Showing posts with label hồi chánh viên. Show all posts
Showing posts with label hồi chánh viên. Show all posts

Friday, May 17, 2019

Cựu hồi chánh viên định cư tại Mỹ theo diện H.O.

15/04/201900:00:00(Xem: 4993)
Cựu Bộ Đội Hồi Chánh Định Cư Diện H.O.
Tác giả: Năng Khiếu

Bài số  5663-20-31469-vb2041519

 Tài Trần : tựa của tác giả là "Cựu bộ đội hồi chánh định cư diện H.O." nhưng tôi mạn phép tác giả sửa lại như trên để dễ hiểu hơn . Vì theo chính sách của VNCH , những ai trở về với chính nghĩa quốc gia đều gọi là H.C.V. dù cho họ chỉ là văn công như ca sĩ Đoàn Chuẩn hay kỹ sư canh nông miền Bắc (đại đội trinh sát của trung đoàn 10 sđ 7 bộ binh từng bắt được kỹ sư canh nông), v.v...

=====================
Tác giả tên thật Trần Năng Khiếu. Trước 1975 là Công Chức Bộ Ngoại Giao VNCH. Đến Mỹ năm 1994 theo diện HO. Đã đi làm cho đến năm 2012. Hiện là công dân hưu trí tại Westminster. Tham dự Viết về nước Mỹ từ  tháng 8/2015. Đã lần lượt nhận giải Đặc Biệt 2016, giải Danh Dự VVNM 2017 và giải Vinh Danh Tác Phẩm 2018.

 
***

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 cộng sản thôn tính toàn cõi Việt Nam. Giở trò dối gạt dân, quân miền Nam. Tháng 5/1975 họ kêu gọi các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa ra trình diện, để đi tù với cái tên “Học tập cải tạo”. Cấp úy thì đem đồ dùng cho mười ngày, cấp tá trở lên thì một tháng. Nhưng thực tế ít nhất cũng vài ba năm, trung bình 6-7 năm hoặc từ 15… 20 năm. Có người đi mút mùa, chết không có ngày về. Còn miền Bắc thì sao? Có bị lừa không? Sau đây tôi xin ghi lại theo lời kể của một sĩ quan cộng sản chiêu hồi năm 1970.

 
*

Cuối năm 1977 tôi được chuyển từ trại tù “cải tạo” Thành Ông Năm về Gia Ray Long Khánh. Một hôm bố tôi đi thăm và cho biết, tôi có một người anh rể con bà bác là cựu trung úy bộ đội đã hồi chánh, tên là Lê Văn Bá đang bị “học tập” với tôi tại khu B trại Gia Rây này, anh ở tổ nuôi heo.

Trại nuôi heo nằm bên ngoài trại tù ở, nên phải đợi đến lúc đi lao động tôi mới hỏi thăm và gặp được anh. Dáng người anh gầy gầy, vẻ mặt khắc khổ nhưng hiền lành chứ không “ mã tấu răng hô” nên vừa gặp, tôi đã có thiện cảm với anh ngay. Tuy vậy, dẫu là anh em đôi con cô con cậu, nhưng khi tiếp xúc với anh vẫn như còn bức tường vô hình chắn ngang, nên tôi luôn thận trọng. Vì tôi có nghe một số các thành viên Việt cộng, được hưởng quy chế chiêu hồi, sau đó cộng tác với ngành an ninh quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nên sau ngày 30/4/1975 đều bị chế độ mới trừng phạt, có người bị xử tử, một số bị bắt đưa vào các trại tù “cải tạo”, trong số ít những người chiêu hồi này, một thời gian sau biến chất trở thành những điềm chỉ viên cho bọn quản giáo. Nhưng cũng có người chiêu hồi thật tâm dù ở hoàn cảnh nào sống cũng rất tử tế.

Rồi từ đó thỉnh thoảng tôi mới gặp anh, chỉ đôi ba câu hỏi thăm sức khỏe, anh ghé vào tai tôi nói nhỏ:

-Chú biết không? Cái đám cai tù ở đây chúng nó chia làm hai phe, Nam, Bắc ganh tị nhau khiếp lắm, chửi bới nhau hoài vì giành ăn. Anh được phe trong Nam thương hại, cũng bị vạ lây nên bị kỷ luật, may mà không bị đem ra Bắc nhốt. Vì có thằng quản giáo nó biết anh là chiêu hồi mà ở ngoài Bắc có học chín tháng sơ cấp về thú y, nên nó đề nghị cho anh làm tổ trưởng nuôi heo. Anh phụ trách chăm khoảng bốn năm chục con heo nái, cả hàng trăm con heo thịt, cực lắm. Nuôi bằng thực phẩm lấy ở Thủ Đức về.

Sau sáu năm lao động cật lực, tôi tốt nghiệp “Học tập cải tạo” thì ra trường. Anh cũng được thả sau tôi một năm, về quê vợ ở xứ Bạch Lâm Gia Kiệm, tại đó anh đã trải qua một cuộc sống khó khăn, như nhiều người lúc bấy giờ, còn tôi ở Hốc Môn nên ít có dịp gặp nhau.

Mãi đến đầu thập niên 1990, anh về Saigon nộp giấy tờ đi xuất cảnh diện HO. Tiện dịp anh hay ghé vào nhà thăm tôi. Anh rất lo trường hợp cựu tù nhân chiêu hồi như anh, sợ lúc phỏng vấn phái đoàn Mỹ sẽ đánh rớt, nên tuy bổn đạo mới nhưng anh rất sốt sắng cầu nguyện, xin ơn Chúa quan phòng. Cuối cùng Chúa đã nhận lời.

Gia đình anh được định cư tại Mỹ tháng tư năm 1994  theo diện HO 23. Nhờ có người bà con bên vợ bảo trợ về Riverside, một thành phố cổ nằm cạnh bờ sông Santa Ana, là cái nôi của kỹ nghệ trồng cam ở California. Gia đình anh cũng được hưởng mọi đặc ân của chính phủ Hoa Kỳ, đầy đủ như các gia đình cựu tù nhân Việt Nam Cộng Hòa. Được Hội USCC giúp đỡ một ít hiện kim, và thiện nguyện viên chở đi làm giấy tờ, từ đó họ gọi anh là Ba Le, đổi mới từ tên tuổi đến con người, mà trước kia anh đã từng  một thời phải đội nón cối, đi dép râu. Anh xin được việc làm trong hãng điện tử, chị thì làm trong hãng may.

Sáu đứa con anh vừa đi học vừa đi làm, chúng như những chồi non đang vươn lên, khi có cơ hội tốt là mau chóng thành công.

Tuy gia đình đông con, nhưng anh đã giáo dục con cái bằng đời sống gương mẫu, siêng năng đạo đức, ôn hòa và chính trực. Anh được nhiều người yêu mến tin tưởng, bầu làm chủ tịch trong một cộng đoàn giáo xứ người Việt Nam.

Bây giờ anh chị lớn tuổi, đã qua những ngày cơ cực. Các con được học hành đến nơi đến chốn, có cơ ngơi riêng biệt “Nhìn lên thì không bằng ai, nhìn xuống thì không ai bằng mình”. Anh mãn nguyện nói như vậy.

Sau hơn hai mươi năm sống tại Mỹ, nhìn về quê nhà anh không khỏi chạnh lòng, nên hay bày tỏ nỗi bất mãn cộng sản. Những bài viết trên online anh thường phê phán nhà cầm quyền cộng sản phi nhân. Để đạt được mục đích cuồng vọng xâm lăng, cố chiếm cho được miền Nam bằng thân xác hàng triệu sinh linh. Rồi anh sưu tầm những tin tức mà hiện nay cộng sản Việt Nam giấu diếm. Vạch trần âm mưu bán nước, hại dân của những quan chức tham ô, để gửi thư email đến cho nhiều người.

Anh Ba Lê cũng không quên nhắc đến chương trình chiêu hồi của chính phủ VNCH (được Mỹ yểm trợ) để khuyến khích bộ đội Bắc Việt và các thành phần “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, quay về với chính phủ VNCH.

Được thành lập vào ngày 17 tháng 4 năm 1963, tính cho đến tháng Tư năm 1975 đã giúp cho gần 200,000 cán binh Việt cộng ra hồi chánh. Cũng như anh may mắn nhờ chiêu hồi, đã tìm được con đường quay về với chính nghĩa quốc gia, làm lại cuộc đời.

Anh Ba Lê so sánh sự khác biệt giữa chính sách nhân đạo của thế giới tự do, với chiêu bài cộng sản “Thà giết lầm còn hơn bỏ sót”, nên khi chiếm được miền Nam, cộng sản đã ra tay trả thù tàn ác với những người sĩ quan quân lực VNCH, dù đã buông súng đầu hàng vô điều kiện. Trong khi anh, một người sĩ quan bộ đội cộng sản đã từng theo lệnh Bắc Bộ Phủ Hà Nội, vi phạm Hiệp Định Genève, xâm lấn miền Nam, quấy phá sự thanh bình của một miền đất tự do no ấm. Anh đã từng là một “khủng bố lén lút” theo lịnh đảng giết hại đồng bào, đã tiếp tay làm chết biết bao quân nhân Mỹ và đồng minh. Vậy mà giờ đây chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ vẫn mở rộng vòng tay đón nhận anh và gia đình.

 “Khách đến nhà không trà thì rượu” vì thế trà vào lời ra, anh hay kể cho chúng tôi nghe trong niềm  xúc động nhạt nhòa, về một giai đoạn cùng khổ, do tà thuyết và chủ nghĩa cộng sản du nhập vào tàn phá đất nước, mà tất cả người Việt từ Bắc chí Nam phải gánh chịu.

Thấy anh Ba Lê đang thao thao kể chuyện, bà xã tôi mạn phép xen vào:

-Thế cấp bậc cuối cùng của anh là trung úy, vậy lúc ở ngoài Bắc anh được đào tạo từ trường sĩ quan nào?

Anh thật thà:

-Đâu có đào tạo hay huấn luyện trường lớp mẹ gì!.!. Chỉ đi lính lâu năm thì lên lon thôi!

Chúng tôi chưa hết ngạc nhiên, thì anh tiếp:

-Hồi tôi đang “Cải tạo” ở trại Gia Rây, có biết một tên trung úy Việt cộng, lúc ấy đang làm quản giáo. Hắn ta người miền Nam đi theo cách mạng từ năm 12-13 tuổi, hắn không biết một chữ nhất, chỉ biết ký tên mình là Nam thôi!

 Theo như lời anh kể phần nhiều các chính ủy, cán bộ …Thường ít học, chỉ “sống lâu lên lão làng”. Sĩ quan, binh lính… không được huấn luyện kỹ lưỡng ở các quân trường như quân đội VNCH, chỉ được dạy sơ xài cách sử dụng vũ khí. Thủ trưởng cấp sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn,đại đội có khi vừa đi vừa huấn luyện, ngay trên đường mòn HCM để vào miền Nam “đánh nhau” theo chiến thuật biển người, đó là lối nướng quân tàn bạo nhất.

Nghe anh Ba Lê nói, tôi không khỏi buồn, vì bao nhiêu năm chúng tôi uổng phí thời gian, tiêu hao tuổi đời, để phải “học tập” từ những con người thất học như tên Nam.

*

 Anh Ba Lê quê ở Nghệ An Hà Tĩnh. Năm 1960 chưa học hết lớp 10 anh phải nghỉ học ở nhà phụ làm ruộng, như mọi người trong làng. Cha mẹ không có tiền cho con đi học tiếp, dù rất thương con. Anh là thứ năm trong số tám anh em.

Đầu năm 1962  anh được “trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” (đó là xảo ngôn để lùa đám thanh niên miền Bắc xâm lăng miền Nam) thật ra anh cũng chẳng muốn nhận cái vinh hạnh “trúng tuyển” ấy.  Nhưng chỉ sợ sổ gạo bị cúp cả nhà đói meo! Rồi anh được bổ xung vào đại đội 3 tiểu đoàn 1 làm công tác vận chuyển súng đạn đến biên giới Lào.

Cuối năm 1964 đại đội anh được học “khẩn trương” ở Cửa Lò ba tháng để đi B (là mật khẩu của mặt trận miền Nam). Trước khi đi mỗi người lãnh hai bộ quần áo kaki, màu cứt ngựa rộng thùng thình, hai bộ bà ba đen, một cái mũ phớt, họ bảo cho hợp với lực lượng “Mặt Trận Giải Phóng” trong Nam. Xe khởi hành từ thành phố Vinh lúc một hai giờ đêm bí mật như đi ăn trộm, không đi đường chính mà đi đường vành đai. Chạy suốt đêm qua Thanh Hóa vào tới Quảng Bình, khi đến chân đèo “ngàn lẻ một” gần làng Tha Hoa, huyện Gio Linh, từ đó đơn vị anh bắt đầu lội bộ lần theo đường mòn HCM đầy gian khổ, trèo non lội suối bất kể ngày đêm, mỗi người trên lưng đeo 30 ký lô súng đạn, mà chỉ có ba ống gạo, một ký muối và mươi viên thuốc trị sốt rét. Cái dây thắt lưng quanh bụng, móc đầy những đồ chiến lược: Vải ny-lông che mưa, băng bông phòng bị thương, một con dao găm cùn nội hóa, một đôi dép lốp, một cây rút quai dép ….

  Hồi ở Hà Nội nghe cái tên Trường Sơn thật hùng vĩ, họ cho bọn anh xem ảnh ai cũng say mê  cảnh đẹp thiên nhiên. Nhưng thực tế ở đây cây cối xanh bạt ngàn, mà chẳng bới đâu ra cọng rau lúc đói. Núi đồi trùng điệp nhưng nấm thì rất độc, nhiều người ăn xong lăn đùng ra chết. Những dòng suối chảy êm ả, mà nước không đun sôi, uống vào bụng trương lên như trống làng. Mưa thì dai dẳng đen trời, thối đất. Đêm đêm nhìn cảnh màn trời chiếu đất, những cái võng vải treo tòng teng, im lìm trong cái tăng (tent) mỏng manh che chắn gió bão. Sáng hôm sau có người bạn nằm cạnh anh, ngủ luôn không dậy, vì sốt rét cả tuần mà tìm không có trạm nào còn viên thuốc ký ninh. Những con đường chập chùng không tên, cũng như bao con người có tên tuổi, nhưng nằm xuống thành nấm mồ vô danh.

Trong chốn rừng sâu núi thẳm này cái chết đến dễ dàng, chết vì đói vì rét, hoặc chỉ một mũi tên tẩm độc của biệt kích thượng. Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, có khi nấu xong bữa cơm, che không kỹ để khói bay lên, máy bay đến giáng cho một trận mưa bom, chết vô số kể. Bọn anh hào hứng lúc đi, nhưng chỉ mới qua được hai ba trạm đã thấy nản, thằng nào thằng nấy bất mãn đầy bụng cái đám lãnh đạo Hà Nội vô trách nhiệm.

Đi bộ liên tục dọc theo phía Tây Trường Sơn, hơn một tháng thì đến Tây thừa Thiên, giáp đất Lào, gặp ngôi làng người dân tộc, thì dừng chân. Đơn vị anh được lệnh bổ xung vào mặt trận Tây Đô (đó là ám hiệu). Bọn anh được sát nhập vào đại đội 17 bộ đội chánh quy đã có sẵn từ lâu, thuộc phân khu Thừa Thiên Huế. Lớ ngớ như Mán trong rừng, cả đám chẳng được biết sự gì ngoài biệt danh là G2, họ nói để lỡ bị bắt thì quân đội miền Nam không truy tìm ra địa điểm.

Rồi từ đó được liên lạc về nhà, mỗi lá thư bọn anh phải bỏ hai phong bì, phong bì bên ngoài để địa chỉ khống hòm thư ở Hà Nội, dành cho bọn đi B. Phong bì bên trong để địa chỉ quê nhà mình, địa chỉ người gửi là G2, lúc bóc ra người ta sẽ kiểm tra rồi dán tem gửi về cho gia đình. Mà mình không được nói linh tinh lộ ra điều gì, là người ta vứt đi ngay không đến tay người nhận đâu! Người nhà trả lời thư cũng vậy.

 Thế nên ở Ngoài Bắc cha mẹ đâu có biết, con em mình đi B đói khát khổ sở như thế nào? Những người lãnh đạo ngoài Hà nội đã lợi dụng lòng cả tin của mọi người, để biến họ thành công cụ, thỏa mãn cái giấc mơ của HCM, con đường mòn lót bằng xương, bằng máu của những người vượt Trường Sơn, mà Trung ương đảng lại đem con bỏ chợ, chỉ cung cấp vũ khí và ít lương thực cầm hơi. Đi đến đâu thì phải tự lực cánh sinh, tự túc kiếm sống, không chừa biện pháp cưỡng bức dân chúng cung cấp lương thực, như một đoàn quân “thảo khấu”.

Vì thế những ngày đóng trên rừng giáp Lào, bọn anh nhờ được người dân tộc, chỉ cho cách đốt rừng, phát rẫy, trồng ngô, trồng sắn mới có cái ăn, để đủ sức canh gác con đường mòn mang tên “bác”. Lúc đó đơn vị anh được lệnh ém quân, không được bắn súng lớn, hay liên thanh, chỉ bắn loại cạc-bin, để cho đối phương không phát hiện ra.

 

 .

Đầu năm 1996,  đơn vị anh được lệnh xuất đầu lộ diện. Mặt trận lúc ấy bọn anh phụ trách nó mỏng lắm, ngay chỗ eo nhỏ nhất của nước Việt Nam, bề ngang chỉ độ 40 cây số. Đi từ rừng mất mấy tiếng là tuột xuống biển. Anh còn nhớ đi qua những ngôi làng, có từng dãy nhà ba gian hai chái, vườn rau ao cá, dân cư sống sung túc, thoải mái, anh rất ngạc nhiên, không thấy Mỹ ngụy kìm kẹp chỗ nào? Như lời tuyên truyền.

 Ban ngày thì bọn anh trốn trên rừng, khi bóng đêm bao phủ vạn vật,  thì mò xuống mục tiêu để đắp mô cản đường, giật xập cầu, đặt mìn trên lộ, làm nổ banh nhiều chuyến xe đò, có cả đàn bà và trẻ con, gây bao đau thương tang tóc, như những hung thần trong bóng tối. Bọn anh cứ đi theo anh chính trị viên, anh ta đi chậm thì theo chậm, đi nhanh thì chạy nhanh, không được hỏi con đường mình đang đi tên gì. Chỉ làm theo mệnh lệnh, có đêm đi tấn công, pháo kích các đồn biên phòng. Nay bót này, mai đồn khác, để đánh lạc hướng, không đủ sức đối mặt thì như kẻ cắn trộm, đánh nhanh rút lẹ. Có những đêm bị đối phương phản công vừa chết vừa bị thương, không kịp chạy về rừng, mệt mỏi và đói khát, bọn anh đánh liều gõ cửa nhà dân xin trú ngụ, nhưng họ không hề có chút cảm tình gì với các anh bộ đội “cụ Hồ”, vừa mở cửa thấy mình thì sợ hãi, rồi khẩn khoản:

-Lạy các ông đi ngay cho, các ông đi đến đâu, là cả khu đó tan nát tơi bời! Rồi vội vàng đóng xập cửa lại.

Xem ra dưới con mắt của người dân, họ không mấy thiện cảm với cái hình ảnh, các anh hùng mang “sứ mệnh đi giải phóng”, mà Hà Nội đã tô vẽ cho bọn anh trước khi lên đường. Anh tự hỏi có phải đây là những đồng bào đang chờ mình vào giải phóng, hay ngược lại khi so sánh cuộc sống thiếu thốn của dân chúng miền Bắc, vốn đã đói rách lầm than, mà cha mẹ, anh em của mình và hàng trăm hàng nghìn người dân phải thắt lưng buộc bụng, để đóng góp tiếp tế cho một cuộc chiến tranh xâm lăng.

                                                *

 Một cú sốc, khiến anh Ba Lê tìm đường hồi chánh.

 Tết Mậu Thân năm 1968. Cộng sản đã lợi dụng lệnh ngưng bắn trong Hội Nghị Liên Hiệp: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản Hà Nội với “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” . Giữa giây phút thiêng liêng nhất của ngày đầu năm, đã tấn công bất ngờ những nơi đồn trú xung yếu và quan trọng của Quân Lực VNCH. Bất hạnh cho người dân miền Nam trong ngày tết truyền thống, chưa kịp đoàn viên gia đình, thì tiếng súng cộng quân đã rền vang thay cho tiếng pháo giao thừa.

Trong cuộc tổng tấn công này, việt cộng đã bị đẩy lui. Các địa điểm như Saigon-Chợ Lớn cầm cự được tám chín ngày, còn các nơi khác chỉ một hai ngày hay vài tiếng đồng hồ. Nhưng đặc biệt ở Huế, Việt cộng đã chiếm hữu được 25 ngày, bởi vì họ dồn toàn lực lượng chính quy Bắc Việt đã dày dạn chiến trường, được chuẩn bị kỹ lưỡng, thông đồng với bọn chỉ điểm trước khi phát động tấn công. Thừa lúc quân đội VNCH nghỉ Tết không đề phòng, để đột ngột công phá tối đa.

Anh Ba Lê kể rằng, trung đội anh cũng nhận lệnh tham dự tấn công cổ thành Huế vào giữa đêm ba mươi, từ phía Tây Bắc dưới sự hỗ trợ của các tiểu đoàn đặc công. Nhờ yếu tố bất ngờ đơn vị anh nhanh chóng chiếm được một vùng trong thành. Nhưng “quân giải phóng” đi tới đâu dân bỏ chạy tới đó,  họ không kịp mang theo gạo, thịt, bánh, mứt dự trữ ngày Tết. Thế là đạo quân “chiến thắng” đói kinh niên, được no nê trước khi chết. Bọn anh sáng mắt lên với những kho lương thực, mà cả đời chưa bao giờ thấy, rồi hè nhau thồ bằng  xe đạp, hoặc xe “cải tiến” để khuân hết “của ăn của để”  lên rừng.

Chú biết không? Nhìn cảnh này anh thầm nghĩ: “Đây có phải là vùng đất đang chờ được giải phóng không? Nhìn lại bản thân mình, anh thấy một tình cảnh trái ngược, chính mình bây giờ đang cướp lấy miếng ăn, từ những con người tưởng là cùng khổ. Có phải là cay đắng lắm không?”

 Đâu được hơn một tuần, thì quân tiếp viện của quân lực VNCH từ Quảng Trị đến, đụng trận Việt cộng chịu không thấu chết hơn một nửa. Tuy lúc đó đa số cộng quân chiếm được các mục tiêu, nhưng vì hết súng đạn, đành thúc thủ, như trung đội anh còn 9-10 đứa và một khẩu pháo làm cảnh.

 Đến ngày thứ mười bọn anh đang đánh nhau lại được lệnh rút lui, nghe rút anh mừng lắm, vì biết mình còn được sống, nhưng lại bảo rút theo đường cũ, trong lòng anh cũng nghi nghi. Ngày hôm sau trung đội anh được lệnh khiêng khẩu pháo đi lên rừng, rồi lại khiêng xuống thành Huế. Những thân thể gầy đét, suy nhược vì những ngày kham khổ vượt Trường Sơn, phải thay đổi nhau khiêng cái đế pháo tháo rời nặng chịch, muốn gục xuống. Hai thằng khác khiêng nòng súng, tay vịn cái đòn đang chĩu trên vai, tay chống gậy cho vững kẻo trượt chân. Vậy mà bọn anh theo mệnh lệnh cứ luẩn quẩn lên xuống mãi con đường chết tiệt, lết tới lết lui, mục đích để dân chúng nhìn thấy mà đồn rằng, bộ đội còn nhiều súng lớn. Lúc lên rừng anh suy nghĩ, thì ra đơn vị mình là đánh nghi binh chứ không phải rút lui về đường cũ.

 Vì hầu hết đoàn quân nó rút qua những con đường bí mật, còn đơn vị anh thì nó bắt mình đi trên lộ chính. Qua làng Quế Chử, bọn anh tính ghé vào nghỉ chân, nhưng rồi lại dắt nhau lội ruộng theo đường chiến lược. Tự nhiên ở đâu có con chó đen to lắm nó theo anh, rồi nó đi trước, mình cứ vậy mà theo con chó gần hai chục cây số, nó đưa bọn anh qua một chiếc cầu, về đến sát rừng dẫn tuột xuống con suối. Mấy thằng lính nói: -“Anh Bá ơi để tôi trói con chó này về tới rừng mình làm thịt”. Nhưng anh bảo: “Tao không nhất trí cái đó, đứa nào ăn thì làm”. Sau súng bắn rát quá chó chạy biến mất, anh linh tính oan hồn của những thằng bạn mới chết, nhập vào nó dẫn đường cho bọn anh. 

Leo lên đến rừng quay nhìn lại, quân đội VNCH đông như kiến, Con đường chính hồi nãy bị pháo từ rừng bắn xuống. Pháo binh của VNCH bắn lên, chặn đường đi, nếu không nhờ con chó dẫn đường, thì bao nhiêu súng nó châu vào bọn anh chết banh xác hết.

Đang đi gặp toán bộ đội trinh sát nó còn hỏi:

Các anh đi đường nào lên đây?  Có ghé vào làng Quế Chử gặp đơn vị của Mỹ đóng tại đó không?

Anh trả lời: - Bọn tao đâu có ghé vào làng đâu mà gặp!

Sau này anh suy nghĩ, vậy là tụi nó tính hết rồi. Nếu mình không nhanh trí thì đơn vị mình làm con tốt thí trên bàn cờ. Hôm đấy lên đến rừng, tụi lính hì hục đào hầm tránh bom, chứ nếu bắt con chó đen, mải làm thịt thì cũng chết hết. Vì đêm đó máy bay thả trái sáng đầy  một vùng trời,  B52 nó dập tơi bời ngay mục tiêu, cái hầm bên cạnh anh, cách mấy thước chết không còn một mống. 

Khoảng ngày thứ hai mươi, Việt Cộng đã kiệt sức và hết đạn, cố gắng giao tranh thêm vài ngày  nữa, thì rút lui hoàn toàn. Vì chết rất nhiều, không như báo cáo láo, trong các cuộc chiến mà đảng cộng sản thường phát động, ta chiến thắng vẻ vang. Mà sự thực là: “Địch chết ba ta chết ráo”. Tàn quân trốn lên rừng, những chiến lợi phẩm lấy được của dân đem chất ở ven rừng, bị quân đội VNCH phản kích tịch thu hết, nên từ đó những thằng sống sót lại phải chống chỏi với cái bụng đói rã, còn được tí gạo nào thì  bọn bộ đội ở Bắc mới vào nó ăn hết. Bọn anh  phải mót lại những búp măng gầy ăn qua ngày, muối cũng không có mà chấm, phải kiếm lá rừng ăn thay. Bị bệnh kiết lỵ chết thêm một mớ nữa.

Thật tình anh và nhiều đồng đội chán nản lắm rồi.  Ngay từ lúc xâm nhập sâu vào vùng đất trù phú, đã mở mắt ra để biết mình lầm, nhưng không thằng nào dám mở miệng. Hàng ngày cứ nghe tiếng máy bay ù…ù…quen thuộc, rồi tiếng người cất lên oang oang như tiếng sấm trốc đầu: “Hỡi các anh cán binh cộng sản. Miền Nam chúng tôi không cần các anh giải phóng, tại sao các anh phải chịu đựng vất vả đói khát làm gì, các anh hãy hồi chánh trở về với chính nghĩa quốc gia, chúng tôi sẵn sàng đón tiếp các anh em…. “ Rồi những tờ giấy thông hành, được thả xuống bay rợp trời, nhưng bọn anh chỉ đứng xa mà nhìn, vì tuyệt đối không ai được lưu trữ, hoặc lén đọc, sẽ bị qui kết vào tội tư tưởng phản động.

                                                *

Nói về diễn tiến hồi chánh, anh Ba Lê kể:

- Anh còn nhớ như in vào khoảng hai giờ, một đêm mưa tầm tã tháng 6/1970. Đơn vị anh được lệnh tấn công một cái đồn trên cao điểm 820, nằm trong lòng Trường sơn. Bao vây, rồi lùa lên xung phong, vẫn theo lối đánh thí mạng, đánh xối xả, dù biết rằng đang lao vào chỗ chết.

 Anh cay cú tiếp: “Chú mày biết không? Trong chiến tranh một trong những vấn đề đặt lên hàng đầu là phương tiện, vũ khí và lực lượng phải tương quan, thì người lãnh đạo sáng suốt mới nghĩ đến, xua quân vào đánh đấm”. Đàng này tấn công  mà chỉ biết đối phương trên khái quát, không cân sức. Rốt cuộc đơn vị anh tan nát ngay từ phút đầu, chưa tiến đến mục tiêu, pháo binh của địch đã nã trước mình, rồi máy bay tới quạt lia lịa, nhiều người trúng thương, máu me cùng mình, mạnh ai nấy chạy bạt mạng dưới làn mưa đạn.

Trong tình cảnh này, anh quyết định rời hàng ngũ, âm thầm một mình ra đi, dù biết đi như vầy là một sống hai chết. Ngày thứ nhất nhìn qua đồi bên kia nhắm hướng, nhưng bom bỏ nhiều quá không đi được. Ngày thứ hai may quá không thấy máy bay quần thảo, anh liều trốn qua bên kia đồi, đang mò mẫm tìm đường, anh  giật mình sợ hãi khi gặp toán tiền tiêu (tiền sát) của Việt Nam Cộng Hòa. Họ hờm súng ra hiệu cho anh bỏ hai tay xuống. Anh trình bày xin chiêu hồi. Một người xáp vào khám xét, ngoài những thứ “gia bảo cụ Hồ” để lại, họ lôi ra một khẩu súng ngắn trong túi quần. Rồi dẫn anh lên đồn, đó là tiểu đoàn 1 trung đoàn 2, sư đoàn 2 Bộ binh. Anh được đối đãi tử tế như khách. Ngồi chờ chưa đến nửa ngày thì có máy bay chở anh về căn cứ trung đoàn ở Quảng Trị. Hai ngày sau anh được đưa về Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1. Tại đây anh đã thành thật khai báo về bản thân và những gì mình biết.

Vài ngày sau anh được chuyển về Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương ở Thị Nghè Saigon. Anh được học một lớp chính huấn khoảng 1 – 2 tháng. Sau đó được nhận vào làm công tác võ trang tuyên truyền, dưới quyền của ông Võ Đại Tôn. Mục đích kể lại sự thực mắt thấy tai nghe về những dã tâm của cộng sản. Lúc đó ông Hồ văn Châm làm Bộ trưởng Bộ Chiêu Hồi. Tại đây anh được chính quyền cho thụ hưởng đầy đủ quyền công dân, giúp đỡ hội nhập trọn vẹn vào cộng đồng dân tộc và hướng dẫn cho anh hòa nhập vào nếp sống mới tại miền đất tự do.

Nhờ người quen mai mối anh Ba Lê đã lập gia đình với người chị họ của tôi (đạo công giáo). Anh được rửa tội vào mùa lễ Phục Sinh ngày 16 tháng 4 năm 1971 tại nhà thờ Tân Châu. Anh sống những ngày bình yên bên vợ con, cho đến ngày mất miền Nam. Sau 30/4/1975,  anh ra trình diện ở Bộ Xây Dựng Nông Thôn. Nhà cầm quyền mới nhốt anh tại nhà tù Biên Hòa một thời gian, rồi đưa anh đi “cải tạo” ở trại Gia Rây.

Bây giờ mỗi lần nhớ đến những kỷ niệm kinh hoàng về cuộc chiến tranh tương tàn, như vẫn còn in đậm trong ký ức của anh Ba Lê. Anh nghiệm ra rằng, có trải qua những ngày tháng thiếu thốn đói nghèo ở miền Bắc, có lê gót trên đường mòn HCM, để chống chỏi với thời tiết khắc nghiệt, với bệnh tật và tranh dành từng miếng ăn. Có đánh đổi xương máu trên rừng Trường Sơn, theo đoàn quân cộng sản không phải để “giải phóng” mà là phá hoại miền Nam, mới biết ơn chính phủ VNCH đã bắc nhịp cầu thông cảm, cứu giúp những cán binh cộng sản muốn hối cải quay về.

Để như trường hợp gia đình anh Ba Lê hiện nay, may mắn được đất nước Hoa Kỳ, chấp thuận cho tị nạn, thoát khỏi chế độ độc tài cộng sản Việt Nam. Đặc biệt là con cháu của anh có cơ hội sống và học hành tại một nơi có nền giáo dục tốt nhất và nhiều cơ hội tiến thân, công ăn việc làm vững chắc. Để chúng có dịp góp tay xây dựng và tri ân đất nước đã cưu mang mình.

 

Năng Khiếu

Monday, February 4, 2019

Những Người Trở Về Với Đại Gia Đình Dân Tộc

Đỗ Hữu Long

Trang sử máu và nước mắt của dân tộc Việt Nam bước vào giai đoạn thảm khốc kể từ 30 tháng 4 năm 1975 !

Sau vài ngày tuyên truyền láo khoét, bọn cầm quyền Cộng Sản thi hành chiến dịch tập trung những người làm việc trong hàng ngũ quốc gia, truy tìm những ngươì đã tích cực chống Cộng, phân loại để biệt giam, thủ tiêu hoặc tuyên án tử hình.

Trong các tầng lớp quân, dân, cán, chính miền Nam đã giáng trả những đòn chí tử ngăn chận Cộng Sản xâm lăng, anh em hồi chánh viên và các toán võ trang tuyên truyền (armed propaganda teams) góp phần không nhỏ. Cộng Sản đã bị nhiều tổn thất nặng nề do những tin tức từ hồi chánh viên cung cấp và hướng dẫn hoặc các cuộc hành quân đột kích vào tận hang ổ Cộng Sản cuả cán bộ võ trang tuyên truyền, vì vậy chúng liệt họ vào hàng kẻ thù số một. Hàng trăm hồi chánh viên và cán bộ võ trang tuyên truyền bị giết hại từ khi miền Nam bị cuỡng chiếm.
Chính sách chiêu hồì, khai sinh từ Đệ Nhất Cộng Hòa, là một phần hành của Bộ Công Dân Vụ. Ông Bộ Trưởng Ngô Trọng Hiếu thường xuyên nhắc nhở công tác chiêu hồi, thảo luận, chọn lựa các danh từ thích hợp như là quy vị viên, quy chánh viên đến hồi chánh viên. Chương trình chiêu hồi ngày càng phát triển trở thành một Bộ và được sự hổ trợ mạnh mẽ cuả ngân sách ngoaị viện. Hoạt động chiêu hồi dựa trên Huấn Thị Điều Hành 222, bao gồm các điều khoản từ định nghĩa hồi chánh viên đến nghĩa vụ và quyền lợi của hồi chánh viên như: Khai báo lý lịch và tin tức, tiêu chuẩn ẩm thực, tiêu vặt, y phục, huấn chính, huấn nghệ, thủ tục căn cước và cuối cùng hoàn hương với đầy đủ quyền công dân.

Cho đến tháng 4 năm 1975, tổng số hồi chánh viên vượt quá con số hai trăm ngàn, từ binh sĩ đến thượng tá, từ du kích địa phương đến chính quy Bắc Việt, từ giao liên đến tỉnh ủy viên. Mỗi hồi chánh viên khi rời bỏ Cộng Sản đều mang lại nhiều thuận lơị, đó là niềm tin vào chính nghĩa quốc gia và vô số tin tức giá trị. Sau đây là tóm tắt những đóng góp nổi bật cuả anh chị em hồi chánh viên và cán bộ võ trang tuyên truyền.

1/ Chiến thắng trên Quốc Lộ 15.
Trong một buổi tiếp đón phái đoàn thanh tra chương trình Bình Định Phát Triển Quân Khu 3 taị toà hành chánh tỉnh Phước Tuy năm 1967, Trung Tá Lê Đức Đạt, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng tường trình trường hợp Tiểu Khu Phước Tuy không những bảo vệ tỉnh ly - thị xã Phước Lễ - tránh được chiến trường đẫm máu mà còn có cơ hội tiêu diệt nhiều sinh lực Cộng quân trong lãnh thổ Quân Khu 3.

Vào buổi sáng cuối tuần tháng 5, Tiểu Khu Phước Tuy nhận được tin một đoạn dài trên quốc lộ 15 bị đào và đắp mô cản trở lưu thông. Như thường lệ, bộ chỉ huy Tiểu Khu cử Đại Úy Dung, Phó tỉnh trưởng nội an đưa một số đại đội Địa Phương Quân và Đại Úy Hiệp chỉ huy lực lượng biệt động quân đến nơi giải toả chướng ngại và tái lập lưu thông.
Khoảng một giờ trưa, từ hướng Long Sơn xuất hiện một cán binh Cộng Sản hơ hãi xin hồi chánh và yêu cầu gặp ngay trung tá tỉnh trưởng. Người hồi chánh ấy báo cho Trung Tá Tỉnh trưởng biết từ đêm hôm qua, hai sư đoàn cộng quân - Công Trường 5 và Công Truờng 7 - đã tập kết tại chân núi Thị Vải và các đơn vị đang di chuyển đến vị trí tác chiến áp sát tỉnh lỵ. Kế hoạch của cộng quân là dụ các lực lượng cơ hữu của Tiểu Khu đến đoạn đường bị đào đắp, chúng sẽ chận đánh và tiêu diệt đoàn xe khi trở về gần đến tỉnh vào buôỉ chiều đồng thời cũng là lúc khai hoả thọc những mũi tấn công ồ ạt vào tỉnh lỵ. Chúng dự tính có đủ quân số và vũ khí tràn ngập thị xã Phước Lễ, kế đến tiến chiếm thị xã Vũng Tàu.

Kinh nghiệm nhiều năm trong chức vụ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng từ Bình Tuy (1962) đến Phước Tuy, Trung Tá Đạt ra lệnh cho Đại Úy Dung và Đại Úy Hiệp không được di chuyển về tỉnh, phải đào công sự cố thủ ngay taị chỗ. Lệnh báo động ban hành trong toàn tỉnh, tập trung tất cả các đơn vị quân sự và bán quân sự còn lại của tỉnh sẵn sàng chiến đấu. Các cố vấn quân sự Mỹ được mời họp lập kế hoạch ngăn chận và tiêu diệt địch.

Được các phi cơ quan sát hướng dẫn, nhiều phi vụ F4, F105 ném bom xăng và bom mảnh vào đội hình Cộng quân một cách chính xác. Tiếp theo, các phi đoàn trực thăng vãi đạn vào lớp ngươì đội nón tai bèo đang tháo chạy vào hướng núi. Quân đội Hoa Kỳ đồn trú tại Long Bình nhanh chóng tham chiến, trải quân dọc theo Quốc Lộ 15 và pháo binh nả đạn vào các toạ độ xác định. Chiều tối, pháo đài bay B52 trải thảm đuổi theo đám tàn quân.

Sự xuất hiện đúng lúc cuả một hồi chánh viên đã phá vỡ một kế hoạch quân sự quy mô của địch, đồng thời tiêu điệt phần lớn sinh lực Công Trường 5 và Công Trường 7 Cộng quân với hơn ba trăm thương vong chỉ bằng hoả lực cuả Không Quân và Pháo Binh.

2/ Trung Tá Phan Văn Xướng và Trung Đoàn Cửu Long hôì chánh tập thể.

Trong kế hoạch tổng công kích Mậu Thân đợt 2, Trung Đoàn Cửu Long do Trung Tá Cộng Sản Phan Văn Xướng chỉ huy đã đột nhập khu Đồng Ông Cộ, cách tòa hành chánh tỉnh Gia Định khoảng 3 kilomet và đang bị bao vây. Mặc dù được lệnh tử thủ nhưng Trung Tá Phan Văn Xướng quyết định hưởng ứng lời kêu gọi hồi chánh. Toàn bộ Trung Đoàn Cửu Long được tiếp đón tại trung tâm chiêu hôì trung ương Thị Nghè, ngoaì anh Phan Văn Xướng còn có hai ca sĩ nổi tiếng Đoàn Chính và Buì Thiện. Sự trở về của Trung Đoàn Cửu Long là một caí tát vào mặt Lê Đức Thọ đang vênh váo, khoác lác về những chiến thắng trên các mặt trận, bẻ gãy thủ đoạn bắt bí phái đoàn thương thuyết Việt Mỹ tại hòa đàm Paris.

Anh Phan Văn Xướng được Bộ Chiêu Hôì bổ nhiệm chức vụ tham nghị với lương bổng và phụ cấp cuả một giám đốc. Đoàn Chính và Buì Thiện tiếp tục ca hát trên đài phát thanh và truyền hình. Đoàn Chính được ông Vũ Bá Ước, chủ tịch Phòng Thương Maĩ Saì Gòn, bạn thân của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đưa về nhà nuôi dưỡng và gả con gái, vài năm sau Bùi Thiện cưới vợ dược sĩ.

Sau 30/4/75, anh Phan Văn Xướng bị biệt giam và không có tin tức gì khác ngoài tin anh bị xử bắn. Gia đình Đoàn Chính và Bùi Thiện di tản khỏi Saì Gòn trong những ngày cuôí tháng 4/75.

3/ Các hôì chánh viên cuả Ty Chiêu Hôì Kiến Hoà.
Những năm 1969, 1970, Ty Chiêu Hồi Kiến Hoà tiếp nhận vượt mức số lượng hồi chánh viên, nổi bật nhất là anh Xuân Vũ, văn sĩ hồi kết và anh Bùi Công Tương, uỷ viên tuyên huấn tỉnh Bến Tre.

Anh Xuân Vũ tên thật Bùi Quang Triết, bạn học cùng lớp vơí Tướng Ngô Quang Trưởng, tham gia kháng chiến chống Pháp năm 15 tuổi. Sự trở về với đaị gia đình dân tộc của anh Xuân Vũ không những đem laị cho Việt Nam Cộng Hoà một cây bút chống cộng giá trị mà còn cung cấp hai nguồn tin quan trọng, đó là sự chia rẽ Nam, Bắc trong hàng ngũ cao cấp Cộng Sản và tù binh Mỹ.

Anh kể lại, trên đường trở về miền Nam, anh đã nhìn thấy rải rác trong mỗi hố sâu thẳm là một tù binh gầy ốm, hôi thốí, rên rỉ, như một con thú. Những ngươì nầy sẽ chết vì đói khát, bệnh tật và hầm giam sẽ được vuì lấp bằng một vài tảng đá, kể cả tù binh còn sống nếu đơn vị Cộng Sản có nhu cầu rời khỏi vị trí. Anh cũng cho biết Cộng Sản Hà Nội đã chuyển giao cho Liên Xô một số tù binh phi công Mỹ để cơ quan tình báo Liên Xô khai thác những tin đặc biệt về không lực Hoa Kỳ.

Trong năm 2002 vừa qua, một vài giới chức nước Nga lên tiếng nhắc đến hồ sơ tù binh phi công Mỹ trong chiến tranh Việt Nam bị lưu đày tại Liên Xô liền bị khóa mồm ngay từ lúc mở miệng. Việc làm này cuả Cộng Sản Việt Nam thật dễ hiểu như động tác cuả một con chó thuần dưỡng chui vào bụi rậm tha con mồi đặt ngay dưới chân ông chủ. Vì vậy, vấn đề còn lại là liệu lập pháp và hành pháp Mỹ có đủ quyết tâm buộc Hà Nội thành thật khai báo.

Anh Buì Công Tương, ngay khi mơí ra hồi chánh đã hợp tác chặt chẽ vơí tiểu khu Kiến Hoà và quân đội Hoa Kỳ triệt hạ nhiều cơ sở tỉnh uỷ Cộng Sản Bến Tre. Anh Buì Công Tương có lối noí trôi chảy, thao thao bất tuyệt, không những được các cấp Bộ Chiêu Hôì khen ngợi mà còn được sự lưu ý cuả Thủ tướng Trần thiện Khiêm. Năm 1970, anh Tương giúp Bộ Chiêu Hôì hoàn thành một bạch thư tố cáo tội ác Cộng Sản. Anh Tương cung cấp một số hình ảnh ngụy tạo cuả cơ quan tuyên huấn Bến Tre như cán bộ Cộng Sản đóng vai linh mục trong thánh lễ, dàn dựng cảnh binh sĩ V.N.C.H. đánh đập phụ nữ, cầm đuốc đốt nhà trước vẻ mặt căm giận cuả một cụ già. Sách nầy được viết bằng hai thứ tiếng Việt và Anh.

Các hồi chánh viên của tỉnh Kiến Hoà cũng kể lại những thủ đoạn áp chế người dân quê chất phát trong thời kỳ phát động chiến dịch đồng khởi 1960. Chúng thúc ép dân chúng từ các thôn, ấp đến tập trung trước các Quận kể cả thị xã Bến Tre phất cờ đỏ, trương biểu ngữ, la ó, chửi bới, xô xát với nhân viên công lực… Sau vài lần quậy phá, chúng mở cuộc kiểm thảo, phê bình, hăm dọa những người mà chúng cho là thiếu tích cực hoặc không thực tâm phục vụ chính sách, nếu tái phạm sẽ bị trừng phạt bằng nhiều biện pháp. Do cách kiềm kẹp nầy nên đám đông quần chúng thường có những hành động liều lĩnh, quá khích. Một số người bị cơ quan an ninh tỉnh bắt giữ, bị thẩm vấn mạnh tay nhưng vẫn có thái độ chịu đựng, thản nhiên, một cách khó hiểu. Được gặn hỏi, họ thú nhận rằng nếu không có những vết tích chứng tỏ sự trung thành, khi trở về thôn ấp sẽ bị nghi ngờ và có thể bị kết tội như là khai báo tổ chức, bị móc nối làm tay sai… và sẽ lãnh bản án nặng nề làm gương cho kẻ khác.

Chiến dịch đồng khởi Bến Tre còn được thúc đẩy bằng biện pháp khủng bố ghê rợn khác nữa. Tại mỗi thôn ấp chúng lựa chọn một số công dân, buộc họ nhiều thứ tội từ ác ôn, cường hào ác bá, phản cách mạng đến gián điệp, tay sai Mỹ ngụy… và tập trung tại một bãi đất rộng gọi là tòa án nhân dân. Chúng trói các nạn nhân vào hai hàng cọc đối diện nhau. Sau thủ tục xét xử nham nhở, chúng tuyên án tử hình một số người và khoan hồng một số khác. Tên đao phủ cầm mã tấu lần lượt chém đầu những người bị kết tội. Kể từ đấy, những người được tha cũng trở nên mất trí, những người dân chứng kiến phiên toà hoặc nghe kể lại đều trở thành đám cừu non răm rắp tuân theo bất cứ mệnh lệnh nào của đám cán bộ Cộng Sản ! Câu chuyện đã xảy ra hàng nửa thế kỷ trước, nay có dịp nhắc lại những ẩn tích cuả đồng khởi Bến Tre và con quái vật Nguyễn thị Định.

4/ Trận đột kích táo bạo của cán bộ võ trang tuyên truyền Ty Chiêu Hồi Kiên Giang.

Kể từ 1972, chính quy Bắc Việt gia tăng xâm nhập vào lãnh thổ Quân Khu 4, không những dọc theo biên giới Việt Miên từ Kiến Tường đến Hà Tiên mà còn vượt kinh Cái Sắn vào rừng U Minh. Giữa năm 1973, một trưởng trạm giao liên vùng U Minh, anh Lê Văn Be ra hồi chánh. Anh Be cho biết có nhiều chính quy Bắc Việt vừa xâm nhập và đang trú đóng tại khu rừng chồi. Ty Chiêu hồi Kiên Giang lên kế hoạch tiêu diệt địch và được sự chấp thuận cuả Đại Tá Chính, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Kiên Giang.

Một toán cán bộ võ trang tuyên truyền (VTTT) mười hai người quen thuộc địa hình khu vực, cải trang thành bộ đội với dép râu, nón tai bèo, vũ trang tiểu liên AK47 do Trung Đội Trưởng Nguyễn Văn Tòng chỉ huy. Toán hành quân khởi hành từ sẫm tối trên bốn chiếc xuồng nhỏ do sự hướng dẫn cuả hồi chánh viên Lê Văn Be về lộ trình, mật khẩu và mật hiệu là một người ngồi tại mũi ghe với nón tai bèo, AK47 băng đạn đưa về phía trước. Toán hành quân vào đến vị trí vào lúc nửa khuya khi các cán binh Cộng Sản đang ngon giấc. Anh em cán bộ VTTT áp dụng phương pháp tác chiến đã dặn dò từ trước. Họ dùng dao găm cắt đây treo mùng để chiếc mùng phủ chụp trên thân người đang nằm vừa làm cản trở người đang ngủ muốn đứng dậy vừa giúp người bên ngoài phân biệt đầu và chân. Qua ánh sáng lờ mờ cuả mấy ngọn đèn dầu tại chỗ, cán bộ VTTT hướng mũi lê AK47 nhắm vào phần cổ, ngực đâm mạnh nhiều nhát. Mỗi chiến sĩ tấn công phải thanh toán từ hai đến bốn đối tượng bằng nhiều mũi lê chính xác.

Sau khoảng mười phút ra tay không một tiếng súng nổ, chiến trường đã thanh toán xong với hiện trạng hơn ba mươi cuộn vaỉ mùng đẫm máu, lăn lộn, rên rỉ. Đội giang đỉnh cuả tiểu khu Kiên Giang ứng chiến taị Rạch Sỏi nhận được tín hiệu nổ máy lao vào điểm hẹn tập trung đón các chiến sĩ VTTT trở về tỉnh lỵ. Tại Toà Hành Chánh Kiên Giang, Đại Tá Chính vẫn còn thức và chờ đợi, đích thân mở rượu, ân cần mời mỗi chiến sĩ một ly rượu nồng trong khi bình minh vừa ló dạng trên biển trời Rạch Giá.

Các cán bộ VTTT tham gia cuộc hành quân được tuyên dương công trạng vào buổi sáng thứ hai chào cờ tại sân toà hành chánh. Anh Lê Văn Be được tuyển dụng vào chức vụ tiểu đội trưởng VTTT. Kể từ đấy, anh Lê Văn Be cung cấp các tin tức chính xác, hướng dẫn các cơ quan an ninh và quân sự tỉnh Kiên Giang dọn dẹp sạch sẽ địa điểm trú ẩn của tỉnh uỷ Long Châu Hà tại rừng U Minh.

Chiều ngày 30/4/75 anh Lê Văn Be và vợ tự sát trong một hố chiến đấu tại trung tâm chiêu hồi Kiên Giang. Vài ngày sau, Trung Đội Trưởng Nguyễn Văn Tòng bị xử bắn tại chợ Rạch Giá.

Những tháng năm kế tiếp Cộng Sản tìm nhiều thủ đoạn khác lấy đi hàng chục mạng sống cựu cán bộ VTTT tỉnh Kiên Giang.

Con trai anh Lê Văn Be, cháu Lê Văn Kiên hiện là một chuyên viên điện tử, sinh sống cùng với gia đình tại San Jose. Hàng năm cứ vào Chủ Nhật cuối tháng 4 Dương Lịch, cũng như nhiều gia đình có người thân bị bách hại trong ngày đại tang của dân tộc, gia đình cháu Kiên kỵ giỗ cha mẹ với sự tham dự của các chú bác thân quen.

5/ Tin tức từ hồi chánh viên của Ty Chiêu Hồi Châu Đốc.
Năm 1973 Ty Chiêu Hồi Châu Đốc đón nhận một số lượng hồi chánh viên đáng kể và cung cấp cho các cơ quan hữu trách các cấp - tỉnh, quân khu, trung ương - nhiều bản tin giá trị.

Anh Châu Dok, người Việt gốc Miên, bí thư huyện Tịnh Biên đã hướng dẫn cuộc hành quân phối hợp cán bộ VTTT và thám sát tỉnh PRU (provincial reconnaissance unit) lục soát đỉnh Tuk Chup khu vực Thất Sơn tịch thâu một số vũ khí do tỉnh uỷ Long Châu Hà chôn dấu trước khi bị xua đuổi khỏi hang ổ.

Cùng thời gian, hồi chánh viên Lâm Văn Tô trở về từ mật khu Lò Gò ( lãnh thổ Campuchia ) khai báo bí thư tỉnh Long Châu Hà, nữ cán bộ Tám Thành cư trú trên một chiếc ghe bỏ neo giữa vạn đò thị xã Long Xuyên. Hồi chánh viên Lâm Văn Tô hướng dẫn cuộc hành quân phối hợp gồm nhân viên cảnh sát thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Châu Đốc và cán bộ VTTT Ty Chiêu Hồi Châu Đốc đến tận nơi bắt gọn Tám Thành và toán bảo vệ. Qua thủ tục thẩm vấn tích cực taị Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Châu Đốc và tại Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quân Khu IV (Cần Thơ), Tám Thành nhận là tỉnh uỷ viên Long Châu Hà và đương sự được chuyển đi giam giữ tại Côn Đảo.

Từ vụ Tám Thành đến chuyện dài Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Nguyễn Tá … cho chúng ta kinh nghiệm về nơi trú ẩn an toàn của cán bộ Cộng Sản. Cuộc chiến quốc cộng bằng vũ khí đuợc chuyển qua những hình thức đấu tranh khác và gián điệp hay là kế hoạch nằm vùng, vẫn là vũ khí lợi hại mà Cộng Sản không bao giờ bỏ lỡ cơ hội.

6/ Hồi chánh viên Nguyễn Trường Sơn và Tiểu Khu Khánh Hòa.

Cũng như các tiểu khu khác, tiểu khu Khánh Hoà đặt trọng tâm vào việc bảo đảm an toàn các trục lộ giao thông huyết mạch. Vào giữa khuya một đêm tháng 10 năm 1974, một cây cầu trên quốc lộ 1 thuộc địa phận chi khu Ninh Hòa bị nổ sập mặc dầu từ sẩm tối, đích thân Trung Tá Nhơn, quận trưởng kiêm chi khu trưởng Ninh Hòa tuần tra, dặn dò các đồn bót và phân chi khu đóng trên quốc l.

Khoảng mười ngày sau, cán binh Nguyễn Trường Sơn, thượng úy đặc công thủy ra trình diện hồi chánh. Theo lời khai, chính anh Sơn là người đánh sập cây cầu trên quốc lộ 1 thuộc quận Ninh Hoà và đang nhận chỉ thị lập kế hoạch phá hủy đài radar đặt trên đảo trước bãi biển Nha Trang.

Anh Sơn tình nguyện hướng dẫn tiểu khu Khánh Hoà hành quân vào mật khu Đồng Bò thuộc quân Diên Khánh phá huỷ một trung tâm huấn luyện sĩ quan, tiêu diệt lực lượng trú đóng trong đó có khoảng trên mười sĩ quan cấp bực từ thiếu úy đến đại úy, tịch thu nhiều vũ khí với hàng chục K.54. Anh Sơn cũng cho biết nhiều tin tức quan trọng khác khiến Lãnh Sự Mỹ tại Nha Trang vội can thiệp, sử dụng anh vào một số công tác cần thiết và chuyển anh về Sài Gòn.

Trong một buôỉ sáng thứ hai chào cờ tại tiền đình trụ sở Bộ Dân vận Chiêu hồi đường Phan Đình Phùng, ông Tổng Trưởng Hồ Văn Châm tuyên dương công trạng hồi chánh viên Nguyễn Trường Sơn và trao tặng số tiền thưởng một triệu đồng.

7/ Tưởng nhớ những hồi chánh viên đặc biệt đã nằm xuống.

Có dịp nhắc laị chính sách chiêu hồi và những thành quả, không thể nào quên những mẫu người tiêu biểu, khả ái và khả kính.

Anh Lê Xuân Chuyên : Anh Chuyên nguyên là trung tá chính quy Bắc Việt làm việc tại Trung Ương Cục miền Nam. Anh có dáng ngươì tròn trịa, ít nói, hồi chánh năm 1967 tại xã Suối Kiết tỉnh Bình Tuy. Anh giúp Bộ Chiêu hồi khai sinh các đại đội Võ Trang Tuyên Truyền từ trung ương đến điạ phương. Anh được Bộ Chiêu Hồi cử nhiệm chức vụ tham nghị đặc biệt - hàng tổng giám đốc - kiêm nhiệm chỉ huy trưởng Võ Trang Tuyên Truyền Trung Ương.

Vào những ngày căng thẳng cuối tháng 4/1975, anh vẫn điềm nhiên làm việc tại Bộ Dân Vận Chiêu Hồi đường Hiền Vương. Trong cuộc đàm luận thân mật, anh chậm rãi nói rằng, nếu Cộng Sản chiếm được miền Nam thì những công chức, quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị tù nhiều năm, từ mười đến hai mươi năm, còn những người hồi chánh - như các anh - sẽ ra trước pháp trường; tuy nhiên, dù tù tội hay bị giết chết là điều chấp nhận cuả kẻ thua cuộc, nhưng đáng buồn cho đất nước Việt Nam rồi đây sẽ trở thành cái sọt rác của Trung Quốc !

Anh Chuyên bị vây bắt trong ngày đầu tháng 5/75, bi biệt giam và bị tử hình tại miền Bắc. Không biết hiện nay chị Lê Xuân Chuyên và các cháu đang sinh sống tại nơi nào, trên một đất nước tự do hay vẫn còn lầm than trong điạ ngục trần gian Cộng Sản.

Anh Huỳnh Cự: Anh Huỳnh Cự hồi chánh taị Quảng Ngãi với cấp bậc trung tá.

Anh Huỳnh Cự cũng được Bộ Chiêu Hồi cử nhiệm chức vụ tham nghị đặc biệt kiêm nhiệm trưởng đoàn thuyết trình trung ương. Anh Huỳnh Cự tính tình bộc trực, cởi mở thường hướng dẫn các đoàn hồi chánh trình bày bộ mặt thật, gian xảo, tàn bạo, vô luân của chủ nghĩa Cộng Sản và đảng Cộng Sản từ các cơ quan taị Sài gòn đến các tỉnh, thị … Anh được thả năm 1990 và được cấp giấy xuất cảnh theo diện H.O.

Một buổi sáng đầu năm 1991, anh Huỳnh Cự và anh Mai Đình Tạo cựu trưởng Ty Chiêu Hồi Bình Dương gặp nhau taị một quán cà phê đường Hàng Xanh. Trong câu chuyện anh Tạo dặn dò anh Cự không nên nói nhiều, đợi đến Mỹ sẽ tính. Hai anh rời quán và vừa đặt chân xuống lòng đường, một chiếc xe jeep màu xanh lao vào và cán qua người anh Huỳnh Cự. Hai người trên xe ngoái cổ nhìn lại, lùi xe cho lăn bánh qua thi thể đang co giật thêm một lần nữa trước khi rồ máy đi thẳng.

Buôỉ sáng hôm đó, anh Tạo và dân chúng xung quanh chứng kiến cảnh Cộng Sản thủ tiêu anh Huỳnh Cự một cách ngang nhiên giữa thanh thiên bạch nhật.

Thuợng Tá Tám Hà.
Thượng Tá Tám Hà, chính ủy Sư Đoàn 5 Cộng Sản ra hồi chánh tại Bình Dương năm 1970. Những ngày đầu tiên taị Bộ Chiêu Hồi, anh Tám Hà giữ một thái độ lạnh lùng, kín đáo đối với các nhân viên phỏng vấn Việt Mỹ. Một hôm, một cố vấn Mỹ nhờ anh Trần Trường Khanh, chủ sự tại Nha Công Tác Bộ Chiêu Hồi trao tận tay anh Tám Hà một phong bì. Đây là một tài liệu gồm khoảng mười tấm hình chụp những hoạt động riêng tư và công vụ của anh Tám Hà, trong đó có những cảnh Thượng Tá Tám Hà đang thảo luận với các sĩ quan Cộng Sản trước sa bàn. Sau khi xem tập ảnh, anh Tám Hà nói vơí Trần trường Khanh : ‘Các anh đã biết đến thế nầy, tôi không còn điều gì để dấu giếm nữa’. Kể từ đấy anh Tám Hà hợp tác hoàn toàn với các nhân viên hữu trách Việt Mỹ. Anh Tám Hà làm việc tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Quân Lực VNCH và Tòa Đại Sứ Mỹ. Người Mỹ đưa Tám Hà ra khỏi Việt Nam cuối tháng 4/75 và anh qua đời tại Mỹ sau đó.

Trưởng Chi Dân Vận Chiêu Hồi Nguyễn Long Khẩn.

Anh Nguyễn Long Khẩn nguyên là sĩ quan quân báo Cộng Sản đã đem tất cả hiểu biết và kinh nghiệm góp sức với các cơ quan an ninh khu vực Cần Thơ - Chương Thiện truy lùng mạng lưới Cộng Sản. Cuối năm 1973 anh được cử nhiệm chức vụ trưởng chi Dân Vận Chiêu Hồi quận Châu Thành tỉnh Phong Dinh, cũng là lúc bị Cộng Sản tung lựu đạn vào nhà ban đêm nhưng cả gia đình may mắn thoát nạn. Cuối cùng, tháng 12 năm 1974, anh Khẩn bị một toán đặc công Cộng Sản phục kich bắn chết trên đường công tác !

Các hồi chánh viên và cán bộ võ trang tuyên truyền cũng là những chiến sĩ chống Cộng. Mặc dù không có một quy chế chính thức và không được liệt kê vào danh sách quân lực Việt Nam Cộng Hoà, tuy nhiên các anh đã thật sự chiến đấu, chiến đấu tận tình và gan dạ ngăn chận Cộng Sản xâm lăng. Cộng Sản xem các anh là kẻ thù nguy hiểm nhất và vì biết rõ bộ mặt thật ghê tởm của Cộng Sản nên trong cuộc chiến các anh không có chỗ lùi. Các anh chỉ biết tiến tới và tiến tới để chiến thắng hoặc chết ! Những hồi chánh viên hữu công và những cán bộ võ trang tuyên truyền là những chiến sĩ thật sự, những người con thân yêu của Mẹ Việt Nam.

Đỗ Hữu Long

Tuesday, July 3, 2018

https://www.facebook.com/trananhtu19/posts/1975330929147390

Friday, May 11, 2018

Bàn thờ hai mặt


Tin Đại úy Mưa, Đại đội trưởng đại đội Thám sát Tỉnh bị VC ám sát, giết chết tại nhà, không tìm ra thủ phạm làm rúng động bên ngoài; dân chúng bàn tán sợ sệt tình hình trong tỉnh nhà sẽ không yên trong những ngày sắp tới.
Ông Tỉnh Trưởng xì nẹt, cạo sát ván các giới chức Ban Tham mưu Ủy ban Phượng Hoàng Tỉnh , để VC dám giỡn mặt hoạt động khủng bố ngay trong thị xã, giết chết một quan chức tình báo quan trọng của Tỉnh nhà.
Đây là lần đầu tiên địch len lỏi vào ngay trong Tỉnh để khủng bố, còn hạ sát một sĩ quan tình báo, chỉ huy đơn vị Biệt Kích Tỉnh không để lại dấu vết. Chương trình An Ninh Bình Định Phát Triển đã bị thách thức lớn, Chiến Dịch Phượng Hoàng bị địch tấn công…
Nói về cái chết của Đại úy Mưa, theo điều tra của bên Ty Cảnh Sát Quốc Gia và An Ninh Quân Đội, ông đã sơ hở đáng trách vì an ninh cá nhơn không cảnh giác trước:
Buổi chiều hôm đó, trời chạng vạng tối, ông vừa về tới nhà; người nhà không khoá trái cổng lại như thường lệ, cánh cổng chỉ khép hờ, cho con nít hàng xóm vào coi TV ké ồn ào, phim cao bồi bắn súng bùm bùm. Cái TV 23 inch vừa bự tổ chảng, phát hình màu, âm thanh nổi từ loa lớn tiếng, con nít hàng xóm thích lắm, nên người nhà để cổng, cho lủ trẻ vào coi thả giàn. Lúc này đâu phải ai cũng có truyền hình màu cở lớn như cái TV này, được bên cố vấn Mỹ tặng riêng cho ông, đổi lấy cây súng AK47 chiến lợi phẩm mà ông tịch thu được trong một trận đánh vào mật khu đám lá tối trời của VC.
Vì yêu thương con nít, ông vẫn để cổng không khoá cho chúng nó ra vào tự do. Con nít hàng xóm có đứa thấy một bóng đen nhỏ thó lẽn vào cổng, tưởng là đồng bạn nên không để ý. Bóng đen men theo vạt tối hàng rào cây trồng, bước vào nhà bếp phiá sau, cửa để mở cho có gió mát, nơi ông đang ngồi ăn cơm chiều một mình. Kẻ sát thủ chỉa súng ngắn vào thân hình đồ sộ, bắn 3 phát liền. Ông té chết dưới bàn ăn; tên giết trộm giắt súng vào lưng, chạy ra phía vườn sau, đạp hàng rào hàng xóm, biến vào bóng đêm mất dạng. Khi người nhà phát giác ra, đám trẻ con hoảng sợ, la ó chạy tán loạn, không ai thấy bóng dáng tên sát nhơn. Ba vỏ đạn súng colt còn nằm tại hiện trường.
Không ai chê trách Đại Úy Mưa, người sĩ quan có thâm niên công vụ lâu năm ở tỉnh, từ người lính Bảo An lên tới sĩ quan, phục vụ Phòng 2 Tiểu Khu nhiều đời Tỉnh Trưởng; vào sanh ra tử, chống Cộng khét tiếng, lập nhiều công trạng tận diệt du kích, triệt phá kinh tài,. Chỉ huy trưởng đơn vị TST, ông đã đem lại nhiều thành tích triệt hạ cơ sở hạ tầng VC, huỷ diệt mật khu, phá hậu cần, kêu gọi, thâu nhận nhiều hồi chánh viên về với Quốc Gia.
Đơn vị TST được tổ chức đặc biệt không theo bảng cấp số của Quân Đội; có khi lính gọi họ là Trinh Sát Tỉnh, có khi dân gọi là Biệt Kích Tỉnh. Nhiệm vụ của TST nhằm tiêu diệt hạ tầng cơ sở VC trong vùng; áp dụng chiến thuật phản du kích, phá hoại cơ sở tổ chức kinh tài, mật khu huấn luyện, cơ sở tuyên truyền, thâu thập tin tức tình báo, kêu gọi hồi chánh viên về với chánh nghĩa quốc gia.
Trong chiến dịch Phượng Hoàng, một kế sách của chánh quyền VNCH đương thời, TST phối hợp đồng bộ với các đơn vị Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, Biệt Chính Nhân Dân (cán bộ công chức, xã ấp địa phương được huấn luyện đặc biệt công tác theo phần hành chuyên môn, thâu thập thông tin tình báo). Hoạt động biệt kích nên những toán TST rất hữu hiệu trong hành quân đột nhập, phát giác mật khu, bắt sống cán bộ ban ngày; phục kích ban đêm hạ sát du kích, bắt kinh tài,thâu lượm tin tức bộ đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam…
Là đơn vị biệt lập, hoạt động theo chiến tranh nhân dân, đơn vị TST đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng( Phòng 2 TK,) thâu thập thông tin từ chiến trường, phân loại, đánh giá tin tức các trận chạm địch; BCH/CSQG Tỉnh lượng giá thông tin tình báo, gởi báo cáo về Tổng Nha CSQG/Saigon. Tổng Nha CSQG đánh giá tin tức tình báo chiến lược, khen thưởng, đề bạt; trả lương “lính TST”với sự giúp đở tài chánh của Cố Vấn Mỹ, ngân sách của CIA.
Ở mỗi Tỉnh/Tiểu Khu đều có một Trung Tâm Điều Hợp Hành Quân, gồm các phòng ban bên Hành Chánh và Tiểu Khu. Ông TT kiêm nhiệm TKT, dễ dàng điều động lực lượng cơ hữu, phối hợp hành quân với các đơn vị chủ lực bạn, hoặc tung những toán nhỏ biệt kích hoạt động sâu trong vùng mật khu địch với sự theo dõi của trung tâm điều hợp này.
“Lính TST/BKT” đa số là hồi chánh viên VC về đầu thú, tình nguyện đi đánh trả lại các đơn vị hồi trước họ lỡ đi theo. Vì vậy hồ sơ lý lịch của họ được sưu tra cẩn thận, không để cài nội tuyến lọt vào phá hoại; tuy nhiên vì tì vết củ, các “quân nhân” này luôn được theo dõi chặt chẻ. Sau này theo báo cáo của CIA, người hồi chánh về với QG trung thành, đáng tin cậy hơn vì họ hiểu rõ tổ chức, đường đi nước bước của VC, đụng trận ít bị tiêu hao lực lượng; vợ con họ được bảo đảm sanh sống, học hành không bị kỳ thị, lương lính hậu hỉnh…Họ không cần huấn luyện nhiều về quân sự; sẽ được gởi đi học ở trường Huấn Luyện (Cán Bộ) Xây Dựng Nông Thôn Vũng Tàu, cho một khoá học Chiến Tranh Đặc Biệt. Trong đơn vị TST cũng có những người dân địa phương xin vào vì gần nơi quê quán, không muốn chuyển đổi đi xa.
……………………………..
Sau khi nghe báo cáo, tường trình từ những giới chức hành chánh và bên quân đội liên hệ đến cái chết của Đại Uý Mưa, ông Tỉnh cắt người đi uỷ lạo gia đình, bàn bạc kế hoạch điều tra truy tìm thủ phạm, kẻ nằm vùng, tái phối trí các đơn vị trong vùng; lệnh cho Phòng 3 tổ chức hành quân truy lùng hang ổ VC, lấy lại lòng tin trong nhơn dân.
Ông Tỉnh giữ lại Ba Sảnh, người phụ tá đắc lực, cánh tay phải của Đại úy Mưa.
-“Tôi chia buồn với anh em bên Thám Sát Tỉnh. Các anh mất một cấp chỉ huy tốt, tôi mất đi một cộng sự đắc lực; mong mọi người đừng giao động, cố gắng tìm ra thủ phạm càng sớm càng tốt. Tôi chỉ định anh tạm thời thay Đại úy Mưa, chỉ huy anh em phản ứng nhanh không để địch tiếp tục gây khủng bố, ám sát phá hoại nào thêm trong thị xã, làm cho mất an ninh, dân chúng sợ sệt!”
– “Trình ông Tỉnh, tôi sẽ cùng anh em hết mình tìm ra kẻ sát nhơn, trả thù cho ông thầy đáng kính của chúng tôi, làm mất mặt TST, làm phiền lòng ông và các giới chức chánh quyền.”
Ba Sảnh một nhơn vật đặc biệt nổi tiếng trong Tỉnh: từng đi theo VC lâu năm, trở về hồi chánh, rất căm thù VC; đã lỡ tay giết chết em ruột của mình theo VC; ông ăn chay trường, nhưng lính Biệt Kích Tỉnh không ai dám giỡn mặt, còn sợ ông một mực.
Một hồi chánh viên, trở lại đầu thú với quốc gia là chuyện bình thường khi cán bộ, du kích nằm vùng chán cảnh gian khổ đói khác, chết chóc rình rập mỗi ngày bị truy lùng, trốn núp trong bưng biền mật khu.
Nhơn nói về Ba Sảnh, có câu chuyện truyền kỳ:
Ông là cán bộ sống lâu năm lâu trong mật khu, thuộc ban quân sự của huyện uỷ, hoạt động từ thời còn Việt Minh, sau Hiệp Định Genève 54 đình chiến, được cài ở lại miền Nam. Động lực ông ta ra đầu thú là vì nhìn thấy rõ bản chất không thiệt thà của chủ nghĩa CS tam vô(vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo), không hợp với người miền Nam chút nào; miền Bắc theo chủ nghĩa xã hội, nghèo đói nhưng hay làm cao, dối gạt, không tự do dân chủ như trong Nam, mà đồng chí củ của ông đi tập kết lén nhắn tin về nói thiệt hết; dân chúng miền Nam sống giữa hai lằn đạn không yên: ban ngày quốc gia kiểm soát, ban đêm VC mò về, bắt dân công, thu thuế, đào đường đấp mô, ám sát mò tôm… .làm người dân kiệt quệ, sống trong phập phòng lo sợ.Tên huyện uỷ Tám Lôi khét tiếng, tàn nhẩn với kẻ thù: chặt đầu mổ bụng, ghim bản án thả xác chết trôi sông; với đồng chí áp đặt học tập thoát ly: căm thù giai cấp, nghi kỵ tư tuởng tư sản, cá nhơn chủ nghĩa, tình cảm uỷ mị, phản động; lạnh lùng xữ tử đồng chí của mình bằng cách tàn ác cho lệnh thủ tiêu, xữ bắn, mượn tay địch giết bạn.Với nhơn dân hắn láo khoét tuyên truyền đầu độc chủ nghĩa CS, chống phá chánh quyền VNCH, cưỡng ép thanh niên phụ nữ thoát ly vào mật khu, lùa dân công đào đường đấp mô, bắt du kích vô bưng bổ sung bộ đội…
Ra đầu thú ông xin vào TST, thề một mất một còn với bọn VC trong khu, tìm bắt bọn nằm vùng, hạ sát tên Tám Lôi ác ôn. Trong thời gian ở TST, ông đã lập nhiều công trạng: kêu gọi nhiều đồng chí trong bưng ra đầu thú, triệt hạ mật khu, tiêu diệt du kích, phá ổ hậu cần thâu mua tiếp tế, giúp chánh quyền quốc gia phân loại các thành phần dân chúng…nên được cất nhắc lên làm phụ tá cho Đại Úy Mưa.
Trong lần về làng quê xôi đậu, dự đám giổ kỵ của bà mẹ, Ba Sảnh mang theo 5 tay súng thiện chiến; VC biết ông thế nào cũng về nên ngầm bố trí lực lượng du kích. Ông có 2 người em ruột tên Tư Sáng và Năm Cang; thằng Tư bỏ quê lên Saigon ăn học, thằng em út thoát ly theo bên kia.
Nhơn ngày giổ mẹ, ông nhắn tin gặp Năm Cang, muốn nói lời hơn thiệt dụ thằng em út ra đầu thú, vì bên kia không ai tin cậy nhơn thân của nó, có hai thằng anh đang sống ngoài vùng quốc gia. Bên kia cũng muốn dịp thử thách này, bố trí cho Năm Cang, coi nó “xữ lý” thằng anh phản bội tổ chức của nó ra sao?
Hai bên đồng ý lấy con đường làng làm mức ngưng chiến tại chỗ. Súng ống bỏ lại hết hai bên đướng, chỉ quyết đấu chánh trị (?), để tôn trọng linh hồn người khuất mặt (?), ăn thua lời giao, anh hùng mã thượng, không ai đánh lén ai. Hai anh em mặc sức tranh cải nhau ác liệt, không ai nhường nhịn ai, theo lý tưởng riêng của mình; làm bà con dự đám giổ sợ bỏ chạy về hết, xuống hầm núp tránh ăn đạn hai bên quyết chiến. Vì ăn thua lời giao kiểu dân chơi Nam Bộ, nên cuộc huyết chiến đã không xãy ra.
Nhưng sau này qua một cuộc đụng độ, lính của Ba Sảnh bắn Năm Cang bị thương nặng, hoi hóp sắp chết, thịt xương nát bấy; Ba Sảnh bắn phát súng ân huệ cho em mình không phải chịu thêm đau đớn phút hấp hối lìa đời!
Từ đó về sau anh Ba sợ thịt, ăn chay trường, lính thám sát sợ nhìn thẳng vào gương mặt lầm lì của sếp. Anh Ba còn ra lệnh “ác” cho nội bộ: nổ súng địch phải bỏ xác tại chỗ, thằng nào nổ súng bắn trật, về nhà bị phạt cạo đầu, giam trại 3 ngày không khiếu nại!
Sau cái chết của Đại Úy Mưa, Ba Sảnh càng thêm mặt lạnh như đồng; thế quyết trả thù: truy kích hang ổ, tìm cho ra tên VC nằm vùng, hoặc tên du kích nào dám từ trong mật khu mò về khủng bố.
Sáu Bảnh là anh nông dân nghèo, cha mẹ già yếu, anh chị bỏ đi tứ tán; anh chàng cũng bỏ xứ Thủ Thừa, chèo xuồng xuôi sông Vàm Cỏ, đưa cha mẹ về cất chòi bên sông quận Châu Thành, gần nhà Ba Sảnh. Hồi nhỏ anh ta là đứa trẻ thiếu ăn nên ốm còi nhỏ con, gần 20 tuổi mà trông như đứa trẻ tuổi 15. Con nhà nghèo, Sáu Bảnh quen chuyện đi làm công cho mấy ông chủ điền trong xóm; lúc không có việc đi mò tôm bắt cá, cắt bồn bồn, rau ruộng có thêm cái ăn qua ngày nuôi cha mẹ già, nhưng không may song thân qua đời để lại mình anh côi cút.
La cà sông rạch bến nước thế nào mà anh chàng mới nhổ giò này cũng làm quen được với một cô thôn nữ đất Tầm Vu. Cô Chín Mỵ, 18 tuổi, con gái nông dân miệt ruộng đất phèn, nhưng trông cũng đẹp đến. Lúc mới làm quen, cô Chín hỏi anh Tư:
-“Anh ở trên đó(Châu Thành), sao lội xuớng miệt này mần ruộng?”
-“Hổng dám dấu, nói nào ngay, tui ở trên Thủ Thừa theo ông bà già, xuống dưới này lập nghiệp.”
-“Ủa, dân Thủ Thừa à? Nghe nói giàu có lắm mà ta; trên đó thiên hạ ai cũng giàu, nhiều ruộng, của ăn của để ăn không hết, sao không đi mần trên đó?”
-“Đâu có đâu, nhà tui ở sát mí Đồng Tháp Mười, đất phèn chua khó làm ruộng, nên mới chèo xuống miệt này kiếm đất, ngặt nổi chưa có tiền, mình phải đi làm công cho người ta!”
Sáu Bảnh cắc cớ hỏi lại, ghẹo gái:
-“Tui thấy mấy cô ở Tầm Vu ai cũng đẹp như cô, sao không lấy chồng trên tỉnh cho nó sướng tấm thân, lội ruộng chi cho khổ?”
-“Anh Tư định nói móc họng tui hả? Ý anh muốn nói:
“Con gái Tầm Vu một xu ba đứa”
“Con trai Thử Thừa cưỡi ngựa xuống mua?”chớ gì?
Sáu Bảnh dả lả:
-“ Tui đâu có ý muốn nói như vậy. Tại người ta đặt điều nói vậy; chớ như cô, trên quê tui tiền muôn bạc vạn chưa chắc có ai mua được!”
Vậy là hai người có cớ làm thân, rõ ý tỏ tình. Trong mấy năm liền đời sống hai người ở vùng quê chiến tranh, cuộc sống làm công vẫn lầm than cơ cực; nhưng cuộc tình càng say đắm: trai mới lớn gặp gái khôn ngoan, nói gì dại gái là bệnh chung của đờn ông!
Ở gần xóm với Ba Sảnh, nên Sáu Bảnh kiếm chuyện làm quen với anh Ba, hay la cà với đám lính TST để nghe chuyện đánh giặc hấp dẫn. Có bữa, Sáu Bảnh làm gan xin đại anh Ba cho mình vô lính rằn ri cho nó oai! Ba Sảnh thấy thằng em dễ thương, nên xin với Phòng 1 TK cho nó đăng lính TST; thêm lý do nữa là anh Ba muốn nhận Sáu Bảnh làm đệ tử, vì thấy nó con nhà nghèo, muốn đi lính biệt kích lương cao để có tiền cưới vợ; cho nó đi theo làm thân tín, mình để sai bảo cũng tiện. Sáu Bảnh mừng lắm, về khoe với cô Chín Mỵ được sếp nói một tiếng, giúp cho anh tòng quân địa phương gần nhà, khỏi đi quân dịch chuyển vùng xa xôi. Ý cô Chín cũng muốn như vậy, có cớ lên tỉnh để sống, dưới quê thân gái như hoa lài mọc bải cứt trâu!
Sau một khoá huấn luyện quân sự, học cùng với các cán bộ XDNT ngoài Vũng Tàu, anh về đi toán chung với sếp; được làm bạn với một chiến hữu tên Sáu Thang, là người hồi chánh bộ đội đặc công, chịu trách nhiệm kèm anh lính mới. Toán nhảy 6 người, Ba Sảnh cho Sáu Bảnh mang máy truyền tin đi theo bên cạnh để học nghề; Sáu Thang vừa là phó vừa là cận vệ trung thành, mấy người kia làm khinh binh tiền sát, hậu tập. Toán biệt kích có khi mặc quân phục rằn ri, đội mũ đi rừng rộng vành, trang bị súng ống của Mỹ; đi hành quân chung với các đơn vị bạn Địa Phương Quân, Nghĩa Quân trong vùng; làm nhiệm vụ thám kích xâm nhập, dọ thám mục tiêu trước. Có khi hoạt động biệt lập, chui sâu vào lòng địch, giả trang làm du kích, có lúc làm bộ đội chủ lực VC, bà ba đen, khăn rằn quấn cổ, mang súng AK-47, B40 y như “lính trong bưng”.
Vì nhiệm vụ thám sát hơn là chạm địch, nhằm thâu thập tin tức tình báo cho Phòng 2 TK, cho CSQG; cho bên Cố Vấn Mỹ (được trả tiền thưởng công nếu tin tình báo có giá trị cao), nên những toán trinh sát nhỏ của Đại Đội Thám Sát Tỉnh, có khi gọi tắc là PRU(Provincial Reconnaissance Unit) hoạt động âm thầm, giữ bí mật, giấu tông tích, ít gây tiếng vang như các đơn vị quân đội.
Sáu Bảnh đã là lính, nhưng anh ta vẫn đi lại ăn mặc như thường dân, thường về nhà Chín Mỵ bàn bạc chuyện ăn ở vợ chồng, đưa nàng về Châu Thành, mua nhà xây tổ uyên ương. Mọi việc đều êm suôi, trót lọt…
………………………..
Tin tình báo của điệp viên 101( sĩ quan tình báo chuyên nghiệp ẩn thân, đặt lưới hoạt động, thâu thập tình báo mọi giới, mọi vùng, đường giây báo cáo thẳng về Trung Ương Tình Báo Quốc Gia) cho ông Tỉnh Trưởng biết là huyện uỷ Tám Lôi sẽ về hội họp với các Xã, báo cáo kinh tài, tại điểm X ngày N, cần phải theo dõi; xin cho thám báo đột nhập lấy thêm tin tức, hay loại trừ thành phần nằm vùng nguy hiểm này.
TT/TKT cho họp hành quân bí mật: Phòng 2 nghiên cứu tình hình địch bạn trong vùng, địa hình địa vật, thời tiết…, Phòng 3 tổ chức hai lực lượng địa phương quân: một đơn vị nghi binh, mở cuộc hành quân lục soát bình thường, một đơn vị làm trừ bị, túc trực chờ lệnh đi giải cứu, tiếp viện khi cần thiết; toán TST do đích thân Ba Sảnh chỉ huy, giả dạng VC xâm nhập vào sào huyệt VC, tuỳ nghi xữ trí tình huống, tiết kiệm xương máu cho cả đôi bên, cố gắng bảo toàn lực lượng.
TKT và hai sĩ quan tham mưu P2, P3 giữ bí mật mục tiêu và nhơn vật quan trọng của VC đến giờ phút chót; TKT đích thân theo dõi máy truyền tin, ra lệnh và nghe báo cáo trực tiếp từ các đơn vị tham gia dưới hầm Trung Tâm Phối Hợp Hành Quân/TK.
Trước đó, vào ngày N-1, trong Tỉnh có chương trình văn nghệ địa phương, tổ chức tại Tòa Hành Chánh Tỉnh để các giới chức bên hành chánh và bên quân đội tham dự, cùng một số thân hào nhân sĩ được mời đặc biệt; trước để mừng thành tích xây dựng phát triển của Tỉnh nhà, sau là thưởng ngoạn buổi hát đặc biệt các ca sĩ nổi tiếng từ Saigon xuống trình diễn. Ông Tỉnh Trưởng và ông Chủ Tịch Hội Đồng Tỉnh đồng chủ toạ buổi hát ăn mừng, hát xướng có khiêu vũ; hết màn chào cờ, đọc diễn văn khai mạc, ca ngợi thành tích quân dân cán chính, đến màn ca nhạc, nhảy đầm suốt đêm thiệt là vui vẻ. Ngoài dân nghe tiếng đờn ca xướng hát, cho là tình hình trong Tỉnh hết căn thẳng, nên quan chức rảnh tay vui chơi.
Ông Quận Trưởng Châu Thành và cố vấn Mỹ cùng đoàn tuỳ tùng lính tráng kéo nhau về xã Tân Hưng để “ngủ ấp”, có chiếu phim cho bà con trong xã giải trí, cho đúng theo chánh sách Bình Định Phát Triển”quân dân cá nước”. Hằng tháng, các ông quận trưởng sở tại phải có lịch trình đi “ngủ ấp” ít nhứt một lần, để thể hiện chánh quyền không xa rời nhơn dân; giải quyết tại chỗ các mâu thuẩn, đơn từ thưa gởi, lắng nghe dư luận, ý kiến quần chúng; cũng nhằm công tác kỹ thuật đánh giá ấp A,B,C,D, cho “Bản Lượng Giá Ấp HES (Hamlet Evaluation System)”, nhằm thực hiện, làm việc khách quan đối nhiệm, đồng thuận tại chỗ giữa ông Quận và cố vấn Mỹ.
Cùng đêm ông QT về ngủ ấp, đoàn cán bộ XDNT tập trung họp dân, giới thiệu một cán bộ canh nông từ Saigon về giúp đở cho bà con hiểu biết thêm về cây lúa thần nông lùn; có thể trồng thay cho cây lúa cao ở địa phương, ít bị sâu rầy, còn cho sản lượng thâu hoạch cao. Tại cầu Ván, có hai cán bộ XDNT lén ém chìm 3 chiếc xuồng tam bản xuống lạch nước.
Trời vừa sụp tối vào ngày N, toán thám sát do Ba Sảnh chỉ huy, hoá trang thành du kích VC, trang bị nhẹ vũ khí AK, CKC, B40, âm thầm, lầm lủi đến điểm xuất phát cầu Ván; lật xuồng tát nước, nhẹ tiếng bơi dầm men theo lạch nước, chống qua mương rạch um tùm cây lá nhà vườn đến mục tiêu điểm hẹn. Mục tiêu là căn nhà lá, phía sau là vườn cây ăn trái, dừa, tre, trồng lẫn lộn trên những liếp mương, khe rãnh, nước đổ từ ngoài sông vào. Con nước lớn đang dâng lên, nên xuồng tam bản lướt nh ẹ qua bóng lá, kêu xào xạt như tiếng gió thổi. Những bóng ma nhẹ nhàng, trườn mình nằm phục trong lùm cây buội chuối; ai nấy đã vào vị trí ấn định, im hơi lặng tiếng, tiếng muỗi vo ve.
Dù hồi chiều hôm nay, sếp Ba Sảnh lập sa bàn, thuyết trình chi tiết bố trí, nhưng anh Ba cũng phải bò sát đến từng tổ, chỉ tay ra dấu nhắm hướng địch bạn phân minh. Riêng Sáu Thang phụ trách kéo dây hai quả mìn định hướng claymore, nên anh phải để súng lại cho Sáu Bảnh mang máy truyền tin giữ giùm, chỉ mang theo bên mình hai trái lựu đạn mini thủ thân. Anh ta bò ra sát gần đường, định hướng mìn về phía bên kia con đường, để ngăn chặn địch có thể tràn qua phía đội hình phục kích của lính biệt kích.
Căn nhà lá mục tiêu cũng chìm vào bóng tối đêm đen, cửa nẽo đóng kín, không thấy động tịnh bên trong. Trời tối hẵn, trong nhà bật sáng ánh đèn dầu leo lét. Vài phút sau một bóng phụ nữ, tay cầm đèn bảo lắc lư, đong đưa theo gió; thị mở cửa bước ra, mắt trước mắt sau, ý chừng cảnh giác có người theo dõi. Trước sân nhà không có cổng rào, không nghe tiếng chó, gà qué kêu đêm;bầu trời thanh vắng dưới ánh trăng mờ tỏ mây che. Chủ nhà đứng giữa con lộ đất đấp, soi đèn trên đường như đang tìm kiếm vật gì thất lạc. Sau một hồi nghe ngóng động tỉnh, bà ta mới huơ đèn, đánh võng ánh sáng ba lần làm hiệu, đoạn cầm đèn bước vào trong. Trong đêm lặng tiếng, bổng nghe tiếng chim vạt đêm gọi bạn; mới đầu nghe vài tiếng, sau đó rộn ràng; sau cùng là tiếng người rì rầm từ con đường làng dẫn đến nhà; cả hai hướng đều có người nói chuyện râm ran chào hỏi.
Đèn trong nhà đốt lên vừa đủ sáng, nhưng cửa sổ vẫn đóng kín; làn ánh sáng từ trong nhà chiếu rọi ra từ cửa chánh, đủ sáng cho người ra vào không đi trật lối.Cán bộ VC đã vào nhà hội họp, nhưng chắc chắn họ còn để lại quân bảo vệ bên ngoài và những cận vệ canh gác quanh nhà.
Buổi họp đã bắt đầu nói chuyện trao đổi của cán bộ. Sáu Bảnh ra hiệu cho một biệt kích bò nhẹ, tiến sát đến tên du kích ngồi gác sau nhà, tay luôn đập muỗi chan chát. Chờ cho tên du kích sơ ý quay mình, người lính thám sát vung khăn tẩm thuốc mê vào mủi địch, hạ êm nó và thay vào vị trí lính gác.
Người đờn bà mở cửa sau bước ra làm anh lính gác hết hồn, nhưng anh trấn tỉnh lại ngay, hạch hỏi:
-”Chị kia, đi đâu đó?”
-“Báo cáo đồng chí cảnh vệ: cho tui đi ngoài, mắc quá rồi, không nín được!”
Sợ lộ, anh lính gác đưa tay chặn lại, nhưng người đờn bà nhanh chơn đã thoát ra vườn sau. Bà ta vừa ra đến buội cây thấp sau hè, tháo quần ngồi trịch xuống, xối xả! Một anh lính khác núp buội xui xẻo, lảnh đủ một trận mưa lũ vào mặt, nhưng cố sức nín thở quay tránh. Nghe tiếng động bất thường, người phụ nữ nín tè, bật ngữa, té chỏng gọng, hoảng hồn la bài hãi có ma, có ma!!!
Ba Sảnh khoát tay cho ba đồng đội nhanh chơn chạy vào cửa sau nhà, do người lính thay gác đã mở cửa sẵn, chỉa súng trấn áp 5 ngưới đang ngồi bàn hội nghị. Bên ngoài súng của toán trinh sát đã nổ, hạ sát những du kích canh nhà; nhưng bên kia đường tiếng hô tiếp cứu vang lên, cùng lúc hai quả mìn claymore nổ ầm ấm, nháng lửa, tung bụi mù che nhiều thân xác gục ngã.
Trong nhà VC cũng phản ứng lại, chụp súng định bắn trả. Nhưng lẹ làng hơn, những loạt đạn bên phía biệt kích hạ sát toàn bộ những kẻ kháng cự. Máu đỏ văng tung toé, hơi thuốc súng ngập ngụa; nhưng là người kinh nghiệm Ba Sảnh để cho đàn em cướp súng, chiến lợi phẩm của địch. Riêng ông vội vàng lột sắc cốt còn đeo lủng lẳng bên hong, lấy cây súng ngắn K54, cùng lúc lục soát túi áo trong của tên cán bộ đầu dọc, lấy thêm giấy tờ, cuốn sổ tay dính đầy máu.
Cuộc đột kích của toán TST coi như đã hoàn thành nhiệm vụ; họ rút êm xuống xuồng, bơi về vị trí tập trung bí mật, chỉ có vài giới chức tình báo trong Tỉnh tiếp đón, đưa về nơi an toàn, thay đổi quần áo thường dân. Địa Phương Quân, Nghĩa Quân đóng đồn gần đó lo thu dọn chiến trường.
Tỉnh Trưởng cùng Trưởng Phòng 2, 3 , Trưởng Ty CSQG, và Cố Vấn Trưởng Mỹ ngồi nghe Ba Sảnh báo cáo lại từng chi tiết cuộc đột kích, đếm chiến lợi phẩm làm bằng chứng. Nhưng có một chi tiết nhỏ mà Ba Sảnh không báo cáo, là nội dung quyển sổ ghi chép riêng của tên huyện uỷ; quyển sổ này ông giữ lại cho câu chuyện sắp kể sau đây:
………………………
Trong quyển sổ tay cán bộ, huyện uỷ Tám Lôi có phần ghi nhớ:
Ngày…Học tập và thi hành nghị quyết của Ban Lãnh Đạo Tỉnh Uỷ: tìm mọi cách, sơ hở để phá hoại chương trình BĐPT, chiến dịch Phượng Hoàng của địch làm suy yếu hạ tầng cơ sở của ta…Treo bản án tên M, đại uý nguỵ ác ôn; Ban Kinh Tài nghiên cứu bảng giá 500 ngàn đồng cho ai hạ sát được nó.
Ngày…Theo dõi bần nông 6B, mới di chuyển chỗ ở từ Thủ Thừa về Tân An: lý lịch trong sạch, con nhà nghèo, tá điền ba đời, tư tưởng lưng chừng, mê gái, ham tiền; cần tiếp cận để móc nối.
Ngày…6B đang say nắng con 9M, cảm tình viên của ta, đang sống với cha mẹ trong vùng xôi đậu; cần tăng cường tình cảm ủy mị,để 9M lôi kéo 6B về với ta.
Ngày…6B muốn hợp tác với ta, nhưng không thuận thoát ly, cha mẹ già vừa qua đời, muốn lấy 9M nhưng không có tiền bạc, làm đám cưới theo yêu cầu của nhà gái. Báo cáo cụ thể tình hình, đối tượng về Tỉnh Uỷ (ban tổ chức đảng).
Ngày…Tỉnh Ủy chỉ thị nghiên cứu phương án tuyên truyền, móc nối, sữ dụng 6B ám sát tên M ác ôn.
Ngày…6B chưa dứt khoát tư tưởng dân nội thành, sợ phạm luật, sợ giết người vô cớ; 9M không tuyết phục được hắn, cũng sợ liên luỵ, không dám hy sinh cho cách mạng. Tỉnh Uỷ hứa trích ngân khoản bên kinh tài 500 ngàn đồng làm mồi câu 6B (ghi ch ú:300 ngàn đồng tiền nguỵ là đủ để mua một căn nhà ngoài chợ); áp đặt, doạ dẫm gia đình 9M, thúc hối 6B đi cưới, không sẽ gả con gái cho người khác(!).
Ngày…Sau khi ta vận động tuyên truyền, thuyết phục có thưởng tiền, đối tượng bằng lòng kế hoạch ám sát. Nghiên cứu tình hình, điều nghiên thói quen của tên M, làm sa bàn cho 6B học tập nhuần nhuyển…chờ trên chỉ đạo sau cùng.
Ngày…Trên quyết định công tác: tiền mặt và súng lục colt của Mỹ, gói kỹ trong bao nhựa, chôn dấu dưới mộ bia số X, nghĩa địa Y; hành sự xong súng đem về chôn dấu lại chỗ cũ. Kiểm tra đối tượng nghiêm ngặt, báo cáo kết quả theo đúng qui định.
Ngày… Báo cáo công tác đã hoàn tất tốt đẹp, không để lại sơ hở; địch mất hướng, điên cuồng điều tra, nghi kỵ, cảnh giác, tăng cường bố ráp… nhưng không phát hiện được dấu vết. Kiến nghị lãnh đạo biểu dương anh hùng, ghi nhận công trạng, thành tích. Kiến nghị cho hai đương sự thoát ly, đảm bảo nhân tố cách mạng.
Ngày…Chỉ thị trên sau cùng: bố trí 6B ở nguyên vị trí, tìm phương án ám sát tiêu diệt tên 3S, kẻ lên thay tên M, tiếp tục làm nội gián trong lòng địch.
Ba Sảnh rủ Sáu Thang đến thăm nhà vợ chồng Sáu Bảnh, nhơn tiện chia tiền thưởng của Tỉnh cho toán công tác TST, vừa loại trừ được huyện uỷ Tám Lôi, triệt hạ Ban Kinh Tài của địch trong vùng.
Căn nhà không lớn lắm nhưng khang trang, có vườn sau, rào giậu kín đáo.Vợ Sáu Bánh khoe mua được nhà giá rẻ làm tổ ấm cho gia đình, nhờ tiền anh Sáu đi lính dành dụm lâu nay(?); tổ uyên ương cho cháu bé đang mang 3 tháng trong bụng mẹ. Sếp chúc mừng thằng em có phước: có nhà mới, sắp có con gia đình hạnh phúc.
Tiện đường về, hai ông ghé vào nghĩa địa Y; dọn sạch cỏ, đặt lại mộ bia, thắp hương cho ngôi mộ X, trước khi chia tay mạnh ai nấy về nhà.
Một hôm, Ba Sảnh vào TK gặp riêng ông TP2TK đề nghị một ý kiến riêng, nhằm ngăn chặn VC tổ chức vượt QL4, quãng đường miệt Cầu Vôi:
Ban hậu cần của chúng lùa dân công, khiêng tải đồ tiếp tế về mật khu trong vùng sâu. Đồn lính Nghĩa Quân có cho phục kích ban đêm, nhưng những cuộc chạm súng, gài mìn hay bắn pháo binh quấy rối, thường gây chết cho dân lành vô tội. Ông đề nghị cho một toán TST giả trang làm VC trà trộn vào dân công, để tìm bắt giao liên dẫn đường, triệt hạ đầu mối hậu cần, tránh sát hại nhơn dân. Thấy đề nghị hợp lý, Phòng 2 liền phối hợp hành quân với Phòng 3, lập kế hoạch và trình lên TKT xin chấp thuận.
Trời sập tối, toán giả trang VC từ trong đồn NQ men theo QL, những buội rậm bóng đêm che khuất, len lỏi mò đến phục kích khu vực ấn định chờ đợi. Bóng mây vừa che khuất bầu trời, giao liên dẫn đướng qua trước, theo sau là những toán dân công lúp xúp gồng gánh bắt đầu vượt lộ. Một loạt súng bắn chỉ thiên, đường chấm xanh của làn đạn súng AK đốt pháo trên bầu trời, làm đoàn người hoảng loạn, vứt bỏ hàng hoá lăn lóc trên đường, mạnh ai nấy chạy thoát thân.Vài loạt súng giao tranh lẻ tẻ kế tiếp, trong đó có 3 phát ngắn, nếu phân biệt, không phải là tiếng nổ của súng liên thanh. Có lẽ vì không có đủ lực lượng bảo vệ phản kích, nên du kích VC cũng bỏ của chạy lấy người theo đám dân công. Khi pháo sáng từ trong đồn bắn ra, mặt trận trở lại yên tỉnh bình lặng.
Ba Sảnh cho lệnh rút quân, thúc hối Sáu Thang kéo xác Sáu Bảnh về đồn, đã chết vì loạt đạn đầu, sự thiệt hại đáng tiếc của quân bạn. Ba ánh chớp tắt của ánh sáng đèn pin làn dấu hiệu cho lính NQ trong đồn ra tiếp cứu.
Rạng sáng hôm sau lính trong đồn ra lục soát, thu lượm được nhiều túi, giỏ đựng hàng hoá: vải nylon, thuốc tây, đường cát, sửa hộp, thuốc lá, muối ăn…còn bỏ lại lăn lóc trên mặt lộ. Chiến lợi phẩm gồm một cây CKC và một khẩu súng colt bắn hết băng đạn, chắc có lẽ của một tên du kích hay của giao liên bỏ của chạy lấy người, không kịp mang theo.
Trong đám tang tiển đưa bạn đồng đội, Ba Sảnh thay mặt TST chia buồn với Chín Mỵ, bây giờ là goá phụ của tử sĩ Nguyễn Văn Bảnh, hy sinh tại chiến trường, được Tổ Quốc ghi ơn:
“Anh em TST chia buồn với gia đình thiếm, ông Tỉnh cũng phân ưu, hứa tặng huy chương anh dũng bội tinh, trợ cấp 12 tháng lương, cháu bé sanh ra sẽ được ghi nhận là nghĩa tử quốc gia, hưởng đủ quyến lợi cấp dưỡng và nuôi học thành tài, con của tử sĩ, quả phụ.Quan tài sẽ được phủ cờ, huy chương, bằng chứng nhận tử sĩ. Tôi cũng có một lời khuyên là thiếm nên ở lại quận Châu Thành cho có an ninh, đừng nghe ai xúi giục bỏ đi về dưới quê, không yên đâu!.”
Nghe những lời chí tình trọn nghĩa đó Chín Mỵ nhớ nằm lòng, nguyện thủ tiết thờ chồng nuôi con. Bởi thời buổi giặc giả này, không biết tin ai; chỗ nào yên thân, có người giúp đở tận tình, mới sống nổi.
Goá phụ trẻ lập bàn thờ chồng: mặc quân phục uy nghi, huy chương ngôi sao, bằng tưởng lục. Mỗi lần về thăm nhà cha mẹ trong đồng, chỉ đi ban ngày, ban đêm không ở lại. Gần ngày sanh nở, may mắn có vợ của Sáu Thang đến giúp, coi như chị em. Hôm thằng bé chào đời mẹ nó muốn xin anh Ba làm cha đở đầu, nhưng Ba Sảnh nói tôi không có vợ con, ăn chay trường, thôi để vợ chồng Sáu Thang có nhiều con, làm cha mẹ đở đầu thêm cho một đứa nữa tốt hơn.
Sau năm 1954 Hiệp Định Đình Chiến Genève ra đời, phân chia đất nước thành hai miền đối nghịch nhau: miền Bắc theo CNXH do đảng CSVN lãnh đạo, miền Nam thể chế tự do dân chủ VNCH. Trong khi miền Nam đón tiếp một triệu người miền Bắc di cư vào, thì cán bộ, bộ đội Việt Minh tập kết ra miền Bắc. Nhưng VM(CS trá hình) vẫn gài người ở lại miền Nam cho âm mưu chánh trị về sau.
Từ thập niên 60 về sau, CSVN từ miền Bắc chỉ đạo cho thành phần cán bộ trốn ở lại, nằm vùng trong miền Nam, bắt đầu gây dựng cơ sở hạ tầng quấy nhiểu vùng quê, theo mô hình chiến lược học theo Trung Cộng:”lấy thôn quê bao vây thành thị”.
Thời Đệ I VNCH, chánh phủ Ngô Đình Diệm áp dụng sách lược” Ấp Chiến Lược”  dời dân lập ấp, nhằm cô lập du kích VC len lỏi vào dân quấy phá.
Thời kỳ Đệ II VNCH sách lược “Bình Định Phát Triển Nông Thôn” ra đời, thay thế ACL, chia làm 2 giai đoạn:1/BĐNT 2/ANPT.
Năm 1965 lực lượng Cán Bộ BĐNT ra đời với những đoàn cán bộ được tung về xã ấp công tác tại chỗ. Ngoài các lực lượng quân sự ĐPQ,NQ, đóng đồn bót giữ an ninh diện địa, các đơn vị TST cũng được thành lập để song hành hổ trợ hoạt động an ninh tình báo. Đa số”lính TST” là hồi chánh viên, rời bỏ căn cứ hay mật khu về với QG, nên họ rất am tường quy luật hoạt động tuyên truyền, phá hoại khủng bố, nằm vùng mai phục của VC.
Chiến dịch Phượng Hoàng điều hợp, chỉ đạo các cơ quan hành chánh, quân sự ở mỗi tỉnh thành gia tăng tiêu diệt, quét sạch bọn nằm vùng hay manh nha tái tổ chức lại các htcs. Các cuộc hành quân của TST phản du kích rất có hiệu quả, ít bị thiệt hại, đánh phá đúng chỗ nhược, làm suy yếu hạ tầng cơ sở VC; sau trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân năm1968, nhiều cơ sở hầu như bị tiêu diệt sạch, miền Bắc phải đưa cán bộ, bộ đội chánh qui vào thay thế(đây cũng là một âm mưu thâm độc trừ khử người miến Nam, MTGPMN, để đưa cán bộ lãnh đạo người Bắc vào thay thế)
Sau tháng 4-75, những người lính của các đơn vị bán quân sự TST này, chịu đựng một sự trả thù khủng khiếp, còn hơn”nguỵ quân nguỵ quyền bắt đi học tập cải tạo”; trừ những kẻ trá hàng làm nội tuyến,”kẻ phản bội” bị xữ tử ngay tại chỗ, hay đày ải khổ sai không có ngày về.
CSVN giấu kín các thông tin sát hại người hồi chánh. Người Việt QG cũng ít có những tài liệu, thông tin về những người lính đặc biệt này, có lẽ cho là người của CIA, hồi chánh trá hàng?
…………………………..
Sau năm 1975, đời quay cuồng chóng mặt: Ông xuống thằng, Thằng lên ông; nhà giàu mất hết của cải xuống làm công nhân, bần cố lên làm ông chủ. Gia đình bà Chín Mỵ cũng có những thay đổi theo, cho phù hợp với tình hình hiện tại. Trước hết, hình thờ củ của “tử sĩ Nguyễn Văn Bảnh, Tổ Quốc ghi ơn “bận quân phục rằn ri, huy chương ngôi sao, bằng tưởng lục lộng kiếng, mang đem cất giấu dưới ngăn tủ bàn thờ. Hình “liệt sĩ Nguyễn Văn Bảnh, Tổ Quốc ghi công”, bận áo bà ba quấn khăn rằn được lộng trong khung kiếng mới đặt lên, bên cạnh là bằng biểu dương công nhận liệt sĩ anh hùng, huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mới vừa được một cán bộ trên Tỉnh mang xuống, biểu phải làm bàn thờ đặt nơi trang trọng.
Trong lòng bà Chín ngổn ngang trăm mối, thấy hơi mắc cở cho việc thờ tự này: ai đời đạo đức ông bà, mới quốc gia đây, bây giờ thành cách mạng 30-4, thay đổi một sớm một chiều, trở mặt nhơn thân cách mạng? Người không biết, cho là bà Chín Mỵ thờ chồng, bàn thờ hai mặt, một dạ hai lòng, có người biết chuyện, nói rõ về ngọn nguồn:
“Ông Sáu Bảnh chỉ là người thường dân xấu trai, nhà nghèo cha mẹ mất sớm, anh chị em tứ tán, một mình tự lập nuôi thân, muốn có tiền đặng cưới bà Chín Mỵ, nên sập bẩy VC mua chuộc. Sáu Bảnh nhận tiền, nhận súng của huyện uỷ ám sát ông Đại Uý TST; chánh quyền thời đó không tìm ra thủ phạm.
Người lên thay chỉ huy TST là ông Ba Sảnh, thề quyết tìm ra thủ phạm trả thù cho ông thầy, cũng để đở mất mặt đơn vị. Trong một vụ đột kích hội họp của VC, huyện uỷ Tám Lôi và đồng bọn bị giết chết; chính tay Sáu Bảnh là người nả đạn vào Tám Lôi, nhờ giữ cây súng của Sáu Thang, và rõ mặt tên huyện ủy đã từng móc nối công tác ám sát trước kia.
Sáu Bảnh rất căm hận  tên huyện uỷ gian ác, muốn bắt Chín Mỵ thoát ly vô bưng để ép làm vợ hắn (?), không đưa đủ tiền hợp đồng, còn ép mình ở lại để sát hại thêm đồng đội Ba Sảnh; sợ bị tố cáo nên trừ khử nhơn chứng trước.
Nhưng Ba Sảnh lấy được quyển sổ tay cán bộ, biết được VC đã bố trí Sáu Bảnh là kẻ ám sát đang bị truy tìm, còn âm mưu giết thêm mình, nên tìm cách hạ thủ. Sau khi có đủ bằng chứng: vợ chồng Sáu Bảnh có tiền mua nh;, cây súng colt ám sát còn 3 viên đạn, chôn dấu dưới mộ bia trong nghĩa địa; Ba Sảnh bàn với Sáu Thang lập kế giết Sáu Bảnh trả thù và trừ hậu hoạn. Cuộc phục kích đánh dân công được dàn dựng, để có cớ giết chết Sáu Bảnh bằng ba phát đạn súng colt còn lại, báo cáo hiện trường do VC sát hại, chết vì công vụ, cho vợ con được hưởng tiền trợ cấp cô nhi tử sĩ.Hơn nữa, vì lòng nhơn đạo (?) ông Tỉnh xin cho đứa nhỏ sắp sanh ra được nhận làm nghĩa tử quốc gia, được nuôi dưỡng học hành đến tuổi trưởng thành.”
Văn sỉ vườn, nghe sao chép vậy (do nhiều người kể tam sao thất bổn, thêm mắm dậm muối?), đặng người đời sau biết chuyện này là có thiệt; có khi chuyện đời thiệt còn khủng khiếp hơn là tưởng tượng.
https://vantuyen.net/2016/03/15/tran-lang-bien-ban-tho-hai-mat/