Showing posts with label sư đoàn nhảy dù. Show all posts
Showing posts with label sư đoàn nhảy dù. Show all posts

Thursday, February 16, 2023

 Đàn bà dễ có mấy tay*

* Tựa do tôi đặt. Sau đây là câu chuyện rất ly kỳ của vợ chồng một sq Nhảy Dù. Sau ngày 30.4.75, ông đã bị đem ra xử bắn tại Tây Ninh (vì là chỉ huy CS Đặc Biệt của tỉnh). Ko biết vì lý do gì mà giờ chót ông được tha chết, chỉ đi tù và giải ra bắc. Thời gian ông đi tù (trên 10 năm), vợ ông chuyên tổ chức vượt biên nên sau khi ra trại vài tháng ông đã vượt biên. Trước đó bà đã sắp xếp cho các con vượt biên, kể cả vợ nhỏ và con riêng của chồng (thời của Mười Vân Trưởng Ty CA Đồng Nai). Lúc đó bà có một biệt thự ở Làng ĐH Thủ Đức, nhà có hòn non bộ (Ko biết có phải nhà mà ba tôi đã hiến sau 75) -- Tài Trần.
======
Phan Nhật Nam - Viết ngày Trung Tá Hoàng Tích Hữu Ái ra đi
Ảnh 1: Trung Tá VNCH Hoàng Tích Hữu Ái
Dẫn Nhập: Ngày 6 tháng 12, khi đứng bên quan tài Anh Đại, Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến nằm lạnh im thì dẫu là người nông nổi, hời hợt bao nhiêu cũng phải có ý nghĩ, so sánh, liên tưởng. Hình hài nhỏ thó, da trắng xanh không khí sắc, khuôn mặt lạnh lẽo bất động, thiếu hẳn bộ râu đâm mạnh mẽ quen thuôc của hai mươi ba mươi, hơn 45 năm trước.. Ở Quảng Trị, 14 tháng 9 năm 1972... Chuyển xạ, chuyển xạ, bảo thằng M48 chuyển xạ, bắn sâp cái cổng, bắn cao lên cho mấy đứa con vào...Vào... vào.. Xung phong... xung phong.. Trung Tá Phán, (danh hiệu truyền tin Phu Nhân) thúc quân ào ào lên mục tiêu, Cổ Thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị... Trung tá, trung tá.. cẩn thận coi chừng thằng vi-xi đầu trọc chuyên bắn sẻ còn đâu đây.. Người lính mang máy truyền tin lâp cập chạy theo. Tháng 9, 1995 ở Houston, Anh Đại bên trong áo sơ mi cổ lật màu tím, bên ngoài áo veste màu đen, để nguyên giày đế cao, tay cầm ly rượu, nhảy lên bàn tiệc nhà Mai Bá Trác.. Đưa em về Tả Ngạn.. Hò ơi.. (Thơ Phạm Nhuận).. Nay chớp mắt, chỉ còn thân người bất động nằm đây, và ngày mai 7, tháng 12 sẽ trở thành tro than.. Khi tôi chết đừng mang tôi ra biển.. Cho tôi về Lao Bảo, Khe Sanh.. Anh Đại à về đâu được nữa! Nước mất. Nhà tan. Mạ chết không thấy mặt. Tám mươi năm môt đời người ngắn như bữa rượu tàn, cuối cuộc. Tôi than thầm trong lòng.. Mỗi sớm mai thức dậy.
***
Đừng nghe tin ai qua đời.. Không thể đơn giản thành thật hơn khi chạm tới cửa tử/sinh. Nhưng dẫu cầu cũng không được..
Sáng 12 Tháng 12, nghe tiếng người nữ còn trẻ từ xa, số phone lạ.. Cậu Nam há, con Oanh.. con Bố Ái.. Tôi chỉ biết gật đầu, chấp nhận cũng đành.. Cho cậu lại số phone má ở Sacramento.. Cậu chỉ có số cũ ở Việt Nam..
Hóa ra ước muốn cuối cùng cũng không xong. Mỗi ngày tiễn đưa một người.. Nay đến lượt Anh Tư!
*
Một – Môt ngày cuối năm 1963, sau cơn say dẫu chỉ hai chai bia “chào bãi” nơi quán rượu nhỏ do các sĩ quan trong tiểu đoàn khoản đãi sau bữa cơm chiều dưa ra chơi ngoài Biên Hòa, tôi ra ngồi nơi tam cấp hàng hiên dãy nhà sĩ quan độc thân nhìn ra sân tiểu đoàn trải đá vụn vắng vẻ. Người lính thổi hồi kèn hết việc, hạ cờ, lá cao su rơi xao xác, lạnh cuối năm se sắt. Viên sĩ quan người dáng cao, gầy nhưng rắn chắc đi tới.. Câu là ai, ngồi đây (do tôi chỉ mặc áo T shirt), giọng kẻ cả trầm đục, trấn áp.. Tôi đứng dây.. Thưa trung úy, tôi mới về tiểu đoàn sáng nay (khi nhìn lên hai bông mai vàng đục, cũ kỷ (1963, chưa có bông mai màu đen ngụy trang cho y phục tác chiến bộ binh).. Tôi bối rối chào tay, chưa biết ứng xử ra sao với môt ông trung úy trông không dễ dàng, đơn giản. Cũng bởi mới ra trường tháng trước nơi mà môt viên chuẩn úy phụ trách hỏa thực cũng đủ tạo nên ấn tượng uy tín cấp bâc lớn. Viên trung úy nhếch nhếch hàng râu mép, môi dưới hơi đưa ra.. À cậu mới về ban sáng, trưa tôi ăn cơm nhà ngoài Biên Hòa, được nghỉ để chiều nay vào trực nên không găp, chiều nay tôi trực tiểu đoàn, cậu cần gì lên phòng trực ngoài cổng hỏi tôi.. Dạ. Môt lát sau, viên trung úy xuất hiện với môt chiếc xe đạp ghi-đông cao lênh kênh đạp vòng quanh sân tiểu đoàn.. Tôi não nề nhìn vào chiếc giường mới kéo được hai chân sau, dãy nhà trống trải, bụi bâm.. Có ông trung úy vừa rồi nói chuyên qua lại chắc cũng biết được nhiều chuyên.. Ông ấy là ai? Tên là gì? Tiếp theo ý nghĩ lãng đãng.. Tháng nầy tôi sắp được hai-mươi mốt tuổi trên giấy tờ (28/12/1942), mới ra trường ngày 23 tháng 11 trước. Lòng buồn buồn, lạnh lẽo.. Thât sự cũng không biết buồn gì, vì sao? Đến bao giờ mới được vũng vàng, tự tin như ông trung úy kia? Trung úy sao lại đi xe đạp? Người và viêc với đơn vị mới, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù sao xa lạ, khó khăn đến thế nầy!
..Tháng 8, 1964 đánh trận Bình Đại, Kiến Hòa. Tôi dẫn đầu môt trung đôi thuôc Đại Đôi 72 nhẩy xuống vườn dừa trong ầm vang tiếng nổ.. Không biết hỏa tiễn từ trực thăng hay B 40 của Viêt Công bắn lên bãi đáp; nghe tiếng viên đại đội trưởng thúc dục qua hệ thống truyền tin.. Lên đi, lên đi có “thằng 71” (Đại Đôi 71) bên trái.. Đạn ghim vào thân cây dừa, đạn chém cành lá xao xác. Tôi chỉ biết chạy lên trước hàng quân, nhảy qua những mương nước, mồm hét lớn vô ý thức... Lên đi, lên đi.. Phía trước măt loáng thoáng sau lớp khói màu xanh - Khói nhận vị trí bạn để trực thăng tác xạ yểm trợ – môt hàng lính Đại Đội71 đang loay hoay dưới mương nước.. Trung Úy Ái (thay thế Đại Úy Tô), chỉ huy Đại Đội 71 vụt đứng dậy cao hơn hẳn những người lính đang đầm mình trong nước bùn... Phía kia, phía phải, cậu chạy ra phía đó, bắn hết ga để tôi lên... Dạ dạ.. Tôi hăm hăm rẻ qua cánh phải.. Bắn! Bắn! Bên kia bờ mương có tiếng người người la thét, dãy dụa... Trung sĩ Tăng Màn Tài, trung đôi phó bò tới hổn hển.. Lựu đạn.. Lựu đạn.. Mầy (Quân nhân gốc Nùng gọi người chỉ huy) thiếu úy phải xài lựu đạn! Môt lúc sau nghe qua máy liên lạc tiểu đoàn.. Ông 701 bị “rách áo” rồi.. Đại Đội 72 cho Thiếu Úy Ki-lô (Thiếu Úy Nguyễn Trọng Kỳ) lên thay!
Vài tháng sau, sau ngày 1 Tháng 11,1964, Trung Úy Hoàng Tích Hữu Ái chống nạng vào tiểu đoàn với cấp bâc mới, Đại Úy. Đám sĩ quan vây quanh xì xào.. Hay quá , ông Râu “bắt” cái đại úy ngon quá ta! Đại Úy Ái nói lời khinh mạn.. “Cái nầy mới quý.. Đệ Ngũ Đẳng với Ngành Dương Liễu nha, chứ khôngphải “Đệ Ngũ Đẵng” đeo lỗ rốn! Có cái nầy thì bắt quan ba tất nhiên! Có tiếng phê bình từ Trung Úy Am, Đại Đội 73.. Chỉ môt viên vào đầu gối nhẹ hều mà ông bắt môt lần vừa quan ba, vừa đệ ngũ ngon ơ! Đại Úy Ái quắc mắt, nhếch râu, lên giọng đáp nhanh. “Sao anh không đưa thân cho vi-xi nó bắn để lên lon như tui?! Ông Nguyễn Khánh gắn cho tôi đấy! Anh tìm ông ta mà kiện!”
*
Hai - Không những chỉ “bắt” được lon “Quan Ba”, huy chương Đệ Ngũ Đẳng với Ngành Dương Liễu, Đại Úy Ái tiếp đi Mỹ học lớp Anh Ngữ, xong thuận tiện trở thành Sĩ Quan Liên Lạc (?). Năm 1966, về nước, Đại Úy Ái chuyển lên Chiến Đoàn 2 giữ chức Sĩ Quan Ban 4 Tiếp Vận Hành Quân, găp tôi coi Đại Đôi 93 Tiểu Đoàn 9 đang hành quân vùng Dương Liễu, Bình Dương Đông dưới chân Đèo Phù Cũ, Bình Định. Ông Râu nheo nheo mắt, giọng đóng kịch.. Cậu với tôi được “trúng đôc đắc” mới de khỏi Tiểu Đoàn 7, “Con rồng le lưỡi” – Huy hiệu của TĐ7”, nếu tiếp tục coi 71 thì chẳng phải anh Kỳ (Trung Úy Nguyễn Trọng Kỳ) mà chính tôi đã đi đong vụ Đồng Xoài (11/6/1965)! Tôi giải bày.. Vụ Đồng Xoài do bị thương từ trận An Khê (3/1965) nên tôi mới thoát, nhưng kinh nhất là cú rớt máy bay chết nguyên Đại Đôi 72 cuối năm 1965! Làm sao cậu thoát được? Tôi được chuyển về Tiểu Đoàn 9 coi Đại Đôi 93 nầy.. Đấy là trời nào phụ kẻ “có nhân”, người nào có đức có phần.. ga-lông! “Ông Râu” gât gù tự khen ngợi, cùng lúc Thiếu Tá Hùng “già”, chiến đoàn trưởng đi tới.. Râu nầy, làm sao cho tớ mấy chuyến tiếp tế chứ cứ lấy cớ trời mưa bọn trực thăng không bay vào, mấy thằng con chẳng có lương ăn, chẳng đi đánh đấm được gì sất! Đại Úy Ái giải thích rành rẽ.. “Viên Ngoại (“Đào Viên Ngoại”- Biêt danh “ông râu” gọi Thiếu Tá Đào Văn Hùng) thông cảm, Trực thăng H34 của ta bay chậm hơn máy bay bà già, hổng có máy móc ra-đa gì ráo, Đèo Nhông thì to như cái đình, trời mù căm, bay vào làm sao được?” Thế sao cậu vào được? Tôi xin máy bay của mấy anh Tây! Chẳng biết, hãy cho tớ mấy phùa tiếp tế để còn đâp tụi vi-xi của cái Sao Vàng, sao Bạc thổ tả gì của chúng (Sư Đoàn Sao Vàng, lực lượng công sản chính quy vùng Bình Định) trước khi giao lại cho ông Nam (Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam, Chiến Đoàn 3) sắp ra thế. Viên ngoại yên tâm, tôi đã vào đây được, ngày mai sẽ có tiếp tế cho cụ! Chẳng biết Đại Úy Ái làm những gì, ngày hôm sau hai chiếc H34 của Phi Đoàn Thần Tượng từ Quy Nhơn bay vào. Bộ chỉ Huy Chiến Đòan xuýt xoa khen ngợi; “Ông Râu” giải thích: Tôi nhờ HU1D của Tây hướng dẫn, H34 của ta cứ nhòm xuống đường mà bay theo, lượn qua, lượn lại như lái xe jeep vây thôi! Tây ngày trước gọi là “Vol à vue”; mấy anh Mẽo gọi là visual flight.
Nhưng “tài” của “Ông Râu” không chỉ có thế. Đầu năm 1967, Chiến Đoàn 2 bị nạn, trại gia binh nơi Căn Cứ Hoàng Hoa Thám phát hỏa. Đào “Viên Ngoại” đứng nhìn khu doanh trại cháy xém ngổn ngang, gãi chiếc đầu trọc, than thành lời.. Bỏ mẹ rồi, báo tớ đánh lính thằng Giáp (Võ Nguyên Giáp) thì tớ biết cách, chứ kiếm cái nhà cho vợ con lính ở thì tớ chịu.. Râu à, cậu lo đi, tớ hổng biết! Không biết Đại Úy Ái xoay trở như thế nào, chỉ khoảng vài tuần sau vụ cháy, sĩ quan Tiểu Đoàn 9 nhân dịp nghỉ quân tại hậu cứ, được lệnh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn.. Qua nơi khu Trại Gia Binh Chiến Đoàn 2 xem người ta làm viêc. Dẫu Tiểu Đoàn 9 trong tổ chức thuôc chỉ huy hành quân của Chiến Đoàn 1, nhưng hâu cứ Trại Trần Trung Phương, chung trong Căn Cứ Hoàng Hoa Thám. Buổi lễ được tổ chức dưới quyền chủ tọa của Trung Tá Tham Mưu Trưởng Nguyễn Trọng Bảo. Khách tham dự ngồi hai hàng ghế riêng biêt, bên Mỹ, bên Viêt. Phía Mỹ ngoài thành phần cố vấn của Nhảy Dù có thêm môt thành phần Công Binh Mỹ với hình “Đầu Ngựa Đỏ”. Đại Úy Hoàng Tích Hữu Ái đứng trước sơ đồ trại gia binh, với khả năng Anh Ngữ rành rẽ, trình bày chính xác yêu cầu, nôi dung xây dựng “Khu Gia Binh Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù”.
Tan buổi lễ, trên đường về, sĩ quan Tiểu Đoàn 9, đa số thuôc Khóa 20 Đà Lạt, (về tiểu đoàn từ tháng 12/1965) nêu thắc mắc: “Sao chỉ nghe Đại Úy Ái nói xây khu Trại Gia Binh “Lữ Đoàn 2” mà không nói gì đến “Chiến Đoàn 2” hết?” Ông Liêm “Bô”, Đại Úy Sĩ Quan Hành Quân Tiểu Đoàn 9 bô bô giải thích: “Cha “râu” kia xin công binh Mỹ yểm trợ xây “trại gia binh lữ đoàn” thì mới có giá! Chứ xây trại gia binh chiến đoàn thì được mấy cái lều vải thôi! Râu nầy ma-le lắm! Tớ cũng “râu” nhưng mà thua giả xa!
*
Ba - Nhưng dẫu không ngoan đén đâu Ái “Râu” cũng có lần lâm nạn! (Đoạn kể sau không có mục đích tung hô, phê phán ai, chỉ do người thật viêc thật, cần kể ra cho đầy đủ). Tháng 4, 1968, Chiến Đoàn 2 cải danh Lữ Đoàn dời từ căn cứ Hoàng Hoa Thám, Tân Sơn Nhất về đồi Long Bình, trước Nghĩa Trang Quân Đội. Căn cứ chiếm môt khu đồi hùng vĩ gồm Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn, Tiểu Đoàn 11; Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh; Đại Đôi 2 Trinh Sát và Đại Đôi 2 Quân Y. Dưới chân đồi trại gia binh của các đơn vị trực thuôc. Toàn khu doanh trại và trại gia binh đồng chỉ có những dãy nhà tôn san sát; mái tôn, tường cũng bằng tôn bốc hơi nóng lung linh. Lữ Đoàn Trưởng danh hiêu truyền tin Long Phụng, vốn từ Tiểu Đoàn 3, khu doanh trại đóng tại Ngã Tư Bảy Hiền trong vườn cây cao su xanh bóng mát. Tiểu Đoàn 3 do Đại Úy Phan Trọng Chinh đưa từ Bắc vào Nam sau 20/71954 vốn là môt đơn vị kỳ cựu hàng đầu của binh chủng, được mang Giây Biểu Chương Bảo Quốc màu Tam Hợp. Doanh Trại nơi Ngã Tư Bảy Hiền, Trại Phạm Công Quân là một doanh trại mẫu. Nên xếp lớn Long Phụng không thể chịu nổi mái tôn trần trụi liền hạ lênh cho “Ông Râu”: Toa làm sao có cái nhà cho cho moa với Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn chứ ở trong lò bánh mì như thế nầy chịu sao nỗi! Ái “Râu” đáp chắc: “Cụ yên tâm, tôi biết cách vòi nơi Phòng 4 Sư Đoàn và Cục Công Binh để sớm có cái nhà tốt tốt cho quý vị.” Ông hiểu lời nói của xếp (mới) là môt lênh khẩn chứ không phải là yêu cầu bình thường vì đã từng chứng kiến cảnh tượng ngày Long Phụng từ Tiểu Đoàn 3 về thay Đào “Viên Ngoại” chỉ huy lữ đoàn. Hôm đó, Trung Tá Hg gầm lên.. “Đéo mẹ Hg đi nhẩy dù từ cai lên trung tá, Hg đéo thua môt trân nào, năm sáu-nhăm (1965) có chơi nghịch tương trái lựu đạn khói vào lều của giả (Đại Tá Dư quốc Đống, Tư Lênh Sư Đoàn Dù), giả cũng chỉ cho tớ đi nằm tù quân kỷ 8 ngày, cuối cùng cũng phải đưa chiến đoàn cho tớ.. Đéo mẹ thế thì tại sao nay lại bắt tớ giao lữ đoàn cho thằng Lc?!“Trung Tá Cn, Tiểu Đoàn Trưởng 11 còn mạnh mẽ hơn... Ông ném chiếc nón đỏ xuống đất, dẫm lên, và dẫu là môt người hiền cũng phải nói lời uất giân.. “Đ.. má tôi đội cái nón đỏ từ mầy mươi năm nay, không một ngày vắng mặt chiến trận, nếu ông già (Trung tá Hg) đi thì tôi phải điền vào chứ, tôi ở chiến đoàn nầy từ ngày thành lâp kia mà!” Long Phụng đáp lại tỉnh: “Hai ông về sư đoàn mà kiện, tôi chỉ biết nhận lệnh về đây bàn giao lữ đoàn” Cuối cùng, hai trung tá Hg và Cn chuyển ra bộ binh giữ chức trung đoàn trưởng; ông Hg về Sư Đoàn 25 dưới quyền Tướng Phan Trọng Chinh, cựu Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3 Dù; ông Cn về Quân Khu IV nhận Trung Đoàn 33, dưới quyền của ông anh, Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh. Thôi cũng nhẹ đi mối hận xa rời Lữ Đoàn 2.
Phần Ái “Râu” thì hiểu tình thế: Xếp (mới) Long Phụng không phải là Đào “Viên Ngoại” dễ tính xuề xòa ngày trước. Nhưng ông tin tưởng mình có đủ “phép” để ứng xử. Và không biết ông ra những “phép” gì, như thế nào mà cơ ngơi hâu cứ Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn được thổi nhanh thành môt chốn lẩu hồng thanh lịch (quét vôi màu hồng đỏ), tường xây, trần lót ván ép (do vật liệu thăng dự lần nhờ công binh Mỹ xây dựng trại gia binh Lữ Đoàn 2 nói trên) khiến Team Cố Vấn Mỹ phải hãnh diện đặt danh hiêu chính thức Red Hat Hill/Đồi Mũ Đỏ, khiến Bộ Tư Lênh Sư Đoàn và Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn cùng lính tráng chẳng ai xử dụng đến danh xưng Căn Cứ Nguyễn Huệ. Tết 1968 sang 1969, Red Hat Hill được lựa chọn làm nơi chốn liên hoan không những riêng cho Lữ Đoàn 2 mà còn có khách từ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, Căn Cứ Hoàng Hoa Thám, Tân Sơn Nhất xuống. Tất cả đều trầm trồ khen ngợi “Tư Râu” (do lên thiếu tá cuối năm 1968) về tài biến nhà tôn nên thành nhà gạch mau chóng ngoài bảng cấp số!
Ngày Tết, nhóm sĩ quan Lữ Đoàn 2 chúng tôi chứng kiến cảnh Long Phụng và Tư “Râu” nằm gác chân uống trà, bình thơ, luận anh hùng kiểu Tào Tháo và Lưu Bị trong truyện Tam Quốc ngày trước. Hải “Khều” (Sau chuyển về giữ Ban 3 Tiểu Đoàn 11 ND, người “không chịu” ở lại Charlie, 4/1972) đưa ra nhận xét (khá) chính xác: Cứ như Độc Cô Cầu Bại và Đông Phương Bất Bại luận kiếm! Đố biết ai hơn ai?!
Năm 1969 Lữ Đoàn 2 trong khuôn khổ Sư Đoàn Nhẩy Dù phối hợp hành quân chung với Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ trách nhiệm hai tỉnh Tây Ninh, Phước Vĩnh (để chuẩn bị kế hoạch vượt biên đánh qua Campuchia, 1/5/1970), chúng tôi sĩ quan Ban 3 Lữ Đoàn phải luôn bận rộn (24/24) vì hoạt động phối hợp với Lữ Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ (Tổ chức cấp Lữ Đoàn Không Kỵ Mỹ có trực thăng, chiến xa, súng 175 cơ hữu) không kịp thấy ra tình hình “cơn bão âm thầm” trong nội bộ lữ đoàn.. Các sĩ quan cho dẫu được cách thân thiết riêng với Long Phụng lần lượt ra đi, và Tư “Râu”, đang kiêm nhiệm hai chức Trưởng Ban 1 và 4 với khả năng giao tế, tổ chức, tham mưu của một tham mưu trưởng trong giai đoạn (rất) cần thiết phối hợp với Lữ Đoàn Không Kỵ Mỹ bỗng nhiên “phải” đi học tham mưu! Khôi Nguyên, Khóa 16, Trưởng Ban 3 (sau nầy là Tiểu Đoàn Trưởng TĐ7ND, Tháng 4/1975 là Lữ Đoàn Trưởng LĐ2ND) nói riêng với Nam Xương (cũng không còn ai trong lữ đoàn để nói cùng).. Chẳng biết ông Long Phụng tính cái gì mà đưa Ông Râu đi trong lúc nầy; thôi toa với moa chỉ lo chuyện với mấy anh Phòng 3 của Mẽo là đủ mờ người! Nói Không được là nói không được đâu! Khôi Nguyên dùng lại câu than của nhà sư “Nói Không Được” trong chuyên kiếm hiệp của Kim Dung một cách khía cạnh! Quả tình không biết (cái gì) làm sao để nói? Và nói cái gì?
Cuối năm 1969, Tư “Râu” mãn khóa tham mưu trở về trình diện Long Phụng đang hành quân ở Tây Ninh. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 đóng trong môt ngôi nhà lầu của Tòa Hành Chánh Tỉnh, Long Phụng có phòng riêng trên lầu. Ông “Râu” trình diện Long Phụng với quân phục thẳng nếp, huy chương hai tầng với Đệ Ngũ Đẳng, Quân Công Bội Tinh xếp cao nhất. Nhưng Thiếu Tá Hoàng Tích Hữu Ái “không (được) gặp” Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng, ông chỉ “nhận lênh” từ vị phu nhân “nhỏ” từ trên lầu nói vọng xuống (phu nhân “lớn” ở đâu chúng tôi không hề găp).. Thiếu Tá Ái, Đại Tá nói ông về đi! Mai tới! Bi hài kịch lâp lại đến lần thứ ba. Sức người chịu đựng có hạn. Thiếu Tá Hoàng Tích Hữu Ái đi về đâu? Chúng tôi không biết.
Năm 1970 hành quân đánh sang Campuchia qúa lớn, không ai tìm hiểu, để ý đến người và việc chung quanh. Năm 1971 đánh Hạ Lào, Năm 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa.. Chỉ nghe kể lại có môt ngày.. Trung Tá Hoàng Tích Hữu Ái về thăm Red Hat Hill/ Đồi Mũ Dỏ với xe hộ tống xe jeep chỉ huy. Chỉ khác, lính hộ tống măc quân phục rằn ri của Cảnh Sát Dã Chiến thay vì của Nhảy Dù. Lính nào cũng là lính. Cũng biết thêm, xe jeep chỉ huy của Trung Tá Ái có hai cần câu liên lạc; máy truyền tin kêu rất to chứng tỏ máy đang làm viêc với những giới chức, cơ quan quan trọng. 30 Tháng 4, 1975 sập xuống, Trung Tá Hoàng Tích Hữu Ái, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Đặc Biêt đóng ở Tây Ninh bị đưa ra cột xử bắn. Ông không bị hành quyết một mình nhưng với nhiều đồng sự, và một nhân sự đăc biêt, Bà Hoàng Tích Hữu Ái, Chị Tư Ng Ln mà bản thân người viết có liên hệ thân quen từ 1963 ở Biên Hòa. Câu chuyện sắp viết ra sẽ kết thúc bài viết khá dài nầy.
*
Hồi Kết Cuộc – 29 Tháng 5, 1988 tôi được tháo cùm, cho ra khỏi phòng kiên giam Trại Nam Hà theo các vị tướng, Đỗ Kế Giai, Lê Minh Đảo, Lê Văn Thân, Phạm Duy Tất, Phạm Ngọc Sang, Huỳnh Bá Di, và gần 100 sĩ quan vốn là nhân viên ngành tình báo, cảnh sát đặc biêt chuyển về Nam.
Trại Nam Hà chỉ còn vài người tù chính trị gây án sau 30/4/1975 như Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Văn Lý; tuy nhiên cũng có vài người tù đặc biêt bị giam giữ từ trước 1975 như Nguyễn Chí Thiện (Bắc); Nguyễn Hũu Luyện (Nam). Về đến Trại Z30 D, Hàm Tân, Thuận Hải, tôi được chỉ định những chức vụ “phụ tá”: Phụ tá Đại Tá Trần Văn Phấn coi Thư Viện; phụ tá Bác Sĩ Tôn Thất Sang coi Phòng Y Tế; và cuối cùng,phụ tá Tổ Căng-Tin thuộc Ban Thi Đua Trại phụ trách vận chuyển hàng hòa, bán hàng cho trại viên.. Tất cả nhiệm vụ “phụ tá” nầy cốt làm cho tôi “khỏi phải suy nghĩ, tính toán nầy nọ” vì nếu tiếp tục “kiên giam” như tám năm qua từ 1981 cũng...vô ích! Mà lấy cớ gì để (tiếp tục) kiên giam?! Viên giám thị trưởng trại tính đâu ra đó mà quả tình cũng đúng - Tôi rất bằng lòng với tất cả nhiêm vụ “phụ tá” miễn sao đừng bị cùm tiếp! Sức người có hạn. Tôi nói với Bác sĩ Tôn Thất Sang, Trưởng Phòng Y Tế: Ông cho tôi làm gì cũng được, đến năm tù 14 nầy thì coi như..xù. Bác Sĩ Sang an ủi: Cho ra phòng y tế tức là sắp về rồi đấy! Ngày trước ông Ái cũng vậy. Ông Ái nào? Ông Ái nhảy dù. Phải Ông Ái cao cao, da đen, có râu mép phải không. Ông ấy đấy. Ông ta trước ở Nhảy Dù với tôi, sau qua cảnh sát đặc biệt, biết gì về thuốc thang mà vào tổ y tế?! Moa đâu biết, mấy năm trước ông ấy từ ngoài Bắc về như toa năm nay xong trên Ban Giám Thị chỉ định vào đây phụ tá cho moa, nay ông ấy về rồi.
19 tháng 1, 1989 tôi ra khỏi trại như dự liệu của Bác Sĩ Sang. Trong trí não lãng đãng bất định, có lúc tôi nghĩ.. Sao mình và ông “Râu” cứ đi chung môt đường như vây kìa? Mà đúng như thế thật, môt ngày sau lần ra tù, từ nhà 46B Công Lý (sau 1975 nhà nước Viêt công đổi thành Nguyễn Văn Trỗi) của bà mẹ vợ, tôi đi bộ dọc con đường ngày cũ, định bụng đến nhà niên trưởng Mặc Thu (bên cạnh cây xăng) góc đường Công Lý/Nguyễn Huỳnh Đức (NvTrỗi/Huỳnh Văn Bánh, sau 1975) đến trước căn nhà sơn màu xanh nhạt, cửa sắt kéo kín và thấy ra Ông Ái “Râu”, một Tư “Râu” ngày trước tươi tỉnh, áo sơ mi vàng, quần jean, râu mép xanh đen tỉa gọn không có dấu vết gì của “hậu 30/4/1975”.. Anh Tư! Trời đất! Đến tình cảnh nầy mà ông còn vui chơi như thế sao? Tư “Râu” gắt vui: Vui chơi cái gì? Tôi chỉ vào căn nhà.. Chỗ nầy chơi bời mà! Ấy đừng nói nhãm, nhà của tui mà cha! Tôi nhớ ra, bây giờ, 1989 chứ không phải là thời gian của trước 1975!
Ông Râu đưa tôi vào nhà, giải bày.. Tết qua 1988, tôi ra tù, nhà nầy là của bã, tôi chỉ ở ké! Tôi nói rõ nguyên do sự nhầm lẫn.. Vì nhà nầy ngày trước là chỗ chơi bời có tiếng vùng Phú Nhuân nầy, nhà tôi ở đằng kia, số 46B nên biết. Anh biết mấy chỗ trời đánh nầy chứ tôi ở Biên Hòa làm sao biết được. Tôi ở đây là giữ nhà cho bã. Bã nay giàu lắm! Giàu là sao anh Tư? Hổng biết, tui cũng đi tù như anh mà. Ra tù năm 1988, tui về đây coi nhà cho bã thôi. Tui bây giờ cũng như mọi người.. Trên răng dưới dế. Răng thì răng giả. Dế thì dế teo! Hê! hê! Hàm ria mép nhấp nháy.. Ông Ái trở lại với Tư “Râu” trước 1975 không một chút thay đổi. Tôi sợ anh Tư rồi. Tôi thú thật. Đời mà toa. Moa đã dựa côt xử bắn rồi, moa sợ còn sợ chó gì nữa?!
Môt thời gian sau, tôi gỏ của căn nhà màu xanh đường Nguyễn Huỳnh Đức/Huỳnh Văn Bánh. Lần nầy, Bà Ái, chị Ng Ln ra mở cửa.. Ủa anh đâu rồi chị Tư (Tôi quen gọi danh xưng “Chị Tư” từ lúc ông Ái lên thiếu tá ở Lữ Đoàn 2, 1968/1969). Ông đi rồi. Đi đâu chị? Đi qua bên trại Thái Lan! Trại tỵ nạn đóng cửa rồi mà?! Tôi “cho người đưa ông” đi. Ông tới nơi rồi. Chỉ đợi ngày vào Mỹ! Tôi nghĩ thầm trong lòng. Có môt điều gì “rất lạ” nơi người phụ nữ nầy, Người đàn bà bình thường mà tôi thân quen từ 1963, 1968? Chị Tư giải tỏa thắc mắc.. “Tui phải lo cho ông từ năm “bảy mươi lăm”, chứ không thì làm sao mà sống yên được trong tình thế nầy hở chú? Nay phải tính tiếp cho ông qua Mỹ cho xong (1989, chương trình HO mới nghe từ tin đồn, chưa có chuyển động cụ thể). Khi nào chú cần gì xuống dưới Thủ Đức găp tôi. Tui với chú biết nhau lâu, mình lại là người Huế vói nhau; từ 1963 ở Biên Hòa nhà tui với nhà cô Dg, vợ chú ngày trước chỉ cách nhau mấy căn trên đường Quốc Lộ I. Giọng bình thường, tự tin và thành thât. Mà tôi thì cũng không còn gì để mất.
Tết 1990 qua 1991, công an công sản Sài Gòn không hiểu do từ môt kế hoạch gì lùng bắt tất cả thành phần văn nghệ sĩ, trí thức Sàigòn thêm môt lần cuối (tổng cộng khoảng 25 người, điển hình với Như Phong, Nguyễn Đan Quế, Tô Thùy Yên..) Tôi thoát nạn do không có chỗ ở nhất định, trốn vào nhà người bạn họ Nông nơi Làng Đại Học Thủ Đức. Nơi chỗ tạm trú, ngổi trước bàn thờ Phật trên căn gác nhỏ tôi nói ra lời.. Đến tuổi nầy mà còn bị tù như ông Ba (Như Phong) thì chịu sao nổi anh ơi?! Trong tuyệt vọng, đơn độc, giữa bóng tối vo ve tiếng muỗi, tôi nhớ ra địa chỉ nhà chị Tư cũng nơi vùng Thủ Đức nầy.
Căn biêt thự lớn hơn trí tôi nghĩ ra, hòn giả sơn bề thế với hai khối tượng Phật Bà Quan Thế Âm, Mẹ Maria bằng đá đứng bình yên hai bên khu vườn rộng. Tôi hiểu thêm môt lần: Tôi được che chở bởi ơn Thánh như đã nhiều lần lâp lại trong đời. Chị Ng Ln đón tôi không ngần ngại.. Vào đây, chú ở dưới nhà ngang kia, tui ở trên nầy. Có mấy cháu bên Mỹ hay về ở với tui. Chú ở đây, tui sẽ tính được cho chú như đã lo cho ông Ái. Môt mình chú không khó khăn gì cả. Chú nhớ cô Ng bán Câu Lạc Bộ Không Quân trong Phi Trường Biên Hòa không? Tôi nhớ, cô nhỏ nhỏ bồ ông Ái lúc còn ở Tiểu Đoàn 7. Không phải là bồ mà vợ nhỏ ông Ái đó. Tôi lo hết tất cả, năm mấy đứa nhỏ nhà nầy vượt biên, tôi cho cô đó với thằng con riêng của ông Ái đi theo, và cả bồ của cô nữa! Cả thảy 16 người, phần con tui chỉ có 7 đứa, mấy đứa nhỏ lúc ở Biên Hòa chú hay tới chơi.
Khi ngổi trong khu nhà ngang yên lặng, tôi nhìn ra bước Tượng Phât Bà và Mẹ Maria với ý nghĩ.. Người Đàn Bà Lớn không phải do những kỳ tích, nhưng do họ Thương Chồng-Thương Con. Ở đây, Chị Tư Ng Ln, vợ ông Hoàng Tích Hữu Ái còn biết thương con riêng của chồng/ Mẹ đứa con riêng/ Người tình của người đàn bà trong nghĩa bình thường phải là “tình địch”. Chị Ng Ln thương người một cách bình thường. Thương tự nhiên.
Những ngày bình yên nơi căn biêt thự ở Thủ Đức khi ngồi ăn sáng (thường chỉ là cơm và cá kho khô theo kiểu người Huế còn lại của ngày hôm trước) với chị Ng Ln nghe ra những câu chuyện, kể với giọng thản nhiên như viêc bình thường của một người đàn bà nào đó.. Thoát chết với ông ngày 30/4/1975 ở Tây Ninh, đến giờ tôi cũng không biết tại sao nó không bắn, tôi chỉ đoán có thể để khảo của! Ông bị đưa đi tù ở đâu tôi không biết, tôi về nhà ở Biên Hòa, cái nhà mở tiêm phở cách nhà chú bên kia cổng xe lửa đường Quốc Lộ I thì bị tịch thu. Mẹ con tôi bị đuổi ra đường chỉ có được bộ áo quần trên người! Con bé Th đâu được 10 tuổi.. Tôi ngồi im không ý kiến, tưởng ra cảnh của Miền Nam sáng ngày 30tháng 4, 1975 – Ngày thật chết của quê hương – Mỗi người chết môt cách. Mỗi nhà chết môt cách. Chết thật với Mỗi Tội – Tội làm người Miền Nam!
Chị Tư Ng Ln giải bày tiếp.. Đêm ngủ không dám nghĩ đến ngày mai. Ngày mai phải làm gì. Như thế nào? Chồng không biết sống chết nơi đâu. Con còn quá nhỏ. Thế nhưng, tôi đâm ra tỉnh táo. Rất tỉnh táo. Vì tui mà sụm thì con tôi ai nuôi? Chồng tui ai cứu? Mà không chỉ vây, bà chị tui, bà Hg như chú biết thì chậm chạp cả đời không biết chuyên gì ngoài cái bếp! Sống sót lần hồi qua được mấy năm sau 1975 đến khi có phong trào vượt biên thì tôi biến thành môt người sành sỏi trong nghề - Nghể tổ chức vượt biên.
Tôi được người ta tin cậy do tính thật thà, cũng bởi với người khác mười vụ thì hơn môt nửa là đồ dởm, chỉ cốt lấy vàng của người vượt biên. Tôi làm chuyến nào cũng trót lọt, mà trước tiên là cho mấy đứa nhỏ của tôi đi thoát, cũng lo cho cả mẹ con cô Ng như chú biết, và mấy bà nữa của ông Ái! Nhưng còn nạn hải tăc, cướp biển đâu phải dễ dàng, suông sẻ hở chị? Cái đó thì chịu, chỉ biết cầu trời thôi. Chú thấy hai tượng Phât Bà và Mẹ Maria đó. Không Tin Không Được. Tui được phù trợ nhiều phen, nhưng cũng không tránh khỏi tai họa, thằng lớn bị nạn, chỉ còn mấy nhỏ gái đi thoát, bây giờ chúng ở Sacramento, vài bữa con Oh về, chắc chú nhớ ra, nó có tên Mỹ là Carina.
..Nhưng sự đời không bao giờ êm xuôi, tổ chức vượt biên bị bể, tôi phải vô tù, ông Mười Vn, người bảo trợ tổ chức bị xử bắn. Ai bắn chị Tư? Tôi rúng động bởi thấy ra cốt lỏi của tấn thảm kịch. Mấy người ngoài Bắc, bởi số vàng thu vào lớn quá, cả môt vùng Miền Đông bao gồm Sài Gòn và các tỉnh ngoài Trung đều vào Biên Hòa tìm đường vượt biên, Chắc chia chác không đều sao đó, cái nầy quả tình tôi không biết. Chị đi tù bao lâu? Không lâu, bởi tôi tìm cách ra được?! Là sao? Thì nhân bà ngoại mấy đứa mất và tui xin phép trại giam về nhà làm tang.. Được hai ngày phép, tôi bay ra Hà Nôi, kêu đúng nơi, gõ cửa đúng người sau đó trở vể Sài gòn tôi đi Mỹ luôn! Trời đất còn đám tang ai lo? Đám tang “chỉ là cái cớ” thôi chú! Mà bà ngoại có chết thệt không. Cái nầy chú không cần biết, nhà có quan tài, bàn thờ bà ngoại cẩn thận không thiếu gì hết! Trước khi bay ra Hà Nôi tui đến lạy bàn thờ đàng hoàng, có chụp hình làm chứng! Tôi nhìn ra hai khối tượng ngoài sân nắng, nói thầm.. Lực bảo vệ che chở soi sáng từ Ân Thánh đối với chị Tư Ng Ln quả có thât. Chị Tư kể tiếp.. Lẻ tất nhiên ra Hà Nôi tui chi đẹp mà chú. Ở đây, sáng mình ăn cơm nguội với cá kho nhưng lúc cần mình phải biết chi ra không tiếc. Cũng phải có lòng thành thật nữa. Của cho không bằng cách cho.
Môt ngày hè năm 1991, chị Tư nói với tôi với cách thàn nhiên... Chú theo tui ra Nha Trang, rồi tôi lo cho chú đi luôn, đi tàu lớn an toàn đến nơi đến chốn. Cũng bởi, ở Sài Gòn có người than phiền với tôi về vụ cô Th thường hay đến thăm chú. Không nên dính vào cô ấy, vì đó là người của ông Hai Kh.
Tôi hiểu ngay sự viêc không ổn đã xẩy ra, vì Hai Kh là nhân vật đã từng gây sự thẳng thừng với Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn NVLinh (trước khi lên giữ chức TBT). Tôi đi Nha trang với chị Tư lòng không thắc mắc. Coi như chuyến đi chơi. Đi thoát được thì tốt không thì xin hộ khẩu về ở luôn nơi Lái Thiêu. Sau môt đêm ở Nha Trang, sáng hôm sau hai chúng tôi lên Đèo Cả. nơi môt công trường khai thác gỗ đang hoạt đông. Chị Ng Ln nói rõ.. Tui khai thác gỗ ở đèo nầy, xong sẽ trồng rừng mới lấy gỗ kỹ nghệ xuất khẩu. Chú thấy mấy chiếc tàu dưới bãi Đại Lãnh kia không.. Tàu của Nhật, của Đài Loan đợi lấy gỗ đó, tui sẽ gởi chú đi với họ. Một công hai viêc, hôm nay tui lên đây là để đợi lấy thuốc nổ cho người ta phá rừng. Bình thường tui chỉ ở dưới Nha Trang lo công việc.
Đợi đến chiều không thấy xe chở thuốc nổ đến, chị Tư lộ vẻ nôn nóng chờ đợi, cuối cùng, chị quyết định.. Thôi tôi với chú về lại Nha Trang coi có gì không, sao tôi thấy lo lo! Trên khoảng đường sắp đến đèo Rù Rì môt cảnh tượng kinh hoàng bày ra.. Chiếc xe hành khách bị lât tung, người chết, bị thương nằm la liêt, máu đổ, đồ đạc,vương vải, tung tóe.. Xe lowboy chở thuốc nổ lât bánh nằm ngang măt lộ, thuốc nổ TNT vàng óng phủ đầy măt đường một quảng dài. Chết rồi! Chị Tư hơi run giọng, tấp xe bên cạnh đường.. Chị xuống xe, đi dọc theo con lộ, nhìn đống thuốc nổ không cảm giác. Chị ngồi xuống lề đường, bứt mấy lá kẹo Tây bỏ lên miệng, nhai nhỏ.. Chú lái cho tôi nha, mình về Sài Gòn. Về đến biêt thự Thủ Đức trời đã gần sáng. Chị Tư nói gọn.. Cậu ở nhà nghỉ ngơi, lát nữa tôi đi Hà Nôi. Chiều tôi trở về, mình ra lại NhaTrang. “Cậu” lái giùm tôi nha, tôi mệt quá. Giọng mệt mỏi vì mất ngủ, đường xa nhưng không chút lo âu, băn khoăn vì sự việc xẩy ra. Trong chyến đi từ Nha Trang về Sài Gòn vừa rồi không một lời than van. Không một tiếng tắc lưỡi.
Đến chiều tối, Chị Tư Ng Ln từ Hà Nội trở vào.. Mình đi Nha trang “chơi” chuyến nữa nghe “cậu Nam”. Ít khi chị gọi tên tôi đầy đủ. Tôi để ý danh xưng “cậu Nam” được dùng thay thế cho “chú” môt cách cố ý.Trên đường qua Phan Rang lúc nửa đêm về sáng, Chị Tư tỏ vẻ muốn môt điều gì.. Có gì không Chị Ln? Rất hiếm khi tôi kêu đến tên chị. Cậu kiếm cái quán nào đó cho tui ăn cái gì, cả ngày nầy có ăn gì đâu?! Sau khi ăn tô cháo ở chiếc quán bên đường, chị mượn chiếc ghế gỗ dài nằm xuống, úp chiếc nón lên mặt. Ngủ thiếp, thở đều. Tôi ngồi ngoài xe liếc vào quán nói ra lời: Bà chị đáng mặt thât! Từ 1963, 1968.. tôi đâu thấy dấu hiệu gì khác ở chị đâu? Chị Ngọc Lan.
Sau 30 tháng 4, 1975 có những Người Mẹ như thế. Có những Người Vợ như thế nơi Miền Nam.
Có rất nhiều.
Viết ngày Trung Tá Hoàng Tích Hữu Ái ra đi.
12/12/2020- 6/1/2021
Phan Nhât Nam
May be an image of 1 person, military uniform and text
Like
Comment
Share

Wednesday, January 27, 2021

Trong lịch sử quân sự thế giới, ko gì khó bằng lui quân, ngay cả được tổ chức kỹ lưỡng. Cuộc lui quân tại quân đoàn 1 và 2 chẳng những đã ko có yếu tố trên lại mà có dân di tản lẫn lộn chung với đoàn quân thì tan tác là điều hiển nhiên.


- Người dân Quảng Trị và Thừa Thiên luôn nghĩ rằng Nhảy Dù cần thiết để bảo vệ vùng 1, và khi thấy Nhảy Dù rút đi là họ đã đi theo. Khi dân chạy thì ĐPQ và NQ rút theo. Nhiều lính bộ binh cũng bỏ đơn vị để tìm gia đình. - Trích từ sách Black April.

SÁNG NGÀY MƯỜI BẢY THÁNG BA, một đợt sóng dân tị nạn đã tới Huế mang theo tin tqlc đột ngột rút quân. Và ko chỉ có dân thường. Tướng Thi đã viết "việc tqlc rút đi đã có một tác hại nghiêm trọng đối với lòng can đảm và tinh thần của các đv ĐPQ." Lính ĐPQ của Quảng Trị, đã chiến đấu dũng mãnh trong hai tuần trước đây chống lại đợt tấn công đầu tiên, nay cảm thấy BỊ BỎ RƠI. -- Trích từ sách đã dẫn.

- "Các anh không được để địch quân an toàn rút khỏi khu vực bắc Huế, và mang theo mọi người dân, bao gồm những công chức phản động, về cố thủ tại Đà Nẳng, bởi vì khi ấy ta sẽ gặp nhiều khó khăn"-- Lịnh của Giáp gửi các tư lịnh CS ở quân khu I VNCH. -- Trích từ sách đã dẫn. 

- Ngày 8/3/1975, tại đồi 51 ở bắc Thừa Thiên một trung đội tqlc VNCH, đẩy lui nhiều đợt xung phong của trung đoàn 4 của mặt trận B-4 csbv. Khi sắp bị tràn ngập, thiếu úy trung đội trưởng đã kêu pháo binh bắn lên vị trí. Ngày hôm sau TĐ 4 tqlc đã phản công, với yểm trợ của không quân, gây cho địch trên 100 chết và tịch thu nhiều vũ khí.-- Trích từ sách đã dẫn. 

                                


BẢN ĐỒ VNCH VỚI BA NỘI PHẬN (ENCLAVE) ĐÃ DỰ TRÙ GỒM HUẾ-ĐÀ NẲNG, TAM KỲ-CHU LAI, VÀ QUẢNG NGẢI. 

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 275 tới 287 của sách đã dẫn.

===

"Tuân lịnh của tướng Giáp, mặt trận B-4 đã cho xâm nhập đặc công, cán bộ chính trị, và năm TĐ bộ binh vào vùng đồng bằng. Sau khi tiến hành tập trận giả gần Cửa Việt, trung đoàn 9 sđ 304 csbv, di chuyển về Thường Đức ngày 6 THÁNG BA năm 1975. Họ sẽ thay thế một trung đoàn của sđ 324 ở Thường Đức, và trung đoàn này của 324 sẽ chuyển về phía bắc để tham chiến tại vùng đồi núi nam Huế. Tướng Nguyễn Hữu An muốn sđ 324 có đủ cả 3 trung đoàn để đánh bại sđ 1 vnch và tạo điều kiện để sđ 325 tràn xuống QL-1.  

NGÀY 8 THÁNG BA, quân địa phương của cs đã mở nhiều trận tấn công suốt Quảng Trị và Thừa Thiên. Tại bắc Quảng Trị, phần lớn các vị trí của đpq đều giữ được, trừ một tiền đồn bị mất, tuy nhiên quân cs đã xâm nhập vào khu vực phía đông QL1. Có 15 xã bị mất, nhưng các lực lượng đpq THIỆN CHIẾN của Quảng Trị đã đẩy lui chúng trong HAI NGÀY. Tại bắc Thừa Thiên, thành công của bắc quân ko đáng kể, trừ một mục tiêu quan trọng, ĐỒI 51, do một trung đội tqlc trấn giữ, đã kể ở trên bị tràn ngập sau một trận ác chiến. Dù thiếu úy trung đội trưởng tử trận nhưng trung đội đã làm chậm bước tiến của đối phương. 

Tại đông nam Huế, hai TĐ quân địa phương của cs đã xâm nhập phòng tuyến của vnch và tiến về bờ biển. Nhiệm vụ của họ là tiêu diệt hạ tầng cơ sở của CP trong khu vực. Bắc quân đã tiến vào một số làng, kêu gọi dân chúng nổi dậy chống "bọn áp bức". Dân làng đã nhanh chóng từ chối kêu gọi này. Tướng Lâm Quang Thi, tư lịnh phó QĐ 1 đã tổ chức một lực lượng đặc nhiệm để tái chiếm phần đất đã mất, diệt một TĐ và gây thiệt hại nặng cho TĐ kia. 

Tổng quát, những cố gắng ban đầu của cs tại Quảng trị đã chấm dứt trong thất bại ảm đạm (dismal failure). NGÀY 12 THÁNG BA, tàn quân này đã rút về vùng núi. Thành công duy nhứt và có ý nghĩa của cs là trận chiến ở bắc Quảng Trị đã khiến 100.000 dân thường--khoảng 1/2 dân số của tỉnh--chạy về Huế. Nhiều làng dân bỏ đi hết. 50.000 người đã tới Huế NGÀY 10/3, và 50.000 đã tới NGÀY KẾ. Khoảng 20.000 dân của Thừa Thiên chạy vào Đà Nẳng. Chánh quyền của hai tp đã nhanh chóng trợ giúp dòng người tị nạn đông đảo này. Hội Chữ Thập Đỏ VNCH đã bắt đầu cung cấp thực phẩm, trong khi những cơ quan khác của chính phủ và thiện nguyện cung cấp chỗ ở và chăm sóc y tế. Những cơ quan này đã giúp đỡ hữu hiệu người tị nạn, nhưng dù có khuyến cáo của chính quyền, phần lớn họ đã từ chối trở về nhà cũ. Vì dù họ an tâm khi thấy quân đội VNCH đã phản công thành công, họ vẫn còn sợ hãi cs. Việc quân csbv năm 1972 pháo kích vào dân tị nạn trên QL-1 khi họ di tản từ tp Quảng Trị, còn được gọi là "Xa lộ Kinh hoàng", và vụ thảm sát 1968 ở Huế vẫn còn như in trong trí nhớ của họ. 

Phía nam của Huế, thời gian nổ súng của quân đoàn 2 csbv đã tới.  Dù những cố gắng vượt bực của các toán tiếp vận của Nguyễn hữu An, quân đoàn này chỉ có thể cung cấp 50/100 nhu cầu cần thiết của chiến dịch. Tuy vậy, An vẫn ra lịnh sđ 324 tấn công. NGÀY TÁM THÁNG BA, hai trung đoàn của 324 tấn công các vị trí vnch tại Núi Mỏ Tàu, trong khi hai trung đoàn của mặt trận B-4 tấn công một số đồi quan trọng khác. Trận chiến rất ÁC LIỆT. Quân csbv đã tấn công nhiều đợt vào phòng tuyến vnch. Núi Mỏ Tàu bị TRÀN NGẬP, nhưng nhiều đợt không kích, một số được đích thân điều chỉnh bởi trung tướng Thi, đã giúp quân vnch TÁI CHIẾM núi này.  

Sau HAI NGÀY chiến đấu, thiệt hại của bắc quân rất cao, và thành công của họ rất thấp. Họ đã chiếm một số đồi nhỏ, cùng với một đồi quan trọng, ĐỒI 224, cửa ngõ tới Núi Bông. Đồi 224 khống chế bờ bắc của Sông Truồi, và nằm giữa Núi Mỏ Tàu và DÃY ĐỒI MOM KUM SẮC, khống chế bờ nam của sông này, dãy đồi này trấn giữ bởi TĐ 61 và 60 BĐQ đã kể trong bài trước đây--người dịch. Khi một tđ của sđ 1 trấn giữ ở đồi 224 bị tràn ngập, trung tướng Thi ra lịnh phản công. Sau đó sđ 1 đã TÁI CHIẾM nửa đồi 224, trong khi Mỏ Tàu và phần lớn các đồi này vẫn còn trong tay của Nam VN. Nhìn chung, chiến lược phòng thủ mới của sđ 1 TỎ RA HỮU HIỆU, và sđ 324 đã rút lui với TỔN THẤT NẶNG. 

Trên các mặt trận khác của tướng Trưởng, bắc quân ko có hoạt động đáng kể ở khu vực trung tâm của quân khu 1, nhưng họ đã thành công khi tấn công vào điểm yếu nhứt của quân vnch, đó là đpq bảo vệ quận lỵ TIÊN PHƯỚC.  Sau khi bí mật tập trung toàn bộ sđ 2 csbv cộng với các thành phần chánh của lữ đoàn 52 từ Quảng Ngải, họ đã tấn công lúc 0:30 g sáng NGÀY MƯỜI THÁNG BA. Lúc 4 giờ chiều, họ đã đập tan phòng tuyến của đpq và chiếm quận. Những kẻ sống sót đã rút ra quốc lộ để về Tam Kỳ. 

NGÀY MƯỜI MỘT THÁNG BA, tướng Nhựt, TL sđ 2 vnch, đã bay đến Tam Kỳ để chuẩn bị phản công tái chiếm Tiên Phước. Tướng Trưởng cũng gửi quân trừ bị, LĐ 12 BĐQ, tăng cường cho Tam Kỳ. NGÀY KẾ, trung đoàn 5 của sđ 2, đến từ Quảng Ngải để chuẩn bị phản công. Tình báo kỹ thuật và tù binh csbv đã nhanh chóng cho biết qui mô của bắc quân trong khu vực, và trung đoàn 5 đã cẩn thận ngừng cuộc phản công trước khi tới gần quận lỵ này. 

Mất Tiên Phước là một cú đấm đối với Trưởng, nhưng quan tâm chánh của ông là vùng ĐỒI NÚI NAM HUẾ. Một số tù binh thuộc mặt trận B-4 cho biết rằng quân địa phương của Quảng Trị đã THAY THẾ sđ 325 dọc theo đường ngưng bắn, ý nói Sông Thạch Hản. Khi tù binh thuộc sđ 324 cho biết sđ 325 có mặt tại vùng đồi núi này, Trưởng đã nhanh chóng hành động. Ông nhận ra rằng sự có mặt của 325 cho phép bắc quân có thể tấn công NHIỀU HƯỚNG, như tăng áp lực đối với sđ 1, hay chiếm Đèo Hải Vân, hay tấn công Đà Nẳng từ phía bắc. NGÀY MƯỜI THÁNG BA, trong khi sđ 304 ở Thường Đức vẫn còn trong các bunker, ông đã chuyển 1 lữ đoàn Dù để canh giữ đường tiến sát phía bắc của Đà Nẳng; ông cũng bốc LĐ 14 BĐQ từ Quảng Ngải về Đà Nẳng để làm trừ bị cho quân khu, và chuyển một trung đoàn của sđ 3 của tướng Nguyễn duy Hinh về bảo vệ bắc Quảng Tín, trám chỗ của LĐ 12 BĐQ. 

Trưởng đã biết rất ít về sđ 304 dù sđ này đã bị thiệt hại nặng trong trận chiến năm 74 ở Thường Đức và ko còn khả năng chiến đấu (incapable of operations). Chỉ có TRUNG ĐOÀN 9 của sđ này, trên đường di chuyển từ Quảng Trị, là còn khả năng chiến đấu. Đây là THẤT BẠI thứ ba về tình báo của vnch trong chiến dịch này. ĐẦU TIÊN là tình báo sai lầm khi cho rằng sđ 308 và/hay sđ 341 đang có mặt tại đường ngưng bắn hay Sông Thạch Hản, đã khiến Trưởng đã giữ nhiều  quân hơn cần thiết tại bắc Quảng Trị. THỨ HAI là ko biết gì về việc chuyển về phía nam Huế của sđ 325. THỨ BA là ko đánh giá chính xác tình trạng của sđ 304 ở Thường Đức khiến Trưởng đã để những đv thiện chiến ở đó và, quan trọng hơn, ảnh hưởng đến việc điều quân của ông. Với sđ 304 đóng quân ở tây Đà Nẳng, Trưởng đã tin rằng ông phải tập trung một lực lượng án ngữ đáng kể để phòng thủ Đà Nẳng, và điều này gây thiệt hại (detriment) cho những mặt trận khác của ông. Trong khi tình báo thì ko bao giờ hoàn hảo, nhưng khi kết hợp với những quyết định sau đó của Thiệu và SỤP ĐỔ VỀ TINH THẦN, tất cả đã trực tiếp dẫn đến sụp đổ của quân khu 1. 

Dù mất Tiên Phước và một vị trí ở nam Huế, sau tuần lễ đầu tiên của chiến dịch tấn công của bắc quân, Tưởng đã tin tưởng rằng ông đã chận đứng bắc quân. Dù xuất hiện của sđ 325 khiến ông chút ít lo âu, nhưng với việc điều động mới đây của Nhảy Dù và LĐ 12 bđq, ông vẫn còn làm chủ tình hình. Trong lúc TỰ TIN như vậy, NGÀY MƯỜI HAI THÁNG BA, BTTM ra lịnh rút sđ Dù về Sài Gòn gấp. Với những sđ trừ bị chiến lược bị cột chân ở vùng 1, bộ TTM cần sđ này tái chiếm Ban Mê Thuột và bảo vệ SG. Thực tế, hầu như ko có phòng tuyến thứ hai bảo vệ SG. 

Đối với Trưởng và các TL và bộ tham mưu, lịnh này là điên rồ (insane). Với sđ 325 đang dàn quân (poise) ở vùng đồi núi nam Huế, và sđ 304 đang ở Thường Đức, phía tây Đà Nẳng, việc rút đi sđ Dù sẽ làm yếu đi tuyến phòng thủ chung quanh Đà Nẳng. Ông lập tức yêu cầu được gặp tổng thống Thiệu.

Tới SG ngày 13 tháng ba, Trưởng đã cố gắng hết sức để thuyết phục Thiệu. Nếu ko có Nhảy Dù, ông phải chuyển TQLC từ Quảng Trị để bảo vệ phòng tuyến phía tây Đà Nẳng. Việc di chuyển tqlc này sẽ khiến người dân nghĩ rằng VNCH sẽ bỏ Quảng Trị và việc bảo vệ sẽ trở nên khó khăn. Người dân trước giờ luôn nghĩ rằng Nhảy Dù cần thiết để bảo vệ vùng 1, và họ có thể nghĩ rằng việc Nhảy Dù rút đi là CP sẽ bỏ vùng 1. Cuối cùng dân sẽ bỏ chạy, làm trầm trọng thêm tình hình tị nạn đã quá tải ở vùng 1. Nếu Thiệu giữ nguyên ý định, những hậu quả của việc Nhảy Dù rút đi sẽ gây nhiều tác hại cho vùng 1. 

Tuy nhiên, tổng thống vẫn ko đổi ý. Thiệu giải thích cho Trưởng quan điểm mới về chiến lược. Với viện trợ bị cắt giảm nghiêm trọng, và ko còn hy vọng không quân Mỹ sẽ bẻ gẫy các cuộc tấn công của bắc quân, giải pháp tốt nhứt của vnch là củng cố lực lượng, tiết kiệm về tiếp liệu, và cố gắng tồn tại trong cuộc tấn công mùa khô này. Sau đó, quân đội vnch sẽ chuẩn bị đối phó một cuộc tấn công lớn của csbv trong năm 1976. Do đó, Thiệu đã quyết định chỉ bảo vệ những khu vực quan trọng và cần thiết cho nam VN. Thiệu nói, thà mất một phần lãnh thổ còn hơn thành lập CP liên hiệp với cs. Chỉ lên một bản đồ, tổng thống đã phát họa cho Trưởng tương lai của VNCH. Tại vùng 1, chỉ có Đà Nẳng và khu vực phụ cận phải được giữ bằng mọi giá. Những khu khác, kể cả Huế, có thể phải bỏ để Trưởng đủ quân số và hỏa lực bảo vệ Đà Nẳng. Trưởng được lịnh phát triển một kế hoạch cho những tái phối trí cần thiết. Ông sẽ nhận lữ đoàn 468 tân lập của tqlc để thay thế cho Dù, mà sẽ bắt đầu NGÀY MƯỜI BẢY THÁNG BA.

Trưởng đã đề nghị với tổng thống là rút Nhảy Dù từng đợt: một khi tình hình quân sự ổn định, ông sẽ sắp xếp các lực lượng, chứ nếu rút quân nhanh chóng như vậy sẽ mời gọi thảm họa. Thiệu có nhượng bộ: Trưởng có thể rút mỗi lần một lữ đoàn dù, nhưng sđ dù phải rời quân khu 1 vào CUỐI THÁNG BA. 

Sau đó, với vẻ đầy thất vọng, Trưởng đã mô tả quyết định này của Thiệu với các TL sđ là "ko hợp lý", và đã tính từ chức. Sau này, ông đã viết: " Tôi rất cay đắng và giận dữ vì lịnh này rất đột ngột, vượt quá những gì mà tôi dự đoán hay ước muốn. . . dù tình hình QS ở Huế, Quảng Ngải, và Đà Nẳng hơi trầm trọng do các đợt tấn công liên tục của địch, tôi vẫn còn đủ quân để chống trả và còn dự định gửi Dù và TQLC tới những khu vực này để lấy lại thế thượng phong. Tôi đã giải thích kỹ lưỡng những ý tưởng và kế hoạch của tôi tới TT và thủ tướng nhưng đều bị từ chối."

Tại sao Trưởng quá ngạc nhiên với việc rút quân Dù là một bí mật. Việc rút những đv Dù khi có một đe dọa cho thủ đô đã xảy ra lần đầu vào tháng 6/74 khi một lữ đoàn phải dưỡng quân sau khi HQ ở khu Tam Giác Sắt. Theo tướng Viên, trong một cuộc họp tháng 12/1974 của Hội đồng An ninh Quốc gia, đã phát họa những kế hoạch của BTTM cho năm 1975: "Vùng 1 được lịnh sắp xếp các lực lượng làm sao để sđ Dù có thể triển khai về SG hay nơi khác trong 72 giờ." Khung thời gian ngắn ngủi đã ăn khớp với lịnh sau này của Thiệu. Frank Snepp, nhà phân tách chánh của CIA tại VN đã viết rằng trong tháng hai 1975, Thiệu đã thông báo lần nửa với Trưởng là "giữ Nhảy Dù làm trừ bị để có thể nhanh chóng rút về SG khi có lịnh."

Nhưng dù cho Trưởng đã biết rằng trên nguyên tắc điều đó có thể xảy ra, nhưng phải rút sđ Dù quá vội vả trong lúc địch đang tấn công là một cú sốc nặng. Hơn nữa, Thiệu đang đổi một kế hoạch đã-thỏa-thuận-trước- đây với Trưởng là sẽ có ba nội phận là Huế, Đà Nẳng, và Chu Lai nay thành một nội phận Đà Nẳng mà thôi. Trong khi Trưởng đã hiểu sự cần thiết của một đv trừ bị chiến lược, ông đã cảm thấy rằng Thiệu đã đánh giá quá thấp tác động tâm lý của một việc rút quân nhanh chóng đối với một dân chúng đã quá sợ CS qua Tết 1968 tại Huế và Xa Lộ Kinh Hoàng năm 1972 ở Quảng Trị. 

Một yếu tố khác đã khiến Trưởng quan tâm sâu sắc. Ông đã nghi ngờ rằng Thiệu muốn rút Mũ Đỏ về SG là do sợ đảo chánh. Với Thiệu, thường rất khó khăn để tách chánh sách quốc gia với những động lực cá nhân, vì ông hiếm khi bộc lộ tâm tư tình cảm của mình. Bản tính đa nghi của Thiệu luôn luôn canh chừng những ai dám thách thức ông, và một viên tướng nổi danh khắp nước có thể đe dọa ông chính là Trưởng. Việc Thiệu nghi ngờ Trưởng có lẽ đã ảnh hưởng tới quyết định của Thiệu với quân khu 1. Ví dụ, có một số nhầm lẫn về việc liệu Thiệu có thông báo với Trưởng hay ko về ý tưởng của ông là tìm kiếm "một nội phận cuối cùng, nghĩa là một thứ đầu cầu dọc theo bờ biển có thể được dùng làm khu vực đổ bộ nếu quân Mỹ muốn trở lại VN." Thiệu đã muốn có một nội phận như vậy để người Mỹ ko nói rằng họ ko có chỗ để đổ bộ binh sĩ. Hơn nữa, bằng cách tập trung ba sđ và bốn liên đoàn bđq quanh Đà Nẳng, Thiệu hy vọng sẽ dụ quân csbv vào một chiến trường chuẩn bị trước, nơi hỏa lực thượng phong của vnch sẽ gây thiệt hại nặng cho bắc quân. Liệu Giáp có mắc bẫy này hay ko thì còn tranh cãi. Bất chấp ý kiến của tướng Trưởng, việc tổng thống rút vội vả quân Dù là mở màn cho việc sụp đổ quân đoàn 1. 

Khi Trưởng trở lại Đà Nẳng, ông đã ko thông báo cho cấp dưới toàn bộ những gì Thiệu nói. Theo phó đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại, Trưởng đã theo lịnh Thiệu. Sau 75, Trưởng nói với tướng Thoại rằng Thiệu đã bảo ông "giữ bí mật tuyệt đối thông tin này và ko tiết lộ với các tư lịnh sđ, tỉnh trưởng, tư lịnh hải và không quân của QĐ 1 là mình sẽ bỏ miền Trung."

NGÀY MƯỜI BỐN THÁNG BA, Trưởng họp với các sq cao cấp, nhưng ông chỉ bàn về việc rút sđ dù và ko nói tới kế hoạch nội phận. Thiệu, vì sợ gián điệp cs, đã khiến Trưởng ko dám thông báo nội dung đầy đủ cuộc thảo luận giữa hai người, đã khiến cấp dưới đã ko chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc rút quân toàn diện. Khi Trưởng nói với họ rằng lập "những kế hoạch dự phòng" để rút về Đà Nẳng, lịnh chánh yếu của ông là phải giữ vững vị trí. Ông cũng nói với tham mưu trưởng rằng ông này nên bắt đầu lập kế hoạch rút về nhiều nội phận, nhưng Trưởng ko thể tự mình lập kế hoạch. Do vậy, khi có lịnh rút về Đà Nẳng, cuộc rút quân này đã trở thành một việc làm vô tổ chức (haphazard) và nhanh chóng thất bại vì hàng trăm ngàn dân thường hoảng loạn trên quốc lộ cũng như áp lực mạnh mẻ của bắc quân ở sát họ. 

Dù rất đau khổ, nhưng Trưởng vẫn phải ra lịnh cho LĐ 369 tqlc rút khỏi Quảng Trị và thay một LĐ Dù ở Thường Đức. LĐ 258 tqlc và BTL của sđ này sau đó cũng rút và thay thế một đv Dù khác--lúc đó BTL sđ tqlc đặt ở Hương Điền, phía bắc Phá Tam Giang--người dịch. Trưởng cũng ra lịnh chuyển tđ pháo binh 175-ly và một đại đội chiến xa M-48 về Đà Nẳng, cùng với trang bị của công binh và đạn dược.

Tướng Thi cũng rất bực mình vì bị rút đi hai lđ thiện chiến. Ông ko tin rằng ông có thể giữ Huế chống lại mủi tấn công đầy quyết tâm của địch mà ko có tqlc, và đã yêu cầu Trưởng cố gắng hết mức để bảo vệ QL-1; nếu ko ông sẽ ko thể rút về Đà Nẳng. Để đáp ứng yêu cầu của Thi, Trưởng điều lđ 14 bđq ra Quảng Trị để thế chỗ của lđ 369. Ông vẫn để lđ 147 tqlc với TLP của tqlc là đại tá Nguyễn Thành Trí ở bắc Huế. Ông đặt bch của lđ 258 tqlc và một tđ tqlc ở phía bắc của đèo Hải Vân và một tđ tqlc gần Huế. TĐ tqlc còn lại của lđ này đi với lđ 369 đến Thường Đức. Không chờ đợi lđ 468 tqlc từ SG đến Đà Nẳng ngày 21 tháng ba, ông đã dời bch lđ 258 về tỉnh Quảng Nam. 

Trong khi đó, sđ 324 đã tiếp tục tấn công. Trận chiến đặc biệt ác liệt tại đồi 224. Trong vài ngày, đồi đã đổi chủ nhiều lần. Pháo và không quân vnch đã dập những nơi tập trung của bắc quân, và ngày 16 tháng ba, quân vnch đã tái chiếm toàn bộ đồi. Dù những đồi chung quanh vẫn nằm trong tay bắc quân, trở ngại về tiếp tế đã khiến sđ 324 ngừng tấn công. 

Trong khi đó, tại tỉnh Quảng Ngải, đụng độ ở cường độ thấp vẫn tiếp tục, và ko bên nào có tiến bộ. Ngày 13 tháng ba, vì thấy lđ 14 bđq và trung đoàn 5 rút đi, quân địa phương của cs đẩy mạnh tấn công.Ngày 16 tháng ba, họ tiến về tp Quảng Ngải, buộc một trung đoàn của sđ 2 rút lui. Để thu ngắn phòng tuyến, Trưởng ra lịnh bỏ hai quận ở tây Quảng Ngải, hy vọng rằng sẽ dùng lực lượng này để cũng cố phòng tuyến dọc quốc lộ 1. Trưởng đã giám sát việc di tản bằng trực thăng của một tđ bđq và nhiều dân thường từ 1 trong những quận này. Trong hai ngày, 2.500 viên chức chính quyền và thân nhân được di tản. 

CUỐI NGÀY MƯỜI SÁU THÁNG BA, lđ 14 bđq đã tới Quảng Trị để thay lđ 369 dọc sông Thạch Hản, phần phía tây của ql-1, phần phía đông của QL-1 do LĐ 258 TQLC phụ trách. Liên đoàn bđq này thiếu quân số trầm trọng: họ chỉ có khoảng 1.400 quân, so với cấp số là 2.324 người, với mỗi tđ chưa tới 300 quân. Họ phải thay thế một lđ tqlc 3.500 người-- chưa nói tới tinh thần chiến đấu của người lính tqlc cũng như hỏa lực dồi giàu của họ vì mỗi lđ tqlc có một tđ 105 ly yểm trợ-- người dịch. BĐQ cho một tđ giữ bờ sông, một tđ giữ mặt núi, và một tđ làm trừ bị. NGÀY KẾ, lđ 258 tqlc rút khỏi bờ phía đông QL-1 của sông Thạch Hản, giao trách nhiệm cho đpq Quảng Trị. Riêng lđ 147 tqlc vẫn ở tây bắc Huế. Lại lần nữa, Thi đã đã đặt những đv yếu nhứt, tại đường ngưng bắn, vì nghĩ bắc quân ko dám vượt qua. 

NGÀY 15 THÁNG BA, Nguyễn hữu An đã họp tham mưu để đánh giá chiến dịch. Ông bằng lòng khi các đv đã chiếm đồi 224 được bảo vệ bởi một tđ VNCH và vài đồi khác, ông càng vui hơn khi biết các đv đã nổ súng đúng giờ qui định. Dù đặt nặng tầm quan trọng của việc hoàn tất các chỉ thị chánh yếu của Giáp, ông cũng ko che dấu các điểm yếu. Ông đã nhìn nhận rằng "các thành tựu cụ thể của chúng ta ko ấn tượng lắm" và rằng, vì một số vấn đề, "hiệu năng tác chiến của quân đoàn trong giai đoạn này của chiến còn thấp."Nhiều sq tham mưu đã đề nghị ông dùng sđ 325 hỗ trợ sđ 324 trong các trận tấn công, nhưng ông ko đồng ý. Thay vào đó, ông ra lịnh cho 325 tiếp tục kế hoạch ban đầu và nổ súng NGÀY 21 THÁNG BA chống lại các tđ bđq đang bảo vệ những đồi núi Mom Kum Sắc ở nam Sông Truồi. Ông đã thông báo Giáp các quyết định này, và sau đó đến BTL của sđ 325 để kiểm tra việc chuẩn bị chiến đấu. Việc ông từ chối điều chỉnh kế hoạch, bất chấp những khó khăn thực sự mà sđ 325 gặp phải khi xuyên qua phòng tuyến vnch, đã có tác động lớn lao. 

ĐÊM 15 THÁNG BA, tình báo chiến lược của bắc quân đã báo với Giáp rằng lđ 14 bđq đã chuyển về Đà Nẳng. Dù Giáp đang tập trung vào Cao nguyên Trung phần, ngay khi nhận tin này, kết hợp với việc rút quân từ Pleiku trên LTL-7, ông đã nhận ra ý định của đối phương. Ông đã nghi ngờ rằng VNCH đang rút về các nội phận mà ông rất sợ--vì khi ấy quân vnch có thể tập trung lực lượng, cộng với yểm trợ của không và hải quân, sẽ đánh trả mọi tấn công của bắc quân--người dịch. Ông lập tức ra lịnh mở những cuộc tấn công MỚI ở QK-1 để ngăn ngừa một nội phận thành lập tại Đà Nẳng. NGÀY MƯỜI BẢY THÁNG BA, ông điện cho Nguyễn hữu An chuyển qua Kế hoạch Cơ hội, nghĩa là giải phóng Huế, phần còn lại của tỉnh Thừa Thiên, và tỉnh Quảng Trị. Giáp đã viết trong hồi ký: "Tình hình đang phát triển nhanh chóng và cơ hội lớn đang đến sớm hơn chúng ta nghĩ. Địch đang buộc phải đối phó với các tấn công của ta. . . và chúng đã bắt đầu tiến hành rút quân chiến lược và tái tập hợp. Hai tỉnh Trị-Thiên phải tăng cường chiến đấu trên mọi mặt trận. Đặc biệt, đẩy mạnh tấn công từ hướng tây vào những đv chính quy của địch, cắt đứt và chia cắt Huế với Đà Nẳng, và dũng mãnh đưa quân xuống đồng bằng... tấn công vào phòng tuyến án ngữ của địch."

NGÀY MƯỜI TÁM THÁNG BA, Giáp lại nhận tin tình báo QUAN TRỌNG HƠN: Nhảy Dù rút về SG. Nhận thấy phòng tuyến rất yếu của vnch dọc sông Thạch Hản, ban tham mưu của Giáp kết luận rằng vnch bỏ tỉnh Quảng Trị. Ngay sau khi họp tham mưu vào buổi sáng, Giáp đã gửi điện cho hai btl này của bắc quân. Họ được lịnh "phải  hành động nhanh chóng và táo bạo. Mặt trận B-4 phải lập tức đưa quân xuống đồng bằng và gia tăng tấn công trong khu vực đồng bằng. Không chỉ gửi cấp TĐ, nhưng... cả trung đoàn để... tấn công."Khi ra lịnh cho mặt trận B-4 tràn qua phòng tuyến ngưng bắn, Giáp đã nói tướng Thi ngờ nghệch--ý nói Thi nghĩ rằng bắc quân ko dám vượt sông Thạch Hản vì sợ vi phạm HĐ Paris 1973--người dịch.

CUỐI NGÀY HÔM ĐÓ, các tư lịnh trên đây lại nhận một mật điện quan trọng thứ hai: "Tại Đà Nẳng, quân dù đang rút về SG. Họ sẽ thay thế bởi tqlc. Có khả năng địch sẽ bỏ khu vực từ bắc Huế tới ranh giới ngưng bắn-sông Thạch Hản. Những tái phối trí này là một phần của kế hoạch củng cố lực lượng và rút quân chiến lược của toàn miền nam. Vì tình hình hiện nay đang thuận lợi cho chúng ta, các anh phải hành động dũng mãnh và khẩn cấp. Các anh KHÔNG ĐƯỢC cho phép quân địch AN TOÀN rời bỏ khu vực bắc Huế và rút quân, và mang theo mọi người dân, kể cả những thường dân PHẢN ĐỘNG (reactionary), về cố thủ tại Đà Nẳng, bởi vì khi ấy ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Các anh phải nhanh chóng tràn xuống QL-1, cắt đường này và tấn công sân bay và kho tiếp liệu và các căn cứ khác ở Phú Bài."

Trong CHƯA TỚI MỘT TUẦN, Giáp đã biết hết mọi kế hoạch điều quân quan trọng của vnch. Thông tin quí giá này đã cho ông một cơ hội quí hiếm để áp dụng chiến thuật của ông, và ông chụp cơ hội này.  NGÀY MƯỜI TÁM THÁNG BA, bộ chính trị họp để đánh giá tình hình. Phát biểu của Giáp đã cho rằng vnch đang rút quân về các nội phận và điều tối quan trọng là phải đánh mạnh để ngăn ngừa điều này xảy ra. Hỗ trợ mạnh mẻ bởi Lê Duẩn, Giáp đã khuyến cáo bắc quân nên XÂM LĂNG miền Nam ngay trong năm 1975, và rằng SG sẽ là hướng tấn công chủ yếu. Tuy nhiên, dù SG vẫn là phần thưởng tối hậu, mục tiêu đầu tiên là hủy diệt lực lượng vnch tại quân khu 1, và giải phóng Huế và Đà Nẳng. 

Trong khi BCT CSVN đang có những quyết định xa vời (far-reaching), việc rút ĐỘT NGỘT và KHÔNG GIẢI THÍCH của tqlc khỏi Quảng Trị đã mang đến cho Trưởng điều ông sợ nhứt: những thường dân còn lại ở Quảng Trị hay Thừa Thiên sẽ MẤT TINH THẦN và lập tức rời bỏ làng xã. SÁNG NGÀY MƯỜI BẢY THÁNG BA, một đợt sóng dân tị nạn đã tới Huế mang theo tin tqlc đột ngột rút quân. Và ko chỉ có dân thường. Tướng Thi đã viết "việc tqlc rút đi đã có một tác hại nghiêm trọng đối với lòng can đảm và tinh thần của các đv ĐPQ." Lính ĐPQ của Quảng Trị, đã chiến đấu dũng mãnh trong hai tuần trước đây chống lại đợt tấn công đầu tiên, nay cảm thấy BỊ BỎ RƠI. Hơn nữa, tin đồn rằng CP VNCH chuẩn bị bàn giao phần lớn quân khu 1 cho cs đã bắt đầu lan rộng. Kế hoạch cắt bớt (truncation) đất đai của Thiệu đã rò rỉ, và đã trở thành một "thương lượng bí mật" rất xấu xa (nefarious) để giao đất cho cs. Nhiều người Nam VN còn nghĩ rằng các siêu cường đã sắp xếp như vậy. Khi mọi người biết tin rút quân từ Kontum và Pleiku bắt đầu NGÀY MƯỜI LĂM THÁNG BA, tin đồn này càng được củng cố. TỐI HÔM ĐÓ VÀ SÁNG HÔM SAU, hàng đoàn người lũ lượt kéo về Đà Nẳng với xe dân sự dầy đặc QL-1, và chính quyền ở hai tỉnh địa đầu gần như sụp đổ do nhiều công chức di tản. 

Trưởng đã gọi Thủ tướng Khiêm MỖI NGÀY để xin giúp đở về vấn đề người tị nạn cs. Với đường xá ĐẦY CHẬT dân thường, Trưởng ko thể điều quân. Ông nói với Khiêm rằng hầu như ko thể thi hành lịnh của Thiệu về việc rút quân theo QL-1 về một nội phận quanh Đà nẳng. NGÀY MƯỜI BẢY, Trưởng đã cố gắng lập các trạm kiểm soát trên đèo Hải Vân để kiểm soát dòng người tị nạn về Đà nẳng, nhưng giao thông bị gián đoạn. Vì sợ cs sẽ pháo xuống ql-1 như chúng đã làm năm 1972, nên vì lý do nhân đạo, ông bỏ các trạm kiểm soát này. Hậu quả, Đà nẳng trở nên quá tải về người tị nạn cs: họ ngủ trên lề đường, và thực phẩm và y tế trở nên vấn đề cấp bách. 

Nhận tin này, Thiệu ra lịnh Khiêm và toàn bộ nội các thanh tra vùng 1 và 2. Họ tới Đà nẳng SÁNG NGÀY 18. Trưởng tập hợp bộ tham mưu, các tỉnh trưởng, và sq cao cấp để báo cáo cho Khiêm. Trước buổi họp, Trưởng cập nhựt tình hình quân sự cho Khiêm. Ông nói rõ ràng là bắc quân sắp tấn công Huế và Đà Nưẳng, trong khi hơn nửa triệu dân đang kéo về Đà Nẳng. Quá sốc, Khiêm nói Trưởng nên trực tiếp báo cáo với Thiệu vào NGÀY KẾ. 

Bắt đầu cuộc họp, các tỉnh trưởng lần lượt báo tình hình khó khăn về người tị nạn. Một số đã yêu cầu tổng thống nên ra thông cáo bác bỏ mọi tin đồn về một thương lượng bí mật, và thân nhân của binh sĩ nên được di tản để người lính có thể chiến đấu mà ko lo lắng về gia đình. Các tỉnh trưởng cũng báo thủ tướng rằng có tới 350.000 người muốn rời vùng 1. Khiêm đã hứa sẽ thu xếp để chỡ họ bằng tàu, nhưng nói phải cần 4 ngày để sắp xếp tàu. Ông hứa sẽ chỉ định một nhóm đặc biệt, cầm đầu bởi phó thủ tướng Phan quang Đán, sẽ lo di tản dân tị nạn về nam. 

Dù Khiêm đã hứa hẹn, rất ít được thực hiện. Thay vì ở lại Đà Nẳng để trợ giúp, ông và nội các đã lập tức rời ĐN, để đáp xuống Nha Trang gặp tướng Phú và đánh giá tình hình QK-2. Sau đó, Khiêm về SG. Dù bị chỉ trích nhiều do đáp ứng thiếu kinh nghiệm (lackadaisical) này của CP, Khiêm vẫn giữ một lời hứa. Trong một ngày, phó TT Phan quang Đán, từng tái định cư dân tị nạn ở Đà nẳng năm 72, đã được chỉ định giải quyết tình hình tị nạn mới này. Ông này lập tức bắt đầu chuyển dân tị nạn khỏi ĐN. 

Sau khi gặp Khiêm, Trưởng bay ra Huế. Gặp gở nhiều lãnh đạo về tôn giáo, chính trị và chính quyền (civic), ông đã phác họa tình hình nghiêm trọng về quân sự và yêu cầu họ giúp đỡ để bảo vệ Huế và giải quyết vấn đề tị nạn. Họ hoàn toàn đồng ý nhưng nói rằng tình hình tị nạn xấu đi từng giờ. Họ thúc dục nên làm một điều gì để dân có hy vọng. Sự đáp ứng hăng hái của các lãnh đạo này đã khiến Trưởng nghĩ rằng có thể giữ được Huế. Đây là cách tốt nhứt để giải quyết vấn đề tị nạn. Một khi dân nghĩ rằng quân đội quyết tâm chiến đấu, họ sẽ ko bỏ chạy. Trưởng đã quyết định làm" bất cứ điều gì trong khả năng để giữ Huế và Vùng 1... Làm sao tôi có thể bỏ rơi vùng đất sỏi đá này mà rất nhiều đồng đội của tôi đã đổ máu để bảo vệ, đặc biệt trong tổng tấn công Tết 1968?" Trưởng đã chỉ huy sđ 1 trong trận tấn công này, và cuộc chiến đấu kiên cường (stalwart) này của ông đã khiến ông được dân Huế và Thừa Thiên ngưỡng mộ. TỐI HÔM ĐÓ, Trưởng gọi cho Khiêm để báo rằng ước lượng trước đây về 350.000 dân muốn rời vùng 1 thì quá thấp. 

NGÀY MƯỜI CHÍN THÁNG BA, Trưởng về SG để báo cáo Thiệu về kế hoạch rút quân của ông: Một là rút ở bắc và nam theo QL-1 về Đà Nẳng, và Hai là rút về các nội phận ở Huế, Chu Lai và tp Quảng ngải, và sau đó rút bằng đường biển. Vì dân tị nạn đầy nghẹt QL-1, cách rút ra các nội phận hay ra biển là giải pháp tốt hơn. Đặc biệt , Trưởng đã phán đoán rằng rút từ Huế bằng Ql-1 là ko thể thực hiện. Trưởng đề nghị phải bảo vệ các nội phận càng lâu càng tốt, rồi rút về Đà nẳng nếu áp lực trở nên quá lớn. Ông sẽ bỏ Chu Lai và Quảng Ngải, sau đó mới đến Huế. Ông muốn chiến đấu để bảo vệ Huế, vì ông có phòng tuyến tốt chung quanh tp. 

Tướng Viên và TT Thiệu đề nghị một kế hoạch khác. Họ muốn Trưởng phải rút từng giai đoạn về Đà Nẳng, vì Thiệu tin rằng bắc quân sẽ cố gắng cắt ql-1 ở đèo Hải Vân. Viên ko tin rằng hải quân đủ tàu để cùng lúc tiếp tế ba nội phận này. Ông cũng ko tin Trưởng có thể giữ vừa Đà nẳng vừa Huế. Thủ tướng Khiêm và phó TT Hương thì rõ ràng hơn: họ đề nghị bỏ Huế. Dù ko đồng ý với kế hoạch của Trưởng, Thiệu đã đồng ý để Trưởng giữ Huế. Để hỗ trợ Trưởng, Thiệu đã đi ngược với các trực giác của mình và các cố vấn cao cấp. Tuy nhiên, ông cảnh báo Trưởng rằng nếu ko giữ được Huế, phải giữ QL-1 và đèo Hải Vân thông thương để sđ 1 có thể rút an toàn đến Đà Nẳng. Thiệu cũng hứa sẽ nói chuyện trên TV và radio tối nay để trấn an dân chúng. 

Trước khi rời cuộc họp, Trưởng hỏi Thiệu về kế hoạch của chính phủ về sđ tqlc. Việc rút tqlc sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các kế hoạch của Trưởng, và ông cần biết. Giờ đây Thiệu đứng trước một khó khăn: Liệu ông báo cho Trưởng rằng ông sẽ rút đv thiện chiến này vào lúc đại quân csbv sắp tấn công? Theo tướng Viên, Thiệu đã nao núng (flinch) trước quyết định khó khăn này. Dù Viên biết rằng Thiệu đang trong "tình trạng kiệt quệ", ông nói rằng Thiệu đã từ chối rằng ko có kế hoạch để rút tqlc khỏi quân khu 1. Thiệu chỉ nói với Trưởng "giữ lãnh thổ nào nếu có thể với lực lượng đang có."

Tuy nhiên, Trưởng đã biết rõ khuynh hướng (propensity) của Thiệu là cho các hướng dẫn tổng quát và để cho cấp dưới tìm giải pháp. Trưởng thì muốn các hướng dẫn rõ ràng để ông có thể thực hiện, trong khi Thiệu muốn cho các chỉ thị chiến lược và để cho Trưởng xác định làm thế nào để thực hiện các quyết định của Thiệu. Tình trạng này giống như cuộc họp lịch sử ở Cam Ranh ngày 14.3 với tướng Phú. Dù Phú đã nói ông được lịnh rút khỏi Kontum/Pleiku trong ba ngày, nhưng Thiệu và Viên sau này nói rằng giờ giấc và kế hoạch do Phú quyết định. Nói gì thì nói, đây là một hiểu lầm khác đóng góp cho sự hủy diệt của VNCH. 

Trở về Đà nẳng tối hôm đó, Trưởng nhận cuộc gọi khẩn từ tướng Thi: lúc 3 g sáng, quân csbv đã tấn công qua sông Thạch Hản ở Quảng Trị. Dù Thi nghĩ rằng đó là sđ 308 csbv, nhưng thực tế đó chỉ là một tđ đặc công địa phương tấn công, trong khi ba tđ quân địa phương tấn công từ phía núi. Hai tđ bđq bảo vệ phòng tuyến đã nhanh chóng tan rả sau một ác chiến. Khi bình minh, một đv csbv và 4 tăng T-54 của lữ đoàn 203 tiến về phía nam dọc theo bờ biển, có lẽ là hương lộ 555, có tên là Dãy Phố Buồn Thiu"--người dịch, và tới một điểm gần 10 km sau phòng tuyến vnch. Một đv đpq phát hiện, báo cáo và rút lui. Nhiều lính đpq còn lại của Quảng Trị cũng làm như vậy.Vì khi gia đình của họ và tqlc đã ra đi, làng mạc quanh họ bỏ trống, họ ko còn gì để chiến đấu bảo vệ. Không gặp chống đối, đoàn quân này của csbv tiến về phía tây đến quận lỵ Hải Lăng, nằm trên ql-1 ở nam tp Quảng Trị. BCH của lđ 14 bđq ở quận lỵ này, và nếu các xe thiết giáp này tới đó, bđq sẽ bị tràn ngập. 

ĐT Trí của tqlc gọi máy bay tấn công đoàn xe nhưng ko được đáp ứng. Lúc 4 g sáng, bắc quân đã chiếm bch cũ của lđ 258 tqlc, khoảng 3 km cách Hải Lăng. Trong khi đó, chỉ huy của lđ 14 bđq báo cáo đã mất liên với các đv dọc sông Thạch Hản."

San Jose ngày 27 tháng Giêng 2021

Tài Trần.