Showing posts with label binh tuy. Show all posts
Showing posts with label binh tuy. Show all posts

Thursday, August 17, 2023

 

Tánh Linh - trăm năm dáng núi

07/04/2023, 09:24 - Lượt đọc: 3,258

Từ năm Thành Thái thứ 13 (1901) Tánh Linh là địa danh hành chính cấp huyện, tách từ hai tổng Cam Thang, Ngân Chữ của thổ huyện Tuy Lý, phủ Hàm Thuận nhưng bấy giờ thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng.

Tri huyện đầu tiên là người Chăm tên Mã Ôn (1). Ba năm sau, đến năm Thành Thái thứ 16 (1904) mới chuyển huyện Tánh Linh nhập lại phủ Hàm Thuận thuộc tỉnh Bình Thuận gồm 17 thôn sách, chia ra 3 tổng: Cam Thang, Ngân Chữ và Nông Tang (2). Thời Minh Mạng thứ 17 (1836), tổng Nông Tang thuộc huyện Tuy Định, phủ Hàm Thuận đã có địa danh thôn Tánh Linh (cùng thời với các thôn trong khu vực (Ma Lâm, Hiệp Nghĩa, Phù Trì).

Dân bản địa vùng cao Tánh Linh xưa chỉ có các bộ tộc người thiểu số Rai, K’ho, Châu Ro, Mạ sống theo buôn, mang, sách… Và duy nhất có làng Chăm Lạc Tánh (Palei Picam) và về sau dần dần người Kinh các vùng lân cận đến nhập cư sống nghề rừng, buôn bán trở thành trung tâm dân cư huyện lỵ Tánh Linh. Dưới triều vua Minh Mạng thứ 5 (1824) ban sắc phong Thần quản tế cho Pô Harum Cơk (Pô Lâm Chớ) lãnh chúa người Chăm cai quản vùng này.

Những địa danh huyền thoại

Đất huyện miền núi Tánh Linh, phía tây Bình Thuận ngày đó có địa giới giáp huyện Xuân Lộc, Túc Trưng (Đồng Nai), Đạ Oai, B’lao (Lâm Đồng)… Khi chưa lập tỉnh Đồng Nai Thượng, đất Di Linh thổ phủ (Di Dinh/ Djiring) từ năm 1899- 1905 là địa lý hành chính do Công sứ Bình Thuận quản lý. Sau đó tách ra trả về vùng cao nguyên để tái lập tỉnh Đồng Nai Thượng vào năm 1920. Trước đó, theo Doanh điền sứ Nguyễn Thông ghi trên châu bản “Doanh điền biểu văn” (1877) kể lại cuộc hành trình khảo sát vùng núi này, khi đi qua đất Lão Lâm (sát Võ Xu) đến cánh đồng lớn vào đất La Ngư (La Ngà), ruộng khẩn 3.000 mẫu, rồi theo chân núi Ông đến thôn Lạc Tánh, làng người Chăm theo đạo Bàni ở phía tây Bình Thuận có từ thời Minh Mạng thứ 5 thuộc tổng Nông Tang, huyện Tuy Định, phủ Hàm Thuận. Từ điển Địa danh đối chiếu… của Sakaya ghi Tánh Linh/ Danaw Aia Lin/Ling (hồ/ bàu) do người Pháp phiên âm (3). Hoặc có thể viết“Danau Halin”, đều có nghĩa “Bàu nước thiêng” bởi địa hình một lòng chảo được bao quanh bởi núi cao và con sông La Ngà. Tựu chung, chữ Danaw Lin/Ling, là trường hợp viết theo gốc Chăm bằng chữ Latin và người kinh đọc chệch âm thành Tánh Linh.

Nói đến Tánh Linh là phải nhắc đến con sông La Ngà, còn có tên gọi khác như La Nha, La Ngư… có chiều dài trên 270 km, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh chảy qua địa bàn Tánh Linh, Đức Linh ngày nay. Dòng sông có nhiều đoạn ngoằn ngoèo rồi nhập vào sông Đồng Nai chảy ra biển Đông, tạo nên một lưu vực lớn, đất đai trù phú. Riêng tên con sông đã đồng hành cùng dòng chảy miên man có nhiều cảnh quan huyền ảo và biết bao điều kỳ diệu. Với sách “Gia Định Thành Thông Chí”(4) gọi là La Nha Giang, mô tả sông La Ngà bắt nguồn ở phía bắc thượng lưu Phước Long Giang- sông này từ núi Phố Chiêm chảy ra phía bắc gọi là sông Dã Dương rồi vòng quanh núi Cộp Cộp, do dòng nước chảy xiết cọ vào đá phát ra tiếng kêu cộp cộp. Có tư liệu cho rằng La Ngà là biến âm của từ Rơnga theo người Mạ hoặc La Ngà có gốc của người K’ho với nghĩa Lơnga là hạt mè vì dòng sông này mùa hạ có đoạn khô nước, lòng sông nổi lên nhiều đá cuội đen trắng lấp lánh, thấy như một bãi phơi hạt mè, nên đặt tên sông Hạt Mè (Lơnga/Hạt mè). Người Việt đọc chệch âm từ Lơnga thành La Ngà.

Nhưng với cách giải thích có sức thuyết phục hơn, theo Đại Nam Quấc Âm tự vị- Huình Tịnh Của, viết “Là Ngà” là tên một loài tre - mọc đầy hai bờ sông. Âm ngữ gốc địa danh này là Laghna. Người Việt mượn tên loài tre Là Ngà để phiên âm địa danh Laghna, về sau do đọc chệch thành La Ngà.(Cửa sổ tri thức, trg 56 -Pgs.Ts Lê Trung Hoa). Nguồn phù sa, trầm tích màu mỡ từ con sông “lực lưỡng” giữa đại ngàn này đã tạo nên những lưu vực phì nhiêu với những cánh đồng, đầm trũng, ngập nước quanh năm. Ở đây vừa là những cánh đồng rộng lớn, vừa là hồ nước ngọt mênh mông, tôm cá đầy đàn như Bắc Ruộng (Bác Dã), Đồng Kho, Biển Lạc/Lạc Dã… Từ đó trong dân gian có câu “cá Biển Lạc, lúa Đồng Kho”.

Đọc lại trang sử một thời

Sau Hòa ước Nhâm Tuất (1862) Nhà Nguyễn thỏa hiệp giao cho Pháp vùng lãnh thổ Nam kỳ Biên Hòa, Gia Định, Định Tường nhưng vua Tự Đức âm thầm tính kế “Tạm thời khuất mình, không bị mất đất đai thì nên lắm”. Trước nguy cơ lần lượt mất thêm các tỉnh miền Tây, nhiều sĩ dân Nam kỳ bỏ xứ chạy ra vùng Giao Loan Bình Thuận lánh nạn. Đang lúc nghĩa quân Trương Định bị thất thế thì Phan Trung (Phan Cư Chánh/ Chỉnh) đứng ra tiếp lãnh sứ mệnh, rút quân về Giao Loan là địa bàn hiểm trở giữa Tánh Linh - Biên Hòa, không nằm trong nhượng địa Pháp để lập căn cứ. Với 500 nghĩa sĩ bất khuất của Phan Trung, khai phá vùng đất hoang để tự túc lương thực và rèn đúc vũ khí, xây dựng lực lượng tự xưng “Bình Tây Phó Nguyên Soái”, được vua Tự Đức ngấm ngầm ủng hộ với kế sách vừa đánh vừa đàm…

Năm Tự Đức thứ 30 (1877) Thị giảng học sĩ Nguyễn Thông được giao chức Doanh điền sứ tỉnh Bình Thuận, trực tiếp đi hội khám vùng La Ngư và vùng thượng du đã lập bản “Nghỉ thinh thượng du đồn khẩn sự nghi sớ” (Bài sớ khai khẩn đồn điền vùng thương du), có đoạn mô tả vùng đất vàng của Tánh Linh giữa núi cao rừng thẳm như thế này: “Biển Lạc vốn là một chằm lớn, mùa hè mùa thu mưa nhiều, các khe suối từ thượng nguồn đổ xuống, thế nước tràn trề, cá tôm đầy dẫy. Đầu xuân nước cạn, dân cư chọn cá tươi mà nấu, đến tháng tư mưa xuống mới thôi. Thật là một kho vô tận nuôi sống dân địa phương”(5). Không có gì lạ, khi phát hiện của đoàn hội khám ở phía bắc bờ sông La Ngư, phía nam đến núi Ông có “ruộng đã khai khẩn khoảng hơn 3.000 mẫu”… Nhưng vẫn còn thưa thớt dân cư mà chỉ có nhóm dân miền Nam đến Lạc Dã/Biển Lạc, lại mới dựng 15 nóc nhà! Có thể giải mã phần nào trong bối cảnh tình hình phong trào chống Pháp của Phan Trung. Đó là việc Phan Trung chiêu mộ 2.000 nghĩa binh tiếp tục chiến đấu và tổ chức 500 nghĩa binh, đã cùng với các sĩ phu thân tín trung thành của Trương Định, Tham tán quân vụ Lương Quang Quyền, Doanh điền sứ Nguyễn Văn Phương mộ phu, tuyển binh, khai khẩn đất hoang, lập “đồn diến khố”, tích trữ lương thảo… ở vùng đất này. Cho đến khi phải đương đầu trước nhiều áp lực từ triều đình Huế với Pháp, đành phải giải binh, coi như đã hết vai trò và phần lớn trở về quê nhà sinh sống hay tản lạc các nơi có cư dân ổn định. Bởi đây là vùng đất của tộc người miền núi sống gần gũi lâu đời với buôn rẫy và vẫn còn là vùng đất sơn lâm chướng khí. Thời Nguyễn Thông khi đi sâu vào vùng này rất khó mà giao tiếp với người dân tộc bản địa. Thậm chí họ còn trốn chạy nên những cuộc khảo sát không có người dẫn đường. Cho nên những mộ phu, nghĩa sĩ, lưu dân người kinh dù từng có mặt ở đây cũng khó thích nghi để chọn lựa cuộc sống an cư lập nghiệp.

Trong lịch sử hình thành vùng đất Giao Loan Biên Hòa - Tánh Linh (Bình Thuận) có một lợi thế chiến lược và trở thành căn cứ khá an toàn để xây dựng lực lượng cho phong trào yêu nước trong thời kỳ chống Pháp ở miền Đông Nam bộ. Không xa mấy với các địa danh Lạc Dã, Bác Dã, Dã An, Võ Xu, Võ Mang… dù quá trình biến đổi các địa danh do phát âm, chữ viết nhưng vẫn là một bằng chứng khá sinh động trên bản đồ vùng đất huyện Tánh Linh xưa và nay.

Mối quan hệ giữa Bình Thuận với hạt/trấn Biên Hòa khá đặc biệt trong hiệp đồng giữ ấn quan phòng tuần phủ. Như trường hợp cử chức án sát Bình Thuận đi làm án sát Biên Hòa hay năm 1849, đưa Phó lãnh binh Biên Hòa là Lê Công Đức thăng chức lãnh binh quan tỉnh Bình Thuận. Đặc biệt hơn, bố chánh Biên Hòa Phạm Duy Trinh thấy dân trong hạt ngày càng tăng mà đất đai khô cằn nên nghĩ tới việc khai phá đất hoang với nhiều chính sách ưu đãi thuế, miễn đi lính để người dân đến vùng đất Chủ Chân (núi Chứa Chan) lập nghiệp. Thấy nguy cơ “tụ nghĩa” của những người dân có tinh thần kháng Pháp từ các nơi đến đây lánh nạn nên năm1866 triều đình Huế bị sức ép của Pháp phải ra lệnh đình chỉ việc khai khẩn đồn điền ở Tánh Linh (theo Địa chí Đồng Nai). Tiếp đó, năm 1890 lệnh “sáp nhập lãnh thổ người Mọi ở Tánh Linh vào Biên Hòa” (ĐCĐN- trang 203). Để dễ bề quản lý, năm 1899, Pháp cho thành lập quận núi Chứa Chan (thuộc tỉnh Biên Hòa). Sau đổi thành quận Võ Đắc, quận lỵ đặt tai xã Gia Ray. Năm 1912, bãi bỏ quận Võ Đắc để nhập vào quận Xuân Lộc (1924) đặt quận lỵ tại Xuân Lộc (thành phố Long Khánh hiện nay).

Nói đến địa danh hành chính quận/huyện Võ Đắc và liên hệ lại thị trấn Võ Đắc cũng là quận lỵ của quận Hoài Đức thời VNCH thuộc tỉnh Bình Tuy (1957-1975). Trong sách Nam Kỳ Địa Hạt Tổng Thôn…(1892) ghi Hạt Biên Hòa có 17 tổng, 196 thôn, trong đó tổng Bình Tuy có 7 thôn, gồm Cao Cang, Định quán, La Canh, Lý Lịch, Thuận Tòng, Túc Trưng, Vĩnh An. Phù hợp với bản đồ “Annuaire de l’Indochine.Hanoi 1910”- trên đất huyện Tánh Linh xưa đã có tổng Bình Tuy. Năm 1899, tổng Bình Tuy nhập vào tỉnh Đồng Nai Thượng. Cạnh bên là Hạt Biên Hòa/ Đồng Nai có tổng Phước Thành, trong đó có các thôn Gia An, Trà Tân và Dõ Đắt/ Võ Đắc…(6) là địa danh quận lỵ Hoài Đức trước đây- là một thị trấn của huyện Đức Linh ngày nay.

Những địa danh tên đất Tánh Linh- Đức Linh xưa nay và cả tỉnh, hạt Biên Hòa/Đồng Nai xen lẫn, chồng lấn lên nhau ở một số địa bàn giáp ranh của hai tỉnh Bình Thuận - Đồng Nai, đã làm nên sự giao thoa, tính cách, nếp sống văn hóa của con người ở đây, bởi dung hợp một phần Nam bộ hào phóng, một xứ miền Trung nghĩa tình…

Tại sao thời Ngô Đình Diệm khi ký sắc lệnh thành lập tỉnh Bình Tuy (24/1/1957) lại chọn địa danh hành chính là Bình Tuy? Có suy diễn cho rằng ghép hai tỉnh lân cận, chọn một từ Bình của Bình Thuận với Tuy của Phước Tuy! Chẳng lẽ đơn giản vậy, vì Phước Tuy cũng là một tỉnh mới cùng thời gian thành lập tỉnh Bình Tuy. Từ đó mới thấy sự tính toán của Ngô Đình Diệm, không những chọn địa bàn La Gi, Hàm Tân với vùng biển đã ổn định về cư dân mà vẫn phải mở rộng lên vùng cao Tánh Linh, đất đai trù phú, được coi là địa bàn chiến lược về quân sự lẫn kinh tế ở cuối dãy Trường Sơn. Cho nên mới tách phần đất rộng lớn của Tánh Linh lập quận Hoài Đức và quận lỵ ban đầu đặt tại Bắc Ruộng.

Những cột mốc để khởi đầu

Trong kháng chiến chống Pháp, vùng đất Tánh Linh nối dài với miền Đông Nam bộ, trở thành một căn cứ địa kháng chiến vững chắc có tầm chiến lược rất quan trọng. Dấu mốc mang tính lịch sử lớn nhất, sau hơn 50 năm (1904 - 1956) địa danh hành chính huyện Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Thuận, tồn tại trên bản đồ tỉnh Bình Thuận để trở thành một thành trì căn cứ cách mạng, kiên cường nhất với cuộc chiến chống Mỹ oanh liệt. Đây cũng là vùng đất thật sự giàu tiềm năng thiên nhiên nên chính quyền Ngô Đình Diệm chủ trương đưa dân từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đến các khu Dinh điền Bắc Ruộng, Nghị Đức, Mê Pu, Sùng Nhơn ở Hoài Đức và Gia An, Võ Xu, Hiếu Tín, Đồng Kho, Tà Pao ở Tánh Linh. Tiếp đó là các đợt di dân từ Quảng trị, Thừa Thiên - Huế… đến lập nghiệp. Đất Tánh Linh, Hoài Đức trở thành đất tỵ địa, đất tụ nghĩa, đất của người dân tứ xứ chăm chỉ lao động, không chịu khuất phục và có ý chí vươn lên để thoát cảnh đói nghèo, lạc hậu.

Tháng 7/1960, trận đánh hủy diệt Chi khu quận Hoài Đức - Bắc Ruộng có ý nghĩa lịch sử gây chấn động toàn miền và buộc địch phải dời quận lỵ Hoài Đức về xã Võ Đắc và từ năm 1980 đặt tại thị trấn Võ Xu. Sau ngày thống nhất đất nước 1975, với chủ trương của Trung ương, hai huyện Tánh Linh và Hoài Đức được sáp nhập thành huyện Đức Linh. Đây cũng bí danh của tổ chức Đảng của huyện căn cứ cách mạng Nam Thành từ năm 1970.

Ngày 26/4/1983, huyện Đức Linh lại được tách thành hai huyện Tánh Linh và Đức Linh, để mở ra một trang sử mới cho chặng đường xây dựng và phát triển. Phía Bắc sông và Nam sông của dòng sông La Ngà như một chứng nhân lịch sử của vùng đất lắm thăng trầm nhưng giàu lòng nghĩa khí…                    

Trích và tham khảo từ:

*Đại Nam Nhất Thống Chí -Bình Thuận (2)

*Địa chí Bình Thuận- (1).

*Nguyễn Thông, con người tác phẩm- (5).

*Từ điển Địa danh đối chiếu –Sakaya (3).

*Gia Định Thành Thông Chí -(4)

*Nam kỳ địa hạt tổng thôn- (6) Sách ghi: thôn Dõ Đắt- là đọc, viết theo âm Nam bộ thay vì Võ Đắc- địa danh này có từ trước 1892.        

PHAN CHÍNH

Thursday, August 10, 2023

CHIẾN DỊCH TÁNH LINH - HOÀI ĐỨC TỪ THÁNG 12 NĂM 1974 ĐẾN THÁNG 3 NĂM 1975.

Lời nói đầu: Thời gian qua, chúng ta đã biết về trận đánh tại làng Võ Đắt, cũng là quận lỵ của quận Hoài Đức thuộc tỉnh Bình Tuy vào cuối năm 1974 đến tháng 3 1975 theo bài viết của các cựu thiếu tá Lê Phi Ô, tiểu đoàn trưởng của TĐ 344 ĐPQ thuộc tiểu khu Bình Tuy, hay cựu thiếu tá Nguyễn Hữu Chế tiểu đoàn trưởng của TĐ 2/43 sđ 18 bộ binh hay cựu pháo thủ Nguyễn Hữu Nhân và Nguyễn Phát Tài thuộc sđ 18 bộ binh. 

Các tác giả trên có nhắc tới việc tham chiến của liên đoàn (LĐ) 7 BĐQ tiến quân theo tỉnh lộ (TL) 333 để tiếp viện cho chi khu Hoài Đức; hay TĐ 2/43 của sđ 18, do thiếu tá Chế chỉ huy, vào giờ chót đã được trực thăng vận để giải cứu chi khu này trước khi bị tràn ngập. Nhưng theo bài viết sau đây của cựu đại tá Le Gro thuộc Phòng Tùy viên Quốc Phòng DAO thì trong trận này còn có hai TĐ của trung đoàn 48 sđ 18 tiến quân theo TL này để tiếp viện cho Hoài Đức. 

Do đại tá Le Gro là một sq cao cấp của cơ quan DAO, hàng ngày làm việc với Phòng 2, Phòng 3 và Trung tâm Hành quân của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, nên tôi nghĩ bài viết của ông giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và đầy đủ hơn về chiến dịch này.

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 135-136 của quyển Từ Ngưng Bắn Đến Đầu Hàng của ông.

                           

"Bình Tuy-Long Khánh

Bộ tổng tham mưu QLVNCH và tư lịnh của quân đoàn III đã biết một cách khá chính xác rằng trung đoàn 33 csbv dự định tấn công quận lỵ Hoài Đức tỉnh Bình Tuy và trung đoàn tân lập 812 csbv, gồm các TĐ của tỉnh Lâm Đồng kế cận, sẽ tấn công quận lỵ Tánh Linh cùng tỉnh. Hơn nữa họ đã ước tính đúng đắn rằng trung đoàn 274 csbv cũng sẽ tham chiến. (Vì cuối tháng 11/1974, trong một cuộc chạm súng nhỏ ở đông bắc Xuân Lộc, họ đã tịch thu một tài liệu cho thấy đối phương sẽ tấn công Gia Rai và triệt hạ các tiền đồn dọc tỉnh lộ 333 và trung đoàn 812 csbv sẽ hỗ trợ những cuộc tấn công này -- trang 135, sách đã dẫn). Nói thêm: theo bản đồ đính kèm, xã Gia Rai là một căn cứ quân sự lớn ở bên trái tỉnh lộ 333, cách QL-1 khoảng 5km, có hai sân bay, đường xe lửa xuyên Việt đi ngang căn cứ, đi thêm 18 km sẽ gặp xã Võ Đắt -- người dịch). Một bộ tư lịnh mới cấp sđ của csbv đã được thành lập để điều khiển cuộc hành quân (HQ) này. Do thiếu thông tin nên lúc đầu QLVNCH đã đặt tên cho đối thủ mới của mình là sđ quân khu 7, vì sđ này hoạt động trong quân khu 7. Sau đó họ mới biết đó là sđ 6 csbv, chỉ huy ba trung đoàn kể trên, cộng với những đv về tiếp vận - giống như các sđ chính quy khác của csbv. 

 https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/xa_cam_my-6430-1.pdf

Khi quân csbv bắt đầu tấn công, không có các đv chánh quy của QLVNCH tại tỉnh Bình Tuy. Chỉ có các đại đội ĐPQ đã được triển khai ở các làng chánh, và các đv nhỏ hơn của ĐPQ hay nghĩa quân canh giữ các cầu và các trạm kiểm soát dọc tỉnh lộ (TL) 333 và 335 - hai con đường còn xử dụng được của Hoài Đức và Tánh Linh. (Nói thêm: theo bản đồ đính kèm vẽ từ năm 1968, trong khu vực của quận Hoài Đức và Tánh Linh, ngoài hai tỉnh lộ (TL) vừa kể, còn có TL 334 từ Võ Xu chạy về phía đông bắc, và TL 336 chạy từ QL-1 đến quận lỵ Tánh Linh và sau đó đi về phía đông bắc, sau này do mất an ninh nên hai TL này không còn xử dụng. Do vậy muốn đến Tánh Linh, thay vì dùng TL-336 ngắn hơn, người ta phải theo TL-333, chạy từ Ngã Ba Ông Đồn trên QL-1, khi qua khỏi Võ Đắt, đi tiếp TL-334, sau khi tới Võ Xu, sẽ gặp một ngã tư, quẹo phải vào TL-335, đi qua làng Duy Cần để tới quận lỵ Tánh Linh -- người dịch). Dân số ít ỏi của tỉnh này đã tập trung trong những làng dọc theo 2 đường này, thường chạy dọc theo dòng chảy uốn khúc (meander) của sông La Ngà. Bắt nguồn từ những núi cao 5.000 bộ hay 1.424 m nhìn xuống những rừng rậm của khu tứ giác (quadrant) này của tỉnh Bình Tuy, sông La Ngà đã chảy xuyên qua vựa lúa này của tỉnh. (Nói thêm: theo bản đồ đính kèm, dù khu vực này ko phải là đồng bằng như châu thổ sông Cửu Long, nhưng lại trồng nhiều lúa, phần lớn ở phía bắc của sông La Ngà, nên được dân địa phương gọi là Bắc Ruộng -- người dịch). Hai quận lỵ, Tánh Linh ở phía đông và Hoài Đức ở phía tây của tỉnh đều có sân bay. Một ngôi làng rất lớn của tỉnh là Võ Xu, khoảng giữa hai quận lỵ này. (Nói thêm: Dựa vào bản đồ đính kèm, làng Võ Xu ở dọc theo tỉnh lộ 334, và phía tây nam của nó là làng Võ Đắt, ở dọc theo tỉnh lộ 333, trước đây từng là ấp chiến lược (ACL), được lập ra thời tổng thống Diệm vì dân làng sống tập trung dọc theo các tỉnh lộ, và các khu xóm trong làng giống như bàn cờ. -- người dịch). 

Bản đồ xã Võ Su quận Tánh Linh tỉnh Bình Tuy: https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/tanh_linh-6531-3.pdf

Bản đồ xã Võ Đắt quận Hoài Đức tỉnh Bình Tuy: https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/dinh_quan-6431-2.pdf

Trung đoàn 812 csbv đã tấn công Tánh Linh ngày 8/12/1974. Yểm trợ bởi TĐ 130 pháo binh, một TĐ đặc công và ba TĐ bộ binh, họ đã tấn công chi khu, vị trí pháo binh trên đồi kế chi khu, và những làng giữa Tánh Linh và Võ Xu. Ngày kế, trung đoàn csbv này đã chiếm hai khẩu 105 ly ở Tánh Linh và những làng chung quanh, và kiểm soát tỉnh lộ 335  giữa Võ Xu và Tánh Linh.

Quân đoàn III VNCH đã ra lịnh sđ 18 bộ binh, với liên đoàn 7 BĐQ tăng phái, từ Xuân Lộc tăng cường cho ĐPQ của Bình Tuy. Khi TĐ 32 BĐQ lọt vào ổ phục kích đã giăng sẵn dọc TL 333 và bị thiệt hại nặng, điều này cho thấy trung đoàn 33 csbv đã áp dụng chiến thuật công đồn đã viện. Sau đó TĐ 1 và 2 của trung đoàn 48 sđ 18 bộ binh đã tăng cường cho nỗ lực này khi được lịnh tiến quân theo TL 333 và chẳng bao lâu đụng nặng ở bắc Gia Ray. Những ngày sau đó TĐ 85 BĐQ đã tham gia chiến đoàn này, bây giờ gồm có hai TĐ bộ binh và hai TĐ BĐQ, nhưng các đv BĐQ, dẫn đầu của chiến đoàn này, ko thể vượt qua khỏi làng Gia Huynh, ở 16 km nam của Hoài Đức. Vì Trung đoàn 33 csbv, với hầm hào vững chắc, đào dọc theo TL 333, đã được yểm trợ mạnh mẻ với cối và pháo binh.

Ngày 17/12, làng Duy Cần, giữa làng Võ Xu và quận lỵ Tánh Linh, đã bị tràn ngập bởi trung đoàn 812 csbv, và vài kẻ sống sót của đại đội (đ/đ) 700 ĐPQ đã chạy thoát về quận lỵ Tánh Linh. (Nói thêm: làng Gia Huynh, trên tỉnh lộ 333 và làng Duy Cần, trên tỉnh lộ 335, cũng là các ấp chiến lược cũ.-- người dịch). Dù vẫn nằm trong tay QLVNCH, nhưng các tiền đồn cũng như quận lỵ Hoài Đức và Tánh Linh đang bị pháo kích nặng nề, nên tướng Dư Quốc Đống, TL của QĐ 3 đã ra lịnh cho sđ 18 không nên cố gắng vượt qua Gia Huynh trên TL 333. Với các cuộc tấn công của địch từ Tây Ninh tới Phước Long, ông ko muốn bốn TĐ này của ông bị chia cắt và hủy diệt khi tiếp viện cho Hoài Đức. Trong khi đó, quân csbv đã phá hủy một cây cầu ở nam quận lỵ Hoài Đức (có lẽ là cầu Gia Huynh -- người dịch) và chiếm Võ Xu, và gia tăng tấn công vào quận lỵ Tánh Linh. Sau khi pháo kích 3.000 đạn pháo trong ngày 23 và 24/12, quân csbv đã tấn công 5 đợt, cuối cùng đã tràn ngập phòng tuyến cuối cùng của quận lỵ Tánh Linh vào ngày Giáng Sinh. Trong khi đó, Hoài Đức bị tấn công bởi trung đoàn 274 thuộc sđ 6 csbv. 

Sau khi trung đoàn 274 csbv đã lọt qua một số phòng tuyến của chi khu Hoài Đức và chiếm đầu cầu (foothold) ở rìa đông bắc và tây nam của chi khu, sđ 18 bộ binh VNCH đã lần lượt trực thăng vận TĐ 1 và 2 của trung đoàn 43 vào phía tây và bắc của chi khu và bắt đầu đẩy lui địch ra khỏi chi khu. Trong khi hai TĐ của trung đoàn 48 VNCH vẫn cố thủ ở phía bắc Gia Ray trên TL 333, liên đoàn 7 BĐQ mệt mỏi và rất kiệt sức (deplete) được lịnh rút về tỉnh Bình Dương để dưỡng quân và bổ sung quân số và tái tiếp tế. Vì tất cả các đv trừ bị của sđ 18 bộ binh đều đã tham chiến, bộ tổng tham mưu (BTTM) đã chuyển liên đoàn 4 BĐQ từ Kontum về căn cứ Long Bình để dưỡng quân, bổ sung quân số và tái tiếp tế và được quân đoàn III dùng làm trừ bị.

=====

Nói thêm: Qua bài viết của đại tá Le Gro, ta thấy việc phối trí lực lượng của sđ 6 csbv ở tỉnh Bình Tuy, là nằm trong một kế hoạch lớn hơn của ban lãnh đạo CSBV nhắm cầm chân QLVNCH để đối phương ko thể tiếp cứu lẫn nhau. 

Chẳng hạn như trước khi chi khu Đồng Xoài, còn gọi là Đôn Luân, tỉnh Phước Long bị tấn công vào ngày 13/12/1974, để mở đầu chiến dịch Tánh Linh Hoài Đức, ngày 8/12/1974, trung đoàn 812 csbv đã tấn công chi khu Tánh Linh, vị trí pháo binh trên đồi và các làng giữa Tánh Linh và Võ Xu, để ngăn ko cho quân tiếp viện từ Võ Xu kéo tới Tánh Linh. 

Trong khi đó, trung đoàn 33 csbv có nhiệm vụ đánh quân tăng viện cho Hoài Đức. Quân tăng viện lúc đầu chỉ có hai TĐ BĐQ, nhưng sau khi một TĐ bị phục kích và thiệt hại nặng khiến quân tăng viện lên đến bốn TĐ. Tuy nhiên quân tăng viện cũng ko thể vượt quá Gia Huynh trên TL 333.

Sau khi Tánh Linh đã thất thủ đúng ngày Giáng Sinh 1974, chi khu Hoài Đức bị trung đoàn 274 csbv tấn công. Và sau đó vài giờ, chi khu Định Quán thuộc tỉnh Long Khánh trên QL-20 cũng bị tấn công.

Trong quyển Black April, trên trang 251-252, George Veith đã có những thông tin đáng chú ý như sau: 

"Trong khu vực trách nhiệm của sđ 18 VNCH, sđ 6 csbv đã phối hợp chặc chẻ với sđ 7 csbv trong kế hoạch tấn công các tiền đồn dọc theo các QL-1 và QL-20 (Sài Gòn đi Đà Lạt). Từ 15 đến 18/3/1975, Bắc quân đã tấn công các tiền đồn trên liên tỉnh lộ (LTL) - 2 từ Bà Rịa đi Xuân Lộc. (Nói thêm: sđ 18 bộ binh và Nhảy Dù đã theo đường này khi rút lui khỏi Xuân Lộc tháng 4/75 -- người dịch). Tới ngã ba Tân Phong, họ theo QL-1 tiến về phía đông, tràn ngập một căn cứ quan trọng của sđ 18 ở chân  Núi Chứa Chan*, còn có tên là núi Gia Ray, cao 837 m. (Nói thêm: Theo một hồi ký, căn cứ này bị thiệt hại nặng vì bị đặc công đột nhập -- người dịch).

Ngày 28/3/1975, sđ 6 csbv đã kiểm soát một đoạn 30 dặm hay 48 km trên QL-1 từ Núi Chứa Chan tới Hàm Tân, Bình Tuy. Huyết mạch quan trọng cuối cùng từ SG đến miền Trung đã bị cắt, khiến QLVNCH ko thể dùng QL-1 để tiếp viện cho quân đoàn 2. 

Vài giờ trước khi sđ 7 tấn công Định Quán, trung đoàn 812 csbv đã mở mặt trận thứ ba trên khu vực trách nhiệm của sđ 18 VNCH, khi tấn công làng Võ Đắt, cũng là quận lỵ của quận Hoài Đức Bình Tuy. Những người lính ĐPQ kiên cường (stalwart) của Võ Đắt, dù đã trải qua 30 ngày trong vòng vây của quân csbv, đã đẩy lui các cuộc tấn công liên tiếp của địch trong 3 ngày. Không còn kiên nhẩn với thành tích chiến đấu này của trung đoàn 812, tướng Trần văn Trà ra lịnh phải nhanh chóng dứt điểm chi khu Hoài Đức. Trong những giờ đầu tiên của sáng ngày 20/3, sau một cơn mưa pháo dồn dập, quân của trung đoàn đã xung phong vào chi khu. Sau khi làm chủ trận địa, trung đoàn 812 quay sang tấn công đv VNCH vẫn còn tử thủ trong khu vực, đó là TĐ 3/43, đang chiếm giữ vài cao điểm gần đó. Sau hai ngày chiến đấu, TĐ này được lịnh rút về Xuân Lộc. Thời gian ngắn sau đó, trung đoàn 812 đã bắt tay với một đv trinh sát của sđ 6 csbv. Trung đoàn 812 đã hoàn thành nhiệm vụ, và Hoài Đức đã được đưa vào danh sách những vùng mới "giải phóng", mà trước đó là Tánh Linh. Từ nay họ có nhiệm vụ mới, đó là phối hợp với sđ 7 để quét sạch các đồn bót và cứ điểm của VNCH dọc QL-20 và tấn chiếm tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức".

SJ ngày 12 tháng 8 2023.
Tài Trần