Showing posts with label cải tạo tư sản. Show all posts
Showing posts with label cải tạo tư sản. Show all posts

Saturday, October 31, 2020

 NƯỚC MẤT THÌ NHÀ TAN

Biệt thự 6-8 đường Đỗ thành Nhơn quận 4 của gia đình tôi.

Chuyện tôi đi lính, cầm súng, đánh nhau với VC, thua trận phải đi tù là chuyện thường. Cái đáng nói là những chính sách ĐỘC ÁC mà VC đã áp dụng đối với những ai giàu có hay tiểu thương dù họ ko dính líu đến chế độ cũ.
Tôi xin đưa vài VD.
1/ Sau 30.4.75, là một trong những hảng thầu (construction firm) rất lớn ở VN, toàn bộ các kho bãi và máy móc cơ giới (máy trộn hồ, cần cẩu, v.v...) của ba tôi đều bị tịch thu hay xung công. Nhờ có chuyên môn về XD nên ông được cử làm PGĐ về kỹ thuật của xí nghiệp xây lắp 5 (hình như trước 75 của thầu khoán Trần qưới Thiên), đường Ngô Đức Kế. Trong khi đó, ba tôi liên miên bị điều tra về tài sản của mình dù đã hiến hết. Theo chú Cầu, một kế toán dưới quyền, ba tôi định tự tử vài lần vì ko chịu nỗi sự o ép của chúng.
Khi quản lý các ngân hàng, đặc biệt NH Việt nam Thương Tín, chúng thấy ba tôi mượn tiền của NH (nghĩa là tiền mà ba tôi mượn của chế độ cũ để làm ăn), chúng bắt ba tôi phải trả! Trong khi tiền ba tôi gửi NH thì bị phong tỏa, ko cho rút ra. Thế là ba tôi phải bán ngôi nhà đang ở (3 tầng, bề ngang bằng 3 căn phố), vừa là văn phòng của hảng thầu cũ của ba tôi ở đường Đỗ thành Nhơn Q4. Vì ba tôi hiến 2 biệt thự (có hồ bơi) ở làng ĐH Thủ Đức (do KTS Ngô viết Thụ nhượng lại) và một số hảng xưởng khác nên chính quyền mới đã cho ba tôi chọn nhà để ở: 1 tại đường Nguyễn Huệ và 1 tại đường Yersin gần CA quận 1. Vì nghĩ rằng ko còn buôn bán như trước nên ba tôi chọn nhà Yersin: đây là nhà 2 tầng, tầng lầu có trải thảm, có toilet trên tầng lầu, chủ cũ người Hoa đã vượt biên (ko rõ đã tới bến tự do hay làm mồi cho cá).
Ba tôi cho biết, đã dự định năm 1975 sẽ lập hảng hàng không, cạnh tranh với Air Vietnam vì có sẵn vốn, và quen biết rộng rải nên dễ vay vốn làm ăn. (Ngoài hảng thầu XD, ba tôi còn hùn hạp làm thụ thác hàng hải (stevedore), làm đại lý cho hảng K-Line, có phần hùn ở Trung Nam NH - văn phòng đặt tại rạp Cathay cũ).
Những chuyện trên đây là do ba tôi kể lại vì từ 15/6/75, tôi đã đi tù đến đầu năm 1981 mới về .
2/ Ông Trần Ngọc Trình, đàn anh của ba tôi, chủ của building Phước Lộc Thọ-8 từng đường Hai Bà Trưng và là TGĐ của cty Nhà Tiền chế Cty (Nhatico). Ông bị tịch thu tài sản, được cấp 1 phòng ở lầu 8. Trong thời gian ổng đi tù, vợ ông nhảy từ lầu 8 tự tử.
3/ Ông Nguyễn đình Nhơn, cũng là thầu khoán , năm 75 vừa khách sạn sang trọng nhứt Vũng Tàu:10 tầng, tầng trệt là nhà hàng, tầng 2 làm vũ trường, 8 tầng còn lại là phòng ngủ có phone riêng, tủ lạnh, TV cho mỗi phòng. Sau 75, VC vẫn để ổng làm chủ KS nhưng sau đó cho ng mang lựu đạn vào thuê phòng, sau đó chúng kiểm tra hộ khẩu, cho ông đi tù 6 tháng , giam chung với đĩ điếm trộm cắp về tội "chứa chấp phản động, âm mưu chống phá nhà nước , v.v..." và tịch thu KS. Sau này, nhờ có con du học ở Canada trước 75 nên ông định cư ở đây.
Hình 1, hảng sữa Foremost do hảng thầu của ba tôi xây ở Thủ đức; hình 2, ba tôi có xây vài tòa nhà ở cư xá Thanh Đa.



Saturday, October 3, 2020

Sau ngày 30.4.75 , rất nhiều dân miền Nam đã hành động như cô gái này .
. . .
" 2. Học tập tinh thần bônsevich Đỗ Mười, nữ đoàn viên Lý Mỹ đã vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40,1978).
Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài, Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản!
Nhật ký Lý Mỹ khép lại vào 3h sáng ngày 25/3/1978 như sau: "Má đã yên tâm rồi. Còn mình lại càng yên tâm hơn khi gia đình mình đã chấm dứt quá khứ từ ngày hôm qua để chuẩn bị bước vào tương lai. Mình không còn mặc cảm với bạn bè, nhân dân lao động vì gia đình mình không còn sống bằng nghề bất chính. Mình đã đấu tranh, đã thực hiện được lý tưởng, mơ ước của mình. Hãy cất cao tiếng hát, hãy tiến lên. Không có gì ngăn cản được bước tiến của mình. Mình trở lại phấn khởi rồi, vui quá..."
. . .
5. Về số phận của nữ Đoàn viên điển hình Lý Mỹ:
Cũng năm 1978, Lý Tích Chương, cha của Lý Mỹ bị bắt vì tội trốn đi nước ngoài, lúc đó, Lý Mỹ đang được đi Cu Ba dự Liên hoan thanh niên Thế giới. Khi về đến Sài Gòn, cô được vào trại giam thăm ba và ông được thả do sức khỏe suy sụp. Gia đình ông quyết định "ra đi". Ông Lý Tích Chương gửi lại một người Hoa 10 lượng vàng, dặn cứ để Lý Mỹ nếm cực khổ, khi không chịu nổi nữa hãy đưa cô số tiền ấy để cô vượt biên.
Sau 1975, đêm nào Lý Mỹ cũng phải sống trong nước mắt, cảnh đời quay quắt, bị đòi nợ. Ngôi nhà cha mẹ để lại bị chiếm mất, thay vì phải đấu tranh để trả lại tài sản cho cô, Lý Mỹ lại được động viên, “lý tưởng Đoàn không cần tài sản”.
Năm 1985, không thấy Lý Mỹ vượt biên, người bạn của gia đình mới trao lại 10 cây vàng cho cô làm ăn. Đến lúc ấy, Lý Mỹ mới biết, chuyến vượt biên của gia đình thành công. Nhưng trong thời gian ở trại tị nạn Malaysia, ông Lý Tích Chương lâm bệnh. Vào đúng hôm gia đình được chấp nhận đi định cư ở Úc, ông Chương mất. Tuy Lý Mỹ đã không bỏ Việt Nam ra đi như gia đình cô tiên liệu, nhưng cô cũng không trở thành một Pavel Korchagin như ước mơ. Như một thanh thép đã được tôi, Lý Mỹ tự chọn lấy con đường cho mình. Cô nữ sinh điển hình trong chiến dịch cải tạo tư sảnnăm 1978, 30 năm sau, lại trở thành một nhà tư sản. Lý Mỹ hiện cùng chồng, hoạ sỹ Nguyễn Văn Vinh, sở hữu bốn công ty kinh doanh trong lĩnh vực truyền thông và xuất nhập khẩu. Cô đã làm những hành động "của tư sản mại bản" mà chiến dịch X-1, X-2, X-3 diệt trừ sạch bách trước đây!"

(Trích Bên Thắng Cuộc của Huy Đức)

Saturday, March 10, 2018

ĐÁ NÁT VÀNG PHAI.
- Mất nước là mất tất cả.
Sau 75, nhiều gđ ở miền Nam ngậm đắng nuốt cay vì mất của mà ko dám khiếu nại, trong đó có gđ tôi.
- Sau ngày 30.4.75, giàu có là TỘI LỖI đến độ cho nhà/xe không ai dám lấy. Chỉ sau đó một thời gian mới có vụ mua bán nhà bằng giấy tay với giá vài chỉ vàng cho những người làm trong chính quyền tại địa phương*.
1/ Số là ba tôi có một biệt thự 2 tầng, rất đẹp ở số, hình như là số 6, đường Thi Sách Đà Lạt, màu vàng sậm trên bản đồ 1. Trên lầu và từng trệt đều có lò sưởi, phòng ngủ, phòng tắm, sàn gỗ (moquette), bếp, v.v... theo kiểu Pháp. Các ông lớn của ngân hàng VN Thương Tín lên Đà Lạt đều ngụ ở nhà ba tôi (vì người quản gia ở nhà kế bên). 
Sau 30.4.75, ba tôi định lên xem nhà nhưng ông quản gia nói, 'ông mà lên đây nhận nhà thì CS sẽ còng đầu ông vì tội tư sản mại bản, địa chủ, v.v...' (Ổng nói đúng vì thời đó GIÀU CÓ LÀ TỘI LỖI nên có cho cũng ko ai dám nhận). Sau đó 1 thời gian, một tên VC giờ-thứ-25* nhưng gốc Nhân Dân Tự Vệ chế độ cũ có nhà gần đó, về SG gặp ba tôi và đề nghị 'bác lên đây nhận nhà thì ko được rồi, nay bác làm giấy tay bán cho cháu lấy vài CHỈ VÀNG'. Ba tôi nghe lời y và làm giấy tay, sau đó nghe nói y bán biệt thự này cho người khác và vượt biên sang Canada.
Tới khoảng năm 1988-89, ba tôi nhờ cô Vân lên ĐL gặp chủ nhà thì họ nói 'đã mua nhà này cả trăm CÂY VÀNG'. Thế là cô này buồn bả về báo cho ba tôi.
2/ Ba tôi cũng có một biệt thự cũ kiểu Pháp (dùng làm VP của hảng thầu) có đất chung quanh ở số 12 Quang Trung Nha Trang, màu vàng sậm trên bản đồ 2, từ đó ra đường Độc Lập rất gần. Ba tôi cho ng láng giềng thuê sân trước để mở quán nhậu Lai Rai. Sau ngày 30.4.75, ba tôi cũng bán rẻ như trên, lấy vài chỉ vàng. Ông gác-dan của VP này, lấy vợ có 2 con lai Mỹ, sau này cũng đi Mỹ diện con lai. 
3/ Ba tôi có hai biệt thự ở Làng ĐH Thủ Đức, có vườn, hòn non bộ và HỒ BƠI; trước 75 cho Mỹ mướn, sau 75, ba tôi HIẾN cho địa phương VÌ SỢ. (Lô đất này là của KTS Ngô Viết Thụ, vì có công chỉnh trang đô thị thời ông Diệm nên ông Diệm cho 2 lô đất ở làng này, ông Thụ nhường lại cho ba tôi. Sĩ, em tôi, thường chở đám em vợ lên bơi lội ở hồ bơi này).
4/ Căn nhà 6-8 Đỗ thành Nhơn Q.4, bề ngang bằng ba căn phố, bề sâu dài hơn bề ngang. Gia đình ba tôi chỉ ở tầng 2 (có phòng khách rất lớn, bar rượu, các hội đoàn hay mượn để tiếp tân hay nhảy đầm) và tầng ba. Liên lạc từ phòng ngủ của ba tôi với VP ở lầu 3 và nhà bếp ở lầu 2 bằng intercom. Tầng ba cũng đặt VP của hảng thầu của ba tôi. Tầng trệt cho một cty thụ thác hàng hải và bốc xếp thuê - ba tôi có phần hùn trong cty này, hình như là Vimitraco. Cty cũng là đại diện duy nhứt của hảng tàu biển Nhật K-Lines. Các cô thư ký đẹp đẻ, nói và đánh máy văn bản bằng tiếng Anh để giao dịch với Nhật. Có máy viễn ấn tự (teletype) chạy ngày đêm để thông báo tàu sắp đến để chuẩn bị thợ thuyền bốc xếp.
Sau 75, CS tiếp thu các ngân hàng, thấy ba tôi "có vay tiền của NH chế độ cũ" nên bắt phải trả. Thế là ba tôi bán nhà cho một cty quốc doanh để trả nợ của chế độ cũ.
...
Nhờ "hiến" 2 biệt thự ở Làng ĐH nên nhà nước cho ba tôi được quyền chọn bất cứ nhà vắng chủ, theo danh sách của họ. Ba tôi nói, lúc đó có nhà mặt tiền đường Nguyễn Huệ nhưng ba tôi ko lấy vì nghĩ có buôn bán gì đâu mà lấy nhà ở đường NH, ông chọn 1 căn mặt tiền ở đường Yersin, quận 1 vì có bạn cũ ở cách đó mấy căn (ông này là trưởng ty CS công lộ VNCH). Khi tôi ra tù năm 1981, tôi về ở nhà này .
Tới cuối TN 1980, vì kẹt tiền, ba tôi lại bán nhà Yersin và mua 1 căn trong hẻm đường NT Minh Khai (tên cũ Hồng Thập Tự). Nhà ngang 4 mét nhưng sâu chỉ 12 m, ba từng. Tôi ở nhà này từ khi ra tù 1981 tới khi đi Mỹ năm 1994.
Sau khi ba tôi chết, má tôi và em gái mua 1 căn phố trệt ở chúng cư Nguyễn thiện Thuật . . . 
Ngoài những nhà trên, toàn bộ kho xưởng, máy móc thi công (construction equipment) như cần câu, xe ủi đất, máy trộn hồ, v.v... đều giao cho nhà nước. Trước 75, ba tôi cho thuê những máy móc này khi không dùng tới, bên Mỹ cũng có dịch vụ cho thuê máy móc thi công (equipment rentals) như vậy. 
* Nghĩa là ng gia nhập chính quyền CS sau ngày 30.4.75.
SJ Saturday, March 10, 2018
=====
Cập nhật.

Phong thủy giỏi cho lắm cũng thua mệnh Trời .

- Mình tính ko bằng trời tính.
Dù được thày bói giỏi Trần Hữu Ích, rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước 75, coi phong thủy trước khi gđ tôi dọn vào ngôi nhà ba tầng, bề ngang bằng ba căn phố, ở số 6-8 Đỗ thành Nhân quận 4 Sài Gòn; nhưng cuối cùng, căn nhà này và nhiều nhà khác của ba tôi đã lọt vào tay VC sau ngày 30.4.75.
Thày phong thủy phán rằng :
1/ Mẹ tôi và các em tôi về nhà mới trước: chọn ngày thứ tư 4 tháng 10 1961 giờ tý, từ 0g15 tới 2 g sáng. (25 tháng 8 âm lịch).
2/ Bố tôi về nhà mới : thứ ba 10 tháng 10 1960 giờ tý, từ 0g15 tới 2 g sáng (ngày mồng 1/9 âm lịch).
SJ May 12 2025.
Tài Trần








Friday, February 23, 2018

Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển

Nguồn : http://trithucvn.net/blog/tinh-quy-toc-bien-mat-va-y-thuc-luu-manh-phat-trien.html
Trong khi trước đây người ta hô hào về việc xóa bỏ địa chủ phú nông, thì phương Tây xóa bỏ bần nông. Trong khi trước đây người ta tự hào về việc xóa bỏ quý tộc thì phương Tây xóa bỏ lưu manh. Đây chính là hai tư tưởng trị quốc hoàn toàn khác nhau, có thể dùng câu nói nổi tiếng để khái quát: một chế độ tốt có thể làm cho người xấu trở thành người tốt, một chế độ xấu có thể làm cho người tốt biến thành kẻ xấu. Phát động lưu manh để tiêu diệt quý tộc, cũng không thể làm cho lưu manh trở thành cao thượng, chỉ có thể làm cho lưu manh càng trở nên lưu manh hơn. Dụ dỗ, đe dọa nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến cả xã hội thành lưu manh.

tinh than quy toc

Quý tộc, bình dân và lưu manh

Nhân loại là một quần thể to lớn và phức tạp nhất trên thế giới. Nói về tính chất vốn có của tinh thần và ý thức, có thể phân thành 3 thứ bậc khác nhau: quý tộc, bình dân và lưu manh. Ba thứ bậc này được phân theo dạng hình thoi đứng, ở giữa phình to là tầng lớp bình dân, đầu nhỏ ở trên cùng là tầng lớp quý tộc, còn đầu nhỏ dưới cùng là lưu manh. Từ bình dân tới quý tộc thì không có giới hạn rõ rệt, từ bình dân tới lưu manh cũng không có giới hạn rõ rệt, nhưng lưu manh và quý tộc thì có sự khác biệt một trời một vực.
Sở dĩ được gọi là quý tộc không phải vì có nhiều của cải, cũng không phải vì có nhiều quyền lực, mà là vì họ có một tinh thần cao quý, sử sách gọi đây là tinh thần quý tộc. Người thiếu tinh thần quý tộc, thì dù giàu có không ai sánh bằng cũng chỉ là mang bản tính lưu manh mà giàu có; dù có quyền lực to đến mấy, thì cũng chỉ là kẻ độc tài chuyên chế mang bản tính lưu manh.
Sở dĩ gọi là lưu manh không phải là vì không có gì trong tay, mà là ý thức lưu manh ở bên trong nội tâm. Giai cấp vô sản không đồng nghĩa với lưu manh, giai cấp vô sản đa số là người bình dân an phận thủ thường. Trong quần thể lưu manh, có người giàu, có kẻ nghèo; có bình dân, có quyền quý; có người ngốc nghếch, cũng có kẻ thiên tài.
Tinh thần quý tộc đại diện cho đỉnh cao của văn minh nhân loại, ý thức lưu manh đại diện cho sự thấp kém nhất của nhân loại. Dường như tất cả mọi người đều có suy nghĩ hướng tới sự cao thượng, và cũng có những ham muốn dục vọng thấp kém, đây chính là cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính. Nhân tính chiến thắng thú tính, thì con người hướng tới sự cao thượng; thú tính chiến thắng nhân tính, con người sẽ hướng tới sự hèn hạ bỉ ổi. Đối với đa số người bình dân, nhân tính và thú tính vẫn đang giằng co chưa có hồi kết, nên nó làm cho cả một đời vẫn cứ loay hoay quanh cao thượng và thấp kém. Đa số người dân đều là an phận thủ thường nên cả đời sẽ không có gì nổi bật. Bình dân nếu muốn siêu phàm thoát tục, thì phải hướng tới cao thượng để có hy vọng trở thành quý tộc. Còn nếu hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì sẽ trở thành lưu manh. Con người vươn tới sự cao thượng thì rất khó, và để trở thành quý tộc thì lại càng khó hơn; còn hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì rất dễ, trở thành lưu manh thì dễ như trở bàn tay. Cũng chính vì nguyên nhân này mà xã hội nhân loại hiện nay quý tộc thì ít mà lưu manh thì nhiều.
Cao thượng và cao quý không khác nhau về bản chất, nhưng cao thượng và cao quý lại có khoảng cách, đó là mức độ khác nhau, trạng thái khác nhau. Bình dân cũng biết cao thượng, nhưng thường chỉ có thể cao thượng trong thuận cảnh, chứ không thể “cố thủ” cao thượng trong nghịch cảnh. Nếu như trong nghịch cảnh mà có thể giữ được cao thượng, thì đó chính là trạng thái cao quý, cũng tức là đã thành quý tộc.
Nếu cao thượng đã  đạt đến trạng thái cao quý, thì tức là “phú quý mà không dâm, dưới áp lực mà không chịu khuất phục”. Đây chính là trạng thái của tinh thần quý tộc. Câu trên có hai tầng ý nghĩa. Tầng thứ nhất là giải thích đối với phú hào quyền quý: Anh giàu có rồi thì không thể dâm đãng, anh có quyền rồi thì anh không thể lấy quyền đấy để bắt người khác khuất phục. Tầng thứ hai là giải thích với tầng lớp bình dân: Anh không giàu có, nhưng anh không thể bị phú quý dụ dỗ mê hoặc để rồi từ bỏ cao thượng; anh không có quyền lực nhưng anh không thể khuất phục trước quyền lực, anh chỉ có thể tâm phục khẩu phục trước sự công bằng và chân lý. Đạt đến trạng thái này rồi, thì dù có là bình dân nhưng anh vẫn có tinh thần quý tộc.

Tinh thần quý tộc là gì?

Tinh thần quý tộc có 3 nội hàm cao quý đó là: thành tín, đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm.
Thành tín là linh hồn của văn minh nhân loại, không có thành tín, thì không có đạo đức, cũng không có văn minh; thành tín cũng là linh hồn của phẩm cách cá nhân, không có thành tín, thì không thể có phẩm cách cao thượng. Người thiếu sự thành tín, thì hoặc là người vô lại hoặc là kẻ lưu manh. Dân tộc thiếu sự thành tín, thì chắc chắn là dân tộc ngu muội không có văn hóa. Thành tín cũng là gốc rễ của chế độ dân chủ, vì không có thành tín, thì không có dân chủ đúng nghĩa. Cụ thể, dân chủ dựa vào hiến pháp, và hiến pháp chính là khế ước của xã hội. Thành tín chính là gốc rễ của khế ước, không có thành tín thì khế ước cũng chỉ là tờ giấy vứt đi.
Quý tộc sở dĩ là quý tộc, là bởi vì quý tộc coi thành tín quan trọng hơn cả mạng sống, thành tín mang đến sự cao thượng, sự tôn nghiêm và giá trị cao quý của sinh mệnh. Ví dụ, quý tộc châu Âu thà dùng quyết đấu sòng phẳng thẳng thắn để phân thắng thua, chứ  không muốn dùng âm mưu quỷ kế để tranh cao thấp. Đây thực chất chính là thà chết để giữ lấy giá trị của thành tín. Sử quan thời Trung Quốc cổ đại thà chết chứ không muốn vì đế vương thay đổi lịch sử, cũng chính là thà chết để giữ lấy giá trị của sự thành tín.
Đạo nghĩa bao hàm nhân đạo và công đạo. Nhân đạo là tiền đề của công đạo, chính là sự tôn trọng đối với sinh mệnh của con người. Người ngay cả ý thức nhân đạo cũng không có, thì về cơ bản không thể có công đạo. Tôn thờ bạo lực chính là coi thường nhân đạo. Nhân đạo và công đạo hòa quyện sinh ra chủ nghĩa nhân quyền của nền văn minh hiện đại, sở dĩ châu Âu có thể sinh ra Công ước Nhân quyền, thực chất chính là do sự thúc đẩy của tinh thần quý tộc.
Tinh thần đạo nghĩa mang tới nhân từ, mang tới khoan dung, mang tới sự quan tâm, mang tới sự công chính. Quý tộc quan tâm tới những người yếu, các sự nghiệp từ thiện trên thế giới dường như đều do quý tộc đầu tư xây dựng, và cái mà họ dựa vào chính là tinh thần đạo nghĩa.
Tinh thần trách nhiệm chính là tinh thần dám gánh vác. Chịu trách nhiệm với lương tri của xã hội nhân loại, chịu trách nhiệm với văn hóa truyền thống của nhân loại, bảo vệ đạo đức, duy trì công bằng xã hội, bảo vệ sự phát triển hòa bình của xã hội.
Chính tinh thần trách nhiệm mang tới lòng tin và sức mạnh không gì lay chuyển được của quý tộc, một khi dân tộc rơi vào khủng hoảng, quý tộc sẽ đứng phía trước dân tộc, bảo vệ an toàn cho dân tộc. Chính tinh thần trách nhiệm này mang đến cho họ tinh thần “Prometheus cướp lửa thần trao cho nhân loại”, và tinh thần “ta không vào địa ngục thì còn ai vào nữa”. Cũng chính tinh thần này đã bảo vệ và thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển hơn.
Ba loại tinh thần này đều đến từ tín ngưỡng tôn giáo, chỉ có tín ngưỡng tôn giáo mới có thể chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần kiên định và bền bỉ, đạt đến trạng thái cao quý.
Dù cá nhân quý tộc có tồn tại khuyết điểm này khuyết điểm nọ, nhưng quần thể quý tộc vẫn là lực lượng chủ đạo thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển.

Tinh thần quý tộc thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển

Trong mỗi cá nhân đều tồn tại cuộc chiến nhân tính và thú tính, và nó làm cho cả một đời cứ loay hoay giữa cao thượng và thấp kém: thượng đế kêu gọi con người hướng đến cao thượng, ma quỷ dụ dỗ con người hướng đến sự thấp kém; người cao quý cao thượng thì gần quý tộc hơn, người hướng tới thấp kém bỉ ổi thì gần với lưu manh hơn; hoặc có thể nói, người gần với quý tộc thì trở nên cao thượng, kẻ gần với lưu manh thì trở nên thấp kém. Tục ngữ gọi hiện tượng này là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Mở rộng ra, một dân tộc cũng tồn tại cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính, điều này thực chất là cuộc chiến giữa văn minh và vô văn hóa, cũng là cuộc chiến giữa quý tộc và lưu manh. Một dân tộc do quý tộc chủ đạo, thì sẽ mang đến sự tiến bộ cho nền văn minh; do lưu manh chủ đạo thì sẽ lùi lại về không có văn minh, đây không phải là sức sản xuất vật chất bị thụt lùi, mà là sự thụt lùi về văn minh tinh thần, về văn hóa, đạo đức. Điều này đã được chứng minh bởi lịch sử.
Lịch sử phát triển của nhân loại là do quý tộc chủ đạo, do đó nhân loại mới từ không văn minh mà hướng đến văn minh, nhưng trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài, có lúc cũng bị lưu manh kiểm soát, lưu manh chiếm cứ địa vị chủ đạo, kết quả làm cho văn minh bị thụt lùi, do đó, tiến trình phát triển của văn minh nhân loại mới xuất hiện nhiều khúc khuỷu, tiến lùi.
Ý thức tinh thần của con người là thể đa diện phức tạp, tức có ý thức giữ gìn cao thượng, thì cũng có ham muốn tình cảm thấp kém. Tuy nhiên, con người hướng tới cao thượng lại giống như leo núi, rất khó; còn hướng tới thấp kém lại rất dễ, giống như đang ngồi cầu trượt. Do đó mà xã hội nhân loại từ trước đến nay lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc.
Xã hội nhân loại trước giờ lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc, vậy sao quý tộc có thể chiếm địa vị chủ đạo trong sự phát triển của xã hội? Điều này quyết định bởi thái độ của tầng lớp bình dân: tầng lớp bình dân ủng hộ quý tộc, thì quý tộc chiếm thượng phong, tức chiếm vị trí chủ đạo, và dân tộc này sẽ duy trì nền văn minh cao thượng; tầng lớp bình dân mà ủng hộ lưu manh, lưu manh chiếm thượng phong, tức lưu manh chiếm vị trí chủ đạo, thì dân tộc này sẽ duy trì sự thấp kém không văn minh. Đây chính là nguyên nhân cơ bản các dân tộc khác nhau có tiến trình văn minh và mức độ văn minh khác nhau.
Dân tộc ủng hộ quý tộc, quý tộc dễ chiếm thượng phong; dân tộc ủng hộ lưu manh, lưu manh dễ chiếm thượng phong. Nếu lưu manh chiếm thế thượng phong, chiếm vị trí chủ đạo, thì tất nhiên sẽ mê hoặc và dụ dỗ nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, ép buộc nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến thành một đại quốc lưu manh, văn hóa đạo đức sẽ bị thoái lui toàn diện, xã hội sẽ đổ vỡ.

Sáng tạo văn minh và sáng tạo lịch sử

Thành tựu văn minh nhân loại dường như đều là quý tộc sáng tạo, từ tư tưởng triết học thời viễn cổ, tín ngưỡng tôn giáo, lòng tin đạo đức, đến văn hóa nghệ thuật thời trung cổ,  đến khoa học tự nhiên thời cận đại, cho đến cơ chế dân chủ thời hiện đại, tư tưởng mở ra thời đại mới của lịch sử nhân loại, dường như đều là quý tộc sáng tạo ra. Có thể nói thế này, không có quý tộc, thì không có văn minh nhân loại. Không cần tìm đâu xa, chỉ cần tìm những nhà triết học, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, thần học, khoa học vĩ đại trên thế giới, có ai không phải là quý tộc?
Quý tộc không chỉ sáng tạo văn minh, mà còn sáng tạo ra lịch sử. Những nhà quý tộc thời cận đại của châu Âu, họ đã sáng tạo ra “Quân chủ lập hiến”, sáng tạo “Tuyên ngôn độc lập”, sáng tạo “Tuyên ngôn nhân quyền”, anh hùng  dân tộc Ấn Độ Mahatma Gandhi đã sáng tạo ra “Cách mạng phi bạo lực”, Martin Luther King của Mỹ sáng tạo ra “Tôi có một ước mơ”, họ đem những tư tưởng văn minh này vào thực tế, sáng tạo ra lịch sử huy hoàng, trở thành những cột mốc cho nhân loại hướng tới văn minh.

Sáng tạo lịch sử khác sáng tạo văn minh

Từ trước tới nay, lưu manh không biết sáng tạo văn minh, chỉ biết sáng tạo sự ngang tàn bạo ngược. Tuy vậy lưu manh cũng có thể sáng tạo lịch sử, nhưng lưu manh không thể sáng tạo lịch sử của văn minh, chỉ có thể sáng tạo lịch sử của sự phá hoại, sáng tạo lịch sử tàn sát. Lưu manh từ trước giờ chỉ biết sáng tạo bạo lực, sáng tạo chiến tranh, sáng tạo sự hoang đường, sáng tạo tai nạn.
Nếu một dân tộc mà nhóm người lưu manh giữ vai trò chính trong thời gian dài, thì sẽ trở thành dân tộc “ỷ mạnh hiếp yếu”, trở thành một dân tộc hung bạo, trở thành một dân tộc hủ bại biến chất.
Đạo lý như thế này, lẽ nào còn cần ai chứng minh sao?
Hoàng Hà (biên dịch từ 360doc.com)
Xem thêm:

Monday, November 27, 2017

Chiến dịch Tam phản, Ngũ phản tiêu diệt giai cấp tư sản của TQ
Nguồn : Tin Đa Chiều - Đăng ngày: 7:48 AM - 27/11/2015

Nếu như cuộc Cải cách ruộng đất đã biến người nông dân hiền lành chất phác trở nên hung hãn đáng sợ, thì những gì ĐCSTQ đã làm trong công cuộc “Cải cách công nghiệp và thương mại” đã dẫn đến những hệ lụy kinh hoàng cho nền kinh tế Trung Quốc ngày nay, tạo nên thương hiệu mà ai thấy cũng sợ mang tên “Made in China”. Đó là kiếm tiền bất chấp thủ đoạn, kiếm tiền bằng tội ác.
Một cảnh nhậu nhẹt của quan chức quân đội ĐCSTQ. (Ảnh: internet)

Tại xã hội Trung Quốc thời xưa hay như các nước dân chủ tự do phương Tây, Đài Loan và Hàn Quốc ngày nay, người giàu có thuộc tầng lớp “chủ lưu”, đại diện cho giới được kính nể không chỉ bởi khối lượng tài sản, mà còn là quá trình xây dựng sự nghiệp, học thức, thanh thế dòng tộc, văn hóa, phong cách sống và cả sự nghiệp làm từ thiện của họ.
Tại Trung Quốc ngày nay thì trái lại, nhắc tới giới “siêu giàu” người ta thường hay nghĩ tới tham ô, giàu xổi, hủ bại, luồn cửa sau, làm ăn bất chính, vô đạo đức, và chỉ nhận được sự khinh ghét của các tầng lớp dân chúng.
Có lẽ sự khác biệt nằm ở chính chỗ: “làm giàu có gốc” và “làm giàu mất gốc”.
Ngày nay làm giàu bằng tội ác nhưng lại được chính quyền bảo hộ:
1. Chính quyền bảo hộ cho những kẻ làm ăn bất chính: làm giàu mất gốc
Ngày 22/10/2015, hàng ngàn thương nhân ở Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc đã túa ra đường biểu tình phản đối công ty vận tải bản địa Cẩm Kim Hồng và cơ quan quản lý cấu kết làm lũng loạn thị trường hàng hóa, khiến phí vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng cao.
Một người dân cho biết, công ty Cẩm Kim Hồng thuê xã hội đen chặn ở các giao lộ trung tâm thương mại, hàng hóa chỉ vào được mà không ra được nếu không sử dụng dịch vụ do công ty này cung cấp.
Thuơng-nhân
Các thương nhân tham gia biểu tình giăng băng rôn, khẩu hiệu tại hiện trường. (Ảnh: internet)
Theo các thương hộ, việc phí vận chuyển hàng từ Vũ Hán đến Trịnh Châu lên đến hơn 500 tệ, trong khi phí vận chuyển của các công ty vận tải khác chuyển hàng từ Quảng Châu đến Trịnh Châu chỉ hơn 200 tệ, đây là mức chênh lệch quá lớn.
Vậy mà điều vô lý như thế lại được chính quyền bảo hộ. Họ cho lực lượng cảnh sát xuống đường ngăn chặn cuộc biểu tình và đánh đập người dân. Họ bảo vệ cho phe làm ăn bất chính, bất chấp vì có cùng chung lợi ích.
2. “Cưỡng chế di dời” đẩy người dân đen đến cảnh bần cùng
Khi Trung Quốc trải qua sự bùng nổ ồ ạt của bất động sản, rất nhiều người dân nghèo đã trở thành nạn nhân của những nhà phát triển bất động sản giàu có. Với những khoản bồi thường rất nhỏ, đất đai của họ gần như bị cướp đoạt.
“Cưỡng bức di dời”, từ nông thôn đến thành thị Trung Quốc, từ người dân thường đến cảnh sát hình sự đã nghỉ hưu, ai dám cam đoan rằng mình không phải là người bị “cưỡng bức di dời” tiếp theo? Trong mắt những người cưỡng bức, cái họ muốn là tiền bạc và chiến tích, mặc kệ sự sống chết của dân chúng, khoản đền bù tổn thất cũng bị từng cấp, từng cấp cắt xén đi một phần. Vì bảo hộ cho quyền lợi của chủ đầu tư và cũng là của chính mình, chính quyền thẳng tay đàn áp người dân. “Cưỡng chế di dời”, có người bị thương, có người chết, có người trở nên cùng quẫn không biết phải kêu ai.
Cuởng-chế
Cảnh tượng đau thương ở các nơi sau khi bị cưỡng bức di dời (ảnh: internet)
Đàn áp người biểu tình để bảo vệ cho những người làm giàu bất chấp, đã trở thành một hành động quen thuộc của chính quyền. Biết bao nhiêu người đã bị đánh đập và bắt giam, thậm chí oan mạng vì dám phản đối xây dựng các nhà máy hóa chất paraxylene (PX), một loại hóa chất dùng để chế tạo nhựa và sợi tổng hợp polyester, ngay khu dân cư.
3. Quyền sinh sát nằm trong tay chính quyền
Ngày 12/9, Tân Hoa xã đã cho đăng một bài báo dài với tiêu đề “Đừng để Lý Gia Thành bỏ chạy” trên trang lwinst.com. (xem bài: “Đừng để tỷ phú Lý Gia Thành bỏ chạy” và thực trạng u ám nền kinh tế Trung Quốc)
Theo bài báo: “Ông Lý Gia Thành giàu lên nhờ gần 20 năm tham gia vào thị trường Trung Quốc, tuy nhiên ông ta không đơn thuần là một doanh nhân làm thương mại. Ai cũng biết ở Trung Quốc hành nghề bất động sản không thể tách khỏi hệ thống quyền lực, nếu không cấu kết với quan chức có quyền lực thì không thể tham gia vào thị trường bất động sản. Vì thế, tài sản ông ta có được một phần lớn không xuất phát từ nền kinh tế thị trường sòng phẳng. Ông ta không thể nói muốn đi là đi.”
Lý-gia-thành
Có phân tích cho rằng, truyền thông nhà nước Trung Quốc phê bình Lý Gia Thành, đã thể hiện ra tâm lý thù địch, khiến cho giới kinh doanh lạnh tóc gáy, hậu quả là dẫn đến càng nhiều người đầu tư ra nước ngoài để chạy thoát thân.
Bài báo ít nhiều đã phản ánh rõ bản chất làm kinh doanh dưới chính quyền của ĐCSTQ: Anh không thể giàu có hoặc kinh doanh được nếu anh không cấu kết với chính quyền và cùng có qua có lại. Bình luận viên Lưu Duệ Thiệu nhận xét thêm: “Nếu như anh nghe lời thì tôi sẽ cho anh ăn, nếu như anh không nghe lời, thì một ngón tay cũng có thể hạ gục anh. Đây là thái độ quản lý Hồng Kông của Đảng cộng sản Trung Quốc.”
Kỳ thực mà nói, đây không phải là cách quản lý mới mẻ của chính quyền ĐCSTQ. Hãy cùng lội ngược dòng lịch sử để nhận thấy rằng, bản chất này của Đảng đã có từ giai đoạn khi mới thành lập chính quyền, trải dài cho đến tận hôm nay.
Chính quyền cướp của – “làm giàu mất gốc” đã xuất phát từ lịch sử cuộc Cải cách công thương
1. Lừa dối để chiếm đoạt và giết chết nếu cần thiết. Thuận ta thì sống, nghịch ta thì chết
Trước năm 1949, trong thời kỳ Cách mạng Dân chủ, khi cần giai cấp tư sản ủng hộ trong cuộc nội chiến đối đầu với Quốc Dân Đảng, Đảng thổi phồng họ lên thành “bạn đồng hành của cách mạng vô sản” rồi hứa hẹn một chế độ “dân chủ cộng hoà.”
Thế nhưng, sau khi ĐCSTQ giành chính quyền vào năm 1949, ĐCSTQ đã tuyên bố rằng giai cấp tư sản và giai cấp công nhân là khác nhau về bản chất: giai cấp thứ nhất là giai cấp bóc lột trong khi giai cấp thứ hai là giai cấp không bóc lột và chống bóc lột. ĐCSTQ biện minh rằng “giai cấp tư sản đã được sinh ra để bóc lột và sẽ không ngừng làm như thế cho đến khi nó bị diệt vong”, từ đó đưa ra kết luận: giai cấp tư sản chỉ có thể bị tiêu diệt chứ không thể cải tạo được.
Dưới cái tiền đề ấy, ĐCSTQ đã sử dụng cả việc giết chóc và tẩy não để “chuyển hóa” tư sản và thương nhân. ĐCSTQ đã sử dụng phương pháp đã được kiểm nghiệm lâu dài là thuận theo nó thì sống, chống lại nó thì chết. Nếu ai hiến dâng tài sản của mình cho chính quyền và ủng hộ ĐCSTQ thì sẽ được coi như chỉ là một vấn đề nhỏ trong nhân dân. Nếu, ngược lại, ai bất đồng với hoặc phàn nàn về chính sách của ĐCSTQ thì sẽ bị dán nhãn là “phản động” và trở thành mục tiêu của chế độ độc tài tàn bạo của ĐCSTQ.
Trong thời khủng bố xảy ra giữa các cuộc cải cách đó, tất cả những nhà tư sản và những người chủ doanh nghiệp đều đã bị bắt buộc phải giao nộp tài sản của mình. Nhiều người trong số họ đã không thể chịu đựng được sự nhục nhã mà họ phải đối mặt và đã tự tử. Trong chỉ có vài năm, ĐCSTQ đã hoàn toàn tiêu diệt sự sở hữu tư nhân ở Trung Quốc.
Trong khi thi hành các chương trình cải cách công thương và cải cách ruộng đất, ĐCSTQ đã phát động nhiều phong trào để khủng bố nhân dân Trung Quốc. Những phong trào này bao gồm: đàn áp “phản cách mạng”, các chiến dịch cải tạo tư tưởng, đả đảo nhóm chống Đảng do Cao Cương và Nhiêu Sấu Thạch cầm đầu, và điều tra nhóm “phản cách mạng” Hồ Phong, chiến dịch Tam Phản, Ngũ Phản, và thanh trừng hơn nữa những người “phản cách mạng”.
2. Chiến dịch Tam Phản và chiến dịch Ngũ Phản: Giết hại các nhà tư sản để cướp tiền của họ
“Chiến dịch Tam Phản” được bắt đầu vào tháng 12 năm 1951 và được gọi là “nhằm vào nạn tham nhũng, lãng phí và quan liêu” trong số những cán bộ của ĐCSTQ.
Không lâu sau đó, ĐCSTQ đã quy tội rằng sự tham nhũng của các quan chức chính quyền của nó là do sự cám dỗ của các nhà tư sản.
Tam-phản-ngũ-phản
Đấu tố trong thời tam phản ngũ phản (Ảnh: internet)
“Chiến dịch Ngũ Phản” được bắt đầu vào tháng 1 năm 1952, được gọi là “nhằm vào nạn hối lộ, trốn thuế, trộm cắp tài sản nhà nước, sự xây dựng vội vàng và cẩu thả bằng vật liệu xấu, và tội làm gián điệp thu thập các thông tin kinh tế của nhà nước”. Chiến dịch với cái tên mỹ miều và nghe có vẻ rất công chính này đã dẫn tới hàng trăm ngàn người phải tự tử.
“Chiến dịch Ngũ Phản” về thực chất là chiến dịch ăn cướp tài sản của các nhà tư sản hay đúng hơn là chiến dịch giết hại các nhà tư sản để lấy tiền của họ.
Trần Nghị, Thị trưởng Thượng Hải lúc bấy giờ, được báo cáo vắn tắt tình hình trên ghế sô-fa với một cốc trà trong tay hàng đêm. Ông ta hỏi một cách nhàn nhã, “Có bao nhiêu lính dù hôm nay?”, có nghĩa là: “Có bao nhiêu thương gia nhảy lầu tự tử trong ngày hôm nay?”
Nguyên soái Lâm Bưu từng nói: “Chính quyền chính là quyền trấn áp, có chính quyền rồi, hàng triệu phú ông, hàng tỷ phú ông, trong một đêm có thể đánh ngã.”
Không một nhà tư sản nào có thể trốn thoát “Chiến dịch Ngũ Phản”.
3. Nghịch cảnh: Những cái chết thương tâm
Những nhà tư sản bị yêu cầu phải đóng thuế mà họ “đã trốn” cách đó từ tận…200 năm, từ tận thời Quang Tự (1875-1908) trong triều đại nhà Thanh (1644-1911) khi thị trường thương mại Thượng Hải mới bắt đầu được thành lập. Các nhà tư sản không thể có cách nào để trả những thứ “thuế” đó, thậm chí bằng tất cả tài sản của họ.
Họ không có cách nào khác hơn là tự kết liễu cuộc đời của mình, nhưng họ không dám nhảy xuống sông Hoàng Phố. Nếu xác của họ mà không được tìm thấy, ĐCSTQ sẽ buộc tội họ là chạy trốn sang Hồng Kông, và người nhà của họ sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm trả những khoản thuế đó. Các nhà tư sản đành phải nhảy lầu và để lại xác cho ĐCSTQ thấy bằng chứng về cái chết của họ. Người ta nói rằng mọi người không dám đi bộ bên cạnh các tòa nhà cao tầng ở Thượng Hải thời bấy giờ vì sợ bị những người nhảy lầu từ trên cao xuống rơi vào mình.
Trang wikipedia cho biết khoảng 20.000 đảng viên và 6.000 công nhân đã qua huấn luyện thực hiện nhiệm vụ gián điệp theo dõi các hoạt động kinh doanh của người dân Trung Quốc. Báo chí thì tuyên truyền theo đường lối của chính quyền cộng sản Trung Quốc. Đến cuối năm 1951, có tới 15.000 tuyên truyền viên chuyên nghiệp hoạt động ở Thượng Hải. Tới 2/1952, ĐCSTQ tổ chức các cuộc diễu hành chống tư bản chủ nghĩa, đi tới từng nhà của các chủ doanh nghiệp, tạo ra áp lực tinh thần cực lớn lên giới thương nhân.
Tam-phản
Cảnh công nhân trong hệ thống công thương nghiệp Tô Châu tố cáo lên chính phủ trong Phong trào “tam phản”, “ngũ phản” (Ảnh: internet)
Theo “Sự thực về các chiến dịch chính trị sau khi thành lập Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, đồng biên soạn bởi 4 cơ quan chính phủ trong đó có Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử ĐCSTQ năm 1996:
Trong thời kỳ “Chiến dịch Tam Phản” và “Chiến dịch Ngũ Phản”, hơn 323.100 người đã bị bắt và hơn 280 người đã tự tử hoặc mất tích. Con số thống kê này xem ra là ít hơn nhiều so với thực tế.
Theo chuyên san lịch sử “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO EPOCHE xuất bản, chỉ trong vòng vài tháng sau khi thực hiện hai chiến dịch này, một vài ngành công thương nghiệp đã suy sụp. Nhiều doanh nghiệp phải dựa vào các hợp đồng với nhà nước cộng sản Trung Quốc và vì thế mà ít nhiều đã trở thành nhân viên của nhà nước.
Vào ngày 24 tháng 9 năm 1952, Mao Trạch Đông tuyên bố trong một bài diễn văn: “trong vòng 15 năm tới, nền kinh tế tư nhân sẽ không còn tồn tại trong hình thức cũ nữa. Thay vào đó, nhà nước trực tiếp chỉ đạo và kiểm soát toàn bộ mọi thứ, bao gồm cả sản xuất và thương mại”.
Sở-hữu-nhà-nuớc
Năm 1956, 99% nền kinh tế Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước. Phần lớn dân số tiếp tục sống tại nông thôn và tham gia sản xuất nông nghiệp. Bất chấp những nỗ lực công nghiệp hóa của Chính phủ, kết quả đạt được rất khiêm tốn. (Ảnh: Getty Image)
Trên thực tế, đấy chính là sự kết thúc cho tất cả các doanh nghiệp tư nhân. Từ bây giờ trở đi, không còn một ai có thể tự do quyết định mua hay bán bất cứ thứ gì, vào lúc nào và với giá nào. Một phần là vì doanh nghiệp nhà nước ngày càng chiếm tỷ lệ nhiều hơn, mặt khác thì do các nhà máy đều trở thành hợp tác xã. Cho tới năm 1956, kinh tế tư nhân gần như đã tan biến hoàn toàn. Chỉ còn 0,5% dân số thành thị là nhân viên của các doanh nghiệp tư nhân.
Sau năm 1949, người dân Trung Quốc mất những gì?
Năm 1949, ĐCSTQ đã tranh thủ cơ hội cướp chính quyền đại lục từ tay Quốc Dân Đảng khi đảng này suy yếu sau cuộc kháng chiến chống Nhật. Kể từ đó, cuộc sống của người dân Trung Quốc nói chung, và đặc biệt là giới công nhân, tư sản trong lĩnh vực công nghiệp và thương nghiệp nói riêng, đã hoàn toàn chuyển sang một bước ngoặt mới.
Trước đây, Đại Kỷ Nguyên tiếng Việt đã đăng bài “Xã hội Trung Quốc trước và sau năm 1949, người dân mất những gì?”, trong đó liệt kê sơ bộ những quyền mà người dân Trung Quốc đại lục đã bị mất sau năm 1949. Trong đó, kể từ khi ĐCSTQ lên nắm chính quyền, đối với lĩnh vực công thương nghiệp, ít nhất thì người dân Trung Quốc đã mất các quyền sau đây:
1. Quyền tư hữu tài sản:
Trước năm 1949, đất đai, nhà cửa và những tài sản tư hữu khác của mọi người đều được chính phủ và xã hội bảo vệ; chỉ cần mình không bán, không tặng cho người khác là tài sản luôn là của mình, có thể thừa hưởng nhiều đời.
Sau khi ĐCSTQ nắm quyền, mọi tài sản tư hữu đều bị dùng danh nghĩa“quốc gia” để tước đoạt; những tòa nhà có giá trị lợi dụng đều bị “trưng thu” mà không có bất cứ bồi thường nào; nhiều loại tài sản khác nhau của mọi người cũng đều bị ĐCSTQ lấy các loại danh nghĩa khác nhau để tước đoạt, tịch biên. Cho đến ngày nay, người dân đi mua nhà ở nhưng cũng bị hạn chế “quyền sở hữu 70 năm”, sau 70 năm lại bị ĐCSTQ tịch thu… Không chỉ thế, bất kể khi nào Đảng cần nhà của bạn thì bạn không thể từ chối, nếu không sẽ bị cưỡng chế di dời. Nhiều tài sản khác cũng khó được bảo đảm an toàn, chỉ cần Đảng ngắm tài sản của bạn là bạn có thể bị quy vào các loại tội danh, sau đó dùng các loại thủ đoạn để làm “hợp pháp” hòng trưng thu tài sản của bạn (pháp luật do ĐCSTQ tùy ý làm ra). Hiện nay đang có phong trào di dân mới, một trong những nguyên nhân chính là vì mọi người phải tìm cách để bảo vệ tài sản của mình.
2. Tự do buôn bán, không có quản lý đô thị:
Trước năm 1949, mọi người tự do lập quầy hàng của mình, dùng lao động vất vả của mình để kiếm sống mà không bị bất kỳ sự khống chế nào, không có tồn tại cái gọi là “quản lý đô thị”. Ngay cả Đài Loan ngày nay, nhiều quầy hàng ven đường vẫn là điểm sáng hấp dẫn vô số du khách.
Sau khi ĐCSTQ nắm quyền, để che giấu sự thực về cuộc sống khó khăn của người dân, vì lo ngại sự phát triển của tự do thương mại sẽ uy hiếp quyền thống trị của mình, vì thế mà tự chế ra vô số các loại thuế trút vào người buôn bán, thành lập các loại tổ chức, nuôi một bọn thổ phỉ lưu manh gọi là “quản lý đô thị”, sách nhiễu cản trở hoạt động buôn bán kiếm sống của người dân, thậm chí còn hành hung, tước đoạt hàng hóa của họ tùy tiện.
3. Tự do lập công đoàn, bãi công
Trước năm 1949, việc bãi công là rất bình thường, trong đó có nhiều cuộc bãi công do chính ĐCSTQ âm mưu xúi giục. Ở các nước phương Tây ngày nay, chuyện bãi công của công nhân cũng là bình thường. Khi đó công nhân có thể tự do tổ chức công đoàn cho mình, không có chuyện chính phủ can thiệp vào. Sau khi ĐCSTQ cầm quyền, họ cũng lập “công đoàn” tại tất cả các đơn vị, nhưng thứ “công đoàn” này không phải là “công đoàn”. ĐCSTQ biến cái gọi là “công đoàn” thành một thứ công cụ của chính trị, mục đích tồn tại của nó chỉ đơn giản là để che mắt thiên hạ, lừa bịp công nhân và xã hội. Vì thứ công đoàn này không có công nhân thật sự được tham gia, miễn bàn đến bầu cử, xưa nay chưa bao giờ chúng ta được nghe nói đến thứ công đoàn này tự giác lộ diện đấu tranh vì lợi ích của công nhân.
Dưới sự thống trị của ĐCSTQ, chuyện bãi công của công nhân là chuyện “phù vân” xa xôi, trong tầm kiểm soát nghiêm mật của ĐCSTQ. Công nhân muốn bãi công sợ rằng chưa kịp hành động đã bị bắt nhốt toàn bộ! Người công dân khởi xướng hoặc do được chọn ra làm đại biểu sẽ phải đối diện với cực hình tàn khốc. Khi ĐCSTQ giành chính quyền, họ dùng những lời dối trá để được giới công nhân ủng hộ, nhưng sau khi giành được chính quyền họ lộ hoàn toàn bộ mặt thật, chưa bao giờ người công nhân phải khổ như hiện nay.
4. Làm giàu công bằng, tự do chọn nghề kinh doanh
Trước năm 1949, chỉ cần chăm chỉ làm việc, cơ hội để mọi người trở nên giàu có là ngang nhau, con đường tiến thân lên thượng tầng xã hội không có trở ngại gì, mọi người có thể tự do chọn nghề kinh doanh, không bị xét duyệt qua vô số danh mục phức tạp. Nhưng sau khi ĐCSTQ nắm quyền, ban đầu là làm cơm tập thể, người giàu cũng biến thành người nghèo, còn người nghèo thì mãi mãi là người nghèo, không có cơ hội vươn lên, mọi người ăn không đủ no. Sau này xoay chuyển xu hướng chính trị và thực hiện cái gọi là cải cách mở cửa, nhưng có lợi nhất trong cải cách mở cửa cũng vẫn là giai cấp đặc quyền ĐCSTQ, người dân bình thường có rất ít cơ hội. Ngoài ra, ĐCSTQ vì kiểm soát mạch máu kinh tế quốc dân nên họ khống chế giới kinh doanh toàn xã hội, không có quyền tự do chọn lựa lĩnh vực kinh doanh. Những ngành nghề béo bở đều bị ĐCSTQ độc quyền thao túng, người dân thường chỉ có thể làm được những nghề vừa kiếm được ít tiền lại vừa khổ cực.
Sử dụng dục vọng, kim tiền và nữ sắc để chiêu mộ thuộc cấp
Nếu như bản thân chính quyền ĐCSTQ làm giàu mất gốc bằng cách đi cướp, thì những quan chức của Đảng là những ví dụ điển hình, không chỉ chính họ làm giàu mất gốc mà còn dùng lợi lộc, vật chất, nữ sắc để làm mồi nhử chiêu nạp đàn em và tay chân vây cánh để củng cố quyền lực. .
Ông Giang Trạch Dân được ví như là một “bạo chúa độc tài” ở Trung Quốc. Từ khi lên nắm quyền, ông ta sẵn tay đàn áp những ai không cùng ý kiến và làm phật ý mình, đồng thời dung túng tham quan ô lại, dùng tiền bạc, vật chất và sắc dục để chiêu mộ khiến nhiều “hổ lớn” phải quy phục ông ta.
Ông từng nói riêng với một Ủy viên Bộ Chính trị: “Có hai cách để chi phối người khác, một là dùng lợi, hai là dùng dục. Đảng Cộng sản dùng hai cách này để khống chế kẻ khác sẽ bách chiến bách thắng!”
Sau khi vào Trung Nam Hải, ông Giang đã áp dụng phương pháp này để kiểm soát hệ thống, một mặt dùng bạo lực để đàn áp những người đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền, mặt khác dùng sự hủ bại để lôi kéo quan to nghe theo lệnh của mình, dùng địa vị xã hội để dụ dỗ hàng loạt đám “văn nô” tuyên truyền dục vọng, kim tiền và nữ sắc trong xã hội, tuyên truyền cho tư tưởng “khinh kẻ nghèo chứ không khinh gái điếm.” “Mời khách” không còn hạn chế ở vấn đề ăn uống mà chiêu đãi kỹ nữ đã trở thành một tiết mục trong giao tế. Phần tử tri thức còn mấy người bênh vực cho người dân lao động? Họ dùng cái giọng ngụy biện là những người lao động tự nguyện gánh vác “cái giá không thể tránh khỏi trong sự đi lên của lịch sử!”
Mục đích ông Giang dung túng cho thuộc cấp mặc sức tham nhũng và làm giàu bất chính là để đổi lấy sự phục tùng của họ. Vì thế xã hội Trung Quốc thời nay, nếu không có qua có lại với chính quyền thì đừng hòng làm ăn được. Và chính quyền thay vì bảo vệ lợi ích của người dân, lại đứng về phía những người làm ăn bất chính mà đàn áp lại họ.
Wei-Pengyuan
Ngày 31/10/2012, các điều tra viên chống tham nhũng đã bất ngờ tiến hành khám xét nhà ông Wei Pengyuan – Vụ phó Vụ khai thác than Trung Quốc. Kết quả, người ta đã phát hiện một khối lượng tiền mặt khổng lồ, tổng trị giá 33 triệu USD trong nhà quan chức này. Số tiền được cho là “sản phẩm” của các hành vi nhận hối lộ, đút lót. Tờ Caixin – ấn phẩm chuyên về tin tức tài chính – tiết lộ, các điều tra viên đã phải sử dụng tới 16 chiếc máy đếm tiền để kiểm kê số tiền thu được trong nhà ông Wei. (Ảnh: internet)
Bạo lực kết hợp với tuyên truyền chủ nghĩa duy vật đã huỷ hoại hoàn toàn nền đạo đức Trung Quốc: Đạo đức bao nhiêu tiền một cân?
Chủ nghĩa duy vật mà ĐCSTQ tuyên truyền đã tiến một bước phát sinh ra “chủ nghĩa tôn sùng vật chất”, “chủ nghĩa sùng bái kim tiền”, “chủ nghĩa hưởng lạc”, cuối cùng dẫn đến “chủ nghĩa duy lợi”, nó dẫn dắt con người thực sự đi đến chỗ đạo đức suy bại, tha hóa. Nhiều người Trung Quốc đương đại, gồm nhiều người thuộc “phần tử tri thức”, phủ phục dưới sự đàn áp bạo lực và chính sách thu mua kim tiền của Đảng, trở thành những người triệt để theo “chủ nghĩa duy lợi”.
Chủ nghĩa duy vật phủ định tác dụng của đạo đức, cho rằng không có đạo đức phổ quát siêu việt đối với nhân loại. Cái gọi là đạo đức đều là thuộc về từ một giai cấp nào đó, mà tại Trung Quốc, những người dẫn giải và đặt định nghĩa về đạo đức tất yếu đều là Đảng Cộng sản. ĐCSTQ trong lịch sử đấu tranh chính trị tiến hành làm mưa làm gió lật đổ đạo đức phổ quát một cách triệt để. “Đạo đức bao tiền một cân?” – câu nói này chính là điển hình cho tư duy logic của “các nhà chủ nghĩa duy vật” chịu nhận giáo dục của ĐCSTQ mà sinh ra. Chính vì vậy, nó thờ ơ với sinh mệnh con người. Một cá nhân chết đi chẳng qua chỉ là một đám protein thay đổi hình thức tồn tại mà thôi, không có gì to tát cả, đây là cơ sở lý luận trọng yếu để có thể giết người mà không cảm thấy áy náy hay xót thương. Mao Trạch Đông nói: “Người theo Thuyết duy vật triệt để, không có gì phải sợ hãi.” Vì thế, người Trung Quốc ngày nay điều ác nào cũng dám làm. Vì kiếm tiền, chạy theo tiền mà có thể bất chấp đến tính mạng của người khác. Điều này lý giải cho các sản phẩm độc hại mang thương hiệu ‘Made in China” mà cả thế giới đều cảm thấy khiếp sợ.
Trung Quốc truyền thống có vậy chăng? Người xưa nói: Đức là gốc, của cải là ngọn cây
Người quân tử hiểu tầm quan trọng của nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết có lợi!
Một trong bốn cuốn sách kinh điển của Nho gia, Đại học, có viết, “Một người quân tử phải chú ý tu đức bản thân. Nhờ đức, một người có được sự kính nể của người dân; nhờ dân, người đó có đất đai; nhờ đất đai, người đó tạo ra của cải; với của cải, người đó có thể dùng nó. Đức là gốc, và của cải là những ngọn cây”. Do đó, Khổng tử đã giảng, “Thấy lợi xét nghĩa”, “Làm giàu bất nghĩa đối với ta cũng tựa phù vân”, và “Người quân tử hiểu tầm quan trọng của nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết sự quan trọng của lợi.” Những thương nhân thời xưa ở Trung Quốc qúy trọng lời dạy của Nho giáo vốn tin vào nguyên tắc “Người quân tử muốn của cải sẽ kiếm nó bằng con đường ngay chính”. Chúng ta cùng xem lại những câu chuyện thời xưa để thấy những bậc minh quân, hiền thần trong quá khứ coi trọng chữ Tín Nghĩa và Đức hạnh như thế nào.
Gương Quản Trọng nhận lỗi khi thấy dân mất ngựa mà không đi kiện
Một lần vua Hoàn Công nước Tề đi săn, đuổi con hươu chạy vào trong cái hang, thấy có một ông lão, bèn hỏi rằng: “Hang này tên gọi là hang gì?”.
Ông lão thưa: “Tên là hang Ngu Công”.
– Tại làm sao mà đặt tên như thế?
– Tại kẻ hạ thần đây mới thành có tên ấy.
– Coi hình dáng lão không phải là người ngu, cớ gì lại đặt cái tên như thế?
– Để hạ thần xin nói: Nguyên hạ thần có con bò cái đẻ được một con. Khi bò con đã lớn, hạ thần đưa đi bán, rồi lấy tiền mua một con ngựa con đem về cùng nuôi với bò cái. Một hôm, có một chàng thiếu niên đến lấy lý “Bò không đẻ ra được ngựa”, bèn bắt con ngựa con đem đi. Tôi chịu mất, không cãi được. Vì thế xa gần đâu cũng cho tôi là ngu mới gọi hang tôi ở đây là hang Ngu Công.
Hoàn Công nói: “Lão thế thì ngu thật!”.
Buổi chầu hôm sau, Hoàn Công đem câu chuyện kể lại cho Quản Trọng nghe.
Quản Trọng nói: “Đó chính là cái ngu của Di Ngô này. Nếu được vua giỏi như vua Nghiêu, bầy tôi minh như Cao Dao, thì khi nào lại có kẻ dám ngỗ ngược, lấy không ngựa của người ta như vậy. Ngu Công mà đành để mất ngựa, chắc là biết rõ hình pháp ngày nay không ra gì. Xin nhà vua kịp chỉnh đốn các chính sách lại. Khổng Tử nghe thấy nói:
– Đệ tử ta đâu, ghi lấy việc ấy! Hoàn Công là bá quân. Quản Trọng là hiền thần. Tuy đã vào bậc khôn ngoan, mà còn tự cho là ngu dại.
Quản Trọng
Ông lão cam tâm mất ngựa, lại chịu cả cái tiếng “ngu” là ý nói gặp phải thời buổi người trên tham nhũng, kẻ dưới hung nghịch, đành chịu để êm chuyện đi, còn hơn dở khôn đi kiện, chẳng những mất ngựa mà có khi lại mất cả bò và bao nhiêu tiền của, thời giờ vào đấy nữa. Hoàn Công thấy chuyện mà lưu tâm đến, chứng tỏ ông là vị vua có tâm với dân. Quản Trọng nghe chuyện mà biết nhận ngay cái lỗi ấy tại mình, thế cũng là hai bậc bá quân, lương tướng hiểu rõ cái trách nhiệm chăn dắt muôn dân của mình. Nên Khổng Tử có lời khen quả thực đáng ghi sử sách. Vì rằng nắm vận mệnh một dân tộc mà không giữ chữ Tín Nghĩa, không lấy Đức làm trọng, thì chỉ đẩy dân vào cảnh khổ đau lầm than.
Vị minh quân ngay chính: Vua Đường Thái Tông lấy mình làm tấm gương về chữ Tín
Thời đầu những năm Trinh Quan (627-647) triều đại nhà Đường, có người đệ trình thư thỉnh cầu trừ bỏ nịnh thần. Đức Vua Đường Thái Tông hỏi: “Trẫm bổ nhiệm quan viên, là để họ trở thành những hiền thần. Theo khanh, làm thế nào phân biệt ai là nịnh thần?”
Người đã viết thư đó trả lời: “Tâu bệ hạ, hạ thần ở nơi dân chúng, không biết rõ ai là nịnh thần trong cung. Nếu bệ hạ muốn biết, thì bệ hạ giả vờ nổi giận để thử lòng người. Nếu ai không sợ hãi mà đứng ra can gián, thì đó chắc chắn là người cương trực. Còn ai thuận theo mà a dua xu phụ thì quả nhiên là nịnh thần.”
Đuờng-thái-tông
Bấy giờ, Đường Thái Tông nói với Phong Đức Di:
“Dòng nước chảy kia trong hay đục, ấy cũng là từ nguồn nước định ra. Vua ví như nguồn nước, trăm họ tựa như dòng. Vua tự thân làm điều giả dối, lại còn muốn triều thần công minh chính trực là sao? Đầu nguồn đã dơ bẩn, lại đòi có nước trong? Như thế không hợp đạo lý. Trẫm xưa nay vẫn cho rằng Ngụy Vũ Đế giảo trá, nên tự trong lòng khinh bỉ ông ta lắm. Lấy lối hành xử đó làm gương sao được?” Xong, Đường Thái Tông bảo người đã dâng thư: “Trẫm vẫn mong lấy ‘đại tín’ làm phương châm cho hành xử trong thiên hạ. Không dùng ‘lừa dối’ để giáo hoá dân chúng. Lời của khanh dẫu có chỗ hay, nhưng Trẫm không thể làm theo được.”
Trong thực tế, những ai coi trọng giá trị công lý và chính nghĩa có vẻ bị bất lợi khi so sánh với những người chỉ biết lợi lộc và làm giàu. Tuy nhiên, chính nghĩa và lợi lộc có quan hệ tương hỗ căn bản; có một khoảng cách về thời gian – không gian giữa hai điều này. Một người phải nên tích đức hành thiện trước và lợi sẽ đến sau. Đạo đức vô hình, lợi ích hữu hình. Người thường không nhìn thấy đức và vì thế không tin tưởng vào điều này. Nhưng thực tế về nhân – quả: “ác giả ác báo” vốn đã quá rõ.
Những ai hành thiện và theo đúng những nguyên tắc công lý và chính nghĩa là đang tạo nền móng vững chắc cho tương lai tốt đẹp cho chính họ. Những ai làm giàu bằng những hành động tà ác là đang đào sẵn nấm mồ cho chính mình.
Như vậy mà nói, tầng lớp công, nông, thương, từ địa chủ, tư sản đến dân đen đều bị ĐCSTQ dùng lời ngon ngọt hứa hẹn một tương lai công bằng tươi sáng mà lừa gạt hết thảy. Khi cần sự ủng hộ thì chiêu mộ họ, khi nắm được chính quyền trong tay thì quay lại đàn áp và chiếm lợi riêng cho mình.
Trung tâm điều tra Khoa học Xã hội Trung Quốc thuộc Đại học Bắc Kinh từng có “Báo cáo phát triển dân sinh Trung Quốc năm 2014” cho thấy, trong đó 1% gia đình sở hữu 1/3 tài sản (trở lên) của toàn quốc, còn 25% số gia đình ở tầng thấp nhất chỉ sở hữu 1% tài sản. Con số 1% số người giàu Trung Quốc Đại Lục kể trên đều là gia đình quan chức Cộng sản Trung Quốc hoặc người thân của họ. Vào tháng 8/2006, một báo cáo điều tra của chính quyền Trung Quốc cho thấy: những người giữ chức vụ quan trọng trong các lĩnh vực béo bở (tài chính, ngoại thương, phát triển đất đai, các dự án lớn, năm lĩnh vực chính của chứng khoán) toàn là con cháu của quan chức cấp cao. Giới nhà giàu ở Trung Quốc có đến trên chín phần là con cháu của quan chức cấp cao, trong đó có hơn 2.900 con quan chức cấp cao có tổng tài sản 2 nghìn tỷ nhân dân tệ.
Người nghèo ngày càng nghèo hơn. Người giàu thì phải cấu kết với chính quyền mới đảm bảo được công việc kinh doanh kiếm tiền. Trước đây Đảng kích động người dân coi tầng lớp giàu có là thế lực thù địch, là giai cấp bóc lột cần phải hận, cần phải tiêu diệt, hiện giờ những người giàu có đa phần đều là quan chức, dòng họ của quan chức hoặc những người có liên kết với quan chức. Xã hội Trung Quốc hiện nay, tâm lý con người đầy lệch lạc và mâu thuẫn, một mặt chửi kẻ có tiền, một mặt lại muốn trở thành người có tiền bằng mọi giá bất chấp đạo đức. Hiện tượng vừa tham giàu vừa thù người giàu song song tồn tại. Như vậy mà nói, người dân Trung Quốc thực ra chỉ là nạn nhân bị nhào nặn bởi ĐCSTQ độc tài tà ác hơn nửa thế kỷ nay. Họ là đáng tội hay thực sự đáng thương?
http://www.tranthanhhien.com/2017/11/chien-dich-tam-phan-ngu-phan-tieu-diet.html

Friday, November 24, 2017

Vì AI mà dân VN CHIA RẺ hay THÙ GHÉT NHAU !
Năm 1988 , CP cho phép dân lập cty hay HTX tư nhân để làm ăn ; ba tôi đã lập 1 HTX xây dựng , lãnh thầu các công trình dân dụng .
Có lần tôi đến thăm bà chị họ (con của cô ruột) , chồng làm ks địa chất ; họ được CP sắp xếp cho ở từng dưới 1 ngôi nhà mặt tiền đường Ng Trọng Tuyển , quận Tân Bình , tên cũ hình như Nguyễn Minh Chiếu . OÁI ĂM THAY , ng ở tầng trên là gđ anh đội trưởng đội xây dựng của HTX , họ có cầu thang riêng để lên xuống . Theo tôi đoán , nhà này có ng vượt biên nên phường đã đưa gđ công nhân viên chức về ở chung , tình trạng này rất phổ biến lúc đó . (Nếu ng ở lại xuất cảnh thì nhà đó HOÀN TOÀN thuộc về chủ mới) .
Sau đó vài năm , chị họ tôi mua đất ở Tân Bình xây nhà , ngôi nhà này ko biết còn chủ cũ hay là có CB khác vô ở thế bà chị họ .
Nhận xét : bạn thử nghĩ , nếu nhà bạn bị buộc phải cho 1 gđ khác ở chung , bạn có chịu nỗi không ? Sự xích mích này do AI đã tạo ra ?
Viết sau khi đọc tin "gđ bà TRỊNH VĂN BÔ ko đồng ý các giải pháp hay chính sách mà CP đã áp dụng đối với tài sản của ông bà , cha mẹ" dù bà là người CÓ CÔNG VỚI CHÍNH QUYỀN CS - không bỏ ra nước ngoài năm 75 hay vượt biên như trường hợp trên .

Sunday, April 9, 2017


Đăng bởi Elvis Ất on Sunday, April 9, 2017 | 9.4.17



Lời giới thiệu của Dịch giảTrương Hiền Lượng (张 贤 亮 , 1936-2014) là nhà văn, nhà thư pháp, nhà sưu tầm cổ vật, tác gia cấp I Nhà nước Trung Quốc (TQ), đảng viên Đảng Cộng sản TQ, tốt nghiệp đại học. Do có lý lịch gia đình “phản động”, năm 18 tuổi phải đi cải tạo lao động ở vùng núi Ninh Hạ. 1957 đăng báo bài thơ Đại Phong Ca, bị chụp mũ phái hữu, bị bắt giam và đưa đi cải tạo 22 năm, có thời gian phải đi ăn xin. Tháng 9/1979 được xoá án. Năm 1980 làm biên tập viên một tạp chí văn học, vào Hội Nhà Văn TQ. Từ 1981 chuyên sáng tác văn học và kiêm kinh doanh, có tài liệu nói ông sở hữu tài sản cỡ 100 triệu Nhân dân tệ (tương đương 12 triệu USD).

Trương Hiền Lượng từng làm Chủ tịch Hội Nhà văn Khu Tự trị Ninh Hạ, Ủy viên đoàn Chủ tịch Hội Nhà văn TQ và 6 khóa liền là Uỷ viên Trung ương Chính Hiệp TQ (tương đương TƯ Mặt trận Tổ quốc VN). Được Đài truyền hình Phượng Hoàng bình chọn là 1 trong 10 nhân vật tài trí lớn của Trung Quốc năm 2007 (tài ở đây là tài sản). Viết nhiều tác phẩm: truyện vừa như Nụ hôn đầu tiên, Nòi giống Rồng…, truyện dài: Phong cách đàn ông; Một nửa đàn ông là đàn bà; Quen với cái chết …, tuỳ bút, tản văn. Một số tác phẩm đã dịch ra 30 ngôn ngữ, có tiếng vang quốc tế. Một nửa đàn ông là đàn bà đã dịch ra tiếng Việt, rất được hoan nghênh, được coi là tiểu thuyết TQ đầu tiên đề cập thành công vấn đề sex.


Dưới đây là một phần trong bài “Tất cả bắt đầu từ sự giải phóng con người” của Trương Hiền Lượng viết nhân dịp TQ kỷ niệm 30 năm cải cách mở cửa [1978-2008]; bài gồm 6 phần, rất dài, ở đây chỉ lược dịch phần cuối cùng. Đầu đề bài dịch và các phần trong dấu [ ] là của người dịch.



pb-110701-china-communist-da-06.photoblog900


…… Điều không ngờ là chưa đầy nửa năm sau, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi “Bốn bức thư” được đăng trên tạp chí Văn nghệ Ninh Hạ [tiền thân của tạp chí Sóc Phương]. Tiếp đó tôi được bình phản [sửa lại án sai] và được “triệt để phục hồi danh dự”.

Ngày nay chúng ta nói công cuộc cải cách mở cửa khởi đầu từ sự kiện 23 hộ nông dân xóm Tiểu Cương tỉnh An Huy lấy máu viết bức huyết thư yêu cầu “Chia ruộng, làm riêng”, từ đó khởi động công cuộc cải cách mở cửa trong lĩnh vực kinh tế; nhưng theo ý kiến tôi thì tất cả bắt đầu từ sự giải phóng con người!

Năm 1976, Mao Trạch Đông qua đời; sau khi Bè Lũ Bốn Tên bị hạ bệ, trước tiên đã giải phóng những cán bộ bị đánh đổ trong Cách mạng văn hóa, sửa lại các “Vụ án oan, án giả, án sai” trong Cách mạng văn hóa, tiếp đó tiến hành sửa sai và xem xét lại các phần tử phái hữu và những người bị hãm hại trong mấy đợt phong trào chính trị. Cuối 1978, trong một ngày giá rét, rốt cuộc đã tháo “mũ địa chủ, phú nông, phản động, xấu” trên phạm vị nông thôn toàn quốc. Đây là một việc lớn trải rộng trên mảnh đất 9,6 triệu cây số vuông, làm thay đổi số phận hàng trăm triệu người.

Một loạt biện pháp nói trên tuy tiến hành khẩn trương song lại không trống giong cờ mở, vì vậy ngày nay những người trung niên, thanh niên không có ấn tượng sâu sắc, nhưng trên thực tế, nói về quy mô, số người, phạm vi diện tích đất và tính triệt để của sự giải phóng thì sự kiện thủ tiêu “Hệ thống phân biệt thân phận” và “Chế độ phân biệt thân phận”[1] đều đã vượt quá bất cứ đợt giải phóng nô lệ nào trong lịch sử loài người!

Đồng thời trên chân trời Trung Quốc mới đã xuất hiện tia sáng ban mai của ý thức nhân quyền. Bắt đầu từ đây mới có ngày hôm nay, sau ba chục năm.

“Hệ thống phân biệt thân phận” sụp đổ trong nháy mắt, “Chế độ phân biệt thân phận” nhanh chóng tan rã. Chỉ khi hàng trăm triệu dân thoát khỏi sự trói buộc của “thân phận” và “thành phần” thì mới có thể động viên được toàn thể quần chúng nhân dân tiến vào cải cách. Thử hỏi, nếu trong hàng trăm triệu dân nông thôn vẫn có sự khác biệt này nọ về “thân phận”, những chiếc “mũ” vẫn đội trên đầu hàng trăm triệu người, địa vị của con người ở nông thôn vẫn bất bình đẳng, thì sao mà có thể “Chia ruộng, làm riêng” và “Khoán hộ” được?

Nói về mặt kỹ thuật thao tác cũng không thể làm được! Chưa điều tra, tôi đã dám cả quyết nói: trong số 23 hộ nông dân viết bức huyết thư kia, khẳng định không có hộ nào là người của “thành phần địa chủ, phú nông, phản động, xấu” cả. Những phần tử ấy hồi đó còn bị loại ra ngoài. Kinh tế Trung Quốc cất cánh bắt đầu từ sự trỗi dậy của xí nghiệp hương trấn. Bạn có thể đi điều tra xem thế hệ thứ hai, thứ ba của các phần tử “địa chủ, phú nông, phản động, xấu” có tác dụng thế nào trong các xí nghiệp hương trấn; nhiều người trong số họ là cốt cán của các xí nghiệp hương trấn. Họ bò dậy từ mặt đất, giũ bỏ bùn đất trên mình, trí lực và năng lực tích lũy bao năm nay lập tức phát tiết ra, như vậy mới làm nên sự vẻ vang của xí nghiệp hương trấn.

Kinh tế dân lập cũng phồn vinh như thế. Từ những “người làm ăn giỏi”, “hộ cá thể”, “hộ mười nghìn đồng” sớm nhất cho tới các nhân vật trên bảng xếp hạng nhà giàu của tạp chí Forbes, hãy xem trong đó có bao nhiêu người “thân phận” xấu, “thành phần cao”. Nếu không trước hết phá bỏ “Chế độ phân biệt thân phận” thì Trung Quốc ngày nay [năm 2008] có thể trở thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới được chăng?

Những kẻ “tiện dân không thể tiếp xúc” đã thực sự trở thành những đứa “con của Thượng Đế” mà Gandhi nói. Họ là kẻ hưởng ích lợi sớm nhất của cải cách mở cửa, qua đó cũng là lớp người tiên phong của cải cách mở cửa.

Trước năm 1978, ban biên tập một tạp chí nào đó khi thấy bản thảo của bạn có thể dùng được thì họ đều phải gửi thư xin ý kiến đơn vị sở tại của bạn, dĩ nhiên trước hết phải kiểm tra “thân phận” của bạn. Sở dĩ tôi được cầm bút trở lại là nhờ việc đến năm 1978 khi gửi bài cho tòa soạn thì không cần phải chứng minh “thân phận” nữa.

Chỉ khi nào thoát khỏi “chế độ phân biệt thân phận” thì các nhà trí thức và hậu duệ đời thứ hai của họ từng bị chụp đủ loại mũ như “địa chủ, phú nông, phản động, xấu”, “học giả phản động”, “quyền uy học thuật phản động”, “9 cái thối cũ” mới có quyền phát ngôn, mới trở thành quân chủ lực của phong trào giải phóng tư tưởng!

Ngày nay các nhà bình luận văn học có thể nói “Văn học thời kỳ mới” của Trung Quốc chưa có tính nghệ thuật cao, thậm chí có thể báng bổ nó là một đống “rác rưởi văn học”, nhưng chính là “Văn học thời kỳ mới” đã mở ra bộ mặt phồn vinh của văn học hôm nay. Lớp nhà văn “8x” ngày nay không thể tưởng tượng nổi hồi ấy chúng tôi cần có lòng dũng cảm lớn thế nào để đột phá hết “vùng cấm” này đến “vùng cấm” khác. Chúng tôi đã mở đường cho thế hệ tiếp sau. Các nhà văn “Thời kỳ mới” từng là người phát ngôn thay cho dân chúng Trung Quốc. Chúng tôi đã nói ra những điều người dân muốn nói mà không dám nói, muốn nói mà nói không được hay. “Văn học thời kỳ mới” của Trung Quốc có thể không có địa vị cao lắm trong lịch sử văn học thế giới, song tác dụng thúc đẩy nó từng phát huy trong lịch sử Trung Quốc thì quyết không thể bị ai mạt sát. Trong tương lai, bạn đọc và các nhà bình luận văn học sẽ coi cái “văn học thời kỳ mới” theo cách gọi của Trung Quốc là một chương vẻ vang nhất của văn học Trung Quốc thế kỷ XX cho tới thế kỷ XXI.

Tôi có thể nói rằng, trong số các nhà văn Trung Quốc, tôi là kẻ phải mang vác gánh “thân phận”, “thành phần” nặng nhất, trải qua nhiều đau khổ nhất; cho nên tôi nhạy cảm nhất đối với “Chế độ phân biệt thân phận”. Sau khi tiểu thuyết “Cây xanh” của tôi xuất bản năm 1984, có đồng nghiệp châm biếm nói câu “đi trên thảm đỏ” trong tiểu thuyết ấy quá “dung tục” [tục khí]. Bạn thử nghĩ xem, đôi chân tôi hai lần bước qua đống người chết, đôi chân suốt hai chục năm chưa từng được xỏ bít tất ấy của tôi nay được đi lên tấm thảm đỏ trong tòa nhà Đại lễ đường Nhân dân Trung Quốc lẽ nào lại không có cảm giác đặc biệt ư? Thử hỏi các nhà văn cùng lứa tuổi với tôi, tuy chúng tôi đều bò dậy từ trong gian khó nhưng có ai suốt hai chục năm trời cả đến đôi bít tất cũng chưa được xỏ vào chân mình? Có điều, đôi chân nay được đi bít tất của tôi không hề tự mãn vì được “đi lên thảm đỏ” tham gia hoạt động chính trị, đôi chân ấy không hề làm nhụt nhuệ khí và dũng khí của tôi.

Trước khi đăng tiểu thuyết “Cây xanh”, năm 1983 tôi đã “đi lên thảm đỏ”. Một lần, trưởng ban Mặt trận Thống nhất hồi ấy là ông Diêm Minh Phục mời hơn chục vị Ủy viên Chính Hiệp thuộc giới văn học nghệ thuật mới bổ sung đến Trung Nam Hải tọa đàm. Phần lớn các vị ấy hiện nay đều đã qua đời. Lớp người hiện còn khỏe như tôi thì cái già cũng đã xồng xộc đến rồi, nhớ được còn có Phùng Ký Tài, Hà Sĩ Quang, Diệp Văn Linh. Các Ủy viên “chia ngôi chủ khách ngồi xuống”  trong một phòng họp to đẹp bề thế (nay nhớ lại thấy cũng bình thường) của Trung Nam Hải. Tôi vừa bò ra từ nông trường lao động cải tạo không lâu, đối với tôi ba chữ Trung Nam Hải là nơi có thể mong mỏi mà không thể đến được, tương tự như những nơi “hoàng cung”, “triều đình”, ấy thế mà hôm nay tôi nghiễm nhiên chiếm được một chiếu ở đây, sự khác nhau một trời một vực có ý nghĩa thật sự đó khiến tôi vô cùng xúc động.

Trước tiên Trưởng ban Diêm nói mấy lời khách sáo: Mời các vị nói thoải mái và làm quen với nhau, sau đó lắng nghe với tinh thần hạ mình trọng dụng hiền tài phát biểu của mỗi vị. Nhờ thái độ khiêm tốn hòa nhã của Trưởng ban Diêm nên mọi người không thấy có gì gò bó lắm. Hồi ấy, vấn đề bức thiết nhất trong giới văn nghệ là “Dẹp loạn, khôi phục trật tự” và “Sửa sai các vụ án oan, án giả, án sai”, đa số các phát biểu đều triển khai xung quanh đề tài này, hăng hái phản ảnh các hiện tượng chưa chấp hành chính sách, quan niệm còn chịu ảnh hưởng xấu của tư tưởng “Hai phàm là” tồn tại trong đơn vị và địa phương mình. Trưởng ban Diêm ghi chép lại tất cả các ý kiến ấy và đôi lúc xen vài câu hỏi. Đến lượt tôi, Trưởng ban Diêm hòa nhã gật đầu nói: “Xin được nghe đồng chí Trương Hiền Lượng có ý kiến gì muốn nói.”

Không ngờ tôi vừa mở miệng đã nói:

“Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là cải tạo Đảng Cộng sản!”

Tôi hoàn toàn không để ý tới vấn đề chấp hành chính sách, là vấn đề khẩn cấp bức thiết nhất, mà trực tiếp nói toạc ra cái cốt lõi của vấn đề. Tôi nói:

“Chúng ta muốn xây dựng hiện đại hóa XHCN mà lại vẫn dựa vào một Đảng có nông dân chiếm đa số thì sẽ không thể nào hoàn thành được nhiệm vụ đó. Cải tạo Đảng Cộng sản chủ yếu là thay đổi cơ cấu đảng viên của Đảng Cộng sản, phải cải tạo một Đảng nông dân chiếm đa số thành một Đảng trí thức chiếm đa số. Chúng ta phải ra sức hấp thu các nhà trí thức vào Đảng. Chỉ khi nào trí thức đã chiếm đa số trong Đảng thì chúng ta mới có khả năng xây dựng hiện đại hóa XHCN được.”

Nét mặt những người dự họp đều hiện lên vẻ kinh ngạc. Tôi để ý thấy trưởng ban Diêm cũng có cảm giác bất ngờ. Hồi ấy mà nói “cải tạo Đảng Cộng sản” không những có nghĩa là xa rời đạo lý [li kinh bạn đạo] mà thực ra có thể gọi là cách nói “đại nghịch bất đạo”.

Tiếp đó tôi nói:

“Những người cộng sản chúng ta có ý chí cải tạo xã hội, cải tạo thế giới và thế giới quan của con người, tại sao lại không thể cải tạo chính mình? Chúng ta cần phải có dũng khí cải tạo chính mình. Chỉ khi nào chúng ta không ngừng tự thân cải tạo mình thì chúng ta mới có sức mạnh và năng lực để cải tạo thế giới và xã hội.”

Không cần khích lệ, cũng không cần chuẩn bị trước gì cả, chỉ cần cho tôi một diễn đàn là tôi sẽ nói dõng dạc, trôi chảy, không sợ gì hết. Từ đó trở đi đã 25 năm liền tôi liên tục giữ chức vụ Ủy viên Chính Hiệp toàn quốc các khóa 6, 7, 8, 9, 10, cho tới nay do quá tuổi nên rút ra. “Kẻ tiện dân không thể tiếp xúc” biến thành “con của Thượng Đế” và hướng lên “Thiên đường”.

Tôi nghĩ rằng lời phát biểu của mình ở Trung Nam Hải được nói trót lọt và tôi không bị quở trách thì đã được coi là may mắn. Không ngờ hai tháng sau, một hôm tôi nhận được điện thoại của đồng chí Lưu Đức Nhất Vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tuyên truyền Khu tự trị Ninh Hạ chúng tôi, mời tôi đến Ban Tuyên truyền “nói chuyện”. Khi đến phòng làm việc của anh thì thấy anh có vẻ rất thần bí rút từ ngăn kéo ra một tập giấy tờ, huơ qua trước mặt tôi và nói: “Bài phát biểu của anh tại hội nghị Chính Hiệp đã được đồng chí Hồ Diệu Bang [Tổng Bí thư ĐCSTQ hồi đó] viết lời phê đấy.” Anh chỉ cho tôi liếc qua một tí thôi, tôi cũng chỉ thấy đấy là một văn kiện đầu đỏ [tức văn kiện quan trọng] gì đấy gửi cho trường Đảng các cấp; lời phê liên quan tới phát biểu của tôi có một câu là: “Lời của tác giả này đáng chú ý ……” Tôi đang ngạc nhiên vì sao đồng chí Hồ Diệu Bang không gọi tôi là “tác gia” [nhà văn] mà gọi là “tác giả”, thì anh Lưu đã nhét tập giấy đó vào ngăn kéo và khóa lại.

Song cho dù thế nào đi nữa, trí thức vào Đảng đã trở thành phong trào của năm ấy, Tân Hoa Xã có đưa tin về việc này. Tại các trường đại học như ĐH Phúc Đán, ĐH Giao thông Tây An, Học viện Phát thanh Bắc Kinh, mỗi lần được mời đến các nơi ấy nói chuyện tôi đều lớn tiếng kêu gọi: “Bất kỳ ai có chí muốn thay đổi Trung Quốc thì đều phải tranh thủ vào Đảng Cộng sản Trung Quốc! Vì chỉ có vào Đảng Cộng sản thì bạn mới có vị thế [nguyên văn: vị năng và thế năng] để thay đổi Trung Quốc. Nền dân chủ của Trung Quốc sẽ bắt đầu cất bước từ dân chủ trong Đảng!”

Nền dân chủ của Trung Quốc sẽ bắt đầu cất bước từ dân chủ trong Đảng — câu nói ấy ngày nay đã được chứng thực. Hai chục năm trôi qua, Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng tiến với thời gian đã từ một Đảng cách mạng chuyển biến thành một Đảng cầm quyền. Chẳng những trí thức đã chiếm đa số trong Đảng mà rất nhiều chủ lực quân của nền kinh tế thị trường là các doanh nhân dân lập ưu tú cũng đã vào Đảng. Đây là một thay đổi căn bản, chứng minh Đảng Cộng sản Trung Quốc có dũng khí “tự cải tạo” không biết sợ. Quý trọng sinh mạng, nhân quyền và tự do — những giá trị quan cơ bản ấy của loài người đã dần dần thay cho những lý tưởng rỗng tuếch thoạt nhìn cực kỳ thu hút nhân tâm mà thực ra là phản khoa học. Con người ta cần có lý tưởng, song phải là lý tưởng phù hợp quy luật khoa học.

Thế nhưng trong hình thái xã hội mới, làm thế nào để dọn dẹp lại nền văn hóa truyền thống đã bị hủy hoại gần hết, làm thế nào để hấp thu các giá trị phổ quát của xã hội loài người, để xây dựng một kiến trúc thượng tầng thích hợp với cơ sở kinh tế của chúng ta, để tạo dựng tinh thần nhân văn phù hợp trào lưu hiện đại — đây vẫn là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn.

Đồng thời lại xuất hiện các tầng lớp xã hội dưới hình thức khác, hơn thế lại thể hiện rất rõ ràng và nổi bật: đã hình thành một sự phân biệt “thân phận” và “thành phần” có tính ẩn giấu. Chúng ta cần làm gì để xây dựng được một cơ chế hoàn toàn mở giữa các tầng lớp xã hội và có thể trên mặt thể chế, chứ không phải lại dùng cách thuyết giáo rỗng tuếch để ngăn ngừa Đảng cầm quyền biến thành tầng lớp đặc quyền, trên phương diện chế độ bảo đảm “không phân biệt tầng lớp, không phân biệt xuất thân, không phân biệt tài sản, lựa chọn từ trong nhân dân ra những người ưu tú” đưa họ vào tập đoàn lãnh đạo, và kịp thời bãi miễn, triệt hoán những quan chức vô đức, vô tài lại vô sỉ — điều đó còn đòi hỏi chúng ta phải cố gắng nhiều nữa.

Cơn bão táp giải phóng tư tưởng ba mươi năm trước thực ra bắt đầu từ sự giải phóng con người. Mác nói: Chỉ có giải phóng toàn nhân loại thì bản thân giai cấp vô sản mới được giải phóng. Nhưng sau khi giành được chính quyền rồi thì giai cấp vô sản quyết không tái sử dụng thủ đoạn bạo lực để “giải phóng” những người khác; mục đích của “cách mạng vô sản” quyết không phải là vĩnh viễn duy trì địa vị “vô sản” của mình, mà là thông qua nhiều hình thức kinh tế, kể cả chế độ cổ phần, để làm cho chính mình và tất cả mọi người đều “hữu sản” (Chủ nghĩa cộng sản “là sự phục hồi chế độ sở hữu cá nhân trên một hình thức cao hơn” — Mác).[2] Từ xưa, Hê-ghen đã nhận định: “Nói cho đến cùng, nhân quyền chính là quyền tài sản.” Chỉ khi nào toàn dân đều “hữu sản” thì đông đảo nhân dân mới được hưởng nhân quyền và sự tôn trọng. Bởi vậy “cùng giàu” mới là mục tiêu chúng ta phải phấn đấu, mà trong tình hình mấy trăm triệu nông dân Trung Quốc còn chưa giành được quyền sở hữu ruộng đất thì nhiệm vụ của chúng ta còn rất nặng nề./.

Trương Hiền Lượng

Nguyễn Hải Hoành  lược dịch.

Bản gốc tiếng Hoa: 张贤亮撰文纪念改革开放三十年:一切从人的解放开始

—————

[1] Trong tiếng TQ, từ thân phận có thể hiểu là lý lịch. tư cách, địa vị xã hội (ND).

[2] Chúng tôi chưa tra cứu được nguồn gốc câu này, nhưng trong Tuyển tập C.Mác—Ph.Ăng-ghen, NXB Sự Thật, Hà Nội 1980, tập I, tr. 562 có câu “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu tài sản xã hội mà chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” (ND).


(Nghiên Cứu Quốc Tế)