mặc dù quân địch chống trả điên cuồng, chúng tập trung bắn trả cả vào 2 hướng cửa mở của quân ta; mìn ĐH.10 không quét được hàng rào gỗ, nhưng các chiến sĩ ta vẫn dũng mãnh xông lên đột kích từ 2 hướng như đã phân công. Bộ đội kiên trì hạ từng hỏa điểm địch bằng B.40, B.41 hoặc lựu đạn, thủ pháo. Lần lượt chiếm từng đoạn công sự… Ở mũi Đại đôi 3, khẩu đội ĐKZ của Đại đội 17 phối thuộc do đồng chí Nguyễn Hoàng Phương - sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội làm Khẩu đội trưởng đã phát huy uy lực, bắn liên tiếp gần chục viên đạn, xóa sổ nhiều ổ đề kháng của địch. Sau trận này Phương được đơn vị đề nghị khen thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.


Sau 20 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 2 làm chủ trận địa. Toàn bộ đại đội địch 91 tên, một số bị tiêu diệt, số bị thương, 6 tên bị bắt sống, không một tên nào chạy thoát. Lính địch bị thương được quân ta băng bó rồi phóng thích tại trận địa.


Chốt bảo an cấp tiểu đội của địch ở ngay đầu cầu bị Đại đội 2 diệt ngay khi Tiểu đoàn 2 nổ súng tấn công Chốt Cầu 20.


Cùng lúc Tiểu đoàn 2 nổ súng tiến công chốt cầu 20. Đạn cối của Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 và Đại đội 16 phối thuộc đồng loạt bắn chế áp pháo địch ở đồn Đạo Trung. Sau này ta được biết, tên sĩ quan chỉ huy pháo binh đồn Đạo Trung bị chết ngay từ loạt đạn đầu và do cối ta bắn cấp tập, chính xác nên pháo cối của đồn Đạo Trung hầu như không chi viện được gì cho bọn địch ở chốt cầu 20.


Một lực lượng bộ binh địch từ đồn Đạo Trung cơ động lên định chi viện cho chốt cầu 20 đã bị Đại đội 19 phục kích đánh phải tháo chạy.


Sau khi quân ta rút khỏi chốt cầu 20, Đại đội 2 triển khai bố trí đội hình dọc bìa rừng chân chốt. Mất chốt, địch dùng pháo các loại bắn dữ dội nhiều đợt vào gần khu vức chốt của Đại đội 2. Địch cho 2 xe tăng và đổ quân đến để giải vây, nhưng xe tăng địch không dám vượt cầu, vì sợ ta gài mìn. Chập choạng tối, địch cho quân cắt bìa rừng đánh tập kích vào khu vực chốt của Đại đội 2, nhưng bị nổ súng đánh trả quyêt liệt, địch không lên được phải rút lui. Ngay đêm đó vì trận địa chốt bị lộ, để bảo toàn lực lượng, Đại đội 2 được lệnh rút về tuyến sau để củng cố.


Bên ta, 10 đồng chí hy sinh trong trận đánh chốt cầu 20, gồm 5 đồng chí Đại đội 2 hy sinh trong trận đánh (Trần Văn Thắng, Nguyễn Huy Mão, Lê Sĩ Mão, Trần Văn Chuyên, Nguyễn Hữu Tư), 1 đồng chí hy sinh khi đi trinh sát (Nguyễn Thế Cải hy sinh ngày 3-9). Bốn đồng chí nữa của các đơn vị khác trong Trung đoàn hy sinh ở khu vực Đạo Trung là: Trịnh Xuân Lâm (Đại đội 19), Lê Thanh Hải (Đại đội 21), Phan Văn Thành (Đại đội 16) và Nguyễn Đình Vận (Đại đội 17).


Như thế, ngày 18-9-1974, Tiểu đoàn 2 tiến công chốt cầu 20 và chiến thắng giòn giã; đồng thời dùng cối tập kích đồn Đạo Trung, gây cho địch nhiều tổn thất, không dám cho quân ứng cứu chốt cầu 20.


Xuân Tảo, Hà Nội, ngày 19-8-2021


Chu Đức Tính - CCB Trung đoàn 271

Sunday, February 9, 2020

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=4133594176654377&set=pcb.4133642423316219&type=3&av=100000115071295&eav=AfYdzj3wC-E7zTGgyXaK8q7e1rRRDGZIUqXjoKMvppJfc3ktLMUzWVoLbTtuTWWeUqY&__tn__=HH-R-R-R&eid=ARC5rjGxCzLYkzcP2eXpOZJg6QNs-rXMdaBQEnEXiZfmuoymiCyHlTjfo_ovTwU8zkDstogbRWQRUQhX

Monday, May 6, 2019

Trời mưa Thượng Đức trời mưa, quân đi Đại Lộc trời mưa cũng đành

Trung Hậu
 Trời mưa thượng đức trời mưa
quân đi đại lộc trời mưa cũng đành
“áo đường xa thương lính…lính thương quê…vì đời mà đi” – nhạc Trúc Phương.
Từ phi trường Đà Nẵng đoàn GMC xuôi hướng Tây nam nhắm về Hòa Vang, Đại Nghĩa.
Hắn chen ra phía sau xe chong mắt nhìn về Thành phố. Năm cây số sau lưng là nơi hắn lớn lên, xóm cũ, con đường Yên Bái, ngôi trường Phan Chu Trinh. Phía bên phải là ngã ba Cây Lang, nhà bác Liếu ở hẻm tê tề. Ra chút nữa là đường đi Huế, hôm nay Hải Vân mây nhiều như muôn thuở. Nhà ba mạ hắn ở bên kia đèo. Thời gian này là tháng Bảy, 74, có ai biết hôm nay đơn vị hắn đi vô Thượng Đức.
Qua ngã ba Huế, đoàn xe rẽ trái bắt qua QL14 đi về Đại Nghĩa. Những thôn làng quen thuộc. Có một mùa Hè nọ, hắn theo đứa bạn về quê ở đây chơi. Những buổi trưa trong vườn leo cây hái mận non chấm muối ớt. Nằm võng đọc thơ Mường Mán. Lớn lên đứa bạn đi theo phản chiến rồi bỏ vô bưng. Năm 1972, đôn quân, hắn con nhà nghèo đâm đơn đi lính.
Khi qua sông Cầu Đỏ, không khí bình an của Thành phố mất hẳn. Tiếng pháo xa vọng lại, chiến tranh gần kề. Trên những chuyến xe đi ngược, khuôn mặt người dân hốt hoảng lo âu. Trên tầng số PRC của tiểu đoàn, 09 (1) ra lệnh cho con cái sẵn sàng gọn ghẽ, đến nơi bung ra cho lẹ. Hắn và Nguyễn Lệ (2) chia nhau điếu thuốc.
cac-chien-si-nhay-du-trong-cuoc-hanh-quan-tao-thanh-quan-dich
Đơn vị tạt ra hai bên Quốc lộ đi vào Đại Lộc, tư thế sẵn sàng tác chiến. Từ phía Quận lỵ, dân làng gồng gánh tản cư. Có mấy đứa trẻ ngoái mắt nhìn theo đoàn lính đi ngược hướng. Hắn nghĩ đến cu Trung và bé Dung, hai đưa em chắc chừ cũng lớn bằng chừng nớ. Đôi ba chiếc xe Dodge tản thương mang dấu Hồng thập tự từ phía trong quận chạy ra. Đám lính nói với nhau Sư Đoàn 3 Bộ Binh đụng nặng.
Làng Hà Nha Một vắng vẻ quá chừng. Chẳng còn ai ngoài mấy đàn gà dân làng bỏ lại. Mấy lu nước còn đầy, áo ai còn phơi sau hè lặng lẻ. Đại đội 92 cho con cái thả ba lô xuống bóp gạo xấy ăn cơm. Các Trung đội trưởng tụ về họp với Chinh Nhân (3). Cú này tụi nó chơi xả láng. Cấp Sư đoàn cộng ! Quận Thượng Đức mất rồi. Nhiệm vụ của Nhảy Dù là chặn đứng tụi nó, và giữ các cao điểm bao quanh thành phố.
Hai giờ chiều lính Đại Đội 92 bỏ ba lô tại chỗ, móc ba chạc băng qua cánh đồng để bám vào chân núi. Chinh Nhân nói với hắn mày đừng chạy gần tao, kéo Antenna xuống, tụi nó thấy là mình lãnh đủ. Cối 82 ly của Bắc quân từ trong núi rải xuống cánh đồng, thêm vào là tiếng cắc cù CKC bắn sẻ. Sau màn đạn khói, đơn vị lội xuống nhào qua ruộng lúa. Hắn bì bỏm mãi mới tới bên kia cánh đồng. Chinh Nhân cằn nhằn đ.m. mày chạy chậm như cặc, đưa máy đây tao. Cánh quân Đại Đội 92 chọc thẳng vô sâu triền núi hướng tây bắc Đại Lộc – Hiếu Đức giải tỏa áp lực cho hai Đại Đội 91 và 93 vào nhập trận. Nửa đêm mưa xuống, không có Poncho cả đơn vị nằm trong hố cá nhân ướt sũng. Đói và lạnh. Những ngày ngưng bắn đã xa vời. Bắc quân ngang nhiên trút đại pháo 122 ly lên đầu cánh quân Dù đang đi vào chân núi. Đêm đầu tiên trên đường vô Thượng Đức hắn ngồi đếm tiếng pháo rơi cho đến sáng.
Nhiệm vụ của Đại Đội 92 là thanh toán cho bằng được ngọn đồi 383 để giữ hông trái cho cánh quân đánh vào cao điểm 1062. Chinh Nhân bung ba Trung đội tác chiến ra như hình cánh quạt. Đường lên núi cheo leo, lính Đại Đội 92 vừa đi vừa tránh pháo và bắn sẻ. Qua ngày thứ hai thứ ba đã có hơn mười thằng con rách áo (bị thương). Trung đội bốn và bộ Chỉ huy Đại đội lúc này cực khổ nhất. Vừa lo tiếp tế và tản thương lại vừa lo nấu ăn cho các Trung đội tác chiến. Bố già Nguyễn Văn Cảnh (4) bơ phờ, ngày nào cũng mang Poncho lội mưa đi mút mùa lệ thủy.
Đồi 383 là cái xương gà không dễ nuốt. Các Trung đội tác chiến một, hai, và ba của Đại Đội 92 thay nhau lên tapi (5) hơn cả tuần rồi mà lần nào cũng bị dội lại. Bắc quân nằm dưới hầm chữ A thủ kỹ, đợi lính Nhảy Dù lên gần tới là nhào lên tung lựu đạn. Thêm vào đó 12 ly 7 phòng không từ các cao điểm bên cạnh hạ nòng bắn trực xạ vào cánh quân Dù. Nơi đây, Tăng Văn Năm nằm xuống. Người lính trẻ tình nguyện của miền Nam dính nguyên môt viên 12 ly 7 nơi cổ họng.
Cuối cùng Trung đội hai yêu cầu Chinh Nhân cho đặt hai ổ đại liên trên tảng đá trên đồi kế đó để yểm trợ tác xạ cho Tiểu đội xung phong của Phạm Hữu Thi. Hắn nhớ hoài hình ảnh thằng Thi nhỏ con xách nguyên một nón sắt đầy lựu đạn lom khom chạy bên cánh phải sườn đồi. Cũng phải qua mất đợt xung phong Đại Đội 92 mới hoàn toàn kiểm soát ngọn đồi 383 trước khi trời tối. Đêm đó Bắc quân trút lên đồi 383 hằng trăm trái pháo.
Chiếm xong là phải thủ, những ngày sau đó Đại Đôi 92 bị đặc công Việt Cộng đánh phá tơi bời. Mấy lần hắn phải bỏ máy cho Chinh Nhân lo, mang M16 và lựu đạn nhào ra trám tuyến. Bắc quân từ các ngọn đồi cao dùng loa phát thanh đe dọa lính Dù. Đêm nào cũng vậy bóng người di chuyển trong đêm tối như bóng ma trơi. Thời gian này Đại Đội 92 tiêu hao quá nên từ trên xuống dưới ai cũng thức trắng ngày đêm chiến đấu, đào hầm hố, và tản thương tiếp tế.
Hắn không nhớ rõ hôm đó là ngày nào trong tháng Tám. Từ bốn giờ sáng pháo Bắc quân chĩa vào ngọn đồi chỉ huy của Đại Đội 92. Pháo đủ cở và liên tục cho tới chạng vạng sáng. Sau đó là tiếng hô vang tiến lên của ma quỷ. Hắn và Trần Thuận (6) ngồi trong giao thông hào. Mười mấy trái lựu đạn đã mở khóa an toàn gần với tầm tay. Trần Thuận nhỏ giọng đ.m. tụi nó nhiều như kiến. Tim hắn đập thình thịch, không lẻ hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình. Bên ngoài phòng tuyến chợt ầm ầm rực lửa, pháo binh Dù từ Ái Nghĩa bắn TOT trên vị trí Đại Đội 92. Hắn co người trong giao thông hào chịu trận. Tám giờ sáng ma quỷ rút đi, lính 92 ngóc đầu lên đi kiểm soát phòng tuyến.
Bố già Nguyễn Văn Cảnh bị một mảnh pháo nhỏ xíu như ngón tay út xuyên lưng trúng vô tim. Phan Đoài, bạn cùng khóa Dù của hắn và là xạ thủ súng 57 ly, bị mảnh pháo lớn chém ngang ngực. Cả hai ngã xuống trên miệng hầm. Đúng là tử sinh gang tấc. Lần đầu tiên hắn hoang mang nghĩ đến phiên mình.
Mấy ngày hôm sau Đại Đội 92 lại mất thêm một người lính kỳ cựu. Cao Văn Ớt bị đặc công Việt Cộng phục kích trên đường đi đem cơm tiếp tế cho các tiền đồn. Ớt về đơn vị từ mùa Hè đỏ lửa. Chưa lần nào sứt mẻ, thằng lính cù lần hùng hục làm việc cho đến khi nằm xuống.
Mùa mưa trở về trên rừng núi Trường Sơn. Những ngày sau đó mưa triền miên không dứt. Lính Dù chiến đấu trong đói lạnh và rét mướt. Buổi sáng nào đó trên đường di quân, hắn run rẫy quỵ xuống bên con rạch nhỏ. Minh, y tá Đại đội, chuẩn bịnh cho hắn rồi nói hắn bị sốt rét cần đưa về Tiểu đoàn cho Y sĩ điều trị. Nằm quấn trong ba bốn lớp Poncho mà lúc nào hắn cũng run lẩy bẩy. Vi trùng sốt rét sống dai, mấy mươi năm sau, nhiều lúc đang ngồi giữa nắng mà hắn tự nhiên cảm thấy lạnh và run cầm cập.
Một buổi sáng đang nằm mê man, có thằng trợ y trong trạm cứu thương chun vào lều kêu nó dậy. Ê anh mày đang kiếm mày kìa, Chuẩn úy Tiểu Đoàn 8 Dù. Hắn trợn mắt ngạc nhiên. Anh Lũy hắn thật sự đang đứng đó. Tiểu đoàn 8 Dù đang đi vào mặt trận đồi 1062 thế chân Tiểu Đoàn 3 Dù. Đi ngang phòng tuyến Tiểu Đoàn 9, anh Lũy hỏi thăm và tình cờ biết hắn đang nằm dưỡng bệnh. Anh Lũy ra trường Thủ Đức chưa đầy ba tháng, về nắm Trung đội trưởng trong Đại Đội 83. Ngồi giữa triền đồi hai anh em hắn chia nhau gói thuốc lá, hỏi thăm nhau mấy câu rồi phải chia tay. Hắn ái ngại bâng khuâng nhìn anh Lũy dẫn đoàn quân đi khuất ngang triền núi, và nhủ thầm chắc mạ biết thì lo chết được.
Chiến trường Đại Lộc – Thượng Đức càng ngày càng đẫm máu và khốc liệt. Hằng ngày biết bao nhiêu đạn bom đổ xuống trên những cao điểm chiến lược. Tổn thất quân số của hai bên chồng chất mà chẳng bên nào chịu nhượng một thước đất. Đồi 1062 thay đổi chủ mấy lần. Tiểu Đoàn 9 Dù có nhiệm vụ bảo vệ cánh trái của 1062 cũng tiêu hao nặng. Hoàng Ngọc Tửu, Đại Đội trưởng 93 bị thương nặng, Đinh Văn Tường, đích thân cũ Đại Đội 92 về thay thế. Tầng lớp Sĩ quan Trung đội trưởng dường như bị thương và mất hết. Phạm Tăng Thọ, Nguyễn Văn Thân, Phan Đằng, Phạm Thụ, những khinh binh kinh nghiệm lâu đời của Đại Đội 92 trở thành các Hạ sĩ quan quyền Trung đội trưởng.
Sau hơn hai tuần lễ nằm trị sốt rét ở căn cứ Tiểu đoàn hắn về lại đơn vị. Hằng đêm hắn mở PRC25 qua băng tầng của Tiểu Đoàn 8 Dù để mong nghe tin tức của anh Lũy. Tiểu đoàn 8 Dù lúc đó đang đụng nặng với Trung Đoàn Sông Hồng (hay Sông Thao) miền Bắc. Khi nhận ra tiếng anh Lũy trong danh xưng Nguyễn Trãi hắn lo ngại vô cùng. Mấy ngày đầu còn nghe tiếng kêu Nguyễn Trãi nhưng sau đó yên lặng biệt tăm. Hắn lo lắng hỏi thăm đám lính tản thương và tiếp tế. Ai cũng nói Tiểu Đoàn 8 Dù đang đánh đấm te tua nhưng vẫn còn ở trên ngọn đồi 1062 tàn bạo.
Khoảng cuối tháng Chín đầu tháng Mười, Tiểu Đoàn 5 Dù vào vùng thay chân Tiểu Đoàn 9. Tiểu Đoàn 9 lảnh nhiệm vụ mới lên trấn giữ 1062 thay Tiểu Đoàn 8 Dù. Lúc đó hắn mới biết tin anh Lũy hắn bị thương đã di tản ra ngoài, nhưng vết thương ở đâu, nặng hay nhẹ thì không ai biết rõ.
Đường lên cao điểm 1062 thẳng đứng. Dốc lên cao hơn bốn mươi độ, nẻo đi trơn trợt và đầy dẫy xác quân miền Bắc. Để tránh tầm đạn bắn sẻ, lính Đại Đội 92 phải bò trên xác người chết để đi lên. Hắn cố gắng không nhìn xuống nhưng cố lạy trời cho đừng đạp lên thân thể của kẻ đã ra đi. Vừa bò vừa cầu nguyện, bốn giờ chiều hắn mới lên tới ven đỉnh đồi. Từ đó đến hàng giao thông hào khoảng cách chừng hai mươi lăm thước. Vừa chạy lên chưa được mười bước thì quanh chân hắn mịt mù dấu đạn. Đạn 12ly7 và CKC bắn sẻ xối đất cách hắn trong vòng gang tấc. Hắn hoảng hồn lăn xuống hố đất cạnh đó nằm tránh đạn cho đến chiều hôm chạng vạng mới mò ra tìm hầm Chỉ huy Đại đội trong giao thông hào phía trước.
Đỉnh đồi 1062 có một diện tích chừng năm mươi thước nhân năm mươi thước lúc bấy giờ đã trọc. Cây rừng cao lớn đã bị đạn pháo hai bên chặt rụi không còn chút gì màu xanh của lá. Xác lính của hai miền nằm la liệt có chừng đến mấy trăm. Mùi tử khí tỏa ra bám chặt vào quần áo, tóc tai và hơi thở của người còn sống. Những con dòi lớn bằng đầu đũa dài tới hai ba phân từ xác chết đã sình thúi chun ra rơi xuống thân thể người còn sống, bò lên bò xuống. Nhiều lúc buồn ngủ quá người còn sống cũng chẳng thèm đưa tay ra phủi.
Chinh Nhân, hắn và Hoàng Mộng (7) sống trong một cái hầm rộng chỉ đủ cho ba người ngồi. Dựa lưng nhau mà ngủ. Thỉnh thoảng gọi máy báo động cho các Trung đội coi chừng đặc công tụi nó bò vô. Ngày nào đồi 1062 cũng lảnh đại pháo Bắc quân bắn từ các dãy đồi phía Trường Sơn. Từ cao điểm 1062 đêm nào hắn cũng thấy trong quận Thượng Đức những đoàn xe Molotova tiếp vận của Bắc quân để đèn pha chạy sáng trưng. Đôi khi hắn cũng nhìn về hướng Thành phố Đà Nẵng, đoán chừng nơi chốn của những con đường, một mái trường và một dòng sông cắt ngang Thành phố. Mơ ước một chút rồi thôi, hắn nghĩ đâu còn ai nhớ tới mình.
Trong hơn ba tuần lễ trấn giữ ngọn đồi 1062, hắn không bao giờ được tắm, chưa lần được cởi đôi giày. Hắn không biết thân thể mình hôi thúi chừng nào nhưng ngồi gần thằng Mộng thì ngữi một mùi hơi người tàn bạo. Khuôn mặt Chinh Nhân ốm đi, mắt trũng xuống sâu, hai hàng lông mày dính đầy bùn đất đỏ.
Khi sức chịu đựng của người lính đã đến mức tận cùng thì hai bên Nhảy Dù và Bắc quân cũng thầm lặng rời chiến trận. Khoảng cuối tháng Mười, Trinh Sát Nhảy Dù thiết lập hàng rào điện tử McNamara từ ngọn đồi cao nhất trong vùng núi Hiếu Đức kéo xuống tả ngạn sông Vu Gia cho Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù rút quân đi.
Đêm rời cao điểm 1062 trời tối đen và mưa lất phất. Đường đi lên núi đã khó thì đi xuống núi lại càng khó hơn. Cứ đi vài ba bước là hắn lại trật chân té xuống. Có nhiều khi hắn rớt lăn cù xuống hố sâu. Hết ngọn đồi này đến ngọn đồi khác, gần 3 giờ sáng Đại Đội 92 mới ra gần vị trí của Tiểu đoàn. Khi đi ngang đồi lưng ngựa thì hắn kiệt sức. Đói lạnh và cơn sốt rét lại trở về, hắn ngồi bệt xuống dựa lưng vào ba lô và nhắm mắt lại. Thôi vậy cũng đành. Hắn nghe tiếng chân đi của lính 92 xa dần xa dần đồi lưng ngựa.
Không biết hắn thiếp đi bao lâu thì mang máng tiếng ai kêu tên hắn. Hai y tá Đại Đội 92 Minh và Chúc cầm đèn pin đi ngược lại tìm kiếm hắn. Thấy hắn mê man, Minh chích cho hắn mũi thuốc hồi sinh, rồi dìu hắn chạy theo dấu chân đơn vị.
Gần bốn mươi năm sau, hắn còn nhớ buổi sáng hôm sau khi ngồi trên chiếc GMC rời vùng hắn mới biết mình còn sống sót. Cũng đoàn xe đó nhưng chuyến ra thì thưa thớt quá. Ngồi dựa thành xe nhìn ánh nắng mặt trời nhảy múa trên đầu ngọn cây, hắn còn nghe văng vẵng những âm thanh quen thuộc : giọng Bắc của Bố Già, tiếng Huế chay của Phan Đoài, và tiếng cười đùa lao xao của những thằng bạn lính quen thân, một lần đi không về lại.
Trung Hậu
Tháng tư, 2014.
___________
(1) Danh hiệu truyền tin Trung tá Nguyễn Văn Nhỏ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù.
(2) Thư ký Đại Đội 92.
(3) Danh hiệu truyền tin Trung úy Phạm Văn Nhơn Đại Đội trưởng Đại Đội 92
(4) Thường vụ Đại Đội 92.
(5) Tiếng lóng của Nhảy Dù : tapi là xả láng ăn thua đủ (all-in), dùng trong lúc đánh xì-phé và đánh giặc.
(6) Ca sĩ trứ danh của Đại Đội 92. Trần Thuận ngã xuống tháng Tư 1975, trên đường rút quân ra Bến Đá, Vũng Tàu.
(7) Hiệu thính viên Đại Đội 92.

Tuesday, March 20, 2018

Thượng Đức : Trận đánh đầu tiên

Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản mới đây mà đã 30 năm. Đối với lịch sử, 30 năm không là gì cả, nhưng đối với một đời người, 30 năm là một quảng thời gia quan trọng, nó dài hơn một phần ba cuộc đời, nhất là khi đó là một phần ba cuối đời!

Cách đây 10 hay 15 năm về trước, một số chính khách miền Nam lưu vong vẫn còn nuôi mộng trở lại nắm một địa vị hay một chức vụ nào đó trên quê hương, trong đó có cả cựu Quốc Trưởng Nguyễn Khánh và cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng lịch sử chẳng chờ ai. Thay vì quay trở lại quê hương, họ đã lần lượt đi vào lòng đất!


Cho đến hôm nay, nhiều người vẫn đang còn cố gắng tìm câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao miền Nam đã mất quá nhanh như thế? Thời gian 30 năm cũng đủ để cho mọi xúc cảm lắng xuống và quay nhìn lại lịch sử một cách khách quan và chính xác hơn, từ đó rút ra những bài học cho các thế hệ đang tới, dù là những bài học rất đau đớn.



Để góp phần trả lời câu hỏi nói trên, trước hết chúng tôi xin trình bày qua về trận đánh THƯỜNG ĐỨC, một trận đánh mở màn cho cuộc xâm chiếm miền Nam của Hà Nội. Qua trận đánh này, chúng ta sẽ thấy các chiến sĩ VNCH ngoài mặt trận đã chiến đấu rất kiên cường và rất thiện chiến, sẵng sàng hy sinh tất cả cho tổ quốc, trong khi đó các cấp lãnh đạo lại quá yếu kém về cả quân sự lẫn chính trị, lại còn độc đoán và tham những, nên đã đưa miền Nam vào cảnh tang thương chưa từng có trong lịch sử với những hậu quả còn kéo dài đến ngày nay!

SƠ LƯỢC KẾ HOẠCH CỦA HÀ NỘI
Tháng 10 năm 1973, nghĩa là mới 9 tháng sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, hội nghị Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 21 họp tại Hà Nội đã đưa ra nghị quyết như sau: “Con đường thắng lợi của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng, bất cứ trong tình hình nào cũng phải giữ vững đường lối chiến lược tiến công, phải nắm vững thời cơ và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng tiến lên.” Nghị quyết nầy mở màn cho những cuộc tấn công mới chiếm miền Nam sau Hiệp Định Paris.

Để có thể kết thúc chiến trường một cách nhanh chóng, kế hoạch của Cộng Quân là đánh thẳng vào đầu não của miền Nam ở Sài Gòn, bỏ qua các tỉnh miền Trung. Muốn vậy, phải đưa quân vào Phước Long và Bình Long. Muốn đưa quân vào hai tỉnh này, công việc đầu tiên mà Bắc Việt phải làm là hoàn thành con đường Đông Trường Sơn, khúc từ Đông Hà
 (Quảng Trị) đến Phước Long. Hà Nội cho biết nếu phải vận chuyển bằng con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào, từ Nghệ Tĩnh vào đến Pleiku, quân đội Bắc Việt phải mất ít nhất 6 tháng. Trái lại, nếu vận chuyển bằng đường Đông Trường Sơn trên lãnh thổ miền Nam, chỉ mất có một tháng. Vì thế, Hà Nội phải cho làm con đường Đông Trường Sơn bằng mọi giá. Trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” xuất bản năm 1976, Tướng Văn Tiến Dũng đã viết:”Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường cơ động tốt. Công trình xây dựng con đường chiến lược Đông Trường Sơn bắt đầu từ năm 1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với nhịp độ hết sức khẩn trương nối liền từ đường số 9 (Quảng Trị) vào đến miền Đông Nam Bộ là công trình lao động của hơn 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong, đưa tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch, cũ và mới, làm trong suốt cuộc chiến tranh lên hơn 20.000 kilô mét...

”Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000 kilô mét ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, vượt cả sông, suối sâu, núi cao, có ngọn hơn 1000 mét, đủ sức tiếp dầu cho hàng chục ngàn xe các loại vào, ra trên đường...”

 
KHÁI LƯỢC VỀ ĐÔNG TRƯỜNG SƠN
Ngày xưa, sau khi chiếm Đông Dương, Pháp đã cho thiết lập một quốc lộ đi nép chân phía đông dãy Trường Sơn trên lãnh thổ Việt Nam, gọi là Quốc lộ 14. Quốc lộ này có tổng chiều dài là 1.380km và đi qua 10 tỉnh: Từ Nghệ An qua Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Kon Tum, Pleiku, Ban Mê Thuột và Bình Phước. Khi lập con đường này, Pháp nhắm các mục tiêu sau đây:

(1) Bảo vệ an ninh lãnh thổ,
(2) Hành quân thanh toán các tổ chức buôn lậu,
(3) Khai thác lâm sản
(4) Khai triển và xử dụng các sắc tộc thiểu số.

Trong chiến tranh Việt - Pháp từ 1945 đền 1954, con đường này bị bỏ phế vì Pháp không đủ khả năng bảo vệ. Sau Hiệp Định Genève 1954, khi vừa ổn định xong miền Nam, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã nghĩ ngay đến việc làm lại Quốc lộ 14 để bảo vệ lãnh thổ. Công việc này được khởi sự từ năm 1958 và giao cho Liên Đoàn 4 Công Binh phu trách. Liên đoàn này do Trung Tá Trần Văn Kha chỉ huy. Có lần Tổng Thống đã đích thân đến xem xét tại chỗ. Nhưng khi làm đoạn Kontum - Gia Vực, công việc cứ cù nhầy hoài, Trung Tá Kha bị cất chức. Chuyện xây dựng đường 14 chưa hoàn tất thì Tổng Thống Diệm đã bị Mỹ giết.


Khi Mỹ đổ quân vào miền Nam, quân đội Mỹ đã cho thiết lập các đồn bót trên con đường 14, từ Khe Sanh ở Quảng Trị đến Ban Mê Thuột, để ngăn chận sự di chuyển của Cộng quân. Vì không thể xử dụng con đường này, Cộng quân phải làm con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào để chuyển quân. Tiếc thay, sau khi quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam, các nhà lãnh đạo quân sự VNCH không nhận ra được tầm quan trọng của con đường 14 và cũng không có đủ phương tiện để bảo vệ, nên Cộng quân đã biến con đường này thành con đường chiến lược xâm chiếm miền Nam!

Đại khái, lộ trình con đường Đông Trường Sơn do Cộng quân làm lại như sau: Khởi đầu từ Khe Cát thuộc huyện Bố Trạch ở Quảng Bình, vượt sông Bến Hải phía trên nguồn đi qua chiến khu Ba Lòng ở Quảng Trị vào Thừa Thiên, qua A Lưới, A Shau rồi đi nép theo biên giới Việt - Lào phía sau đèo Hải Vân vào Quảng Nam, khi đến Khâm Đức thì vòng lên Ngọc Hồi thuộc Kontum. Đến đây, vì khúc đường 14 từ Kontum đến Ban Mê Thuột đang do quân đội VNCH trến giữ nên Cộng quân phải làm con đường thứ hai lấy tên là đường 14A đi sát biên giới Việt - Lào qua các tỉnh Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột. Tại đây, hai đường Trường Sơn Tây và Trường Sơn Đông gặp nhau rồi đổ xuống Lộc Ninh, Chơn Thành, Bình Long và Phước Thành.

Kể từ cuối năm 1973, các không ảnh chụp được cho thấy nhiều khúc đường 14 từ Thừa Thiên đến Ban Mê Thuột đang được Cộng quân sửa chửa hoặc chuyển quân. Cạnh con đường đó, có một hệ thống ống dẫn dầu chằng chịt. Biệt kích đã được thả xuống nhiều nơi để thám sát hoặc phá vỡ. Các phi cơ A.37 được gọi đến để oanh tạc những đoàn xe đang chạy trên đường 14 hoặc các toán nhân công đang làm đường, nhưng phá xong thì chỉ ít lâu sau, Cộng quân đã làm lại. Chỉ có B.52 mới có thể phá sập những hệ thống đường và ống dẫn dầu rộng lớn. Nhưng lúc đó B.52 không còn!

Tuy nhiên, trên con đường 14 có hai cái chốt do Quân lực VNCH trấn giữ, Cộng quân không thể đi qua được, đó là THƯỜNG ĐỨC ở phía tây Đà Nẵng và ĐỨC LẬP ở phía tây Ban Mê Thuột. Vậy muốn thông con đường Đông Trường Sơn, Cộng quân phải thanh toán THƯỜNG ĐỨC và ĐỨC LẬP bằng mọi giá. Điều đáng tiếc và cả Tổng Thống Thiệu lẫn các Tướng Lãnh VNCH đã không nhận ra được chiến lược và chiến thuật của địch, nên không có các biện pháp bảo vệ hữu hiệu.

KHÁI LƯỢC VỀ THƯỜNG ĐỨC
Thường Đức 
(có sách viết là Thượng Đức, nhưng không đúng) thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm ở phía tây Đà Nẵng, cách Đà Nẵng khoảng 60 cây số và cách biên giới Việt - Lào khoảng 50 cây số. Để giúp độc giả dễ nắm vững hơn những trận đánh được mô tả trong bài này, trước tiên chúng tôi xin mô tả qua về địa thế tỉnh Quảng Nam và vị trí quận Thường Đức trong tỉnh này.






Lãnh thổ miền Trung khi đi qua ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên thì thu nhỏ lại, có nơi bề ngang chỉ 50 cây số, nhưng khi qua khỏi đèo Hải Vân đi vào tỉnh Quảng Nam, lãnh thổ bung rộng ra. Vì thế, tỉnh Quảng Nam rất lớn, có diện tích đến 11.043 cây số vuông. Tuy nhiên, 72% lãnh thổ tỉnh này là núi rừng, trong đó có rất nhiều đỉnh núi rất cao như đỉnh Lam Heo 2.045m, đỉnh Tion 2.032m, v.v. Có nhiều khu rừng nguyên sinh chưa khai phá như rừng Phước Sơn. Chỉ khoảng 25% lãnh thổ là đồng bằng. Vì thế, việc bảo vệ Quảng Nam gặp rất nhiều khó khăn.

Năm 1962, để bảo vệ an ninh lãnh thổ và phát triển, chính phủ Ngộ Đình Diệm đã ban hành sắc lệnh chia tỉnh Quảng Nam ra thành hai tỉnh: tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Tín. Tỉnh Quảng Nam từ đèo Hải Vân đến sông Rù Rì và tỉnh Quảng Tín là phần đất còn lại.

* Quảng Tín gồm 6 quận: Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước, Hiệp Đức, Hậu Đức và Lý Tín.
* Quảng Nam được chia ra 9 quận: Đức Dục, Quế Sơn, Thường Đức, Hiếu Đức, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hòa Vang và Hiếu Nhơn.

Thường Đức là một quận mới được thành lập năm 1962, tách ra khỏi quận Đức Dục cũ, nằm sâu vào trong núi. Từ quận Điện Bàn nằm trên Quốc lộ 1 có Liên tỉnh lộ 4 chạy nép theo sông Vu Gia dẫn vào Thường Đức dài khoảng 40 cây số, nhưng đường sá rất hiểm trở. Thường Đức nằm ở ngã tư Liên tỉnh lộ 4 và Quốc lộ 14. Sở dĩ chính phủ Ngô Đình Diệm cho thành lập quận này là để cắt đứt con đường 14, không cho Cộng quân di chuyển vào Nam. Vùng chung quanh đường 14 có bộ lạc Katu sinh sống.

Con đường 14, khi qua khỏi phía sau đèo Hải Văn thì gặp Hiên, người Pháp gọi là Prao, nằm cách Đà Nẵng khoảng 90 cây số, sau đó đi xuống thung lũng sông Vu Gia, nơi có bến Giằng nằm trên nhánh sông Cái và quốc lộ 14. Thung lũng này không rộng lắm. Tại đây có một đồn biên giới của Pháp ngày xưa và có một số làng Việt Nam sống bên ngoài thung lũng. Chính phủ Ngô Đình Diệm đã dùng nơi đây làm quận lỵ Thường Đức.

Qua khỏi Thường Đức, đường 14 đi vào mật khu Hiệp Đức của Cộng quân, chạy dọc phía trên các quận Đức Dục, Tiên Phước, Hiệp Đức và Hậu Đức, vào đến Khâm Đức thuộc Phước Sơn rồi quẹo lên Kontum.


DỨT ĐIỂM THƯỜNG ĐỨC
Tỉnh Quảng Nam là vùng xôi đậu. Dựa trên tài liệu “Việtnam from Cease-Fire to Capitulation” 
(Từ Đình Chiến đến Đầu Hàng) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ do Đại Tá William E. Le Gro biên soạn, và dựa trên sự tường thuật của nhiều nhân chứng, chúng tôi xin tóm lược về trận Thường Đức như sau:Trong thời gian 1973 và 1974, phía Việt Nam Cộng Hòa có Sư Đoàn 3 Bộ Binh trấn giữ tỉnh Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Tín. Sư đoàn này có ba trung đoàn cơ hữu là Trung Đoàn 2, Trung Đoàn 56 và Trung Đoàn 57. Trung Đoàn 2 phụ trách khu vực Gò Nồi và quận Đức Dục. Trung Đoàn 56 chịu trách nhiệm về hai quận Quế Sơn và Thăng Bình. Trung Đoàn 57 là trung đoàn trừ bị.
Hai nơi hiểm yếu và chịu áp lực nặng nhất là Nông Sơn và Thường Đức, được giao cho Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân. Liên đoàn này có 3 tiểu đoàn là 77, 78 và 79. Tiểu Đoàn 78 đóng ở Nông Sơn và Tiểu Đoàn 79 đóng ở Thường Đức. Quận lỵ Thường Đức vốn do một tiểu đoàn Địa Phương Quân bảo vệ. Vào giữa tháng 6 năm 1974, khi được tin Cộng quân có thể tấn công Thường Đức, Tiểu Đoàn 79 mới được đưa từ Quảng Ngãi về trấn giữ vị trí này.

Phía Cộng quân có Sư đoàn 711 và Trung Đoàn 52 biệt lập. Sư đoàn 711 có các trung đoàn 31, 38 và 270. Ngoài ra, Cộng quân còn có Tiểu Đoàn 10 Đặc Công. Sư Đoàn 711 đặt bản doanh tại mật khu Hiệp Đức nằm khoảng giữa Nông Sơn và Hậu Đức thuộc tỉnh Quảng Tín, và khống chế toàn bộ con đường 14 trong lãnh thổ tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, vì kẹt đồn Thường Đức, Cộng quân không thể khai thông đường 14 được. Tháng 6 năm 1974, Hà Nội ra lệnh dứt điểm Thường Đức, trước là để khai thông con đường Đông Trường Sơn, sau là thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ.

Trong năm 1972, Sư Đoàn 711 đã chiếm quận Quế Sơn của tỉnh Quảng Nam và Tiên Phước của tỉnh Quảng Tín. Tháng 7 năm 1972, Sư Đoàn 3 VNCH và Biệt Động Quân đã chiếm lại hai quận này, sau đó mở cuộc hành quân Quang Trung 81 tiến từ Quế Sơn vào mật khu Hiệp Đức. Sư Đoàn 711 bị thiệt hại nặng, Trung Đoàn 270 của sư đoàn này phải bị giải thể. Đến năm 1974, Sư Đoàn 711 được đổi tên thành Sư Đoàn 2 và bắt đầu hoạt động trở lại với ba Trung Đoàn 1, 31 và 38.
 (Xin đừng lầm lẫn Sư Đoàn 2 này với Sư Đoàn 2 Sao Vàng đã bị B-52 tiêu diệt trong trận Kontum năm 1972 và sau đó phải giải thể).

Vào khoảng tháng 6 năm 1974, kẻ viết bài nầy có đi với một phái đoàn báo chí ra Đà Nẵng và được đưa lên Thường Đức bằng trực thăng để quan sát mặt trận. Chúng tôi được nghe thuyết trình về các hoạt động của Cộng quân chung quanh quận Thường Đức và cho biết Cộng quân sắp tấn công Thường Đức. Như vậy Quân Đoàn I đã nắm rất vững kế hoạch tấn công của địch và sau đó đã đưa Tiểu Đoàn 79 BĐQ về trấn giữ ở đây.

Tuy Thường Đức chỉ do Tiểu Đoàn 79 BĐQ và một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân trấn giữ, nhưng các Tướng của Cộng quân đã cho rằng “đánh Thường Đức còn khó hơn đánh Quảng Trị”, vì vị thế của Thường Đức rất hiểm trở. Vì thế, Bắc Việt phải huy động gần 3 sư đoàn để đánh Thường Đức: Sư Đoàn 2, Sư Đoàn 304, Trung Đoàn 29 của Sư Đoàn 324B và Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308.

Ở đây chúng tôi cũng xin mở một dấu ngoặc: Sư Đoàn 308 là một sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt, đã từng gây kinh hoàng cho Sư Đoàn 3 VNCH trong Mùa Hè Đỏ Lữa ở Quảng Trị. Nhưng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, Sư Đoàn 308 đã bị B-52 tiêu diệt, chỉ còn lại khoảng một trung đoàn, tập hợp là thành Trung Đoàn 36. Phải chăng trong trận này, Cộng quân muốn dùng cái tên Sư Đoàn 308 để uy hiếp tinh thần của Sư Đoàn 3 VNCH?

Sư Đoàn 2 CQ và Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308 có nhiệm vụ chận các đường tiếp viện. Trung Đoàn 29 thuộc Sư Đoàn 324B và Sư Đoàn 304, một sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt, mở cuộc tấn công thẳng vào Thường Đức. Mặt trận do Tướng Hoàng Đan, Quân Đoàn Phó Quân Đoàn 2 của Cộng Quân làm Tư Lệnh.

Trước khi đánh Thường Đức, ngày 18.7.1974 Cộng quân cho Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308 đánh chiếm Nông Sơn, nơi đang do Tiểu Đoàn 78 BĐQ trấn giữ. Cụm phòng thủ Nông Sơn “ Trung Phước nằm hai bên bờ sông Tỉnh Yên, cách quận lỵ Đại Lộc chỉ 16 cây số. Với sự tăng cường của 2 tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 2 CQ và Tiểu Đoàn 10 Đặc Công, vào trưa 18.7.1974, Cộng quân đã tràn ngập căn cứ Nông Sơn. Sư Đoàn 3 VNCH liền đưa Trung Đoàn 2, một pháo đội 155 ly, một pháo đội 175 ly và một chi đoàn của Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh đánh chiếm lại, nhưng không tái chiếm được và bị thiệt hại nặng. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 VNCH phải huy động Liên Đoàn 12 BĐQ (gồm ba tiểu đoàn 21, 37 và 39) vào thay Trung Đoàn 2 mới tái chiếm được.

Ngày 29.7.1974, Cộng Quân mở cuộc tấn công vào quận Đức Dục do Tiểu Đoàn 21 BĐQ trấn giữ và bắn pháo vào phi trường Đà Nẵng, đồng thời cho Trung Đoàn 29 tấn công vào Chi Khu Thường Đức do Địa Phương Quân trấn giữ. Thông tin với Chi Khu bị mất liên lạc. Từ Đồi 52 gần Đại Lộc, Cộng quân đã pháo kích rất chính xác vào các vị trí phòng thủ của Tiểu Đoàn 79 BĐQ. Hai tiền đồn BĐQ ở phía tây bị mất liên lạc.

Sáng 30.7.1974, Chi Khu Phó Chi Khu Thường Đức bị thương do pháo kích, nhưng các cuộc tấn công của Cộng quân đều bị đẩy lui. Sau đó, phi cơ quan sát của Không Quân nhìn thấy một đoàn xe của Cộng quân đang di chuyển trên Liên tỉnh lộ 4 ở phía tây Thường Đức, liền gọi phi cơ đến oanh tạc, phá hủy được 3 chiến xa của Cộng quân và nhiều xe vận tải khác. Cũng trong ngày 30.7.1974, Biệt Động Quân đã bắt được một tù binh của Cộng quân và biết được lực lượng của Cộng quân đang mở cuộc tấn công là Trung Đoàn 29 của Sư Đoàn 324B.

Ngày 31.7.1974, Cộng quân bắt đầu cho bộ đội tấn công vào Thường Đức. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 79 BĐQ gọi pháo binh bắn trọng pháo vào ngay Bộ Chĩ Huy của tiểu đoàn. Điều này chứng tỏ Công quân đã tràn ngập Bộ Chỉ Huy của tiểu đoàn. Được tin này, Tướng Nguyễn Duy Hinh quyết định cho Trung Đoàn 2 thuộc Sư Đoàn 3 đang ở phía tây Đại Lộc tiến theo LTL 4 đến giải cứu Thường Đức, nhưng không tiến được. Tướng Hinh phải đưa đại bác 175 ly vào Hiếu Đức để bắn yểm trợ cho Thượng Đức, trong khi đó Không Quân đến oanh tạc vòng đai quanh Thượng Đức, gây tử thương cho 13 Cộng quân và 45 bị thương.

Tiểu đoàn 79 BĐQ có nhiều người bị thương nên đã yêu cầu cho trực thăng đến chuyển thương, nhưng Không Quân trả lời rằng chỉ khi nào diệt xong các ổ súng phòng không của Cộng quân quanh Thường Đức, trực thăng mới có thể hạ cánh được.

Khi thấy tình hình nguy ngập, Tướng Ngô Quang Trưởng đã ra lệnh cho một Chi Đội Thiết Giáp M-48 đang đóng ở Tân Mỹ, Thừa Thiên, di chuyển ngay vào Đà Nẵng để giải cứu Thường Đức. Ngày 1.8.1974, khi Chi Đội M-48 vừa đến Đà Nẵng, Tướng Hinh liền cho thiết lập một lực lượng đặc nhiệm gồm có Trung Đoàn 2 Bộ Binh và Thiết đoàn 11 Kỵ Binh đi tái chiếm Thường Đức, nhưng lực lượng này không tiến lên được.

Ngày 4.8.1954, Biệt Động Quân tìm thấy 53 xác Cộng quân bị máy bay oanh tạc chết ở những ngọn đồi phía tây nam Thường Đức.

Ngày 5.8.1974, Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 bắt được một tù binh. Tù binh này khai thuộc Trung Đoàn 29 và cho biết trung đoàn này đang đóng giữa Thường Đức và Đồi 52. Tướng Hinh liền cho Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 57 tiến chiếm Đồi 52, nhưng khi còn cách đồi này khoảng 4 cây số thì phải dừng lại vì pháo của Cộng quân quá mạnh.

Trong khi đó, Trung đoàn 66 của Sư Đoàn 304 bắt đầu tấn công vào Thường Đức. Tiểu đoàn 79 BĐQ cho biết đạn dược và lương thực bắt đầu cạn. Máy bay đã đến thả đạn dược và lương thực xuống cho Tiểu Đoàn 79, nhưng không may tất cả đã rơi ngoài vòng rào, vì máy bay không dám bay thấp.

Ngày 6 và đêm 7.8.1974, Cộng quân pháo khoảng 1200 trái pháo vào căn cứ Thường Đức, sau đó cho bộ binh tràn vào. Lúc 8 giờ 30 sáng ngày 7.8.1974, Tiểu Đoàn 79 BĐQ thông báo không còn giữ căn cứ được, phải rút lui và cắt đứt liên lạc. Thường Đức hoàn toàn bị thất thủ.

LỰC LƯỢNG DÙ THAM CHIẾN
Năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, cuộc chiến Việt Nam tạm ngưng, nhưng hai sư đoàn tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến vẫn còn được Tướng Ngô Quang Trưởng lưu giữ tại Quân khu I.

Ngày 7.8.1974, sau khi Thường Đức bị chiếm và áp lực của Cộng quân đè nặng ở phía tây Đà Nẵng, Tướng Ngô Quang Trưởng quyết định đưa Lữ Đoàn 1 và Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù từ Thừa Thiên vào Đà Nẵng để tái chiếm Thường Đức.

Ngày 8.8.1974, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm 3 tiểu đoàn trực thuộc đã được vận chuyển đến Đại Lộc ở phía đông Thường Đức. Ngày 11.8.1974, Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù được di chuyển bằng phi cơ xuống phi trường Đà Nẵng sau khi bàn giao khu vực trách nhiệm cho Liên Đoàn 15 BĐQ. Sau đó, Tướng Lê Quang Lưởng cho di chuyển Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù vào đặt bản doanh gần bờ biển Non Nước, phía đông nam thành phố Đà Nẵng để chỉ huy.

Biết Quân Lực VNCH sẽ tìm cách chiến lại Thường Đức, Cộng quân cho Trung đoàn 29 chiếm giữ những ngọn đồi thấp ở phía nam của dãy núi núi cao chạy dọc theo sông Vu Gia và Liên tỉnh lộ 4, ngăn chận con đường gồ ghề và ngoẳn nghèo đi vào Thường Đức. Điểm cao nhất của dãy núi nầy là đỉnh 1235 cách Liên tỉnh lộ 4 khoảng 6 cây số về phía bắc. Đỉnh thứ hai là đỉnh 1062 nằm ở phía nam cách đỉnh 1235 khoảng 2 cây số. Cộng quân đã chiếm đỉnh 1062 để có thể kiểm soát đoạn đường từ Đại Lộc đến Thường Đức. Cộng quân cũng cho các tiền sát viên điều chỉnh pháo binh bắn chính xác vào các đơn vị của VNCH ở Đại Lộc. Vì thế, nhiệm vụ đầu tiên của hai Lữ Đoàn Dù là phải chiếm đỉnh 1062 bằng mọi giá.

Trước hết, Lữ đoàn 3 Nhảy Dù được giao phó nhiệm vụ ngăn chận địch xâm nhập vùng quận Hiếu Đức. Ngày 18.8.1974, khi ba Tiểu đoàn 1, 8, và 9 Nhảy Dù vừa tiến quân thì đụng đầu ngay với các đơn vị của Trung đoàn 29 ở phía đông đồi 52 gần xã Hà Nha. Sau một tháng đánh nhau, hai bên đều bị thiệt hại nặng. Cộng quân phải điều Trung đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 2 vào Thường Đức thay thế Trung đoàn 66 của Sư đoàn 304 để Trung Đoàn 66 phụ lực với Trung đoàn 29 chống lại các đơn vị Nhảy Dù.

Vì Cộng quân đã cho làm các hầm hố kiên cố quanh đỉnh 1062 bằng những thân cây rừng to lớn nên pháo binh và không quân của VNCH không thể phá vỡ được. Do đó, Lữ Đoàn Dù đã phải quyết định phóng lựu đạn cay và bình E8 để buộc địch phải chui ra khỏi các hầm trú ẩn rồi xin máy bay thả bom lửa Napalm đốt. Nhưng Lữ Đoàn Dù vừa chiếm được các vị trí quan trọng quanh đỉnh 1062 được ít lâu, Cộng quân đã dùng một lực lượng đông đảo hơn để chiếm lại. Hai bên bị tiêu hao rất nặng.

Vào đầu tháng 9/1974, Cộng quân cho thêm Trung Đoàn 24 của Sư Đoàn 304 đến trợ chiến với Trung Đoàn 29 và Trung Đoàn 66. Nhưng vào chiều ngày 19.9.1974, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù báo cáo đã chiếm được đỉnh 1062.

Ngày 2.10.1974, Tiểu đoàn 2 và Thiểu Đoàn 9 Nhảy Dù mở cuộc lục soát ở khu vực quanh đồi 1062 và dãy Sơn Gà, khám phá ra khoảng 300 xác địch và bắt sống được 7 tù binh thuộc Sư Đoàn 304. Một tuần sau, Sư Đoàn 304 lại mở cuộc tấn công tái chiếm đỉnh 1062. Nhưng nhờ pháo binh và phi cơ yểm trợ, các đơn vị Dù vẫn giữ vững đồi 1062.

Tính đến trung tuần tháng 10/1974, sau gần 2 tháng quần thảo với Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 304 của Cộng Quân, Lữ Đoàn 1 Dù gồm 4 tiểu đoàn đã bị tổn thất khoảng 500 chiến sĩ vừa chết vừa bị thương. Phía Cộng quân bị thiệt mất trên 1200 người và 14 người bị bắt làm tù binh.

Ngày 29 tháng 10 năm 1974, Trung đoàn 24 của Sư Đoàn 304 đã dùng súng phóng hỏa đốt đồi 1062 khiến các lực lượng Dù phải rút khỏi đỉnh đồi. Ngày 1.11.1974 Cộng quân lại chiếm giữ đồi 1062 một lần nữa.

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng liền ra lệnh cho Tướng Lê quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Đoàn Dù, phải lấy lại đồi 1062 với bất cứ giá nào. Ngày 8.11.1974, lực lượng Dù lại bắt đầu mở cuộc phản công và 3 ngày sau đã chiếm lại được đồi 1062,

Kể từ ngày 11.11.1974, Lực Lượng Dù đã ngự trị trên toàn ngọn đồi máu 1062 ở phía đông Thường Đức và thành lập tuyến phòng thủ trên các triền núi quanh đồi này. Công quân bị tiêu hao quá nhiều, không dám trở lại tấn công nữa. Tuy nhiên, Sư Đoàn 304 và Trung Đoàn 29 của Cộng quân đã thành lập một hệ thống phòng thủ vững chắc quanh Thường Đức để bảo vệ con đường 14, Quân Lực VNCH không thể tái chiếm Thường Đức được.

Vào cuối năm 1974, Lực Lượng Dù chỉ để lại trên đồi 1062 Tiểu Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 7, và đặt Bộ Chỉ Huy tại đỉnh Đông Lâm cách đồi 1062 khoảng 4 cây số về phía đông, để ngăn chận không cho Cộng quân tái chiếm đồi 1062.

KẾT QUẢ TRẬN CHIẾN THƯỜNG ĐỨC

Những trận đánh ác liệt quanh Thường Đức kéo dài từ ngày 18.7.1974 đến ngày 11.11.1974 đã đem lại những kết quả như sau:

Về nhân mạng: Theo sự ước tính của cơ quan tình báo Hoa Kỳ, khoảng 2000 Cộng quân đã bị thiệt mạng và 5000 bị thương. Về phía VNCH, Tiểu Đoàn 79 BĐQ không còn nữa. Lực lược Nhảy Dũ cả chết lẫn bị thương gần đến 50%.

Về lãnh thổ: Lực Lượng Nhảy Dù đã chiếm lại được đồi 1062 ở phía đông Thường Đức, nhưng không tái chiếm được Thường Đức.

Năm 1965 cũng đã xẩy ra một trận đánh lớn ở đây. Cộng quân đã tập trung một lực lượng khá lớn để mở cuộc tấn công vào quận Thường Đức. Lực lượng này gồm có Mặt Trận 44 Quảng Đà, Trung Đoàn Q.82 và Nông Trường 2 Sao Vàng. Trận đánh diễn ra tại Ba Khe, Hà Nha và đồi Tétonon (1062). Trung Đoàn 51 Bộ Binh biệt lập của Việt Nam Cộng Hòa phải chiến đấu một cách anh dũng và vất vả mới có thể giữ được phần đất này. Sau trận đánh đó, hầu hết nhà cửa trong quận đều bị thiêu rụi, xác chết trôi đầy sông. Những trận đánh lớn như thế lại tiếp diễn vào tháng 1 năm 1972. Nhưng chưa lần nào Thường Đức bị mất hẵn vào tay Cộng quân như lần này.

KHÔNG TRI BỈ TRI KỶ
Ngày xưa, khi đến cai trị Đông Dương, người Pháp đã nhận ra ngay tầm quan trọng của cái chốt Thường Đức trên đường 14, nên đã lập một đồn tại đó để kiểm soát. Chính phủ Ngô Đình Diệm cũng đã nhận ra tầm quan trọng của Thường Đức trên đường tiến quân của Bắc Việt, nên đã biến Thường Đức thành một quận và hình thành Chi Khu Thường Đức để trấn giữ. Mỹ can thiệp vào Đông Dương cũng đã đánh giá cao tầm quan trọng của Thường Đức, nên đã tìm cách khóa chặt chốt này, không cho Cộng quân di chuyển xuống miền Nam. Cộng quân phải xử dụng con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào rất vất vã.

Điều đáng tiếc là sau khi cuộc chiến được “Việt Nam hóa”, các nhà lãnh đạo quân sự của miền Nam đã không nhận ra được tầm quan trọng của cái chốt Thường Đức, không thấy được chiến lược và chiến thuật của Cộng quân là khai thông đường Đông Trường Sơn để đưa quân xuống đánh thẳng vào Sài Gòn, nên không quan tâm đến Thường Đức.

Nếu các tướng lãnh VNCH nhận ra được tầm quan trọng của Thường Đức, đưa khoảng một Liên Đoàn Biệt Động Quân đến thiết lập những nút chặn quanh Thường Đức, Cộng quân khó có thể khai thông con đường Đông Trường Sơn được.

Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không nhận ra được tầm quan trọng của việc cắt ngang con đường Đông Trường Sơn ở Thường Đức mà còn muốn mở thông con đường này cho Cộng quân chuyển xuống miền Nam để Vùng I của ông khỏi bị áp lực nặng!

 http://www.maplandia.com/vietnam/quang-nam-da-nang/dai-loc/thuong-duc/

Tân Sơn Hòa chuyển