Thursday, January 8, 2026

 

Tưởng cũng nên nhắc lại trận Cái Bè 1964.

“Lúc 0100 giờ ngày 20/7, quân cách mạng (revolutionaries) đã mở 1 tấn công lớn.

Họ tập hợp ba tiểu đoàn (TĐ) –- 261, 263, và 514—và tăng cường cho mỗi TĐ một đại đội súng không giựt (SKZ), đại liên, cối, và đặc công để tấn công quận lỵ Cái Bè ở phía tây của tỉnh Định Tường. Khoảng 300 chiến sĩ thuộc bộ chỉ huy (BCH) trung đoàn và lực lượng địa phương, gồm nghĩa quân và địa phương quân (NQ/ĐPQ) bảo vệ Cái Bè. Quân nổi dậy đã xâm nhập quận lỵ và gây nhiều thiệt hại, đặc biệt là khu gia binh của các gia đình ĐPQ/NQ. Họ đã giết 12 lính và 40 thân nhân của họ. 40 lính và 40 thân nhân khác bị thương. Quân nổi dậy rút lui lúc 0500 g sáng.

CP đã phản công với 5 TĐ, có thiết giáp yểm trợ, để đẩy họ ra bờ sông Tiền Giang, cách Cái Bè 5 km. TĐ 8 Dù tái chiếm quận lỵ và tiếp tục xuyên qua ruộng mía và ruộng lúa tới 1545 khi 2 đại đội dù bị chận đánh. Đ.đ. đi đầu của TĐ tiến thêm 90 m cho tới khi họ bị chận lại bởi đại liên. Đ.đ. còn lại đã do dự (falter) sau đ.đ. trưởng và hiệu thính viên chết. Các trực thăng võ trang hay gunship của Mỹ đã bắn 130 rốc-két lập hàng rào lửa cách phòng tuyến Dù 45 m. Cuối cùng TĐ dù  rút lui lúc 1900.

Trong khi đó, lúc 1600, quân nổi dậy đào công sự dọc theo 1 hàng cây, đã cầm chân một đ.đ. của TĐ 6 Dù. Sau một vài trì hoãn, TĐ trưởng đã nghe theo cố vấn để bao vây địch theo thế gọng kềm (pincer movement), nhưng thay vì tấn công vào 2 bên hông của địch, Dù đã tấn công chính diện. Cuộc tấn công bắt đầu lúc 1830, có hai máy bay Mohawk và vài gunship hỗ trợ. Xui thay, gunship đã bắn lầm TĐ 6 Dù, khiến họ mất bình tỉnh (unnerve), phải lập 1 chu vi phòng thủ qua đêm. Các trực thăng VNCH từ chối tản thương do trời tối, khiến 1 trực thăng Mỹ phải đến để cứu 12 thương binh. Cố vấn trưởng của lữ đoàn Dù, đại tá John Hayes, bày tỏ thất vọng vì sự ngại đụng độ của TĐ Dù hôm đó.

Kết quả: 16 lính Dù tử trận và 52 bị thương, trong đó có một cố vấn. Địch có 46 chết và 12 bị bắt sống. Một cố vấn phỏng đoán địch có thêm cả trăm người thương vong. Quân khu 2 của CS đã nhận định rằng CP nghĩ rằng sẽ có nhiều quận lỵ khác bị tấn công (để gây tiếng vang).

Các tướng Mỹ nhận định, quân VNCH buộc phải xé lẻ (split up) để tăng cường các đồn bót quận lỵ, và tinh thần binh sĩ có vẻ thờ ơ hay hờ hửng (apathetic) hơn trước”. Hết trích.


MỘT SO SÁNH NHẸ: CẦU ĐƯỜNG Ở MIỀN NAM TRƯỚC 75 VÀ MIỀN BẮC XHCN VÀO ĐẦU THẬP NIÊN (TN) 1990.
- Trong năm 1967, viện trợ kinh tế của Mỹ cho VNCH hơn 550 triệu đô, bằng $5,329,983,333 đô của năm 2025. Giá cả đã tăng 869/100, với lạm phát trung bình 3.99/100 mỗi năm. Nên nhớ dân miền nam lúc đó khoảng 17 triệu.
Nhờ phục vụ ở sư đoàn 7 bộ binh trước 75, nên tôi đã đi lại nhiều lần trên QL-4 (đã đi từ SG xuống tới “bắc” (bắc là tiếng Pháp, có nghĩa bến phà) Vĩnh Long bắt qua Sông Tiền Giang, và từ “bắc” Cần Thơ từ Vĩnh Long qua Cần Thơ). Trước 75, người ta vẫn còn thấy đường dẫn qua sông, đang xây dở dang, có lẽ chế độ cũ định xây cầu để thế ‘bắc’ Vĩnh Long từ Quận Giáo Đức qua Vĩnh Long.
Khoảng năm 1973-75, các cầu trên đoạn đường từ SG xuống tới ‘bắc’ Vĩnh Long đều xây mới, do cơ quan USAID của Mỹ đài thọ (vì có tấm bảng ghi công dựng kế cầu trong đó ghi tên nhà thầu, ngày khởi công, ngày khánh thành, v.v…); cầu bằng bê-tông cốt sắt, rất rộng rải. Các cầu được nghĩa quân canh giữ cẩn mật ngày đêm trong đó có dùng hàng rào kẻm gai bọc nhiều lớp quanh các chân cầu đề phòng đặc công CS đưa chất nổ đến chân cầu để giựt sập. Các xe thiết giáp chạy bánh V-100 tuần tiểu suốt đêm trên QL-4; cầu nào bị giựt sập thì quận trưởng mất chức. Vì QL-4 là con đường huyết mạch đưa lúa gạo và rau quả từ đồng bằng Sông Cửu Long để nuôi dân SG. Tôi còn nhớ, mỗi lần có biến động hay trận đánh nào đó trên QL-4 là má tôi ra chợ Xóm Chiếu mua 1 bao gạo).
Tưởng nên nói qua về viện trợ kinh tế của Mỹ thời chiến tranh.
“Cố gắng của USAID tại VN.
Từ 1962-75, Nam VN đã nhận phần lớn nhứt của trợ giúp kinh tế của USAID. Chỉ riêng năm 1967, cơ quan này đã dành riêng cho VN hơn 550 triệu đô trong ngân sách toàn thế giới là hơn hai tỉ dù VN chỉ có khoảng 17 triệu dân.
Từ 1961 – 1972, USAID đã lập rất nhiều dự án như trường, bịnh viện, xa lộ, nhà máy thủy điện, trung tâm kỹ nghệ và HTX nông nghiệp. Cơ quan cũng gửi hang ngàn chuyên viên về anh nông, bác sĩ, y tá, thày giáo, kỹ sư, nhân viên tình báo, và cố vấn dân sự. Ví dụ, hơn 700 bác sĩ Mỹ từng làm việc trong các bv do USAID xây. – hết trích.
==
Trong khi miền nam, dù đang có chiến tranh phá hoại, nhưng CP đã tích cực phát triển hệ thống cầu đường ở mọi nơi nếu tính hình an ninh cho phép. Khoảng năm 1974, trong lúc hành quân trên đường liên tỉnh Cai Lậy đi Mộc Hóa, chạy dọc theo Kinh 12, tôi đã gặp ông Nguyễn văn Đô, một thầu khoán bạn ba tôi. Ông nói đang lãnh thầu đào kinh (dùng xáng thổi đào kinh).
Khoảng đầu TN 1990, khi làm thông dịch cho Pháp, tôi đã đi đường bộ từ HN đi Hải Phòng, trên QL-5, có từ đời Pháp. Đường rất xấu, giằng xóc nên tôi bị ói mửa. Trên đường chỉ có cầu sắt, cũng có từ thời Pháp, trước 54, xe qua lại chỉ có MỘT CHIỀU – nghĩa là xe bên đây cầu qua hết thì tới bên kia qua. Nên nhớ, Mỹ đã ngưng ném bom miền bắc từ 1972, nghĩa là trước đó khoảng 18 năm, vật mà chánh phủ của CHXNCNCN vẫn không có tiền để sửa cầu, dù họ đã ĐỔI MỚI KINH TẾ từ năm 1986.
SJ ngày 8 Jan 26.