Showing posts with label biệt cách 81 dù. Show all posts
Showing posts with label biệt cách 81 dù. Show all posts

Wednesday, June 19, 2019

NÚI VẪN XANH
Truyện của HÀ KỲ LAM

CẢ BỐN TAY súng của toán thám sát Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bố trí lưng chừng đồi theo hình cánh cung để bảo vệ người toán trưởng và hiệu thính viên đằng sau lưng họ trên đỉnh đồi từ nãy giờ đang hướng mặt về phía đối diện để quan sát đám người lố nhố dưới kia, trong thung lũng trãi dài hai bên con suối ngoằn ngoèo như con rắn bạc lấp lánh dưới ánh nắng ban trưa chói chang của một ngày đẹp trời tháng tư. Hết quan sát những người xê dịch dưới thung lũng lại cúi nhìn đồng hồ, người trưởng toán có vẻ nôn nóng.
- Ít nhất là một tiểu đoàn. Có thể là K 25B công binh như tin tình báo cho hay. Mẹ kiếp, máy bay lên chậm thế này để chúng di chuyển hết thì hoài công.
- Không sao đâu, ông thầy. Bọn nầy có vẻ còn ở đây lâu đấy, vì nhiều tên còn đang tắm, thậm chí giặt giũ nửa kia.
Bỗng hiệu thính viên Thịnh đưa ống liên hợp cho thiếu úy Tuấn:
- Thằng L 19 đang lên vùng và cần gặp ông thầy.
Tuấn bóp chặt ống liên hợp, đưa lên miệng:
- Họa Mi đây Thạch Ðộ, trả lời.
Giọng miền Nam của viên phi công vang lên trong ống nghe:
- Thạch Ðộ đây Họa Mi, bạn điều chỉnh hướng bay khi bắt đầu thấy tôi để xác định vị trí bạn, trả lời.
- Họa Mi đây Thạch Ðộ. Tình thế khẩn cấp lắm, tôi sẽ nháy mắt để anh có thể thấy tôi nhanh hơn, trả lời.
- Tôi nhận bạn năm trên năm, và trực máy.
Tuấn đưa tay vẫy Tâm, một toán viên dưới lưng chừng đồi đang ngoái đầu nhìn lên anh. Khi người lính vừa bò đến gần Tuấn khẻ ra lệnh:
- Mày ra chỗ lúc nãy chờ, khi thấy thằng L 19 thì chiếu kiếng cho nó thấy mình.
Lần hành quân nào cũng vậy, Tuấn chỉ giao công tác chỉ điểm này cho Tâm. Không hẳn vì anh chàng làm công việc này giỏi hơn các toán viên khác - Tuấn có bao giờ sát hạch môn này cho cả toán đâu mà chấm điểm được - nhưng tình cờ một lần giao công việc này cho anh lính và thấy được việc nên Tuấn chẳng muốn "thay đổi nhân sự".
Gài khẩu M 16 vào khoen leo núi móc gần vai bên phải, Tâm bò về phía mõm đồi cỏ tranh cách xa bên trái của Tuấn khoảng một trăm thước. Lúc mọi người vừa thoáng thấy chiếc máy bay quan sát màu trắng ở nẽo xa thì Tâm cũng vừa quỳ tại bãi cỏ tranh ngập nắng, rút từ túi áo trên cái kiếng hình chữ nhật chỉ hơi lớn hơn chiếc hộp quẹt Zippo và nâng lên ngang mắt, nhìn từ phía sau kiếng qua lỗ nhắm ở trung tâm kiếng để hướng cái chấm đỏ của tia mặt trời nằm thẳng hàng với phi cơ đang bay. Ðoạn anh ta khẻ lắc nhẹ để tạo sự nhấp nháy. Bỗng một tràng tiếng nổ dòn vang lên, cùng lúc Tâm bật ngửa ra sau rồi nằm bất động. Cả toán biết điều không lành đã đến với người đồng đội, ghìm súng ở tư thế đối đầu với mọi hướng. Thịnh nằm cạnh Tuấn khẽ nói:
- Ð.M. tụi nó ở đầy cả rừng rồi!
Tuấn chưa kịp đáp lời người lính mang máy truyền tin thì những quả đạn sơn pháo 75 ly, đạn cối 82 ly, và những loạt AK 47 thi nhau đổ về phía toán đang bố trí trên đồi. Cành cây, đất đá bắn tung tóe vào thầy trò Tuấn. Không cần lệnh của người toán trưởng, mỗi toán viên nằm thủ tại chỗ. Họ biết trong tình thế loại này tháo chạy hoặc co cụm lại với nhau chỉ tổ lãnh thêm thiệt hại. Tuấn nhìn qua các toán viên và thấy tất cả còn "nguyên". Thịnh trao ống liên hợp cho Tuấn:
- L 19 gọi.
Tuấn chụp máy :
- Họa Mi đây Thạch Ðộ.
- Ðây Họa Mi, tôi vẫn chưa thấy bạn nhưng thấy nhiều cột khói và nhiều lằn chớp dưới đó.
- Ðang bị ném đá. Tôi đang ở hướng ba giờ của anh.
Sau hai lần "bẻ góc" nữa, chiếc máy bay quan sát từ xa gióng chính hướng ngọn đồi lướt tới. Tuấn cho viên phi công biết đang bay đúng hướng và sẽ báo cho anh ta biết khi nào máy bay vừa ngang qua đỉnh đồi. Súng địch vẫn nổ dòn, mưa đạn vẫn tới tấp đổ về ngọn đồi, khiến công việc điều không của anh càng khó khăn. Nằm dài trên mặt đồi để tránh tầm đạn đi, bên chiếc máy truyền tin, tay cầm ống nói áp sát một bên tai, mắt vẫn ngước lên dõi theo chiếc L 19 trên không đang tiến gần vị trí mình, rồi ngay lúc nó vừa ở trên đầu, Tuấn bóp ống liên hợp, nói như reo:
- Họa Mi, anh đang ở ngay trên đầu tôi, trả lời!
- Thạch độ đây Họa Mi. Nhận bạn rõ năm. Rất tốt.
- Họa Mi đây Thạch Ðộ. Cứ trực máy, tôi sẽ có việc cho anh.
Tuấn vừa trao ống liên hợp cho Thịnh tiếp tục liên lạc với máy bay để bò gần về phía bìa rừng quan sát trảng cỏ tranh, thì thình lình tiếng súng im bặt. Mấy giây sau cả rừng vang tiếng thét "xung phong". Rồi trước mặt Tuấn, từ hướng mỏm đồi cỏ tranh nơi Tâm quì chỉ điểm cho phi cơ vừa rồi, và từ hướng trước mặt toán lố nhố người cứ ùn ùn tiến tới. Hóa ra đợt bắn phá vừa rồi là trò đánh phủ đầu để bộ binh tiến sát. Bóng dáng những bộ quân phục kaki màu lá cây, nón tai bèo cứ xông lên bất kể những tràng đạn M 16 đốn ngã từng đợt người. Khoảng một trung đội địch tiến hàng ngang đã lên tới đỉnh đồi, cách bọn anh không đến mười thước, với tiểu liên AK kẹp nách bắn xối xả. Một tên địch gần Tuấn hơn ria một tràng đạn về phía anh, nhưng, như một phép lạ, anh vô sự. Thịnh nhanh tay siết cò súng hạ hắn đo đất. Nhiều tràng M 16 đáp lễ ngăn được chốc lát sự "tiếp cận" kia. Lúc này hai chiếc A 37 cũng vừa xuất hiện và bay cao hơn chiếc L 19. Trung sĩ Hiến báo cáo hai sự kiện dồn dập: Châu bị nguyên một tràng đạn AK vào ngực, chết ngay trên đồi, và địch bây giờ tràn lên đông hơn. Tuấn ra lệnh cả toán rút xuống triền dốc về phía thung lũng. Anh biết thung lũng đang có một đơn vị lớn của địch. Anh chỉ muốn bỏ ngọn đồi, men theo triền dốc, rồi xin phi pháo đánh ngay trên đồi để toán tiện bôn tẩu. Nhưng di chuyển một đoạn ngắn thì nhiều tràng AK từ dưới chân đồi khạc đạn xối xả về phía bọn anh. Không xong. Tứ bề thọ địch. Chỉ vỏn vẹn bốn tay súng mà tử thủ với biển người hay liều mạng phá vòng vây trùng trùng của địch thì phỏng ích lợi gì? Tuấn bấm ống liên hợp:
- Họa Mi đây Thạch độ.
- Họa Mi nghe. Bạn cho biết cần gì?
- Anh cho đánh ngay trên đầu chúng tôi.
- Không được! Bạn xác nhận lại, đánh ở đâu?
- Tôi, thẩm quyền Thạch Ðộ nhắc lại đánh ngay trên đầu chúng tôi và bất cứ chỗ nào có người. Ðịch tràn ngập rồi, không chần chờ gì nữa. Ðánh ngay đi. Dứt!
Tuấn trả máy cho Thịnh trước vẻ mặt hốt hoảng của anh này. Không có thì giờ và cũng không cần giải thích về quyết định của mình với người lính truyền tin của toán, Tuấn nép sau một thân cây to để tránh các tràng tiểu liên AK từ dưới chân đồi vẫn không ngừng quạt lên. Trên đỉnh đồi bây giờ đã lố nhố người của đối phương. Bốn người thám sát Biệt Cách Dù chỉ còn biết tử thủ: Hiến và Sắc chĩa súng về hướng đỉnh đồi, còn Tuấn và Thịnh quay súng xuống chân đồi. Cả bốn tay súng chiến đấu trong một ô vuông mỗi cạnh khoảng mười thước. Họ bắn dè xẻn từng ba phát một nhưng rất hiệu quả, và nhờ vậy đã làm chậm bước tiến của địch. Trong khi đó chiếc L 19 vẫn chưa chịu thi hành điều Tuấn yêu cầu, cứ bay lòng vòng bên trên. Anh "thông cảm" cho người phi công, nhưng không khỏi tức giận vì cảnh dầu sôi lửa bỏng của mình. Anh ta phải xin lệnh từ Trung Tâm Không Trợ về điều yêu cầu "điên khùng" kia, và chắc đang chờ trả lời. Tuấn cũng lấy làm lạ lần này không có biệt đội trưởng hay một sĩ quan của Liên Ðoàn bay L 19 hay trực thăng C&C như mọi lần. Thình lình mọi người cùng nghe rõ âm thanh "chéo-éo-éo ... đoành!". Một cột khói trắng bốc cao và cuồn cuộn tỏa ra như một đám mây, vươn lên khỏi tàng cây rừng ngay đỉnh đồi mà toán thám sát vừa rời bỏ. Tuấn biết viên phi công quan sát vừa bắn một trái khói chỉ điểm mục tiêu oanh kích. Ðiều yêu cầu của anh đang được đáp ứng. Tuấn vẫn nếp sau thân cây. Rồi anh bỗng thấy hành động nấp sau thân cây rõ lẩm cẩm vì biết bom sẽ rơi hướng nào. Nhưng đành phó mặc cho may rũi, anh cứ ngồi bên gốc cây. Tuấn tưởng chừng như anh đang gồng mình lại, các bắp thịt toàn thân như rắn lại, chờ đợi sấm sét giết người từ trời cao ... Chiếc oanh tạc cơ thứ nhất đâm bổ xuống ngay trên đầu Tuấn, rồi hẳn nhiên đã đạt tới một độ thấp vừa đủ, con chim sắt ấy lại vút lên cao vài giây trước khi hai trái bom từ dưới cánh đâm thẳng xuống quả đồi của anh. Tuấn không dám tiếp tục ngẩng nhìn lên trời. Anh nằm cúi mặt xuống, thân chịu trên hai cùi chỏ để tránh áp ngực với mặt đất. Anh thấy vài con kiến ung dung bò trên nền lá khô. Thốt nhiên Tuấn cảm nhận được cái mong manh của thân xác mình lúc này - khác gì những cái kiến kia! Chỉ có mỗi một khác biệt là anh đau khổ chờ đón cái chết chóc, cái hủy diệt, còn chúng thì không hay biết gì cả, vẫn thản nhiên, vẫn ung dung cho đến khi nào cái chết xảy ra là xong, không còn cảm giác nữa. Chúng hạnh phúc hơn anh trong lúc này. Từng khuôn mặt thân yêu trong gia đình diễn hành nhanh qua trí anh: mẹ anh, các em, và chị. Rồi anh nghĩ đến Trinh thật xa xăm và cũng thật gần. Anh có còn trở lại cổng trường Trưng Vương nữa không? Rồi bên tai anh nghe mơ hồ giọng một ca sĩ quen thuộc với "em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời mai mốt anh về..." Tuấn lại nghĩ đến tập thể tuổi trẻ Sài Gòn: không có anh trong đó! Và trong cái khoảnh khắc chờ đón một sự hủy diệt khủng khiếp sắp giáng xuống mọi người, một khoảnh khắc rất ngắn nhưng cũng rất thiên thu, giác quan anh đón nhận cả một trình tự ngoại vật lướt qua chóng vánh: âm thanh động cơ phản lực gầm thét qua đầu, tiếng bom xé gió, hàng loạt tia chớp lóe lên, từng tràng tiếng nổ kinh hồn, và mặt đất rung chuyển. Tuấn bị nhiều nguồn lực từ mọi hướng đẩy bật ngửa rồi xô tới trước hoặc xoay vòng; anh có cảm giác ngực bị ai đấm một quả rõ mạnh, tức đến khó thở. Ðất, sỏi ùn lên hắt vào người anh. Khói đen tỏa ra chung quanh, không khí khét lẹt mùi thuốc nổ. Tuấn biết một trái bom đã đáp cách anh không xa, đào một hố rõ to và làm dạt một mớ cây nhỏ bên trái anh, tung tóe đất lên quần áo anh. Riêng thân cây to vẫn đứng vững và hiển nhiên đã hứng hết những mảnh bom, đất đá và sức ép cho anh. Anh sờ khắp người để thấy mình vô sự. Trái bom khác rơi trên đỉnh đồi đã bật gốc một cây cổ thụ, tạo nên một âm thanh phụ nghe đánh ầm và làm trống hẳn một khoảng rừng.
Tuấn bò qua những cành cây gãy đổ ngổn ngang, tìm Thịnh nhưng không thấy hắn đâu cả. Trong mọi tình huống anh phải có máy bên cạnh mình. Nhưng chiếc A 37 lại đang đâm bổ xuống đầu Tuấn một lần nữa. Anh vội ngồi nấp sau một thân cây. Có lẽ đây là chiếc thứ hai, đang theo gót phi tuần trưởng của nó vừa rồi. Dù sao thì anh sắp hứng chịu một "trận đòn thù" nữa. Lại "ầm! ầm!" rồi mấy tiếng "ầm" phụ nổi lên. Tuấn lại bị lộn nhào một lần nữa, và anh giật bắn người khi thấy một cây cổ thụ vừa bật gốc ngã sóng soài cách anh không đầy một thước. Giá mà nó phang ngay anh thì còn gì nữa! Ngọn đồi bỗng "đổi mới"; cây ngã la liệt. Tuấn vẫn tìm Thịnh, tìm trung sĩ Hiến - người toán phó - và Sắc. Toán may ra thì còn được bốn mạng, kể cả anh. Tâm và Châu đã ra đi rồi! Nhưng sao thế này: im phăng phắc - địch đâu rồi, và ta đâu rồi? Bỗng lá cây lay động sột soạt sau lưng. Tuấn quay phắt lại, khẩu M 18 dưới nách chỉ thẳng vào bóng người từ trong bụi rậm vừa đứng lên.
- Sắc đây ông thầy.
Tuấn thở phào một cách dễ chịu. Anh khẽ nói:
- Mày không sao chứ?
Anh lính khẻ lắc đầu thay lời đáp. Tuấn biết mình vừa hỏi một câu không cần trả lời; nó chỉ có nghĩa của một câu xác định, "à, may quá còn có mày." Anh đang lo cho số phận của các toán viên.
- Trung sĩ Hiến và Thịnh có sao không?
Sắc vừa nói vừa đưa tay chỉ về hướng hơi chếch đỉnh đồi:
- Ông Hiến bị thương nằm ở đằng kia. Ổng hỏi thăm ông thầy, và bảo em đi tìm.
Tuấn muốn đến gặp ngay trung sĩ Hiến xem tình trạng thương tích của ông ta ra sao, nhưng anh phải tìm Thịnh trước vì máy móc truyền tin là linh hồn của toán. Hai chiếc phản lực bây giờ đang ở tít trên mây; tiếng động cơ của chúng nghe nghe rất xa và đứt đoạn. Chiếc L 19 vẫn quầng trên đầu hai người. Có lẽ viên phi công đang gọi Thạch Ðộ khàn cả tiếng, Tuấn nghĩ thế. Quái, Thịnh biến đâu mất với chiếc máy truyền tin. Tuấn vẫn nhớ hắn chạy theo sau anh và nấp gần đây trước khi bom rơi. Tuấn bỗng nẩy ra ý nghĩ bới tìm trong mớ cây cối đổ ngổn ngang ngay cạnh hố bom. Và trong lúc hai thầy trò đang len lỏi bò vào từng đống cây lá nằm bên trên hoặc bị vùi lấp dưới lớp đất mới thì phía trảng cỏ tranh một tiếng nổ phát ra và một cột khói trắng bốc cao. Anh biết viên phi công máy bay quan sát vừa bắn một trái chỉ điểm cho phản lực đánh bom xuống nơi anh ta vừa thấy địch ẩn núp đâu đó.
Trong tiếng rít của hai chiếc A 37 trên đầu, tiếng rền và chấn động liên hồi của bom, Tuấn chợt nghe giọng gọi đầy khích động của Sắc:
- Ông thầy ơi.
Tuấn nguớc nhìn theo ngón tay trỏ của người lính và thấy cách họ vài thước khúc cần ăng-ten của chiếc máy PRC 25 nhú ra khỏi mớ đất vàng tươi mới tinh khôi dưới mấy cành cây phủ lên. Anh lặng người mấy giây, cảm thấy đôi chân như không đứng vững nỗi. Giọng nói Tuấn nghe yếu ớt qua hơi thở:
- Moi đất ra.
Hai người hì hục lôi các cành cây bỏ sang một bên, dùng tay bới mớ đất bột lên. Chiếc máy truyền tin bị thủng, móp méo, vỡ nhiều chỗ, từ từ lộ ra, rồi màu áo rằn ri bày ra, dính đất và máu. Tuấn và Sắc cùng nâng người Thịnh đang nằm sấp lên. Xông pha trận mạc đã nhiều, đã trông thấy bao nhiêu xác chết của cả đôi bên, nhưng anh phải nhận chưa bao giờ thấy một xác người như thế này, nói chi xác ấy là đồng đội, là thuộc cấp của mình. Cả người Thịnh từ bụng lên vai bị mất từng mảng thịt lớn, và xương vai một bên bị gãy. Nhưng cái chân, ôi cái chân trái, anh không biết phải nói thế nào ... đứt đến trên đầu gối, chỉ còn dính tòn teng với toàn thân bằng một mãnh da rộng bằng một bàn tay, và thịt chỗ hai đầu bị cắt lìa trở nên xám đen giống như vừa bị nướng trên lửa!
Sắc mở thử máy truyền tin. Chỉ là một cục kim khí im thin thít vô dụng. Chợt nhớ tới trung sĩ Hiến, hai người thận trọng di chuyển, và Sắc dẫn đường ngược lên đồi. Họ bước qua nhiều xác lính Bắc Việt nằm đủ vị thế - nghiêng, ngửa, sấp, hay cong queo. Tuấn cúi xuống bên người toán phó, xem xét vết thương ở bụng. Có vẻ một mảnh bom đã cứa một đường dài và sâu trước bụng. Anh thử xốc người thương binh lên nhưng anh ta nhăn nhó một cách đau đớn:
- Ối, ông thầy để tôi nằm đi.
- Trước khi bom nổ anh đã rút xuống triền dốc với toán mà sao lại ở đây?
Trên gương mặt tái xanh vì mất nhiều máu của Hiến Tuấn thấy một sự cố gắng dùng sức mới bật ra thành tiếng:
- Tôi chạy lên để.. kéo xác thằng Châu xuống.. kẻo bom dần nát mất nhưng..
Hiến ngưng nói, vẻ mệt nhọc, đưa lưỡi liếm quanh vành môi tái nhợt và khô khốc. Sắc mở nắp bi-đông, khẻ nâng đầu anh lên và kề miệng bình nước vào môi. Tuấn nhắc:
- Cho uống ít thôi để giữ cho máu bớt chảy.
Trong khi tháo cuộn băng cá nhân để băng cho trung sĩ Hiến, Tuấn vẫn thận trọng quan sát chung quanh. Anh thấy nhiều xác chết đối phương rải rác khắp nơi. Xác Châu nằm cách trung sĩ Hiến khoảng năm thước, mắt còn nhìn lên trừng trừng. Anh rón rén bò đến bên người toán viên vẫn hay di chuyển hàng đầu trong các cuộc xâm nhập của toán, đoạn từ từ vuốt cho đôi mắt nhắm lại. Rừng im phăng phắc. Có lẽ chúng chỉ di tản những kẻ bị thương. Những người nằm kia đều "câm nín". Sau khi đảo lại mấy vòng để bắn rocket và đại liên mười hai ly bảy xuống một điểm mới dưới thung lũng do phi cơ quan sát chỉ điểm, hai chiếc phản lực đã rời vùng. Chiếc L 19 vẫn còn lượn trên không phận hành quân. Tuấn vừa quay sang bảo Sắc lấy chiếc pa-nô tìm cách trải để ra hiệu cho máy bay biết mình có mặt tại chỗ thì bỗng rừng núi lại rền vang từng tràng nổ. Tuấn nói:
- Mười hai ly bảy.
Chiếc L 19 vụt cất cao lên và mất hút vào khoảng không. Tuấn đề nghị khiêng trung sĩ Hiến men theo triền dốc về hướng Bắc cho xa vùng giao tranh được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Anh đoán địch sẽ chiếm lại đồi này. Bỗng dưng trung sĩ Hiến quàng một tay ôm chặt chân Tuấn và thều thào nói:
- Ông thầy đi đâu anh em cũng đi theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ
anh em ...
Tuấn định thốt một lời an ủi, hay trấn an nhưng bàn tay trung sĩ Hiến đã buông rơi khỏi cổ chân anh, đầu ngoẹo sang một bên, mắt nhắm nghiền như đi vào một giấc ngủ. Anh lay mạnh vai Hiến:
- Anh Hiến! anh Hiến!
Chỉ có tiếng gió ngàn xào xạc đáp lại. Rừng chiều hửng nắng ở những đồi xa. Sắc bỗng vỗ vào cạnh sườn Tuấn và chỉ về hướng trảng cỏ tranh. Lố nhố một đoàn quân dàn hàng ngang đang tiến lên đồi của anh. Họ vận kaki xanh, nón tai bèo, súng kẹp nách, vai đeo ba lô. Hai thầy trò vội lom khom chạy về phía triền dốc, rồi di chuyển về hướng Bắc men theo sườn đồi.
Ði được một giờ, vượt qua vài con suối, mấy quả đồi thấp, Tuấn dừng lại xem bản đồ, đoạn bảo Sắc đổi hướng, đi về đông theo phương giác 1800. Năm giờ chiều. Ðêm rừng bao giờ cũng đến nhanh. Trong ánh sáng nhá nhem hai thầy trò kẻ trước người sau cứ tiếp tục luồn lách qua cây lá, bụi rậm. Rồi sực nhớ phải có một độ quan sát tối thiểu mới có thể chọn một vị trí ngủ đêm an toàn, Tuấn khẽ nói với người toán viên đồng hành:
- Ta lên đỉnh đồi trước mặt tìm chỗ nghỉ đêm.
Mới hơn bốn giờ sáng Tuấn đã thức giấc. Bao giờ người lính hành quân cũng thức giấc sớm, vì giấc ngủ đến vào khoảng bảy giờ chiều thay vì một hai giờ sáng ở những "đêm đô thị". Trời còn tối mịt. Anh nằm nghe ngóng một lát, đoạn đưa tay sờ lưng võng của Sắc. Một giọng nói rất khẽ:
- Ông thầy thức rồi hả?
Rồi ánh sáng nhờ nhờ đổi dần sang trắng đục. Rồi mọi vật bỗng hiện rõ trước một ngày đang lên. Có vài tiếng chim hót. Có vài tiếng hú đâu đó bên một ngọn đồi khác, rồi không biết bao nhiêu tiếng hú cất lên vang cả một vùng đồi núi, cơ hồ như tiếng hú này lây sang tiếng hú khác, và cứ thế truyền đi khắp nơi. Tuấn đã quá quen với các tấu khúc bình minh của rừng núi. Hai người cuốn võng bỏ vào ba lô, dọn dẹp "sạch sẽ" chỗ đất dưới chân, lùa mớ lá cây chung quanh phủ lên, không để lại một dấu vết nào có thể tố cáo sự hiện diện của hai thầy trò. Sắc mở một bịch gạo sấy, rót nước từ bi-đông vào bao làm một bữa ăn sáng. Tuấn chẳng thấy đói, tuy suốt ngày hôm qua anh chỉ ăn có một gói cơm sấy vào buổi sáng. Tâm trí anh quay về với những gì đã xảy ra. Bị lộ, trận oanh kích, những xác đồng đội bị bỏ lại, và bây giờ hai nguời lạc lỏng giữa rừng không máy móc liên lạc để biệt đội biết tung tích. Anh có trách nhiệm gì với những thuộc cấp vừa ra đi vĩnh viễn kia? "Ông thầy đi đâu anh em cũng theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ anh em ..." Tuấn thấy miệng đắng khi nuốt nước bọt. Anh thèm một điếu thuốc, và một ly cà phê. Anh nhìn Sắc đang ngồi ăn, nhìn xuống khẩu M 18 gác trên đùi mình, ngước nhìn bầu trời xanh biếc ban mai. Sắc vụt hỏi:
- Bây giờ tính sao, ông thầy?
- Không có máy móc, không biết ở nhà thế nào, còn ở nhà cũng chẳng biết mình sống chết ra sao. Cứ tiếp tục đi về hướng Ðông, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, càng gần nhà càng tốt. Có trực thăng thì trãi pa-nô cho nó thấy mình. Thế nào biệt đội cũng cho máy bay đi tìm.
- Cha con nó bị thiệt hại nặng. Hai chiếc A 37 đánh hiệu quả thật. Sườn đồi bên kia và trảng cỏ tranh lãnh trọn mấy trái bom. Em thấy chung quanh chỗ ông Hiến nằm ít nhất cũng cả chục xác nằm la liệt. Ông thầy có để ý không? Ðợt bom đầu tiên chận đứng ngay cuộc tấn công. Em nghĩ có lẽ chúng kêu phòng không đến tiếp cứu sau này, vì suốt trong khi oanh kích đâu có khẩu mười hai ly bảy nào hoạt động đâu.
Tuấn đồng ý với phần lớn những lập luận của Sắc, nhưng anh chẳng thấy hứng thú bàn luận về chiến trận vừa qua. Tỷ số tử vong của chiến trường và tỷ số tử vong của lòng mình, cái nào làm nên chiến thắng? Ðợi cho người lính ăn xong và đào đất lấp mọi dấu vết, Tuấn đề nghị lên đường.
Sang đến ngày thứ ba hai người vẫn tiếp tục băng rừng, ngày đi đêm nghỉ. Còn khoảng hai chục cây số đường chim bay nữa mới về đến bộ chỉ huy của Liên Ðoàn. Cả hai đều thấy ngao ngán. Hai mươi cây số đường chim bay, điều đó có nghĩa là bốn, năm mươi cây số đường núi, mà tốc độ di chuyển băng rừng - chứ không phải theo theo đường mòn - có nhanh lắm cũng chỉ đạt tới bảy cây số một ngày.

Hai mươi cây số đường chim bay, điều đó có nghĩa là bốn, năm mươi cây số đường
núi mà tốc độ di chuyển băng rừng có nhanh lắm cũng chỉ đạt tới 7 cây số một ngày.

Nhưng điều bất ổn trong lòng họ không phải đường về dịu vợi, đầy đe dọa, bất trắc, lương thực cạn. Cái bất ổn là không trung vắng lặn. Từ cái buổi sáng đầu tiên sau khi bỏ ngọn đồi và đồng đội ở lại anh và Sắc không hề thấy thấp thoáng, dù xa, bóng dáng một chiếc máy bay. Lạ thật. Không một chiếc trực thăng, không một chiếc L 19, không một chiếc vận tải, không một chiếc oanh tạc cơ phản lực, thậm chí không một chiếc máy bay dân sự, không có gì ráo trên bầu trời quang đảng. Chưa bao giờ như thế, ít ra từ ngày Tuấn vào lính; chưa bao giờ có một ngày không có một hoạt động nào của không quân. Anh ngồi nghỉ mệt trên một ngọn đồi, tựa lưng vào một thân cây, dựng súng bên cạnh. Sắc ngồi xếp bằng trên mặt đất, cạnh Tuấn. Người lính cảm thấy bồn chồn khi nhìn vẻ tư lự của người chỉ huy. Anh ta không dám hỏi bất cứ điều gì lúc này. Tại sao bầu trời vắng lặng thế này? Sao không nghe một tiếng đại bác, một tiếng bom nổ xa xa? và vân vân. Cuối cùng, không nén nổi những băn khoăn trong lòng, Sắc lên tiếng:
- Em thật không hiểu nổi. Chắc có chuyện gì đây, chứ không thể nào Liên Ðoàn đem con bỏ chợ như thế này.
- Tao cũng chịu thua, không hiểu nổi. Ðành rằng mình không có phương tiện liên lạc, không biết tình hình ở nhà hay các đơn vị bạn ra sao, nhưng Liên Ðoàn vẫn có thể cho trực thăng đi tìm. Ðằng này bặt vô âm tín. Mà cái điều lạ lùng nhất là không có bóng dáng một chiếc máy bay nào cả, chứ đừng nói trực thăng C&C của biệt đội. Tao cũng nghĩ như mày: chắc có biến cố gì đây. Ðiều cần nhất bây giờ là bằng mọi cách phải gắng về tới bộ chỉ huy Liên Ðoàn. Mầy còn mấy gói gạo sấy?
- Dạ ba gói, và không tới nửa chai xì dầu.
- Tao còn năm gói. Tao sẽ đưa thêm cho mày một gói. Mỗi thằng như vậy có bốn gói.Tao ước tính từ đây về tới Liên Ðoàn có thể mất sáu, bảy ngày nữa. Bây giờ tao tạm ấn định kỷ luật dùng lương khô là mỗi thằng chỉ được ăn nửa gói một ngày. Cố gắng chịu đựng như vậy thì mới đủ sức mà lết về tới nhà. Tao nói sáu, bảy ngày là trong giả thuyết di chuyển vô sự, không đụng địch.
Ðiều Tuấn nói sau cùng nhắc lại sự bất an của hai người. Trong ba ngày qua thầy trò anh đã né tránh mấy đoàn quân dài dằng dặc. Trong đời nhảy toán của mình Tuấn chưa bao giờ thấy địch chuyển quân rầm rộ như thế. Một điều lạ lùng nữa là những đoàn người cứ nườm nượp hướng về Ðông, cùng chiều với anh và Sắc, chỉ khác là họ dùng đường mòn. Tuấn đứng dậy tháo ba lô đặt xuống đất, lôi một gói gạo sấy đưa cho Sắc, đoạn cả hai lên đường.
*
* *
Tuấn nhìn đồng hồ tay: ba giờ chiều. Tuy gần cuối ngày, cái nắng như nung như đốt của tiết trời miền Nam đầu tháng Năm vẫn chưa dịu đi chút nào. Ðưa bi đông lên miệng tu một ngụm nước xong, anh xoay xoay tấm bản đồ, nhìn thật kỷ những vòng cao độ nâu lẫn xanh nhạt, rồi ngước nhìn địa thế chung quanh. Cho chắc chắn, anh mở cái địa bàn, xoay cho hướng bắc của bản đồ trùng với hướng mũi tên của địa bàn, đoạn anh đối chiếu chi tiết bản đồ với địa thế một lần nữa. Anh hân hoan nói với Sắc:
- Tới vùng Tân Uyên rồi!
- Chắc không, ông thầy?
- Bảo đảm!
Hai thầy trò bỗng thấy khỏe khoắn trong người, mặc dù mới trước đó mấy phút họ cảm thấy gần kiệt sức sau sáu ngày băng rừng lội suối với những cơn đói triền miên làm bủn rủn chân tay, hoa cả mắt. Nhìn lại đoạn đường dài gian nan, hiểm nguy, Tuấn thấy thương hại Sắc. Hắn ta to con, ăn khỏe, nên trong mấy ngày qua quả thật là một chuỗi ngày khốn khổ "tận cùng bằng số" đối với hắn. Tuấn bảo:
- Bây giờ mày có thể ăn nốt nửa bịch gạo sấy cuối cùng cho đỡ đói. Còn vài cây số nữa là tới chi khu rồi, tha hồ mà gọi mì, phở, hủ tiếu...
- Lạ thật, không thấy thèm nữa ông thầy ơi. Thôi, mình đi lẹ tới chi khu đặng báo Liên Ðoàn đón.
Hai người lội qua một con suối, tiếp tục đi về Ðông. Họ bước đi vững vàng hơn những ngày còn lếch thếch giữa rừng. Sau khoảng một tiếng đồng hồ di chuyển, nhìn xuyên qua một khoảng rừng thưa, hai người thoáng thấy mấy nóc nhà lợp tôn của chi khu Tân Uyên ở tít đằng xa, bên kia sông. Cùng với bước tiến của Tuấn và Sắc, mọi vật rõ dần. Rồi lá cờ phấp phới trên trụ cờ tuy vẫn còn mờ mờ trong quãng xa nhưng đã đủ để thấy không phải lá cờ vàng ba sọc đỏ quen thuộc. Hai người không tin nổi mắt mình: làm thế nào mà lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao ở giữa lại ngang nhiên tung bay nơi này. Thầy trò nhìn nhau, nhưng mỗi người theo đuổi những suy nghĩ riêng. Sắc bỗng vỗ vai Tuấn chỉ về phía con sông trước mặt, vẫn ở nẽo xa và chen vào giữa khoảng cách từ chỗ họ đến chi khu: vài chiếc ghe cũng treo loại cờ đó. Nhìn qua mấy mái nhà tranh gần bờ sông cũng lại thấy những lá cờ đó. Sắc khẽ nói:
- Chắc chúng chiếm vùng Tân Uyên rồi. Không khéo Biên Hòa cũng di tản chiến thuật nốt.
Tuấn nói, để tự trấn an hơn là làm yên lòng người thuộc cấp:
- Không thể có chuyện đó được.
Chợt nhìn bên trái, qua một khoảng rừng chồi lưa thưa, thấy có mấy người nông dân đang cuốc đất trong một thửa ruộng, anh chợt nẩy ra ý nghĩ đến tiếp xúc họ để dò hỏi tình hình. Tiến sát mãnh ruộng, để Sắc ngồi lại trong một bụi cây yểm trợ, Tuấn cầm khẩu M 18 trong tay phải, bước đến bên bốn người đang làm việc đồng áng. Họ ngừng tay, nhìn anh chằm chặp. Tuấn hỏi người lớn tuổi nhất trong nhóm người, một ông già khoảng năm mươi, xương xẩu nhưng còn nhanh nhẹn:
- Thưa Bác, hình như chi khu đã rút đi rồi, phải không ạ?
Gương mặt thoáng bối rối, ông nhìn Tuấn từ đầu đến chân rồi nói rất khẽ:
- Chú là biệt kích 81 trong rừng mới ra hả?
- Dạ phải.
- Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng từ năm, sáu ngày nay rồi, từ hôm ba mươi tháng Tư. Ai nấy đều buông súng trở về nhà hết. Chính phủ Cách Mạng chẳng làm khó dễ gì cả. Anh em còn bao nhiêu người?
Tuấn chẳng còn nghe rõ ông già hỏi gì nữa. Anh cúi đầu rất lâu. Giòng ý thức của anh bỗng như ngừng lại - không hẳn là nó đặc quánh lại, cũng không hẳn nó trống rổng, chỉ biết nó tuồng như không còn khả năng suy nghĩ rõ ràng, mạch lạc nữa. Tuấn có cảm tưởng sau bao nhiêu suy đoán, thắc mắc, giờ đây được thực tế trả lời, trí não mình bỗng thấy "no" rồi, không đòi hỏi nữa, cũng không nhận dữ kiện nào từ ngoại giới nữa! Sắc từ trong bụi vội bước ra. Nhìn dáng điệu của người toán trưởng anh đã đoán tình hình hẳn là rất xấu. Trong ánh mắt ái ngại, ông cụ lặp lại cho người lính thứ hai nghe:
- Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng hôm ba mươi tháng Tư rồi. Các chú nên bỏ súng ống đi, trở về gia đình thôi.
Ðến lược Sắc đứng đờ người ra. Lúc ngồi trong bụi anh đã đoán tình hình phải xấu, anh đã lờ mờ phát họa một vài viễn anh tệ hại, nhưng "xấu" như ông già này cho biết thì thật vượt quá xa dự tưởng của anh.
Ðột nhiên Tuấn ngước lên chào từ giã:
- Tụi cháu cám ơn Bác. Thôi, tụi cháu về.
Tuấn bước đi trước, và Sắc theo sau. Họ tiến về phía bờ sông. Hai người đứng nhìn giòng sông êm ả, trong vắt một hồi lâu. Rồi Tuấn nhìn Sắc, ngập ngừng vài giây, nói với một giọng hơi lạt đi, nhưng không kém dứt khoát:
- Qua bên kia sông, có thể đi bộ ra đến xa lộ, từ đó đón xe về Sài Gòn. Sắc, thôi thầy trò mình chia tay. Kể từ giờ phút này tao không còn là trưởng toán của mày nữa. Cứ tự do về với gia đình. Tao chỉ muốn nói một điều. Trong những ngày mày theo toán, nếu tao có làm những gì khiến mày buồn lòng, hoặc vì trách nhiệm, hoặc vì sai lầm, tao mong mày bỏ qua cho. Cầu chúc mày thật nhiều may mắn.
Sắc cố bậm môi để giữ cho miệng khỏi bị méo xệch. Anh ta muốn nói cả nghìn lời nhưng không thốt được một tiếng. Cúi gầm mặt xuống một lúc như cố đè cơn xúc động cứ chực bật ra thành tiếng nấc, cuối cùng anh ta hỏi:
- Còn ông thầy?
- Tao không thể bỏ toán còn nằm lại trong đó.
- Nhưng họ chết hết rồi mà.
- Chính vì vậy mà tao thấy mình không thể về nhà được. Lời nói sau cùng của trung sĩ Hiến rất đúng.
Tuấn ngập ngừng một lát, định nói thêm điều gì nữa nhưng lại thôi. Anh sẽ mang những đắng cay trong lòng mình vào rừng núi. Có lẽ anh chỉ cần nói điều đó với toán của anh vẫn còn lại trong rừng: người lính ở đâu cũng thế, chỉ là công cụ; thắng bại không phải do họ định đoạt, và vinh quang của chiến thắng cũng không thuộc về họ - có thuộc về họ chăng chỉ là những đau khổ của chiến bại và của hy sinh!
Tuấn quay lưng đi về hướng khi nãy hai thầy trò từ trong rừng ra. Trong một thoáng cõi lòng Sắc như hứng chịu bão táp tơi bời từ mọi hướng. Tìm về xa lộ sao ngập ngừng bước chân. Anh muốn rão bước theo sau người toán trưởng, nhưng hình ảnh những đường phố Sài Gòn thân thuộc giờ đây không xa lắm như níu chân anh, dù anh nghĩ nơi ấy chắc cũng đang phấp phới những lá cờ này. Rồi hình ảnh mẹ anh hiện ra thật rõ và bao trùm cả không gian. Sắc gọi:
- Ông thầy!
Tuấn quay lại. Sắc đứng ở thế nghiêm, đưa bàn tay phải lên ngang mày chào. Tuấn chào đáp lễ, đoạn quay gót tiến bước. Người lính đứng nhìn theo cái dáng gầy, phong sương xa dần rồi khuất sau ngàn lá. Anh ta lại nhìn những dãy núi xa xa ở chân trời.

... cái dáng gầy, phong sương xa dần rồi khuất sau ngàn lá.

Núi ở chân trời bao giờ cũng xanh lơ. Chắc toán của anh đang nằm trên một trong những dãy núi đó. Chắc người trưởng toán lại trèo lên nơi ấy. Sắc không sao ngăn nổi mấy giọt nước mắt từ từ lăn xuống, quyện với mồ hôi làm lưỡi anh mặn chát.

Hà Kỳ Lam

Sunday, August 19, 2018


. . . 
"Lộ trình tiến quân của cánh chủ lực với trung đoàn 24 CSBV đi đầu đã đụng độ dọc theo hướng tiến quân, gần Củ Chi, cầu Bông, thành Ông Năm, TTHL Quang Trung. Chiều ngày 29/4, trung đoàn đã vượt qua cầu Tham Lương vào đến Bà Quẹo. Cường độ chiến trận tại đây đã được tài liệu của CS ghi lại như sau (3) :
“Trong cơn hấp hối, quân ngụy Sài Gòn ngoan cố dùng máy bay, pháo binh ném bom, bắn phá ngay trên đường phố, gây nhiều tội ác với đồng bào ta. Tại ngã ba Bà Quẹo, Bộ Tổng tham mưu ngụy đã tung lực lượng lính dù cùng xe tăng, xe thiết giáp ra ngăn chận. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra ác liệt, 20 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 đã ngã xuống, ba xe thiết giáp bị cháy. Trung đoàn cao xạ 234 kéo pháo theo sát đội hình hành tiến của bộ binh và xe tăng, bắn rơi ba máy bay địch, diệt bảy ổ đại liên trên các nhà tầng. Từ 18 giờ đến 19 giờ 30, địch ba lần dùng xe tăng, xe bọc thép kết hợp bộ binh phản kích. Song cả ba lần chúng đều bị các chiến sĩ bộ binh và xe tăng ta đánh bại, buộc chúng phải lùi về tuyến trong. Chỉ huy Trung đoàn 24, kịp thời điều đại đội 7 tiểu đoàn 5 cùng hai khẩu ĐKZ-75 áp sát ngã tư Bảy Hiền. Đến 21 giờ ngày 29 tháng 4, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 tiến cách sân bay Tân Sơn Nhất và bộ Tổng tham mưu ngụy khoảng 2km”.
      Khu vực lân cận cầu Tham Lương là vùng trách nhiệm của lữ đoàn 3 Dù, LĐT là Trung tá Trần Đăng KhôiÔng chỉ huy 3 tiểu đoàn (4) :
· Tiểu đoàn 2 do Thiếu tá Trần Công Hạnh làm TĐT
· Tiểu đoàn 3 do Thiếu tá Lã Quí Trang làm TĐT
· Tiểu đoàn 6 do Thiếu tá Nguyễn Văn Thành làm TĐT.
      Chiến trận tại cầu Tham Lương đang diễn ra thì tiểu đoàn 2 được lệnh của BTL/BKTĐ rút về hướng ngã tư Bảy Hiền. Tại đây tiểu đoàn 2 Dù đang phản công bắn cháy các chiến xa của CS từ hướng Bà Quẹo tiến vào thì được lệnh buông súng đầu hàng.
      Tinh thần chiến đấu của QLVNCH tại ngã tư Bảy Hiền và trong phi trường TSN đã làm ngạc nhiên những người lính CS (6) :
    “Sau ba mươi năm, nhớ lại những trận đánh diễn ra trong buổi sáng ngày 30 tháng Tư, trong tâm trí tôi vẫn còn thấy nặng nề nỗi khó hiểu về cuộc kháng cự ngoan cố, cực kỳ vô nghĩa và vô ích của những toán quân ngụy cuối cùng. Đến sáng hôm ấy tình thế của ‘Việt Nam Cộng Hòa’ đã rõ ràng là vô phương cứu vãn, để được sống thì người có lý trí chỉ còn một cách duy nhất là buông súng đầu hàng. Vậy mà đám tàn quân ấy như hóa dại vẫn điên rồ cố thủ, gây đổ máu thật nhiều cho chính họ và cho quân ta đến tận phút cuối cùng. Đặc biệt quái gở là trong bọn họ không hề có bóng dáng sĩ quan cao cấp. Các ông tướng thì lẽ dĩ nhiên là đã chuồn sạch từ lâu, nhưng cả cấp tá cũng chẳng còn lại một ma nào. Tử thủ tại các chốt ở ngã tư Bảy Hiền, ở cổng số 5 sân bay và trong sân bay chỉ toàn lính trơn với hạ sĩ quan do những trung úy, thiếu úy chỉ huy.
Phải mất non hai tiếng đồng hồ cận chiến qua từng ngôi nhà, C7 mới mở thông được ngã tư Bảy Hiền. Đại đội trưởng Tư hy sinh khi dẫn đầu đợt xung phong giáp lá cà nhằm dứt điểm bọn dù chốt trong nhà thương Vì Dân. Đại đội phó, chính trị viên trưởng và phó đều bị thương. Trần Thường, B trưởng B2 nắm quyền chỉ huy đại đội. Gần hai chục cán bộ chiến sĩ thương vong ở Bảy Hiền, tổn thất nặng nề ấy của đại đội khiến lính tráng sôi máu, muốn truy diệt đến cùng những tên dù cuối cùng. Nhưng lệnh chỉ huy buộc anh em bỏ qua bọn tàn quân để dốc toàn lực tấn công vào sân bay. Từ ngã tư Bảy Hiền, K5 của E24 đánh cắt ngang qua Tân Phú Hòa tấn công cổng số 5, K4 và K6 tấn công cổng số 4. Trung đoàn 28 theo đường Võ Tánh qua Lăng Cha Cả tấn công Bộ Tổng tham mưu. Trung đoàn 66 xuôi đường Lê Văn Duyệt tiến vào trung tâm thành phố.
Gần một giờ vượt qua hỏa lực đại bác bắn chặn dữ dội, xe tăng và bộ binh tiểu đoàn 5 mới áp sát phi trường Tân Sơn Nhất. Trận đánh công kiên vào Cổng số Năm, trận giao chiến lớn chót cùng của cuộc chiến tranh ba chục năm trời, đã diễn ra vào lúc 9 giờ sáng ngày 30. Tại đây bọn dù dồn quân lại chống cự quyết liệt. Hỏa lực của chúng rất mạnh và lợi hại. Hàng chục ổ súng máy và ĐK đặt trên các sân thượng, tháp nước, ô cửa sổ nhà cao tầng điên cuồng nhả đạn. Xe tăng M.48 phục trong các ngõ ngang xông ra phản kích. Mũi đột kích của quân ta bị chặn lại rồi bị đẩy lùi. Ba chiếc T.54 bị tên lửa chống tăng điều khiển bằng hữu tuyến đặt trên tháp nước bắn cháy. Đạn trong xe nổ cản hẳn đường tiến của tiểu đoàn 5.
Tiểu đoàn trưởng điều C5 cùng bốn T.54 lên tăng cường cho C7 tiếp tục đột phá để giành lấy một đầu cầu, nhưng hơn nửa giờ đồng hồ quân ta vẫn không nhích lên được. Trung đoàn đưa hai khẩu 85 ly nòng dài lên sát cửa mở nhằm bắn trực diện những ổ hỏa tiển chống tăng. Nhưng cả hai khẩu pháo chưa kịp bắn phát nào đã bị cối địch nã trúng, anh em pháo thủ thương vong gần hết.
Trong giờ phút cam go và khốc liệt ấy, quyền đại đội trưởng Thường chỉ huy chúng tôi, lực lượng còn lại của C7, vu hồi qua cả một dãy gần chục ngôi nhà đang bốc cháy dữ dội. Đại đội như bơi qua con sông lửa bất ngờ hiện ra đánh tạt sườn tiểu đoàn dù. Vì chúng tôi đã áp vào quá gần nên hỏa lực mạnh của địch bó tay, ngay cả đại liên cũng không kịp xoay nòng bắn cản. Quân dù buộc phải cận chiến và ngay lập tức vỡ trận. Xe tăng ta được mở thông lối nhanh chóng tràn lên. Đúng 11 giờ Cổng số Năm phi trường mở toang ra. Nhưng mười anh em C7 đã hy sinh khi vượt qua dãy phố bị cháy. Thường cũng đã nằm lại trong dòng sông lửa ấy. Chúng tôi những người nhoai ra được cũng hầu hết bị bỏng, tóc tai mặt mày cháy xém.
Quân dù chạy tản vào sân bay và vẫn tiếp tục chống trả. Các đại đội của trung đoàn 24 cùng các phân đội xe tăng trung đoàn 273 đánh địch liên tục qua các khu vực phòng thủ của Sư bộ sư đoàn 5 không quân, Bộ tư lệnh dù, khu ra đa, khu cố vấn. Trung đoàn trưởng Vũ Tài trực tiếp chỉ huy K6 phát triển nhanh đến trại David [sic] để hội quân với đoàn quân sự của tướng Hoàng Anh Tuấn. Đến đúng 11 giờ 30 thì anh em tiểu đoàn 6 đã kéo được lá cờ Quyết Thắng của quân đội ta lên đỉnh cột cờ Bộ tư lệnh không quân.
Song, đến chiều chúng tôi mới dứt điểm được ổ đề kháng cuối cùng của địch trong sân bay. Không phải là một cái boong-ke bê tông cốt thép mà chỉ là một cái ụ đắp bao cát nằm cách xa phi đạo. Một khẩu M.60 với chừng chục tay súng AR15, vậy thôi, nhưng quái gở thay, nhất quyết tử thủ. Bấy giờ chúng tôi đã biết tin Dương Văn Minh đầu hành, dinh Độc Lập và Sứ quán Mỹ đã vào tay quân ta, nên kiên trì dùng loa gọi hàng. Nhưng những tên lính kỳ quái đó đáp lại bằng hàng tràng súng máy và M.79. Một chiếc T.54 được điều tới. Họng ĐK.100 ly to tướng, đen ngòm từ khoảng cách 200 thước trực chỉ cái ụ súng ngoan cố ấy. Hàng đi, mau lên! Lính ta cả dùng loa cả bụm tay lại hét ầm lên. Thật không thể tin được, bọn trong ụ súng thẳng thừng bắn ra liên tiếp hai trái chống tăng M72. Đường đạn đi sát sạt tháp pháo!
Chiếc T.54 ngắm kỹ và chỉ nã độc một phát, nhưng không cố tình bắn tiêu diệt nên đã dùng đạn xuyên. Đấy có lẽ phát đạn pháo cuối cùng của cuộc chiến. Phát đạn như sét đánh xé rách bờ công sự rồi xuyên qua chứ không làm nó nổ tung. Một nửa số người cố thủ trong đó chỉ bị thương, dù là bị thương nặng do sức ép khủng khiếp của quả đạn 100 ly bay sát qua mặt, nhưng vẫn là còn được sống.
Lúc ấy vừa đúng 14 giờ 30 phút ngày 30 tháng Tư”.
      Trong khi đó, trung đoàn 28 CSBV theo TL-15 qua Bến Cỏ. Khi vượt qua cầu Xáng, chiến xa đã làm sập cầu vì không tính trước được tải trọng (xem Sơ đồ 7). Toàn cánh quân phải trở lại Đồng Dù qua TL-28 và dùng cầu Bông để vào Sài Gòn. Tài liệu của CS cho rằng lực cộng hưởng đã làm sập cầu (3). Khi phải hành quân trên các trục lộ giao thông, nhất là phải vượt qua cầu cống thì phải hoạch định đường vòng tránh (bypass). Tuy nhiên nếu không giải quyết được vì một lý do nào đó thì phải dự phòng tải trọng của cầu, ngoài ra còn phải tính toán lực cộng hưởng. Một toán quân theo nhịp bước quân hành hay một đoàn xe cơ giới với khoảng cách nào đó khi di chuyển qua cầu sẽ tạo ra một tần số cộng hưởng lớn, mặc dù giới hạn về tải trọng vẫn chưa bị vượt qua, cầu vẫn bị sập nếu tần số do cộng hưởng cao hơn tần số khi thiết kế cầu. Dù cầu sập vì bất cứ nguyên nhân nào cũng đều cho thấy bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh đã sai lầm khi hoạch định kế hoạch vượt sông, qua cầu.
      Tài liệu công binh của CS đã nói lên những điểm vô lý về khả năng cũng như về phương tiện vượt sông lúc bấy giờ của quân đội CSBV (7) :
“Nhưng đến cầu Sáng thì bị trở ngại. Do cầu yếu, chỉ có hai xe tăng qua được cầu, chiếc thứ ba không qua được vì cầu gãy. Công binh tổ chức ghép phà nhưng lòng sông quá hẹp, phà không quay đầu được phải chuyển sang bắc cầu nổi. Sáng ngày 30 tháng 4 cầu bắc xong. Đội hình thọc sâu của quân đoàn phải chuyển đường khác để tiến vào Sài Gòn”.
      Cho rằng cầu sập do tác dụng cộng hưởng là vô lý vì như đã biết ở trên số chiến xa quá ít cũng như chiều dài cầu ngắn nên không thể tạo đủ lực công hưởng làm sâp cầu được. Cầu bị sập là do chính trọng lượng của chiến xa.
      Một sĩ quan cao cấp của CS trong khi phân tích các kinh nghiệm thu đạt được trong chiến dịch HCM đã cho rằng kỹ luật hợp đồng binh chủng rất nghiêm tại cầu Xáng, kết thúc trận đánh đúng thời gian khiến nhanh chóng đè bẹp được quân địch ! (8).
      Khiếm khuyết trong việc tính toán vừa nói trên cùng với việc cho rằng các trung đoàn đặc công đã được phân nhiệm để chiếm giữ các cầu trước khi các cánh quân chính vào Sài Gòn, nhưng trong thực tế đặc công không thực hiện được đã cho thấy chiến dịch HCM đã thành công dễ dàng không phải do tài ba của những người soạn thảo kế hoạch hành quân.
      Sáng sớm ngày 30/4, trung đoàn 24 tấn công ngã tư Bảy Hiền (xem Sơ đồ 8). Chiến sự trong khu vực lân cận đã được Thiếu tá Phạm Châu Tài, nguyên CHT bộ chỉ huy 3 chiến thuật của liên đoàn 81 biệt cách dù kể lại (9) :
    “Cùng ngày 30/4/75 lúc 2 giờ sáng, trận chiến tại cổng phi trường Tân Sơn Nhất, bộ Tổng Tham Mưu vẫn tiếp tục giữa VC và các đơn vị của LĐ81/BCND. Các chốt của LĐ81/ BCND phía sau cổng bộ Tổng Tham Mưu đã dùng lựu đạn mini để ngăn chận các toán đặc công của Việt Cộng đang tìm cách đột nhập. Lựu đạn và chất nổ được xử dụng tối đa, sau 1 giờ rưỡi giao tranh VC không tiến được đành rút lui khỏi cổng sau của bộ Tổng Tham Mưu.
Đến 6 giờ sáng 5 chiến xa T-54 và đoàn quân tùng thiết của VC trên đường tiến vào Sài Gòn đã bị lực lượng của Sư Đoàn Nhảy Dù và Liên Đoàn 81/BCND chận đánh trước cổng phi trường Tân Sơn Nhất, 4 chiến xa của VC bị phá hủy, chiếc sau cùng quay trở lại chạy thoát.
Các biệt đội của LĐ81/BCND trấn thủ trước cổng bộ TTM là biệt đội 817 do trung úy Lê văn Lợi chỉ huy, và biệt đội 818 do đại úy Nguyễn Ánh chỉ huy.
7 giờ sáng một đoàn chiến xa khác của Việt Cộng hướng vào cổng chính bộ Tổng Tham Mưu. Một toán của LĐ81/BCND phòng thủ trên cao ốc đã dùng M72 bắn cháy chiếc đầu tiên, chiến thứ 2 đã dùng súng đại bác trên pháo tháp bắn vào cao ốc làm tê liệt tuyến phòng thủ đó, nhưng chiến xa này cũng bị bắn cháy trước cổng bộ Tổng Tham Mưu do quân nhân thuộc biệt đội 817 của trung úy Lê văn Lợi”.
      Một sĩ quan cao cấp của QLVNCH cũng cho biết ông đếm được tất cả 13 chiến xa của CS bị nhảy dù bắn hạ dọc theo đường từ Củ Chi về đến Lăng Cha Cả (10).
... 
Trong giai đoạn sau cùng của chiến tranh, quân đội CSBV đưa vào Nam hai sư đoàn cùng mang phiên hiệu 320. Sư đoàn 320A thuộc quân đoàn 3 tham dự mặt trận hướng tây-bắc Sài Gòn trong khi sư đoàn 320B (TL sư đoàn là Lưu Bá Xảo) thuộc quân đoàn 1 được giao nhiệm vụ thọc sâu vào Sài Gòn, đánh chiếm dinh Độc Lập (Tiến sĩ Phạm Huy Dương & Thạc sĩ Phạm Bá Toàn, Chiến Dịch Hồ Chí Minh - Trang Sử Vàng Qua Các Trận Đánh, trang 619; nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2005).
[2] Tư lệnh sư đoàn 25 BB là Chuẩn tướng Lý Tòng Bá và Tư lệnh phó là Đại tá Trương Thắng Chức. BTL/SĐ đặt tại căn cứ Đồng Dù, nằm trên quốc lộ 1 từ Sài Gòn đi Tây Ninh (Lý Tòng Bá, Hồi Kí 25 Năm Khói Lửa Của Một Tướng Lãnh Cầm Quân Tại Mặt Trận, trang 190; tác giả xuất bản, California, 1995). Đồng Dù trước đây là căn cứ của sư đoàn 25 BB Mỹ, được thiết lập khoảng giữa tháng 6/1966 với diện tích khoảng 1500 mẫu tây (T Mangold & J Penycate, The Tunnels of Cu Chi, trang 138; Pan Books Ltd., London, 1985). Mặc dù nằm trong khu vực có nhiều địa đạo, căn cứ Đồng Dù không bị VC tấn công trong thời gian đầu (E M Bergurud, Red Thunder Tropic Lightning - The World of a Combat Division in Vietnam, trang 32; Westview Press, Inc., Colorado, 1993). Ngày 15/12/1970, căn cứ được bàn giao lại cho sư đoàn 25 BB/QLVNCH trong kế hoạch VNHCT (E M Bergurud, The Dynamics of Defeat - The Vietnam War in Hau Nghia Province, trang 289; Westview Press, Inc., Colorado, 1991).
[3] Cầu Bông vì tọa lạc bên cạnh vườn hoa quí và lạ của đức Tả quân Lê Văn Duyệt. Lúc ban đầu gọi là cầu Hoa. Vì kỵ húy nên được đổi lại là cầu Bông năm 1841. Cầu còn có tên là cầu Cao Miên vì nằm trên đường đi qua xứ chùa tháp.
[4] Cầu Bông hay cầu An Hạ là cầu bằng bê-tông, lòng cầu tráng nhựa, nằm trong địa phận chi khu Đức Hòa trong khi cầu Xáng hay cầu Lương Hòa ngắn và nhỏ hơn, kiến trúc Eiffel bằng sắt, lòng cầu lót gỗ, thuộc vùng trách nhiệm của tỉnh Gia Định. Cả hai cầu do ĐPQ & NQ canh gác (Điện thoại viễn liên với cựu Thiếu tá Tô Công Thất, nguyên CKT chi khu Đức Hòa, ngày 20/10/2007). Kiến trúc Eiffel khiến người ta có thể đoán được ngay rằng cầu Xáng không thể chịu nổi sức nặng của chiến xa. Thế nhưng BCH chiến dịch HCM lại không biết !
[5] Theo ước đoán của vị sĩ quan này thì lúc đó là vào khoảng 13-14 giờ ngày 29/4/1975.
[6] Nguyễn Đức, Sư đoàn 320 với Tổng tiến công Mùa Xuân 1975 (phần 3); http:// www.qdnd.vn /qdndsite /vi-vn /61 /43 /122 /122 /122 /45506 /Default.aspx, 23/3/2013.
[7] Truyện ngắn của lính - Vũ Công Chiến và các bạn; http:// www.vnmilitaryhistory.net /index.php? topic=3008.10;wap2, 23/3/2013.
[8] Đại tá Lê Văn Phú là CHT Trường BB Long Thành.
 


 
[9]
 Cầu nay nằm trong địa phận phường Tây Thạnh, huyện Tân Phú, thành phố HCM. Ảnh chụp sau chiến tranh.

[10] Thiếu tướng Nguyễn Hữu Mão, 29-4-1975: Đập tan phòng tuyến địch ở căn cứ Đồng Dù.
http:// www.sggp. org.vn /vanhoavannghe /2010 /4 /224367, 2/5/2010.
Nguồn : http://www.quocgiahanhchanh.com/mattran_taybac.htm