Showing posts with label sư đoàn 5 bộ binh. Show all posts
Showing posts with label sư đoàn 5 bộ binh. Show all posts

Sunday, June 15, 2025

 Trận đánh tại làng 13, mà trung đoàn 7 sđ 5 bộ binh VNCH bị thiệt hại nặng - với trung đoàn trưởng và nhiều sq tham mưu tử trận.

=====
Trận đánh tại làng 13 bis Dầu Tiếng
Trung đoàn 7 SĐ 5 BB VNCH ngày 26/11/1965 tổ chức khao quân (mừng chiến thắng trước đó đúng 1 tuần) tại làng 13 bis ở cách Dầu Tiếng, quận Trị Tâm, tỉnh Bình Dương khoảng 3-4 km. Khoảng 2 g sáng ngày 27/11/65, VC đã tấn công nơi đóng quân của trung đoàn, giết chết trên 300 quân nhân các cấp, trong đó có trung đoàn trưởng và các nữ ca sĩ văn nghệ giúp vui.
Trung đội chung sự * của SĐ 5 ngày thứ nhứt chỉ mang lên sân bay Dầu Tiếng (của đồn điền cao su Michelin) 100 túi đựng xác nên ko đủ, ngày hôm sau họ mang thêm 100 túi đựng xác, và 100 poncho nhưng cũng ko đủ đựng xác; cuối cùng phải dùng băng-ca chuyển xác lên máy bay để chở về Sài Gòn.
Vì đã ở ngoài trời nắng hai ngày nên các xác thu nhặt vào ngày thứ hai đã bốc mùi: ông sq phụ trách thu lượm xác về tới nhà đã vất bỏ mọi thứ mặc trên người vào thùng rác. Mùi chuột hay chó chết thế nào thì mùi người chết cũng vậy. (Vì tôi đã nhiều lần ngửi khi còn ở đv tác chiến vì xác để vài ngày ngoài trời nắng, các vết thương sẽ hóa dòi và chảy nước rất thúi!)
* Phụ trách tắm rửa sạch sẽ các xác chết, bỏ vào quan tài để ng nhà đến nhận đem về chôn.
TB. Theo tài liệu của CS thì trận này xảy ra ngày 27/11/65 .
"Ngày 26 tháng 11, trên khu vực phía bắc Dầu Tiếng, chiến đoàn 7 quân đội Sài Gòn dừng lại trú quân dã ngoại ở khu vực Làng Tám. Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 nhận lệnh tập kích chiến đoàn này. Sáng ngày 27 tháng 11, trung đoàn sử dụng cả 3 tiểu đoàn và lực lượng tăng cường hình thành 3 hướng tiến công chiến đoàn 7 trong rừng cao su của đồn điền Mít-sơ-lanh. Trận đánh diễn ra quyết liệt và kéo dài tới quá trưa. Ta tiêu diệt gần hết chiến đoàn 7, sư đoàn 5 quân đội Sài Gòn, bắt 700 tù binh, trong đó có trung tá trung đoàn trưởng, bắn cháy 2 máy bay, thu 220 vũ khí các loại, 22 máy thông tin. Đây là trận then chốt thứ hai thắng lợi, kết thúc chiến dịch"
Hình chụp tại trận làng 13 bis ngày 27/11/65
May be an image of 1 person and text that says 'A Vietnamese litter bearer wears a face mask to keep out the smell as he passes the bodies of .. and Vietnamese soldiers killed in fighting against the Viet Cong at the Michelin rubber plantation, about 45 miles northeast of Saigon, Νον. 27, 1965. More than 100 bodies were recovered after a human wave assault by guerrillas. (AP Photo/Horst Faas)'
Like
Comment
Share

Sunday, January 24, 2021

TƯỞNG NHỚ ĐẠI TÁ NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 

Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường là Phụ Tá Hành Quân của SĐ5 bên cạnh Tướng Tư Lệnh Lê Nguyên Vỹ. Đại Tá đã để lại hình ảnh oai hùng trong lòng các chiến hữu thuộc BTL/SD5 trong đó có tôi. Thay vì ngồi văn phòng với bunker kiên cố ở căn cứ Lai Khê, ngày nào cũng vậy, với nón sắt, áo giáp và bản đồ tình hình do tôi cập nhật sẵn, Đại Tá lên phi cơ bay đi quan sát các mặt trận suốt từ sáng đến chiều, lúc nào cũng có mặt trên đầu các đơn vị hành quân trong một vùng mà phòng không của địch dầy đặc. Nhất là cuộc hành quân rút khỏi An Lộc và Chơn Thành được phối hợp chỉ huy bởi BTL/SĐ5 và Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, mà Đại Tá thường phải bay dọc theo Quốc Lộ 13 từ Lai Khê - Bàu Bàng - Chơn Thành - Suối Tàu Ô - Tân Khai - An Lộc. Trung tuần tháng 3/75 tôi tháp tùng Đại Tá Thoàn, Tư Lệnh Phó nhảy xuống căn cứ Lê Lai của Đại Tá Biết ở Chơn Thành để phối hợp chỉ huy cuộc hành quân rút khỏi An Lộc, Đại Tá Tường điều động từ trên không. Sau khi các đơn vị Biệt Động Quân và Tiểu Khu Bình Long về đến Chơn Thành an toàn, ngay đêm đó địch tập trung các đơn vị pháo, bộ binh và đặc công, đặc biệt là chiến xa T-54 bao vây và tấn công quận lỵ Chơn Thành và căn cứ Lê Lai từ nửa đêm cho tới 12 giờ trưa, mưa pháo dữ dội, anten bị hư hỏng, mất liên lạc với Lai Khê nhưng căn cứ Lê Lai của Đại Tá Biết, Liên Đoàn 31 BĐQ vẫn chiến đấu oai hùng, không thua địch. Khỏang 12 giò 30 trưa, T54 đã vào sát vòng rào cuối cùng, Các Đại Tá Chuẩn, Đại Tá Biết, Đại Tá Thoàn và anh em trong Bộ Chỉ Huy hành quân đã phải rút xuống căn hầm tử thủ cuối cùng của Đại Tá Biết với tư thế sẳn sàng chuẩn bị tự sát, tôi đang cầm máy 25, tự nhiên nghe tiếng Đại Tá Tường trên đầu, tiếng của Đại Tá trong máy quen thuộc với tôi hàng ngày, nên mới nghe là tôi reo lên "có Đại Tá Tường trên đầu", mọi người nhẹ nhõm. Đại Tá Tường đã anh dũng bay sát vòng rào hướng dẫn 21 phi tuần phản lực của không quân dội bom lên đầu địch, kết quả là 15 chiếc T-54 cháy ngay tại vòng rào căn cứ Lê Lai và lực lượng địch đã phải thua chạy, làm mồi ngon cho các tay súng thiện xạ của LĐ3 BĐQ.Phải nói rằng chính Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường đã kịp thời cứu chúng tôi . Được biết những ngày cuối đời Đại Tá đã sống rất thanh đạm, chúng tôi rất nể phục. Nghe tin Đại Tá qua đời, vì ở xa không về Cali được, xin cầu nguyện Hương Linh Đại Tá an nhàn nơi miền Lạc Cảnh. 
 ĐĂNG NGUYÊN (Người viết là Đại úy Nguyễn Đáng Nguyên , Biệt Đội Trưởng Quân Báo cuối cùng của SĐ5 BB. Hiện cư ngụ tai Maryland, bút hiệu Đăng Nguyên, phó chủ tịch Văn Bút Đông Bắc Hoa Kỳ.)

Wednesday, February 26, 2020

Để tưởng nhớ Phạm Văn Thẩm và Tôn Thất Nguyện
Kỳ 2: TRÊN CHIẾN TRƯỜNG SÔI ĐỘNG


Chiến xa hành quân trong rừng cao su vùng Lộc Ninh

Niên trưởng Thành dẫn tôi qua khỏi ụ đất bên trong, quẹo trái chừng mười bước thì tới căn hầm của bộ chỉ huy đại đội. Một cái hầm nửa nổi nửa chìm, cũng do những thùng đạn pháo binh xếp thành hình vuông, chung quanh vây bởi vài hàng bao cát có chừa ba lỗ châu mai ngang tầm người đứng. Nghe gọi, đại đội trưởng, đang nằm trên chiếc võng nylon cột xéo một góc hầm, choàng dậy bước ra. Làm đúng thủ tục trình diện như lúc còn ở quân trường, tôi vừa quan sát. Dáng người tầm thước, da ngâm đen ở mặt và hai cánh tay, nhưng qua khoảnh hở nơi cổ, nước da không đến nỗi. Cái đen chắc là do dày dạn nắng mưa sương gió. Ông ta mặc áo thun, chân mang đôi dép nhật, trông không khác một anh lính trơn bình thường. Tôi đã được niên trưởng Thành cho biết trước, ông này xuất thân từ hạ sĩ quan, được đi học khóa sĩ quan đặc biệt và leo lên tới chức vụ này. Thường những người như vậy hay có mặc cảm với đám sĩ quan, nhất là sĩ quan hiện dịch, lại còn cái mác CTCT.

Sau khi niên trưởng Thành bỏ đi, lúc đó cũng đã hơn năm giờ chiều. trung úy Đình, tên vị đại đội trưởng của tôi, kêu ông thượng sĩ thường vụ đại đội dẫn đến cho tôi một chú “tà lọt”. Đây là danh từ ở ngoài tác chiến chúng tôi thường dùng để chỉ những người lính có nhiệm vụ giúp đỡ các sĩ quan trong công việc lặt vặt hàng ngày như mang đồ ngủ cá nhân, dọn dẹp chỗ ngủ, đào hầm hố vv... Chú lính của tôi còn rất trẻ, Thiềm, không to con lắm nhưng nhìn vẻ lanh lẹ. Hắn đỡ chiếc ba lô từ tay tôi, lặng lặng đi vào hầm giăng ngay cho tôi một cái võng. Đồ cá nhân tôi cũng chả nhiều nhặn gì, một bộ đồ trận để thay đổi, một cái mền nhà binh và một tấm poncho. Hắn gom hết bỏ sang ba lô của hắn. Vừa xong, một anh lính khác bước vào mời ra dùng cơm.
Bữa cơm chiều đầu tiên của tôi tại đơn vị thật thanh đạm. Một nồi cơm lớn được đặt ở giữa, cạnh một nồi canh chua lá bứa nấu với khô gì đó tôi không rõ, cái nắp vung được trưng dụng làm đĩa xếp trên đó ít con khô sặc. Cả một ban chỉ huy đại đội, sau này chúng tôi quen với danh từ BC để chỉ ban chỉ huy, gồm hai ông trưởng phó, thường vụ, ba lính truyền tin, một y tá và hai tà lọt, mỗi người một cái muỗng xúm vào xeo nậy nồi cơm, húp canh và xé khô bằng tay. Bữa cơm chấm dứt cũng khá nhanh, chỉ độ mười phút. Tôi ăn ngon miệng thực tình vì từ 10 giờ sáng, lúc leo lên xe ở hậu cứ tới giờ, tôi đâu có gì bỏ bụng.

Có một câu chuyện nho nhỏ ở đây, sau này qua một thời gian thử lửa, khi thấy tôi không ai chỉ vẽ mà vẫn chứng tỏ khả năng tác chiến vững vàng, tay đại đội trưởng này mới thổ lộ, ông khá thật, chẳng bù cho Đào Hồng trước đây, ăn qua loa lấy lệ xã giao với lính, sau đó hỏi tôi chừng nào mới lên nhà ăn sĩ quan! Không biết hắn có đặt chuyện cho niên trưởng Đào Hồng hay không! Nhưng thử cựa tôi thì hắn đã làm. Mấy tháng sau đó, trong một cuộc hành quân qua vùng rừng tre mênh mông ở Bù Nho, Phước Long, sáng họp các trung đội trưởng phân phối nhiệm vụ, tôi cũng ở cạnh hắn không hề nhắc tới. Sẵn tấm bản đồ, tôi lắng tai nghe mỗi khi hắn điều động trung đội mở đường đi phương giác nào, cứ mỗi trăm bước đôi, tôi vừa đi vừa đếm là vạch trên bản đồ một vạch để có thể tự chấm cho mình một tọa độ. Tôi phòng xa, rủi hắn ngủm củ tỏi bất thình lình, không phải trù ẻo, nhưng chiến trận ai mà biết được, chắc chắn tôi sẽ là người trách nhiệm, phải thủ trước. Một buổi chiều vừa cơm nước xong, hắn cười cười hỏi tôi, tôi đố ông biết mình đang ở đâu? Không ngượng ngập tôi nói ngay điểm đứng đã chấm trên bản đồ.

Cuộc đời tác chiến của tôi bắt đầu từ đây. Sau bữa ăn trời cũng vừa sập tối. Leo lên võng, tiếng léo nhéo vang trong hai cái máy truyền tin PRC25, tiếng trả lời, những tiếng khè khè dán đoạn đưa tôi vào giấc ngủ. Hai tiếng nổ lớn khiến tôi giật mình thức giấc, thêm vài tiếng nữa tôi mới nhận ra đó là tiếng nổ phát ra từ hai khẩu 105 ly đặt sau ụ đất bên trong. Xa xa đâu đó vọng lại những tràng súng nổ... Rồi im lặng trở lại và tôi lại thiếp đi trong giấc ngủ lúc nào không hay.

Tôi trải qua ngày đầu tiên nơi chiến trận giản dị như thế. Nhưng những ngày sau đó hoàn toàn khác hẳn. Chỉ một tuần sau đó, đang đóng quân trong một khu rùng cao su thì đơn vị bạn cách đó khoảng nửa cây số đụng địch. Đại đội ra lệnh báo động, thấy lính tráng chụp vũ khí nhảy vào vị trí tôi cũng vớ vội giây ba chạc đeo vào người, móc khẩu colt lên đạn cái rộp. Mấy thằng đệ tử trong BC và cả tay đại đội trưởng nhìn tôi phá ra cười. Thì ra lần đầu tiên nghe tiếng súng nổ, nhất là trong rừng cao su, tôi chưa nhận định được khoảng cách, nên tưởng rất gần!
Hai ngày sau đó bị thêm một vố nữa. Căn cứ chúng tôi đang nửa đêm bị pháo binh 204 ly của Mỹ pháo lầm. Chỉ có hai trái, lọt vào ngay giữa ụ pháo binh. Hầm đạn với 2.000 trái 105 ly bốc cháy và bắt đầu phát nổ. Từng tiếng nổ dữ dội phát ra, kèm theo với những miểng đạn văng tứ phía khiến căn cứ trở nên náo loạn. Tôi tụt xuống khỏi chiếc võng, xỏ giày, trang bị xong chạy ra khỏi hầm thì chỉ còn một tên đệ tử mang máy truyền tin giữ máy liên lạc với các trung đội. Hai thày trò kéo nhau phóng tới bờ đất phòng thủ ngoài cùng và nằm rạp xuống để tránh những miểng đang bay khắp phía.
Đại đội trưởng không biết đã biến đâu mất. Cái máy truyền tin liên lạc không thấy các trung đội trả lời.
Thằng nhóc truyền tin theo kinh nghiệm đoán rất nhanh và quay sang nhờ tôi:
- Họ qua tần số lớn hết rồi, ông thầy làm ơn vặn dùm em, đổi qua tần số lớn đi.
Hắn đọc ra cái tần số. Ngoài tác chiến, chúng tôi thường xử dụng danh tư máy lớn, máy nhỏ để phân biệt: máy lớn liên lạc với tiểu đoàn, máy nhỏ liên lạc với các trung đội. Mỗi loại máy có một tần số riêng. Tôi ngồi dậy đưa tay vặn hai cái núm tìm con số hắn vừa đọc. Chỉ được vài nấc hai chiếc núm kẹt lại không chịu di chuyển nữa. Chết mẹ, tôi nghĩ thầm, làm sao đây? Thử nghiến răng xoay mạnh cũng vô hiệu. Kiến thức tối thiểu bằng những buổi ngủ gật ở quân trường đã khiến tôi toát mồ hôi hột. Chả lẽ bảo với hắn tôi không biết xài máy PRC25? Đang kiếm cách gỡ rối thì một tiếng nổ bùng lên kèm theo những mảnh bay vụt qua đầu, tôi bỏ máy úp mặt xuống né. Lợi dụng thời cơ, tôi quay sang:
- Tối quá tao không thấy rõ, với lại ở đây nguy hiểm quá, thầy trò mình dọt hàng rào ra ngoài cho đỡ miểng đã rồi tính sau.
Không kịp để hắn phản ứng, tôi chồm dậy phóng mình băng đại qua lớp concertina bên ngoài hường về phía con lộ, hắn cũng theo sát ngay. Cũng may chúng tôi không đạp trúng mìn bẫy lính gài. Sự thực tôi đâu có biết ban đêm lính gài mìn bẫy ở đâu. Ra tới ngoài lộ tôi thoát nạn. Hắn đặt máy xuống đất và tự mình thay đổi tấn số và liên lạc được với đại đội. Ngài đại đội trưởng, kinh nghiệm cùng mình, đã nhanh nhẹn dọt ra ngoài từ ít phút đầu tiên và điều động đại đội ra theo đang bố trí đại đội phía trong con lộ, đối diện căn cứ khoảng hơn trăm thước.Thoát cảnh đạn nổ tôi không mừng lắm, cái chính là thoát được khỏi mất mặt với thuộc hạ vì sự ngu dốt của mình!

Thời gian hơn hai năm ở quân trường mẹ, kiến thức thu thập chỉ là con số không. Tôi hoàn toàn bỡ ngỡ trước hoàn cảnh mới. Để thích ứng và tồn tại, tôi phải tự tìm tòi học hỏi từ đó. Học hỏi kinh nghiệm dầy dặn của tay đại đội trưởng xuất thân từ hàng hạ sĩ quan đi lên mà hắn vì mặc cảm không hề chỉ bảo, học hỏi cách đáp ứng với tình thế của ngay cả những binh sĩ trong đơn vị, học âm thầm vì không thể nói là mình không biết... Cứ như thế, tôi đã trải qua hết trận chiến này đến trận chiến khác Bố Đức, Đồng Xoài, Đức Phong, Lộc Ninh, Bình Long, Chơn Thành, Long Nguyên, An Điền, Bến Cát...

Những ngày tháng như thế tiếp diễn liên tục. Bạn bè cùng về một trung đoàn thật ít khi gặp mặt. Mỗi tiểu đoàn phụ trách một vùng trách nhiệm khác nhau. Gặp nhau quả là một tình cờ hú họa.

Với Hoàng, lần gặp đầu tiên, sau 29 ngày đêm tại Snoul, tiểu đoàn tôi rút về Lộc Ninh sau khi TĐ4/7 sang thay thế. Mới về chiều hôm trước, sáng đang lững thững ra chợ, cái chợ chiều dài chưa được trăm thước thì nghe tin “quân ta đã về!”. Cộng quân đã tập trung cả một công trường bao vây, tấn công và phục kích một đoạn đường dài hơn mười cây số từ Snoul về sát biên giới Việt Nam, tiền pháo hậu xung nhằm đè bẹp quân ta với cấp số chỉ một trung đoàn mà sau mấy tháng trời đã mệt mỏi vì hành quân liên tục.

Gặp Hoàng còn nguyên vẹn, tôi mừng thầm cho bạn. Tôi đã học được những bài học vỡ lòng thật quan trọng cho cuộc đời binh nghiệp của tôi sau 29 ngày đêm tại chiến trường này. Nó đã giúp tôi vững vàng, trưởng thành và tồn tại qua cuộc chiến đầy gian nan mà tôi sẽ còn gánh chịu sau này.

Tháng 2-1972, trung đoàn tôi được lệnh hành quân tại vùng biên giới phía bắc An Lộc, mệnh danh là vùng Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu giáp ranh với tỉnh Kratiê của Kampuchia. Sau một tuần trải quân lục soát, chúng tôi phát hiện địch đã ủi những đường lộ khá rộng khoảng 4-5 thước bề ngang với những hệ thống giây điện thoại trải dọc theo đường, suốt từ biên giới chạy dài về Bình Long, băng qua những rừng rậm, suối đồi, những đồn điền cao su mênh mông... Chúng tôi thỉnh thoảng chạm địch nhưng chúng chỉ là những toán nhỏ, có thể giao liên, tiền thám hay công binh, truyền tin gì đó... Thường chúng né tránh bỏ chạy, không hề gặp một đơn vị lớn.

Ba ngày sau, do tin tình báo, chúng tôi được lệnh bằng mọi giá phải kéo về An Lộc gấp trong vòng 24 tiếng. Địch đang tập trung lực lương chuẩn bị tiến chiếm Bìnhh Long với cấp số lớn. Chúng tôi không ước lượng lớn cỡ nào, chỉ nhìn những đường lộ ủi rộng như vậy cũng hiểu chúng phải mang cả công trường là ít. Chúng tôi gần như chạy. Vài lần chạm súng, địch bỏ lại xác và vũ khí chúng tôi cũng được lệnh không cần thu dọn. Chỉ trong một ngày, chúng tôi băng rừng lội suối về tới thị xã. Đại đội tôi được lệnh bố trí chốt tại đồi Đầm Long, án ngữ ngay hướng bắc về phía Lộc Ninh. Tính hình lúc này chưa có gì, chúng tôi còn thả bộ lòng vòng quanh khu chợ. Vẫn còn sinh hoạt náo nhiệt với các quán xá mở cửa, người qua lại đông đúc.

Qua ngày hôm sau, địch bắt đầu mở màn bằng những tiếng pháo từ hướng tây bắc thị xã. Một hai trái đầu tiên khiến dân chúng nhốn nháo hoảng sợ, một số hàng quán đã vội vàng đóng cửa, không khí trở nên nặng nề khó thở, đường phố vắng hẳn. Những ngày tiếp theo cũng vậy, chúng tiếp tục nã đạn lai rai vào thành phố. Đạn rớt lung tung, khi ở chỗ này khi ở chỗ nọ, có lúc bay tuốt đâu đâu! Sau này chúng tôi hiểu được, với sự trợ giúp của mấy tay nội tuyến nằm trong thị xã, chúng đang điều chỉnh tác xạ. Với chúng tôi, pháo kích là chuyện cơm bữa, lính tráng mấy khi được ở thành phố, mấy trái pháo kia làm sao có thể giữ chân họ nổi.

Tôi gặp Nguyện ở đây trong một quán cà phê sáng ngày thứ ba từ khi về thị xã. Nguyện vẫn thuộc đại đội niên trưởng Việt và đang trấn giữ vành đai phía tây thị xã sát cạnh ty Chiêu Hồi. Nguyện đi một mình vì niên trưởng Việt đang mắc họp ở tiểu đoàn. Nguyện đen xạm hẳn đi nhưng có vẻ rắn chắc hơn cái ngày chúng tôi còn nằm chung trong cái bunker ngày nào. Cũng chẳng có trao đổi gì nhiều ngoài sự thăm hỏi tình hình bạn bè và dăm ba chuyện gẫu, chúng tôi lại chia tay sau đó.

Buổi chiều chúng tôi được lệnh di chuyển về đóng chốt tại rừng cao su Xa Cam, phía nam thị xã, cách thị xã độ hơn cây số. Đại đội tôi đóng tại đây được một tuần lễ thì địch tiếp cận bao vây. Những ngày đầu, chúng mở vài đợt tấn công nhưng thất bại vì chúng tôi đào hầm hố có nắp khá kiên cố. Chúng tôi cũng học theo cách làm hầm chữ L của bọn chúng, có hai vị trí chiến đấu hai đầu, hầm rất hẹp để tránh pháo kích, trên có nắp bằng những nhánh cao su xếp sát lại và đổ đất cao bên trên, rất chắc chắn. Đạn cỡ 122 ly nổ trên nóc hầm không nhằm nhò, đạn cối chỉ gãi ngứa trừ phi rớt trúng ngay miệng hầm. Tấn công chúng tôi, địch chỉ có cối 61, 82 yểm trợ. Sau những loạt tiền pháo không mấy hiệu quả chúng phóng ra một đợt hậu xung thì mìn Claymore tự động nổ vang và đồng thời lãnh hàng loạt đạn đủ loại của chúng tôi khai hỏa. Chúng co vòi thụt lại. Sau vài lần thử lửa nữa, chúng chỉ kéo thêm xác đồng bọn về.

Có lẽ không xác định được vị trí cũng như số mìn chúng tôi gài, để tránh thiệt hại chúng đổi chiến thuật. Tối ngày sau, chúng tổ chức đánh đặc công! Cũng khoảng nửa đêm, bốn tên đặc công tất cả, hai tên đi trườc chia thành hai cánh song song, cách nhau hai hàng cao su, ở trần mặc xà lỏn, tay cầm K54, bụng cột một chùm bêta bò vào. Hai tên sau, quần áo đầy đủ, mang AK. Một tên loay hoay thế nào không biết đá trúng sợi giây mìn tự động mìn nổ ngay. Vô phúc tên còn lại, tuy không đứng ở vị trí trái mìn nào cả nhưng do hoảng sợ vì tiếng nổ, chạy xéo qua một bên bèn lãnh ngay một trái khác cũng gục tại chỗ. Hai tên bò vào gần tới, không còn thế lùi vì có lùi cũng đâu biết mìn chỗ nào mà né. Chúng liều vùng đứng dậy chạy vào vòng đóng quân của đại đội tôi rút bêta liệng. Vô phúc cho chúng, tôi đã từng trải qua kinh nghiệm xương máu với kỳ đặc công đánh trường năm nào. Lính đã có lệnh, ban đêm, có chuyện xảy ra, tất cả xuống hầm, ai chạy trên mặt đất là địch, bắn xả láng. Chúng tôi khai hỏa, chỉ vỏn vẹn chưa đầy năm phút, im lặng trở lại. Chúng tôi cố thủ tại hầm chờ trời sáng. Kết quả, tờ mờ sáng, hai xác đặc công đang nằm sõng sượt trên mặt đất, một tên người lỗ chỗ cả chục vết đạn, tên kia, một trái M79, cái đầu đạn vàng khè nằm ngay giữa bụng do sức ép chui vào lọt bên trong làm banh bộ lòng ra ngoài nhưng đầu đạn không nổ vì khoảng cách bắn quá gần! Chúng tôi tịch thu hai khẩu K54. Qua liên lạc máy, toán tiền đồn báo về cũng đã lượm thêm hai khẩu AK, một 47 một 50.

Chưa chịu bỏ ý định tính sổ tụi tôi, ngay tối hôm đó, khoảng nửa đêm, chúng vào một cái ấp gần đó lùa bầy trâu của dân đẩy vào phòng tuyến đại đội. Chúng tôi đang ngủ thì liên tiếp những tiếng mìn nổ vang dội chung quanh. Vội vàng xuống hố bố trí, chúng tôi chờ địch xung phong. Cố gắng dõi tầm mắt xuyên qua bóng đêm dầy đặc để quan sát, nín thở để nghe ngóng từng tiếng động. Cả tiếng đồng hồ im lặng trôi qua, không một tiếng động, không có dấu hiệu nào chứng tỏ địch mở đợt tấn công. Tất cả được lệnh chấm dứt báo động ngoại trừ những người có nhiệm vụ canh gác phải cẩn thận hơn.

Tờ mờ sáng, sương mù chưa tan hẳn, chúng tôi nhìn ra hướng mìn nổ, sáu xác trâu nằm rải rác chung quanh vòng đai phòng thủ lẫn lộn trong những nhánh cao su gãy bên cạnh. Cho một toán bò ra lục soát, chúng tôi không thấy gì khác hơn xác những con trâu đã chết vì vướng mìn. Chúng tôi phải gài lại những trái mìn khác thay thế.

Từ đó, chúng từ bỏ ý định tấn công tiêu diệt chúng tôi vì tổn thất quá nhiều. Tất nhiên vị trí đóng quân của đại đôi tôi gây trở ngại cho chúng không ít trong việc chuyển vận vũ khí đạn dược cho những đơn của chúng đang chuẩn bị cho đợt tấn công vào trong thị xã. Chúng vẫn tiếp tục công việc này bằng cách di chuyển chạy, từ gốc cao su này dọt sang gốc cây cao su khác. Thoạt tiên, lính cũng nhắm bắn, nhưng không hiệu quả. Mình thấy địch mới bóp cò đạn chưa tới nơi nó đã dọt sang chỗ khác. Có bắn chận đầu thì cũng chỉ hú họa và chưa chắc đã có kết quả. Ở vào tình trạng bị bao vây cô lập như tụi tôi lúc này, không được tiếp tế, tiết kiệm đạn dược là điều cần phải làm. Vậy là mạnh địch địch chạy, mạnh ta ta ngó!

Tụi việt cộng quả thực tính toán mánh lới. Chúng không tấn công tụi tôi nữa vì nghĩ rằng chỉ cần bao vây cô lập, tụi tôi cũng không còn đường sống. Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi tụi tôi đã không còn nước uống. Lợi dụng một tối trời mưa, chúng tôi giăng poncho trên mặt đất trũng lấy nước đổ đầy bình dự trữ. Cũng chẳng được bao nhiêu. Một ít đổ vào những bao gạo sấy vò cho nhuyễn đỡ bao tử, số còn lại để uống tiết kiệm. Chúng tôi đã báo cáo trình trạng này về tiểu đoàn xin chỉ thị nhưng lệnh ban ra vẫn là cố thủ vị trí. Chúng tôi không còn may mắn nữa. Chả có trận mưa nào tái diễn dù là mưa bụi. Tới ngày thứ bảy chúng tôi không còn một giọt nước. Việt cộng không đánh chúng tôi cũng chắc chắn sẽ tiêu. Chúng tôi phải qua tần số hẹn (một tần số liên lạc truyền tin quy định riêng trong nội bộ tiểu đoàn, cấp trên không biết) xin tiểu đoàn trưởng cho rút. Tiểu đoàn trưởng và phó của chúng tôi lúc này là hai ông cùng khóa 20 VBĐL, đại đội trưởng đại đội tôi, trung úy Đạt khóa 23. Hai ông bàn nhau sao đó, đồng ý cho chú đàn em rút dù để bảo toàn lực lượng và dặn dò phải phá bỏ triệt để hầm hố phòng khi cấp trên bắt tái chiếm.

Mặc dù bỏ ý định tấn công chúng tôi nhưng lũ địch không ngơi quan sát. Khi chúng tôi bắt đầu phá bỏ hầm hố, địch hiểu ngay ý định. Chúng tập trung lực lương thật nhanh và khai triển tấn công liền. Cũng may chúng tôi đã trù liệu, để lại một trung đội chận hậu với tất cả mìn dàn sẵn, M72 kéo nòng chờ đợi, rút từng toán nhỏ một, từng đoạn đường một yểm trợ lẫn nhau trong khi lui. Toán địch đầu tiên vừa xung phong là lãnh nguyên nhiều loạt M72, cộng thêm những trái mìn Claymore còn lại cũng được kích hỏa từ những con cóc mìn trong tay những người lính của trung đội chận hậu. Chúng khựng lại một lúc, ép sát mặt đất để né tránh cái hỏa lực mãnh liệt phát ra từ những sinh vật, vì sự sinh tồn, đã bằng mọi nỗ lực hành động tìm cho mình con đường sống. Lợi dụng sự khựng lại của bọn địch, trung đội cuối cùng đã vùng dậy, lao theo lớp đồng đội đi trước. Thấy chúng tôi đã thoát khỏi tầm tấn công, địch đuổi theo bằng mấy viên đạn cối rồi thôi. Tới quốc lộ 13, cách vị trí chúng tôi vừa rời bỏ độ nửa cây số, kiểm điểm lại quân số, chúng tôi còn nguyên nhưng không vẹn, ba chiến sĩ bị thương dù không có gì trầm trọng lắm.
Thị xã An Lộc đổ nát trong mùa hè đỏ lửa 1972


Cả đại đội kéo vào thị xã, vừa qua khỏi cổng Nam thì mấy trái đạn pháo lao tới: 105,130, 122 ly... đủ loại. Trái nổ gần, trái nổ xa, tiếng hú xèo xèo, tiếng nổ ù tai, biết đường nào mà né. Cả đại đội chỉ biết nhào vào hai bên đường nằm xuống, úp mặt có, ngửa mặt có, trời kêu ai nấy dạ, hầm hố đâu mà trú ẩn. Thì ra, tình hình trong tỉnh lỵ còn nặng nề hơn. Địch pháo kích cả ngày lẫn đêm, bất kể giờ giấc từ hai hướng: tây và tây bắc. Những khẩu pháo, theo sự đo đạc ước lượng của chúng tôi, cách thị xã khoảng chừng 30 cây số. Chúng tôi có muốn phản pháo cũng vô hiệu quả vì tầm pháo 105 ly của ta không thể đi xa tới thế, vả lại còn lại trong tỉnh lỵ chỉ có hai khẩu 105 ly với vài chục trái đạn nên phải tiết kiệm dành cho trường hợp tối cần thiết.
Pháo 175 ly chúng ta có nhưng đặt mãi tận căn cứ Lai Khê. Có thể nói, dưới cái hỏa lực pháo tàn bạo của địch, rót xuống một phần đất mà diện tích bao gồm chưa tới một cây số vuông, ngày này qua đêm nọ, ròng rã suốt mấy tháng trời, binh lính trấn đóng tại đây, hầu hết đều bị thương vì đạn pháo. Thậm chí có người bị thương hai ba lần vì không có phương tiện di tản. Yểm trợ cho An Lộc lúc đó chỉ trông chờ vào những phi vụ máy bay oanh tạc của ta và Mỹ từ chiến hạm Mỹ bay vào. Đạn dược, thức ăn, thuốc men có được nhờ vào thả dù tiếp tế. Để tránh pháo và cao xạ, máy bay thả dù phải bay thật cao và thả những kiện hàng xuống, nhiều kiện hàng đã bay lọt ra ngoài phạm vi thị xã.

Mấy tháng trời vây hãm với quân số trội hẳn, hơn ba công trường chính qui: 3, 5 và 7 với xe tăng, pháo hạng nặng, hỏa tiễn..., mở bao đợt tấn công, chúng vẫn không chiếm được một tỉnh lỵ nhỏ bé mà lực lượng phòng thủ chưa tới một sư đoàn! Chúng quên mất một yếu tố quan trọng: bao vây quân ta tứ phía, không chừa một ngõ thoát thân. Con vật nào cũng vậy, khi bị dồn vào chân tường đều phải phản ứng tự vệ tới cùng tìm cho mình một con đường sống. Chúng tôi đã tồn tại như một bản năng. Hơn thế nữa, với sức chịu đựng bến bỉ, với một ý chí kiên cường, chứng kiến tận mắt sự thô bạo của bọn chúng khi sát hại đồng bào vô tội trên quốc lộ 13 khi họ tìm cách trốn chạy về hướng nam, quân ta đã làm nên một kỳ tích cho chiến sử Việt Nam qua chiến thắng An Lộc.

Sau khi vào thị xã, đại đội tôi được điều động bố trí tuyến phòng thủ hướng nam, sát cạnh đồn Cảnh Sát Dã Chiến tỉnh. Mỗi ngày, chúng tôi, ngoài cảnh hứng chịu những đợt pháo kích liên tục từ xa mà nguy hiểm nhất với những trái xuyên phá, không nổ trên mặt đất mà chui sâu dưới mặt đất hai ba thước xoáy thành những lỗ sâu hoắm nhằm phá hủy những hầm hố phòng thủ, chúng tôi còn phải đối phó những đợt bắn khuấy rối của đám việt cộng bên ngoài với đủ loại đạn: bắn sẻ bằng M79 lấy được của phe ta, cối 61, 82, đại bác không giựt 57, 75, AK, đại liên, B40, B41, lựu đạn phóng vào bằng giàn thun, trong đó có cả những lựu đạn cay khiến chúng tôi lúc nào cũng phải kè kè bên mình cái mặt nạ phòng hơi độc.

Một buối sáng sớm, trung úy Đạt, đại đội trưởng lợi dụng êm pháo cầm xẻng ra ngoài đi vệ sinh, từ phía rừng cao su hướng nam một trái M79 phóng vào, Đạt ôm quần chạy xuống hầm. Một bên mông đang ứa máu với những miểng nhỏ ghim lỗ chỗ. Hắn gọi máy về tiểu đoàn báo cáo. Ngày hôm sau, Đạt ra cổng nam leo lên trực thăng di tản về Lai Khê. Hắn có lệnh về học khóa Cao đẳng công binh cách đây nửa tháng nhưng tiểu đoàn không cho đi vì tình hình chiến sự. Trực thăng tản thương lúc này cũng đã có trên một đoạn của quốc lộ 13 phía nam thị xã nhờ một lữ đoàn dù được trực thăng vận lên tiếp viện đã trấn giữ một phần hai bên quốc lộ cách tỉnh lỵ khoảng hơn cây số.

Mang tiếng là có trực thăng tản thương nhưng mỗi lần thấy bóng dáng trực thăng bay tới là việt cộng pháo phủ đầu. Nhiều khi máy bay vừa đáp xuống chưa kịp bốc thương binh đã phải vọt bay lên. Những người bị thương nhẹ dễ có cơ hội được bốc hơn, nhất là những anh có thể tự leo lên trực thăng một mình không cần người khiêng hay dìu đỡ.

Đạt thuộc một trong số những người đi tản thương kiểu đó dù chưa được sự ưng thuận của tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng, sau khi biết sự việc, chửi thề đòi báo cáo đưa hắn ra tòa án quân sự. Tiểu đoàn phó can ngăn bảo dầu gì hắn cũng là đàn em, làm vậy sẽ hại cho cuộc đời binh nghiệp của hắn. Thế là sự việc xếp lại và tôi được chỉ định xử lý thường vụ.

Đêm 13/5/1972, việt cộng mở một trận pháo kích khủng khiếp nhất trong lịch sử chiến tranh. Từ 6 giờ tối đến rạng sáng hôm sau, địch rót vào thị xã hơn mười ngàn trái đạn để chuẩn bị cho đợt tấn công của bộ binh phối hợp với chiến xa ngay sau khi pháo vừa dứt điểm. Tiếng pháo cứ liên tục bung binh không ngớt suốt đêm và vừa ngưng vào rạng sáng hôm sau thì tiếng xích xe tăng rít kèn kẹt vượt qua những lớp kẽm gai ngoài hàng rào phòng thủ đã vang lên. Những chiếc tăng mà lần đầu tiên quân ta trực tiếp đối đầu T54, PT76... đã ập vào tận tuyến phòng thủ. Có những chiếc chạy qua cán dẹp lép những căn hầm tránh pháo kích của ta. Tất cả binh sĩ đã được lệnh lên khỏi hầm nghinh đón bộ binh địch. Không một bóng dáng tên việt cộng nào cả, họ xoay sang tìm cách tiêu diệt xe tăng.

Lần đầu tiên chạm trán, loại súng duy nhất để chống chiến xa ta có chỉ là M72 chống người và phá hủy hầm hố. Lính giương nòng nhắm trực xạ vào những chiếc tăng đang tung hoành ngang dọc. Có vài trái trúng mũi xe, pháo tháp... bay vuột đi mất. Rút kinh nghiệm rất nhanh, họ nhắm vào dãy bánh xích xe bên hông. Những tiếng nổ ùng uỳnh vang lên khắp nơi. Hình như không hiệu quả. Một chiếc rõ ràng đã trúng đạn vẫn hùng hổ lao tới ủi sập một góc nhà trước căn hầm của BC đại đội kẹt ở đó nhưng máy lại càng rú mạnh hơn. Một số binh sĩ thấy coi bộ M72 không công hiệu đã chạy theo xe, bám vào thành xe leo lên tìm chỗ trống thảy lựu đạn vào. Qủa tình phương pháp này hữu hiệu hơn nhiều. Sau tiếng ục ùng vang lên trong thùng xe, chiếc tăng bất động.

Khí thế nổi lên, lính ta ùn ùn rủ nhau đi rượt xe tăng. Cũng nhờ địch, lần đầu áp dụng chiến thuật bộ binh tùng thiết, hoặc giả chúng trục trặc trong việc phối hợp sao đó, lính ta tha hồ rảnh tay diệt tăng mà không sợ bộ binh yểm trợ. Chiếc T54 sau một hồi kẹt ở góc nhà, pháo tháp được đẩy lên, từ trong chui lên một tên bộ đội, hai tay đưa thẳng lên trời, miệng không ngớt kêu xin hàng đừng bắn. Lôi hắn xuống, hắn cho biết còn một tên nữa trong xe. Bọn tôi bảo hắn leo lên pháo tháp gọi tên kia ra. Đó là hai tù binh mà chúng tôi bắt được tại tuyến phòng thủ qua đợt tấn công duy nhất việt cộng có thể tổ chức dù đã chuẩn bị nhiều tháng trời. Thì ra, mặc dù trái M72, không làm xuy xuyển chiếc tăng nhưng với sức nổ, hai tên trong xe đã bị dội ép đến bất tỉnh. Cách thiết kế của xe tăng địch trái ngược với ta. Ga xe khi nhấn mạnh là giảm tốc độ, còn buông ra là xe chạy mạnh hơn. Hèn chi khi tên lái xe ngất đi, cần ga không người điều khiển lại càng hú lên dữ dội khiến chúng tôi tưởng lầm và đã hơi hoảng lúc đầu.

Chúng tôi may mắn giữ vững phòng tuyến nhưng tiểu đoàn bạn 3/7 thì không. Tuyến hướng tây tương đối bằng phẳng, tạo dễ dàng cho địch trong việc tiến công. TĐ3/7 bị chọc thủng phòng tuyến, tan hàng. Đại đội của niên trưởng Việt và Nguyện cùng chung số phận. Hai sĩ quan CTCT đã anh dũng hy sinh đúng như lời thề nguyện ngày nào trên vũ đình trường đem máu xương bảo vệ sơn hà.

Chiều hôm đó tôi nhận lệnh dẫn đại đội đi tái chiếm lại một phần tuyến đã thất thủ của TĐ3/7. Gần 6 giờ chiều chúng tôi mới tới được một dãy nhà cách tuyến phòng thủ cũ của TĐ 3/7 khoảng hơn trăm thước. Trời sắp sập tối. Phía trước, qua ống nhòm tôi thấy thấp thoáng đằng sau dãy nhà đổ nát bóng hai chiếc tăng T54 với họng pháo dài nhô ra bên ngoài bức tường gạch nám màu khói lửa xám xịt. Tôi xin lệnh dừng quân bố trí để mở cuộc tấn chiếm lại vào sáng ngày mai. Buổi tối trước khi ngủ, tôi khấn thầm, mong hương hồn Nguyện linh thiêng phù trợ để tôi có thể tìm tới nơi chỗ xác bạn, lo cho bạn được một chỗ an nghỉ tươm tất trong lòng đất.

Tôi đã không làm được điều đó. Mới năm giờ sáng, một trái đại bác 100 ly trực xạ phát đi từ nòng chiếc tăng T54 trúng ngay bức tường nơi tôi đặt BC đại đội. Anh hạ sĩ gác ngồi trên nóc hầm bị một miểng chém ngang đứt hẳn phần đầu, những miểng còn lại tạt xuống dưới khiến một số bị thương. Tôi bị một miểng xuyên qua gót chân trổ ra bên cạnh mắt cá. Qua làn cát bụi mịt mù, tôi nghe tiếng rên la của chú đệ tử kế bên vì chân trái đã bị một cái miểng đạn chém đứt nhưng còn sợi giây gân dính lại với phần đùi bên trên. Phải chừng nửa phút tôi mới cảm thấy ê ê dưới gót chân, rà bàn tay xuống, gót chân phải của tôi, một phần thịt bầy nhầy. Hai tên mang máy truyền tin may mắn nhất vì căng võng sát trần hầm nên khi miểng chém đứt giây võng, hai đứa té xuống vội vã bỏ hầm chạy đâu mất. Sau khi an ủi chú đệ tử bị thương, dặn nằm đó chờ, tôi nhét khẩu colt vào bụng, đội nón sắt, với chiếc mặt nạ phòng hơi độc đeo vào vai, chân phải xỏ giày cột lại đàng hoàng. Chiếc còn lại không thể mang được, thấy tiếc, tôi xỏ tay trái vào và bò sang cái hầm y tá gần đó. Vừa chui đầu vào một trái pháo nổ tiếp theo, một làn hơi nóng với sức ép xô tôi lọt vào bên trong đồng thời bức tường sập xuống bít chặt miệng hầm lại. Chúng tôi hoàn toàn bị nhốt kín trong căn hầm không có cách gì liên lạc với bên ngoài.

Hai tiếng sau, tiểu đoàn cho đơn vị lên tiếp cứu moi hầm lôi ra. Đại đội tôi được một sĩ quan khác chỉ huy vì tôi hoàn toàn bất khiển dụng từ đây.
Tôi được tiểu đoàn cho một cậu lính theo chăm sóc suốt thời gian còn lại. Hắn cõng tôi vào tòa hành chánh tỉnh, nơi đây tôi được bác sĩ Hùng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 quân y khâu “sống” cái gót chân nát bấy của tôi, nghĩa là khâu băng kim chỉ mà không có thuốc tê. Cũng chả đau đớn gì mấy vì cái nhức trong xương, lúc này mới phát ra, còn ghê gớm hơn cái đau của mũi kim xuyên qua da thịt gấp trăm lần. Tôi chịu như thế hơn một tháng trời. Nhiều lần, gã đệ tử cõng đi tản thương đều thất bại. Có lần đang đi, pháo tới, hắn quẳng tôi xuống để tìm chỗ núp vì đạn bay quá gần, tiếng xè xè cho biết như vậy. Một hai lần tới được bãi đáp thì không tranh kịp với những người bị thương nhẹ hơn.

Đợi đến khi bộ tư lệnh sư đoàn lập ra một toán phụ trách tản thương, tôi mới được đưa lên trực thăng chuyển về Lai Khê. Lúc đó vết thương đã lành miệng. Cám ơn chú lính chăm sóc cho tôi, mỗi lần máy bay thả dù tiếp tế chú chịu khó lục lọi tìm những ống trụ sinh về chích, nhờ đó vết thương không làm độc. Nhiều người đã phải cưa chân hai ba lần vì vết thương bị nhiễm trùng. Ngồi trên trực thăng, tôi đưa bàn tay sờ xuống sàn, hơi thép mát lạnh tôi có được cảm giác mình còn sống sót. Những người ở lại, vẫn đang tiếp tục những gian khổ tôi từng trải qua, những người đã nằm lại vĩnh viễn, trong đó có bạn tôi Tôn Thất Nguyện, có niên trưởng Lê Bách Việt và bao chiến sĩ vô danh khác nữa...

Sau nửa năm nằm bệnh viện, tôi trở lại đơn vị. Thành Laba lúc này về làm trưởng ban 5. Tiểu đoàn trưởng là ông phó lên thay. Thành mới đổi về, không được lòng mọi người vì cái miệng bô lô bô loa của hắn. Tiểu đoàn trưởng bảo sẽ đưa tôi làm trưởng ban 5 thay cho Thành sẽ ra ngoài đại đội tác chiến. Tôi từ chối nại rằng Thành đủ khả năng để giữ chức vụ này, tôi không muốn mang tiếng tranh dành vị thế của bạn. Một tuần sau, một đại đội trưởng có lệnh thuyên chuyển về cảnh sát, tiểu đoàn trưởng đề nghị tôi giữ chức vụ này và khuyên tôi làm đơn xin xuất ngành. Tôi chính thức trở thành đại đội trưởng cho đến ngày tan hàng.

Một thời gian sau đó, tôi tình cờ gặp Thẩm trong khi về hậu cứ trung đoàn lấy sự vụ lệnh đi học khóa Bộ binh trung cấp. Tiểu đoàn Thẩm đang hoạt động tại Phú Giáo. Đang rảnh rỗi, tôi kéo Thẩm ra quán nhậu mừng rỡ vì bạn bè quá lâu mới gặp. Thẩm hỏi thăm cách thức nộp đơn xin xuất ngành. Tôi khuyến khích sau khi nói sơ cho Thẩm biết những đơn từ cần làm gửi thẳng về Bộ Tổng Tham Mưu thay vì Tổng Cục CTCT để tránh bị phạt. Ít lâu sau đó Thẩm chính thức nắm đại đội.

Sau khi mãn khóa học trở về, tôi còn nhớ rõ, nhận lại đại đội, lúc đó tiểu đoàn tôi đóng tại Lai Khê, tiểu đoàn trưởng đã đổi, thiếu tá Dũng, khóa 16 võ bị từ trinh sát dù về, tôi được lệnh dẫn đại đội tăng phái cho trung đoàn 8, giữ an ninh cho bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn đang ở tại khu Lò Than ngay ngã tư Bến Cát. Ngã tư này, cách quốc lộ 13 năm trăm thước về hướng đông. Chạy về tây bắc là ngõ đi lên mật khu Long Nguyên, phía tây nam rẽ vào An Điền Rạch Bắp là nơi chiến sự đang sôi động lúc này. Giữa đường An Điền-Rạch Bắp một chiến đoàn của sư đoàn gồm một số các tiểu đoàn của trung đoàn 8 và 9 phối hợp với thiết đoàn 5 đang quần thảo với một lực lượng khá lớn của địch nhằm cắt đứt quốc lộ 13. Bộ chỉ huy nhẹ chúng tôi đang giữ an ninh là trung tâm điều khiển các cuộc hành quân ở đó. Với nhiệm vụ nhẹ nhàng này, sau khi bố trí, tôi cho đệ tử ra Bến Cát khiêng về hai két 33 để đãi các trung đội trưởng.

Đang ngồi nhậu, tôi thấy Thẩm dẫn đại đội đi trên đường hướng về phía Long Nguyên. Tôi đứng dậy giơ cao tay ngoắc ngoắc miệng kêu tên. Thẩm cũng nghe thấy và đưa tay đang cầm tấm bản đồ vẫy lại, chỉ có thế vì đang bận với hai cái ống liên hợp trên tay điều động đơn vị và tiếp tục di chuyển. Tôi ngồi xuống tiếp tục tiệc rượu. Chừng mười lăm phút sau, tôi nghe có tiếng nổ lớn như tiếng mìn về hướng Thẩm đang di chuyển và tiếp theo là nhiều loạt đạn nổ vang. Chắc chắn Thẩm đang chạm địch. Cái máy truyền tin đặt cạnh tôi vang lên những báo cáo không hay. Vì biệt phái nên tôi xài chung một tần số với tất cả các đơn vị phối hợp. BC đại đội của Thẩm đã lọt vào điểm phục kích của địch. Ngay lúc trái mìn và những viên B40, 41 đầu tiên, bộ chỉ huy của Thẩm đã là trọng tâm của cuộc phục kích. Trung đoàn đã trực tiếp điều động các trung đội còn lại của Thẩm phản công vì hai máy truyền tin của đại đội Thẩm không còn lên tiếng. Chỉ sau đó ít phút tôi mới biết rõ Thẩm đã hy sinh. Một người bạn nữa lại ra đi không lời trăn trối. Vĩnh biệt Thẩm.

Đúng 9 giờ tối, tôi được lệnh dẫn đại đội đi gấp vào Rạch Bắp để trám tuyến cho một tiểu đoàn bạn đang rối loạn vì có một số lính bỏ chạy ra ngoài. Trước đó địch đã mở một đợt tấn công tràn ngập tuyến phòng thủ của tiểu đoàn 2/8. Tôi kéo đại đội đi ngay bỏ lại những mìn bẫy còn đang gài ngoài tuyến. Trời đang lất phất mưa khiến con đường đất đỏ dẫn vào trận địa trở nên trơn trượt. Buổi chiều tôi uống hơi nhiều, không biết vì vui khi trở lại đơn vị với những thuộc hạ cũ của mình hay buồn vì một người bạn thân vừa nằm xuống. Tôi xuýt té mấy lần. Dọc đường tôi gặp một số lính nhốn nháo chạy ra ngược chiều cùng với mấy chiếc chiến xa M48. Cũng may, tôi dẫn đại đội tới nới an toàn. Cả tối đó không có động tịnh gì cả. Sáng hôm sau, trung đoàn cho một toán kiểm soát chận bắt tất cả những lính đã tháo chạy trong đêm khuya vì khi nghe tiếng xe M48 của ta di chuyển tưởng lầm chiến xa việt cộng. Chúng tôi được lệnh kéo về. Tới bộ chỉ huy trung đoàn, tôi nhận thêm một tin buồn, niên trưởng Quách Kế Nhơn, tiểu đoàn phó 2/8 vừa hy sinh tối qua trong cuộc đột kích của việt cộng.

Cuối cùng, trong số khóa 2 về trung đoàn 7 chỉ còn Thành, Hoàng và tôi. Chương đi đâu tôi không hề nghe tin tức, chỉ biết hắn bị đì dữ lắm, vẫn còn mang lon thiếu úy.
Những kỷ niệm này, tôi giữ trong lòng từ lâu, vì chẳng có dịp kể cho ai nghe. Gần đây, qua Email, một số các bạn có lên tiếng về cái chết của Nguyện và Thẩm, tôi thấy mình phải có nhiệm vụ nói rõ về chuyện hy sinh của hai người bạn quá cố mà chính tôi là người gần gũi nhất.
Cầu chúc cho tất cả bạn bè chúng ta, những người đã nằm xuống, vì bất cứ lý do gì, yên hưởng thanh bình vĩnh viễn nơi cõi hằng cửu xa xôi nào đó.

Tuesday, January 28, 2020

Trận đánh đồn Phước Quả

Chị Tố Lan thân mến,
Đây là anh bạn của tôi kể lại trận đánh đồn Phước Quả. Nếu có thể chị post cho các bạn đọc biết đâu có bạn biết.
Lý Mỹ Hạnh
************************************
Nguyễn Ngọc Thạch
Ghi lại để tưởng nhớ đến các chiến hửu thuộc Tiểu đoàn 3/9 Sư đoàn 5 Bộ Binh






https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/14033173560


Vào năm 1967 Tiểu đoàn được lệnh hành quân lên vùng Phước Long, lúc đó tôi là sĩ quan Ban 3 Tiểu đoàn, chuyên lo về hành quân và huấn luyện. Sau khi đặt chân xuống sân bay Phước Bình, Tiểu đoàn được lệnh di chuyển vào vùng hành quân với nhiệm vụ được giao phó là thực hiện kế hoạch Bình định Xây dựng vùng phía đông quận lỵ Phước Bình qua các xã Phước Sơn, Phước Quả, Phước Lộc và Hiếu Phong. Tiểu đoàn được phối trí như sau: BCH/TĐ + ĐĐCHCV + ĐĐ11 đóng tại đồn Phước Quả, ĐĐ10 đóng tại đồn Phước Lộc cách Phước Quả ba cây số, và ĐĐ9 hoạt động lưu động trong vùng trách nhiệm.
Tỉnh Phước Long nằm về hướng Đông Bắc của Sài Gòn. Đường quốc lộ 13 chạy về phía Bắc sẽ qua Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Bến Cát rồi tới quận Chơn Thành. Ở đây là ngả ba, nếu rẽ về phải thì sẽ đi Đồng Xoài, Phước Bình, Phước Long và từ Đồng Xoài có ngả rẽ để đi Bù Đăng và Ban Mê Thuột. Còn nếu từ ngả ba Chơn Thành chạy thẳng thì sẽ đến An Lộc, Bình Long, Lộc Ninh. Khi đến gần biên giới Việt Miên xã Lộc Tấn, nếu chạy thẳ̉ng thì sẽ qua biên giới và tới thị trấn Snuol của Campuchia, còn ở ngả ba Lộc Tấn rẽ phải thì sẽ đi qua Bù Đóp (Bố Đức), con đường này nằm xong xong và cách biên giới 3 cây số. Đi tiếp tới sẽ đến quận lỵ Phước Bình và quẹo trái sẽ lên tỉnh lỵ Phước Long. Đây là vùng biên giới Việt Miên nằm trong hai tỉnh Bình Long và Phước Long với những đồn điền cao su bạt ngàn, đồn điền Michelin Dầu Tiếng, đồn điền Terre Rouge Hớn Quản, Lộc Ninh, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch, Bồ Com, Văn Hiến v.v...
Phước Long là một tỉnh lỵ mới được thành lập từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nằm cách quận lỵ Phước Bình 8 cây số và gần núi Bà Rá. Đây là môt vùng rừng xanh đất đỏ sương lam chướng khí rừng thiêng nước độc, sốt rét rừng, ngày xưa ai mà bị đổi lên Bà Rá tức là coi như bị đày. Theo kinh nghiệm của dân địa phương cho biết là không nên ăn măng le, uống nước suối và ngủ̉̃ trưa, nên ăn nhiều ớt để tránh bệnh sốt rét rừng.
Tình hình chiến sự tỉnh Phước Long lúc đó rất là căng thẳng, bị áp lực rất nặng vì cách mật khu +Bù Gia Mập của VC không xa về phía Đông Bắc núi Bà Rá. Mật khu của VC ở bên kia biên giới Việt Miên rất là an toàn vì quân lực VNCH cũng như Hoa Kỳ không được quyền xâm phạm vào lảnh thổ của Miên. Nhưng trái lại thì quân CSBV lợi dụng thế trung lập thân cộng của Miên và Lào để làm hành lang xâm nhập qua đường mòn Hồ Chí Minh và xây dựng các mật khu an toàn của chúng ở bên kia biên giới. Quân CSBV tập trung ở các mật khu an toàn ở bên kia biên giới, đợi thời cơ thuận tiện để xâm nhập đánh phá, với mục tiêu và thời điểm là hoàn toàn do chúng lựa chọn, quân ta không có quyền gì khác hơn là ra sức chống đở tự vệ mà thôi.
Trong thời gian này chúng tôi đã chứng kiến một sự tàn ác dã man của VC khi chúng tấn công vào làng Dakson của người Thượng, ở phía đông bắc thị xã Phước Long và cách mật khu Bù Gia Mập không xa lắm. Khi Tiểu đoàn chúng tôi đến nơi thì VC đã rút đi để lại một cảnh hết sức đau lòng, VC đã giết sạch, đốt sạch nguyên cả làng sau khi toán nghĩa quân giữ làng bỏ chạy. Nhìn những thân hình mà đa số là đàn bà con trẻ bị đâm bị giết một cách hết sức dã man bị đốt cháy đen nằm trong các đống than hồng còn đang bốc khói làm liên tưởng đến bọn giặc Tàu phương Bắc đã từng đối xử với dân tộc ta trong thời kỳ Bắc thuộc: “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.
Ngày 26 tháng 10, 1967 CSBV mở cuộc tấn công đại quy mô vào đồn Phước Quả. Vào khoảng 11 giờ đêm tôi nghe một loạt súng bắn báo động, lập tức tôi nhảy xuống hầm Trung tâm Hành quân để liên lạc với các toán tiền đồn phục kích bên ngoài. Phản ứng của tôi rất là nhanh, chổ tôi nằm trong căn nhà tranh sát cạnh hầm nên tôi phóng nhanh vô hầm. Vừa ngay lúc đó VC bắt đầu pháo kích dử dội, pháo như mưa đều khắp mọi nơi trong đồn. Ngay chổ tôi nằm, ở phía đầu nằm tôi có treo một tấm poncho để che mưa che nắng, sau này nhìn lại tấm poncho rách nát, không còn một chổ nào lớn hơn bàn tay. Trung úy Nhơn, Tiểu đoàn phó, có nuôi một con két nhỏ xíu cũng bị đứt đầu, nếu như tôi chỉ chậm chân chừng vài giây đồng hồ thì chắc đã nát thây. Những người chạy xuống hầm sau tôi đa số đều bị thương, trong số đó có Trung sĩ Võ Đà ban 5 Tiểu đoàn bị thương rất nặng, bị đứt mạch máu ở cổ quị ngay dưới chân tôi, máu phun ra có vòi, y tá đến băng nhưng không cứu kịp vì máu ra quá nhiều, ngồi chết dưới chân tôi. Số người bị thương nằm la liệt trong hầm, trong toán cố vấn Mỹ cũng có người bị thương nặng nằm ở một góc hầm.
Trong lúc đó thì các đại đội trưởng báo cáo tình hình ở các phòng tuyến đang bị tấn công với một hỏa lực rất là mạnh. Tôi gọi báo về Tiểu khu để xin pháo binh yểm trợ, nhưng tình hình ở BCH/Tiểu khu lúc đó cũng đang lúng túng vì đang bị pháo kích. Bởi vì khi địch mở một cuộc tấn công lớn, thường thì nó pháo kích khắp nơi để cho ta không biết đâu là điểm đâu là diện, chổ nào là mục tiêu chính, chổ nào là mục tiêu phụ. Và vì tôi nắm vững tình hình ở đây nên tôi quyết chắc là nó đánh điểm chính là ở đây, đồn Phước Quả. Tôi báo cho Tiểu khu biết rõ tình hình đang nghiêm trọng để tập trung yểm trợ về đây và đồng thời báo về BCH/Trung đoàn 9 ở Chơn Thành biết để theo dỏi.
Có một sự việc đáng nhớ là trước đó chừng một tháng có một Lao công Đào binh bỏ trốn. LCĐB là những quân nhân đào ngủ bị phạt đưa ra chiến trường để làm lao dịch, cho nên Thiếu tá Tôn Văn Lượng, Tiểu đoàn trưởng, liền cho thay đổi ngay kế hoạch phòng thủ. Lúc trước súng đại liên đặt ở các pháo đài góc, sau thay đổi lại đặt vào giửa các cạnh tuyến. Vì vậy khi VC mở các cuộc tấn công biển người vào giửa các cạnh tuyến, liền bị hỏa lực hùng hậu của các khẩu đại liên của ta chận đứng. Một điều đáng nói là vào năm 1967, quân đội ta vẫn còn dùng súng Garant, Carbine, Thompson, Trung liên đầu bạc, Đại liên 30 có từ thời Đệ nhị Thế chiến. Trong khi đó thì phía VC đã có súng AK47, B40, B41, Thượng liên nồi, súng phun lửa rất là tối tân.
Quân ta chống trả quyết liệt, nhưng vì hỏa lực địch quá mạnh nên độ nửa giờ sau thì một pháo đài góc đã bị tràn ngập. Không chần chờ Thiếu tá Lượng liền quyết định tung ra Trung đội Quân báo để tái chiếm lại pháo đài góc đó. Trung đội Quân báo là một lực lượng để bảo vệ BCH và là lực lượng trừ bị duy nhất của Tiểu đoàn, chỉ được sử dụng trong tình huống thật lâm nguy. Sau khi Quân báo đi rồi thì thành phần còn lại trong hầm TTHQ lo bố trí phòng thủ lại cho kỹ, những thùng lựu đạn cho mở nắp sẵn sàng để sử dụng khi địch tới gần và tôi cũng đã gọi pháo binh để chuẩn bị sẵn các loại đạn đầu nổ cao. Nếu trong trường hợp bị địch tràn ngập thì sẽ xin pháo binh bắn đạn nổ cao ngay trên đầu, tiêu diệt địch ở bên ngoài, còn bên ta tất cả ở trong hầm sẽ vô hại. Tuy nhiên đây là một quyết định cuối cùng khi đã lâm vào tình thế tuyệt vọng.
Chừng 10 phút sau Trung đội Quân báo báo cáo là đã chiếm lại được pháo đài góc, chận đứng sự xâm nhập của địch, giữ vững được phòng tuyến. Chúng tôi rất mừng, nhưng với áp lực địch quá mạnh tôi sợ các đợt xung phong kế tiếp sẽ dữ dội hơn nên tôi nói với Cố vấn Mỹ xin phi cơ chiến đấu phản lực lên yểm trợ. Cố vấn Mỹ đi theo Tiểu đoàn thường là họ chỉ lo giúp đở xin phương tiện tản thương hay yểm trợ hỏa lực, họ gọi rất là nhanh qua hệ thống liên lạc tối tân và trực tiếp bên phía Mỹ.
Một lúc sau Đại úy Cố vấn cho biết là máy bay đã cất cánh và yêu cầu ngưng tác xạ các loại súng bắn vòng cầu để máy bay vào vùng. Tôi gọi ngưng các loại súng cối và pháo binh và cho đốt mũi tên lửa lên để cho máy bay thấy. Mũi tên lửa là một tấm ván lớn cắt theo hình mũi tên, trên đó có gắn các lon sửa bò trong nhét vải bố tẩm dầu cặn và quay trên một trục. Khi đốt lửa lên và quay mũi tên chỉ về hướng địch đang tấn công, thì máy bay sẽ thấy rõ vị trí của địch mà đánh. Tôi xin dội bom theo hướng mũi tên và cách xa 500 thước. Sau khi dội trái bom đầu tiên, Đại đội trưởng ở ngoài tuyến báo cáo cho biết là xa quá vì địch quân đang bám sát hàng rào rồi, phải đánh gần lại. Tôi liền yêu cầu gần lại 200 thước và các quả bom sau đã đánh trúng mục tiêu. Sáng ra thấy các bộ phận con người bay văng tung tóe lên nóc nhà trông rất là ghê rợn.
VC tiếp tục mở thêm nhiều đợt tấn công nữa nhưng không thành công nên đành phải chịu rút lui trước khi trời rạng sáng. Chiếc máy bay trực thăng tản thương đã đáp xuống khi trời còn chưa sáng hẳn. Chúng tôi vô cùng biết ơn và cãm phục những người phi công chiến đấu cũng như phi cơ trực thăng tản thương đã can đãm băng mình trong lửa đạn, trong đêm tối cực kỳ nguy hiểm để cứu nguy cho quân bạn, một điều rất khó khăn và nguy hiểm cho không quân yểm trợ là vị trí đồn Phước Quả nằm gần chân núi Bà Rá.
Sáng ra thu dọn chiến trường địch quân chết quá nhiều trên 200 xác trong và ngoài hàng rào đầy mìn bẩy và tịch thu được một số rất lớn vũ khí tối tân đủ mọi loại như K54, AK47, CKC, B40, thượng liên nồi và đặc biệt là hai cây súng phun lửa với hai bình hơi trông rất là lạ. Có một lính Quân báo chui ra hàng rào để lấy chiến lợi phẩm bị mìn nỗ cụt chân. Và vì không thể nào lấy hết xác để chôn cất được, cho nên sau cùng phải dùng dầu tưới lên để thiêu đốt tất cả.
Sau chiến thắng to lớn này tưởng đâu là sẽ được yên ổn trong một thời gian dài nhưng không ngờ chỉ vài ngày sau là chúng liền mở ngay một trận kế tiếp để phục thù. Đại đội 9 đang hoạt động lưu động bên ngoài giữ nhiệm vụ an ninh lộ trình từ Phước Quả ra Phước Bình. Thì vào lúc 12 giờ trưa bị VC dùng vận động chiến mở cuộc tấn công chớp nhoáng tràn ngập Đại đội 9. Tôi nghe tiếng thều thào trong máy của Lê Sĩ Linh khóa 20 Đà Lạt ĐĐT/ĐĐ9 cho biết là VC đông lắm yêu cầu cho bắn ngay trên đầu, rồi im bặt. Chúng tôi tức tốc điều động lực lượng ra tiếp cứu nhưng vì địch quá mạnh nên báo cáo lên Tiểu khu xin tiếp viện.
Sau đó Khu 32 Chiến thuật liền cho tăng viện Tiểu đoàn 31 Biệt Động Quân do Đại úy Trắng chỉ huy, đổ quân từ nhà thờ Phước Sơn đi xuống. Khi đến cua Phước Quả thì chạm địch rất mạnh, chiếc commando car bị bắn cháy, TĐ31/BĐQ bị áp đão vì địch quân quá đông và vì chiến trận là do họ sắp đặt phục kích sẳn. Vì vậy sau cùng TĐ31/BĐQ phải dạt ra, rút về phía chân núi Bà Rá khi trời tối và tìm đường về đến đồn Phước Quả. Qua ngày hôm sau được tăng viện thêm TĐ36/BĐQ mới giải tỏa xong. Khi ra thu dọn chiến trường, Trung úy Linh đã hy sinh bên hố chiến đấu kiến bu đầy người và bên cạnh đó còn có mâm cơm với ba quả trứng luột còn nguyên chưa kịp ăn. Ngoài ra còn có hai sĩ quan Trung đội trưởng đã anh dũng hy sinh đó là Thiếu úy Sến, khóa 21 Đà Lạt và một Chuẩn úy mà tôi quên tên, là cháu ruột của Đại tá Woong A Sáng, Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ Binh lúc đó.
Một tuần sau VC lại mở một cuộc tấn công kế tiếp nhằm vào đồn Phước Lộc do ĐĐ10 trấn giử, Trung úy Trần Hửu Tâm khóa 21 Đà Lạt làm ĐĐT. Tâm mới vừa được thăng cấp đặc cách ngoài mặt trận. Trước kia Tâm học khóa Biên tập viên Cảnh sát, nhưng sau đó đổi ý, không thích ngành Cảnh sát mà tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc Gia. Đồn Phước Lộc nằm trên ngọn đồi bên cạnh liên tỉnh lộ Phước Bình – Quảng Đức, cách đồn Phước Quả ba cây số.
Trong đêm đó VC kéo đại lực lượng tới tấn công, Tâm cho biết là địch rất đông, hỏa lực địch rất mạnh, cho nên tôi đã gọi Pháo binh yểm trợ ngay. Sau đó vì địch mở các đợt xung phong quá dử dội cho nên tôi phải nhờ Cố vấn Mỹ gọi chiến đấu cơ lên yểm trợ gấp. Nhờ vào sự yểm trợ vô cùng hửu hiệu của các phi tuần phản lực mà đã chận đứng được các đợt xung phong biển người của địch. Và vì theo lời Tâm yêu cầu cho yểm trợ sát cạnh cho nên có một quả bom rớt quá gần, gây cho bên ta một số bị thương, trong số đó tôi nhớ có Thượng sĩ Hồ Hến Lòng, là một Trung đội trưởng người Nùng rất dày dạn chiến trường, đã bị thương nặng và sau này phải bị giải ngủ.
ĐĐ10 đã chống trả vô cùng anh dũng, giử vững phòng tuyến cho đến sáng buộc địch quân phải rút lui để lại trên 100 xác chết và la liệt súng đạn đủ loại. Sau đó phải dùng xe ủi đất mới thu dọn sạch hết được. Một đặc điểm của đồn Phước Lộc là nằm trên đỉnh đồi cao, phía trước bằng phẳng gần liên tỉnh lộ, còn mặt sau là triền dốc cao rất khó tấn công. Vì vậy hệ thống mìn bẩy cũng như các hỏa tập tiên liệu của súng cối và pháo binh đều tập trung vào mặt trước của đồn. Khi VC tấn công vào phía trước chúng đã bị lọt vào vòng vây hỏa lực rất mạnh của đồn.
Đây là những chiến thắng lẩy lừng của Quân đoàn III, đã ghi lên những chiến tích vẽ vang trong quân sử của QL/VNCH. Và đã có bản nhạc để ca ngợi 72 tay súng oai hùng giử đồn Phước Lộc, cũng như bài ca Phước Quả và trước đó là bài ca Chiến thắng Lộc Ninh của Trung đoàn 9 Sư đoàn 5 Bộ Binh trong trận tái chiếm quận lỵ Lộc Ninh vào năm 1966. Chiến thắng Phước Quả cũng đã được nhắc lại trong quyển "Chiến thắng bị bỏ lở" của giáo sư Stephen Young và trong bộ sách "Một thời nhiễu nhương" của Bạch Hạc Trần Đức Minh ./.
Nguyễn Ngọc Thạch khóa 20 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Tuesday, May 15, 2018

Anh hùng Sư-đoàn 5PDFPrintE-mail
Tác Giả: Phạm G. Đại   
Thứ Tư, 21 Tháng 4 Năm 2010 07:21
Tác phẩm này cũng như một nén hương kính dâng lên tất cả những anh hùng tử sĩ quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.
Lời Tác Giả: Nhân dịp kỷ niệm 35 năm mất miền Nam vào tay Cộng Sản, "Anh hùng Sư Đoàn 5" là một bút ký nêu lên tinh thần anh dũng, hào hùng, can trường, bất khuất, và hy sinh vô bờ bến của người chiến sỹ Quốc Gia nói riêng và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung.



 Năm một chín sáu ba là một năm xáo trộn về chính trị, tại Mỹ thì Tổng Thống John. F. Kennedy bị ám sát, tại miền Nam thì phong trào chống lại chế độ "gia đình trị" của Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên đến cao điểm đưa đến sự thảm sát hai ông Diệm và Nhu.

Nguồn dư luận lúc đó cho rằng người Mỹ muốn đem quân vào Miền Nam nhưng hai ông Diệm Nhu đã không tán đồng nên đã bị dẹp qua một bên giống như họ dẹp TT Kennedy bên kia trời Âu vậy.

Có một điều mà chúng ta phải thừa nhận rằng dưới chế độ của TT Ngô Đình Diệm, dù là mới phôi thai, nhưng từ năm một chín năm tư thì người Quốc Gia đã tập trung lại được trong miền Nam để thành lập một tiền đồn chống Cộng vững vàng cho vùng Đông Nam Châu Á và chính vì cái vị thế chiến lược đó của miền Nam mà người Mỹ đã nhẩy vào giúp chúng ta xây dựng cái tiền đồn chống Cộng này.

Từ đó lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu tung bay ngạo nghễ khắp miền Nam và trên thế giới.

Miền Nam, đất lành chim đậu, với thiên thời địa lợi và nhân hòa, đã là nơi khai sinh ra vùng trời Tự Do cho người Việt Quốc Gia, sau khi Hiệp Định Geneve chia đôi hai miền Nam Bắc qua con sông Bến Hải. Những bài hát những câu hò ca ngợi Tự Do và Tình Yêu quê hương thủa đó như Nắng Đẹp Miền Nam, Trăng Thanh Bình, Giã Gạo Đêm Trăng, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, "Nhà Bè nước chẩy chia hai, ai về Gia Định Đồng Nai thì về", "Ai vô Nam, ngớ ngẩn vì muôn câu hò..." v.v., đã nói lên niềm khát vọng cho hòa bình và xây dựng đất nước của người dân Việt sau bao nhiêu năm dài chinh chiến.

Nhưng không ai ngờ rằng một cuộc chiến thảm khốc nhất đang được khối Cộng sản Nga - Tầu giao cho Cộng Sản Việt Nam vụt đổ ập xuống quê hương miền Nam.

Những tin tức hàng ngày về Việt Cộng (VC) và quân Bắc Việt (BV) đốt làng phá xóm, giật cầu đắp mìn trên lộ, giết hại dân lành làm cho người dân bắt đầu cảm nhận được cường độ của chiến tranh đang gia tăng nhất là tại vùng nông thôn.

Lúc đó cả ba anh trai của tôi đều đang trong quân trường, anh cả khóa 20 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, anh hai trong Quân Y, anh ba đang thụ huấn khóa 13 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Tôi thì đang theo học Tú Tài I trường trung học Chu Văn An, Sàigòn.



Cô ruột tôi , nhà chỉ cách nhà Mẹ tôi một con hẻm đường Trương Minh Giảng, còn đông con hơn nữa và bẩy cậu em họ của tôi đều lần lượt giã từ bút nghiên để theo nghiệp đao cung khi quốc gia nguy biến. Chỉ trừ cậu út là được miễn thi hành nghĩa vụ quân dịch.

Khi còn nhỏ tại đường Cầu Đất, Hải Phòng, anh Quang lớn của tôi đã tỏ ra có năng khiếu về quân sự. Khi ông Nội đúc cho những thằng lính và xe jeep bằng chì thì anh đã bầy chúng ra làm quân hai bên đánh nhau; có lẽ đó cũng là điềm báo trước là anh sẽ chọn binh nghiệp sau này.

Hai năm sau, anh ra trường Võ Bị Đà Lạt với cấp bậc Thiếu Úy hiện dịch và được thuyên chuyển về Sư Đoàn 5 Bộ Binh (BB) tại Lai Khê, Bình Dương. Chưa đầy hai năm sau anh được thăng chức Trung Úy và với những chiến tích nổi bật, anh được đề cử làm đại đội trưởng đại đội trinh sát của trung đoàn 7.

Anh bắt đầu áp dụng các lý thuyết học trong quân trường với kinh nghiệm thực tế để rèn luyện những sĩ quan và binh sĩ của đại đội trở thành những chiến sĩ gan dạ và am hiểu trận địa, và đại đội đã thắng trận liên tục đem về vinh dự cho cả Sư Đoàn.

Trong trận Ấp Ba, một tiểu đoàn của trung đoàn 7, Sư đoàn 5 BB trong khi xung phong vào Ấp đã bị thiệt hại và phải rút lui ra để tải thương binh về hậu cứ vì lợi thế nghiêng về phía địch.

Bộ tham mưu trung đoàn bèn quyết định đưa đứa con cưng của mình vào trận và đại đội trinh sát được trực thăng vận đến ngay cánh đồng lúa trước mặt một khu đồng trống dẫn vào Ấp.

Tuy ở cấp đại đội nhưng đại đội trinh sát của trung đoàn được trang bị hỏa lực mạnh nhất cùng với vũ khí tối tân nhất bấy giờ với quân số luôn đầy đủ và có ưu điểm là cơ động rất nhanh tạo sự bất ngờ cho địch quân nhiều lúc trở tay không kịp.

Khi anh vừa đáp xuống trực thăng thì anh đã thấy ngay lý do tại sao địch với cấp số chưa tới đại đội mà đã đẩy lui được cả một tiểu đoàn. Đó chính là địch đã dựa lưng vào mật khu Dương Minh Châu phía sau và chỉ có một con đường duy nhất dẫn vào Ấp qua khu đồng trống đó.

Nhìn thấy ven lộ có một cái miếu, anh bảo binh sĩ dưới quyền trong tư thế sẵn sàng và chờ anh một lát, rồi lấy ra từ trong ba lô ba nén nhang và vào trong miếu thắp lên và cầu nguyện Thổ Thần Thổ Địa che chở cho những người lính Quốc Gia đang tiễu trừ Cộng phỉ. Khi bước ra khỏi miếu, anh ra lệnh cho các trung đội dàn đội hình và ra lệnh xung phong. Anh và các sĩ quan đều chạy trên tuyến đầu và nã súng vào những nơi nghi ngờ Cộng quân đang cố thủ.

Từ trong Ấp, đạn bắn ra như mưa và khoảng cách chỉ hai trăm thước vào Ấp mà dài như cả cây số. Thế rồi đạn từ trong Ấp đột nhiên yếu dần đi và khi đại đội vào hẳn được trong Ấp thì thấy nồi niêu soong chảo của địch còn nguyên với nồi cơm còn bốc khói chưa kịp ăn.

Lúc bấy giờ anh mới được binh lính trình báo là đại đội đã vượt qua một bãi mìn VC gài nhưng không có một trái nào nổ cả. Có lẽ đó là lý do mà quân địch quá khiếp vía cho là đoàn quân này có lẽ từ trên Trời xuống chắc mà phải đánh bàì "chém vè" bỏ cả bữa cơm chiều vừa nấu chín. Tiểu đoàn vừa qua cũng vì bãi mìn này mà phải rút lui và nhường trận địa lại cho đại đội trinh sát.

Tổng kết lại phía đại đội chỉ có năm binh lính bị thương và đã được trực thăng đến bốc ngay về hậu cứ và không có một tử vong nào. Những viên đạn của địch cũng đan chéo qua mũ sắt và áo trận của anh nhưng không một viên nào trúng người.

Từ đó anh còn nổi tiếng là một cấp chỉ huy không sát quân và binh lính dưới quyền lại càng thêm tin tưởng vào cấp chỉ huy của mình, và đại đội lại càng lập nên nhiều chiến công hiển hách hơn nữa.

Có một lần đại đội được bốc và thẩy vào mật khu của địch để phá hủy căn cứ của một tiểu đoàn địch. Khi vừa chạm chân xuống đất thì anh có linh tính như là mình đang trong tình thế cực kỳ lâm nguy vì tin tình báo đã không chính xác và đại đội của anh đã bị phục kích bởi không phải một tiểu đoàn mà có lẽ quân số và hỏa lực của địch phải là cấp trung đoàn.

Địch đã được lệnh từ Trung Ương để xoá sổ đại đội trinh sát ưu tú của trung đoàn 7 này bởi vì tuy ở cấp đại đội nhưng với một chiến thuật hành quân chớp nhoáng đã gây cho địch quân những tổn thất nặng nề và là cái gai mà chúng cần phải nhổ.

Dù đang trong vạn phần hiểm nguy nhưng anh vẫn bình tĩnh chỉ huy các trung đội liên lạc với nhau và tìm đường rút ra ngay khỏi mật khu. Những khẩu đại liên, trung liên, súng cối và tiểu liên của địch thi nhau nã vào những người chiến sĩ trinh sát đang thất thế nằm ép dưới các gốc cây. Anh bèn ra lệnh cho các trung đội liều chết đột phá vòng vây và cho truyền tin thông báo ngay về sư đoàn xin không quân và pháo binh yểm trợ.

Lúc đó mới thấy sự gan dạ, dũng cảm và thiện chiến của người lính trinh sát. Họ vừa chạy băng băng ra khỏi khu rừng vừa bắn trả lại địch quân bất kể sống chết trong khi pháo binh bắt đầu rót vào ngay sau lưng họ, và súng đủ loại của địch thì đang nổ rát ngay bên tai.

Vừa ra thoát khỏi vòng vây của địch, anh bèn kiểm lại quân số thì rất mừng trong bụng vì chỉ có bốn tử vong và khoảng một chục thương tích khá nặng nhưng đồng đội đã di tản ra được vùng an toàn, thật như là một phép lạ vì anh ước tính là tổn thất có thể hơn nửa đại đội sẽ phải nằm lại vĩnh viễn trong khu rừng đó. Bản thân anh thì áo trận rách nhiều chỗ vì cây rừng và lỗ chỗ vết đạn nhưng anh và cả bốn Thiếu Úy trung đội trưởng đều bình an.

Trong số bốn tử vong có một hạ sỹ cận vệ của anh và một người lính gốc Hoa tên là Tý mà anh rất thương.

Khi về Sàigòn nghỉ phép ngắn hạn và áo còn vương bụi đường, anh đã cùng hai cận vệ đến tận nhà từng người lính đã hy sinh trong trận phục kích để thăm viếng gia đình và ủy lạo.

Gần căn cứ Lai Khê có một ngôi đền nên anh đã thu xếp để cùng với các sĩ quan đại đội đến cúng cho những người lính anh hùng vừa nằm xuống.

Một hôm một chuyện thật lạ lùng xẩy ra khi anh đang trong doanh trại của đại đội. Bất ngờ có hai lính gác cổng dẫn vào một lính trinh sát có vẻ như say rượu, anh nhìn ra thì đó là binh nhất tên Sơn. Khi nhìn thấy anh thì Sơn phân bua:
-"Em nói là cho em vào gập Trung Úy nhưng tụi gác cổng này không cho vào lại còn nói là còn nói là mày say rượu vào gập ổng cho mấy củ bây giờ.
Em có bảo cho tụi nó biết là em không phải Sơn mà là thằng Tý."
-"Mày ẩu vậy hả, ổng bây giờ là đại úy sao mày cứ kêu Trung Úy?"
Lấy làm lạ, anh bèn ra lệnh cho mấy người lính buông Sơn ra để xem hắn nói chuyện gì.
Anh và các lính gác cổng và cả mấy sĩ quan trinh sát đang ngồi trong văn phòng với anh đều hết sức ngạc nhiên khi biết là Tý người lính đã hy sinh trong trận phục kích đang nhập vào Sơn là tên bạn thân của hắn để về thăm vị chỉ huy của mình:

-"Trung Úy biết không, em vì vắn số nên ra đi hôm đó và rất cám ơn Trung Úy đã đến nhà báo tin cho gia đình em ở Chợ Lớn. Em tên thật không phải là Tý cho nên các thứ đồ ăn trái cây mà Trung Úy đem ra ngôi đền cúng cho em thì không phải tên em nên em không nhận được và mấy ông trong đền ăn hết. Hôm nay, em xin được một chút thời gian để đến đây cám ơn Trung Úy. Thôi! em phải đi đây, cái ông Thần giữ cửa đang thúc em đi đây. Trung Úy nói mấy người này giữ dùm cho em đi nhe."

Anh vốn theo đạo Phật và tin vào thuyết luân hồi nên anh tin là hồn của binh nhất Tý đã nhập vào Sơn để vào đây. Anh bèn ra lệnh cho mấy lính gác mạnh khoẻ ghì chặt lấy Sơn. Chỉ thấy thoáng một cái, mấy người lính như bị một sức mạnh nào làm cho bật tung ra mấy phía, còn anh chàng Sơn thì như người vừa ngủ dậy và đang ngơ ngác và sợ hãi không biết mình tội gì mà bị điệu lên văn phòng của đại đội trưởng.

Sau Tết Mậu Thân thì anh được đặc cách lên nắm tiểu đoàn và tạm biệt những người lính thân thương của trinh sát.

Năm một chín bẩy mươi, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH) chính thức mở đợt tấn công qua Căm Bốt để phá hủy các căn cứ hậu cần của VC và BV. Các căn cứ này nhận được các vũ khí đạn dược, xăng dầu, v.v., là do đường tiếp tế của chúng từ ngoài Bắc chạy qua bên Lào dọc theo đường mòn Trường Sơn kéo dài xuống tới Miên để xâm nhập vào miền Nam.

Người Sàigòn bắt đầu làm quen với những địa danh Kratie, Kompong Cham trên báo chí hàng ngày nhưng vẫn không đo lường được một cuộc chiến khốc liệt đang diễn ra trên xứ Chùa Tháp.
Sư Đoàn 5 bộ binh trong đó có tiểu đoàn do Đại Úy Quang làm tiểu đoàn trưởng cùng với các binh chủng ưu tú và các sư đoàn bạn hùng dũng tiến vào Campuchia - nơi mà Cộng Sản đã lợi dụng sự trung lập của đất nước này làm căn cứ địa để tấn công vào mạng sườn phía Tây của miền Nam.

Đây là một chiến dịch vĩ đại nhất để tận diệt VC và quân BV ngay trong hang ổ của chúng bên Campuchia. Sư đoàn 5 Bộ Binh đã chiến đấu một cách oai hùng và tiểu đoàn do Đại Úy Quang chỉ huy đã hành quân liên miên không ngừng nghỉ hàng tháng trời cho đến kiệt sức. Có những người lính đã không còn cầm nổi cây súng và tiểu đoàn trưởng nhiều lúc đã phải xách súng dùm cho binh lính của mình.

Phần thưởng xứng đáng nhất chính là thành quả rực rỡ của chiến dịch với các khu hậu cần của địch bị phá hủy và san bằng; và ý định của địch nhằm tấn công vào các tỉnh miền Nam đã bị đổ vỡ. Địch đã phải đợi đến hai năm sau thì chúng mới mở được trận tấn công vào một quận lỵ nhỏ bé là An Lộc, tỉnh Bình Long.

Sau chiến thắng vang dội tại Campuchia, Đại Úy Quang được thăng lên Thiếu Tá. Tổng Thống Thiệu đã nhiệt liệt khen ngợi tất cả những đơn vị đã tham gia vào chiến dịch tại Campuchia.

Tổng Thống ban khen, trao tặng huy chương, và phần thưởng đặc biệt là một tuần nghỉ phép tại Đài Loan cho các sĩ quan và binh sĩ ưu tú của chiến dịch.

Thiếu Tá Quang có tên trong những sĩ quan đó nhưng anh đã đề nghị lên cấp trên dành vinh dự đó cho một binh lính trong tiểu đoàn đã lập được nhiều công trận nhất trước sự ngạc nhiên và thán phục của cả tiểu đoàn.

Nhưng sự thử lửa được xem như một cuộc đại chiến thư hùng giữa ba sư đoàn BV và Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù và Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã diễn ra ngay tại An Lộc hai năm sau đó, một lần nữa đã đem lại vinh quang sáng chói cho QLVNCH nói chung và Sư đoàn 5 BB trong đó có tiểu đoàn của Thiếu Tá Quang nói riêng.

Thế giới thường nhắc đến trận Điện Biên Phủ với 55 ngày quân Pháp bị Việt Minh bao vây và cuối cùng là sự đầu hàng của Pháp đưa đến việc đất nước bị chia cắt ra làm hai, nhưng với An Lộc thì cường độ cuộc chiến còn ác liệt gấp nhiều lần hơn trận Điện Biên.

Địch quân đã "hạ quyết tâm" để san bằng An Lộc bằng mọi giá rồi tiến chiếm tỉnh Bình Long trên đường thẳng tấn công vào Sàigòn.

Chính vì thế mà trong gần 100 ngày - tức là gấp đôi thời gian của trận Điện Biên - bao vây An Lộc, mỗi ngày địch quân pháo hàng chục ngàn quả vào các đơn vị tử thủ của QLVNCH trong thị trấn An Lộc, một thị trấn nhỏ bé với chu vi mỗi chiều khoảng một cây số.

Chúng vẫn áp dụng chiến thuật cổ điển là "tiền pháo hậu xung" nhưng những đợt tấn công của chúng đều bị đẩy lui và chúng bị thiệt hại nặng và tinh thần binh lính của BV đã bắt đầu giao động trước sức kháng cự mãnh liệt của lực lượng tử thủ.

Để thực hiện cho được chỉ thị san bằng An Lộc và dâng chiến công lên cho quan thầy Nga-Tầu Cộng, các binh lính BV đã buộc phải cố thủ trên các cây chung quanh thị trấn và chân của họ đều bị xích vào thân cây để không chạy trốn được; các pháo thủ thì bị xích vào trong xe tăng của họ; và bất kỳ bộ đội BV nào mà tháo chạy thì sẽ bị chính cấp trên của họ "xử lý" ngay tại chỗ.

Những đợt pháo ngày đêm nã vào thị trấn ròng rã ba tháng trời đã hầu như san bằng thị trấn và không còn một căn nhà nào cũng như không còn một ngọn cây nào đứng vững nổi. Những người sống sót thẩy đều nằm sâu hay núp dưới giao thông hào hay hầm trú ẩn.

Những giây phút nào mà địch quân im tiếng súng và ngưng pháo kích thì mọi người đều cảm thấy một sự im lặng kỳ lạ khó tả.

Thiếu Tá Quang, một cố vấn Mỹ, 15 người lính Sư đoàn 5, và một con chó trú ẩn trong một cái hầm kích thước không hơn 9 mét vuông. Sau này khi thoát chết trở về, anh nghĩ rằng anh rất may mắn có lẽ nhờ vào sự linh thiêng của pho tượng Phật ngọc thạch mà anh đã bỏ vào ba lô khi dân chúng trong vùng chạy trốn đạn pháo kích đã bỏ rơi trên đường.
Thế nhưng âm mưu xoá sổ An Lộc của địch quân đã thảm bại và chúng đã chuốc lấy thất bại cay đắng khi các lực lượng tiếp viện của QLVNCH từ ngoài đánh chọc thủng vòng vây của chúng và lực lượng tử thủ từ trong đánh chúng bật ra.

Tướng chỉ huy trận tử thủ An Lộc là Lê Văn Hưng và QLVNCH đã chiến thắng vẻ vang, và một cô giáo đã viết ra hai câu thơ bất hủ: "An Lộc địa sử lưu chiến tích, Biệt Cách Dù vị quốc vong thân."

hình ảnh từ http://www.vietlist .us/VietHistory/ trananloc3. shtml

Trong suốt ba tháng anh tôi tử thủ tại An Lộc, đêm nào Mẹ tôi cũng ra ban công khấn vái hay đi lễ các Đền, Chùa cho anh tôi và các binh sĩ tử thủ được bình an.

Khi anh về đến Saìgòn người đầu tiên anh ôm chầm lấy là Mẹ: -"Mẹ ơi! con đã trở về bình an".

Vì anh là con trưởng nên sau trận An Lộc Mẹ tôi quyết định là anh phải lập gia đình dù cuộc đời tác chiến còn nhiều gian nguy.

Anh vâng lời Mẹ và kết hôn với một người con gái miệt vườn Lái Thiêu, người mà sau chuyến lên căn cứ Lai Khê để tham dự buổi khao quân của đại đội trinh sát đã đem lòng thương yêu người sĩ quan trẻ tuổi khóa 20 Võ Bị Đà Lạt ấy.

Sau trận An Lộc, anh vẫn tiếp tục nắm tiểu đoàn và theo đuổi con đường binh nghiệp tác chiến của mình và lập nhiều chiến công hiển hách khác cho Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

Đến ngày 30 tháng Tư năm một chín bẩy lăm khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng thì anh mới tập trung tiểu đoàn lại và nói những người lính đã cùng anh vào sinh ra tử hãy về quê để săn sóc gia đình.

Anh bị bắt sau đó và đưa đi tập trung "cải tạo" tám năm. Khi ra khỏi trại giam, anh về quê sống với vợ con được ba năm thì ra đi một cách đột ngột vì bệnh tai biến mạch máu não trong lúc đang ôm thằng con út trong giấc ngủ trưa tại miệt vườn Lái Thiêu. Một giấc ngủ bình yên của một người trai đã hoàn thành xong nhiệm vụ của mình khi đất nước miền Nam đang trong thời binh lửa.

Vợ con anh đều đã được qua Mỹ định cư, hiện nay người vợ sinh sống tại New Hampshire, con gái lớn của anh là Thoa, một Đại Úy Không Quân Hoa Kỳ đang theo học Doctor of Pharmacy tại Florida. Cháu gái thứ hai là Thảo, tốt nghiệp bằng Master và đang làm việc tại San Francisco, cháu út là Thắng tốt nghiệp Mechanical engineer tại New York.

Anh là một người con hiếu thảo, một người anh đạo đức, một người cha gương mẫu, và là một thanh niên yêu quê hương đất nước mình và đã nghe theo tiếng gọi của núi sông, cùng với các chàng trai khác trong miền Nam anh dũng đứng lên chống lại cuộc xâm lăng tàn bạo của Cộng nô từ Bắc xâm nhập vào miền Nam.

Dù là miền Nam đã không may mất vào tay Cộng Sản ngày 30-4-1975 và dù lịch sử đã sang trang, nhưng những chiến công oai hùng của anh, của Sư Đoàn 5 BB, của các đơn vị tinh nhuệ của các binh chủng của QLVNCH và của tất cả các dân quân cán chính chế độ VNCH sẽ không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc.

Viết xong tại California nhân ngày giỗ anh Phạm Gia Quang,
Khoá 20 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt