Showing posts with label tỉnh pleiku. Show all posts
Showing posts with label tỉnh pleiku. Show all posts

Sunday, August 31, 2025

Chiến dịch Wayne Grey là một chiến dịch được thực hiện bởi lữ đoàn 1, Sư đoàn Bộ binh 4 Mỹ và các lực lượng hỗ trợ, từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 14 tháng 4 năm 1969. Mục tiêu chính của chiến dịch là cắt đứt các tuyến liên lạc và cung cấp cho các Trung đoàn Bộ binh 24 và 66 của Quân đội Nhân dân Việt Nam (PAVN) cũng như ngăn chặn họ rút lui vào Campuchia.

Mở đầu

Các tài liệu bị bắt giữ và các cuộc thẩm vấn đối với tù binh đã tiết lộ rằng vào cuối tháng Giêng đến đầu tháng Hai, Trung đoàn 66 và Trung đoàn 24 và các đơn vị của đoàn Pháo binh 40 thuộc CSBV đã di chuyển về phía bắc vào khu vực núi Chu-Mom-Ray và đã bắt đầu thực hiện các hoạt động tấn công. Trinh sát trên không đối với các căn cứ ở phía tây Trại Polei Kleng đã phát hiện ra lưu lượng xe cộ dày đặc và việc xây dựng các con đường sâu vào các núi Chu-Mom-Ray và từ biên giới Campuchia vào thung lũng Plei Trap phía đông. Việc xác nhận sự hiện diện của pháo binh và khả năng có các đơn vị thiết giáp của địch cho thấy một cuộc tấn công lớn đang được lập kế hoạch và có khả năng cao nhắm vào thị xã kontum và trại Polei Kleng.

===

Chiến dịch Wayne Grey bắt đầu vào ngày 1 tháng 3, khi đại đội (đ.đ.) A của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 12 Bộ binh từ Polei Mrong đã được trực thăng đổ xuống bãi đáp hay LZ Swinger (14.429°N 107.627°E). Mục tiêu của họ là bảo vệ LZ và thiết lập một vị trí pháo để đặt súng. Vị trí này sẽ được dùng để hỗ trợ các TĐ 3/12, 1/8 và 3/8 Bộ binh khi họ thực hiện các hoạt động ở Plei Trap. Trực thăng đầu tiên đã hạ cánh và đổ quân một cách an toàn. Sau khi trực thăng thứ hai bắt đầu đổ quân, họ đã bị tấn công bởi đặc công từ TĐ công binh K25B của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cuộc giao tranh ban đầu kéo dài hơn ba giờ trước khi quân csbv rút lui và đơn vị thuộc 1/92 Pháo binh Dã chiến đã có thể đáp xuống và thiết lập các khẩu pháo của họ. Đại đội B của 1/8 đã tấn công vào căn cứ hỏa lực (CCHL) 20 (14.492°N 107.597°E) và đại đội C của 3/8 tấn công vào Firebase Pause (14.36°N 107.655°E), sau đó là các Công ty A và C của Trung đoàn 6/29. Trung đoàn 6/29 hiện đã vào vị trí để hỗ trợ cuộc lùng sục của Lữ đoàn 1 tại Plei Trap. Vào ngày 2 tháng 3, Công ty A, 1/8 đã giành được LZ Turkey (14.474°N 107.598°E) và bắt đầu các hoạt động do thám, trong khi các Công ty C và D, 1/8 tấn công vào LZ Susan (14.49°N 107.54°E). Các công ty còn lại từ 3/8 đã được triển khai tại các LZ ở và quanh LZ Mary (14.386°N 107.578°E).

Giai đoạn I

Các hoạt động dọc theo đường Plei Trap được thực hiện bởi các Công ty A, C và D, Trung đoàn 1/8 Bộ binh. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 3, với sự hỗ trợ của A/7-17th không kỵ, trung đoàn 1/8 đã có thể xác định và tiêu diệt các liên lạc, vật tư và phương tiện dọc theo đường Plei Trap, cũng như tái thu hồi hai khẩu lựu pháo M101 bị PAVN bắt giữ.

Trận đánh tại Khu đất Hạ cánh Brace là trận đánh lớn nhất và quan trọng nhất của chiến dịch. Nó bắt đầu vào ngày 3 tháng 3 khi Đại đội A, tiểu đoàn 3/8 Bộ binh, liên lạc với một tiểu đoàn quân PAVN tại tổng hành dinh của họ trên đỉnh một ngọn đồi (14.345°N 107.605°E). Đại đội A phải chịu nhiều thương vong trong trận đánh và buộc phải rút lui. Họ được rút ra vào ngày 4 tháng 3 sau những trận giao tranh ác liệt tại vị trí đêm của họ. Các Đại đội B và C, tiểu đoàn 3/8, đã thành công trong việc chiếm giữ ngọn đồi vào ngày 6 tháng 3.

Một firebase đã được xây dựng sau khi LZ, bây giờ được gọi là Brace, đã được bảo đảm và vào ngày 16 tháng 3, công ty C, 6/29 thuộc pháo binh đã được đặt tại đó cùng với phần còn lại của công ty A, 3/8 và tổng hành dinh 3/8.

OP Wayne Grey Di chuyển IIIOP Wayne Grey Di chuyển IIIOP Wayne Grey Di chuyển IVOP Wayne Grey Di chuyển IVĐồi 947 (14.337°N 107.604°E) đã được thành lập vào ngày 3 tháng 3 bởi công ty D, 3/8 bộ binh để chặn PAVN rút lui từ LZ Brace. Vị trí này đã bị tấn công nhiều lần giữa ngày 3 và ngày 8 tháng 3 cũng như phải đối mặt với các cuộc tấn công bằng cối và pháo binh liên tục. Công ty D đã thành công trong việc giữ ngọn đồi trước các cuộc tấn công của PAVN và đến chiều ngày 8 tháng 3, PAVN đã từ bỏ nỗ lực chiếm giữ vị trí này.Vào ngày 7 tháng 3, công ty D đã di chuyển qua đất liền đến Firebase 20 để hỗ trợ công ty B trong các cuộc tuần tra nhằm giúp một cuộc tuần tra tại đồi 1030. Các công ty A và C tiếp tục hoạt động dọc theo con đường Plei Trap.Giữa ngày 10 và 14 tháng 3, Lực lượng tác chiến Swift gồm các Công ty B và D, 3/12 cùng với một đại đội trinh sát, đã củng cố vị trí tại đồi 947. Vào ngày 11, Swift đã tiếp xúc với một công ty PAVN và rút về vòng ngoài để yêu cầu không kích B-52; họ lại tiếp tục bị bắn phá bằng đạn cối. Hôm sau, họ đã tấn công và chiếm giữ vị trí của PAVN.Vào ngày 17 tháng 3, các công ty A và C đã thành lập một căn cứ tuần tra mới từ Đồi 467 để tiến hành các cuộc tuần tra chung dọc theo các tuyến liên lạc của PAVN và ngăn chặn dòng chảy cung cấp cho pháo binh 40.[1][3]Giai đoạn IILực lượng tác chiến AlphaSau khi các công ty A và C đã xác định và tiêu diệt một lực lượng PAVN ở phía nam Đồi 467, họ đã tổ chức lại thành Lực lượng tác chiến Alpha vào ngày 17 tháng 3. Nhiệm vụ của họ là thiết lập các vị trí chặn có quy mô công ty giữa căn cứ của họ tại Đồi 467 và Firebase 20, với mục tiêu cắt đứt nguồn cung cấp và tăng viện của PAVN trong khu vực. Các thiết bị phá hủy cũng được sử dụng để làm tê liệt các hoạt động dọc theo con đường Plei Trap bằng cách biến nó thành không thể đi qua cho các phương tiện.Các hoạt động tiếp tục trong khu vực cho đến ngày 30 tháng 3, QLVNCH sử dụng súng cối và pháo binh chống lại các căn cứ hỏa lực của Sư Đoàn 4 trong khu vực và gửi truyền đơn tuyên truyền kêu gọi binh lính Hoa Kỳ đầu hàng. Lực lượng Đặc nhiệm Alpha được rút ra vào ngày 30 tháng 3. [1][3]


Núi Cu-Đôn

Cu-Don là một căn cứ nổi tiếng của QLVNCH nằm trên một sườn núi phía nam LZ Brace và bị nghi ngờ là điểm rút lui của Trung Đoàn 66 Bộ binh QLVNCH. Nhiệm vụ của Sư Đoàn 3/12 là ngăn chặn và quấy rối QLVNCH rút lui. Vào ngày 14 tháng 3, Đại đội A và C cùng với một trung đội trinh sát, tấn công vào LZ Cider (14,278°B 107,617°E) để bảo vệ nó làm căn cứ hỏa lực cho Khẩu đội B, pháo binh 6/29. Đại đội D bảo vệ LZ D-Handle (14,33°B 107,609°E) để đặt súng cối 4,2" và Đại đội B di chuyển trên đường bộ đến một căn cứ tuần tra tại YA818856 (14,328°B 107,612°E). Liên lạc mạnh mẽ được thực hiện vào ngày 18 tháng 3 khi Đại Đội D tiếp xúc với một tổ hợp boongke của QLVNCH. Liên lạc đã bị phá vỡ và pháo binh cùng cối đã được gọi đến. Ngày hôm sau, vị trí bị bao vây bởi hỏa lực pháo binh và máy bay chiến đấu cả ngày. Vào ngày 20, Đại đội D đã cố gắng tấn công các hầm hào với sự hỗ trợ của pháo binh và không quân, nhưng đã bị lực lượng phòng thủ đánh bật. Đại đội D đã phải rút về LZ D-Handle. Vào ngày 22, sau một đợt pháo kích mạnh, Đại đội D đã chiếm lấy đồi mà không gặp phải sự phản kháng nào. Vào ngày 27, Đại đội A đã có liên lạc gần LZ Cider và đã buộc phải ngắt liên lạc sau khi bị bắn cối và chịu thương vong. Họ buộc phải để lại những người bị thương của mình. Khi họ cố gắng lấy lại những người mất tích vào ngày hôm sau, họ lại bị buộc phải rút lui về LZ Cider dưới hỏa lực cối. Đại đội B đã bị tấn công tại địa điểm phục kích của họ bằng tên lửa B-40 và Đại đội D ở LZ D-Handle đã bị các đơn vị công binh tấn công, những người đã phá hủy hai hầm hào bằng hỏa lực tên lửa; cuộc tấn công cuối cùng đã bị đánh bạt bằng hỏa lực pháo binh.Vào ngày 30, Công ty A lại cố gắng tìm kiếm những người mất tích của mình. Họ đã thành công, nhưng buộc phải rút lui một lần nữa khi quân PAVN triển khai pháo cối. Công ty A rút lui và liên kết với Công ty C để đảm bảo một một vị trí an toàn cho đêm. Vị trí này sau đó đã bị đánh bom bởi nhiều cuộc không kích của B-52.Sau khi tiểu đoàn 3/12 rút lui, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Bộ binh 22 đã bị tấn công tại LZ Cider và YA806827 (14.302°N 107.601°E) vào ngày 2 tháng 4. Mục tiêu của họ là đảm bảo "Mục tiêu Đỏ", tổ hợp hầm mà đã buộc Công ty A, 3/12 phải rút lui. Vị trí này đã bị bao vây bởi các đợt pháo binh và hỏa lực từ máy bay trực thăng trong khi 1/22 tiếp tục trinh sát mục tiêu dưới hỏa lực mạnh. Tiểu đoàn 1/22 đã được rút về vào ngày 13 tháng 4 và phần còn lại của tiểu đoàn 3/12 vào ngày 14 tháng 4.

Hậu quảChiến dịch Wayne Grey kết thúc vào ngày 14 tháng 4. Liên đoàn 1, Sư đoàn 4 đã gây thiệt hại nặng nề cho các Trung đoàn Bộ binh 24 và 66 của PAVN và các đơn vị hỗ trợ của họ. Mặc dù PAVN đã có thể rút lui về Campuchia, chiến dịch Wayne Grey được coi là một thành công vì nó ngăn chặn được bất kỳ cuộc tấn công nào ngay lập tức vào Kontum.Vị trí của pháo bị bắt giữTheo các nhân chứng của cuộc tấn công, cụ thể là Trung úy Nolan và Đại úy Yamashita, họ tin rằng nhiệm vụ đã diễn ra ở bên kia biên giới tại Campuchia chứ không phải ở Việt Nam như báo cáo hành động sau và tọa độ bản đồ đã chỉ ra.

Họ giải thích rằng các người lính thuộc Công ty D không được cung cấp tọa độ của vùng hạ cánh hay bản đồ thông thường, mà thay vào đó là những bản đồ địa hình đen trắng cần phải có đào tạo sâu rộng để đọc. Điều này cộng với việc Công ty D phải bay lâu hơn nhiều so với thời gian bình thường cho một chuyến bay với quãng đường đó và có sự khác biệt đáng kể về địa hình, bản đồ cho biết họ đang ở trên một ngọn đồi khi thực tế thì không phải như vậy, tất cả những điều này làm một phần tăng thêm sự nghi ngờ của Nolan và Yamashita. Tám ngày sau khi Công ty D tái chiếm các khẩu pháo và khoảng giữa cuộc chiến, Bộ Tư Lệnh Không Quân Chiến Lược Hoa Kỳ bắt đầu chiến dịch ném bom bí mật chống lại Campuchia.

Tài liệu tham khảoHale, Knight (30 tháng 4, 1969). "Báo cáo Hành động Sau Chiến đấu cho Chiến dịch Wayne Grey" (PDF). ivydragoons.org. Truy cập ngày 30 tháng 8, 2020.Thompson, Lee. "Một Cuộc Chiến Trên Thung Lũng Plei Trap". bravecannons.org/. Truy cập ngày 31 tháng 8, 2020.Nolan, J.L. (1–31 tháng 3, 1969). "Đại đội 4, Công ty D, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Bộ binh 8, D Division, Việt Nam, tháng 11 năm 1968 – tháng 8 năm 1969 J. L. Nolan". swampfox.info. Truy cập ngày 30 tháng 8, 2020.Fisher, Dan. "30 Năm Sau: Một Bí Ẩn Việt Nam". members.tripod.com. Truy cập ngày 30 tháng 8, 2020.Hickey, Pennel (14 tháng 3, 1969). "Báo cáo Hành động Sau Chiến đấu" (PDF). ivydragoons.org. Truy cập ngày 25 tháng 8, 2020.


 

Battle Memories:

1st Bn, 8th Infantry & A Btry, 6/29 FA

Near Pleiku, South Vietnam

18 - 23 May 1967


by
Raymond A. Harton
LTC, FA, Retired


Preface:  The 1/8th Infantry Battalion and A Btry 6/29th Artillery were part of the 1st Brigade,
4th Infantry Division during Operation "Francis Marion". The mission was: Search and Destroy.

        The Infantry Battalion and A 6/29th airlifted into position just West of Duc Co at coordinates YA 790239 on 13 May 67. The artillery (Commanded by Cpt. McCreight) hurriedly prepared their firing position and prepared to support the infantry. The FSB was initially secured by C Company 1/8th Infantry. The infantry companies A & B continued their normal sweeping and patrolling action with little contact.

14 May            Quiet
        This is my analysis as to what took place during the period 18-23 May 1967. The general scenario is related in the book, 4th Infantry Division, Vietnam, on pages 96-100. The artillery was placed on restrictive firing. No recon by fire missions were authorized unless personnel we're in contact. I told my Forward Observers that if they were in contact that I would give them all the support they required. Early in the afternoon of 18 May 67 the FO told me and the FDO (Lt. Dlugosz) that they were in contact. I authorized firing the artillery. The Infantry had a platoon that was receiving fire. I went with the Infantry Battalion Commander (Ltc. Gannon (MUSTANG)) in his C&C chopper to monitor the battle and assist in any way possible. The FO had A Btry 6/29th firing for him, while I had C 5/16th (Cpt. Meek) firing for me. Other artillery and air assisted in fire support.
18 May
        An Infantry platoon (4th platoon, B Company) had got ambushed and were pinned down. I placed blocking fires to the west of the pinned down platoon (C 5/16th 155mm howitzers). This went on for quite a while. Suddenly MUSTANG (BN CO) tapped me on the shoulder and told me they (the platoon) wanted the artillery on top of them. I said "Are you sure that is what they want?". He said "YES" put it on top of them. I immediately made a correction for C 5/16th and fired many rounds of 155 mm artillery on top of the platoon. Ltc. Gannon made the decision. I made the correction and ordered the firing. In the meantime, the Bn S-2 with personnel of the Bn formed a Company Minus and they were dropped in by chopper to try and find the platoon. At darkness, MUSTANG and I went back to the TOC (Tactical Operation Center of the Battalion). Around 9 p.m., MUSTANG told the Company Minus to secure for the night and told them to start at first light in the morning. We got the Company Minus's coordinates and I got the did hit data from C 5/16th. After checking the two plots, I can remember telling Mustang that if they went so many mils in that direction that they would find the platoon. I recall this vividly because MUSTANG said "That is Artillery talk (mils), put it in Infantry talk". I converted the mils to degrees. The platoon was only 500-600 meters from the Company Minus. The Company Minus pushed out at first light and found the platoon shortly after they started. They found 8 people left alive. They had been stripped of their valuables, weapons etc.
        On 19 May 67,we regrouped and MUSTANG stayed on the ground with the troops that evening (forward CP). I declined to stay on the ground because I would not be able to get up in the air to assist if trouble began again. We fired many DEFCONS (defensive concentrations) and H&I"s (harrassing & interdiction fires) for the people on the ground throughout the night.
19 May
        The following morning, I took the C&C chopper with some replacements into the area. Mustang called me enroute and told me not to shut it down. I was to take a passenger to the hospital. When they set the stetcher in the chopper,the BN S-2 looked up at me and said "What the f--- happened? I told him I did not know. (It seems like he had been sitting on his helmet briefing his troops,when a large limb came down and landed on his head. Got hurt pretty bad. I was told that they evacuated him to the states for surgery.). While laying on the stretcher in the chopper enroute to the aid station I asked him what the conditions were like where the platoon was at. He told me he could not see how people got out of there alive. The artillery had cut everything to shreds. After bringing the S-2 to the aid station I returned to pick up MUSTANG and we went back to the TOC.
        The Infantry set up their perimeters and security and the artillery prepared their DEFCON's. About dusk the sh-t hit the fan. On 20 May 67, MUSTANG and I flew for 20 hours. The only time we were not in the air was when we ran from one chopper to another chopper. There was always another one waiting with radio's,food etc. During the evening and early morning hours A Btry fired continuous fire. Lt. Dlugosz (FDO) called me a couple of times. Once he told me his tubes were getting hot. I asked him if he could put his hands on them. He said "Barely". I told him that they were not hot enough and to continue to fire. What made it worse is that all the firing was "DANGER CLOSE" (Less than 100 meters from the troops). In one instance,I asked Lt. Schoeck, one of the FO's on the ground if he was sure he wanted that correction. He said "Yes". I told him "get in your holes" (The next morning he showed me his back which had shrapnel burns through his clothes).
20 May            21 May
        Another time Lt. Dlugosz (the FDO) called me and told me he was running low on ammunition. I told him to call the S-4 (Cpt. Borders). He told me the S-4 could not get any birds (choppers). I also called the S-4 and he told me he could not get any birds. I told him he better sh-t some birds. A few minutes later he called me and told me he had four birds on the way with some passengers. The 6/29th had gathered up cooks, mechanics and anyone else around and flew them into the firebase to help with the ammo etc.
        During the period 18-23 May 67 A Btry 6/29th fired 8300 rounds of 105mm rounds in support of the operation. C Btry 5/16th fired 1845 rounds of 155 mm rounds. B Btry 6/14th fired 1794 rounds of 8 inch and 690 rounds of 175mm rounds in support of this operattion. In addition 57 air sorties were utilized in this operation (18-26 May 67). On 23 May 67, a decision was made to pull the 1/8th Infantry and A 6/29th from the field. All the preparations were made. Control of the fire base was passed on and we went to bed early for a change. Suddenly we heard thump-thump of mortar rounds coming in. Lt Dlugosz said "Are those good guys or bad guys"?. We hustled out of our tent into the TOC.I called my counterpart, who had taken control of the security and asked him if he was going to fire or should we fire. He told me he had a patrol out but didn't know exactly where it was. I told him "You better fire or I will". I gave the Firing Battery clearance to fire and told them to fire vt fuze with a zero time setting and to fire at such and such an elevation and azimuth. The mortar firing stopped. Lt. Dlugosz and I had both saw the light from the mortars being fired. That woke up the patrol and the rest of the night passed without incident. The following morning the 1/8th Infantry and A Btry 6/29th artillery retired from the field. We became the palace guard for a short time in order to lick our wounds and get replacements.
        During this operation the 6/29th lost one man, SGT Leland Thompson. He was acting as the observer for the platoon that was ambushed. Others were wounded. The 1/8th infantry lost 45 KIA and 96 WIA. Enemy body count was 157 KIA. The 1/8th Infantry had three "Medal of Honor" recipients during this operation. Platoon Sgt Bruce Grandstaff, Staff Sgt Frankie Molnar and PFC Leslie Bellrichard. Sgt Thompson received the Silvar Star. Unfortunately all these awards were posthumously.
        These memories are based on my recollection of the events. No attempt was made to corelate them with the actions of the 1/8th Infantry.These events have stayed with me for the past 33 years.I think you might understand why some nights I wake up in the IA DRANG valley.

Raymond A Harton, LTC, FA, Retired
Artillery Liaison Officer with 1/8 Infantry

Photos were provided by Cpt. McCreight, A Btry, 6/29th Arty


Return to Stories of Vietnam


Home Page

Rings

Our Regimental History ] Our Separate Unit Histories ]
Our Memorial Tribute of Honor to Fallen Comrades ]
He Was My Friend, And, I Remember... ]
Our Vietnam War POW-MIA Pages ] Our Korean War POW-MIA Pages ]
Our Medal of Honor Tribute ]
Individual Combat Awards ] Individual Service Awards ]
Our Email Listings ] Our Postal Listings ]
Message Archives ] Related Links ] Favorite Links ]
Acknowledgements ] Our Site Awards ] About the Webmaster ]
Sign Our Guestbook ] View Our Guestbook ]
Discussion/Message Board ]
Our Member's Personal Home Pages ]
Stories of WWII ] Stories of Vietnam ] Stories of the Gulf War ]
WW I Photo's ] WW II Photo's ] Vietnam Photo's ]
Gulf War Photo's ] Bosnia Photo's ] Peacetime Photo's ]
Our Supplemental Web Site Pages ]
Awards We Give ]

Master Site Index ]


Sunday, April 19, 2020

Chút Ký Ức Về Cao Nguyên - Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115

Posted by   March 01, 2019  1709
Chút Ký Ức Về Cao Nguyên - Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115
Tôi bước xuống phi trường Cù Hanh, Pleiku vào một buổi trưa đầu năm 1968. Trời nắng nhẹ, cùng vài cơn gió thoảng qua làm lay động các bụi cỏ lau bên rìa phi đạo và tạo thành âm thanh lao xao liên tục khiến tôi có cảm giác dễ chịu. Tôi được chỉ định về Trung Đoàn 3 Thiết Giáp, mà bộ chỉ huy đóng tại đây, để phục vụ. Những tháng ngày kế tiếp, tôi quay cuồng cùng đơn vị. Từ mờ sáng tới khi trời chập choạng tối, tôi chỉ thấy con đường 14, với rừng và núi. Thời gian sau tôi thường cùng đơn vị di chuyển theo đường 19 từ Qui Nhơn lên. Sau khi vượt qua đèo Măng Jang cao ngất, trước mắt tôi là không gian bao la. Tôi mới cảm thấy được thiên nhiên hùng vĩ của vùng cao nguyên này, đối nghịch với kích thước nhỏ nhoi của con người.

Với độ cao từ 500 tới 1500 mét trên mặt nước biển, cao nguyên trải dài từ Bắc Kontum cho tới Lâm Đồng. Dân cư ở đây thưa thớt với nhiều sắc dân. Nổi bật nhất là người Ra Đê, Gia Rai, Bahna, và Sedang. Trình độ phát triển của các sắc dân này không đồng đều.

Khi Chúa Nguyễn Hoàng trốn chạy chúa Trịnh Kiểm tìm về phương Nam lập đế nghiệp, với lời căn dặn “Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân”, nhưng các chúa sau chỉ tạo dựng đế nghiệp quanh những đồng bằng miền duyên hải. Mãi cho tới thời Tây Sơn, vùng cao nguyên này mới có dấu viết lịch sử. Xuất thân từ một nhà buôn, có dịp đi nhiều nơi, một trong những người vợ của ông Nguyễn Nhạc là người Bahna, và đội Tượng Binh nổi tiếng của vua Quang Trung xuất phát từ vùng đất này. Con đường 14 hiện nay có thể mang ít nhiều dấu vết con đường thượng đạo ngày xưa. Khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn chỉ đặt các đạo để cai quản vùng này, mà không có kế hoạch phát triển.

Lúc xâm chiếm nước ta, người Pháp nhận thấy đây là vùng đất nhiều tài nguyên, nên đưa ra chính sách hạn chế người Kinh lên vùng cao nguyên này. Khi người Pháp bị buộc phải trao trả độc lập cho VN thì nhà Nguyễn cũng muốn giữ làm của riêng cho hoàng tộc, với tên gọi Hoàng Triều Cương Thổ.

Cao nguyên này thay đổi một cách toàn diện vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà, với tên gọi CAO NGUYÊN TRUNG PHẦN, được phân chia theo các điạ giới hành chánh. Chính quyền đương thời tập trung vào một việc rất quan trọng, là phân bổ lại dân chúng. Với gần một triệu người di cư từ Bắc vào Nam, chính phủ của Tổng Thống Diệm khuyến khích và kêu gọi di dân lên cao nguyên lập nghiệp.

Khởi thuỷ gần 60 ngàn người đã lên vùng này, tập trung sinh sống tại các khu dinh điền rải rác, nhiều nhất ở vùng Ban Mê Thuột và Kontum. Riêng tại Kontum, di dân lập làng quanh thị xã, và trải dài lên phía Bắc. Họ đã lập các làng Ngô Trang, Trung Đạo gần Võ Định, và Diên Bình gần Tân Cảnh. Một vài đơn vị võ trang của giáo phái Hòa Hảo cũng được di chuyển lên đây khi giáo phái này về hợp tác với chính phủ. Ngoài việc an dân, việc làm này còn mang ý nghiã về quốc phòng.

Tôi không biết nhiều về phía Nam cao nguyên, vì tôi chỉ ở cùng một đơn vị Thiết Giáp, luôn hoạt động ở phía Bắc, không kể trận Ban Mê Thuột, diễn ra vào giai đoạn chót của cuộc chiến. Tuy nhiên, vùng Pleiku và Kontum mới là điạ bàn chính trong chiến tranh của vùng cao nguyên. Các cuộc đụng độ lớn giữa ta và VC luôn xảy ra ở đây. Cả Vùng 2 Chiến Thuật có 5 thiết đoàn Kỵ Binh. Trừ hai chi đoàn Thiết Kỵ hoạt đông dưới miền duyên hải, toàn bộ năm thiết đoàn đều nằm trên vùng cao nguyên. Trong đó bốn thiết đoàn bố trí tại Pleiku và Kontum.

Gần như trở thành qui luật, ngoài các trận đánh lẻ tẻ diễn ra suốt năm, vào đầu mùa mưa đều có những trận đánh lớn với sự tham dự của nhiều trung đoàn quân chính qui của CS miền Bắc. Những năm 1965 và 1966, các trận đánh lớn diễn ra ở Đức Cơ, Pleime; năm 1967 ở Dakto; năm 68 Mậu Thân; năm 69 ở Ben Hét; năm 70 ở Dak Seang; năm 71 ở căn cứ 5, căn cứ 6; năm 72 ở Tân Cảnh. Sau những trận đánh này, thương vong của ta thật lớn lao, nhưng tổn thất của lực lượng CS Bắc Việt tăng gấp nhiều lần. Sau trận Ben Het, nhiều cán binh cuả quân CS miền Bắc bị chết nằm rải rác trong rừng, tan rữa chỉ còn bộ xương. Sau trận tại căn cứ 5, các đợt tiếp tế được yêu cầu mang thêm cả những bó nhang, không phải để cúng cô hồn, mà đốt lên để át mùi tử khí!

Nói tới vùng cao nguyên, không thể không nói đến con đường 14. Ngày nay, con đường này chạy từ Chơn Thành, chỗ giáp với Quốc Lộ 13, ra tới Quảng Trị. Nhưng đoạn đường từ Pleiku tới Dakto trong chiến tranh là con đường của xương, máu, và nước mắt. Các Trung Đoàn CS Bắc Việt 95, 28, và 66 thường đóng chốt ngăn chặn giao thông trên đoạn đường này, trước khi mở các trận đánh lớn. Còn thường ngày, từ Pleiku tới Kontum là vùng hoạt động thường xuyên của một đơn vị cấp tiểu đoàn D405? Từ Kontum tới Tân Cảnh là đơn vị C1. Các đơn vị CS này mở các cuộc phục kích nhỏ, bắn sẻ, và nhất là đặt mìn.

Vào năm 1968, đoạn đường này vẫn không có nhiều thay đổi khi so với thời gian trước khi quân Mỹ chính thức tham chiến ở Việt Nam. Chỉ có 1/3 mặt đường được tráng nhựa, 2/3 mặt đường còn lại vẫn là đất đá, vì vậy mìn bẫy luôn là nỗi ám ảnh cho các đơn vị. Quân đội Mỹ luôn xử dụng con đường này để chuyển tiếp liệu từ Pleiku lên các căn cứ phía Bắc. Để tránh bớt thiệt hại khi bị phục kích, Công Binh Mỹ đã cày sới, chặt cây, khai hoang vào hai bên đường, mỗi bên khoảng hơn 100 mét để đoàn “convoi” (đoàn xe hộ tống, tiếng Pháp) có thể di chuyển. Sau khi Thiết Giáp đã mở đường xong, là toán dò mìn đi so le hai bên đường. Phiá sau một đoạn xa là hai chiếc GMC chở đầy đá cục di chuyển dật lùi. Nếu có mìn còn sót lại thì nó sẽ nổ. Công việc thận trọng như vậy mà đôi khi vẫn bị tổn thất vì mìn, do kỹ thuật chôn dấu của VC ngày một tinh vi.

Tôi được nghỉ một ngày khi về trình diện trung đoàn, để chờ chi đoàn đến nhận. Khi về tới chi đoàn, một hai ngày đầu tôi còn bỡ ngỡ, nhưng vài ngày sau, tôi đã bắt kịp mọi việc. Vào thời gian này Trung Đoàn 3 Thiết Giáp được cải danh thành Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh. Thiết đoàn chịu trách nhiệm an ninh Quốc Lộ 14 từ Pleiku đến Kontum. Đoạn đường dài khoảng gần 60 cây số. Từ Pleiku tới Dak Doa, đồi dốc thoai thoải, địa thế lý tưởng cho các hoạt động của Thiết Giáp. Từ Dak Doa tới Kontum con đường 14 bị kẹp giữa hai dãy núi, phía Đông là dãy Chu Thoi và phía Tây là dãy Chư Pao, đoạn này dài khoảng 7 cây số. Khi mở đường đến đoạn này, Thiết Giáp chỉ có một khoảng trống rất hẹp để điều động.

Dak Doa cũng là một địa danh đáng được ghi nhớ, vì chính tại địa điểm này, vào năm 1955, Công Binh Việt Nam Cộng Hòa đã mở con đường đi về Quảng Ngãi. Vì chiến tranh, con đường hầu như không bao giờ được xử dụng. Những ngày tháng giữ an ninh trên đoạn đường này, đơn vị của tôi ít gặp mìn bẫy, nhưng vì các đoàn “convoi” của quân đội Mỹ vẫn đi đi về về hàng ngày, do vậy thường xuyên bị phục kích. Các đoàn xe bị tổn thất không nhiều, nhưng lực lượng của CSBV bị tổn thất rất nặng, một phần do sự phản công của Thiết Giáp, một phần do các khẩu đại liên sáu nòng bố trí xen kẽ trong đoàn xe hộ tống.

Đường 14 được nhắc đến nhiều sau này, là do trận chiến đẫm máu diễn ra ở Chư Pao năm 1972... Sau khi đã chiếm được Tân Cảnh, Mặt Trận B3 CSBV dự tính sẽ đánh chiếm Kontum. Muốn vậy phải chặn được viện binh từ Pleiku lên. Chúng đã chọn Chư Pao là điểm chiến lược, vì ngăn chặn được Chư Pao không cho quân đội chính phủ VNCH vượt qua là ngăn chận được lực lượng tiếp viện cho Kontum.

Chư Pao là ngọn đồi cao 1059 mét, nằm trong dãy núi phía Tây. Tại đây, Trung Đoàn 95A CSBV đưa một tiểu đoàn lên tổ chức trận địa. Từ cao điểm này, chúng dễ dàng ngăn chặn đoạn đường 14, nằm kẹp giữa hai dãy núi. Tất cả mọi di chuyển trên đoạn đường đều nằm trong tầm tác xạ của các loại vũ khí bắn thẳng. Lực lượng tăng cường cho Kontum đã phải trả giá rất đắt nơi đây. Về sau, Quân Đoàn II phải mở con đường 14B, lui về phiá Tây, song song với con đường 14, và sau dãy Chư Pao. Từ đây, một chi đoàn của Thiết Đoàn 3 đã xâm nhập vào mật khu cuả Trung Đoàn 95 CSBV. Cán binh CS thì đã chạy hết, nhưng mấy con heo đã làm sẵn thì vẫn còn để lại. Cũng từ đây, Thiết Giáp và Biệt Động Quân đã chiếm được đỉnh Benhet và giải tỏa cho Kontum.

Đầu năm 1969, quân đội Mỹ đã không còn giữ an ninh trên đoạn đường 14 từ Kontum đi Dakto. Vì thế, Thiết Đoàn 14 vừa được thành lập đã lãnh nhiệm vụ an ninh trên đoạn đường này. Ở phía Bắc Kontum, rừng rậm, đồi dốc nhiều, nhiều đường thông thủy cắt ngang quốc lộ. Đặc biệt, trên đường có rất nhiều mìn bẫy. Chỉ qua một đêm trên cùng một đoạn đường có khi khám phá cả chục mìn đủ loại. Đường tuy dài, nhưng có hai đoạn mà nguy hiểm luôn luôn rình rập: từ Kontum đến Ngô Trang, từ Võ Định tới Kon H’ring. Các đơn vị hành quân trong khu vực này luôn chịu tổn thất do bắn sẻ, phục kích, nhưng nhiều nhất do mìn bẫy. Đôi khi đường đã được mở, toán dò mìn đã xong, xe đã di chuyển, nhưng một chiếc trong đoàn xe cán mìn. Kết quả là không một ai sống sót.

Từ Kontum đi Ngô Trang, con đường đi lên một dốc cao của một ngọn đồi. Đó chính là Eo Gió một địa danh quen thuộc của những người lính chiến Kontum. Tại đây, Chi Đoàn 2/14 mất một hạ sĩ quan rất giỏi, bắn súng cối 81 ly không cần ống nhắm, yểm trợ chính xác, và hiệu quả. Sau khi dẹp tan một cuộc phục kích, người hạ sĩ quan này xuống xe lục xoát. Ông tìm được một cán binh CSBV nằm trong bụi rậm. Tay vẫn cầm khẩu súng colt, ông kêu người này đầu hàng. Thay vì làm như vậy, người cán binh này, đã bắn vào ông nguyên một băng AK. Với lòng cuồng tín và thái độ hận thù, tên CS này biến thành kẻ mê muội nên không nhìn thấy đâu là lòng nhân đạo.

Đoạn từ Võ Định tới Kon H’ring, phục kích và bắn sẻ diễn ra thường xuyên. Tại đây, Thiết Đoàn 14 mất một chi đoàn trưởng. Phía Bắc Võ Định không xa có một con suối nhỏ. Qua điểm này, chi đoàn không thể dàn đội hình, mà phải qua từng chiếc một. Thay vì phải để một chi đội giữ bên hông cho chi đoàn đi qua, Nguyễn Văn Âu đã khinh suất, không bố trí an ninh, và di chuyển ngay sau chi đội đầu vừa qua được mấy xe. Chi Đoàn bị lọt ổ phục kích. Truyền thống của chi đoàn này từ xưa đến nay và như thành thói quen, là khi bị phục kích, tất cả đều dàn hàng ngang tiến vào mục tiêu. Âu đã tử thương. Vài ngày sau, tôi được đưa về thay nhiệm vụ của Âu.

Qua đầu năm 1969, Công Binh Hoa Kỳ bắt đầu xây dựng lại đường 14, từ Kontum ngược về hướng Bắc, nhưng chỉ trải nhựa cho tới Tân Cảnh. Công việc vất vả, kéo theo sự mệt nhọc cho cả những đơn vị giữ an ninh. Công việc làm nền móng mất nhiều thời gian, nhưng khi trải nhựa thì nhanh chóng hơn. Trong một ngày có thể trải nhựa tới sáu, bảy cây số. Những người lính Công Binh này làm cho xong việc chứ không làm tới giờ là nghỉ. Một lần trời đã xẫm tối mà Công Binh vẫn làm, tôi nói với người cố vấn Mỹ,

- “Anh nói với Công Binh, nghỉ đi mai làm, lính của tôi mệt mỏi quá rồi.”

Người cố vấn này không nhìn tôi mà nhìn vào khoảng không rồi nói,

- “Đường này của anh, hay của tôi?”

Tôi không thể có câu trả lời.

Người lính Thiết Giáp giữ an ninh trên các trục đường, thoạt nhìn có vẻ thảnh thơi. Nhưng không phải vậy, vì họ ra đi từ mờ sáng, trở về khi mặt trời sắp lặn. Suốt ngày phơi mình dưới nắng, mưa, ăn uống kham khổ. Ngày nào thức ăn cũng toàn thịt ba lát, hoặc cá hộp măng le. Khi về họ còn phải lo xăng nhớt, đạn dược, tu bổ máy móc, còn canh gác, vv...

Vùng phía Bắc cao nguyên này có hai thành phố chính Pleiku và Kontum. Pleiku ở trên độ cao 900 mét. Xế về phía Bắc không xa là Biển Hồ. Đây là miệng núi lửa đã ngưng hoạt động từ rất lâu. Vì vậy, vùng Pleiku đất đỏ, mùa nắng thì bụi mù, mùa mưa thì bẩn. Nơi đây được chọn đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Không xa thành phố về phía Nam là núi Hàm Rồng, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Hoa Kỳ. Pleiku có đủ mọi sắc lính, cả Việt và Mỹ. Thỉnh thoảng, người ta còn bắt gặp những đoàn người thượng đeo gùi đi thành hàng dọc trong phố. Hình ảnh hoà trộn này khiến Pleiku có một chút gì hoang dã, hối hả, và tạm bợ.

Tuy vậy những con người qui tụ về đây vẫn khát khao một chút lãng mạng ở café Dinh Điền, một chút cầu kỳ khi cố lặn lội vào một hẻm sâu để tìm một tô bún bò Huế. Thành phố này còn có Câu Lạc Bộ Phượng Hoàng, nhưng nơi đây không phải nơi đến của những người lính suốt ngày lặn lội trong rừng.

Có một câu nói của giới giang hồ nơi đây, “Cái gì của Pleiku thì phải để lại Pleiku. Mang đi nơi khác, sớm muộn cũng mất.” Đúng sai tới đâu thì chỉ những ai đã lập nghiệp nơi này mới có câu trả lời.

Khác với Pleiku, thành phố Kontum, với dòng sông Dakbla chảy ngược, ở độ cao 500 mét.* Nơi đây có một chút gì như trầm lắng, phảng phất chút khuê các. Giờ tan học, những tà áo trắng trinh nguyên toả ra từ cổng trường, nhưng sau đó không thấy ai lang thang ngoài phố. Thói quen này, có thể ảnh hưởng từ tôn giáo, đã định hình nếp sinh hoạt của dân cư.

Ngược dòng lịch sử vào năm 1851, các linh mục truyền giáo đã có mặt ở thành phố này. Kontum có nhà thờ bằng gỗ nổi tiếng, được xây dựng trong khoảng thời gian đó. Cũng nhờ sự có mặt của các linh mục đạo Thiên Chúa Giáo người ngoại quốc mà vào năm 1861 người BAHNA đã có chữ viết được La Tinh hoá. Không chỉ riêng tại thị xã Kontum, các linh mục còn đi đến cả những vùng xa xôi. Tại một buôn làng gần Dakmot, vào năm 1970 vẫn còn một linh mục già người Pháp sống trong ngôi nhà thờ nhỏ giữa buôn làng người Bahna.

Cao nguyên Trung Phần rộng mênh mông, đất đai mầu mỡ, dân cư thưa thớt, trong khi người thượng sống rải rác trong rừng sâu. Khi tới đây, người Pháp đã hạn chế người kinh sinh sống, độc quyền thành lập các đồn điền với đủ kích cỡ. Riêng tại Pleiku có đồn điền trà KTK dọc theo con đường vào Thanh An. Khi hành quân về phía Nam Đức Cơ, chúng tôi thấy cả một vườn soài rộng lớn, trái trĩu cành mà chẳng ai hái. Sâu hơn nữa về phía Nam là một khu đất bằng phẳng mà sâm mọc như cỏ. Lính tráng rủ nhau đi đào nên xe nào cũng cả bao cát.

Đệ Nhất Cộng Hoà được thành lập, bắt tay vào xây dựng cao nguyên. Người Pháp đã ra đi, nhưng đã để lại nơi đây những cánh hoa biết nói. Những cô gái này có một điểm chung là sống mũi cao, và đôi mắt sáng. Ở vùng Pleiku, các cô được học hành nên nói tiếng Pháp trôi chảy, nhưng ở Kontum, phần nhiều họ làm việc và sống lam lũ. Dù vất vả, họ vẫn giữ được vóc dáng cân đối. Gần làng Ngô Trang có hai cô gái đẹp hàng ngày vẫn đi chăn bò. Khi hành quân qua đây, chúng tôi thường ngồi chờ các cô về, tìm một chút rung động trong lòng để bù vào suốt ngày mưa nắng. Đối diện với làng Trung Đạo gần Võ Định, đi sâu vào con đường mòn, không như một buôn thượng thường có nhà rông, nơi đây chỉ có mấy nóc nhà. Ở đây cũng có hai cô gái, tuy vẫn đeo gùi đi rẫy, nhưng làn da vẫn phơn phớt hồng, và đôi mắt thì đầy mê hoặc.

Cao nguyên núi rừng trùng điệp. Những ai đã từng lạc bước trong rừng sâu, thì hiểu thế nào là sức mạnh của rừng. Tôi có vài lần tăng cường hành quân trong Polei Kleng, đồn trú dài ngày tại Benhet. Buổi chiều lắng xuống, ai nhìn ra chung quanh, thì cũng chỉ thấy một mầu xanh cuả lá, sương mù giăng giăng một màu xa khơi. Nếu ai nhìn chăm chú thì sẽ có cảm giác rừng đang toát ra không khí trầm tĩnh, nhưng đầy bí hiểm.

Mùa Xuân năm 1972, đơn vị đồn trú tại Benhet. Tôi không có bạn bè, cũng chẳng ai viếng thăm. Lúc này, đơn vị bố trí thành một vòng đai rộng. Mấy người lính ở từng xe góp nhau nấu chút đồ ăn mà họ mới gởi mua hôm trước.

Một mình, ngồi cạnh xe chỉ huy, tôi nhìn vệt nắng hắt ngang trước mặt. Mầu nắng vàng buổi chiều dễ làm tôi chạnh lòng. Tôi nghĩ về gia đình, về những ngày tuổi nhỏ, và không thể không nghĩ về những gì đã từng gặp những tháng năm qua. Đã có biết bao cảnh đời bị chìm lấp giữa mịt mù khói lửa chiến tranh.

Trong đơn vị, tôi đã từng gặp người cha của một binh sĩ đã mất. Ông đã lặn lội từ một tỉnh miền Tây ra tới vùng cao nguyên, chỉ mong được nhìn nơi con mình đã sống, gom chút kỷ vật, buồn bã, rồi lầm lũi quay về.

Tôi đôi lúc nghĩ về một đám tang, vào năm 1969. Một sĩ quan của Trung Đoàn 42 tử trận. Chỉ có một quả phụ đội chiếc khăn tang trắng bước sau quan tài. Quang cảnh càng ảm đạm hơn khi trời còn lắc rắc mưa. Chỉ vài tháng sau, tôi tình cờ gặp người thiếu phụ này trong chốn ăn chơi. Chị không biết tôi, nhưng như có linh tính, có một chút khựng lại. Chỉ một thoáng, mọi chuyện lại coi như không. Sự tuyệt vọng đến đâu, để người thiếu phụ này không còn tha thiết đến cuộc đời mình?

Một chút hồi tưởng về vùng đất tuy nhỏ giữa một cao nguyên rộng lớn, nhưng đã có biết bao người đã đi qua và bao người vĩnh viễn nằm lại.

Cao nguyên, bây giờ có thể đã khác, nhưng lẫn trong đất là xương máu của không biết bao người.


* Các sông ở miền Trung VN, xuất phát từ dãy núi Trường Sơn, đa số chảy về hướng Đông, đổ ra biển. Riêng sông Dakbla chảy ngược lại về phía Tây.
Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115
Ý kiến cho bài đọc xin nhấn vào đây => (Chút Ký Ức Về Cao Nguyên)

Saturday, February 9, 2019

BẢN đồ cao nguyên trung phần , tỉnh quảng đức , tỉnh darlac , tỉnh phú bổn , tỉnh phú yên , tỉnh bình định , tỉnh kontum , tỉnh pleiku ,