Showing posts with label nhẹ dạ của người việt. Show all posts
Showing posts with label nhẹ dạ của người việt. Show all posts

Friday, May 12, 2017


Friday, May 12, 2017 | 12.5.17



Kỳ Duyên: Ngẫu nhiên đọc được bài viết này, bỗng thấy buồn xa xót. Luồng gió CM đã cuốn phăng hết tất cả mọi thứ “tiểu tư sản” vào quá khứ. Chợt nhớ thời trẻ, bên Báo ND, mình đã khóc hết nước mắt khi được ông TBT kết luận về một bài báo: Viết theo kiểu tư sản. Chính mình không hiểu vì sao lại là kiểu viết theo kiểu tư sản. Đó là một bài viết về một cô giáo rất thương trò, văn phong mình viết mềm mại, đồng cảm và chia sẻ bởi tấm lòng.

Quả thật, mình đã không “đồng hóa” nổi. Và mình đã không chịu để “cuốn phăng”. Đời có bao bi hài, trắng đen đảo lộn chỉ bởi sự không hiểu đâu là thang giá trị của văn hóa.

Có lẽ thế mà XH mới như hôm nay!  

Tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.
Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh,… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết…, khiến tôi ngờ…bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.

 Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.

Tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo  làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:“

Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,

Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,

Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…”

Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.

Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:

“…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,

Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ

Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ

Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…”

Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là…ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…”. Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”.

Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.

Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ,… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.

Năm 1980, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội công tác. Anh bạn đồng nghiệp trạc tuổi, tốt nghiệp từ Đông Đức, chở tôi trên chiếc Simson lòng vòng Hà Nội. Nơi đầu tiên tôi muốn ghé thăm là phố Khâm Thiên. Anh bạn tròn xoe mắt, “Làm gì còn hố bom mà ghé thăm”. Tôi chợt hiểu vì sao anh bạn ngạc nhiên, nhưng không thể giải thích. Môi trường giáo dục trong Nam ngoài Bắc khác nhau.

Cái máu phóng đãng đã dẫn tôi đến phố Khâm Thiên, chứ không phải bom rơi đạn lạc ở đó. Đến, dù chỉ để nhìn vài căn nhà xiêu vẹo, cũng thỏa đôi chút tò mò về một thời vang bóng. Phong lưu tài tử giai nhân, đúng, nhưng không phải cách phong lưu của Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố. Anh chàng Vân Hạc khi chờ kết quả thi, ra vào chốn ả đào để vui say bè bạn, để trấn an nhau, để bốc nhau, để chờ ngày bảng vàng ghi tên.

Tôi nhớ đến kiểu cách phong lưu của Cao Bá Quát, một tay chơi thứ thiệt, khi làm sơ khảo trường thi, tiếc bài thi hay mà phạm húy, đã dùng muội đèn để sửa. Việc lộ, bị kết án giảo giam hậu, ông phải đi dương trình hiệu lực, nghĩa là đi làm phục dịch cho phái đoàn đi công tác nước ngoài. Con người tài hoa này, mang theo nỗi cô đơn đến phố ả đào giải sầu bên chén rượu, làm vài bài hát nói, đào nương hát, mình gõ nhịp…

“Giai nhân nan tái đắc

Trót yêu hoa nên dan díu với tình

Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh

Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ…”

Cũng lần đầu ở Hà Nội, buổi chiều chập choạng tối, lang thang ở phố Huế, tôi thấy một bà đi xe đạp ngược chiều, bị cảnh sát ngoắc lại. Bà năn nỉ thông cảm? Không. Bà phân bua? Không. Bà cãi tay đôi với cảnh sát rằng, nhất định mình đúng. Lương và nhu yếu phẩm phân phối còn không đủ sống, đâu dễ gì chịu nộp phạt. Đôi co với nhau mà cả hai vẫn một mực xưng hô…đồng chí. Tôi phì cười. Hà Nội có những điều không nằm trong trí tưởng tượng của một người Sài Gòn, lần đầu ra Hà Nội như tôi.

Bây giờ, Hà Nội khác xa rồi. Hà Nội nhiều nhà cao tầng, cầu vượt. Hà Nội nhiều xe hơi hơn, Hà Nội giàu hơn. Hà Nội không còn những cảnh cãi tay đôi với cảnh sát buồn cười như thế nữa.  Hà Nội văn minh hơn, nhưng có thể họ phải “cãi tay đôi” với chính mình, khi mà còn những cảnh thanh niên thiếu nữ “ à la mode” hái hoa, giẵm hoa bẻ cành để chụp ảnh, hay gào thét tung hô thần tượng minh tinh Hàn Quốc. Đó là chưa kể bún mắng cháo chửi, rải rác vẫn còn đâu đó. Thương hiệu chăng? Tôi chịu! Ăn ngon mà nghe chửi, thôi thà ăn độn dễ nuốt hơn.

Tôi có bà bạn già (hơn tôi) là dân Hà Nội mấy đời. Cha bà là một trong số rất ít người xong bậc đại học thời Tây. Sau 54, nhà đông con, xoay sở không nổi, ông bố định cho 2 đứa con lớn tạm nghỉ học, đi làm rồi học bổ túc sau. Nhưng bà mẹ thì không, nhất quyết không. Bà đến gặp ông bà bác sĩ nhà bên mượn…tiền để các con tiếp tục ăn học. Họ cùng ở trong thành như bà, không vướng bận con cái, còn chút của ăn của để, đồng ý cho vay tín chấp, một thứ tín chấp tình người, thời nay khó tìm. Tôi hiểu ra, dân trí thức Hà Nội xưa có kiểu chơi “chẳng giống ai” (lúc này). Họ kín đáo giúp đỡ nhau trong những tình huống khắc nghiệt. Trong họ dường như  chất “nhân” và lòng tự trọng được rèn luyện qua giáo dục, giấy rách phải giữ lấy lề. Mực đen và bão tố không thể vấy bẩn hay phá sập.  Những năm sau 75, trong Sàigòn tôi cũng thấy vài trường hợp như thế.

Bà bạn (già) này, về chuyên môn, thì kiến thức mênh mông chứ chẳng vừa. Ăn nói nhẹ nhàng, nhưng quyết liệt khi cần. Vậy mà cư xử thì cứ dạ dạ,..cám ơn. Bà nói chuyện với tôi cũng thế, cũng dạ dạ,..cám ơn.  Tôi cười, sao chị khách sáo thế. “Không phải đâu, tôi được giáo dục trong nhà từ nhỏ như thế. Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ dạ…cám ơn mà chúng tôi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn trái chuối là phải bẻ đôi. Ở trường là chuyện khác, còn về nhà là đâu ra đó, vào khuôn phép.”. Tôi cũng nhận ra sự  “khách sáo chân thành” của bà, chứ không phải khách sáo đãi bôi.

Dạo sau này, vì công việc tôi thường ra Hà Nội. Đi ăn hàng với bè bạn ở đó thì không sao, nhưng hễ đi một mình là bị chặt (giá), dù chỉ là chai nước tinh khiết, 10.000 đồng ở quán ven đường phố cổ. Bị chặt riết thành quen. Tôi nhủ thầm, lần nào ra Hà Nội mà không bị chặt coi như trúng số.

Dù tôi cũng có vài người bạn thân ở Hà Nội, nhưng giữa tôi và Hà Nội, dường như vẫn còn khoảng cách nào đó. Tôi đến Hà Nội như một kẻ xa lạ, đến như đi nước ngoài không cần visa.

Sài Gòn dễ hội nhập. Cứ ở Sài Gòn là thành người Sài Gòn. Chưa thấy mình là người Sài Gòn, ở lâu thêm chút nữa cũng biến thành người Sài Gòn. Sài Gòn đồng hóa con người nhanh lắm.

Nhưng Hà Nội có lẽ khác, người ta đồng hóa Hà Nội như vũ bão, đồng hóa cạnh tranh từ nhiều nguồn khác nhau để tạo ra một văn hóa Hà thành hiện đại khó mô tả. Còn người Hà Nội (thứ thiệt) đành phải co cụm, khép kín, và giáo dục con cái theo cách riêng của họ để bảo tồn…di sản. Giáo dục từ gia đình mới tạo ra gốc rễ, chứ  không phải là quy tắc ứng xử, hay giàu sang, quyền thế.

Mời xem Video: Nguyễn Phú Trọng đồng ý nhường chức Tổng BT và Trần Đại Quang đã bán đứng Đinh La Thăng thế nào?



Hà Nội nhiều hồ. Hà Nội đẹp vì hồ vào những buổi sáng thật sớm, khi trời còn nhá nhem. Sáng lên, Hà Nội biến mất. Con gái Hà Nội (xưa) chắc cũng thế. Cuộc đời dâu bể đã làm họ biến mất, nhưng thực ra cũng chỉ lẩn quất, âm thầm đâu đó thôi.

Năm ngoái, đi ngang qua ngõ nhỏ trong khu phố cổ, tôi ghé tiệm tạp hóa mua chai nước lạnh. Bà bán hàng dễ cũng gần 70, đưa chai nước: “Thưa, của ông đây, giá 5.000. Cám ơn ông…”. Tai tôi lùng bùng. Trong tiềm thức có cái gì nghe quen quen, đọc đâu đó rồi. Đã dợm chân đi, nhưng cũng quay lại: “Thưa bà, bà là người Hà Nội?”. “Vâng ạ, nhà tôi ở  ngõ này đã ba đời rồi, từ thời ông nội tôi ra làm quan ở đây”.

Mẹ tôi nói đúng về con gái Hà Nội. Họ hiếm hoi, ẩn mình như giọt nước đọng ở mặt dưới của lá cây sau cơn mưa. Có duyên mới gặp, phải tìm mới thấy.

Vũ Thế Thành

(Blog Vũ Thế Thành)

Friday, April 7, 2017

NGẪM VỀ NGHỆ SĨ HÀI HOÀI LINH, VÀ ...
CANH LE·THURSDAY, JANUARY 28, 2016
Tôi nhớ là nghệ sĩ cải lương tài sắc một thời Phùng Há có lần tâm sự về chuyện bà cùng với một số nghệ sĩ khác đã lập nên Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế Nam Việt, rồi đứng ra vận động tiền bạc đóng góp từ các mạnh thường quân, khách mộ điệu và chủ hãng có hảo tâm để mua đất, xây nên ngôi Nhựt Quang Tự, còn gọi là Chùa Nghệ Sĩ, cùng với khu Nghĩa Trang Nghệ Sĩ từ năm 1949.
Bà nói đại ý :
Thấy thương lắm, giới nghệ sĩ Cải Lương lên sân khấu thì xiêm y tha thướt, cân đai rỡ ràng, điệu bộ trau chuốt, hát ca văn vẻ vậy thôi chứ ngoài đời thật thì khổ cực lắm, có nghệ sĩ tài danh khi chết đi chỉ có mảnh chiếu quấn thân vì không có áo quan để chôn ; đa số lại thất học vì yêu nghề muốn theo đuổi đam mê, theo gánh hát lênh đênh rày đây mai đó từ nhỏ để học ca tập múa cho thuần thục mới mong thành tài, nên ra ngoài đời thì nói năng cục mịch, cư xử vụng về, thấy tội lắm ...
Quả thật là phần đông khách mộ điệu Cải Lương vẫn thường bị choáng ngợp bởi ánh đèn sân khấu, nên ít thấu cảm được những góc khuất này. Họ thường chỉ được nhìn ngắm thần tượng từ xa rồi hâm mộ đắm đuối, chứ khi tiếp xúc thần tượng rồi thì sẽ khó tránh khỏi ngỡ ngàng thất vọng.
Vậy nên mới có chuyện cô thôn nữ buổi tối đi coi Cải Lương đã say sưa mê mệt chàng Lã Bố dáng vẻ oai hùng, mặt mũi khôi ngô, giáp trụ sáng ngời, sáng hôm sau bèn lén “bỏ nhà theo trai”, tìm tới chỗ con thuyền của gánh hát đang neo đậu, hỏi thăm thì được chỉ cho một anh chàng đen đúa hom hem, mình mẩy đầy lang ben hắc lào đang ngồi cởi trần phơi nắng đuổi ruồi gỡ ghẻ ...
Thực ra thì giới nghệ sĩ sân khấu, ngoài năng khiếu và khổ luyện thì vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vô bài bản, tuồng tích, đạo diễn ; sự tỏa sáng thành danh của họ nhờ rất nhiều vô bài bản, tuồng tích, đạo diễn hay mà họ may mắn gặp được hay được quyền chọn lựa, chứ nếu kém may mắn hay không được quyền chọn lựa thì cũng đành phải chịu mai một hẩm hiu ...
Sau này, có một số nghệ sĩ sân khấu kiêm luôn cả viết kịch bản và làm đạo diễn, nhưng thường khó thành công, vì trong những lĩnh vực này còn đòi hỏi phải có những tố chất và kỹ năng khác nữa.
Đối với nghệ sĩ hài Hoài Linh, thật khó có thể phủ nhận về năng khiếu diễn xuất của anh cùng với bản lĩnh sân khấu và những thủ thuật tiểu xảo trong lĩnh vực diễn hài, từ chuyện giả gái đến giả giọng khắp Bắc Trung Nam, giả giọng các ca sĩ từ Tuấn Vũ, Tuấn Ngọc, Duy Khánh ... cho đến ... Thái Thanh ... vv ... Ngoài ra, trong một lần xem anh làm giám khảo trong chương trình Gương Mặt Thân Quen, tôi lại càng cảm phục, đến mức rưng rưng, khi nghe anh phân tích cho Hoài Lâm về cách đánh lưỡi phát âm nhả chữ “s” đặc trưng, do bị rụng răng lại vừa nhai trầu vừa hát, của nghệ nhân xẩm Hà Thị Cầu ... Tôi làm nghề có dính dáng chút đỉnh với nghệ thuật, nên hiểu rằng phải rất yêu nghề và chịu khó, cẩn thận và tinh tế thì mới có thể nhận xét nghiêm túc và chính xác đến như vậy. Nếu có nhiều kịch bản hay, sâu sắc và bổ ích thì tài năng của anh sẽ còn thăng hoa hơn nữa !
Nhưng khi nghe trong buổi họp báo công bố live show gần đây, Hoài Linh nói rằng “Hài mà không tục là mất gốc”, tôi ngạc nhiên, vì tôi nghĩ đến danh hài Charlie Chaplin ( vua hề Sác-lô ). Đương nhiên, so sánh Hoài Linh với Charlie Chaplin là khập khiễng, nhưng tôi đang muốn nói đến cái “gốc” của hài. Quả thật là từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam thường dùng “tục” để gây hài, ẩn nấp dưới cái kiểu lập lờ “đố tục giảng thanh”, nhưng nhiều khi quá dung tục, nhãm nhí, vô bổ, thậm chí là quá dơ dáy, thấp kém, độc hại ...
Charlie Chaplin có một tuổi thơ đầy bất hạnh với người cha nghiện rượu và người mẹ mắc bệnh tâm thần, nên đã phải lang thang lưu diễn từ khi còn rất nhỏ để kiếm sống. Đến khi thành danh, trong sự nghiệp của mình, ông đã kiêm nhiệm rất nhiều vai trò như diễn xuất, biên kịch, đạo diễn, soạn nhạc, biên tập, sản xuất cho hầu hết các phim. Phim hài của ông, như The Bond ( Công Trái - 1918 ) có nội dung tuyên truyền được tặng cho chính phủ Mỹ để gây quỹ cho Đồng Minh trong Thế Chiến I ; phim Shoulder Arms ( Vác Súng - 1918 ) được dựa trên bối cảnh chiến tranh ; phim The Kid ( Đứa Trẻ - 1921 ) mang nhiều yếu tố tự truyện, đề cập đến các vấn đề nghèo đói và chia cắt cha con ; phim The Gold Rush ( Cơn Sốt Vàng - 1925 ) được gọi là “một hài kịch hùng tráng sinh ra từ một chủ đề tàn nhẫn” ; phim Modern Times ( Thời Đại Tân Kỳ - 1936 ) là “một màn trào phúng về những giai đoạn nhất định trong đời sống công nghiệp của chúng ta”, “sự suy tưởng tàn nhẫn về sự tự động hóa cái cá nhân”, quan tâm đến hoàn cảnh người lao động, các vấn đề chính trị và hiện thực xã hội ; phim The Great Dictator ( Nhà Độc Tài Vĩ Đại - 1940 ) nhằm đả kích cả trùm phát-xít Adolf Hitler lẫn Benito Mussolini và chủ nghĩa dân tộc cực đoan ; phim Monsieur Verdoux ( Quý ông Verdoux - 1947 ) lên án chủ nghĩa tư bản, chiến tranh và vũ khí hủy diệt hàng loạt, đến độ ông từng bị cáo buộc là có cảm tình với cộng sản ; phim A King In New York ( Một Vị Vua Ở New York - 1957 ) chế nhạo nền chính trị Mỹ và công kích những yếu tố văn hóa của thập niên 1950 như chủ nghĩa tiêu dùng, phẫu thuật thẩm mỹ và phim màn ảnh rộng ... vv ... Người ta còn so sánh Charlie Chaplin với Adolf Hitler như là hai biểu tượng trái ngược, tuy có nhiều điểm tương đồng như sinh cách nhau có 4 ngày, đều vươn lên từ nghèo khổ rồi trở thành nổi tiếng thế giới, cùng để kiểu ria mép bàn chải ..., nhưng một “gây cười” và một “gây khóc” cho nhân loại. Ấy vậy nhưng xem phim hài của Charlie Chaplin người ta cũng có thể “khóc”, hay “cười ra nước mắt” ...
Chắc hẳn, hài của Charlie Chaplin thấm đẫm chất Nhân Văn - Nhân Bản.
Cái “gốc” của hài là ở đó chăng !?
Hài kịch cũng có giá trị giáo dục, thanh lọc và di dưỡng, có tác dụng đả kích trực diện những thói hư tật xấu của con người cũng như xã hội, tuy sâu cay nhưng nhờ có tiếng cười nên tạo thú vị, ít gây bất mãn và thù hằn ...
Ta cứ thử lấy ví dụ như vở hài kịch “Nghêu Sò Ốc Hến”, tất cả mọi người đều có thể nhận ra, tuy là ở các mức độ khác nhau do trình độ nhận thức, những tính cách bần tiện tham lam gian giảo của Trùm Sò, Lý Trưởng, Pháp Sư ..., những tính cách cửa quyền nhũng nhiễu ngu dốt của Quan Huyện, Thầy Đề, Lính Lệ ... Mà nếu dùng chính kịch chưa chắc đã lột tả sâu cay được những tính cách đó để đả kích trực diện những thói hư tật xấu của con người cũng như xã hội Phong Kiến, và chưa chắc vở chính kịch đó không bị kiểm duyệt hay bị cấm đoán.
Hiện nay, chuyện nhà nước tìm mọi cách, bất chấp phạm pháp và vi hiến, để ngăn cấm hài kịch “Táo Quân” hàng năm cũng cho thấy sự “đáng sợ” của hài kịch, và sự “thụt lùi” của chế độ hiện tại so với chế độ Phong Kiến !
Mới đây, nghe tin Hoài Linh nhận danh hiệu “nghệ sĩ ưu tú”, tôi lại càng ... lạnh người.
Bởi vì tôi biết ở Việt Nam hiện nay, các “văn nghệ sĩ - trí thức” phải tự làm hồ sơ và đơn “xin” để được nhà nước “xét duyệt” rồi “phong tặng” cho các “danh hiệu cao quý” : nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân ... vv ..., thậm chí có người còn phải chạy chọt để “mua” ...
Từ chuyện nay nhớ chuyện xưa, Học Giả Nguyễn Hiến Lê trong Hồi Ký của mình có kể rằng, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, chính quyền có nhiều lần trao tặng cho Ông Kỷ Niệm Chương và Phần Thưởng ( bằng hiện kim ) để ghi nhận công lao đóng góp cho nền Văn Hóa nước nhà, và mời Ông cộng tác trong Bộ Quốc Gia Giáo Dục, nhưng Ông đã từ chối với lý do còn bất mãn với một số chính sách của chế độ và tự thấy mình chưa đóng góp được gì lớn lao cho xã hội, chính quyền cũng đành thôi mà cũng không gây khó dễ gì ...
Ở Miền Nam trước 1975, các Văn Nghệ Sĩ đều không phải “thi”, “diễn”, “xin” để được nhận các giải thưởng. Trách nhiệm xem xét và sàng lọc thuộc về công chúng và các hội đoàn xã hội, sau rốt mới đến chính quyền ...
Qua hai câu chuyện này, tôi có một số nhận xét :
1- Chính quyền thời trước đã làm đúng chức trách của mình, là phát hiện nhân tài, ghi nhận công lao, tưởng thưởng xứng đáng, và tùy tài bổ dụng ... Còn việc có nhận hay không là việc của họ, chính quyền phải tự xét lại mình có đủ tư cách để “phát hiện”, “ghi nhận”, “tưởng thưởng”, và “bổ dụng” ... hay chưa !? Cả người “cho” và người “nhận” đều giữ gìn và thể hiện được lòng tự trọng của mình.
Chính quyền thời nay thì lại đặt ra một cơ chế “xin - cho” một cách trịch thượng, tự cho mình cái quyền “toàn trị”, ban phát trên mọi lĩnh vực, phản ánh một não trạng u tối và thấp kém ... Cả người “cho” và người “xin” đều nhục cả !
2- Về phía Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức, nếu là “chân chính”, với danh dự và tự trọng, thì không ai lại đi làm cái việc “xin” danh hiệu cả.
Nay, các loại “sĩ - sư - gia - giả”, nhiều nhan nhản, có tự thấy phải “xin”, thậm chí “mua”, như vậy là đớn hèn và nhục nhã không ... !?! ...
Hay là các loại “sĩ - sư - gia - giả” rất đồng tình và thỏa mãn với những chính sách của chính quyền và tự thấy mình đã có những đóng góp lớn lao cho xã hội ... !?! ...
3- Nhìn ra thế giới, tôi chắc rằng nhà nước Pháp khi trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh, nhà nước Anh khi phong tặng Tước Hiệu Hiệp Sĩ ..., không ai làm theo cái cơ chế “xin - cho” như ở ta hiện nay. Có lẽ nhờ vậy mà họ Văn Minh chăng !? Hay là bởi vì họ Văn Minh nên mới như vậy !?
4- Ở các nước Văn Minh, giới Chính Trị Gia thường hay kết thân với giới Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức, vì ở các nước đó, Văn Hóa dẫn đường cho Chính Trị ... Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức là những con người “anten” cực kỳ nhạy cảm trước những tín hiệu biến chuyển của xã hội, là những người luôn đi tiên phong trong các trào lưu tư tưởng mới ... Gần họ, giới Chính Trị tiếp thu các tín hiệu xã hội và kịp thời điều chỉnh hay vạch ra các sách lược, chiến lược, chính sách cho phù hợp với sự phát triển của xã hội !
5- Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức Việt Nam ngày nay dường như vẫn còn đang chìm đắm trong “bi kịch” với những “sầu cổ độ”, “vạn cổ sầu”, “nỗi buồn muôn năm cũ” ... của thời “tiền chiến”, vẫn cứ quanh quẩn lê la ở những “phố nhỏ, ngõ nhỏ”, “quán cóc liêu xiêu” ..., để rồi mỏi mòn với “thương nhớ đồng quê”, lay lắt với “nỗi buồn phố thị” ; còn “hài kịch” thì vẫn mang hơi hướm của những “Trạng Quỳnh”, “Trạng Lợn”, “Xiển Bột”, “Ba Giai Tú Xuất” ... và ngày càng dung tục, kệch cỡm, rẻ rúng ...
Cho đến nay, người Việt Nam vẫn cứ hình dung “nghệ sĩ” là phải “lãng mạn”, “bay bướm”, “đi mây về gió” ... Họ ngạc nhiên khi thấy Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức nhạy cảm, quan tâm với thời cuộc, chính trị ... Chính quyền thì dường như lo sợ, và theo dõi, không phải để tiếp thu, học hỏi, mà để ngăn ngừa, khủng bố ...
Năm điều trên cho thấy Xã Hội Việt Nam vẫn còn cách xa “Cánh Cửa Văn Minh” lắm ! Chưa biết đến ngày nào, giới Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức Việt Nam mới có thể đưa được Xã Hội Việt Nam đến bên “bậc thềm” của nó ... !?! ...

Hơn nữa, tôi vốn “dị ứng” với chữ “XIN”.
Như một thông lệ, người Việt mỗi khi viết đơn, hay trong các mẫu đơn in sẵn, bán sẵn, sau chữ ĐƠN thường tiếp liền theo là chữ XIN, như :
- ĐƠN XIN CHỨNG NHẬN ...
- ĐƠN XIN NHẬP HỌC ...
- ĐƠN XIN VIỆC LÀM ...
- ĐƠN XIN TẠM TRÚ / THƯỜNG TRÚ / NHẬP HỘ KHẨU ...
- ĐƠN XIN CẤP PHÉP SỬA / XÂY NHÀ ...
- ĐƠN XIN CẤP GIẤY KHAI SANH / KHAI TỬ / MAI TÁNG ...
- ĐƠN XIN ... vv ... và ... vv ...
Đủ thứ phải XIN, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi ...
Tại sao phải XIN ... !? ... Đây là thời đại DÂN CHỦ, DÂN QUYỀN ..., DÂN làm CHỦ, QUYỀN LỰC thuộc về NHÂN DÂN ... kia mà ...
Đã XIN, tất phải có người CHO, có QUYỀN LỰC để CHO ... Và người XIN phải NĂN NỈ, KHẨN CẦU, ĐÚT LÓT ... ; người CHO thì BAN PHÁT, HOẠNH HỌE, NHŨNG NHIỄU ...
Tại sao không là :
- ĐƠN ĐỀ NGHỊ CHỨNG NHẬN ...
- ĐƠN ĐỀ NGHỊ NHẬP HỌC ...
- ĐƠN ĐỀ NGHỊ VIỆC LÀM ...
- ĐƠN YÊU CẦU TẠM TRÚ / THƯỜNG TRÚ / NHẬP HỘ KHẨU ...
- ĐƠN YÊU CẦU CẤP PHÉP SỬA / XÂY NHÀ ...
- ĐƠN YÊU CẦU CẤP GIẤY KHAI SANH / KHAI TỬ / MAI TÁNG ...
... vv ...
Và đến :
- ĐƠN KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI / THỰC THI / CHẤP HÀNH HIẾN PHÁP - PHÁP LUẬT ...
- ĐƠN KIẾN NGHỊ TỪ NHIỆM / MIỄN NHIỆM / BÃI NHIỆM CÁC CÔNG CHỨC / BAN / NGÀNH / BỘ / CHÍNH PHỦ ...
Đã ĐỀ NGHỊ, YÊU CẦU, KIẾN NGHỊ ..., thì tất phải có người có CHỨC TRÁCH, TRÁCH NHIỆM, BỔN PHẬN, PHẬN SỰ, KHẢ NĂNG, NĂNG LỰC ... giải quyết thỏa đáng những điều đó ... "Người" đó chính là nhà nước, và công chức nhà nước, công bộc ... Nếu không làm được, thì hãy tự giác TỪ NHIỆM, hay bị công dân MIỄN NHIỆM, BÃI NHIỆM ...
Chung quy cũng chỉ là do ở cái chữ XIN, đã đẻ ra cái cơ chế XIN - CHO, làm HÈN cả một DÂN TỘC ...
( Nhân đây, Tôi
ĐỀ NGHỊ, YÊU CẦU, KIẾN NGHỊ ... :
NGƯỜI VIỆT NAM, TỪ CÔNG DÂN CHO ĐẾN CÔNG CHỨC, TỪ NAY KHÔNG DÙNG CHỮ “XIN” TRONG BẤT CỨ ĐƠN TỪ NÀO NỮA, NGOẠI TRỪ “ĐƠN XIN BỊ CÚI ĐẦU LÀM THẦN DÂN NÔ LỆ” !
Bỏ chữ “XIN” trong đơn từ, là cách để chính chúng ta hôm nay và con cháu chúng ta mai sau ĐƯỢC NGẨNG ĐẦU LÀM CÔNG DÂN TỰ DO )

Nghệ Thuật cũng chia sẻ những phạm trù chung của Triết Học : VẬT CHẤT & Ý THỨC, HÌNH THỨC & NỘI DUNG, HIỆN TƯỢNG & BẢN CHẤT, NGUYÊN NHÂN & KẾT QUẢ, NGẪU NHIÊN & TẤT NHIÊN, KHẢ NĂNG & HIỆN THỰC, CÁI RIÊNG & CÁI CHUNG ...
Nghệ Sĩ, do thôi thúc nội tại, xung động nội tâm, đi giữa hai bờ VẬT CHẤT & Ý THỨC, HÌNH THỨC & NỘI DUNG, HIỆN TƯỢNG & BẢN CHẤT, NGUYÊN NHÂN & KẾT QUẢ, NGẪU NHIÊN & TẤT NHIÊN, KHẢ NĂNG & HIỆN THỰC, CÁI RIÊNG & CÁI CHUNG ... để sáng tạo.
Nguyễn Công Hoan viết Kép Tư Bền :
“Vinh dự thay, anh kép Tư Bền ! Nhưng mà khốn nạn thân anh !
Người ta biết đâu rằng hiện giờ này, ở nhà, cha anh đương dở chứng khò khè, chỉ chờ từng phút để thở một hơi nữa là hết nợ, và ở trong buồng trò, anh cũng đương nẫu ruột nhầu gan.
Thật vậy, ai ngó vào trong buồng trò mới thấy được cái khổ tâm của anh Tư Bền. Anh ngồi ủ rũ trước cái gương, bụng thì rối beng, mặt thì nhăn nhó, nhưng tay vẫn phải sờ vào hộp phấn hồng để đánh mặt, quệt vào đĩa mực để bôi nhọ cái mồm. Rồi anh lại phải mặc trái cái áo lụng thụng thêu, lận đôi hia xanh và đội cái mũ cánh chuồn ngược. Anh đóng vai này, trông ra phết, giàu sang sung sướng. Chốc nữa, anh còn phải làm cho chủ anh bằng lòng, các bạn anh trông anh mà gắng sức, các khán quan được một phen cười vỡ bụng, vỗ rát tay kia mà !
Nhưng mà cha anh Tư Bền sắp chết ! Ban nãy, lúc anh ở nhà ra đi, đã thấy nguy lắm rồi. Thôi ! Nhưng mà mặc kệ. Anh phải quên đi, mà bông, mà đùa, mà pha trò trên sân khấu, cho chúng tôi cười, hét lên mà cười, cười đến nỗi phải lăn cả ra đất chứ ?”
Hay như Pablo Picasso vẽ những anh hề của gánh xiếc rong :




Đều là những hình ảnh chất chứa những nỗi niềm thống khổ hay bất an vô định, đối nghịch với những cảnh trí huy hoàng và sắc màu rực rỡ ...
Có câu chuyện Hà Chính Mãnh Ư Hổ, kể về những người dân đã phải vô rừng sống thà chấp nhận số phận rủi ro bị hổ ăn thịt còn hơn phải sống dưới những chính sách hà khắc của chính quyền, Hoài Linh và gia đình cũng đã từng phải rời bỏ đất nước để tránh những chính sách hà khắc “học tập cải tạo”, “đánh tư sản”, “kinh tế mới”, “lý lịch” ... của chính quyền.
Nay, cái chính quyền ấy, là cái chính quyền vẫn ngăn cấm hài kịch “Táo Quân” hàng năm, cũng là cái chính quyền vừa “phong tặng” cho anh cái danh hiệu “nghệ sĩ ưu tú”, liệu đã hết hà khắc hay chưa !?!
Để trả lời cho câu hỏi đó một cách khách quan trên bình diện xã hội, cần phải liên tưởng đến một loại chế độ chính trị, mà từ cuối những năm 1940, Ivan Alexandrovich Ilyin - một nhà tư tưởng, nhà luật học và chính trị học lớn của Nga - đã viết bài báo “BÀN VỀ CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ” :
“Cách đây ba mươi năm không ai có thể nghĩ đến việc đưa vào khoa luật học khái niệm “nhà nước toàn trị” : không phải vì rằng ý kiến về một nhà nước như thế chưa từng xuất hiện ( nói thế là sai ! ), mà một chế độ như thế có vẻ như không thể nào khả thi được và không ai dám làm như thế. Nếu có một kẻ nào đó “bịa” ra nó ( thí dụ như nhân vật Sigalev trong Lũ Người Quỷ Ám của Dostoievsky ! ) thì mọi người sẽ nói ngay : trên trái đất không làm gì có những kẻ bất lương và ngu xuẩn như thế, không thể có những cơ quan nhà nước khủng khiếp đến như thế, cũng không đào đâu ra phương tiện kỹ thuật để có thể xây dựng nên một cơ chế chính trị bao trùm lên tất cả, thâm nhập vào tất cả và cưỡng bức được tất cả mọi người như thế. Nhưng nay thì chế độ toàn trị đã hiện hữu như là một sự kiện lịch sử và chính trị và chúng ta buộc phải tính đến : người đã có, các cơ quan đang được xây dựng và kỹ thuật cũng đã sẵn sàng.
Chế độ toàn trị là gì ? Đấy là chế độ chính trị can thiệp một cách vô giới hạn vào đời sống của các công dân, một chế độ tìm cách quản lý và điều tiết một cách thô bạo toàn bộ hoạt động của tất cả các thần dân của mình. Từ “totus” trong tiếng Latinh có nghĩa là “toàn bộ”. Nhà nước toàn trị nghĩa là nhà nước bao trùm lên tất cả. Nó xuất phát từ quan niệm rằng sáng kiến cá nhân không những là không cần thiết mà còn có hại, tự do là khái niệm nguy hiểm và không thể chấp nhận được. Có một chính quyền trung ương : chính quyền này phải biết hết, dự đoán hết, lập kế hoạch hết và chỉ đạo hết. Nhận thức pháp luật thông thường xuất phát từ quan điểm : cái gì không cấm thì đều được phép làm, trong khi chế độ toàn trị nhồi sọ vào đầu óc người ta điều ngược lại : tất cả những gì chưa có quy định thì đều bị cấm. Trong khi nhà nước bình thường bảo : mỗi người đều có lĩnh vực quan tâm riêng, trong lĩnh vực đó người ta được tự do, thì nhà nước toàn trị tuyên bố : chỉ tồn tại quyền lợi của nhà nước, mỗi người phải có trách nhiệm gắn bó với quyền lợi ấy. Trong khi nhà nước bình thường cho phép : tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do xây dựng cuộc sống theo ý mình thì nhà nước toàn trị yêu cầu : suy nghĩ theo quy định, không được theo tôn giáo, xây dựng đời sống nội tâm theo chỉ đạo của cấp trên. Nói cách khác : ở đây người ta quản lý tất, con người bị nô dịch về mọi phương diện, tự do trở thành tội lỗi và bị trừng phạt.
Như vậy bản chất của chế độ toàn trị không phải nằm ở hình thức nhà nước ( dân chủ, cộng hòa hay độc tài ) mà ở khối lượng công việc quản lý : quản lý toàn diện các mặt của đời sống. Nhưng sự quản lý toàn diện như thế chỉ có thể thực hiện được dưới một chính thể chuyên chế nhất quán, dựa trên cơ sở thống nhất về quyền lực, một chính đảng duy nhất, sự độc quyền về sử dụng lao động, tất cả mọi người phải theo dõi và tố cáo lẫn nhau và một chế độ khủng bố tàn bạo. Cách tổ chức quản lý như thế có thể khoác cho bộ máy nhà nước bất kỳ hình thức nào, đấy có thể là chế độ Xô-viết hay liên bang, cộng hòa hay bất kì hình thức nào khác cũng được. Điều quan trọng không phải là hình thức nhà nước mà là tổ chức quản lý bao trùm lên tất cả, từ một căn phòng trong thị xã cho đến một túp lều ở nông thôn, từ tâm hồn của một cá nhân cho đến một phòng thí nghiệm khoa học, từ ý tưởng bay bổng của một nhạc sĩ cho đến phòng điều trị trong một bệnh viện, một thư viện, một tờ báo, một con thuyền đánh cá cho đến phòng xưng tội trong một nhà thờ.
Như thế có nghĩa là chế độ toàn trị không dựa trên các đạo luật căn bản mà tồn tại trên cơ sở các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của đảng. Vì không có luật cho nên chỉ thị của đảng chính là luật. Vì về hình thức các cơ quan nhà nước vẫn còn nên các cơ quan này chỉ là bình phong cho chế độ chuyên chế của đảng mà thôi. Các “công dân” cũng vẫn còn nhưng đấy thực chất chỉ là chủ thể của những nghĩa vụ ( không phải là quyền ! ) và đối tượng của các chỉ thị và nghị quyết của đảng ; nói cách khác : cá nhân con người chỉ là những cỗ máy, chỉ là những kẻ truyền bá nỗi sợ hãi và giả vờ trung thành với chế độ. Đây là một chế độ mà trong đó không có chủ thể của pháp luật, không có luật pháp, không có nhà nước pháp quyền. Ở đây nhận thức pháp lý được thay thế bằng các cơ chế tâm lý : đói khát, sợ hãi, đau khổ và nhục mạ, còn lao động sáng tạo được thay bằng lao động cưỡng bách của thời kỳ chiếm nô.
Vì vậy chế độ toàn trị không phải là chế độ nhà nước cũng chẳng phải là chế độ pháp trị. Nó được những người duy vật lập ra và tồn tại dựa trên cơ chế phi nhân và nô dịch “thể xác - tâm hồn” ; dựa trên những mệnh lệnh có tính đe dọạ giữa cai ngục và nô lệ, dựa trên những mệnh lệnh tùy tiện của cấp trên. Đấy không phải là một nhà nước có công dân, có pháp luật và chính phủ ; đấy là một xã hội đã bị thôi miên ; đấy là một hiện tượng kinh khủng và chưa từng có trong lịch sử, là một xã hội được cố kết bởi nỗi sợ hãi, bản năng và sự tàn bạo chứ không phải bởi luật pháp, tự do, lương tri, quyền công dân và nhà nước.
Nếu vẫn phải nói về hình thức của tổ chức này thì đấy không phải là pháp trị, cũng chẳng phải là vô pháp mà là chế độ chuyên chế chiếm nô rộng lớn chưa từng có và cũng bao trùm chưa từng có.
Nhà nước pháp quyền đặt cơ sở trên sự công nhận con người cá nhân, một cá nhân có tâm hồn, được tự do và tự chủ về lương tâm và công việc của mình, nghĩa là nhà nước đặt cơ sở trên sự nhận thức pháp lý đúng đắn. Chế độ toàn trị, ngược lại, dựa vào sự đe dọa. Dân chúng bị đe dọa đủ thứ : thất nghiệp, thiếu thốn, chia lìa với người thân, chết chóc, bắt bớ, tù đày, thẩm vấn, lăng mạ, đánh đập, tra tấn, lưu đầy, chết trong trại cải tạo vì đói, rét và lao động khổ sai. Dưới áp lực của những nỗi sợ hãi như thế họ còn bị thôi miên : phục tùng tuyệt đối, thế giới quan duy vật, vô thần, thường xuyên tố giác, sẵn sàng chấp nhận mọi điều dối trá và phi đạo đức, chấp nhận sống trong cảnh đói rét và làm lụng đến kiệt sức. Hơn thế nữa, họ còn bị thôi miên về nhiệt tình cách mạng và cảm giác về tính ưu việt so với tất cả các dân tộc khác ; nói một cách khác : thói tự mãn về sự điên rồ và ảo tưởng về thành công của chính mình. Dưới ảnh hưởng của sự thôi miên mang tính khủng bố như thế họ trở thành những người tin tưởng mù quáng vào chủ nghĩa cộng sản phi tự nhiên, tự cao tự đại và coi thường tất cả những gì không phải là Nga ( Xô-viết ! Cộng sản ! )
Quá trình thôi miên diễn ra đã lâu, hàng chục năm, bao nhiêu thế hế ; nó đã làm băng hoại tâm hồn con người ; họ không còn biết nguồn gốc của nó, họ không còn hiểu từ đâu ra cái thói kiêu ngạo ấy ; một số người trong bọn họ khi ra nước ngoài vẫn còn phiêu lãng trong trạng thái tâm lý toàn trị bệnh hoạn, không tin ai và khinh thường những người di cư trước đây và thỉnh thoảng lại rơi vào những cơn co giật của thói tự mãn. Đấy là hậu quả của ba mươi năm thôi miên, chỉ có thể xoá bỏ một cách từ từ. Đấy là những nét đặc trưng của cái chế độ quái gở và bệnh hoạn đó."
( Phạm Nguyên Trường dịch ).
Nếu là một Nghệ Sĩ đích thực hoạt động trong lĩnh vực Văn Hóa, có lẽ cần phải biết và hiểu :
- VĂN HÓA DẪN ĐƯỜNG CHO CHÍNH TRỊ, chứ không phải ngược lại !
- CẢI CÁCH CHÍNH TRỊ PHẢI ĐƯỢC TIẾN HÀNH SONG SONG VỚI CẢI CÁCH VĂN HÓA, VÀ PHẢI DỰA TRÊN NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CẢI CÁCH VĂN HÓA ! ( - Về Trí Thức Nga - ).
- TRÍ THỨC LÀ NGƯỜI CÓ TINH THẦN PHÊ PHÁN ! ( - Về Trí Thức Nga - ).
- QUỐC GIA HƯNG VONG, THẤT PHU HỮU TRÁCH !
- TƯỚC HỮU NGŨ, SĨ CƯ KỲ LIỆT
DÂN HỮU TỨ, SĨ VI CHI TIÊN !
Những ai luôn thích khoác lên mình những “chiếc áo” có đính những chữ “sĩ - sư - gia - giả” lấp lánh và sang trọng, xin hãy biết rằng, những chiếc áo Sĩ - Sư - Gia - Giả thật sự rất rộng và rất nặng, hàm chứa bên trong đó là TRI THỨC rất rộng lớn và TRÁCH NHIỆM rất nặng nề, nó sẽ gây vướng víu hay đè bẹp những ai không đủ “tầm vóc” ... !!! ...
“SĨ” ĐÃ ĐỚN HÈN THÌ CẢ DÂN TỘC SẼ ĐỚN HÈN !!!

Thursday, June 19, 2014

Sự nhẹ dạ của người Việt
Nguyễn Trần Sâm

(đăng trên Quechoa) .

Nhìn lại lịch sử nước nhà gần một thế kỷ qua, không thể không nhận ra rằng một trong những nguyên nhân chính yếu dẫn đến những tai họa cho dân tộc nằm ngay ở tính cách người Việt, đặc biệt ở sự nhẹ dạ, nông nổi.

Người Việt ta rất thích được ca ngợi, rất có “năng khiếu tự hào”.


Mỗi khi có một cái cớ nào đó thì đại đa số đều say sưa với niềm tự hào vô bờ bến. Đặc biệt, khi trong mấy chục triệu đồng bào có một nhân vật nào đó làm được một việc gì “ngang tầm thời đại” thì mọi người đều coi đó như một bằng chứng về sự vượt trội của “dân tộc tôi”. Họ không biết và không thèm biết rằng một dân tộc khác có thể có hàng ngàn nhân tài cỡ đó, thậm chí còn có những người giỏi hơn. Vì thích được tự hào nên người ta sẵn sàng tin tuyệt đối khi có một người nước ngoài nào đó khẳng định rằng Việt Nam thật tuyệt vời, thậm chí là nhất thế giới.

Sau chiến thắng Điện Biên, nhà thơ chính trị đã viết “Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” làm ngây ngất bao trái tim. Sự say sưa càng được nhân lên khi có những người nước ngoài đến Việt Nam và khẳng định Điện Biên Phủ là một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại. (Trong khi đó, nếu vào một trang mạng tìm kiếm nào đó và gõ “Lịch sử thế giới” hay “Lịch sử thế giới thế kỷ XX”, quý vị sẽ thấy hiện ra hàng chục tài liệu lịch sử, trong đó không có chỗ nào nhắc một lần đến Điện Biên Phủ; chỉ có Đức, Pháp, Nga, Mỹ,… với hai cuộc thế chiến, và một số sự kiện lớn khác. Và nếu quý vị đi nước ngoài và ra đường hay công viên chặn mọi người lại để hỏi thì chắc trong 1 vạn người may ra có 1 người biết Điện Biên Phủ là gì.)

“Sung sướng làm sao khi sáng mai thức dậy bỗng thấy mình là người Việt Nam.” Câu nói của một bà nào đó người Cuba (hình như nhà báo?) vào khoảng năm 1967 rõ ràng đã đẩy “niềm tự hào Việt Nam” lên tới trời. Từ ngày đó, người Việt ta không còn muốn để mắt đến một dân tộc nào khác nữa!

Sự nhẹ dạ của người dân được trang bị thêm lòng tự hào đó đã nhiều lần bị lợi dụng. Những nhân vật “làm chính trị”, với chiêu bài vừa tâng bốc, phỉnh nịnh quần chúng, vừa nói những lời mỹ miều về sự sẵn sàng hy sinh tất cả vì dân vì nước, vừa hứa hẹn về tương lai xán lạn, lại vừa tuyên truyền rằng đội ngũ lãnh đạo của cái dân tộc vĩ đại này xứng đáng là đỉnh cao trí tuệ của nhân loại, dễ dàng dắt đám quần chúng nông nổi đi theo. Thậm chí người ta còn bảo được quần chúng nhắm mắt lại trên đường đi để khỏi thấy còn có những lối đi khác, mà nhiều người vẫn tin và làm theo. Trong cuộc tranh giành đám quần chúng nhẹ dạ, nhóm người nào ma lanh hơn, xảo trá hơn sẽ thắng.

Trong những ngày này, sự nhẹ dạ vẫn đang tiếp tục bị lợi dụng. Hàng vạn người đã xuống đường biểu tình theo hai sự định hướng khác nhau. Đám người này thì nghe theo bọn côn đồ lạ hoắc, không biết chui từ lỗ nào lên, xúi họ xông vào tất cả các công ty nước ngoài, nhất là của Đài Loan, để đập phá. Đám khác lại theo sự định hướng “chính thống”, tham gia “phản biểu tình” để làm mất đi tinh thần chống bọn kẻ cướp Đại Hán, mà không biết rằng họ đang tự làm hỏng tương lai của chính mình.

Đáng buồn hơn nữa là sự nhẹ dạ của những nhà trí thức, kể cả những vị nổi tiếng. Một nhân vật có thế lực, mặc dù toàn thân đã “nhúng chàm”, từng gây ra bao tai họa cho những con người tử tế, từng làm thất thoát phần lớn ngân sách quốc gia, tức mồ hôi xương máu của bao nhiêu thế hệ, kể cả những thế hệ tương lai, chỉ cần nói được một hai câu trúng ý các nhân sỹ, bỗng được các vị này coi như bậc thánh nhân. Họ ca ngợi. Họ tung hô. Rồi dồn hết hy vọng vào một cuộc đổi dời long trời lở đất mà dường như nhân vật đó sắp tạo ra. (Nếu đúng lúc này mà nhân vật đó chết, có lẽ “lịch sử” sẽ quên đi mọi điều dơ dáy mà nhân vật đó đã từng làm, để truyền tụng với nhau rằng “ngài” đã “hiển thánh”!)

Ở một mức độ nào đó đúng là có thể giải thích được thái độ như vậy của kẻ sỹ. Khi trông chờ có một cuộc thay đổi thì điều quan trọng là nó có xảy ra được hay không. Người thực hiện nó là ai cũng được. Kẻ thực hiện dù có là kẻ xấu xa nhất thì việc thực hiện vẫn là tốt cho xã hội, vẫn nên được đón mừng. Đôi khi, vì quyền lợi chung, có thể cần “khích tướng” để một nhân vật có thế lực “nổi máu” lên và ra tay. Nhưng đó là trong trường hợp có thể hy vọng một cách có cơ sở vào khả năng thay đổi. Và dù có khích tướng thì cũng không nên ca tụng và đặt mọi niềm tin vào một nhân vật không xứng đáng.

Sự nhẹ dạ và nông cạn còn làm cho một số nhân vật có bằng cấp rất cao ngưỡng mộ và trông chờ cả vào những nhân vật ngoại bang. “Với toàn bộ tầm nhìn chiến lược toàn cầu của Putin cũng như của nước Nga, tôi nghĩ rằng họ cũng hoàn toàn có khả năng nhận biết giới hạn của nước Nga, can dự hay là hợp tác với Trung Quốc… Chuyện chấp nhận để Trung Quốc để thao túng ở Biển Đông rồi đe dọa Việt Nam, trước hết là một đồng minh chiến lược của nước Nga ở Đông Nam Á, chắc chắn Nga sẽ không thể chấp nhận”, – mới cách nay vài tuần, một vị có học vị đến tận tiến sỹ khoa học đã từng phát biểu như vậy. Những lời này rõ ràng thể hiện một nhận thức ấu trĩ, đánh giá quá cao tài năng của Putin và vị thế của nước Nga trên trường quốc tế, đồng thời cũng nhìn nhận quá sai lệch về vị thế của Việt Nam trong tư tưởng và tình cảm của Putin. Vị này đã nhầm lẫn những lời xã giao sau các cuộc hội đàm với suy nghĩ thật của một chính khách, mà trong trường hợp này là một kẻ cực kỳ giảo hoạt.

Một điều có vẻ cực kỳ phi lý và mâu thuẫn, nhưng hoàn toàn có thật, là sự nhẹ dạ và nông cạn của chính những nhân vật đã vươn đến đỉnh cao quyền lực bằng cả một quá trình lạm dụng sự nhẹ dạ của quần chúng. Vì chính họ cũng nhẹ dạ và nông cạn, họ đã say sưa với những lời đường mật về tình hữu nghị (mà đến giờ mới có vị nhận ra là “viển vông”) của những tên hàng xóm vừa xảo trá vừa hung hăng. Vì nhẹ dạ và nông cạn, họ đã hạ bút ký vào những văn bản trói buộc số phận của cả một dân tộc vào với một nước “anh em” với một tập đoàn cầm quyền đang từng ngày từng giờ gây ra những điều lo ngại và khó chịu cho cả thế giới.

Tất nhiên, trong việc ký kết những văn bản tai hại cho dân tộc, động lực chính là quyền lợi cá nhân và tập đoàn. Nhưng nếu không nông cạn và dốt nát thì những nhân vật có trách nhiệm phải hiểu được rằng những quyền lợi trước mắt đó không thể nào bảo đảm được tương lai lâu dài cho chính cá nhân họ, một khi dân tộc bị lệ thuộc vào một tập đoàn phản động ngoại bang. Số phận Lê Chiêu Thống và đoàn tòng vong sau khi bán nước đủ để làm tấm gương cho họ, nhưng họ đã không chịu soi. (Có lẽ họ vẫn hy vọng được làm quan ở bên Tàu như Trần Ích Tắc chăng?)

Trong mấy tuần qua, đã có biết bao nhiêu bài viết vạch trần những mưu đồ xấu xa của tập đoàn cầm quyền Trung Nam Hải. Tất cả những điều lên án đó đều đúng. Nhưng có một điều phải xấu hổ mà thừa nhận: trong quan hệ quốc tế, bọn người đó tuy đểu cáng, xỏ xiên, nhưng không hề nhẹ dạ.

Tác giả gửi Quê Choa
 Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả