Showing posts with label trận mậu thân 1968. Show all posts
Showing posts with label trận mậu thân 1968. Show all posts

Monday, February 24, 2025

 The VC force led by Nguyễn Văn Kịp (Đồng Đen) penetrated the base perimeter fence at approximately 01:00 on 4 December. The penetration was detected by a USAF sentry dog team at guardpost Alpha K-19 ( 10.828°N 106.658°E) north of the 07/25 runway and he raised the alarm. A USAF security patrol was deployed to guardpost and the VC began their attack shortly after this. An 8–9 man group of VC was engaged by guardpost 15 near Taxiway W-7. Another group of VC crossed the 07/25 runway and attempted to attack the aircraft parking area but were stopped by machine gun fire from bunker Delta 11 which killed 13 VC. [3]

Another group of VC entered the C-47 and helicopter parking area. The VC fired and threw hand grenades into the aircraft parking area before withdrawing at 01:40. A power unit next to an aircraft revetment exploded after being hit by a grenade and the resulting fire damaged an RF-101C aircraft. [3]: 10 

VC mortar fire from outside the base was detected by counter-mortar radar and the mortar site was targeted by ARVN 105mm artilleryVietnam Air Force A-1s and helicopters from the US Army 120th Assault Helicopter Battalion. Elements of the ARVN 53rd Regional Force Battalion were ambushed as they approached the mortar site, suffering two killed but they overran the mortar position by 02:15 suffering a further one killed. [3]: 10 

As some VC withdrew at approximately 01:40, the USAF security police moved to block their escape. At 02:10 the retreating VC engaged the USAF line in a firefight that lasted until 02:35. Two USAF security police were killed in this engagement and two wounded, while three VC were killed. [3]: 11–12 

At 02:30 a VC satchel charge exploded in the old bomb dump area in the north-central area of the base, detonating a store of US Navy 5 inch shells. [3]: 14 

At 03:05 a USAF guard at post Alpha K-20 reported that the VC were attacking his position. At 03:50 a sentry dog unit at Alpha K-21 pursued retreating VC and at 04:15 Alpha K-20 was secured but the USAF security policemen at that post had been killed. [3]: 13 

At 04:00 the base security forces were put on hold and at 04:45 a full search of the based was conducted. [3]: 14  At 06:25 as the sun rose, VC were spotted on the road outside the base perimeter near the penetration point and were engaged by USAF security police, the VC returned fire and two VC were killed, one USAF wounded and two VC captured. A further two VC were captured near the west of runway 07/25. At 08:10 US forces mounted a search and destroy operation on the west perimeter of the air base until 09:20. [3]: 15 

The air base resumed normal flight operations at 08:49. [3]: 14 

At 20:21 Alpha Post K-34 detected VC and a quick reaction team was despatched to the scene. At 21:00 a search operation commenced and at 21:45 two VC were killed in the area, a further two VC were killed later. At 22:45 to the south of the position another VC was located and killed. At 00:29 on 5 December a sentry dog team from A-34 detected VC and was soon engaged by three VC, the dog handler was shot and wounded, a quick reaction team arrived and the VC were killed with grenades. [3]: 16–7  It was later determined that the VC were part of the original attack force who had been attempting to escape through the original entry point. [3]: 17 

At 11:53 on 5 December, a VC was observed in the old bomb dump area and he was engaged and killed. [3]: 18 

Aftermath

The Viet Cong claim that they withdrew having destroyed 260 airplanes, a depot of bombs and shells, 13 military vehicles and having killed or wounded over 600 US and ARVN soldiers. [2]

The US suffered three USAF personnel killed and 15 wounded while the ARVN suffered three killed and four wounded. The US/ARVN killed 28 Viet Cong and captured four. [1] [3]: 20  17 aircraft suffered minor to moderate damage, three aircraft suffered major damage and three USAF vehicles were destroyed. [3]: 20–1  [4] The US considered the engagement as a victory as they had repulsed the attack with minimal losses. [4]: 16–7 

References

Thursday, January 23, 2025

MÙNG BA TẾT ĐẪM MÁU Ở SÂN BAY TÂN SƠN NHỨT 

- Viết theo yêu cầu của 1 người bạn muốn tìm hiểu về Trận Mậu Thân 1968 -- vì trận đánh này chưa từng đăng trên báo chí Việt ngữ hải ngoại.               

Trận đánh hay nhứt là trận đánh mà người ta ko cần đánh. Cuộc chiến tranh tốt nhứt là bất chiến tự nhiên thành -- Frederik Lenz. 
Biết người biết ta trăm trận đều thắng -- Tôn Tử.
Nghệ thuật tối thượng của chiến tranh là chinh phục kẻ thù mà ko cần chiến tranh.
Nghệ thuật chiến tranh dựa trên nghi binh. Do đó khi có thể tấn công, chúng ta phải tỏ ra án binh bất động. Khi chúng ta tới gần mục tiêu, chúng ta phải làm địch quân tin rằng đang ở xa mục tiêu và ngược lại.  

Lính của Đoàn 377 SPS của không quân Mỹ đang kiểm kê tổn thất của đối phương.



- Nhất tướng công thành, vạn cốt khô.

-  lạc nước hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công.

-trận đánh từ 03:20 giờ sáng đến tối ngày mùng 3 tết này  đã gây tổn thất như sau giữa hai bên: Phía Mỹ có 22 chết (gồm Đoàn 377 cảnh sát an ninh của không quân Mỹ, bốn người; Task Force 35, hai người; chi đội B của chi đoàn 3/4 thiết kỵ, ba người; chi đội C của chi đoàn 3/4 thiết kỵ, 12 người và TĐ 1/18 bộ binh, 1 người) và 82 bị thương. VNCH có 29 chết và 15 bị thương. 

Bộ đội VC/CSBV đã chết 669 người gồm 157 người trong sân bay, 162 người ở hảng dệt Vinatexco và hơn 350 người trong làng và 26 người bị bắt sống. Có 5 hay 6 tù binh VC/CSBV bị chi đội C của chi đoàn 3 của thiết đoàn 4 Mỹ hành quyết.

         
Bản đồ căn cứ TSN với Cổng 51 nơi bị tấn công đầu tiên.

Văn phòng của đệ Thất Không lực Mỹ
Cổng 51
Các C-47 của không quân VNCH 
Hai đài kiểm báo
  Doanh trại của Đoàn 377 Cảnh sát An ninh thuộc Không quân Mỹ viết tắt là Đoàn 377 SPS. 

Bài viết này dịch từ hai nguồn sau đây.
I/ Phần chuyển ngữ từ Wikipedia: Khu vực nguy hiểm nhứt của sân bay TSN là phía tây và bắc nơi VC có thể tập họp dễ dàng và những nơi này được bảo vệ bởi những bãi mìn cũ, phần lớn ko hiệu quả, có từ đời Nhựt và Pháp, và ba lớp kẽm gai thả rối và hàng rào phòng thủ. Việc bảo vệ sân bay thuộc Đoàn 377 Cảnh sát An ninh của không quân Mỹ, viết tắt là Đoàn 377th SPS, với quân số 1.000 người. Họ chia sân bay thành sáu tiểu khu (sector) và điều hành hơn 50 tháp canh và bunker (để lính ngủ), dọc theo 20 km của chu vi phòng thủ. Mỗi tiểu khu có hai xe Jeep trang bị liên thanh và quân số 182 người chia thành 14 tiểu đội làm lực lượng phản ứng nhanh sẵn sàng tới mọi điểm trong chu vi trong 12 phút. Trong trường họp khẩn cấp, họ nắm quyền chỉ huy Task Force 35, quân số ba trung đội từ lính tiếp vận của Lục quân Mỹ. Ngoài ra còn có TĐ 2 Công vụ VNCH chia sẻ trách nhiệm.              
Bản đồ sân bay TSN



Với công dụng kép là 1 sân bay quân và dân sự và rất nhiều công nhân VN làm việc ở căn cứ này, nên rất dễ dàng để VC thu lượm tin tức tình báo và việc phòng thủ. Người ta ghi nhận ở một nghĩa địa dân sự cũ ở chu vi phía tây của căn cứ có sự gia tăng về thăm viếng mộ và chôn cất trước ngày tấn công. Đoàn 377 SPS đã xem chu vi phía tây, được đặt tên tiểu khu Echo, là khu vực dễ bị tấn công nhứt của căn cứ vì nằm sát nơi chứa máy bay, bồn xăng, v.v...
của tiểu khu Delta, trong khi đó mọi tấn công từ phía bắc phải vượt bốn km đồng trống, bao gồm hai phi đạo, trước khi tiểu khu Delta. 
Trung ương Cục miền Nam hay COSVN giao việc tấn công sân bay cho sđ 9 chỉ huy bởi ĐT Năm Truyện (tên thật Nguyễn Thế Truyện). (Trước ngày tấn công, ông đã đích thân đi điều nghiên để nắm vững tình hình; và sau đó, ông đã chết vì trúng pháo tại BCH tiền phương khi chuẩn bị rời BCH để đi họp tại BTL Miền -- ND). Tuy danh nghĩa là một sđ VC, nhưng tổn thất được thay thế bởi lính csbv, do đó hơn 1/2 của lực lượng tấn công 2.665 người này là csbv. TĐ D-16 được lịnh chiếm nhà máy dệt Vinatexco, ở bên trái QL-1, cách Cổng 051 (lối vào phía tây của sân bay) khoảng 1km và đặt BCH ở đây. TĐ 269 chính quy sẽ tấn công cổng 051, theo sau bởi TĐ 267 chính quy có nhiệm vụ khai thác cửa mở này và kế đó TĐ 1 của trung đoàn 271 tấn công các khu vực quan trọng trong sân bay.
Ngưng bắn nhân dịp Tết đã bắt đầu ngày 29/1/1968 nhằm ngày mùng 1 Tết năm Mậu Thân, nhưng đã hủy bỏ ngày 30/1/1968 (mùng 2 Tết) sau khi xảy ra các cuộc tấn công trước đó của vc/csbv tại QK-2 và lúc 1730 giờ, TL của đệ Thất Không lực Tướng William Momyer ra lịnh cho các căn cứ không quân Mỹ tại VN chuyển qua báo động đỏ. Trong đêm ngày 30 và 31/1, quân của Truyện đã đến vị trí xuất phát, mà ko bị phát hiện bởi TĐ 53 ĐPQ VNCH, có trách nhiệm bảo vệ mặt bắc và tây bên ngoài chu vi phòng thủ. (Tôi đã phục vụ tại TĐ này trong năm 1969, hậu cứ gần Bà Quẹo, nằm gần QL1; đại đội tôi đóng ở gần Xóm Mới và An Phú Đông của quận Gò Vấp. Khi tôi về TĐ này, khi hành quân gần như ko gặp địch, lính luôn mang theo cây sắt nhọn để tìm hầm bí mật -- ND). 
TRẬN ĐÁNH
Khoảng 0320 ngày 31/1 (mùng 3 Tết), VC đã tung một loạt tấn công nghi binh bằng cách bắn đạn lửa hay đạn chiếu sáng vào các bồn chứa xăng, dầu nhớt ở đông bắc của phi đạo bắc, nằm gần chu vi đông bắc của căn cứ. VC cũng bắn vào Cổng 1, cổng chánh của căn cứ. Khoảng 0330, một lính canh của tháp canh Tango 4 cách 15 m từ Cổng 051, lối vào phía tây của căn cứ, đã ghi nhận hỏa lực cối bắn vào hàng rào phía tây với lực lượng VC tập họp ở ngôi làng phía tây của hàng rào. Thực ra đó là các bộc lôi Bangalore và túi chất nổ được dùng để tạo cửa mở trên kẽm gai thả rối và hàng rào phòng thủ và chẳng bao lâu VC đã vào căn cứ.
Từ nóc của Bunker 051, 200 m phía nam của Cổng 051, năm lính Mỹ đã nổ súng vào sườn phải của quân VC/CSBV bằng súng M60 và súng trường, nhưng VC đã đáp trả bằng RPG-2 hay B-40 và cối, buộc các lính Cảnh sát An ninh của Không quân Mỹ thuộc Đoàn 377 ko thể ra khỏi bunker và gọi tiếp cứu. Một xe jeep trang bị đại liên được lịnh đến thẩm định tình hình ở tiểu khu Echo, nhưng đã bị chặn bởi hỏa lực mạnh gần góc đông bắc của căn cứ và đã báo cáo rằng một số lớn VC vượt qua Cổng 051. Lúc 0345, VC đã tràn ngập Bunker 051, giết chết 4 người trong bunker và làm bị thương nặng 1 người. Một toán tuần tiểu của TĐ 53 ĐPQ VNCH báo cáo khoảng 1 hay 2 TĐ VC đang chờ gần nhà máy dệt Vinatexco để tham chiến. Theo 1 tài liệu của Mỹ, một đại đội trưởng của TĐ này, đã bị VC bắt trong khi giao chiến, và bị chặt đầu. TĐ này có cố vấn Mỹ cấp đ.đ. -- ND.
Vài toán phản ứng nhanh của tiểu khu Echo được gửi tới Cổng 051 và Bunker 051 trong khi 4 gunship UH-1C thuộc trung đội 4 đ.đ. 120 trực thăng tấn công đã tới tiểu khu Echo và bắt đầu thả trái sáng và bắn rocket và súng liên thanh. Ở trung tâm chỉ huy của Đoàn 377 cảnh sát an ninh không quân Mỹ, có rất ít thông tin về quy mô của quân tấn công, nhưng tình hình ở Cổng 051 rất nguy kịch và thiếu tá Carl Bender sq ban 3 của Đoàn ra lịnh 1 trung đội của Task Force 35, phần lớn là lính của lữ đoàn 1 truyền tin, tăng cường cho những toán phản ứng nhanh này đang tạo 1 phòng tuyến tạm thời ở 250 m đông của cổng Whiskey 8 - cổng này nằm ở phía đông của taxiway bắc-nam cùng tên). Không có kinh nghiệm chiến đấu, lính của Task force 25 hoảng sợ (nervous), khi hai người thủ khẩu liên thanh bị bắn chết khi tiến lên và những kẻ khác quýnh quán bắn cả vào quân bạn. Một trung đội thứ hai của Task force này sau đó đã tới để tăng cường cho phòng tuyến. Xa hơn về phía nam, VC đã tới phòng tuyến và đặt túi chất nổ dưới các máy bay C-47 của VNCH, làm hư 14 chiếc trước khi bị đẩy lui bởi toán phản ứng nhanh của tiểu khu Delta.
VC ko thể vượt qua taxiway Whiskey 8 trong khi giờ đây quân Mỹ liên tục được tăng cường và tiếp tế. Một toán quân gồm không quân và bộ binh VNCH đã tập hợp ở phía nam của phòng tuyến với ba xe tăng M41 và cuối cùng liên quân Việt Mỹ đã lập phòng tuyến hình móng ngựa để tấn công địch từ nhiều hướng. Hai xe M41 bị trúng B40, và ĐT không quân Lưu Kim Cương, chỉ huy yếu khu TSN đã trúng đạn ở chân nhưng ko tản thương. Một toán 10 tên VC đã cố gắng đánh bọc sườn phòng tuyến này nhưng đã bị đuổi theo bởi thiếu tá Bender, ông đã từ từ hạ gục tên cuối cùng, giết chết 8 tên và bẻ gãy mủi tấn công này. Trong khi đó, TĐ 8 Dù, đang ở hậu cứ để chờ chở ra căn cứ Khe Sanh, đã tham chiến, tới tiểu khu Echo để bắt đầu phản công sau khi pháo binh dọn đường.
PHẢN CÔNG
Vào rạng đông, VC bắt đầu rút lui qua các cửa mở trên hàng rào phòng thủ gần Cổng 051. Quân Dù VNCH bắt đầu tiến về chu vi, nhưng khi làm như vậy đã bị bắn sau lưng bởi VC đang núp trong bãi cỏ hay trong nghĩa địa, làm chết và bị thương 18 lính VNCH. Nhảy dù đã tái tổ chức và bắt đầu tấn công VC.
Khi chu vi phòng thủ vừa mới bị xâm nhập, trung tá Jack Garred, cố vấn của Yếu khu TSN, đã yêu cầu một lữ đoàn Mỹ bảo vệ mặt tây của căn cứ. BTL của lực lượng 2 dã chiến đã ra lịnh cho sđ 25 bộ binh Mỹ tại căn cứ Củ Chi, cách TSN 24 km về phía bắc, gửi một chi đội thiết giáp (calvary troop) tới quận Hóc Môn để cắt đường rút của VC từ TSN. Nhiệm vụ được giao lúc 0415 cho chi đoàn 3 của thiết đoàn 4 thiết giáp của trung tá Glenn Otis. Otis giao nhiệm vụ cho hai trung đội của Chi đoàn C đang ở Củ Chi, gồm ba chiếc M48 và mười chiếc M113, chỉ huy bởi đại úy Leo Virant. Đoàn xe rời căn cứ lúc 0503 để đi bảo vệ Hốc Môn, nhưng sau đó chuyển về sân bay TSN. Virant đã rời Củ Chi bằng cửa hông để tránh làng Củ Chi, đang bị VC tấn công, và đi theo đường phụ thay vì QL1 để tránh mìn và phục kích, trong khi Otis bay trực thăng bên trên để thả hỏa châu. Lúc rạng đông, máy bay của Otis về Củ Chi để đổ xăng và khi vượt qua cầu Hốc Môn, đv đặt dưới quyền của Biệt khu Thủ đô và Virant gọi trung tá Garred để nơi này gửi một sq VNCH gặp chi đoàn C và hướng dẫn họ tới chiến trường. Tuy nhiên viên sq này ko cung cấp tin tức nào hữu ích. Garred ra lịnh Virant chạy dọc chu vi phía tây của căn cứ và bắn vào bất cứ gì ở phía này, nhưng ko thể cung cấp tin tức về quy mô và vị trí của VC. Cho một xe M48 dẫn đầu đoàn, Virant đi kế trong một chiếc M113.
Khi chi đoàn C đi ngang nhà máy dệt Vinatexco, họ bị bắn bằng súng nhỏ từ nhà máy và tiếp tục xuôi nam. Lúc 0708, chiếc M48 này khi vừa ngang qua Cổng 51 thì trúng vài quả B40 từ ngôi làng ở phía tây QL. Bốn người trên xe đều bị chết, và tài xế của chiếc M113 chỉ huy của Virant cũng trúng đạn ở đầu và chết. Virant cho đoàn xe lập đội hình xương cá (herringbone), cho phép các súng bắn về phía tây. Những người trên xe của Virant đều chết và bị thương và ông cũng bất tỉnh do mảnh đạn trúng đầu. Hai chiếc M113 đi kế cũng trúng B40 trước khi quay xe để tham chiến, trong khi chiếc thứ năm vô sự nhờ bảng quảng cáo ở vệ đường che chắn. Những chiếc M48 và M113 còn lại đều giản ra dọc QL và bắt đầu bắn vào VC ở trong làng và khu vực phía tây QL và bị chống trả liên tục bởi B40, trung liên và AK47. Các xe M48 bắn đạn chống biển người (canister shot) trong khi các đại liên 12.7 ly và M60 bắn đến khi đỏ nòng và hết đạn. Lính thiết giáp còn bị bắn liên tục từ một mương nước giữa QL và hàng rào phòng thủ. Chi đoàn C đã cắt đường rút lui của VC từ sân bay hay ngăn quân tiếp viện.
Khi đáp xuống Củ Chi để lấy xăng, Otis được biết chi đoàn C bị tấn công và xin tiếp cứu. Trước đó ban 3 chi đoàn đã cho trung đội 1 của chi đoàn C ở Hóc Môn tiến về TSN. Otis cho chi đoàn A ở Gò Dầu Hạ và chi đoàn B ở Trảng Bàng tiếp cứu chi đoàn C. Otis bay về TSN bằng một UH-1 khác với gunship của chi đoàn D (thiết kỵ). Otis bay trên đoàn xe và bị bắn bằng đại liên DShK của VC. Trực thăng của ông đáp xuống góc phía tây của sân bay và Otis gặp trung sĩ nhứt Gary Brewer, người đang chỉ huy chi đoàn C vì các sq trong chi đoàn đã chết hay bị thương. Trung sĩ xin thêm đạn dược. Otis ra lịnh các trực thăng chở quân phải chở đạn dược, trong khi Brewer ra lịnh cho chiếc M48 còn lại phải cán dẹp kẽm gai thả rối và hàng rào phòng thủ để tạo đường vào sân bay hầu tiếp tế và tải thương. Khi các trực thăng chở quân đáp xuống, Brewer và đồng đội chuyển đạn đến dọc đoàn xe và rảnh thoát nước và tải thương. 
Otis ra lịnh các gunship bắn vào làng từ bắc xuống nam, trong đó có 2 chiếc bị hư nặng do hỏa lực địch phải đáp xuống căn cứ TSN. Khi trung đội 1 của chi đoàn C đến gần khu vực này lúc 0730, Otis ra lịnh cho họ triển khai về phía đông một đường nhánh và vào 1 cổng nơi họ có thể yểm trợ lính của Đoàn 377 Cảnh sát An ninh Mỹ và VNCH đang chiến đấu trong căn cứ. Cộng quân bên trong Bunker 051 vẫn tiếp tục bắn vào lính của đoàn 377 và VNCH; và trung đội 1 của chi đoàn C đã quyết định vô hiệu hóa nó. Một M48 bắn đạn 90 ly vào bunker cho tới khi bị hư hại vì B40; xa đoàn M48 rời xe trừ chuyên viên bậc 4 Robert Crowel tiếp tục trong xe và bắn thêm 18 phát đạn 90 ly cho tới khi tử trận.
Chi đoàn B tới trận địa lúc 0800, sau khi chạy 38 km từ Trảng Bàng trong 1 giờ bằng cách tránh hay lái xuyên qua vài nút chận của VC. Khi tới Củ Chi, họ kết hợp với pháo đội C của TĐ 6/77 pháo binh trang bị pháo 105 ly. Otis ra lịnh cho họ từ QL1 hướng về phía tây sau khi đi ngang nhà máy dệt Vinatexco và họ triển khai dọc theo một trục đông bắc-tây nam để chống ngôi làng bị VC chiếm. Trung đội chỉ huy của chi đoàn tấn công nhà máy dệt trong khi hai trung đội còn lại tấn công làng từ hướng bắc, và pháo binh và gunship sẽ ngăn mọi trốn thoát về hướng nam hay tây nam. Trận tấn công xảy ra sau đó (subsequent) được mô tả như "bắn gà tây" (turkey shot) vì mọi cán binh CS phải rút lui giữa hai làn đạn (gauntlet of fire). Tuy nhiên nhiều VC đã tử thủ, bắn trả ồ ạt bằng B40 và AK47 và đã bị giết một cách có hệ thống trong vị trí chiến đấu của họ. Máy bay của Otis bị 3 lần trong lúc điều quân.
Sau đó vào buổi sáng, các khu trục Skyraider VNCH và F-100 của Mỹ bắt đầu tấn công nhà máy dệt bằng cách thả bom napalm và 500 cân Anh trên các BCH của họ. 
Vào buổi trưa, VC cố thủ trong Bunker 051 đã thả người tù binh Mỹ của đoàn 377, tuy bị thương nhưng còn sống, nhưng họ ko đầu hàng; chẳng bao lâu họ chết hay bị thương vì lựu đạn ném vào. Lúc 1219, bốn VC còn sống sót trong bunker 051 đầu hàng, chấm dứt trận đánh tại chu vi phía tây.
Lúc 1300, TĐ 1 trung đoàn 18 được trực thăng Chinook bốc từ Dĩ An đổ xuống; họ để lại một đại đội để giữ doanh trại của MAV ở phía đông của sân bay, còn lại từ sân bay tiến theo hướng đông nam để quét sạch các ổ VC/CSBV ở khu dân cư phía nam sân bay. Họ đánh với những toán nhỏ VC cho tới khi bọn này rút lui vào trời tối. Trận đánh trong làng tiếp tục tới 1630 và tới tối thì chi đoàn 3/4 rút về chu vi của căn cứ. Lính Mỹ đã bắn vào các xác VC/CSBV để bảo đảm chúng chết hết, nhưng sáng hôm sau, hai tên xuất hiện từ đống xác này để xin đầu hàng.
Tổn thất của Mỹ là 22 chết (gồm Đoàn 377 cảnh sát an ninh, bốn người; Task Force 35, hai người; chi đội B của chi đoàn 3/4 thiết kỵ, ba người; chi đội C của chi đoàn 3/4 thiết kỵ, 12 người và TĐ 1/18 bộ binh, 1 người) và 82 bị thương. VNCH có 29 chết và 15 bị thương. Bộ đội VC/CSBV chết 669 người gồm 157 trong sân bay, 162 ở hảng dệt Vinatexco và hơn 350 trong làng và 26 bị bắt sống. Có 5 hay 6 tù binh VC/CSBV bị chi đội C của chi đoàn 3 của thiết đoàn 4 hành quyết.

=========

II/ Xin nói rõ, trong bài viết sau đây của Erik Villard về trận này, trừ TĐ 53 ĐPQ, TĐ 2 công vụ, một số đv của không quân VNCH, và sau đó là vài TĐ dù và TQLC VNCH, còn lại là các đv thuộc không quân Mỹ, sđ 25 bộ binh, sđ 1 bộ binh và sđ 101 Dù Mỹ.

Xin bắt đầu phần chuyển ngữ.

...

"Với diện tích 16 km 2 ở ngoại ô phía tây bắc của thủ đô Sài gòn, căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt TSN), còn được gọi là Yếu khu TSN là nơi trú đóng của nhiều đv mà lớn nhứt là đệ Thất Không Lực Mỹ và BTL Không quân VNCH. Ngoài ra còn có sân bay quốc tế lớn nhứt nước. Trại Davis ở rìa phía đông của căn cứ TSN là doanh trại của Đoàn 509 của Cơ quan An ninh Quân đội Mỹ, viết tắt là ASA, mà nhiệm vụ là giám sát và yểm trợ nhiều đv truyền tin của Lục quân Mỹ hoạt động trên lãnh thổ VN. Tại trại LLĐB Đức Lập có một đv truyền tin như vậy -- ND. Bộ TTM VNCH đặt tại bờ đông nam của căn cứ này, và kế đó về phía bắc là doanh trại của BTL yểm trợ quân sự Mỹ tại VN, viết tắt là MACV. Ở góc đông bắc của yếu khu là Khu Tiếp vận Gò Vấp gồm doanh trại của một số đv tiếp vận, Trường Thiết giáp và Pháo binh của VNCH.

Tối ngày 30/1/1968, yếu khu đã được bảo vệ bởi những đv an ninh của họ, ba TĐ của quân đồng minh và một trung đội trực thăng võ trang. TĐ thứ nhứt là TĐ 53 ĐPQ thuộc tiểu khu Gia Định (mà tôi đã phục vụ trong năm 1969 -- ND), là một đv bộ binh xuất sắc với sáu đại đội, đã lục soát khu vực đồng ruộng ở phía bắc và tây của căn cứ không quân này. TĐ thứ hai là TĐ 2 công vụ, một đv chuyên về bảo vệ sân bay, và TĐ thứ ba là Đoàn 377 cảnh sát an ninh của không quân Mỹ, quân số 1.000 người, chia sẻ trách nhiệm qua việc canh phòng ở các tháp canh và bunker dọc theo chu vi của căn cứ. Tám chiếc gunship UH-1 thuộc trung đội 4 của đại đội trực thăng tấn công số 120 túc trực ở bãi đậu với súng đạn, xăng dầu đầy đủ, sẵn sàng cất cánh vài phút sau khi có lịnh. Ngoài ra còn có TĐ 8 Dù, làm trừ bị tại BTL SĐ Dù VNCH. Lẽ ra họ ra vùng 1 vào buổi sáng nhưng hủy bỏ theo lịnh của tướng Cao văn Viên. 

Lúc 03:20 giờ sáng sớm của ngày 31/1/1968, hay mùng 3 Tết Mậu Thân, một bunker của lính Mỹ gần Cổng 51 ở lối vào phía tây của căn cứ, xem bản đồ, đã bắt đầu bị tấn công bởi đại liên 12.7 ly, cối 82 ly và súng không giật 57 ly từ nhà máy dệt Vinatexco, bên kia QL-1 cách đó  500 m về phía bắc. Lính gác của Đoàn 377 SPS không quân Mỹ đã bắn trả bằng M16 và M60, nhưng ít hiệu quả ở tầm bắn đó. Hỏa lực địch cũng bắn vào các tháp canh của nam VN ở bờ tây của căn cứ này, khiến lính phòng thủ phải tìm chỗ núp, xem bản đồ số 28.                      

Hỏa lực dữ dội của địch đã khiến quân phòng thủ ko thể ngăn chận một xe bán tải, phóng nhanh theo QL-1 và ngừng ở 1 điểm khoảng nữa đường từ cổng phía tây này tới nhà máy dệt. Một toán đặc công VC phóng khỏi xe và chạy nhanh tới hàng rào phòng thủ, đặt 1 khối chất nổ để tạo 1 cửa mở và rút lui. Sau đó một đội quân thuộc TĐ 267 của Mặt trận Giải phóng miền Nam núp sẵn trong cánh đồng gần đó xuất hiện và vượt qua QL-1. Một số tên hướng về cửa mở này, một số khác chạy theo QL-1 để tấn công Bunker 51 tại lối vào phía tây của sân bay. Bị cầm chân trong bunker, lính Mỹ chỉ chống trả yếu ớt. Trước khi bị tràn ngập, họ chỉ kịp gửi một báo động: hàng trăm chiến binh địch đã ở bên trong chu vi phòng thủ và đang tiến về đầu phía tây của phi đạo của sân bay. 

Thêm nhiều tin xấu đã tới TL của Yếu khu này, ĐT không quân Lưu Kim Cương, gửi đi từ 1 toán tuần tiểu của TĐ 53 ĐPQ đang cố gắng theo dỏi lực lượng VC tại nhà máy dệt. Toán tuần tiểu này đã phát hiện một hay hai TĐ Việt cộng đang chờ trong 1 cánh đồng gần nhà máy dệt, hình như chuẩn bị đi theo TĐ đã tràn qua cửa mở ở hàng rào. Vì đối phương quá đông nên cố vấn Mỹ của đv này gọi gunship từ TSN giúp đỡ. (Vì từng ở TĐ ĐPQ này nên tôi biết cố vấn Mỹ có mặt ở cấp đại đội và chỉ có mặt khi đv này hành quân hầu giúp đỡ về phi pháo hay tản thương, ko như ở Dù hay TQLC hay bộ binh, v.v... cố vấn luôn luôn đi theo đv.-- ND). 

ĐT Cương cũng biết đối phương đã xâm nhập Khu Tiếp vận Gò Vấp, nằm kế góc phía đông bắc của sân bay TSN. Ba TĐ của trung đoàn 101 quân CSBV và một TĐ của trung đoàn 165 CSBV đã tràn ngập Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Phù Đổng và Trung tâm Huấn luyện Pháo binh Cổ Loa. Rất may mắn, lúc đó ở Trại Phù Đổng, Cộng quân ko thể xử dụng bất cứ xe tăng hay M113 nào, trong khi ở Trại Cổ Loa, lính pháo binh đã kịp thời tháo gở các khóa nòng (breechblock) của 12 khẩu 105 ly trước khi rút lui. Một thành phần của trung đoàn 101 CSBV này đã cố gắng vào Cổng 10 ở mặt phía đông của sân bay TSN, nhưng lính của TĐ 2 công vụ của nam VN và một toán các người tình nguyện của BTL MACV gần đó có vẻ đã kiểm soát tình hình. (Thời điểm đó, các đv như Dù hay TQLC hay BĐQ hay bộ binh và ĐPQ vẫn còn xài súng trường Garand M1 và trung liên BAR, có từ đệ nhị thế chiến, trong khi Cộng quân đã xài AK-47 và B-40 -- ND). 

Nhận thấy mủi tấn công vào phía tây của sân bay là đe dọa lớn nhứt, ĐT Cương đã tung vào đây lực lượng trừ bị của ông, khoảng 100 lính và bốn xe tăng hạng nhẹ M41. Trong khi dẫn quân tiến lên, ông đã bị một viên đạn trúng chân. Mặc dù vết thương nặng, ông vẫn ko chịu tải thương trong tình hình (juncture) nghiêm trọng này. 

Dù vừa ko đủ quân số và hỏa lực yếu kém, và với hai xe tăng bị phá hủy bằng B40, lực lượng trên đây của ĐT Cương vẫn cầm cự cho tới khi bốn chiếc gunship xuất hiện. Khi trực thăng bắt đầu bắn, Cộng quân cuống cuồng tìm chỗ núp trong đám cỏ cao ngang đầu gối, nằm giữa hàng rào và phi đạo. Tác xạ từ đông sang tây, các gunship cũng bắn phá một đv thứ hai của cộng quân, TĐ D16 CSBV, vừa bắt đầu vượt QL-1 với ý định vào căn cứ không quân, cũng như đv thứ ba của cộng quân, TĐ 269 thuộc Mặt trận Giải phóng miền Nam, đang nằm chờ lịnh trong một cánh đồng ở xa hơn về hướng tây. Với ba TĐ cộng quân này bị cầm chân, ĐT Cương tái tổ chức lực lượng của mình gồm TĐ 2 Công vụ, một số lính không quân và tiếp liệu Việt Mỹ. Khi trời sáng, toán quân lỏng lẻo này, tăng cường bởi hai đại đội của TĐ 8 Dù, đã bắt đầu đẩy lui cộng quân. 

Trong khi đó, Tướng Westmoreland đã ra lịnh cho Tướng Weyand, TL của Lực lượng 2 Dã chiến đặt tại Long Bình,  tổ chức 1 lực lượng đặc nhiệm (task force) để giúp quân nam VN tái lập an ninh trong Biệt khu Thủ đô. Lúc 0530 giờ, TL của Lực lượng 2 Dã chiến đã ra lịnh cho TL phó, thiếu tướng Keith Ware, lập một BCH chiến thuật, bên cạnh BTL Biệt khu Thủ đô VNCH tại Trại Lê văn Duyệt. Một khi lực lượng này với tên Hurricane Forward hoạt động, sẽ chỉ huy mọi đv Mỹ hành quân trong lãnh thổ của Biệt khu Thủ đô. Trước đó, người Mỹ ko hành quân trong lãnh thổ Biệt khu Thủ đô, bao gồm Sài Gòn và tỉnh Gia Định; họ chỉ đóng vai trò cố vấn cho các đv VNCH hoạt động trong vùng -- ND).

Trong khi tướng Ware chuẩn bị lực lượng, tướng Weyand ra lịnh cho TL của sđ 25 Mỹ, tướng Mearns, gửi bất cứ đv nào có thể khiển dụng để tham chiến tại mặt tây của sân bay TSN. Đơn vị khả dụng gần nhứt là Chi đội C của Chi đoàn 3 Thiết đoàn 4 Mỹ, đang giữ 1 cầu gần quận lỵ Hốc Môn, 20 km tây bắc của căn cứ. Mearns chỉ thị chi đoàn trưởng, trung tá Glenn Otis, để một trung đội thiết giáp giữ cầu và mang phần còn lại của Chi đội C gồm sáu xe tăng M48 và 12 xe M113 lập tức kéo về sân bay. Trung tá Otis, ngồi trên trực thăng, thả hỏa châu để hướng dẫn đoàn xe qua các ổ phục kích và các chỗ đắp mô, và đến gần hảng dệt lúc 0630. 

Có vẻ ko ý thức hảng dệt và khu vực chung quanh đã bị chiếm giữ bởi ba đ.đ. vũ khí nặng của VC, ĐT Otis cho chi đoàn tiến quân trên QL1. Khi đầu đoàn xe cách nhà máy 100 m, một loạt đạn B40 phóng ra từ nhà máy, làm hư hại hay phá hủy bốn xe, và giết và làm bị thương mọi sq của đoàn quân. TS nhứt Gary Brewer, người HSQ cao cấp nhứt của đoàn xe, nhanh chóng làm chủ tình hình. Sau khi cho toàn bộ đoàn xe hướng mủi súng vào nhà máy dệt, TS Brewer đã cố gắng đưa các thương binh vào lề đường. 

Tướng Mearns bảo ĐT Otis cho trung đội thiết giáp đang giữ cầu Hốc Môn tham chiến. Khi trung đội này tới nơi lúc 0730, tình hình của chi đoàn C tuyệt vọng. Nhiều lính sắp hết đạn. Các đv Cộng quân từ nhà máy đi vòng các đv Mỹ, một số chỉ cách một tầm lựu đạn. Các gunship ko thể giúp họ vì các phòng không 12.7 ly đặt trên nóc của nhà máy. 

Thấy tình hình quá tuyệt vọng, Otis đã yêu cầu và được phép dùng Chi đoàn B, đóng tại quận lỵ Trảng Bàng, khoảng 40 km về phía bắc. Chạy nhanh trên QL1 và đánh tan 5 ổ phục kích của VC, chi đoàn B đã tới lúc 0800. Đến phía sau của chi đoàn C, lực lượng ứng cứu xoay sang phải, lái xe ra khỏi đường vào một bãi đất trống, và lập phòng tuyến đối mặt với nhà máy. Từ trên mặt đường QL1, chi đoàn C nổ súng để yểm trợ cho chi đoàn B tấn công sườn trái của cộng quân. Trước hỏa lực áp đảo, Cộng quân bắt đầu bỏ các hố chiến đấu, và các súng cối và súng liên thanh lần lượt câm họng. ĐT Otis, đã phải đổi trực thăng ba lần do hư hại, đã nhận Distinguished Service Cross, huy chương cao quý thứ hai của Lục quân Mỹ do dũng cảm chiến đấu trong trận này, xem hình.

Trận chiến kéo dài đến 1100 khi tướng Ware chính thức thành lập lực lượng đặc nhiệm Hurricane Forward và chỉ huy luôn Chi đội B và C của chi đoàn 3 thiết đoàn 4. Sau đó ít lâu, lực lượng này được tăng cường bởi TĐ 1/18 thuộc lữ đoàn 2 sđ 1 bộ binh. Chống trả của cộng quân chấm dứt khi một phi đội A-1E của không quân VN và F-100 của Mỹ đã biến nhà máy dệt thành đống gạch vụn. Quân đồng minh sau đó tìm thấy hơn ba trăm VC trong và chung quanh nhà máy dệt Vinatexco.

Trong khi quân Mỹ đã chận đứng đe dọa ở cạnh phía tây của sân bay, Tướng Viên đưa thêm quân từ Vùng 4 và vùng 2 để đối phó với cộng quân vẫn còn chiến đấu ở mặt đông của sân bay. Đến từ tỉnh Bình Định, TĐ 4 TQLC của nam VN, vượt qua 1 cổng ở phía bắc sân bay và phản công vào cộng quân đang chiếm Trại Phù Đổng và Cổ Loa. Sau đó vào buổi chiều, TĐ 1 và 2 TQLC của nam VN, đến từ tỉnh Định Tường, và TĐ 6 Dù bay từ Dak To. TĐ 1 TQLC được lịnh tham chiến ở Gò Vấp. Trực thăng chở hai TĐ còn lại đến bộ TTM, nằm ở đông nam của sân bay, để trục xuất 1 TĐ Cộng quân đang chiếm vài tòa nhà. Tướng Viên cũng điều TĐ 3 TQLC đang đóng gần khu vực Hốc Môn tới phía bắc của Gò Vấp để chận đường rút của trung đoàn 101 csbv.

Vào chiều hôm đó, khi trận chiến ở phía tây sân bay chấm dứt, tướng Ware đã lập một lực lượng đặc nhiệm, chỉ huy bởi ĐT Thebaud, chỉ huy lữ đoàn 2 của sđ 1 bộ binh. Lực lượng này sẽ bảo vệ sân bay cho tới khi ko còn nguy hiểm. Lực lượng này lúc đầu có TĐ 1/18 của sđ 1 bộ binh, chi đoàn 3/4 thiết giáp; thêm hai đv mà Weyand đã chuyển cho lực lượng đặc nhiệm Hurricane Forward gồm TĐ 2/27 của lữ đoàn 2 sđ 25 bộ binh và TĐ 2/327 thuộc lữ đoàn 1 của sđ 101 nhảy dù. Vào lúc 1700, tất cả 4 đv này và các đại bác 105 ly tăng phái đã di chuyển vào chu vi phòng thủ.

Trong 24 giờ kế, ĐT Thebaud đã chuyển nỗ lực vào khu vực Gò Vấp sau khi nhận định rằng cộng quân ko còn khả năng tái tấn công vào mặt tây của sân bay. Ngày 1 tháng 2, lực lượng của Thebaud, tăng cường bởi chi đội A của chi đoàn 1/4 thuộc sđ 1 bộ binh, tham dự cuộc hành quân lục soát mà TQLC VN tiến hành tại Gò Vấp. Dưới áp lực này, bốn TĐ cộng quân phân toán thành toán nhỏ vào ngày 2/2, rút về các an toàn khu của họ, để lại đằng sau khoảng 600 xác chết./.

Chuyển ngữ từ trang 332 tới 339 của sách Staying The Course tháng 10 1967 tới tháng 9 1968 của Erik Villard, viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Mỹ năm 2017.

San Jose ngày 30/1/2025 nhằm ngày mùng 2 Tết Ất Tỵ 2025.

Tài Trần

Đọc thêm:

Hoàng hậu Thái Lan Sirikit nói chuyện với đại sứ Mỹ tại Thái và ĐT William McKean, TL của trung đoàn 27 bộ binh Mỹ gần Korat Thái vào tháng 6 1962. 

Wednesday, May 31, 2023

 TRẬN MẬU THÂN 1968 TẠI TỈNH LỴ KONTUM VÀ QUÂN LỴ TÂN CẢNH 

Chuyển ngữ từ trang 302 tới 308 của sách Staying the Course của Erik B. Villard. 

Ghi chú: Ngoài các đơn vị của VNCH, các đơn vị còn lại trong bài viết đều là của Mỹ.

. . . 

"Thành phố thứ ba ở Cao nguyên Trung phần bị tấn công vào đêm 29 và 30/1/1968 là Kontum, tỉnh lỵ của tỉnh Kontum. Cũng như 2 thành phố khác của cao nguyên (là Ban Mê Thuột và Pleiku), dân số của tỉnh lỵ này khoảng 28 ngàn, gồm người Kinh và Thượng. Cách khoảng 50km bắc của tp Pleiku, thành phố nằm ở một chỗ uốn cong (bend) của Dak Bla, một con sông chảy chậm che chỡ mặt nam và đông của tp. QL-14 chạy qua rìa phía tây của tp, nối tỉnh lỵ này với tp Pleiku và Dak To, xem hình.


Một loạt các căn cứ nằm dọc theo phòng tuyến phía bắc của tp. Xa nhứt về phía đông của phòng tuyến này là một sân bay trong đó có các căn cứ của đại đội 57 trực thăng tấn công; chi đoàn A của thiết đoàn 2 sđ 1 không kỵ; đại đội B của TĐ 299 công binh; và một đại đội DSCĐ. Tòa nhà của toán cố vấn MACV và một đài truyền tin nằm ở phía tây của phòng tuyến trên đây. Giữa sân bay trên đây và tòa nhà của MACV là BCH của biệt khu 24 của VNCH, phòng thủ bởi TĐ 2/42 sư đoàn 22 bộ binh VNCH; đại đội 406 thám kích; và một pháo đội 105-ly VNCH, xem bản đồ bên dưới. Một đại đội lính Thượng giữ BCH tiểu khu nằm ở trung tâm tp.

Người chịu trách nhiệm bảo vệ tp Kontum là đại tá Nguyễn trọng Luật, tư lịnh của biệt khu 24, bao gồm tỉnh Kontum. Cố vấn của đại tá Luật là đại tá James Cahill, phối hợp hành quân giữa liên quân Việt-Mỹ để bảo vệ tp. Tin tình báo đáng tin cậy đã cho thấy tp này có khả năng bị tấn công một số nơi trong kỳ nghỉ Tết kéo dài cả tuần này. Hai vị TL đã xem xét và thực tập kế hoạch phòng thủ chung, gia tăng các hoạt động trinh sát, và tăng cường (strengthen) kế hoạch phòng thủ chung của một số căn cứ quan trọng, bằng cách lập thêm hàng rào kẽm gai và bãi mìn bên ngoài chu vi của sân bay. Đại tá Luật cũng cho binh sĩ trực 50/100 trong những ngày lễ này.

Cuộc tấn công vào tp Kontum đã bắt đầu lúc 02:12 ngày 30/1/68, khi một đại đội của TĐ 406 đặc công CSBV và một đại đội của TĐ 304 quân địa phương tiến vào tp từ phía đông bắc và kế đó tấn công sân bay. Trong lúc quân cs cố gắng vượt qua hàng rào kẽm gai mới dựng và bị thương vong do mìn chống người, lính Mỹ đã nổ súng, và gunship từ đại đội 57 trực thăng tấn công đã nhanh chóng cất cánh (scramble aloft). Nhờ ánh sáng từ đèn pha cực mạnh của sân bay, các trực thăng đã tấn công địch bằng rốc-két và đại liên, chận đứng kịp thời khi chúng chỉ cách phi đạo chánh 50 mét.           


Địch quân đã mở cuộc tấn công thứ hai và mạnh hơn vào sân bay một thời gian ngắn sau đó khi TĐ K6 của trung đoàn 24 csbv tham gia trận đánh. Vào lúc đó 2 xe tăng M48 và 4 thiết vận xa M113 của chi đoàn A thiết đoàn 2 sđ 1 không kỵ, xuất phát từ doanh trại của họ, đã rầm rộ xông tới, tấn công vào sườn phải của đoàn quân csbv. Cuộc tấn công đột ngột này đã khiến địch quân xáo trộn hàng ngũ (disarray), nhưng họ đã nhanh chóng phản công, khiến thiết giáp Mỹ ko còn giữ thế chủ động. Các đạn B-40 đã bắn vào thiết giáp Mỹ, trúng ít nhứt một chiếc, và các xe thiết giáp đã bắt đầu rút về doanh trại của họ. 

Trong khi cuộc tấn công sân bay đang diễn tiến, vài đại đội thuộc các TĐ K4 và K5 thuộc trung đoàn 24 csbv, và 2 đại đội thuộc TĐ 304 đã tấn công doanh trại của biệt khu 24 ở cách đó vài trăm mét về phía tây. Khi địch đã lọt vào doanh trại, đại tá Luật đã rút lui về nhà riêng với một trong các đại đội của ông, nghĩa là ko còn chỉ huy đơn vị của ông. Rất may cho quân phòng thủ, quân tấn công có vẻ (seem) thiếu tổ chức. Ví dụ, họ chạy ngang 2 khẩu 105 ly, nhưng ko dùng hay phá hủy nó. Họ cũng ko biết BCH của biệt khu 24 và nhà của phó tỉnh trưởng nội an nằm ở đâu, dù đây là 2 tòa nhà phải có trên danh sách các mục tiêu của họ.

Cùng lúc đó, vài đại đội của các TĐ K4 và K5 đã tấn công doanh trại của cố vấn ở cách đó vài trăm mét về phía tây nam. Các cố vấn, lính của đài truyền tin, và lính của đại đội thám kích Thượng đã đẩy lui cuộc tấn công, nhưng địch quân đã tràn ngập một trung tâm thẩm vấn và trường sinh ngữ ở ngay phía bắc của doanh trại này.

Ở trung tâm tp, khoảng 80 quân của TĐ 306 đặc công đã xâm nhập tp từ một hay hai ngày trước Tết, đã mặc quân phục của VNCH để tấn công vào bch tiểu khu. Lính phòng thủ người Thượng đã đẩy lui đặc công.

Trong lúc cuộc chiến diễn ra ác liệt, trung tá Nguyễn hợp Đoàn, tiểu khu trưởng, đã trông thấy một nhóm người đang núp (crouch) trong một rãnh/mương gần đó, và ăn mặc như lính ĐPQ nhưng lại mang ba-lô của vc. Trung tá Đoàn bảo một người lính, đang thủ M79 đứng gần, bắn vào nhóm người này. Người lính nổ súng và mọi người trong nhóm đều chết; sau này được biết trong nhóm này có tên tỉnh ủy của Kontum và vài cấp dưới của y. Tuy nhiên cái chết của những người này đã ko ảnh hưởng đến trận đánh, và trong vài giờ kế địch quân vẫn tiếp bao vây BCH tiểu khu. 

Trận chiến trong tp Kontum đã giảm dần (taper off) cường độ khi trời sáng. Phần lớn địch quân tìm chỗ núp khi gunship vần vũ trên trời. Quân cứu viện của Mỹ đã tới trong lúc rải rác tiếng súng nhỏ. Đó là lực lượng đặc nhiệm DELTA, gồm hai trung đội được huấn luyện đặc biệt để hành quân trực thăng vận* (helicopter-borne rifle platoon) và đại đội D của chi đoàn 7, thiết đoàn 17, thuộc sđ 4 bộ binh Mỹ, đổ bộ xuống sân bay khoảng 09:30. 

Nói thêm: người lính của trung đội này, ngoài kiến thức bộ binh thông thường, còn học thêm kỹ thuật tuột núi (rappelling technique) và tuột dây (fast-rope technique) để xuống đất nhanh chóng từ trực thăng. Khi tuột dây người này có thể cách người kia 3 mét, họ phải mang găng tay để khỏi bị thương tích khi tuột. 

Nguồn: Air assault trên Wikipedia.

Sau khi nghiên cứu tình hình mới nhứt, lực lượng này tiến về phía bắc của tp một thời gian ngắn sau 12 g trưa. Sự chống trả của địch lúc đầu yếu ớt nhưng sau đó gia tăng rất nhiều khi lực lượng đặc nhiệm DELTA tới gần doanh trại của MAV ở phía tây bắc của tp. Cần thêm nhiều quân để đánh đuổi địch quân.

 Viện quân đã tới vào buổi chiều khi trung tá William Punk, chỉ huy của tđ 1/22 của sđ 4 bộ binh Mỹ và hai đại đội của ông được trực thăng vận vào tp. Ông gửi đại đội A bắt tay với lực lượng đặc nhiệm DELTA ở phía bắc tp và đại đội B tới rìa phía nam của tp để bảo vệ cầu chánh trên sông Dak Bla. Một khi trung tá này lập BCH của ông gần cầu này, ông sẽ chỉ huy mọi quân Mỹ trong tp. Lúc đó có khoảng vài trăm địch quân ở trung tâm tp và có lẽ 2 hay 3 lần số đó ở ngoại ô ở phía bắc tp. Tình hình vẫn còn bấp bênh ở doanh trại của cố vấn Mỹ ở phía tây bắc tp và dinh của tỉnh trưởng. Khi trời sụp tối, liên quân Việt Mỹ chuẩn bị cho trận chiến ban đêm.

Dựa vào bóng đêm, quân cs đã cố gắng nhưng lần nữa thất bại khi định chiếm sân bay. Kế đó, ngay sau 12 g đêm của ngày 30-31 tháng giêng, trung đoàn 24 CSBV đã tiếp tục tấn công doanh trại của cố vấn. Sau vài giờ ác chiến, cố vấn Mỹ và lính thượng đã bắt đầu thiếu đạn. Khi vài địch quân bò ngang (worm) hàng rào kẽm gai lúc 04:15 sáng ngày 31/1, quân Mỹ bắt đầu đốt giấy tờ quan trọng. Đây là một hành động đúng đắn nhưng ko cần thiết vì quân phòng thủ đã nhanh chóng dùng súng nhỏ để diệt khoảng 10 tên khi chúng vượt qua hàng rào kẽm gai. Vì đạn dược hao hụt nghiêm trọng, một máy bay đã thả đạn dược xuống doanh trại của cố vấn một thời gian ngắn sau đó. Giờ đây với đạn dược đầy đủ, quân phòng thủ đã cầm cự cho đến rạng đông khi địch quân hủy bỏ cuộc tấn công. 

Quân đồng minh đã đổ vào tp Kontum vào ngày thứ 2 của trận đánh. Một đại đội lính Thượng đã được trực thăng vận vào doanh trại của cố vấn và đại đội D của TĐ 1/22 của sđ 4 bộ binh Mỹ đã lập các vị trí quanh sân bay. Một pháo đội 105 ly được đặt gần BCH của trung tá Junk ở ngoại ô phía nam của tp. Vào lúc cuối chiều, chín xe tăng M48 của đại đội C, TĐ 1/69 thiết giáp, từ QL-14 tiến vào tp. Đoàn xe tăng chia từng nhóm 2 hay 3 chiếc để có thể bảo vệ các vị trí quan trọng trong tp. Sau khi lực lượng đặc nhiệm DELTA lục soát khắp tp, họ rút về doanh trại của cố vấn để nghỉ đêm.

Như quân đồng minh dự đoán, trung đoàn 24 csbv đã tiếp tục tấn công doanh trại của cố vấn sáng ngày 1/2. Bắc quân đã phá hủy một máy phát điện nhằm cắt điện các đèn trên hàng rào phòng thủ, nhưng điều này đã ko nao núng quân phòng thủ. Lại một lần nữa, sau vài giờ giao tranh ác liệt, quân phòng thủ sắp hết đạn, nhưng vài phi công trực thăng gan dạ đã liều lỉnh tiếp tế những thứ mà họ cần nhứt. Trong khi đó, quân csbv đã bắn hỏa tiển 122 ly vào sân bay. Một quả đã khiến một xe bồn bốc cháy dữ dội nhưng ko gây thiệt hại đáng kể cho doanh trại.

Khi trời đã sáng, trung tá Junk đã bắt đầu một cuộc hành quân lục soát phối hợp toàn thành phố. Đại đội C của TĐ 1/22 và lực lượng đặc nhiệm DELTA đã lục soát khu vực chánh của Kontum, quét sạch các tổ 2 hay 3 người của cs từ nhiều nhà. Trong khi đó, trung tá gửi đại đội D tái chiếm trung tâm thẩm vấn tù binh và trường sinh ngữ ở góc tây bắc của tp gần doanh trại của cố vấn. Một loạt súng nhỏ đã quét vào trung đội dẫn đầu của đại đội D khi họ tới gần các tòa nhà, làm bị thương ít nhứt 10 người. Trung tá Junk lập tức giao nhiệm vụ cho đại đội C cũng như hai xe tăng và một M113 thuộc chi đội A, chi đoàn 2, thiết đoàn 1 vừa mới tới tp. Lực lượng hổn hợp này đã trấn áp (overpower) một đại đội của trung đoàn 24 csbv đang tăng cường cho khu vực này, và giết chết ước lượng 47 Cộng quân. Khoảng 100 lính CS chạy về phía bắc xuyên qua một cánh đồng trống trải. Phần lớn bị bắn hạ trước khi tới được bìa rừng rậm rạp.

Trung tá Junk có thêm tin tốt sau đó vào buổi tối khi 2 đại đội của TĐ 1/12 của sđ 4 bộ binh Mỹ, chỡ tới từ Dak To. Họ lập chu vi phòng thủ ngay phía bắc sân bay. Trung tá giờ đây đã có một đội quân đáng kể giữa tp và trung đoàn 24 csbv ở ngoại ô phía bắc. 

Tối hôm đó, lần đầu tiên kể từ 29/1, tỉnh lỵ này gần như hoàn toàn yên tỉnh. Lính của trung đoàn 24 csbv, TĐ 304 địa phương, và TĐ 406 đặc công csbv đã bắt đầu rút khỏi tp. Quân đồng minh ước lượng 753 địch chết, một con số rất lớn so với lực lượng tham chiến ban đầu của địch.

Quân Mỹ đã quét sạch tàn quân (straggler) địch tại tp Kontum trong ngày 3 và 4 tháng 2, và bắt đầu truy kích trung đoàn 24 csbv vào ngày 5 tây. Trung tá Junk đã có đủ quân dưới tay--hai pháo đội, một đại đội thiết giáp, một chi đoàn không kỵ gồm toàn trực thăng tấn công, và 5 TĐ bộ binh -- dư sức đè bẹp bắc quân nếu họ muốn chống lại, do vậy ông trả 2 đại đội của TĐ 1/12 về lại Dak To. 

Trong khi đó trung đoàn 24 csbv đã tái tổ chức tại đồi 684, một ngọn đồi đầy cây cối khoảng 5km đông bắc tp. Đồi này đã được dùng làm tiền cứ của trung đoàn này trong những ngày trước Tết, do vậy rất vững chắc với công sự, giao thông hào, và đạn dược lương thực. Giờ đây đồi này trở thành cứ điểm phòng thủ cho trận đánh cuối cùng. 

Cuộc chạm súng đầu tiên xảy ra khoảng 1.500 mét phía nam của đồi khi trinh sát của địch chạm súng với các thành phần đi đầu của TĐ 1/22. Đụng độ kéo dài tới khi sụp tối. Sáng hôm sau, 6/2/1968, đại đội A của TĐ 1/22 chọc thủng phòng tuyến và tấn công đồi 684. Ở sườn phải của họ, đại đội B tấn công cao điểm kế cận, đồi 721. Khi thấy đại đội A gặp chống trả dữ dội, đại đội B chuyển hướng và tấn công vào phía đông của đồi 684. Bắc quân có thuận lợi nhờ ở trên cao và cây cối che phủ. Sau khi bị cầm chân (pinned down) gần như suốt ngày, cuối cùng quân Mỹ rút lui với 4 chết và 17 bị thương. Tướng Peers, TL của sđ 4 bộ binh, ra lịnh cho đại đội A của TĐ 1/12 tăng cường cho trung tá Junk.

Trong buổi sáng ngày 7/2, phi pháo đã bắn phá đồi này. Sau khi dứt phi pháo, các đại đội A và B của TĐ 1/22, và đại đội A của TĐ 1/12 xung phong lên đồi, trong khi đại đội D của TĐ 1/22, và một số xe tăng vòng quanh chân đồi phía tây, và đại đội C của TĐ 1/22 giữ chân đồi phía đông. Nhưng mọi thứ trở nên vô ích vì địch đã rút. Với điều này, trận chiến ở Kontum hoàn toàn chấm dứt.

Một trận đánh lớn khác tại phía tây của cao nguyên trong dịp Tết đã xảy ra tại quận lỵ Tân Cảnh, ở phía đông của Dak To. Một TĐ của trung đoàn 174 đã chiếm một phần của tp vào sáng 30/1, nhưng đã bị một TĐ thuộc trung đoàn 42 VNCH đẩy lui trong cùng ngày. Ngày 8/2, trung đoàn 174 đã tái tấn công Tân Cảnh với quân số đông hơn, nhưng quân phòng thủ VNCH, nhờ có nguyên một tuần để cải thiện vị trí, đã khiến địch quân không thể vào tp. Bắc quân đã mất khoảng 150 quân trong trận tấn công thứ hai. Sau đó trung đoàn 174 và 66 rút qua Cam-bốt để bổ sung quân số ./."

. . . 

San Jose ngày 31/5/2023.

Tài Trần


Thursday, May 4, 2023

 BÀI 1: TRẬN MẬU THÂN 1968 TẠI BAN MÊ THUỘT.

- Người giỏi đánh, địch ko biết đâu mà giữ. Người giỏi giữ, địch ko biết đâu mà đánh -- Tôn Tử (thiên Thực Hư). 

Lời nói đầu

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, vì thấy tầm quan trọng chiến lược của tỉnh Darlac, TT Ngô Đình Diệm đã đặt Tòa Đại biểu Chánh phủ Cao nguyên Trung phần tại tỉnh lỵ Ban Mê Thuột để quản lý vùng đất sau này là Vùng 2 Chiến thuật. Về kinh tế, tỉnh có nhiều tài nguyên giá trị như cao su, cà phê, trà, gỗ quí, các cây ăn trái như mít, v.v... vì trồng trên đất ba-zan màu mỡ. (Đây là một loại đá magma phun trào từ núi lửa, được hình thành từ sự làm nguội nhanh của dung nham ba-zan khi tiếp xúc rất gần bề mặt của trái đất).

Trong trận Mậu Thân 1968, nhằm gây tiếng vang về chính trị, CSVN đã cố gắng chiếm giữ thành phố này trong 4 ngày trước khi bị đẩy lui. Nhưng năm 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa, thành phố này đã ko bị tàn phá như Kon Tum hay bị pháo kích như Pleiku--nơi đặt BTL của Quân đoàn 2. Cũng vì vậy mà lực lượng bảo vệ TP này rất yếu, thường chỉ có hai tiểu đoàn thuộc sđ 23 bộ binh, dù nơi đây là hậu cứ của sđ này cũng như của thiết đoàn 8. 

Do đó, thay vì tấn công Pleiku nơi có BTL quân đoàn 2 hay Kontum, năm 1975 CS đã chọn Ban Mê Thuột vì ở đây phòng thủ yếu, chung quanh lại là rừng rậm và địa thế phần lớn khá bằng phẳng, nên đại quân của họ dễ dàng tiến sát mà ko bị phát hiện. Trước đó họ đã cưa các cây lớn trên các đường tiến sát về Ban Mê Thuột, nhưng các cây ko được cưa đứt nên chiến xa chỉ cần đụng nhẹ là đổ ngã. 

Trong khi đó, chung quanh Pleiku hay Kontum ko có nhiều đồi núi và rừng rậm bao la nên đại quân của họ khó tiến sát mà ko bị phát hiện, chưa kể rất nhiều đv lớn của VNCH đang bảo vệ hai tp này. 

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 294-298 và từ trang 658-662 của sách Staying The Course Oct 1967 to Sep 1968 của Erik Villard.

. . .

"Không như tướng Chu huy Mân được lịnh tấn công hơn 12 thành phố ở bờ biển của vùng 2 chiến thuật, tướng Hoàng minh Thảo chỉ có 4 mục tiêu lớn ở Mặt Trận B3, cho phép y có thể tập trung lực lượng nhiều hơn Mặt Trận B1 của tướng Mân. Trận tấn công bắt đầu vào đêm 29-30/1/1968, khi Thảo gửi bốn trung đoàn bộ binh, bốn TĐ đặc công, ba TĐ quân địa phương, hai TĐ pháo, và ít nhứt chín đại đội quân địa phương tấn công các tỉnh lỵ của cao nguyên miền Trung gồm tp Kontum, tp Pleiku, và tp Ban Mê Thuột. Y đã ra lịnh cho trung đoàn 66 và 174 của sđ 1 tiếp tục bao vây trại LLĐB Ben Het và căn cứ hỏa lực 25, và tấn công thị trấn Tân Cảnh gần đó để nhằm cắt đứt QL14 giữa Dak To và Kontum.

Tỉnh lỵ của tỉnh Darlac, Ban Mê Thuột, từ lâu vẫn được xem là chốt để giữ bánh xe vào trục (lincpin), một thành phần rất quan trọng của hệ thống phòng thủ của VNCH tại phía nam cao nguyên trung phần. Một cộng đồng người Thượng và Việt Nam khoảng 67 ngàn người sống ở gần cuối QL14, cách biên giới Cambodge khoảng 40 km. (Đây chỉ là dân số của tỉnh lỵ Ban Mê Thuột, vì theo bản đồ tỉnh Darlac của VNCH mà tôi có, thì dân số của quận Ban Mê Thuột tính tới tháng 12/1970 là 149.994 người, và dân số của cả tỉnh là 230.475--người dịch). Các đồn điền trà và rừng rậm (scrub forest) che phủ khu vực chung quanh thành phố, trên một địa thế phần lớn bằng phẳng (flat landscape). QL14 đi ngang rìa cuối của thành phố này, theo hướng đông bắc tây nam. Ngay phía bắc tp, QL21 xuất phát từ QL14, chạy về hướng đông ra biển và cuối cùng chấm dứt ở quận lỵ Ninh Hòa.                 

Bản đồ khu vực Ban Mê Thuột, Đức Lập, Kiến Đức, xuống tới Đồng Xoài của quân khu 3.

Tướng Trương Quang Ân, TL của sđ 23 của Nam quân, trách nhiệm bảo vệ tỉnh lỵ này. BTL đặt ở rìa phía nam của tp. TP này cũng có hậu cứ của trung đoàn 45 của sđ này và Thiết đoàn 8 cũng như doanh trại của MACV địa phương. (Nói thêm: MACV là viết tắt tiếng Anh của BTL Yểm trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam, có mặt tại tất cả các tỉnh hay thành phố lớn của VN, nhằm giúp đỡ trong lãnh vực quân sự-- người dịch). 

Doanh trại của MACV tại Ban Mê Thuột và trại Coryell và sân bay trực thăng cùng tên ở phía sau.

Doanh trại của MACV tại Mỹ Tho, cố vấn cho sđ 7 bộ binh VNCH

BCH tiểu khu Khánh Hòa bên trái hình, và doanh trại của MACV, bên phải tại Nha Trang.

Lính của lữ đoàn 2 sđ 9 bộ binh Mỹ đổ bộ lên bờ sông. Các cây trong ảnh có lẽ là cây dừa bị cụt ngọn


Một sân bay có tên
Trại Coryell nằm ở phía đông của tp, nằm ở phía bắc của QL14. Tại đây có đại đội 155 trực thăng tấn công của Mỹ, gồm các gunship và Cobra.  
Các viên chức ở Ban Mê Thuột đã ko nhận bất cứ tin tức tình báo rõ ràng nào về địch có thể tấn công TP nhân dịp Tết. Do đó tướng Ân đã ko rút bất cứ TĐ nào của trung đoàn 45 về giữ tp, và ông đã cho phép 2/3 quân nhân các đv trong tp được đi phép. 
Cuộc tấn công đã bắt 1:30 g sáng ngày 30/1/68 khi bốn TĐ của trung đoàn 33 CSBV, hai TĐ 301 và 401 quân địa phương, và 4 đại đội quân địa phương--tất cả khoảng 3.000 người--tràn vào tp từ hướng nam. 

Tại Ban Mê Thuột, mục tiêu chánh của CS là BTL của tướng Ân, một căn cứ pháo binh ở phía tây của tp, tòa hành chánh tỉnh, và BCH cảnh sát quốc gia của tỉnh. Địch quân chỉ chiếm được tòa hành chánh và BCH cảnh sát, kho bạc (treasury office) và biệt điện của vua Bảo Đại, và đã dùng các nơi này làm nơi xuất phát để tấn công trong suốt trận chiến.

Trong lúc đó, một TĐ của trung đoàn 33 csbv được lịnh chuyển mục tiêu vào đài phát thanh của tp, nằm ở tây nam. Lính ĐPQ bảo vệ đài chỉ cố thủ trong vài giờ trước khi bị tràn ngập. Hỏa lực rất mạnh của địch đã khiến một nhóm lính DSCĐ từ một trung tâm huấn luyện của lính Thượng gần đó không thể kéo về tp. Sau khi chiếm đài, địch đã ra lịnh cư dân phải ra khỏi tp. Sau đó, chúng phá hủy đài và bao vây trung tâm huấn luyện kể trên.

Suốt buổi sáng, xe tăng nhẹ M-41 và thiết vận xa (TVX) M-113 của thiết đoàn 8 đã nhiều lần xuất kích để phản công. Bốn xe đã bị hư hại hay phá hủy bởi súng B-40, B-41, nhưng các kỵ binh Nam VN đã giữ vững tay súng cho tới khi các TĐ 2 và 3 của trung đoàn 45 kéo vào tp khoảng 12 g trưa. Cuộc phản công của Nam quân đã gia tăng sức mạnh vào cuối ngày khi các đại đội 23, 44, 45 và 53 trinh sát và một đại đội ĐPQ kéo vào tp. Khi màn đêm rơi xuống, địch quân chỉ còn kiểm soát vài khu phố quanh kho bạc và biệt điện Bảo Đại.

Chiến trận ác liệt vẫn tiếp tục suốt ngày kế, 31/1/1968, khi kho bạc và biệt điện đã đổi chủ vài lần, với địch quân làm chủ vào buổi tối. Lo âu vì phản công chậm chạp, tướng Ân đã yêu cầu tướng Vĩnh Lộc, TL của QĐ, tăng thêm quân.

TĐ 23 BĐQ đã được trực thăng vận xuống trại Carrol, nơi có sân bay, vào khoảng sau 12 g đêm và tham gia cuộc phản công khi hừng đông. Dù thêm quân, nhưng phản công vẫn chậm chạp. Lính bắn sẻ của địch có vẻ ở mọi nơi, đôi khi xuất hiện ở nơi từng được coi là an toàn. Quân CS có vẻ còn nhiều đạn liên thanh và B-40. Nam quân ít khi dùng vũ khí nặng, do sợ gây thêm thiệt hại ko cần thiết cho tp này. 

Địch quân đã tung lá bài cuối cùng (make a last bid) để lấy lại thế thượng phong vào sáng 2/2/1968, khi tấn công một trại pháo binh nam quân bằng lựu đạn cay và bộ binh. Lúc 3g sáng, một toán địch đã vượt qua hàng rào phòng thủ. Trực thăng Mỹ đã tấn công chúng bằng đại liên M60 dưới ánh sáng của hỏa châu và lửa từ các đám cháy. Địch đã rút lui sau 20 phút.

Cuộc tấn công của địch vào tp đã bắt đầu tan vỡ vào ngày 3/2. Quân của tướng Ân đã tái chiếm đài phát thanh, biệt điện Bảo Đại, và kho bạc. Địch đã bắt đầu phân tán mỏng (filter out) để rút lui. Cán cân quân sự càng cải thiện hơn vào buổi chiều khi TĐ 1/503 của lữ đoàn 173 nhảy dù Mỹ đổ xuống sân bay. Buổi sáng ngày kế, quân dù Mỹ đã lục soát tp trong khi địch rút về phía nam; họ đã tìm thấy một nơi đóng quân của địch với nhiều thiết bị. 

Trận đánh 4-ngày này đã tàn phá rất nhiều tp Ban Mê Thuột, làm hư hay hủy hoại 3.300 căn nhà, và khiến khoảng 20 ngàn, hơn 1/3 dân số, tạm thời ko có chỗ ở. Khoảng 560 dân chết và 800 người bị thương. Nam quân có 74 chết. Địch có khoảng 900 chết hay bị thương nặng".

. . .

============

BÀI 2: TRẬN MẬU THÂN 1968 TẠI PLEIKU.

. . .

"Mục tiêu thứ 2 của tướng Thảo là Pleiku, tỉnh lỵ của tỉnh Pleiku (theo bản đồ của tỉnh này mà tôi có, tính tới tháng 12/1970, dân số của toàn tỉnh là 200.767 người--người dịch). Với dân số khoảng 33 ngàn gồm Thượng và Kinh, tỉnh lỵ Pleiku ở giao điểm của QL14 và 19, và là trung tâm quân sự quan trọng nhứt ở cao nguyên. BTL của QĐ 2 của tướng Vĩnh Lộc đặt tại phía bắc tp, kế cận nhiều doanh trại Việt Mỹ như sân bay mới của Pleiku, căn cứ chánh của liên đoàn 52 pháo binh Mỹ, BCH của liên đoàn 2 BĐQ VNCH, một trung tâm huấn luyện lính Thượng, và một căn cứ của LLĐB Mỹ. Lữ đoàn 3 kỵ binh VNCH đặt ở đông của tp, và kế đó là Trại Holloway, đây là một sân bay lớn có BCH của TĐ 52 không quân Mỹ và bốn đại đội trực thăng tấn công (gồm đại đội 119, 170, 179, và 189). Đơn vị bộ binh Mỹ gần nhứt là Trại Enari, nơi đặt BTL của sđ 4 bộ binh Mỹ.

Quân đồng minh đã nhận nhiều chỉ dấu suốt tháng rằng địch quân sẽ tấn công tp trước Tết. Tuy nhiên, TL của quân đoàn 2, tướng Vĩnh Lộc đã về Sài Gòn. Người trách nhiệm bảo vệ TP Pleiku là thiếu tá Lê Thân, phó tỉnh trưởng nội an, đã coi trọng những cảnh báo này. Ông cho ĐPQ và TĐ 11 BĐQ (mà người hùng trung úy Vương Mộng Long, trong bài "Mậu Thân Hưu Chiến" chỉ huy đại đội 1--người dịch) đặt trong tình trạng báo động, và bố trí chiến xa của thiết đoàn 3 quanh BTL quân đoàn. Cố vấn trưởng của quân đoàn, đại tá John Barnes, cho một chi đội chiến xa của chi đoàn 1/69 thiết kỵ, đang đóng ở trại Holloway làm lực lượng trừ bị. 

90 phút quá nửa đêm của những giờ đầu ngày 30/1/1968, TĐ K31, và trung đoàn 40 pháo, đã nổ súng vào 2 sân bay, căn cứ hỏa lực, và doanh trại BĐQ. Cuộc tấn công của bộ binh đã diển ra 90 phút sau đó khi các đặc công VC thăm dò trung tâm huấn luyện của lính Thượng ở bắc của tp. Chẳng bao lâu cả tp và hai sân bay đã bị tấn công bởi TĐ 408 đặc công, phân nửa của TĐ H15 địa phương, các thành phần của TĐ 407 đặc công, một đại đội của TĐ 28 đặc công, và hơn 100 du kích địa phương. Nhờ đã báo động và chuẩn bị kỹ, ko có nơi nào ở Pleiku lọt vào tay địch. Một số nhỏ đặc công đã cố gắng vào nhà tướng Vĩnh lộc, đã bị lính gác đẩy lui. Thiết đoàn 3 VNCH, giống như lính chữa cháy, đã chứng tỏ đặc biệt xuất sắc khi bẻ gẫy mủi tấn công của địch, dù đã bị tổn thất 3 chiến xa M-41 và hai M-113 trong vài giờ đầu của trận đánh.

Quân đồng minh đã phản công khi trời vừa sáng. Lúc 0715, hai đại đội DSCĐ đã bắt đầu tiến quân từ trung tâm huấn luyện vào trung tâm tp. Cùng lúc, một chi đội (platoon) chiến xa Mỹ từ trại Holloway tới căn cứ pháo binh đông nam của tp để chắc chắn đại bác ko lọt vào tay đối phương. Ba mươi phút sau, TĐ 11 BĐQ đã tiến vào trung tâm tp từ hướng đông trước khi bắt đầu lục soát từng nhà một. Sau đó vào buổi sáng, TĐ 22 BĐQ và BCH của liên đoàn 2 bđq vào tp từ hướng tây để tham gia lục soát trung tâm tp. Khi trời sắp tối, hai đại đội của tđ 4 công binh Mỹ được đổ xuống ở ngoại ô phía nam để ngăn địch rút từ hướng này.

Khi trời tối, phần lớn VC đã rút về góc tây nam, nơi quân đồng minh dàn mỏng. Một số trốn trong những tòa nhà đổ nát để chờ cơ hội trốn thoát, trong khi số khác, bỏ võ khí và mặc đồ dân sự để giả thành dân thường. Do đó đã khiến quân VNCH đã phải lục soát lần nữa các nơi họ đã lục soát.

Quân đồng minh đã tiếp tục siết chặc vòng dây để tìm bắt đặc công csbv và lính vc đến sáng 31/1. Lực lượng của TĐ 4 công binh Mỹ, khi lục soát trường học chánh ở Pleiku đã giết 21 địch. Khi màn đêm rơi xuống, phần lớn địch quân đã rút. Cuộc lục soát kéo dài sang ngày kế, nhưng chỉ bắt được một ít địch quân.

Vào sáng 2/2, tưởng rằng trận chiến kết thúc, quân đồng minh lại phát hiện vài đại đội của TĐ H15 địa phương đang đào công sự ở ngoại ô phía tây tp. Hóa ra chỉ có một phần của TĐ này vào được tp để tham chiến; số còn lại, bao gồm TĐ trưởng vẫn còn ở ngoài.

Sáu trực thăng võ trang Mỹ đã tấn công họ, sau đó là các chiến xa M-41 và M-113 của thiết đoàn 3. Chỉ trong 1g, đơn vị vc này đã bị quét sạch. Tổng kết địch có 606 chết và 156 bị bắt trong đợt 1 của Mậu Thân 1968 tại Pleiku, phe đồng minh chết 28". 

. . . 

======

BÀI 3: TRẬN ĐỨC LẬP THÁNG 8/1968.

Lời mở đầu.

- Người giỏi đánh, kẻ địch ko biết chỗ nào mà giữ; người giỏi giữ, kẻ địch ko biết chỗ nào mà đánh.-- Tôn Tử (thiên Hư Thực).

Trước 1975, Đức Lập là một quận ở tây bắc của tỉnh Quảng Đức của VNCH, có vị trí rất quan trọng về quân sự vì nằm sát biên giới Cambodia và cũng nằm trên các đường tiến sát hướng đông bắc tới Ban Mê Thuột, tỉnh lỵ của tỉnh Darlac--một thủ phủ rất quan trọng về kinh tế và quân sự của VNCH, xem bản đồ của hội địa lý quốc gia Mỹ in tháng 2/1967. Vì nằm trên QL14, Đức Lập cũng là cửa ngõ đi xuống tỉnh Phước Long và Vùng 3 Chiến thuật. 

Sau năm 1973, khi CS đã xây xong phần lớn đường Trường Sơn Đông, nên nếu họ chiếm được quận lỵ Đức Lập, sẽ khai thông QL14 đi về Vùng 3 Chiến thuật, ko cần phải đi trên đường mòn Trường Sơn Tây chạy trên đất Cambodia. QL14 đã có từ thời Pháp bắt đầu từ Chơn Thành, Đồng Xoài, đi về phía bắc qua Đức Phong, Bù Đăng, Kiến Đức, Tuy Đức, Dak Song, Bon Sar Par, Đức Lập, Ban Mê Thuột, Buôn Hô, Pleiku, Kontum, Dak To, Dak Peh, Khâm Đức, Thượng Đức, xem bản đồ. Từ đây có tỉnh lộ 4, chạy dọc sông Vu Gia tới Điện Bàn trên QL1. 


Sau chính biến 1963, do an ninh suy sụp, đoạn đường từ Dak Peh tới Thượng Đức ko thể xử dụng. Sau khi ký HĐ Paris 1973, CS đã sửa chữa đoạn Thượng Đức Dak Peh và nối dài với những hương lộ, có từ thời Pháp, xuất phát từ QL9 ở Quảng Trị để chuyển quân vào nam. 

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 658 - 662 của quyển Staying The Course.

. . . 

"Tại quân đoàn (QĐ) 2, cuộc tổng tấn công đợt ba đã bắt đầu ngày 18/8/1968 khi một TĐ của trung đoàn 101D tấn công trại LLĐB Dak Seang ở tây bắc tỉnh Kontum. Các người lính Thượng đã đẩy lui cuộc tấn công, giết chết 35 địch, và bắt sống 11. Ngày kế, pháo của quân CSBV đã nả vào trại ít nhứt 125 viên đạn cối và không giựt. Xa hơn về phía nam, pháo địch đã bắn vào một tiền đồn Mỹ gần Dak To với 21 hỏa tiển. Trận chiến đã lan tràn tới tỉnh Pleiku vào 20/8 khi một TĐ của trung đoàn 24 tấn công một căn cứ hỏa lực (CCHL) của Nam quân, nằm trên QL-14 khoảng 22 km bắc tỉnh lỵ. Quân trú phòng đã đẩy lui cuộc tấn công thiếu phối hợp này, giết 87 địch trong khi chết 9. 

Cuộc tấn công đã lan khắp quân khu (QK) 2 vào đêm 23-24/8 khi cối địch và hỏa tiển đã rơi vào hơn 30 địa điểm, trong đó có An Khê, Bồng Sơn, Phan Thiết, và Phan Rang. Buổi tối 24/8, trung đoàn 66 của sđ 1 và TĐ 20 đặc công và vài đơn vị (ĐV) vũ khí nặng đã tấn công Đức Lập, một làng nhỏ ở phía tây Quảng Đức, cách biên giới Cambodia khoảng 7km. Trung đoàn 320 của sđ này lập một nút chặn trên QL14, ở đông bắc Đức Lập để ngăn viện quân từ Ban Mê Thuột. Trung đoàn 95C vẫn ở gần biên giới Cambodia với BTL của sđ và các đv hỗ trợ. 


Bản đồ trận tấn công vào trại LLĐB Đức Lập từ 24-25/8/1968. Đường đỏ đứt đoạn là phòng tuyến của địch. Khu vực có sọc đỏ do địch kiểm soát. Nguồn: từ sách Staying The Course.

Ở khoảng 5km đông nam của ấp lớn nhứt của làng Đức Lập là trại LLĐB Dak Sak (có cao độ 722 m, tên trên bản đồ là Yok R'Looung -- theo bản đồ), được bảo vệ bởi hai đại đội Mike Force, một toán LLĐB của Nam Việt Nam, toán A-239 của LLĐB Mỹ, và vài cố vấn Úc.
                                 

 (Nói thêm: Theo quyển Green Berets at War, trại này được lập tháng 11 1966 gần địa điểm cũ của Bon Sar Par, đã bị đóng cửa sau vụ nổi loạn của FULRO. Trại Đức Lập nằm trên 2 ngọn đồi gồm một đồi nhỏ ở phía bắc và đồi lớn ở phía nam, nhìn xuống một cao nguyên rộng rãi, phì nhiêu cách biên giới 9 dặm, và vị trí chiến lược này bao phủ những đường tiến sát đông bắc tới Ban Mê Thuột. Những người lính DSCĐ gốc Rhade và Mnong này sống với gia đình của họ trong những hầm trú ẩn và hang ở sườn đồi, ngay dưới giao thông hào. Có 2 đại đội DSCĐ ở đồi bắc nhưng ko có các cố vấn LLĐB Mỹ và VN chỉ huy).
QL14 đã tách đôi khu vực này, một hướng chạy về tây nam tới biên giới và một hướng về đông bắc tới Ban Mê Thuột. Bên trong ấp lớn này của làng là BCH của chi khu Đức Lập-một doanh trại không lớn hơn một sân đá banh, bảo vệ bởi khoảng 6 cố vấn LLĐB Mỹ và một đại đội ĐPQ. (Theo sách đã dẫn, BCH chi khu cách trại Đức Lập 4 dặm-người dịch). Một đại đội ĐPQ khác giữ tiền đồn Bon Sar Par, cách trại 3 km về phía tây nam trên một ngọn đồi nhìn xuống QL14. 

Cuộc tấn công đã bắt đầu vào sáng sớm ngày 24/8 khi 2 tiểu đội của TĐ 20 đặc công đã len lỏi vào BCH chi khu Đức Lập sau khi cắt vài lớp kẻm gai phòng thủ mà lính gác ko biết. Họ đã tấn công doanh trại (compound) và bắt đầu ném các túi chất nổ, trong khi một đại đội bộ binh csbv ở bên ngoài hàng rào bắn yễm trợ. Một túi chất nổ đã làm sập một phần nơi ở của cố vấn Mỹ, làm 5 cố vấn bị thương khi đang ngủ. Khi họ phóng ra ngoài để tập hợp lính Thượng, hỏa lực mạnh của địch đã giết chết một cố vấn và đẩy lui họ. 

Các cố vấn của chi khu đã gọi trại Dak Sak cứu viện, nhưng ở đây cũng bị tấn công. Quân csbv đã xuyên qua hàng rào và chiếm một phần đồi bắc của trại Dak Sak. Tuy nhiên, trại Dak Sak đã hứa sẽ gửi một đại đội Mike Force giúp chi khu khi trời sáng. Trong khi đó, một máy bay Hỏa Long AC-47 đã tới để khống chế các vị trí cối và liên thanh của địch nằm ngoài tầm bắn của quân phòng thủ.

Tại BTL của sđ 23 VNCH tại Ban Mê Thuột, tướng Ân đã gặp tướng Peers, TL của lực lượng 1 dã chiến tướng Stone, tư lịnh của sđ 4 bộ binh để thảo luận việc cứu viện Đức Lập và an ninh cho tỉnh lỵ. (Nói thêm, 14 tháng sau, tướng Peers thăng trung tướng, chỉ huy 50 ngàn quân Mỹ thuộc lực lượng 1 dã chiến, trong đó có các đv như sđ 1 không kỵ, sđ 101 nhảy dù và lữ đoàn 173 nhảy dù -- người dịch). Để bảo vệ Ban Mê Thuột, Peers đã ra lịnh cho tướng Allen, chỉ huy của lữ đoàn 173 dù, không vận TĐ 4/503 nhảy dù từ Tuy Hòa lên Ban Mê Thuột để tham gia lực lượng đặc nhiệm SPOILER vừa mới thành lập. Chỉ huy bởi đại tá McChrystal, lực lượng này gồm lữ đoàn 2 của sđ 4 bộ binh, chi đoàn 1/10 thiết kỵ, hai chi đội của chi đoàn 7/17 không kỵ, và bảy pháo đội. Tướng Ân đã rút một TĐ của trung đoàn 47 từ Phú Yên về Ban Mê Thuột. Quân đội Nam Hàn sẵn sàng tham chiến nếu tình hình đòi hỏi.

Để cứu Đức Lập, tướng Ân đã gửi hai TĐ của trung đoàn 45 thuộc sđ 23 đang bảo vệ QL-14 và 21 gần Ban Mê Thuột. Tướng Stone đã ra lịnh cho chi đoàn 1/10 thiết kỵ bảo vệ các quốc lộ này trong lúc 2 đv trên vắng mặt. Tướng Ân cũng xin phép quân đoàn để dùng vài đại đội Mike Force từ vùng duyên hải. Họ và 2 TĐ trên đây sẽ được yểm trợ trực tiếp từ pháo binh 105-ly của lữ đoàn 2 sđ 4 bộ binh. Sau khi lập CCHL mới ở 3km tây nam trại Dak Sak, đại tá McChrystal đã lập lực lượng đặc nhiệm LANCE gồm pháo đội A của TĐ 4/42 pháo binh, và hai trung đội của TĐ 2/35 bộ binh. Để yễm trợ cho Đức Lập, Peers cũng xin 5 phi xuất B-52, ném bom những đồi chung quanh vào cuối ngày đó.

Vào buổi sáng 24/8, trực thăng Mỹ đã bốc một đại đội Mike Force vào Đức Lập, đổ họ xuống bên ngoài hàng rào của đồi nam hay đồi chánh của trại Dak Sak. Vừa đánh vừa tiến tới Dak Sak, những đv người Thượng này đã tấn công ngọn đồi nhỏ hơn mà địch quân chiếm giữ ở phía bắc trại Dak Sak. Cuộc tấn công thất bại với thiệt hại nặng. Trực thăng Mỹ đã cố gắng đáp xuống sân bay, xem hình, để tải thương hàng chục lính Thượng, nhưng súng của quân csbv trên đồi đã bắn rơi bốn chiếc, làm trì hoản cuộc hành quân.

Tình hình ở Đức Lập đã bắt đầu cải thiện vào chiều khi trực thăng đổ TĐ 2/45 bộ binh VNCH, vào một bãi đáp gần BCH chi khu trong làng Đức Lập. Dù 2 chiếc bị bắn rơi, nhưng cả TĐ đã xuống đất trước khi trời tối. Vào khoảng nhá nhem tối, trực thăng đã đổ 2 đại đội Mike Force vào một khu rừng thưa 3 km nam của trại LLĐB này, làm an ninh cho địa điểm mà lực lượng đặc nhiệm LANCE sẽ tới ngày kế. 

Ngày 25/8 đã chứng tỏ là bước ngoặt của trận Đức Lập. Bắc quân đã tiếp tục tấn công chi khu Đức Lập, mà quân số chỉ còn 61 so với 118 lúc ban đầu, nhưng quân phòng thủ chi khu đã cố thủ tới khi TĐ 2/45 tới. TĐ này sau đó đã tấn công về phía bắc nơi bắc quân còn cố thủ và đẩy lui họ hoàn toàn ra khỏi làng Đức Lập. 

Tình hình ngày hôm đó tại trại Dak Sak bấp bên hơn. Quân csbv chiếm hoàn toàn ngọn đồi nhỏ phía bắc của trại, khiến quân phòng thủ gồm ba đại đội Mike Force đã cạn kiệt quân số và võ khí với cố vấn Mỹ, Việt và Úc -- phải rút tới ngọn đồi thứ hai, lớn hơn ở phía nam trại, nơi có BCH chánh và phần lớn nhà ở của cố vấn.

Viện quân đã tới kịp thời. Sau khi pháo đội của lực lượng đặc nhiệm LANCE được triển khai ở bãi đáp chỉ định ở 3km phía nam của Dak Sak (nơi mà hai đại đội Mike Force đã đổ xuống vào đêm trước), quân Mike Force đã bắt đầu tiến về phía bắc để tới trại Dak Sak khoảng 1g trưa 25/8. Lính Thượng đã phá vở cuộc tấn công của csbv khi đánh vào cạnh sườn lúc địch quân vượt phi đạo để tiến về đồi nam. Sau khi đẩy lui địch về đồi bắc, hai đại đội này, phối hợp với một đại đội vừa đến từ Pleiku, chờ phi pháo dọn bãi trước khi xung phong lên đỉnh đồi. Bắc quân đã bắn gục hàng chục lính Thượng, giết 3 cố vấn LLĐB Mỹ, nhưng thành phần còn lại của Mike Force đã chiếm được đỉnh đồi. Lúc 7g tối, trại Dak Sak đã được tái chiếm.

Cường độ của trận đánh đã giảm trong ngày 26/8. TĐ 2/45 của nam quân đã tiếp tục đánh nhau với địch quân trên những ngọn đồi ở phía bắc, sát với BCH chi khu, nhưng trung đoàn 66 csbv đã ko còn tiếp tục vây hãm trại LLĐB Dak Sak. Vào ngày 27/8, cuộc khủng hoảng tại khu vực Đức Lập có vẻ đã qua. Tướng Ân đã đưa thêm TĐ 1/45 vào vùng, nhưng quân chánh phủ đã tìm thấy rất ít dấu vết của sđ 1 csbv trong những ngày sau đó.

Tổn thất của liên quân Việt Mỹ ở trận Đức Lập là 114 chết và 238 bị thương. Có bảy cố vấn Mỹ chết. Lực lượng 1 Dã Chiến đã ước lượng hơn 700 lính csbv đã chết, phần lớn do phi pháo. Sau này các TL Việt-Mỹ đã biết rằng sđ 1 csbv đã chấm dứt trận đánh trước dự tính do tân binh mới bổ sung thiếu kinh nghiệm, thiếu lương thực, bịnh tật gia tăng do mùa mưa, cũng như khan hiếm vũ khí đạn dược. 

Các TL Mỹ đã khen ngợi thành tích chiến đấu của Nam quân tại Đức Lập. Tướng Peers đã đặc biệt khen ngợi TĐ 1 và 2 của trung đoàn 45 đã "chứng tỏ tính chuyên nghiệp và một tinh thần chiến đấu ko thua bất cứ đơn vị nào trong lịch sử chiến tranh VN." Tướng Abrams, TL quân đội Mỹ tại VN đã gọi thành tích của Nam quân  "tuyệt vời" và rằng tướng Ân đã chỉ huy (handle) trận Đức Lập "với tài năng tuyệt vời" (consummate skill). Bất hạnh thay, một tai nạn máy bay đã cướp đi cuộc sống của ông và phu nhân vào ngày 8/9/1968. Ông đã được truy thăng thiếu tướng và trao tặng huy chương cao quý nhứt của QLVNCH."

. . . 

San Jose ngày 4 tháng 5 2023.

Tài Trần