Showing posts with label tiên lãng. Show all posts
Showing posts with label tiên lãng. Show all posts

Sunday, February 26, 2012

ĐẶC TÍNH DỊ THƯỜNG CỦA VÙNG ĐẤT TIÊN LÃNG .


Nhân đọc bài ĐỘC CHIÊU NGÔN NGỮ HẢI PHÒNG cũa BÙI VĂN BỒNG , và sau khi áp dụng khoa tử vi Lý thuyết Số/numerology , tôi đả thấy được nhửng ĐẶC TÍNH DỊ THƯỜNG của vùng đất Tiên lãng . Bài này rất cần thiết cho bất cứ ai muốn về Tiên lãng làm ăn (như anh Vươn) , hay DỰ ĐỊNH LÀM QUAN tại đất đó .


Thưa các bác ,
Qua tính toán bằng Lý thuyết Số /numerology , tôi thấy địa danh Tiên lãng bằng 10 . Sau đây là ý nghỉa của số này và giải thích của tôi .
SỐ 10
BÁNH XE ĐỊNH MẠNG
(THE WHEEL OF FORTUNE)
1/. . .Số cũa thăng trầm , tùy theo ước muốn cá nhân . Sự việc có thể tốt hay xấu , tùy theo hành động đã chọn . Số 10 có thể kích thích những đáp ứng QUÁ MỨC trong tình yêu hoặc thù hận – kính trọng hay sợ hải .”
GIẢI THÍCH : ở Tiên lãng , người làm điều tốt thì được khen ngợi tối đa nhưng kẻ làm điều xấu thì bị chửi , mà theo ngôn ngử dân dân gian , là “vuốt mặt không kịp” .
2/ số 10 là tượng trưng của Tình yêu và Ánh sáng , có thể tạo ra tất cả nhửng gì bạn có thể tưởng tượng hoặc hình dung . Hảy tưởng tượng một điều gì đó và ra lịnh/quyết định , nó sẻ thành hiện thực .”
GIẢI THÍCH : ở vùng đất này , nhờ có quyết tâm , anh Vươn đả làm được chuyện lấp biển vá trời .
3/ Quyền lực để bày tỏ nhửng quan niệm có tính sáng tạo này trở thành thực tế là cố hửu (1) , nhưng (quyền lực này) phải được dùng với sự KHÔN NGOAN , bởi vì quyền lực của sự sáng tạo tuyệt đối này củng chứa đựng quyền lực đối nghịch của sự HŨY DIỆT TUYỆT ĐỐI . Tự làm chủ mình và lòng thương người vô hạn (infinite compassion) phải đi kèm quyền lực thứ nhứt để tránh thảm kịch của quyền lực thứ hai . Kỷ luật phải đi trước Thực thi quyền hành (Dominion) . “
GIẢI THÍCH : ở Tiên lãng , muốn làm việc gì thành công thì phải tự làm chủ mình và có lòng THƯƠNG NGƯỜI VÔ HẠN (ứng với cuộc đời anh Vươn qua lời kể của đồng bào quanh khu đầm của anh) . Khi không có 2 yếu tố , kẻ nào có quyền lực tại Tiên lãng sẽ có kết cục là sự HŨY DIỆT TUYỆT ĐỐI . Quá đúng đối vói ông Lê văn Liêm và đồng bọn củng như các quan tham ở Hải phòng đã đồng-mưu với Lê văn Liêm như bí thư Thành , đại tá Ca , Đổ trung Thoại , v.v... (danh sách rất dài) . / .
(1) 1. Sẵn có từ lâu: Đức tính cố hữu của dân tộc ta 2. Thuộc một cách tự nhiên, không thể tách khỏi: Chuyển động là tính chất cố hữu của vật chất.

Saturday, February 18, 2012

CHỈ CÓ SÚC VẬT MỚI QUAY LƯNG VỚI NỖI ĐAU ĐỒNG LOẠI… !!!
Lời cũa Các Mác (Karl Marx) – Ông tổ cũa Chũ nghĩa cộng sản khoa học.
Thưa các bạn ,
Đấy cũng là tựa một bài trên blog Cu Vinh khi nói về cuộc sống cơ khổ cũa gđ vợ anh Vươn và Quý trên nền nhà cũ cũa mình sau khi bọn xã hội đen - đc nuôi dưởng bởi chính quyền Tiên Lãng - vào hôi của , bắt đi hết súc vật , tôm cá mà họ đã bỏ bao năm xây dựng . Sau khi đọc xong , tôi đả có hai 'còm' sau .
I/ Còm 1 :
Chào Cu Vinh ,
Tôi ko đồng ý với tựa bài . Vì như vậy là súc phạm đến “danh dự” cũa súc vật : ông bà mình nói “MỘT CON NGỰA ĐAU , CÃ TÀU KO ĂN CỎ” , hay “HÙM DỮ CÒN CHẲNG NỞ ĂN THỊT CON” , v.v… Thành ra với bọn quan tham này , ta ko thể xếp chúng ngang hàng với súc vật được . Mình nên nói ” chúng mày còn tệ hơn súc vật ” thì đúng hơn !!!
Còm 2 :
Thưa cu Vinh ,
Hóa ra tựa bài này lại là "thánh ngôn" cũa cụ Karl Marx . Chắc ở suối vàng cụ cũng đã ra tòa vì súc vật kiện cụ xúc phạm đến danh dự cũa chúng . Vì :
1/Các bạn có thấy , súc vật có xúm nhau "đánh hội đồng" đến chết một đồng loại , rồi gọi đó là 'tự tử' , như CA đã làm với các người dân bị bắt về đồn ko?
Chúng có bẻ gảy cổ đồng loại như trung tá CA Nguyển văn Ninh đã làm ko ?
2/ Chúng cũng dành ăn nhưng đâu có : ép nử sinh đổi tình lấy bằng , mua bán bằng giả , vơ vét , ăn hối lộ , mua quan bán tước , chạy dự án , lợi dụng quyền hạn để cướp của , cướp đất cũa dân đen , v.v...đến độ  "kẻ thì quá nhiều biệt thự , xe con , con cái du học , tài sản cã trăm triệu đô" , còn "người thì chỉ có mảnh chiếu che thân " như dân oan đang nằm vật vạ ở vườn hoa Mai xuân Thưỡng - như con người đã làm ko !!!
3/ Súc vật cũng không đánh đập đồng loại , có khi gần chết như CA , xã hội đen , dân phòng , có hổ trợ cũa bộ đội - dưới sự chĩ đạo cũa UBND , để đuổi dân đen ra khỏi mãnh đất đã nuôi sống bao thế hệ cũa họ . Mới nhứt là Văn Giang và Trịnh Nguyễn . Chúng nhân danh ' lập khu công nghiệp , khu đô thị sinh thái , v.v...' để mua đất với giả rẻ mạt và bán lại cho chủ đầu tư gấp 100 lần hay nhiều hơn ! Với tiền đền bù , dân đen ko thể mua lại miếng đất bằng miếng đất đã bị chiếm đoạt . Đến nổi , mới đây một người đã giết một CB và tự sát .
4/ Tất cã là do súc vật đã ko có cái 'khôn ngoan", đễu cán và dối trá (như con người) để lập một cái Đảng chính trị - (với một lý tưởng mới nhìn thì rất cao đẹp) nhưng sau này đã bị các đảng viên ở Việt Nam LỢI DỤNG VÀ BIẾN CẢI , để chĩ phục vụ cho Đảng và cho bản thân mình chứ không phải là nhân dân lao động như cụ Marx đã đề ra .
Ví dụ : họ thực hiện kinh tế thị trường nhưng định hướng XHCN mà trong đó người công nhân còn bị đối xử TỆ HƠN dưới thời Pháp (tôi đã dẩn chứng) . Bọn này đang chích FORMOL vào một lý thuyết chính trị mục nát và lãnh tụ cũa họ (để ướp và lợi dụng nó ) trong khi gần như toàn thể năm châu bốn biển đã vứt vào sọt rác , ngay cả trên đất nước sản sanh ra nó . Chào cu Vinh và các bạn ,

Monday, February 13, 2012

Sở hữu vô chủ , 

Đào Tuấn ,
nguồn : http://www.baomoi.com/Home/ThoiSu/danviet.vn/Luat-Dat-dai-Can-mot-su-thay-doi-co-ban/7872252.epi 

Nghị trường. Ngày 31-5-2003. QH thảo luận về Luật Đất đai (sửa đổi).
Đại biểu QH Nguyễn Ngọc Đào đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Với khái niệm đất đai là sở hữu toàn dân và Nhà nước là chủ sở hữu thì Nhà nước là ai? Chủ sở hữu là ai?”. Theo ông Đào, chế độ sở hữu này đã dẫn đến tình trạng “Có rất nhiều Nhà nước trong một Nhà nước” khi xã, huyện, tỉnh, cấp nào cũng là nhà nước, cũng được giao đất, cho thuê đất dẫn đến tình trạng dân không biết Nhà nước nào giao đất cho mình”. Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc thì cho rằng “Quyền sở hữu toàn dân là một thứ hư quyền, là chẳng phải của ai cả. Trong khi đó, về lý thuyết, người dân chỉ có quyền sử dụng đất. Đó là một thứ quyền rất mỏng manh”. Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc đề cập thẳng thắn tới việc: Không thể lẩn tránh vấn đề cơ bản trong luật đất đai là Quyền sở hữu.

Điều đáng lưu ý là ông Nguyễn Đình Lộc từng đảm nhiệm vị trí Trưởng Ban biên tập Hiến pháp 1992.
Nhưng tất cả những phát biểu đó là vô nghĩa khi về nguyên tắc, chế độ sở hữu đất đai trong luật không thể trái với Hiến pháp, đạo luật được coi là luật gốc, là luật mẹ của các luật.
Đa sở hữu đối với ruộng đất thực ra đã được đặt ra ngay trong bản dự thảo  Hiến pháp 1980. Ông Vũ Mão, một cựu quan chức của Quốc hội khi trả lời câu hỏi “Vì sao” có sự thay đổi chế độ sở hữu đất đai kể từ bản Hiến pháp 1980 đã thừa nhận: “Khi đó xu hướng, nhận thức chúng ta về xây dựng CNXH có “hơi quá” so với thực tiễn cuộc sống”. Tới đầu những năm 90, khi Hiến pháp 1980 được sửa đổi, quan điểm này tiếp tục được đưa ra. Thậm chí ngay cả khi bản Hiến pháp 1992 không thừa nhận quyền tư hữu, thì Luật đất đai 1993, đã đẻ ra một thuật ngữ lạ “Quyền sử dụng đất”. Trao đổi với nhà báo Huy Đức, Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc lý giải: "Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, Luật Đất đai 1993 đã rất tiến bộ so với “Luật mẹ” khi “lách hiến pháp” bằng cách giao 5 quyền đối với đất đai, trong đó có quyền chuyển nhượng Quyền sử dụng đất.
Cả ông Vũ Mão và ông Nguyễn Đình Lộc đều không giải thích rõ nhận thức “hơi quá” thực chất là gì. Tuy nhiên, nhận thức “hơi quá” đó đã dẫn đến một hình thức “sở hữu toàn dân” trong Luật mẹ, “sở hữu nhà nước” trong Luật đất đai, và “Sở hữu vô chủ” trong thực tế; đã biến Luật đất đai, một bộ luật quan trọng liên quan đến gần 90 triệu dân, dù đã 4 lần sửa đổi, bổ sung (riêng Luật đất đai 2003 có trên 400 văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện) [thành bộ luật] chứa đầy bất cập, xa lạ với thực tế. Một nguyên nhân không nhỏ của những bất cập là vì những nhập nhằng trong chế độ sở hữu. Những bất cập mà nó đẻ ra đã được đại biểu QH Nguyễn Đình Lộc nói tại Quốc hội năm 2003: Nhà nước không quản lý được giá đất khiến giá đất lên cơn sốt nhiều lần. Còn đại biểu Nguyễn Thị Nga thì cho rằng: Nhà nước không bán đất nên đất không có giá. Nhà nước giao 7 quyền cho tổ chức, cá nhân sử dụng nhưng cần phải khẳng định rằng những quyền này không phải đối với đất mà là đối với quyền sử dụng đất.
Năm 2010, khi tổng kết thi hành luật đất đai, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên phát biểu, dù rào đón rằng đó chỉ là quan điểm cá nhân: “Tốt nhất là cho sở hữu tư nhân đất ở vì thực chất đã sở hữu tư nhân rồi mà ta cứ nói là sở hữu toàn dân, thành ra bao nhiêu chính sách ra không rõ!”.
Nhưng không thể sửa luật nếu như chế độ sở hữu đất đai trong “Luật mẹ” chưa thay đổi.
Ngày 26-3-1970, sau khi được thông qua tại lưỡng viện, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc lệnh ban hành luật “Người cày có ruộng”. Theo tinh thần của Luật: Ruộng đất không trực canh đương nhiên bị truất hữu (nhưng được bồi thường với gia trị quy định là 2,5 lần giá năng suất thóc từ mảnh ruộng đó) và được cấp phát miễn phí cho tá điền. Đến năm 1974, theo số liệu của Tổng nha Điền Địa, toàn miền Nam đã cấp phát gần 1,3 triệu ha cho khoảng 75 vạn nông hộ, với khoảng 5 triệu nông dân. Nông dân còn đồng thời còn nhận kèm giấy chứng nhận sở hữu ruộng đất. Thành công nhất của dự Luật là chấm dứt chế độ tá canh ở miền Nam khi tá điền trở thành điền chủ. Bản thân các đại địa chủ, cũng được bồi thường, chứ không bị thu trắng, với số tiền lên tới 171 tỷ đồng.  Luật “Người cày có ruộng” bấy giờ được dư luận hết lời ca ngợi. Thậm chí còn được The New York Times đánh giá là cuộc cách mạng ruộng đất mang nhiều tham vọng và tiến bộ nhất thế kỷ 20.
Tuy nhiên, tờ Chính Luận Sài Gòn số ra ngày 23-2-1971 dẫn lời dân biểu Trần Văn Quá, Chủ tịch Ủy ban Canh nông của Thượng viện tiết lộ: "Hầu hết số ruộng này đã được Việt Cộng cấp không cho nông dân từ mấy năm trước, nay luật "Người Cày Có Ruộng" xem như hợp thức hoá tình trạng đó".
“Người cày có ruộng” thực chất chính là khẩu hiệu của Đảng khi tiến hành cuộc cách mạng vô sản. Sau cải cách ruộng đất 1954-1956, khẩu hiệu này đã được hiện thực hóa khi 81 vạn ha ruộng đất, 10 vạn con trâu bò và 1,8 triệu nông cụ đã được chia cho gần 2 triệu nông dân.
Nhưng ruộng đất lại trở thành của “toàn dân” chỉ rất nhanh sau đó.
Sau “vụ án Cống Rộc”, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã vạch ra những bất cập xung quanh việc giao đất có thời hạn, đại ý: 20 năm, 50 năm, hay 70 năm thì cuối cùng cũng vẫn dẫn tới việc hết thời hạn. Và vì thế, nếu không có sự thay đổi cơ bản về chế độ sở hữu, những “vụ án Cống Rộc” chắc chắn vẫn sẽ xảy ra.
Cương lĩnh của Đảng năm 2011 đã không còn cụm từ “chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu” – như trongCương lĩnh 1991 – đây có thể là một tín hiệu “đèn xanh” để chế độ sở hữu về ruộng đất có thể thay đổi trong đợt sửa đổi Hiến pháp tới đây. Tuy nhiên, có thể chính vụ án Cống Rộc mới là yếu tố thực tiễn thúc đẩy sự thay đổi này trong Hiến pháp, đạo luật được coi là Luật mẹ. Để ít nhất các luật đất đai sẽ không phải “lách hiến pháp”, để nông dân thực sự có ruộng đất và không bị đẩy đến bước đường cùng nữa.

Từ vụ Tiên Lãng, xem lại Luật Đất đai

Chủ Nhật, 12/02/2012 23:11

Theo ông Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về vụ Tiên Lãng là rất thỏa đáng


Bị phá sập nhà, gia đình ông Đoàn Văn Vươn - Đoàn Văn Quý phải dựng lều ở tạm. 
 Ảnh: Thế Dũng
Với tư cách đại biểu Quốc hội, thành viên Ban Biên tập sửa đổi Hiến pháp 1992, ông Dương Trung Quốc cho rằng từ vụ Tiên Lãng, chúng ta bàn về sửa đổi Luật Đất đai vào lúc này là rất chín muồi vì Hiến pháp 1992 cũng đang được tiến hành sửa đổi.
Lời nhắc nhở sửa luật
Phóng viên: Ông suy nghĩ gì sau vụ việc ở Tiên Lãng - Hải Phòng, nhất là trong bối cảnh sắp sửa đổi Luật Đất đai?
- Ông Dương Trung Quốc: Sự kiện Tiên Lãng như một tiếng súng báo hiệu, một lời cảnh báo vào thời điểm mà thời gian giao đất đã sắp hết hạn. Do đó, rất có thể không chỉ có ông Đoàn Văn Vươn mà còn rất nhiều người lâm vào hoàn cảnh tương tự. Tôi đã tiếp cận khá nhiều vụ khiếu kiện đất đai, tất cả chỉ gói gọn vào vấn đề chính quyền thực hiện quyền đại diện thu hồi đất của nông dân.
Luật Đất đai được quy định bởi Hiến pháp 1992 - hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam không chấp nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Ngay trong thời phong kiến, tuy nói rằng đất là của vua nhưng trên thực tế phần lớn đất đai là nằm trong làng xã. Các làng xã lại được quản lý bởi những tập tục rất lâu đời, mang yếu tố dân chủ làng xã và tạo nên sự ổn định. Bên cạnh đất công cũng có cả đất tư nhân và giữa hai thành phần này luôn tác động lẫn nhau. Đất tư luôn có xu hướng phát triển, tạo ra mâu thuẫn trong xã hội, trong cộng đồng và Nhà nước dùng chính sách quân điền để điều chỉnh một cách hợp lý (dùng đất của người giàu chia cho người nghèo). Nhà nước không can thiệp nhưng thể hiện quyền quản lý của mình thông qua các làng xã.
Theo tôi, Luật Đất đai 1993 đã tạo ra hình thái như sau: Thứ nhất, quyền sở hữu toàn dân là một hư quyền. Thứ hai, quyền sử dụng là thực quyền (quyền của người sử dụng gần như là quyền tư nhân). Thứ ba, quyền đại diện (chính quyền hành pháp) là đặc quyền. Đặc quyền khi không có sự giám sát chặt chẽ sẽ chỉ là ý chí nhà lãnh đạo địa phương, có thể tước đoạt đất của người dân với những lý do nằm ngoài quy định luật pháp. Tình trạng tùy tiện đó minh chứng bằng vụ Tiên Lãng là rõ nhất.
* Từ vụ Tiên Lãng chúng ta rút ra được bài học gì về vấn đề cán bộ, công tác thi hành luật và giám sát việc thực thi luật pháp?
- Luật rõ ràng khi ở trên giấy, cái khó nhất là đưa luật vào cuộc sống, bao gồm những văn bản dưới luật và năng lực thực thi của bộ máy hành pháp. Vấn đề là ở khả năng giám sát văn bản dưới luật và việc thực thi luật của các thiết chế dân cư (HĐND, Quốc hội cũng như các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có MTTQ). Ngay khi xảy ra vụ Tiên Lãng, tôi đã phát biểu trước Quốc hội rằng trách nhiệm này thuộc về cơ quan giám sát, cơ quan giám sát là Quốc hội (giám sát pháp luật và thực thi pháp luật tại địa phương). Tôi rất mong Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thể hiện vai trò của mình không chỉ với cương vị là Thủ tướng mà còn là đại biểu Quốc hội tại TP Hải Phòng. Với hai “vai” ấy, là nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng, Thủ tướng không chỉ xử lý vụ việc mà còn phát hiện những bất cập trong hệ thống thực thi pháp luật để góp phần điều chỉnh luật đất đai và xây dựng hiến pháp.
Hiện khoảng 80% vụ khiếu kiện là liên quan đến đất đai nhưng tỉ lệ thực thi lại cực kỳ thấp. Vụ ông Đoàn Văn Vươn nếu không có mùi thuốc súng thì có lẽ cũng đã “chìm” giống như nhiều vụ khác. Đành rằng hành động của ông ta là sai nhưng rất cần đánh giá đúng bản chất và nguyên nhân sự việc. Vụ Tiên Lãng góp phần làm chúng ta giật mình, vì nếu không có vụ này thì tất cả mọi việc có thể sẽ trôi đi, nhất là năm 2013 - thời điểm kết thúc 20 năm giao đất - sắp đến gần.
Kết luận của Thủ tướng rất thỏa đáng
* Thủ tướng cũng đã chỉ đạo UBND các tỉnh, thành siết chặt quản lý đất đai, tránh để xảy ra sai phạm tương tự. Theo ông, làm thế nào để không còn những vụ đau lòng như Tiên Lãng?
- Tôi đã rất xúc động khi nghe phát biểu của vợ ông Đoàn Văn Vươn trên truyền hình là “mong Thủ tướng quan tâm nhiều hơn đến những trường hợp của người nông dân khác có cùng hoàn cảnh liên quan đến đất đai như gia đình tôi”. Tôi nghĩ, những kết luận của Thủ tướng về vụ Tiên Lãng là hết sức thỏa đáng, đồng thời hoan nghênh ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng về thắt chặt hơn công tác quản lý đất đai ở các tỉnh, thành.
Ngay trong phần đầu phát biểu kết luận, Thủ tướng đã nêu rõ là ngay từ năm 1987, chúng ta có 3 lần sửa đổi lớn, đặc biệt kể từ khi Luật Đất đai 1993, chúng ta xóa bỏ ruộng đất tư nhân, bên cạnh đó cũng đã có hàng trăm văn bản hướng dẫn thi hành khác. Ngoài việc chỉ đạo về pháp luật, tôi nghĩ phải xem xét lại toàn bộ Luật Đất đai, phải dự báo được tình hình sắp tới để Luật Đất đai phát huy được điểm tốt và hạn chế tối đa những nhược điểm. Tôi mong xem xét lại việc có còn giữ thời hạn giao đất hay không và hướng tới một lộ trình chúng ta có nên công nhận sở hữu tư nhân hay không. Điều này góp phần vô cùng quan trọng vào hiến pháp đang sửa đổi.


Không nên đặt ra thời hạn giao đất
* Thưa ông, thời hạn giao đất theo Luật Đất đai 1993 là 20 năm, sắp tới sửa luật có nên kéo dài thời hạn hay xóa bỏ hẳn?
- Những người tham gia xây dựng Luật Đất đai 1993 có nói trong tư tưởng chỉ đạo là sẽ giao đất lâu dài, ổn định cho nông dân. Đặt ra thời hạn chỉ nhằm thể hiện quyền quản lý, định đoạt của Nhà nước. Chỉ thu hồi đất đai với một số trường hợp đặc biệt nhưng muốn dùng thời hạn 20 năm như một sự thử nghiệm, giống như một lời nhắc nhở đây là đất của Nhà nước. Câu hỏi đặt ra là chúng ta sẽ giải quyết thời hạn 20 năm ấy như thế nào? Nếu chúng ta giữ nguyên cột mốc 20 năm thì sẽ có những hành động kiểm chứng việc làm của người nông dân, sẽ không có kiểu thừa kế, bỏ hoang… Nhưng nếu Luật Đất đai còn duy trì thời hạn giao đất thì bộ máy công quyền sẽ thực hiện một khối lượng thủ tục hành chính lớn và phức tạp để kéo dài quyền sử dụng đất cho dân và quan hệ xin - cho sẽ nảy sinh những vấn đề phức tạp.
Do vậy, theo tôi, nếu sửa Luật Đất đai thì không nên đặt ra thời hạn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là giao vĩnh viễn bởi vì Nhà nước có quyền định đoạt có điều kiện (chẳng hạn phục vụ cho những lợi ích quan trọng của quốc gia), ngay cả khi thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất như đã từng có trong lịch sử trước năm 1993 thì quyền đó vẫn được thực thi.
Duyên Anh thực hiện

Sunday, February 12, 2012

VÀI SỰ TRÙNG HỢP ĐÁNG NHỚ .

I/  VỤ TIÊN LẢNG XẢY RA NGÀY 5-1-2012 , CÁCH NGÀY HỌP ĐỂ THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 6-1-1930 ĐÚNG 82  NĂM (CHỈ LỆCH MỘT NGÀY) .

THEO WIKIPEDIA THÌ : Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu cộng sản Việt Nam họp từ ngày 6 tháng 1 năm 1930 [4] đến ngày 8 tháng 2 năm 1930 tại Hương Cảng, trên cơ sở thống nhất ba tổ chức cộng sản tại Đông Dương (Đông Dương Cộng sản ĐảngAn Nam Cộng sản Đảng; thành viên từ một nhóm thứ ba tên là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không kịp có mặt). Hội nghị hợp nhất này diễn ra tại căn nhà của một công nhân ở bán đảo Cửu Long (Kowloon) từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2 năm 1930, đúng vào dịp Tết năm Canh Ngọ. Tham dự Hội nghị có 2 đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh Đình CửuNguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng (Nguyễn ThiệuChâu Văn Liêm) và 3 đại biểu ở nước ngoài (có Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, đại biểu của Quốc tế Cộng sản). Hội nghị quyết định thành lập một tổ chức cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua một số văn kiện quan trọng như: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng,

II/ ĐẢNG CS LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU ĐỀU BẮT ĐẦU RÚNG ĐỘNG  VÀO NĂM 1989 , SAU CÁCH MẠNG THANG 10 Ở NGA 72 NĂM .
lý do ko thể khép anh vươn tội giết người ;

nguồn : http://quechoa.info/2012/02/12/khong-ch%E1%BB%91ng-tr%E1%BA%A3-khong-ph%E1%BA%A3i-la-ng%C6%B0%E1%BB%9Di/#comments


Bọ Lập thân yêu! Tôi vừa xem bài báo có nh luật sư nào đó nói phải khởi tố Anh Hùng Đoàn Văn Vươn tôi giết người.
Tôi không biết thân nhân anh này ra sao, tôi có nói với xếp tôi thì xếp tôi nói không thể có căn cứ khởi tố anh Vươn tội giết người được vì:
1. Không có ai bị giết trong vụ án này.
2. Chưa có bằng chứng nào nói rằng anh vươn có ý định giết người.
3. Chưa có bằng chứng nào chứng minh anh vươn trực tiếp cầm vũ khí giết người.
3. Trên truyền hình đã chiếu những tang vật thu được trong vụ án là ống nhòm, mấy con giao , bình ga, đó là những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày, thường trong nhà của người dân nào cũng có.
4. Mìn là gì ? trên hiện trường có tìm thấy vỏ mìn hay không ? biên bản khám nghiệm hiện trường có tìm thấy vỏ mìn không, có tìm thấy súng hoa cải không ? súng hoa cải có là vũ khí giết người không ? Chính anh ca giám đốc công an đã nói bộ công an không chấp nhận coi súng hoa cải là vũ khí vì nó không nguy hiểm nên không xếp súng hoa cải vào loại vũ khí phải quản lý.
5. Khi có tiếng súng hoa cải nổ tại hiện trường thì Anh Vươn có ở trong căn nhà đó không ? có trực tiếp dùng vũ khí chống cự không ?
6. căn nhà anh qúy là nhà hợp pháp, ai muốn đến đó khám xét phải có lệnh khám nhà được viện kiểm sát phê chuẩn, nếu không có lệnh tức là cố tình vi phạm pháp luật, mọi người trong nhà đều có quyền chống lại những kẻ phá nhà bất hợp pháp bất kỳ nó là ai, nếu những kẻ đó có vũ khí và đông hơn thì có quyền chống trả quyết liệt bằng cách dùng vũ khí bắn bị thương.
Anh luật sư nào đó nói rằng khởi tố anh vươn tội giết người là họ chưa hiểu kỹ luật hình sự, chưa nắm được các tình tiết của vụ án. Chưa nắm được mà nói lung tung là không nên.
Đó là ý kiến giải thích của xếp em, người đã tốt nghiệp khóa 1 đại học công an, chắc là ổng nói đúng, đề nghị Bọ đăng ý kiến này để các comen thảo luận nhé.
http://www.phuongthaotd.com

Saturday, February 11, 2012

Nhà nước có tim ? , 

nguồn : http://boxitvn.blogspot.com/2012/02/nha-nuoc-co-tim.html

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức

Từ trước Tết Nhâm Thìn tới nay, ở ta sự kiện Tiên Lãng cưỡng chế gia đình anh Đoàn Văn Vươn bị dư luận lên án sôi sục chưa từng có, đang hừng hực từng ngày, chưa thể lường trước hồi kết, thì ở Đức một sự kiện chấn động tương tự, cuộc đấu tranh nóng bỏng tại Tiểu bang Niedersachsen đòi quyền ở lại cho một gia đình người Việt, sống ở xã Hoya, bị cưỡng chế về nước 3 tháng trước gây phẫn nộ dân chúng, bất bình chính trường, hội đoàn phản đối kịch liệt, sau 83 ngày đã kết thúc thắng lợi. 10 giờ 55 phút, ngày 31.1.2011, ông bà Nguyễn (45 tuổi), cùng 2 con (lên 9 và 6 tuổi) được đón trở lại Đức sinh sống, xuống sân bay Hannover - Langenhagen, Đức, trong vòng vây hơn ba chục người Đức, đại diện các tổ chức, cơ quan, trường học, hội đoàn, vì lương tri và lòng bác ái từng sát cánh tổ chức đấu tranh đòi quyền ở lại cho gia đình, cùng cô con gái đầu, 20 tuổi, tới đón, ôm hôn thắm thiết, dương biểu ngữ, tung bóng bay, tặng hoa, mừng mừng, tủi tủi, sôi động, phấn khích, như trong phim trường, trước hàng chục ống kính, quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn, của các đài truyền hình, truyền thanh, báo chí. Khó ai cầm nổi nước mắt trước cảnh tái đoàn tụ của một gia đình 5 thành viên đã phải trải qua một thảm kịch tan đàn xẻ nghé bởi chính quyền tiểu bang, xảy ra 3 tháng trước lúc 3 giờ 15 phút sáng ngày 8.11.2011.

Đêm đó sương mù dày đặc, ông bà Nguyễn cùng 3 con bị đánh thức dậy bất ngờ. Lực lượng cảnh sát tới ra lệnh cho cả nhà, ngoại trừ cô con gái đầu theo luật định đủ tiêu chuẩn được hưởng quyền ở lại Đức, trong vòng 1 giờ rưỡi, phải thu dọn nhà cửa, gói gém hành lý, lên xe để chở ra sân bay Frankfurt trục xuất về Việt Nam.
Lịch sử vụ trục xuất khởi đầu từ năm 1992, đầu tiên là người chồng mang tên giả, tiếp đến năm 1998 tới lượt người vợ, nhập cư bất hợp pháp vào Đức, lần lượt đệ đơn xin tỵ nạn, đều bị từ chối; rồi kiện ra toà theo luật định cũng bị bác bỏ. Khi có lệnh đòi trục xuất, cả hai liền bỏ trại, sống lưu vong. Sau 3 năm, họ nhập trại lại, lấy tên thật đệ đơn lần nữa. Lúc này ông bà Nguyễn đón cả con gái đầu sang Đức, và tiếp đó sinh thêm 2 con. Trải qua quá trình hàng năm trời xét đơn, kiện ra 2 cấp toà án, tới năm 2006 vẫn bị bác bỏ. Khi bị đòi trục xuất lần 2, gia đình phải trốn tránh bằng cách vào nhà thờ xin tỵ nạn tôn giáo. Một năm sau, ông bà Nguyễn trở lại trại tỵ nạn, để đệ đơn theo luật định, khiếu nại lên Quốc hội xin chiếu cố quyền ở lại, kết qủa bị bác bỏ, đệ tiếp lên Ủy ban cứu xét các trường hợp đặc biệt cũng bị từ chối với lý do từ quá khứ, ông Nguyễn lạm dụng quy chế tỵ nạn chính trị, khai tên giả, sống lưu vong, đưa con gái vượt biên, kết cục gia đình ông lại bị đòi trục xuất lần 3. Hết mọi cơ sở pháp lý chống đỡ, không còn biết bấu víu vào đâu, gia đình ông bà Nguyễn sau gần 20 năm lưu lạc xứ người, trầy trật vật lộn tìm cách ở lại, đành tuyệt vọng buông xuôi, phó mặc cho số phận, cam chịu trục xuất.
Vụ trục xuất hoàn toàn đúng quy trình pháp lý, như bất kỳ trường hợp xin tỵ nạn nào, chỉ thi hành, sau khi họ đã kiện ra toà án từ sơ thẩm tới phúc thẩm bị xử thua, đệ đơn lên Quốc hội khiếu nại bị từ chối, viện tới Ủy ban cứu xét các trường hợp đặc biệt, bị bác bỏ, nhưng trong trường hợp ông bà Nguyễn đã đánh vào lương tri, lòng nhân đạo, tính bao dung của mỗi con người trước nỗi khốn cùng của đồng loại. 20 năm tìm cách ở lại cũng là 20 năm, dài tới 1/5 đời người, gia đình ông bà Nguyễn đã gắn bó với bản địa chẳng khác gì người Đức, làm việc chăm chỉ với đồng nghiệp Đức trong công ty Đức, nộp thuế, đóng bảo hiểm cho nhà nước Đức, tham gia mọi hoạt động xã hội địa phương, làm từ thiện chăm sóc một cụ bà Đức đơn côi như ruột thịt, con cái sinh ra, lớn lên và học hành ở đây, mảnh đất này đã trở thành quê hương của chúng, được nhà thờ, các hội đoàn và dân chúng địa phương mến mộ, coi như hàng xóm của mình. Họ không thể làm ngơ trước tai họa trục xuất ập xuống đầu hàng xóm họ. Một làn sóng phẫn nộ chưa từng có xưa nay, nhắm vào Bộ trưởng Nội vụ được pháp luật quy định chịu trách nhiệm pháp lý đối với vụ trục xuất, dấy lên rộng khắp, phản đối vụ trục xuất gia đình ông bà Nguyễn đồng nghĩa với trục xuất chính người Đức ra khỏi quê hương bản quán họ. Hiệp hội giúp đỡ người tỵ nạn Früchtlingsrat Tiểu bang chỉ trích dữ dội Chính phủ theo đuổi chính sách không khoan dung, mở một chiến dịch kêu gọi công dân lên tiếng phản đối bằng email gửi trực tiếp cho Thủ hiến và Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang. Báo chí, truyền thông đưa tin dồn dập phản đối. Đài truyền hình vùng Bắc Đức NDR vào cuộc, tường thuật tỷ mỉ vụ trục xuất với sự tham gia của cô con gái đầu ông bà Nguyễn. Học sinh cùng lớp con ông bà Nguyễn viết thư tập thể gửi lên Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang kiên quyết chống lại. Tổ chức Nhà thờ Tiểu bang đe doạ sẽ từ chức khỏi Ủy ban cứu xét những trường hợp đặc biệt. Đảng đối lập FDP, và SPD cho rằng những gì Bộ trưởng Nội vụ khẳng định đúng luật đều vi phạm quan niệm cơ bản về nhân đạo của đa số dân chúng Tiểu bang. Bản thân đảng CDU cầm quyền Tiểu bang, từ Chủ tịch, Phó Chủ tịch đảng bộ điạ phương Hoya, tới Trưởng đoàn Nghị sỹ đảng CDU Tiểu bang, Nghị sỹ Liên bang thuộc khu vực bầu cử tại điạ phương, cựu Phó Chánh án Toà án Hiến pháp Liên bang đều lên tiếng phản đối, thậm chí có đảng viên CDU rút khỏi đảng. Chính quyền Huyện Nienburg, nơi thực thi lệnh trục xuất, ra tuyên bố, giá như Bộ Nội vụ không chỉ thị, thì họ đã cấp giấy phép lưu trú cho gia đình ông bà Nguyễn, và cùng với Hội đồng nhân dân gửi thư đòi Thủ hiến nhanh chóng đưa gia đình ông bà Nguyễn trở lại Đức.
Chỉ sau 3 ngày bị công luận nhất loạt phản đối, theo đề xuất của nhóm nghị sĩ đảng Linken, Quốc hội Tiểu bang cho mở phiên chất vấn Bộ trưởng Nội vụ, đòi phải đón gia đình ông bà Nguyễn trở lại, yêu cầu sửa đổi Luật Lưu trú từ thực tế này. Bộ trưởng giải trình, theo trình tự pháp lý, gia đình ông bà Nguyễn đã đệ đơn đến các toà án từ thấp lên cao, đến Quốc hội, đến Ủy ban cứu xét, tất cả đều bị bác bỏ; Bộ ông với chức năng thực thi luật pháp, không thể làm khác.
Nhưng vụ trục xuất đã không còn nằm ở pháp luật mà ở tính người. Trước áp lực công luận, chính trường, gia tăng từng ngày, đến ngày thứ 3 tiếp theo, Bộ trưởng Nội vụ Schünemann phải nhượng bộ, tuyên bố đón gia đình ông bà Nguyễn trở lại Đức. Lúc này Schünemann mới tỏ ra thấm thía, lý giải quyết định mang tính người đó, trước công luận: “Bộ trưởng cũng có tim, không thể nhắm mắt trước nỗi khốn cùng của con người“. Có nghĩa dù nhân danh nhà nước, đầy “quyền sinh, quyền sát“, thì bộ trưởng vẫn là một con người, mang tính người, không thể thực thi nó bất chấp vận mệnh, cuộc sống con người. Nếu không, đó là một nhà nước không tim; lịch sử loài người đã từng chứng kiến như thế với nhà nước diệt chủng Đức Quốc xã hay Khơme đỏ.
Hai vụ cưỡng chế gia đình ông Nguyễn ở Đức và ông Vươn ở Tiên lãng cùng xuất phát từ lệnh của quan chức chịu trách nhiệm hành chính cao nhất, cũng diễn ra sau một thời gian dài tranh chấp pháp lý, nhưng ở Đức do pháp luật bắt buộc, bằng biện pháp hành chính; dù không phải công dân họ, đối tượng vẫn được đảm bảo cuộc sống, hộ tống an toàn khi trục xuất, cấp từ vé máy bay tới bảo hiểm y tế, tiền chi tiêu dọc đường; và khi đón trở lại cũng vậy, bảo đảm toàn bộ chi phí di chuyển, nơi ăn chốn ở, con cái học tập, nhu cầu sinh hoạt, làm việc bình thường cho cả gia đình, ổn định chỉ sau 1 tuần. Trong khi đó, Tiên Lãng cưỡng chế công dân mình bằng biện pháp vũ trang, huy động cả quân đội vốn sinh ra để chiến đấu chống xâm lược; không do pháp luật bắt buộc, mà theo lệnh người đứng đầu, nhằm thu hồi hoặc tịch thu, hoặc triệt tiêu toàn bộ những gì đối tượng đã làm ra hay đang sử dụng, bất biết liệu họ có thể tồn tại được hay không khi mất cả chốn nương thân, lẫn mọi phương tiện sinh hoạt. Liệu người đứng đầu chính quyền Tiên Lãng “cũng có tim“ như Bộ trưởng Đức phát biểu?
Trong lúc Tiểu bang Niedersachsen từ các đảng phái, hội đoàn, tới chính quyền các cấp trực thuộc, từ nghị sỹ tiểu bang, tới nghị sỹ Liên bang ứng cử khu vực đó, đều lên tiếng phản đối người đứng đầu chính quyền họ, không cần Liên bang phải can thiệp, thì ở Tiên Lãng ngược lại, huy động toàn bộ công, dân, chính, đảng, ra sức bảo vệ sai phạm của mình; nếu cả nước không „đứng lên“ phản đối, chính quyền trung ương không can thiệp, thì chính quyền Tiên Lãng không tim chưa biết sẽ còn trượt tới đâu và đến mức nào với những công dân thấp cổ bé họng của họ cả về pháp luật lẫn đạo lý ? Ở đây không còn là vấn đề riêng của chính quyền Tiên Lãng vốn một khi vi phạm đã có pháp luật xử lý, mà liên quan tới toàn xã hội và thể chế. Liệu Tiên Lãng đã đủ gây sốc, làm bừng tỉnh cả xã hội lẫn chính quyền cả nước?
Cơ chế nào đã biến một cấp nhà nước vốn được sinh ra chỉ do dân vì dân và của dân, bỗng trở nên không tim với chính công dân mình, tới mức không thể tự điều chỉnh - thuộc tính bắt buộc phải có của một nhà nước dân chủ, như chính quyền Đức sau vụ trục xuất ông bà Nguyễn. Hy vọng Hiến pháp sửa đổi tới sẽ đặt nền móng giải quyết nó. Nhưng trong trường hợp vụ cưỡng chế gia đình ông Vươn có liên quan trực tiếp đến tư duy, chính sách và pháp luật đất đai ở ta, qua bao lần cải cách, vẫn không đoạn tuyệt được dấu ấn của nền kinh tế quản lý tập trung trước đây, vốn chỉ thích nghi với nền kinh tế đó - một nền kinh tế chỉ nhằm hoàn thành kế hoạch nhà nước, theo nguyên lý, tư liệu sản xuất, nhà máy, đất đai đều thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế theo đuổi mục đích lợi nhuận, làm giàu, mọi tư liệu sản xuất làm ra giá trị gia tăng đều được quyền sở hữu tư nhân, để phục vụ cho mục đó; nhưng riêng đất đai lại không, biến cấp quản lý nhà nước về đất đai trở thành chủ đất trên thực tế (với cá nhân trước kia gọi là điạ chủ), gây nên bao hệ luỵ bất công và bất ổn xã hội, mà Tiên Lãng là bằng chứng của một giọt nước tràn ly. Không thể bao biện cho quyền sở hữu nhà nước về đất đai bằng lập luận, đất đai coi như lãnh thổ thuộc sở hữu toàn dân, nên nhà nước phải quản lý để thu hồi, cấp, chia, phân bổ, phục vụ cho lợi ích chung. Phục vụ cho lợi ích chung đó, không một quốc gia hiện đại nào trên thế giới phải viện tới độc quyền sở hữu đất đai cả, nhưng khi bắt buộc cần, họ vẫn có thể quốc hữu hoá không chỉ đất mà cả tài sản cá nhân, thông qua đền bù có lợi cho chủ sở hữu, được điều chỉnh bằng hiến pháp và các văn bản lập pháp (chứ không phải lập quy) và do hệ thống toà án phán quyết nếu tranh chấp. Đất đai dù đóng vai trò gì đi nữa, thì trong nền kinh tế thị trường cũng chỉ được coi là hàng hoá, định giá bằng tiền. Một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh không thể nào phân chia nổi đất đai hay tài sản sao cho công bằng, mà chỉ có thể phân chia đồng tiền. Nước Đức hiện đại hàng đầu thế giới, với trên 80 triệu dân cũng chỉ có 5.180.000 nhà riêng (năm 2008), số còn lại thuê nhà. Nhưng nước họ không một ai không chỗ ở, hay thiếu điện nước, chữa bệnh, sinh hoạt phí tối thiểu, kể cả công dân nước ngoài cư trú ở họ, tất cả đều xuất phát từ nền tảng chính sách tài chính, tức là tiền, chứ không phải đất!
N.S.P.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Monday, January 30, 2012



Nhân vụ Tiên Lãng bàn về công vụ

Tiếng nổ ở Tiên Lãng ngày 5/1/2012 đã làm chấn động bốn phương, quá đủ để thức tỉnh những ai còn có thể thức tỉnh. Nó buộc những người có lương tri phải suy nghĩ, để trả lời câu hỏi: Vì sao lại có kết cục bi thảm như vậy? Sẽ còn bi thảm hơn nếu những người cầm quyền không rút ra bài học hợp lý để xử lý đúng vụ này.
Một số người đòi nghiêm khắc xử lý ông Đoàn Văn Vươn và những người liên quan về tội chống người thi hành công vụ. Nhiều người tin rằng gia đình ông Vươn là nạn nhân của cường hào ác bá thời nay, nhưng cũng nghĩ là họ không thể tránh khỏi bị trừng phạt vì đã chống người thi hành công vụ. Ngày 10/1/2012 Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hải Phòng đã phê chuẩn quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hải Phòng, khởi tố bị can đối với ông Đoàn Văn Vươn và 3 người thân về tội giết người, đồng thời khởi tố vợ và em dâu ông Vươn về tội chống người thi hành công vụ
Hai tiếng “công vụ” cứ lặp lại, vang lên như tiếng chuông dồn dập trong buổi chiều tà, khi cái ác hoành hành, nhân danh công vụ để ức hiếp dân lành, khiến tâm hồn bất an, lương tri bứt rứt. Vì vậy tôi phải gạt bao việc cần kíp sang một bên để viết bài này.
Công vụ hay mạo danh công vụ?
Công vụ là gì? Bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết rằng:
“Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội.” 
Nội dung này cũng phù hợp với cách giải nghĩa trong Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam.
Rõ ràng, công vụ phải là việc công, do công chức nhân danh nhà nước thực hiện. Nếu lợi dụng chức quyền để triển khai những việc nhằm trục lợi cho bản thân, không nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội, thì không thể ngụy biện là công vụ. Những kẻ nhân danh chính quyền để chiếm đất của dân rồi giao cho người khác để kiếm chác những khoản tiền tham nhũng, thì không còn đủ tư cách xưng danh công chức để ra lệnh hay thi hành công vụ.
Công vụ phải có lý do rõ ràng và minh bạch. Lấy đất của dân, lúc thì bảo là do hết hạn thuê, lúc thì viện cớ xây dựng sân bay, lúc lại ngụy biện là để đảm bảo công bằng. Mỗi lúc tung ra một lý do khác nhau, để che dấu cái mục đích xấu xa, thì chỉ thể hiện thói dối trá đã ăn sâu vào xương tủy, đã di căn từ đầu đến chân, chứ không thể biện hộ được lý do công vụ.
Công vụ thì phải chính danh, phải có những người đủ thẩm quyền ra lệnh, thi hành và chịu trách nhiệm. Phá nhà của dân, rồi trơ trẽn vu khống cho nhân dân bức xúc nên phá, thì không thể gọi là chính danh. Việc cho công chức giả danh dân thường hoặc huy động thành phần bất hảo để giải tán biểu tình, ngăn cản khiếu kiện hay đàn áp ai đó là không chính danh. Việc dùng một thông báo không ai dám ký làm bình phong để đàn áp người biểu tình yêu nước là không chính danh. Công an mặc thường phục để rình bắt những người vi phạm quy tắc giao thông cũng không chính danh. Đang lái xe trên đường, thấy người mặc thường phục rượt đuổi, thì lấy gì để đảm bảo rằng đấy không phải là cướp? Ngay cả trong trang phục công an còn khó phân biệt được kẻ xấu, người ngay, huống chi là mặc thường phục. Vậy mà lại bắn vào đùi người đi đường chỉ vì không chịu dừng xe (theo đòi hỏi của công an giả dân), thật là ngang ngược hết mức. 
Thi hành công vụ thì phải thực hiện đúng mục tiêu. Quyết định thu hồi đất một nơi, lực lượng cưỡng chế lại tiến vào hành sự trên một mảnh đất khác, hoàn toàn không nằm trong khu vực bị thu hồi, và đập phá nhà dân trên diện tích ấy. Đó là xâm phạm và phá hoại tài sản hợp pháp của công dân. Không chỉ phá hoại, một khi người tham gia cưỡng chế đã vơ vét đồ đạc, Xã đội phó cuỗm cả cái ổn áp, thì phải gọi là cướp bóc. Chẳng nhẽ công vụ là vậy sao? Nếu người nhà ông Vươn đuổi theo vị Xã đội phó và giật lại cái ổn áp, thì sẽ bị buộc cho tội chống người thi hành công vụ chăng?
Điều tiên quyết là công vụ chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Về vụ Tiên Lãng, đã có rất nhiều bài viết chỉ ra việc chính quyền địa phương quyết định thu hồi đất và tiến hành cưỡng chế đối với gia đình ông  Đoàn Văn Vươn là trái pháp luật. Đặc biệt, Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã đánh giá: “Tôi đang theo dõi sát vụ việc này nên có thể khẳng định chính quyền sai từ xã đến huyện. Điểm sai đầu tiên là để sự việc kéo dài quá nhiều năm mà không xử lý đến nơi đến chốn và thấu tình đạt lý. Người làm được, làm tốt đáng lẽ phải động viên, tạo điều kiện nhưng lại cố thu hồi của người ta, đó là cái sai thứ hai. Việc thu hồi còn trái pháp luật là cái sai thứ ba. Cái sai thứ tư là chính quyền cố tình vi phạm luật pháp, dồn người dân vào chân tường, làm họ uất ức đến mức phải chống lại.”Thiết tưởng không cần phải bổ sung thêm gì nữa. Một hoạt động, cho dù của ai, cho dù ở cấp nào, mà vi phạm pháp luật, thì tự nó đã tước bỏ chính danh của công vụ.
Vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng vi phạm tất cả những tiêu chí kể trên, nên không thể xem là một công vụ theo nghĩa tử tế. Nó đẩy chính quyền đứng trước hai lựa chọn. Nếu coi nó là một công vụ thì sẽ phải trả lời cho nhân dân câu hỏi: Tại sao chính quyền này lại có loại công vụ tệ hại, ức hiếp người dân như vậy? Nếu không coi nó là một công vụ thì cũng không thể buộc cho ông Đoàn Văn Vươn và người thân vào tội chống người thi hành công vụ, mà phải nghiêm trị những kẻ mạo danh công vụ để trục lợi, hại dân và bôi nhọ công vụ.
 Thi hành công vụ hay tòng phạm việc xấu?
Bình thường, đã là công chức thì phải thực hiện nhiệm vụ được lãnh đạo phân công. Là công an, bộ đội thì lại càng phải tuân theo mệnh lệnh của chỉ huy. Kỷ luật ấy là điều kiện cần thiết để một chính quyền có thể vận hành trôi chảy. 
Nếu có thể yên tâm rằng mọi nhiệm vụ đều hợp lý, mọi mệnh lệnh đều đúng đắn, thì người thi hành chỉ còn phải lo hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhưng lấy đâu ra cái yên tâm ấy giữa thời buổi tham nhũng tràn lan, trở thành quốc nạn, việc lớn việc nhỏ bị chi phối bởi các nhóm lợi ích? Khi môi trường bị ô nhiễm trầm trọng thì không thể ngây ngô tin rằng mọi giọt nước từ trên trời rơi xuống đều trong sạch; ngược lại, phải ý thức rằng nước trời có thể chứa đầy độc tố. Khi trên đầu có cả “một bầy sâu” (theo cách nói của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang) thì công chức có thể phải tiếp nhận cả những nhiệm vụ xấu xa, những mệnh lệnh sai trái.
Với những người a dua, mong được theo đóm ăn tàn, hay những kẻ chờ dịp để thỏa máu côn đồ, vốn dĩ bị kìm nén bởi địa vị công tác, như kẻ đã đạp vào mặt người biểu tình yêu nước, thì chẳng có gì khiến họ phải lăn tăn. Nhưng với những công chức mẫn cán, những sĩ quan và chiến sĩ một mực trung thành, thì hoàn cảnh trớ trêu ấy đẩy họ rơi vào tình thế khó xử. Không tuân lệnh thì vi phạm kỷ luật và băn khoăn về trách nhiệm. Mà tuân lệnh thì lại bứt rứt lương tâm, nhất là khi phải tham gia làm hại người lành. Cuối cùng thì quyền lợi bản thân thường là trọng lượng quyết định làm lệch cán cân do dự. Liều thuốc an thần hay được dùng để tự an ủi là mình chỉ làm theo phận sự, buộc phải tuân lệnh, và nếu sai thì người ra lệnh phải chịu trách nhiệm chứ không phải người thi hành…
Tiếc rằng liều thuốc ấy không đủ để gột bỏ trách nhiệm của những người tham gia vào những việc sai trái. Khi người ta sai anh làm một việc xấu xa, ví dụ như việc dùng vòi cứu hỏa phun nước thải vào người dân để giải tỏa chợ, mà anh vẫn làm, thì anh sẽ bị nhân dân nguyền rủa và gia đình anh sẽ không biết trốn đi đâu để thoát khỏi nỗi nhục nhã.
Trong hoàn cảnh ô nhiễm, cần tỉnh táo suy xét, xem cái việc mình phải thực hiện có thể coi là công vụ chân chính hay không? Việc đó xuất phát từ lý do gì? Phục vụ ai và có hại cho ai? Điều đó có chính đáng hay không? Người thi hành công vụ trước hết phải là Người, tức là phải biết tư duy, biết phân biệt phải trái… Không thể hành động một cách mù quáng, với tư duy nô lệ, theo kiểu lính đánh thuê, rằng ai trả tiền cho tôi thì tôi tuân lệnh người đó. Nếu biết rõ là việc xấu mà vẫn làm thì là tòng phạm, không thể ngụy biện là thi hành công vụ.
Điều quan trọng là phải xét xem nhiệm vụ được giao có hợp pháp hay không. Khi phát hiện ra nhiệm vụ phải thực hiện hay mệnh lệnh phải tuân theo vi phạm Hiến pháp, pháp luật, thì mọi công dân có quyền không chấp hành và có trách nhiệm đấu tranh chống lại vi phạm ấy, theo đúng quy định trong Điều 12 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992:
“Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật.”
Rõ ràng, nếu có quy định buộc một loại công dân nào đó (kể cả công chức, sĩ quan và chiến sĩ trong lực lượng công an hay quân đội) phải chấp hành cả những mệnh lệnh tiến hành công vụ vi phạm Hiến pháp, pháp luật, thì quy định ấy vi phạm Điều 12 của Hiến pháp hiện hành, và hiển nhiên nó phải bị hủy bỏ.
Tiếc rằng, có cả cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia cưỡng chế gia đình ông Đoàn Văn Vươn, trong khi Hiến pháp năm 1992 xác định nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ Tổ quốc, chống ngoại xâm (Điều 46) và nhiệm vụ của công an mới là bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội… (Điều 47). Tức là các cán bộ, chiến sĩ ấy đã vượt khỏi khuôn khổ hoạt động của quân đội được quy định trong Hiến pháp hiện hành. Đây là một vi phạm Hiến pháp nghiêm trọng, mang tính nguyên tắc. Không thể biện hộ là do thiếu hiểu biết, vì đó là kiến thức pháp luật tối thiểu và Luật số 16/1999/QH10 về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã quy định là sĩ quan phải có trình độ về pháp luật (Điều 12). Một khi tham gia vào chuyện không được Hiến pháp cho phép thì không thể quan niệm là các sĩ quan và chiến sĩ quân đội đã thi hành công vụ, và nếu quả thật cuộc cưỡng chế gia đình ông Vươn là sai trái thì họ đã trở thành tòng phạm trong một vụ việc xấu. Khi đó, nếu có bị thương thì cũng nên ráng chịu, thay vì oán trách những người bị dồn vào bước đường cùng. 
Kể cả trong trường hợp có vẻ như không vi phạm pháp luật hiện hành thì người công chức cũng nên thận trọng xem xét khía cạnh đạo lý của nhiệm vụ được giao. Đừng ỷ vào hai chữ “công vụ” và vị thế “thi hành mệnh lệnh” mà cho rằng chúng đủ để bảo vệ mình vĩnh viễn. Biết bao sĩ quan và binh sĩ của chế độ cũ đã bị giam vào trại cải tạo nhiều năm, mặc dù họ có thể biện minh rằng họ chỉ thi hành mệnh lệnh theo đúng nghĩa vụ của người lính và hành động của họ phù hợp với pháp luật của chế độ cũ.
Càng trung thành với chế độ thì càng phải ý thức rằng: Trong số những mệnh lệnh, nhiệm vụ mà mình tiếp nhận, có thể có những cái mà hệ quả của chúng là bôi nhọ và phá chế độ. Vụ cưỡng chế gia đình ông Đoàn Văn Vươn là một trong rất nhiều trường hợp như vậy. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nhận định rằng:
“… rõ ràng vụ việc Tiên Lãng là một tổn thất chính trị lớn cho uy tín của các cấp ủy và chính quyền Hải Phòng và ảnh hưởng xấu đến cả nước.”
Cho nên, nếu cứ mù quáng chấp hành mọi mệnh lệnh sai trái thì sẽ có tội với chính chế độ mà mình đang phụng sự.
Phán xét cuối cùng không phải lời vàng ý ngọc của lãnh đạo, cũng không phải là phán xử của tòa án, mà thuộc về nhân dân, thuộc về lịch sử. Nếu tham gia vào chuyện bất nghĩa, thất đức, thì vỏ bọc công vụ sẽ không đủ để che chở trước sự lên án của nhân dân và sự phán xét của lịch sử.
Tội chống người thi hành công vụ
Chế độ nào cũng có trách nhiệm bảo vệ người thi hành công vụ. Chế độ này cũng rất tích cực trong việc ấy, thậm chí là trên cả mức hợp lý. Khi có va chạm, xung đột, thì tội của những người thuộc bộ máy chính quyền hay được nương nhẹ, thậm chí được bao che, còn tội của dân thường thì bị nghiêm trị, nhiều khi nghiêm hơn cả mức cần thiết. Kiểu cư xử không công bằng, quá nuông chiều người của chính quyền, đồng thời coi nhẹ dân thường, khiến nhiều công chức, công an ngày càng trở nên quá trớn, hay lợi dụng lý do công vụ để làm chuyện bất minh. Bức xúc dồn nén, dẫn đến hành động chống người thi hành công vụ ngày càng gia tăng, đó cũng là quy luật.
Khi công vụ được thi hành một cách đúng đắn thì người chống lại cần bị trừng phạt. Nhưng khi công vụ được thực hiện không đúng với quy định của pháp luật thì không thể đòi hỏi người dân phải im lặng chấp thuận, và không thể đơn giản kết tội chống đối nếu người dân có phản ứng tự vệ.
Bộ luật hình sự của nước Đức được ban hành vào năm 1871, với tội chống người thi hành công vụ được quy định ở Điều 113, trong đó viết rõ điều kiện áp dụng là công vụ được thực hiện đúng pháp luật (rechtmäßige Ausübung). Tức là không thể mặc nhiên kết tội này cho người chống lại nếu công vụ được thực hiện sai pháp luật. Điều kiện “thực hiện đúng pháp luật” được duy trì trong Điều 113 suốt 98 năm, “sống sót” qua 4 lần chỉnh sửa Bộ luật hình sự, kể cả lần chỉnh sửa vào năm 1943 dưới thời phát xít. Đó là một yếu tố pháp lý quan trọng để bảo vệ người dân trước khả năng lạm dụng quyền lực của bộ máy công quyền. Chưa yên tâm với điều kiện đó, năm 1970 các nhà lập pháp Cộng hòa Liên bang Đức đã thay nó bằng một điều khoản rõ ràng hơn, có tác dụng bảo vệ người dân triệt để hơn, đó là:
Hành động (chống người thi hành công vụ) không thể bị xử phạt theo quy định này (tức là quy định trong Điều 113) nếu việc thực hiện công vụ không đúng pháp luật.
Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1985 (trong đó tội chống người thi hành công vụ được quy định ở Điều 205) và được sửa đổi, bổ sung 4 lần trong các năm 1989, 1991, 19921997. Năm 1999 Quốc hội thông qua Bộ luật hình sự mới (trong đó tội chống người thi hành công vụ được quy định ở Điều 257) và nó đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009. Trong cả hai lần ban hành và qua 5 lần chỉnh sửa Bộ luật hình sự, điều về tội chống người thi hành công vụ chỉ quy định một chiều về việc xử phạt đối với những người chống người thi hành công vụ, mà không nhắc đến điều kiện công vụ phải được “thực hiện đúng pháp luật”, lại càng không có khoản nào để bảo vệ dân oan, buộc phải tự vệ trước hành động vi phạm pháp luật của người mang danh thi hành công vụ. Xét về phương diện này thì Bộ luật hình sự hiện hành của Việt Nam không bằng Bộ luật hình sự của Đức ra đời cách đây 141 năm, chỉ 4 tháng sau khi Đế chế Đức (Deutsches Kaiserreich, 1871-1918) được thành lập.
Khiếm khuyết này của Bộ luật hình sự khiến các “con trời” càng dễ ngộ nhận và tùy tiện chụp lên đầu người dân tội chống người thi hành công vụ. Bị công an đánh mà giơ tay che chắn theo phản xạ tự nhiên cũng có thể bị ghép cho tội ấy. Một số công an không mặc quân phục, không xuất trình giấy tờ chứng minh tư cách công an, nhưng nếu người dân nghi ngờ và không tuân theo đòi hỏi của họ, thì họ cũng có thể nổi nóng, vu cho người dân tội chống đối. Trong vụ Tiên Lãng, khi xảy ra đụng độ, bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) và bà Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) đứng trên đê, từ xa nhìn lại. Vậy mà hai người phụ nữ yếu ớt ấy lại bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ
Dù xã hội văn minh đến đâu thì cũng vẫn xảy ra việc người thi hành công vụ vô tình hay cố ý vi phạm pháp luật, khiến người dân phải tự vệ một cách chính đáng. Cho nên, những quy định pháp lý như trong Bộ luật hình sự của Đức để bảo vệ người dân trước khả năng công quyền bị lạm dụng là thực sự cần thiết. Ở Việt Nam, khi mà sự tha hóa và tham nhũng đã làm ô nhiễm bộ máy công quyền, công chức quá thiếu hiểu biết về pháp luật, tòa án hay xét xử tùy tiện, thì những quy định để bảo vệ dân oan lại càng bức thiết. Rõ ràng, các nhà lập pháp đang nợ nhân dân việc sửa đổi Điều 257 (về tội chống người thi hành công vụ) của Bộ luật hình sự hiện hành, để đáp ứng đòi hỏi cấp bách của cuộc sống.
Ngay cả với quy định hiện nay của Bộ luật hình sự thì cũng không thể đơn giản buộc cho những người trong gia đình họ Đoàn tội chống người thi hành công vụ, nếu không chứng minh được rằng việc cưỡng chế là một công vụ đúng đắn, được thi hành theo đúng quy định của pháp luật, và mọi người được huy động đều có đủ tư cách pháp lý để tham gia. Khi quyết định thu hồi đất là sai thì việc cưỡng chế cũng sai. Cho dù coi quyết định thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn là đúng, thì việc lực lượng cưỡng chế có trang bị vũ khí hiện đại tự tiện tiến vào khu đất không thuộc diện thu hồi và phá hủy ngôi nhà của ông Đoàn Văn Quý nằm trên mảnh đất đó là hoàn toàn sai. 
Theo Quyết định thu hồi số 461/QĐ-UBNDQuyết định cưỡng chế số 3307/QĐ-UBND của UBND huyện Tiên Lãng thì phạm vi cưỡng chế chỉ là 19,3 ha đã được giao cho gia đình ông Vươn theo Quyết định số 220/QĐ-UBND. Những người họ Đoàn không hề có mặt trên diện tích 19,3 ha ấy, không cản đường vào khu vực ấy, nên không thể nói là họ chống lại lực lượng cưỡng chế, nếu lực lượng này chỉ tiến hành cưỡng chế theo đúng Quyết định số 3307/QĐ-UBND. Anh em họ Đoàn chỉ ở trong nhà của mình, trên mảnh đất hợp pháp của mình, vì vậy họ có quyền tự vệ nếu có người tấn công họ. 
Mục tiêu thực sự của cuộc cưỡng chế ở Tiên Lãng ngày 5/1/2012 là gì? Hãy xem An ninh Thủ đô 5/1/2012 tường thuật:
“Trước đó vào lúc 7 giờ 30, đoàn công tác của UBND huyện Tiên Lãng gồm hơn 100 CBCS Công an, quân đội và Bộ đội Biên phòng và đại diện các ban ngành chức năng tổ chức cưỡng chế diện tích đất hơn 50 ha đầm nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn quả tại vùng bãi bồi ven của Đoàn Văn Vươn (SN 1960) đã đấu thầu nhiều năm nhưng đến nay đã hết hạn và không chịu đóng thuế trong thời gian dài.”
“Để đảm bảo an toàn cho đoàn công tác cưỡng chế, một tổ công tác bí mật tiếp cận ngôi nhà của Vươn xây dựng trên diện tích đất này thì bất ngờ một quả mìn tự chế phát nổ hất văng 2 CBSC công an huyện Tiên Lãng làm bất tỉnh tại chỗ nhưng rất may là không gây thương vong.”
… khi tổ công tác vừa áp sát ngôi nhà thì bất ngờ từ trong nhà Vươn cùng người nhà chĩa súng bắn đạn hoa cải liên tiếp nhả đạn vào lực lượng chức năng, làm 4 Cán bộ chiến sỹ Công an và một số cán bộ chiến sỹ quân đội bị thương.”
Như vậy, ngay từ đầu người ta đã định cưỡng đoạt toàn bộ diện tích đất mà gia đình ông Đoàn Văn Vươn đang sử dụng (tức bao gồm cả 21 ha không có quyết định thu hồi). Điều này cũng được Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền đề cập trong cuộc họp báo chiều ngày 5/1/2012. Hơn nữa, lực lượng vũ trang đã chủ động tiếp cận ngôi nhà của ông Đoàn Văn Quý (mà An ninh Thủ đô gọi là “ngôi nhà của Vươn”), nằm trên diện tích 21 ha không thuộc diện thu hồi. Có nghĩa là ngôi nhà vô can và hợp pháp ấy đã bị xác định là mục tiêu tấn công, trước khi người nhà họ Đoàn có bất cứ biểu hiện chống đối nào. Chỉ khi lực lượng vũ trang tiếp cận ngôi nhà của ông Quý thì quả mìn mới phát nổ và sau đó, khi lực lượng ấy lại áp sát ngôi nhà thì đạn hoa cải mới bắn ra.
Làm sao có thể biện minh được việc huy động lực lượng công an và quân đội để tấn công vào nhà đất hợp pháp của công dân như vậy? Chuyện “không chịu đóng thuế trong thời gian dài” được đưa ra không chỉ để bổ sung thêm tội, mà có lẽ để biện hộ cho việc chiếm cả diện tích 21 ha chưa hết hạn cho thuê. Cái mẹo không chịu nhận tiền thuế của dân để sau này dễ bề “gây sự” đã trở thành kinh điển từ lâu. Có điều, dân đóng thuế thì không chịu nhận, rồi lại vu cho dân không chịu đóng thuế, thì quá vô liêm xỉ.
Nếu lực lượng cưỡng chế chỉ tới diện tích 19,3 ha ghi trong Quyết định thu hồi số 461/QĐ-UBND và Quyết định cưỡng chế số 3307/QĐ-UBND, không tùy tiện tiến vào khu vực 21 ha mà quyền quản lý và sử dụng hợp pháp hoàn toàn thuộc về anh em họ Đoàn, không tiếp cận ngôi nhà của ông Quý, thì mìn đã không nổ, súng đã không bắn và do đó không có ai bị thương cả. Vậy thì, nói cho cùng, ai mới là người phải chịu trách nhiệm về việc 4 cán bộ, chiến sĩ công an và 2 cán bộ quân đội bị thương? Nếu có tội giết người trong vụ này, thì ai mới là người phải chịu tội ấy?
Giả sử công vụ không vi phạm pháp luật hiện hành, thì khi phán xét về tội chống người thi hành công vụ cũng không thể bỏ qua khía cạnh đạo lý. Vâng, có một thứ cao hơn cả pháp luật, bền hơn cả chế độ, đó là đạo lý. Đất đã giao cho dân sử dụng bao nhiêu năm nay, dân đã đổ biết bao công sức và tiền của để cải tạo và gây dựng, bây giờ chính quyền thu hồi mà không bồi thường, rồi giao cho cá nhân khác, thì chẳng đạo lý nào chấp nhận được.
Trước khi lên án một hành động chống người thi hành công vụ thì nên lưu ý là tội này không phải là một phạm trù tuyệt đối, không phải là vĩnh cửu. Trên cương vị cầm quyền thì thấy hành động chống người thi hành công vụ rõ ràng là một tội cần bị trừng trị nghiêm khắc, không thể bàn cãi. Nhưng nếu chịu khó lục lại trí nhớ, quay về thuở còn đang tìm cách giành chính quyền bằng bạo lực, sẽ thấy thời ấy quân ta cũng đã từng chống người thi hành công vụgiết người thi hành công vụ của chế độ cũ. 
Những tiếng nổ tuyệt vọng làm cộng đồng tỉnh giấc, nhưng cũng làm tan nát một đại gia đình. Giá mà mấy anh em họ Đoàn kiềm chế hơn… Nhưng liệu họ còn có cách hành động nào khác, để cứu thành quả lao động vất vả mấy chục năm và bao tỷ đồng còn vay nợ, hay không? Khiếu nại với chính quyền, với tòa án địa phương ư? Thì họ đã làm rồi. Không thu được kết quả cần thiết, mà lại còn bị lừa. Khiếu nại với chính quyền trung ương và tòa án cấp cao hơn ư? Bao dân oan kéo về thủ đô đã bị trả về địa phương với lý do không được khiếu kiện vượt cấp. Hơn nữa, kết quả của một số vụ xét xử gần đây cho người dân cảm giác rằng cấp nào xử cũng vậy. Gửi kiến nghị cho X, Y, Z ư? Ngay cả các bậc đại công thần gửi tâm thư cũng không nhận được hồi đáp, các trí thức có tên tuổi kiến nghị hay khởi kiện cũng không được trả lời tử tế, vậy thì những người như ông Vươn (đến cả cấp xã cũng coi là dân ngụ cư nên không cần quan tâm) có thể hy vọng gì? Có lẽ gia đình họ Đoàn cảm thấy mọi nẻo đường hợp pháp đều đã bị chặn đứng, nên đành liều tự xử. Trách nhiệm gây ra cảnh bất công cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn có thể thuộc về một số người trong bộ máy chính quyền ở Hải Phòng. Nhưng để cho người dân mất hết niềm tin, manh động trong tuyệt vọng, thì trách nhiệm chắc chắn không chỉ nằm ở cấp Hải Phòng.
Giá mà gia đình họ Đoàn kiên trì hơn, như bao người theo đòi công lý suốt hàng chục năm không nản… Nhưng cũng nên thông cảm với sự sốt ruột của những người chăn nuôi hải sản, không thể bỏ rơi đàn tôm cá hàng năm trời. Vả lại, khi trời chưa kịp yên, sóng chưa kịp lặng, mà những người mới tiếp quản đã vơ vét hàng chục tấn hải sản, thì làm sao có thể đòi hỏi những người chủ thực sự của khối tài sản ấy điềm tĩnh được. Hoàn cảnh của họ cũng giống như người mẹ nghe tiếng con trẻ khóc thét trong căn phòng kẹt khóa bị hỏa hoạn, hiển nhiên là cuống cuồng tìm mọi cách để phá cửa ngay lập tức.
Giá mà người nhà họ Đoàn không bắn vào lực lượng tham gia cưỡng chế, vì họ chỉ là những người thừa hành… Tiếc thay, không mấy khi kẻ cầm đầu ra trận. Cũng như trong các cuộc chiến tranh, cho dù mệnh lệnh sai trái được phát ra từ bộ máy đầu não xa xôi, thì đạn cũng chỉ nhằm vào những người lính đối phương đang lăn lộn trên chiến trường. Không nhằm vào đó thì biết nhằm vào đâu nữa?
*
*   *
Trên đây tôi chỉ trao đổi một số khía cạnh liên quan đến khái niệm “công vụ”, “thi hành công vụ” “tội chống người thi hành công vụ”. Hy vọng chúng sẽ có ích, không chỉ cho việc xem xét vụ Tiên Lãng.
Tiếng nổ đã phát ra, không thu lại được nữa. Vấn đề còn lại chỉ là đánh giá và xử lý như thế nào? Nếu cương quyết trừng trị bọn lộng hành, tham nhũng và trả lại công bằng cho người dân, thì mới hy vọng khôi phục được niềm tin của nhân dân và sự bình yên của xã hội. Nếu tiếp tục lấp liếm, xử lý một cách thiên vị cho phía công quyền và dồn tội lên đầu nạn nhân, thì sẽ góp phần đẩy đất nước vào một chu kỳ loạn lạc. Bức xúc dồn nén khắp nơi, có lẽ đã ở mức tới hạn của phản ứng dây chuyền.
Tiếng nổ ở Tiên Lãng ngày 5/1/2012 chỉ dừng lại ở vai trò cảnh tỉnh để phục hồi công bằng và luân lý, hay sẽ trở thành tiếng nổ khởi đầu cho loạt nổ lan rộng tiếp theo, điều đó phụ thuộc vào cách xử lý của những người cầm quyền đối với vụ Tiên Lãng.
Hà Nội, ngày 28/1/2012
__________________________________

Sunday, January 29, 2012

TRẬN ĐÁNH ĐỂ ĐỜI HẦU CƯỞNG CHẾ ĐẦM TÔM TIÊN LẢNG CỦA ANH ĐOÀN VĂN VƯƠN .

THƯA CÁC BẠN ,
QUA BÀI PHỎNG VẤN ĐT ĐỔ HỬU CA , TRƯỞNG CA TP HẢI PHÒNG VỀ VỤ CƯỞNG CHẾ ĐẦM TÔM ANH ĐOÀN VĂN VƯƠN , TA THẤY CHÍNH PHỦ VN NÊN DÙNG VIÊN ĐT NÀY CHỈ HUY ĐÁNH CHIẾM LẠI HOÀNG SA VÌ ÔNG QUÁ GIỎI . BÀI NÀY ĐĂNG TRÊN VNMEDIA .

- - - 

NGƯỜI HÙNG CỦA TRẬN ĐÁNH NÀY
Liên quan đến vụ chủ thầu Đoàn Văn Vươn huy động cả nhà dùng mìn, súng chống trả lực lượng cưỡng chế tài sản, PV đã có buổi phỏng vấn Đại tá Đỗ Hữu Ca - Giám đốc Công an thành phố Hải Phòng.
* Trong vụ cưỡng chế tài sản ở Tiên Lãng, có nhiều ý kiến cho rằng, chỉ cưỡng chế một cái đầm thôi mà đem hàng trăm quân xuống đó, làm như thế để rồi bị thương cho bao nhiêu người, việc đó có đáng làm không, thưa Đại tá?
* Thực ra vấn đề mà các bạn vừa hỏi cũng là suy nghĩ của một số vị lãnh đạo. Tôi đã từng trả lời các đồng chí ấy rằng, các đồng chí nhận thức sai lầm hết cả. Việc cưỡng chế đầm là một việc làm hết sức bình thường, mang tính chất hành chính, thủ tục của Ủy ban huyện người ta làm. Cái này làm theo thủ tục thông thường, người ta làm đúng. Qua 8 lần giải quyết hòa giải không được, Tòa án cũng đã xử rồi nhưng đối tượng Vươn lại kiên quyết giữ, không giao đầm cho địa phương, thế thì địa phương phải cưỡng chế là hoàn toàn đúng luật.
Ở vụ việc này, chỉ có cái là đơn vị huyện cưỡng chế, kể cả công an, quận đội, các ban ngành, người ta ra cưỡng chế nhưng không nắm chắc được tình hình đối tượng. Đoàn Văn Vươn có biện pháp chống đối, nhưng tổ cưỡng chế lại không nắm được cho nên để xảy ra chuyện có thiệt hại về về quân số. Nhưng mà cái đó là cái riêng. Khi chúng tôi đưa quân xuống là để bắt tội phạm bởi đối tượng đã nổ súng chống trả người thi hành công vụ, đã làm các chiến sĩ của chúng tôi bị thương.
Hơn nữa, Vươn đã dùng mìn, dùng tất cả các biện pháp nguy hiểm đến tính mạng con người thì tôi phải dùng lực lượng mạnh để tôi trấn áp. Đây là hai vấn đề khác hẳn nhau. Thông tin đã rất rõ ràng nhưng mỗi người hiểu một kiểu. Sau đó, tôi yêu cầu họp báo ngay để thống nhất được việc đấy. Trên đường đi từ đấy về đây tôi đã làm xong báo cáo tôi gửi về Bộ rồi.
* Tức là ban đầu, lực lượng công an có mặt tại hiện trường chỉ đảm bảo yêu cầu bảo vệ vụ cưỡng chế thôi, đúng không thưa Đại tá? Vậy khi Đại tá xuống chỉ đạo trực tiếp tại hiện trường thì diễn biến ra sao?
*Đúng vậy! Khi tôi điều thêm quân có mặt tại hiện trường thì các đối tượng đã rút khỏi đó. Cũng may là chúng đã rút rồi, nếu không chúng tôi buộc phải dùng biện pháp mạnh để trấn áp, hậu quả có thể sẽ nghiêm trọng hơn. Hôm ấy, cả tôi và 4 đồng chí Phó giám đốc đều trực tiếp có mặt ở hiện trường để chỉ đạo tác chiến. Chúng tôi đã tính đến phương án xấu nhất nên phải chuẩn bị đầy đủ súng, đạn rồi. Khi tôi có mặt, chưa nhận định được các đối tượng đã rút khỏi đó nên mọi phương án tác chiến vẫn được triển khai.
Trong sự vụ này, 2 trung đội cảnh sát đặc nhiệm đã được điều động xuống hiện trường phối kết hợp với lực lượng ở đồn biên phòng phục ngoài bờ sông. Ngoài ra còn lực lượng cảnh sát bảo vệ.... Rất may là người dân xung quanh ủng hộ cho việc cưỡng chế.
Vụ việc hôm ấy tuy bắt không được đối tượng, nhưng mà trấn áp được đối tượng. Phải nói rằng việc hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay. Tôi bảo, không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này. Một là, anh em cơ động dùng thuyền để tiếp cận là chưa có bao giờ trong giáo án, đã phải dùng thuyền nan để chèo vào, bí mật áp sát mục tiêu đấy. Đánh mũi trực diện nghi binh ra làm sao. Rồi là tác chiến vòng ngoài, vòng trong thế nào. Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách. Tôi nói với các đồng chí Thường trực rằng, đây không phải kế hoạch tập trận nhưng đúng là phải rút kinh nghiệm, cái này nó rất là hay, có sự kết hợp giữa địa phương, giữa công an, quân đội, biên phòng rất là đẹp, đâm ra không có gì phải phàn nàn về cái chuyện ấy cả.
* Thưa Đại tá, chỉ ít phút sau vụ nổ súng, lực lượng đông đảo của công an đã có mặt thì cho dù đối tượng có rút khỏi đó đi chăng nữa, cũng không thể đi quá xa. Tại sao ta chưa bắt hết được các đối tượng ngay khi đó?

* Khoảng 30 phút sau tôi mới xuống được đến hiện trường. Địa hình bãi bồi ấy rất hiểm trở, bao quanh là nước và bụi cây. Hơn nữa, bộ phận biên phòng chốt ở ngoài không thông thạo địa hình. Có thể, các đối tượng đã trà trộn vào những người hiếu kỳ đứng xem ngay khi mìn phát nổ, khi mà lực lượng công an đang phải tiến hành đưa những người bị thương ra xe đi cấp cứu.

Vào thời điểm xảy ra sự việc, bên trong ngồi nhà theo quan sát lúc đó có 3 người con trai và một phụ nữ. Riêng đối tượng Nguyễn Thị Thương cũng có mặt trong nhà nhưng khi xảy ra sự việc chúng tôi chưa biết tại sao lại lên được bờ. Có hầm ở trong nhà nhưng không có hầm đi chỗ khác. Về chi tiết này chúng tôi đang làm rõ. Những người khác liên quan đến vụ việc, chúng tôi bắt trong thành phố. Cơ quan công an đang làm rõ.
 
Hiện chúng tôi vẫn đang truy bắt đối tượng Đoàn Văn Quý (em trai của ông Đoàn Văn Vươn - chủ khu đất cưỡng chế). Bắt thêm 3 người nữa mới kết thúc vụ án. Tất cả đều là anh em bên vợ hoặc chồng của gia đình, không  có người ngoài tham gia vào sự việc. Giờ sự việc đã rõ. Hồ sơ giam giữ đang được hoàn thiện.
 
* Nguyên nhân nào khiến các đối tượng chống trả quyết liệt như thế, thưa Đại tá?

* Thực chất, Đoàn Văn Vươn đã khai thác diện tích đấy ấy 16 năm nay rồi. 16 năm nay, ông ta có đóng góp được đồng nào đâu, nhưng cái đấy không phải là căn nguyên vấn đề. Theo kế hoạch phát triển, sắp tới trên diện tích đất ở vùng đó sẽ tập trung xây dựng một sân bay quốc tế của cả khu vực phía Bắc này, để thay cho sân bay Nội Bài. Mà nơi ấy là tâm điểm của sân bay mới. Với công trình đặc biệt quan trọng như thế thì đền bù sẽ rất lớn. Ông Vươn cố giữ lại như thế để lấy đền bù khi dự án được triển khai. Chính vì thế nên xảy ra chuyện ấy, nếu là chỗ khác thì không vấn đề gì. Dự án sân bay được xây dựng bởi phải đưa sân bay ra sát biển, để tận dụng khoảng không ngoài biển.

Nếu như giao đất cho ông Vươn thì sau này đền bù sẽ phải trả theo giá đất được giao, giá rất cao, phải mấy chục tỷ chỗ ấy. Nhưng nếu là đất anh thuê thì hết thời hạn thuê phải trả, người ta sẽ hỗ trợ cho anh về phần kiến trúc xây trên ấy. Hai cái ấy khác nhau hoàn toàn. Cho nên ông ta đã tìm mọi cách để chống đối. Ông ta vẫn giữ quan điểm, đất tôi canh tác phải được giao cho tôi nhưng thực tế là nếu anh muốn canh tác tiếp thì chỉ được thuê. Chỉ có tranh cãi nhau mỗi chữ “giao” và “thuê” thôi. Ông Vươn cho rằng, theo Luật đất đai, ai sử dụng trước năm 1993 thì được giao đất như đất ở.

* Vậy còn nguồn gốc vũ khí mà các đối tượng sử dụng thưa ông?
 
* Về nguồn gốc của khẩu súng, trước đó Quý có đưa tiền và nhờ người đi mua song người này lại chưa mua được nên y đã mua sẵn với giá 15 triệu đồng. Còn về đạn, sau khi đối tượng kia mua súng không thành, Quý lại tiếp tục đưa mẫu vỏ đạn đi mua.
 
Khi xảy ra sự việc, người này đứng lẫn trong đám đông, kiểm tra người thì phát hiện mẫu vỏ đạn mang trong túi. Người này cũng đã khai nhận hành vi của mình là được Quý nhờ đi mua.
 
* Xin chân thành cảm ơn Đại tá!./.
Theo VnMedia


Friday, January 27, 2012

SỐ MẠNG CỦA CHÁU ĐOÀN VŨ HẢI VÀ MẸ LÀ PHẠM THỊ HIỀN (VỢ CỦA ĐOÀN VĂN QUÝ) , TÍNH TOÁN DỰA THEO LÝ THUYẾT SỐ (NUMEROLOGY) .

Thưa các bạn ,

      I/ Sáng sớm hôm nay , 27/1/2011 ở Mỷ ,  vừa thức dậy là tôi liền vào ngay blog Cu Vinh thì đc biết hung tin  cháu Đoàn vũ Hải , con trai duy nhứt của anh Đoàn văn Quý (em anh Vươn) bị tai nạn khi đi xe ôm trên đường về Tiên lảng , tôi vội vàng chấm cho cháu 1 lá số tử vi dựa theo Lý Thuyết Số (Numerology) .
ĐOÀN
4 7 1 5 = 17 = 8
VỦ
6 6 = 12 = 3
HÃI
5 1 1 = 7
Tổng cộng : 8 - 3 - 7 = 18 .
Như vậy tên họ của cháu bằng 18 . Sau đây là ý nghỉa của số 18 , dịch từ quyển Linda Goodman's Star Signs (của bà Linda Goodman , 1 chiêm tinh gia hàng đầu của Mỷ) .
        
                                                          Ý nghỉa của số 18
                                   SỰ XUNG ĐỘT TINH THẦN-VẬT CHẤT
                                        (SPIRITUAL-MATERIAL CONFLIT)                         
                    (Áp dụng cho người có ngày sanh hoặc tên cộng lai bằng 18 )

          Trong các số kép , 18 là số  khó giải đoán  nhất . (Xin  đọc lại trang truớc đây của chuơng nầy nói về liên quan giửa số 18 và đức Jesus ) . Nguời  xưa mô tả số kép 18  với  hình ảnh sau : “ Một mặt trăng tỏa sáng , từ đó nhửng  giọt máu đang rơi xuống . Một con chó sói và một con chó đói đứng bên duới , đang đón hứng nhửng giọt máu nầy bằng  cái miệng mở rộng của chúng , trong khi bên duới nửa  , một con cua đang vội vả kéo tới  dự phần “ .
         Số 18 tượng trưng  cho chủ nghỉa vật chất cố gắng hủy diệt khía cạnh tâm linh của bản chất . Trong giai đoạn  có chiến tranh , đổi đời , và cách mạng , người mang số này thường xung khắc  một cách cay đắng trong gia đình .  Trong một số trường hợp ,  số 18   cho thấy việc tạo ra tiền và đạt địa vị  phải thông qua nhửng chiến thuật gây chia rẻ  , qua chiến tranh hoặc xung đột khác . Số 18 cảnh báo sự lừa gạt từ cả “bạn” lẩn thù ;  sự nguy hiểm từ lửa , lụt lội , động đất , bảo tố và chất nổ , điện giật và sét đánh .
         Nếu tên cộng lại bằng 18 ,  tác động của số này có thể bị triệt tiêu lập tức bằng cách đổi tên sao cho bằng một số may mắn hơn ( như 6 hoặc 24 ) .
         Nếu ngày sanh là 18  , phải rất cẩn thận hầu đối phó nhửng thách thức và nguy hiểm do số này mang lại . Con đường duy nhứt để giảm thiểu  tác động của nó trên cuộc sống là bằng nhửng phuơng tiện tâm linh ;  bằng cách chấp nhận không né tránh và  liên tục sự lừa gạt và lòng căm thù  từ nhửng kẻ khác với sự rộng lượng , tình yêu , và sự tha thứ  ;  bằng cách “ đưa má còn lại cho người ta tát “  , và đổi tốt lấy xấu , đổi sự tử tế lấy sự tàn ác , đổi danh dự lấy xấu hổ . Bằng cách này , tác động của 18 có thể tạo thành công lớn . Có một cách khác  để giảm thiểu khía cạnh (aspect) tiêu cực của số 18 là đổi tên sao cho khi cộng lại bằng 6 . Người sanh ngày 18 nên tiến hành các việc quan trọng vào ngày 3 và 6 , hoặc ngày nào cộng lại thành số 3 và 6 ( như 12 , 21 , 24 , 30 trong tháng ) .
Nhận xét : khi người xưa viết " sự nguy hiểm từ lửa , lụt lội , động đất , bảo tố và chất nổ , điện giật và sét đánh " thì ta có thể xem  tai nạn của cháu tương tự bị "chất nổ , điện giật hay sét đánh ". Chúng ta phải suy diển chứ ý nghỉa xa xưa của số 18 ko nói rỏ ĐẶC TRƯNG của tai nạn . Nói nhỏ với các bạn , vừa đủ nghe trong làng mà thôi , thì ông CT huyện Tiên lảng củng có tên bằng số 18 , như cháu Hải này . xin vào link :http://www.tranthanhhien.com/2012/01/normal-0-false-false-false.html

     II/ Nay tôi xin tính toán xem chị Phạm thị Hiền vợ của anh Đoàn văn Quý bằng bao nhiêu ?
PHẠM
8 5 1 4 = 18 = 9
T H Ị
4 5 1 = 10 = 1
H I Ề N
5 1 5 5 = 16 = 7
Tổng cộng : 9 - 1 - 7 = 17 . Như vậy tên của chị Hiền bằng 17 mà ý nghỉa như dưới đây (củng dịch từ sách đả dẫn) .

                                                     Ý NGHỈA CỦA SỐ 17
                                      NGÔI SAO CỦA NHÀ THÔNG THÁI
                                              ( THE STAR OF THE MAGI)

Đây l số rất cao về tâm linh/tôn giáo (highly spiritual number) , và ngừoi Chaldean cổ đại đả tuợng trưng nó bằng sao Kim (Venus) 8 cánh  . Ngôi sao của Nhà Thông thái  là hình ảnh của Tình yêu và Hòa bình  , và nhửng uớc muốn của nguời số 17 sẻ vuợt qua đựoc (trong tâm tư) nhửng thử thách và khó khăn của kiếp truớc (will rise superior in spirit to the trials and difficulties of earlier life) , với khả năng chinh phục thất bại truớc đây  trong quan hệ cá nhân và nghề nghiệp (with the ability to conquer to conquer former failure in personal relationships and the career) . [Nói thêm  : ngưòi thuộc số  17 rất khôn ngoan về mặt  đạo đức   (to be morally good or wise) để có khả năng tránh đựoc nhửng điều mà họ không nên làm và hiểu đựoc nhửng điều mà ngưòi khác không hiểu ] .  17 là “ số của sự Bất tử “  , và cho thấy tên của nguời ( hay thực thể) này sẻ sống mải sau khi họ đả lìa đời  . Đây là một  số của cực kỳ may mắn , với một cảnh báo  . Vì nó thu nhỏ thành  ( 1+7 = ) 8 , do vậy nhửng ngưòi số  17  nên đọc kỷ phần nói về các số 4 và 8 dưói đây .
      Theo khoa tử vi Tây phương Numerology thì người nào có ngày sinh hoặc có tên bằng 4 , 8 ,13 , 17 , 22 , 26 , và 31 thì sẻ có định mệnh như sau : linh hồn của người này đả nghỉ rằng họ có nhiều nợ nần cần phải trả dứt điểm , nhửng nợ này  đả bị trì hoản trong nhửng kiếp trước đây của họ ; vì vậy họ đả chọn ra đời vào các ngày kể trên (hay mang một cái tên cộng lại bằng các số này)  để giải quyết  dứt điểm món nợ này . Đây là hình thức trả nợ dồn , để kiếp sau được thanh thản . Củng giống như người sinh viên  không chịu thường xuyên học tập , khi ngày thi sắp tới đả quính quán , bỏ tất cả vui chơi , học ngày học đêm để chuẩn bị cho ngày thi .

      III/ Riêng anh Quý thì số rất tốt , tên cộng lại bằng 19 , xin vào blog của tôi để đọc về số mạng của anh  :
http://www.tranthanhhien.com/2012/01/toi-chi-so-troi-hai-cho-khong-so-nguoi.html

      IV/ Nhận xét : Tôi nhận ra một điều kỳ lạ ở tên họ của 3 ng trong gđ anh Quý .
       Tên họ của chị Hiền bằng 17 (rất tốt) , cháu Hải bằng 18 (rất xấu , lận đận) , và anh Quý bằng 19 (cực tốt) , nghỉa là tên họ của họ là ba số kế nhau (17, 18 , và 19) : cùng trong 1 gđ , chỉ có ba ng mà số mạng lại lạ lùng như vậy , cho thấy có sự tác động của  quyền lực siêu nhiên đối với gđ này - mà chúng ta ko thể giải thích nổi .
      Tôi nghỉ rằng , dù cháu Hải gặp tai nạn  , nhưng do nhỏ tuổi thì có thể ko để lại di chứng ; nhưng kể cả ở tình huống xấu nhứt đi nửa thì cháu Hải củng có một tương lai ko tệ lắm đâu do có hai ngôi sao tốt che chở , đó là của mẹ và cha  . Vả lại , với kỷ thuật tân tiến của y khoa ngày nay , giả sử bịnh tật của cháu ko chửa đc ở VN , thì toàn dân VN sẻ lạc quyên để có tiền đưa cháu ra nước ngoài chửa trị . Thành ra , tôi nhìn thấy viển ảnh của cháu ko quá bi quan lắm đâu vì gđ của anh Quý và Vươn hiện nay là MỐI QUAN TÂM HÀNG ĐẦU của người VN trên toàn thế giới .
      Thưa các bạn , do đang đau nhức ở vai phải , gây khó chịu đặc biệt về đêm  ( BS nghi ngờ đang bị DI CĂN của ung thư xương  , 6/2 phải chụp MRI) , nên tôi có thể phạm sai lầm nho nhỏ khi viết bài , nhưng vì tính thời sự  của vấn đề nên tôi phải viết gấp , mong các bạn thông cảm . Chào các bạn ,


Từ 1 người đả 65 tuổi , đang sống nhửng ngày tháng cuối của cuộc đời , nhưng vẩn còn biết xúc động và đồng cảm trước nổi đau đồng loại vì ngay cả ở súc vật thì "Một Con Ngựa Đau , Cả Tàu Không Ăn Cỏ" nửa mà !!!
California ngày 27.1.2011 lúc 10:51 sáng .