Showing posts with label luật đất đai. Show all posts
Showing posts with label luật đất đai. Show all posts

Wednesday, April 19, 2017

"Bạn có thể phỏng đoán 'quyền' sắp tới của dân Myanmar là gì ? . . . Ngôn luận ? Tôn giáo ? Sai hết . Đó là quyền làm chủ đất
Bộ trưởng Soe Thein nói quyết tâm (push) trong năm tới là cấp chủ quyền về đất đai (deed land) cho công dân Myanmar – đã sống trên đó nhiều thế hệ , ngay cả ko có giấy chủ quyền (hold title) . Ông nói hiệu quả thực tế của cấp chủ quyền về đất là ngăn ngừa những lợi ích vì tiền (moneyed interest) , khi có người nhắm vào 1 khu vực để phát triển nhà đất và chỉ cần chạy chọt (waltz) đã chiếm hửu tài sản này , đôi khi dời người đã sống lâu năm trên đó . Khi việc cấp chủ quyền này hoàn tất , các nhà phát triển nhà đất vẫn có thể mua đất nhưng đầu tiên họ phải bồi thường cho chủ đất . (Người nước ngoài chỉ có thể thuê đất) .  
Những CP tước đoạt (usurp) quyền tư hửu thì gần như tước đoạt quyền được sống (right to life) . . .  Khi sinh mạng và tài sản được chú ý và tôn trọng , những quyền như thờ phượng và phát biểu chính trị sẽ có nền tảng để phát triển" . Dịch từ : myanmarburma.com .
Những chính phủ tước đoạt (usurp) quyền tư hửu thì gần như tước đoạt quyền được sống (right to life) .
. . ."Bạn có thể phỏng đoán 'quyền' sắp tới của dân Myanmar là gì ? Đó là 1 đặc quyền cốt lõi mà mọi công dân của mọi nước trân trọng/yêu mến . Ngôn luận ? Tôn giáo ? Sai hết . Đó là quyền làm chủ đất . . .
BT Soe Thein nói quyết tâm (push) trong năm tới là cấp chủ quyền về đất đai (deed land) cho công dân Myanmar – đã sống trên đó nhiều thế hệ , ngay cả không có giấy chủ quyền (hold title) .
Ông nói hiệu quả thực tế của cấp chủ quyền về đất là ngăn ngừa những lợi ích vì tiền (moneyed interest) , khi có người nhắm vào 1 khu vực để phát triển nhà đất và chỉ cần chạy chọt (waltz) đã chiếm hửu tài sản này , đôi khi di dời người đã sống lâu năm trên đó .
Khi việc cấp chủ quyền này hoàn tất , các nhà phát triển nhà đất vẫn có thể mua đất nhưng đầu tiên họ phải bồi thường cho chủ đất . (Người nước ngoài chỉ có thể thuê đất) . . .
Những chính phủ tước đoạt (usurp) quyền tư hửu thì gần như tước đoạt quyền được sống (right to life) . Có hai điều thực tế và sống còn : đất đai và sinh mạng con người . Khi sinh mạng và tài sản được lưu tâm/chú ý và tôn trọng , những quyền như thờ phượng và phát biểu chính trị sẽ có nền tảng để phát triển" .
Dịch từ : www.myanmarburma.com .

Đăng bởi Elvis Ất on Wednesday, April 19, 2017 | 19.4.17



Trên văn bản, người dân Đồng Tâm bị coi là những người "chiếm đất quân sự", đang "sử dụng đất quốc phòng tại sân bay Miếu Môn" (Thông báo 162/TB-UBND, ngày 16-5-2016). Rồi, hôm qua, 18-4-2017 - báo chí lạnh lùng coi họ là những người "gây rối trật tự công cộng". 

Nhưng, trên đất có dân. Dân không phải là những con số khô khốc xuất hiện trong các văn bản. Hầu hết người dân thuộc 14 hộ có đất bị lấy giao cho Viettel này đã sống ở Đồng Tâm lâu đời. Kể cả thời bị đưa vào hợp tác xã, họ vẫn liên tục an cư, canh tác trên mảnh đất ấy cho đến khi Viettel cắm bảng gọi đó là "khu đất quân sự".

Dù ngày 14-4-1980, Phó thủ tướng Đỗ Mười ký quyết định 113/TTg "duyệt cấp cho Bộ Quốc phòng (BQP) 208 hecta thuộc xã Trần Phú, Nông trường Lương Mỹ", xây dựng đợt I sân bay Miếu Môn. Nhưng, từ đó đến nay, chẳng có cái sân bay nào được xây ở đây cả. Cho tới trước khi có "Dự án", BQP "chưa hề thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho các hộ đang sử dụng đất" ở đó và cho tới ngày 1-12-2014, cả BQP lẫn tỉnh Hà Sơn Bình trước đây, lẫn Hà Tây và Hà Nội về sau, “chưa có văn bản nào xác định ranh giới khu đất này”.

Trên thực tế, ở đây, cũng có một đơn vị quân đội, Lữ đoàn 28 (nhận bàn giao từ Bộ Tư lệnh Công binh từ năm 1989). Về mặt nội bộ thì năm 1992, Lữ 28 có tiến hành lập sơ đồ khu đất. Nhưng, mãi tới năm 2014, đơn vị này mới có văn bản gửi Sở Tài Nguyên Môi trường Hà Nội xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 236,7 hecta, nhiều hơn 28,7 hecta so với diện tích mà năm 1980 Thủ tướng cấp. Ngày 27-3-2015, Bộ Tổng Tham mưu mới thu hồi 50,03 hecta đất thuộc khu này từ Lữ 28 để giao cho Viettel.

Cả về pháp lý và thực tế, phần lớn khu đất 236,7 hecta này, chưa từng được làm thủ tục hợp lệ (theo Luật Đất Đai năm 1993) và chưa từng được BQP sử dụng đúng mục đích mà quyết định 113/TTg giao. Lẽ ra, năm 2014, khi vùng này bắt đầu đô thị hóa (sau 6 năm nhập vào Hà Nội), Chính phủ nên thu hồi để cân nhắc sử dụng phần tài nguyên quốc gia đó sao cho hiệu quả nhất. Nếu "Dự án A1" mà Viettel đang tiến hành thực sự vì "mục đích quốc phòng" thì, trước hết, Chính phủ cũng nên cân nhắc chọn một chỗ trống dọc đường HCM thay vì đẩy quân đội vào thế "tranh" với dân bờ xôi, ruộng mật.
Nếu phần tài nguyên quốc gia đó được khai thác sao cho hữu ích nhất trong giai đoạn phát triển thời bình của đất nước thì, thay vì Quân đội hay các nhà kinh doanh địa ốc, trước hết, những cư dân ở đây phải được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên đó. Gia đình họ đã chịu đựng "quy hoạch treo" 37 năm, nay, khi đất tăng giá tại sao họ lại trở thành người ngoài cuộc.

Hãy nghe câu chuyện thực dân Pháp và hãng Shell ứng xử với nông dân ở Nhà Bè hồi đầu thế kỷ (Tư liệu của nhà báo Mai Bá Kiếm (Ba Kiem Mai), hậu duệ của người trong cuộc):

Năm 1911, hãng Shell (tập đoàn Anh - Hà Lan) đến Nhà Bè đầu tư Cảng và kho chứa xăng dầu. Chính quyền Pháp thay vì đứng ra đền bù đất rồi giao cho Shell mà để cho Shell thương lượng trực tiếp với 3 chủ đất tại đây, thuê 100 mẫu, thời hạn 99 năm. Lúc bấy giờ, 3 chủ đất đang cho cả trăm tá điền thuê với mức 10 giạ lúa/1.000m2/năm). Shell đàm phán giá thuê cao gấp 5 lần, lại được lãnh tiền hàng tháng qua Cheque. 

Chủ đất rất mừng, nhưng Dân luật Giản Yếu 1883 do người Pháp áp dụng ở Nam kỳ sau khi áp đặt chế độ thuộc Pháp lên vùng đất này đã trao cho các tá điền quyền tiên mãi (được ưu tiên mua cùng giá, mà chủ đất định bán cho người khác hoặc được ưu tiên thuê cùng giá mà chủ đất định cho người khác thuê với giá cao hơn). Tuy tá điền không thuê nổi theo giá Shell thuê nhưng họ có quyền không ký giấy khước từ thuê đất. 

Không có đủ giấy khước từ của tá điền, thì chủ đất không thể ký hợp đồng với Shell. Do đó, chủ đất phải thương lượng cho tá điền được hưởng tiền thuê đất mấy năm đầu mà hãng Shell trả, để tá điền chịu ký tờ khước từ thuê đất. Bỗng nhiên, tá điền có một cục tiền, có nhiều tá điền đi vô vùng sâu mua ruộng để làm chủ. Có nhiều tá điền - như ông nội nhà báo Mai Bá Kiếm (cụ Mai Bá Điền 1885 - 1979) - vừa lãnh được một cục tiền vừa xin được vào hãng Shell làm.

14 hộ dân thuộc xã Đồng Tâm không phải là "tá điền". Có 4 hộ đã "sử dụng đất" trước khi khu vực này bị Thủ tướng giao cho BQP, phần lớn còn lại đã sử dụng đất trước khi Luật Đất Đai 1993 có hiệu lực (15-10-1993). Có một trường hợp, ông Nguyễn Văn Thúy, mua lại nhà đất của 4 hộ công nhân có nguồn gốc là "tài sản thanh lý của công ty vôi đá Miếu Môn (ngày 30-8-2001). Cho dù phần có giá trị nhất ở đây là 25 nghìn mét vuông khuôn viên, nhưng biên bản thanh lý lại chỉ ghi mấy nhà xưởng rách nát chứ không ghi đất. 

Nhưng, BQP chỉ làm việc với Chính quyền. Các chủ đất thực sự đã không được coi là chủ thể của các vòng đàm phán. Mức đền bù mà họ được ấn định là: đất ở 2,2 triệu/m2 (được công nhận tối đa 300 m2); đất vườn, ao hồ 1,54 triệu/m2 (tối đa 180m2); đất trồng cây hàng năm và cây nông nghiệp 108 nghìn đồng/m2 [Khi đền bù, Viettel có tăng mức công nhận đất ở lên gấp 5 lần]. Riêng trường hợp ông Thúy không được đền bù phần đất (25 nghìn m2).

Nếu không bị quy hoạch, cho dù nguồn gốc thế nào thì theo Luật Đất Đai hiện hành, 14 hộ nông dân này cũng sẽ được ưu tiên công nhận quyền sử dụng đất (kể cả ông Thúy rồi cũng sẽ được "thủ đắc theo thời hiệu" - ông và 4 hộ công nhân đã canh tác đất ấy 16 năm qua). 

Chưa có nhà nghiên cứu nào tìm xem, có bao nhiêu người dân Thủ Thiêm đang ở trong khu Sala; có bao nhiêu người dân Tân Thuận đang ở trong khu Phú Mỹ Hưng; bao nhiều người dân Văn Giang đang ở trong Ecopark.... Và, nếu các ông chủ Phú Mỹ Hưng, Ecopark, Sala... phải thương lượng trực tiếp với các chủ đất, có thể tiến trình xây dựng các thành phố ấy sẽ không nhanh như thế nhưng chính quyền sẽ tránh được xung đột trực tiếp với dân; các khoản chênh lệch địa tô sẽ được ăn chia giữa các nhà đầu tư và nông dân (nông dân có thể nhận tiền mặt hoặc cổ phần từ các khu đô thị này); và, lợi nhuận mà các đại gia thu được chưa chắc đã thấp hơn vì họ chia sẻ công bằng với nông dân thay vì chi không thể hạch toán được với các quan tham nhũng.

Từ đất nông nghiệp mà muốn xây nhà thì chi phí duy nhất mà con người phải bỏ ra là san lấp. Chỉ vì một quyết định hành chánh (cho đổi mục đích sử dụng) mà giá đất có thể tăng hơn 20 lần (từ 108 nghìn đồng lên 2,2 triệu đồng/m2) thì "nhóm lợi ích" và bọn tham nhũng không xâu xé "chênh lêch địa tô" mới lạ. Nhà nước có thể giữ quyền quy hoạch đất nông nghiệp để bảo đảm an ninh lương thực. Nhưng khi chuyển đổi quy hoạch, khoản "chênh lệch địa tô" đó phải thuộc về nông dân chứ không phải là các nhóm lợi ích. Nhà nước sẽ chỉ hưởng lợi nhờ giá tính thuế chuyển quyền sử dụng đất tăng lên. 

Mời xem Video: [Khẩn] Tại sao Bộ Chính trị cho rằng sẽ có làn sóng nông dân nổi dậy nếu không tháo ngòi nổ Đồng Tâm?



An ninh, quốc phòng là “lợi ích quốc gia” và lợi ích của 90 triệu dân, không thể chỉ có 14 hộ dân chịu thiệt. Ngay cả khi Nhà nước “trưng mua” đất của dân cho “mục đích quốc phòng” thì vẫn phải theo đúng giá thị trường. Tôi nghĩ, các nhà lãnh đạo Hà Nội và Viettel biết giá đất ở Đồng Tâm chắc chắn không phải là 2,2 triệu/m2, đừng nói là 108 nghìn vì bị quy là đất nông nghiệp. Viettel (đơn vị chi tiền đền bù) nên đàm phán lại với dân nếu dứt khoát cần đất ở đó. BQP và Hà Nội nếu muốn sử dụng tiếp gần 180 hecta còn lại thì cũng nên đàm phán với dân theo nguyên tắc này. 

Cả Tướng Chung lẫn Tướng Hùng và các vị trong Thường vụ Hà Nội nên bình tâm. Chỉ cần đặt tình huống, 14 hộ bị thu hồi đất ở Đồng Tâm không phải là gia đình ông Căng, ông Tứ, ông Toán, bà Nguyệt, ông Thùy... mà là nhà mình thì sao. Cụ Kình cũng từng là lãnh đạo địa phương như quý vị đấy thôi. Đừng nghĩ quý vị sẽ là ngoại lệ khi các khoản "chênh lệch địa tô" được các thế hệ đi sau mang ra chia chác. 

Huy Đức

(FB Trương Huy San)

Saturday, June 22, 2013

Luật gia Lê Hiếu Đằng : Hoãn thông qua Luật Đất đai là bước lùi tích cực

VIỆT NAM - PHỎNG VẤN
Như chúng tôi đã loan tin, Quốc hội Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 5 đã quyết định hoãn việc thông qua Luật Đất đai sửa đổi, đồng thời thông qua nghị quyết kéo dài thời hạn sử dụng đất nông nghiệp. RFI Việt ngữ đã phỏng vấn luật gia Lê Hiếu Đằng, Phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về vấn đề này.

RFI : Kính chào luật gia Lê Hiếu Đằng. Thưa ông, ông có nhận xét như thế nào về sự kiện Quốc hội vừa qua đã hoãn lại việc thông qua Luật Đất đai sửa đổi sang kỳ họp lần tới ?
Luật gia Lê Hiếu Đằng : Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người nông dân là người chịu rất nhiều thiệt thòi, và đã hy sinh rất nhiều. Trong hai cuộc chiến tranh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hứa hẹn và dùng khẩu hiệu « Người cày có ruộng » để phát động quần chúng tham gia cuộc kháng chiến. Nhưng có điều hết sức nghịch lý: Sau khi đã giành được độc lập, thống nhất đất nước rồi, thì Nhà nước lại lấy lại đất của dân, và không công nhận quyền sở hữu đất đai cho họ.
Tôi cho đây là sự phản bội rất lớn đối với người nông dân. Bởi vì nói đến đất đai, thì đại bộ phận là nông dân. Thành ra đây là một vấn đề làm cho người nông dân rất bất bình. Do đó diễn ra rất nhiều cuộc đấu tranh. Mà không chỉ người nông dân, nói chung là vấn đề đất đai lại đang trở thành vấn đề nóng. Một vấn đề rất là vô lý, đi ngược lại nguyện vọng và lợi ích của quần chúng.
Nhưng Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn không nghe ý kiến của nhiều chuyên gia, trí thức và kể cả không thấy hậu quả nghiêm trọng trong những cuộc có thể nói là nổi dậy của người nông dân, như của Đoàn Văn Vươn, ở Văn Giang hay nhiều vùng khác ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đó là mối đe dọa cho sự tồn vong của chế độ.
Nhưng tôi rất ngạc nhiên là một vấn đề hiển nhiên như vậy, nhưng Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn không thấy. Vẫn khăng khăng đưa vào Hiến pháp sửa đổi mới đây trình trước Quốc hội, là vẫn không công nhận quyền sở hữu về đất đai, mà vẫn là sở hữu toàn dân, đất đai do Nhà nước quản lý. Còn tệ hơn nữa, là công nhận việc giải tỏa đền bù đối với các dự án kinh tế. Đó là một bước thụt lùi rất lớn đối với Luật Đất đai mà hiện nay các vị đại biểu Quốc hội không thông qua, chưa thông qua.
RFI : Có một thực tế là đại biểu Quốc hội Việt Nam hầu hết là đảng viên, nhiều người chỉ tham gia một cách hình thức …
Luật gia Lê Hiếu Đằng : Thật ra đây không phải là đại biểu Quốc hội, nhưng rõ ràng ý nguyện của người dân, và nó phản ảnh qua một phần nào đó thôi. Bởi vì có thể nói Quốc hội Việt Nam bây giờ vẫn là Quốc hội hình thức, mà chúng tôi thường nói với nhau đây là Quốc hội minh họa - minh họa cho đường lối chủ trương của Đảng. Nhưng cũng có những lúc nào đó, cái sự thật hiển nhiên đó, là đất đai phải thuộc về tay người dân, đã làm cho một số đại biểu Quốc hội phải suy nghĩ, phải công nhận cái thực tế đó. Và họ thấy rằng nếu thông qua Luật Đất đai, thì nguy cơ lớn nhất của chế độ có thể sụp đổ vì sự phẫn nộ, bất bình của nông dân.
Bởi vì dù có công nghiệp hóa thì hiện nay ở Việt Nam đại bộ phận là nông dân, hoặc con em của họ đi ra thành thị học ở các trường đại học cũng có nguồn gốc nông dân. Đa số nhân dân đều dính dáng tới vấn đề đất đai cả, thành ra vấn đề này nếu không giải quyết thì trước sau gì cũng có những cuộc bùng nổ, mà Đoàn Văn Vươn, Văn Giang hay nhiều nơi khác chỉ là một loài chim báo bão. Báo một cơn bão sẽ ập đến nếu mà không giải quyết một cách triệt để.
Do đó buộc lòng Quốc hội phải tạm thời chưa thông qua, để mà còn tính toán nữa. Mặc dù dự thảo về Luật Đất đai là Đảng và Nhà nước đã thông qua rồi, bộ máy cầm quyền đã thông qua rồi. Nhưng bây giờ Quốc hội đề nghị ngưng lại, thì đó cũng là một điều phản ảnh được rằng, đứng trước áp lực dư luận xã hội, Đảng và Nhà nước phải suy nghĩ và phải dựa trên những cơ sở mà các đại biểu của người dân – tuy là hình thức – nhưng họ cũng phải e dè. Vì vậy họ có chủ trương tạm ngưng lại, không thông qua trong kỳ họp này.
Tôi nghĩ đó là một điểm phản ánh tình hình là ở Việt Nam đang dần dần hình thành một xã hội công dân, một xã hội dân sự, trong đó các tổ chức, các đoàn thể, Quốc hội…của Nhà nước, hay là những tổ chức « ngoài luồng », báo chí « lề phải », « lề trái »… tạo thành sức mạnh.
Ví dụ như kiến nghị của 72 nhân sĩ trí thức về việc sửa đổi Hiến pháp, hay của 40 người phản đối dự thảo Hiến pháp – mà tôi cho kiến nghị của 40 người rất là triệt để, nói rất thẳng thắn. Rõ ràng hình thành một khối công dân dám đứng lên nói tiếng nói trung thực của mình. Cái xã hội công dân mới manh nha đó có tác động đến Quốc hội. Nó làm cho cái thành phần - có thể nói cũng tiến bộ trong Quốc hội - có những ý kiến khác với ý kiến của Đảng và Nhà nước, mặc dù những đại biểu đó cũng là đảng viên.
Thành ra tình hình hiện nay là ngay trong Đảng cũng có nhiều người phản đối lại các chủ trương chính sách hiện nay không hợp lòng dân, đi ngược lại lợi ích của đất nước, của dân tộc. Tôi cho đó là hiện tượng rất đáng mừng, và dù sao cũng ghi nhận một cách công bằng là, việc Quốc hội vừa rồi không thông qua cũng là một điểm son. Nó đánh dấu một điều rằng nếu Quốc hội dựa trên nguyện vọng, ý chí của người dân để thẩm định những luật, những dự án của chính phủ, thì sẽ có tác động rất tốt đến đời sống xã hội.
RFI : Như vậy theo ông, cho dù đây chỉ là một bước lùi tạm thời để hạ nhiệt tình hình, thì vẫn là một điểm tích cực phải không ạ ?
Luật gia Lê Hiếu Đằng : Đúng rồi. Ví dụ như dự thảo Hiến pháp lần thứ tư trình ra Quốc hội rất là bảo thủ, tệ hại hơn cả ý kiến mà chính phủ và Mặt trận Tổ quốc đưa qua, có thể nói là không tiếp nhận gì hết mà thậm chí còn lạc hậu hơn cái cũ. Điều đó chứng tỏ trong bộ máy Đảng và Nhà nước hiện nay, những thế lực bảo thủ không muốn thay đổi, và không đặt lợi ích đất nước, lợi ích của tổ quốc lên trên, mà đặt lợi ích nhóm, gia đình và cá nhân của họ.
Trong tình hình như vậy thì việc Quốc hội không thông qua Luật Đất đai tôi cho cũng là điều đáng mừng. Nhưng chúng ta cũng phải cảnh giác là, đôi lúc đứng trước công luận như vậy, thì có thể những người bảo thủ trong Đảng và Nhà nước có một bước lùi, nhưng mà biết đâu cũng như dự thảo Hiến pháp vừa rồi, họ sẽ vẫn cứ giữ những điều đó. Thành ra chúng tôi nghĩ là nhiệm vụ của xã hội công dân, của nhân sĩ trí thức, của các đại biểu Quốc hội hiện nay là đấu tranh chống lại khuynh hướng bảo thủ - khuynh hướng luôn đi ngược lại lợi ích của đất nước, của tổ quốc chúng ta.
RFI : Xin cám ơn luật gia Lê Hiếu Đằng đã vui lòng nhận trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ hôm nay.

Monday, February 13, 2012

Bất cập Luật Đất đai và cơ hội cho tham nhũng

(Dân Việt) - Những tranh chấp dữ dội về đất đai, những vụ thu hồi đất nảy lửa như ở Tiên Lãng, nhưng yếu kém của nền nông nghiệp... đều có nguồn gốc sâu xa từ bất cập của Luật Đất đai.

Những tồn tại này đã được ông Nguyễn Minh Nhị - nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang phân tích, mổ xẻ trong một bài viết gửi cho Báo NTNN.
Rối rắm, khó hiểu
Khi làm phó chủ tịch tỉnh phụ trách “tam nông”, tôi có dự hội nghị đóng góp Luật Đất đai 1993, và tiếp theo, khi làm chủ tịch UBND tỉnh thì thực hiện Luật Đất đai 2003. Nói vậy để thấy rõ 2 việc: Các đại biểu đóng góp sửa luật, khi còn dự thảo không được tiếp thu nên những vấn đề cốt lõi, các từ ngữ, khái niệm và cách diễn đạt vẫn giữ gần như nguyên.
Theo ông Nhị, các quy định về về đất đai hiện nay quá rắc rối nên người dân khó hiểu.
Từ đó dẫn đến việc thứ hai là thực hiện luật vô cùng khó khăn và phức tạp – hiểu và làm sai là khó tránh khỏi và “vận dụng” làm bậy cũng rất dễ dàng.
Cái cốt lõi của vấn đề là ở chỗ: Quyền làm chủ trực tiếp của nông dân (người dân) thì ít và mơ hồ, trong khi nhà nước (các cấp chính quyền) thì quyền hạn mênh mông, chồng chéo lên nhau. Cả 4 cấp và 4 Bộ TNMT, NNPTNT, KHĐT, Tài chính – Vật giá (cũ) đều có quyền: Quyền sở hữu, quyền đại diện và nhất là toàn quyền sử dụng – định đoạt. Đã có đến 700 văn bản dưới luật và hướng dẫn thi hành mà đến nay vẫn còn chưa ổn thì đủ thấy cái rắc rối này như “ma trận”.
Trước khi viết bài này, tôi đọc lại Luật Đất đai 2003 và các văn bản dưới luật của Chính phủ và Bộ TNMT. Thật tình là quá rối rắm, hiểu không hết nổi. Cốt lõi của cái khó là nói sao để tránh cái “quyền sở hữu” của người dân nên mới có cấu trúc văn bản phức tạp mà không người nông dân nào hiểu hết khi đọc các văn bản ấy.
Quyền sử dụng lâu dài, về thực chất như quyền thuê đất 20 năm mà thôi. Nông dân có công với cách mạng mà chỉ được thuê 20 năm, trong khi các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nước ngoài thì 50 năm, vậy có công bằng không?
Ngay như Điều 105 và các điểm b, c, d của Điều 114 quy định các quyền của đối tượng sử dụng đất, vì tránh“sở hữu” nên viết rất dài, nhưng thiếu và khó hiểu. Đất đai nên đa sở hữu và do vậy mới cần có luật để điều chỉnh các mối quan hệ sở hữu ấy. Cái cốt lõi của Luật Đất đai cần sửa có lẽ là chỗ đó, vừa hợp lòng dân vừa phù hợp với hội nhập quốc tế.
Cơ hội cho tham nhũng
Trong thực tế, tôi từng chủ trì giải quyết các tranh chấp đất đai, nhiều vụ thành nhưng không phải là ai cũng thỏa mãn. Nhiều vụ gay gắt xử mãi không xong, có vụ xử bên nào thắng cũng là đúng... Đặc biệt, có vụ tranh chấp nhà đất ở huyện Tân Châu năm 1968 giữa vợ 1 thiếu tá Sài Gòn - bên nguyên, do tòa án chế độ cũ xử, thì bên bị là gia đình có công với cách mạng thắng vì có “quyền lưu cư thâm niên”. Tòa của ta xử ngược lại, họ thua mới đau!
Luật Đất đai quy định thời gian (20 năm) và cả 4 cấp chính quyền đều có quyền về đất như hiện nay là kẽ hở cho tham nhũng đầm đìa.
Nói thế để thấy luật của ta như một rừng chữ, nhưng trong đó có quá nhiều đường quanh, nẻo tắt; người ngay vận dụng là quá khó khăn, kẻ cơ hội, tham nhũng thì tha hồ kiếm chác.
Điển hình như chính quyền huyện Tiên Lãng nói: Thu hồi thì cứ thu hồi, còn giao lại cho ai thì chưa tính, đó là quyền của nhà nước. Mồ hôi, công sức, tiền của của người dân mà nói tưng tửng như vậy thì chỉ có trời mới hiểu. Dân không hiểu thì mới làm liều như trường hợp Đoàn Văn Vươn!
Năm 2013 là hết hạn 20 năm có “quyền sử dụng đất” của đại đa số nông dân, rồi vấn đề gì sẽ xảy ra nếu không sửa cái “thời hạn” và cả “hạn điền”? Nhân đây xin được nói thêm về hạn điền và thời hạn “sử dụng đất”. Hạn điền 3ha là cấp đất không thu tiền, còn chứng nhận việc sang nhượng, mua sắm mà cũng hạn điền là không lên sản xuất lớn, không cạnh tranh.
Đặt vấn đề sửa Hiến pháp, sửa Luật Đất đai (và các luật quan trọng khác có liên quan tới quyền dân chủ tự do của người dân) thiết nghĩ Trung ương đã rất sáng suốt đặt vấn đề giải quyết trong cái tổng thể “cải cách thể chế” và phân công lãnh đạo cao cấp chủ trì.
-------------------
Kỳ 4: Phải hài hoà lợi ích
Nguyễn Minh Nhị

Luật đất đai: Lắm kẽ hở nên nhiều người lợi dụng

(Dân Việt) - “Luật Đất đai đang bộc lộ ngày càng rõ nhiều kẽ hở khiến cho những người vận dụng nó được nắm cái quyền quá lớn” - nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão nhấn mạnh.

Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão
Vận dụng sai Luật Đất đai
Theo Luật Đất đai, liệu có thể hiểu rằng đến năm 2013 hơn 10 triệu hộ nông dân đang được giao đất với thời hạn 20 năm sẽ bị thu hồi đất và giao lại cho người khác như trường hợp ở Tiên Lãng, thưa ông?
- Khi những người làm luật vào cuộc và thông qua Luật Đất đai năm 2003 tại Quốc hội thì đều với tinh thần là giao đất lâu dài cho người nông dân, để họ yên tâm sản xuất, đầu tư mang lại hiệu quả lớn cho họ và cho đất nước. Nhưng khi viết vào văn bản luật do không chặt chẽ đã gây ra hai cách hiểu.
Nếu hiểu theo đúng tinh thần các buổi thảo luận thì mọi trường hợp đều có thể xem xét lại. Nếu ai có yêu cầu, nhu cầu, sử dụng đất đúng pháp luật thì được xem xét và tiếp tục làm các thủ tục hành chính để được giao đất. Theo tôi, nếu hiểu theo tinh thần ấy thì là vì dân, bảo vệ nhân dân, và hiểu luật khi thông qua như vậy là hợp lý và tốt cho dân.
Nhưng những người hiểu máy móc thì họ sẽ bắt người dân phải làm các thủ tục phiền hà, gây khó dễ cho dân. Cách viết luật không chặt chẽ, rồi sau đó cũng không có giải thích luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cho nên đó là những hạn chế của Luật Đất đai cho dù đã được sửa tới 4 lần. Đó cũng là kẽ hở để lãnh đạo huyện Tiên Lãng làm sai luật, vận dụng sai và ép người dân.
Xin phép trở lại lịch sử của vấn đề, tại sao trước năm 1980, đất đai thuộc đa sở hữu, nhưng đến Hiến pháp 1980 lại quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Tại sao lại có sự thay đổi như vậy?
- Khi đó, chúng ta đã tham khảo kinh nghiệm của Liên Xô và các nước khác nên đưa vào Hiến pháp như vậy. Đến Hiến pháp 1992, mặc dù thảo luận nhiều và thấy đó là vấn đề phức tạp, nhưng vẫn chưa vượt được xu hướng thời kỳ những năm 80.
Nông dân mong muốn được giao đất lâu dài để yên tâm sản xuất, đầu tư.
Ở đây, chúng ta có phần phê phán cơ quan nhà nước, nhưng cũng cần có sự chia sẻ. Đây là phần trách nhiệm cao hơn công tác quản lý nhà nước. Vì Luật Đất đai do Quốc hội thông qua, một mặt Quốc hội phải chịu trách nhiệm, nhưng nói gì thì nói vẫn phải đảm bảo sự chỉ đạo của Đảng. Do vậy, Đảng cũng cần nghiên cứu, xem xét lại, để tới đây sửa đổi Hiến pháp thì nên sửa như thế nào.
Đến Hiến pháp 1992, mặc dù đã quy định giao đất lâu dài cho người dân, tuy nhiên, Luật Đất đai năm 1993 không những không cụ thể hóa được tinh thần này, mà lại đặt ra thời hạn giao đất 20 năm. Ông lý giải như thế nào về điều này?
- Thời điểm sửa đổi Hiến pháp 1992 là thời điểm sôi sục đổi mới, không khí đổi mới của Đại hội VI vẫn đang hừng hực. Thành ra khi đó tranh luận nhiều nên Điều 17, Điều 18 Luật Đất đai (quy định về quyền sử dụng đất - PV) phải thông qua rất nhiều lần. Lần trước đã thông qua có mở hơn, nhưng lần sau lại thông qua vẫn giống tinh thần Hiến pháp 1980.
Nhưng đến lần sửa đổi Luật Đất đai năm 2003, vì xa tinh thần sôi động của đổi mới nên còn khép lại nhiều hơn...
Năm 2003, khi tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai, có 2 luồng ý kiến băn khoăn, một là thời hạn 20 năm quá dài, trong khi một luồng ý kiến khác lại cho rằng như vậy vẫn ngắn. Trong khi các đại biểu Quốc hội lại vẫn ủng hộ mức 20 năm? Liệu có phải khi ấy họ đã tính đến chuyện sau 20 năm sẽ chia lại ruộng đất?
- Tôi cho rằng đó là sự bảo thủ của Quốc hội, trách nhiệm của Quốc hội. Còn Chính phủ lúc đó có ý kiến đề nghị giao đất trong 30 năm hoặc lâu hơn, cho thấy nhận thức tiên tiến hơn. Chúng ta phải thừa nhận Chính phủ đã sát hơn với cuộc sống.
Nhận thức tốt, kết quả mới tốt
Từ vụ việc ở Tiên Lãng đang đặt ra vấn đề rất lớn, đó là sở hữu đất đai. Quan điểm của ông về vấn đề này?
- Tôi cho rằng nên cho phép đa sở hữu về đất đai, như thế mới phù hợp và gần với cuộc sống. Như vậy mới có Luật Đất đai hoàn thiện hơn, cùng với đó sự quản lý nhà nước sẽ tốt hơn. Như hiện nay là chưa hoàn thiện, và quản lý nhà nước từ T.Ư đến địa phương cũng sẽ rất khó. Do vậy, cũng nên chia sẻ với cơ quan hành pháp. Luật đã có khiếm khuyết thì nay lại vận dụng sai, đó là điều không chấp nhận được.
Cho dù có quy định thời hạn thì tinh thần cũng phải là lâu dài mãi mãi, để đến hết đời cha, đời con, người ta vẫn có thể tiếp tục sản xuất được. Đấy chính là trách nhiệm của cơ quan lập pháp.
Chẳng hạn như quyền sử dụng đất đai. Quy định đất đai là sở hữu toàn dân, nhưng trong Luật Đất đai thì ở khoản 4, Điều 4 quy định, người ta có 5 quyền về chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế... Nếu như vậy có nghĩa là Luật Đất đai công nhận có sở hữu cá nhân, vì phải là đất của mình thì mình mới có quyền chứ. Những nhận thức đó cho thấy chưa có sự thống nhất giữa Hiến pháp và luật. Vì vậy, nhiều ý kiến mới nói Luật Đất đai là “vi hiến”.
Theo nhận định của ông, với lần sửa đổi Hiến pháp này, nhận thức có gì đổi mới hơn, mạnh hơn để thay đổi vấn đề được cho là cốt lõi của sở hữu đất đai trong Hiến pháp?
- Vấn đề đất đai là vấn đề rất khó, quan trọng. Nếu xử lý không trách nhiệm, khách quan đầy đủ thì có thể nghiêng bên này, bên kia. Nghiêng bên này cũng nguy hiểm, bên kia cũng nguy hiểm. Muốn vậy, chúng ta phải dân chủ với dân. Vấn đề đất đai phải trưng cầu ý dân, đưa ra những phương án cụ thể để dân được đóng góp rõ ràng. Nếu chúng ta đi chung chung thì rất khó trả lời. Tôi ủng hộ trưng cầu ý dân và sửa đổi trên cơ sở kết luận ý dân. Lòng dân là trên hết. Nếu chúng ta không làm được như vậy thì tôi tin lần này chưa chắc chúng ta đã sửa được một cách tốt đẹp. Phải có cách làm tốt, nhận thức tốt thì kết quả mới tốt được.
Từ Hiến pháp đến Luật Đất đai nhận thức không nhất quán nên nhiều hậu quả: Trong khi Nhà nước nghèo khó, một số người cũng nghèo khó đi, thiệt thòi hơn thì lại có một số người rất lợi. Trong xu hướng đất đai ngày càng thu hẹp lại thì chúng ta cần phải chấn chỉnh, sửa lại ngay từ gốc.
Xin hỏi ông một câu hỏi cuối, hiện nay trên thế giới còn quốc gia nào quy định hình thức sở hữu đất đai như Việt Nam không?
- Tôi biết Trung Quốc vẫn ghi đất đai là sở hữu nhà nước, nhưng cách quản lý họ khác. Họ không cho Luật Đất đai có 5 quyền như Việt Nam. Họ nhất quán từ Hiến pháp đến Luật Đất đai. Thà chặt hẳn như vậy, không thì phải cởi mở để thông thoáng.
Trung Quốc họ quản lý đất đai tốt hơn chúng ta nhiều. Khi cần xây dựng khu công nghiệp, hay mở đường thì cách thu hồi đất của họ cũng khác. Họ thu hồi là thu hồi ngay và trả quyền sống cho người dân xứng đáng như bố trí chỗ ở tại những khu cao tầng, khu chung cư. Trả lại đúng diện tích đó hoặc hơn. Chúng ta không làm được như vậy, và không nhận thức được như vậy.
Xin cảm ơn ông!

Sở hữu vô chủ , 

Đào Tuấn ,
nguồn : http://www.baomoi.com/Home/ThoiSu/danviet.vn/Luat-Dat-dai-Can-mot-su-thay-doi-co-ban/7872252.epi 

Nghị trường. Ngày 31-5-2003. QH thảo luận về Luật Đất đai (sửa đổi).
Đại biểu QH Nguyễn Ngọc Đào đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Với khái niệm đất đai là sở hữu toàn dân và Nhà nước là chủ sở hữu thì Nhà nước là ai? Chủ sở hữu là ai?”. Theo ông Đào, chế độ sở hữu này đã dẫn đến tình trạng “Có rất nhiều Nhà nước trong một Nhà nước” khi xã, huyện, tỉnh, cấp nào cũng là nhà nước, cũng được giao đất, cho thuê đất dẫn đến tình trạng dân không biết Nhà nước nào giao đất cho mình”. Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc thì cho rằng “Quyền sở hữu toàn dân là một thứ hư quyền, là chẳng phải của ai cả. Trong khi đó, về lý thuyết, người dân chỉ có quyền sử dụng đất. Đó là một thứ quyền rất mỏng manh”. Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc đề cập thẳng thắn tới việc: Không thể lẩn tránh vấn đề cơ bản trong luật đất đai là Quyền sở hữu.

Điều đáng lưu ý là ông Nguyễn Đình Lộc từng đảm nhiệm vị trí Trưởng Ban biên tập Hiến pháp 1992.
Nhưng tất cả những phát biểu đó là vô nghĩa khi về nguyên tắc, chế độ sở hữu đất đai trong luật không thể trái với Hiến pháp, đạo luật được coi là luật gốc, là luật mẹ của các luật.
Đa sở hữu đối với ruộng đất thực ra đã được đặt ra ngay trong bản dự thảo  Hiến pháp 1980. Ông Vũ Mão, một cựu quan chức của Quốc hội khi trả lời câu hỏi “Vì sao” có sự thay đổi chế độ sở hữu đất đai kể từ bản Hiến pháp 1980 đã thừa nhận: “Khi đó xu hướng, nhận thức chúng ta về xây dựng CNXH có “hơi quá” so với thực tiễn cuộc sống”. Tới đầu những năm 90, khi Hiến pháp 1980 được sửa đổi, quan điểm này tiếp tục được đưa ra. Thậm chí ngay cả khi bản Hiến pháp 1992 không thừa nhận quyền tư hữu, thì Luật đất đai 1993, đã đẻ ra một thuật ngữ lạ “Quyền sử dụng đất”. Trao đổi với nhà báo Huy Đức, Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc lý giải: "Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, Luật Đất đai 1993 đã rất tiến bộ so với “Luật mẹ” khi “lách hiến pháp” bằng cách giao 5 quyền đối với đất đai, trong đó có quyền chuyển nhượng Quyền sử dụng đất.
Cả ông Vũ Mão và ông Nguyễn Đình Lộc đều không giải thích rõ nhận thức “hơi quá” thực chất là gì. Tuy nhiên, nhận thức “hơi quá” đó đã dẫn đến một hình thức “sở hữu toàn dân” trong Luật mẹ, “sở hữu nhà nước” trong Luật đất đai, và “Sở hữu vô chủ” trong thực tế; đã biến Luật đất đai, một bộ luật quan trọng liên quan đến gần 90 triệu dân, dù đã 4 lần sửa đổi, bổ sung (riêng Luật đất đai 2003 có trên 400 văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện) [thành bộ luật] chứa đầy bất cập, xa lạ với thực tế. Một nguyên nhân không nhỏ của những bất cập là vì những nhập nhằng trong chế độ sở hữu. Những bất cập mà nó đẻ ra đã được đại biểu QH Nguyễn Đình Lộc nói tại Quốc hội năm 2003: Nhà nước không quản lý được giá đất khiến giá đất lên cơn sốt nhiều lần. Còn đại biểu Nguyễn Thị Nga thì cho rằng: Nhà nước không bán đất nên đất không có giá. Nhà nước giao 7 quyền cho tổ chức, cá nhân sử dụng nhưng cần phải khẳng định rằng những quyền này không phải đối với đất mà là đối với quyền sử dụng đất.
Năm 2010, khi tổng kết thi hành luật đất đai, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên phát biểu, dù rào đón rằng đó chỉ là quan điểm cá nhân: “Tốt nhất là cho sở hữu tư nhân đất ở vì thực chất đã sở hữu tư nhân rồi mà ta cứ nói là sở hữu toàn dân, thành ra bao nhiêu chính sách ra không rõ!”.
Nhưng không thể sửa luật nếu như chế độ sở hữu đất đai trong “Luật mẹ” chưa thay đổi.
Ngày 26-3-1970, sau khi được thông qua tại lưỡng viện, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc lệnh ban hành luật “Người cày có ruộng”. Theo tinh thần của Luật: Ruộng đất không trực canh đương nhiên bị truất hữu (nhưng được bồi thường với gia trị quy định là 2,5 lần giá năng suất thóc từ mảnh ruộng đó) và được cấp phát miễn phí cho tá điền. Đến năm 1974, theo số liệu của Tổng nha Điền Địa, toàn miền Nam đã cấp phát gần 1,3 triệu ha cho khoảng 75 vạn nông hộ, với khoảng 5 triệu nông dân. Nông dân còn đồng thời còn nhận kèm giấy chứng nhận sở hữu ruộng đất. Thành công nhất của dự Luật là chấm dứt chế độ tá canh ở miền Nam khi tá điền trở thành điền chủ. Bản thân các đại địa chủ, cũng được bồi thường, chứ không bị thu trắng, với số tiền lên tới 171 tỷ đồng.  Luật “Người cày có ruộng” bấy giờ được dư luận hết lời ca ngợi. Thậm chí còn được The New York Times đánh giá là cuộc cách mạng ruộng đất mang nhiều tham vọng và tiến bộ nhất thế kỷ 20.
Tuy nhiên, tờ Chính Luận Sài Gòn số ra ngày 23-2-1971 dẫn lời dân biểu Trần Văn Quá, Chủ tịch Ủy ban Canh nông của Thượng viện tiết lộ: "Hầu hết số ruộng này đã được Việt Cộng cấp không cho nông dân từ mấy năm trước, nay luật "Người Cày Có Ruộng" xem như hợp thức hoá tình trạng đó".
“Người cày có ruộng” thực chất chính là khẩu hiệu của Đảng khi tiến hành cuộc cách mạng vô sản. Sau cải cách ruộng đất 1954-1956, khẩu hiệu này đã được hiện thực hóa khi 81 vạn ha ruộng đất, 10 vạn con trâu bò và 1,8 triệu nông cụ đã được chia cho gần 2 triệu nông dân.
Nhưng ruộng đất lại trở thành của “toàn dân” chỉ rất nhanh sau đó.
Sau “vụ án Cống Rộc”, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã vạch ra những bất cập xung quanh việc giao đất có thời hạn, đại ý: 20 năm, 50 năm, hay 70 năm thì cuối cùng cũng vẫn dẫn tới việc hết thời hạn. Và vì thế, nếu không có sự thay đổi cơ bản về chế độ sở hữu, những “vụ án Cống Rộc” chắc chắn vẫn sẽ xảy ra.
Cương lĩnh của Đảng năm 2011 đã không còn cụm từ “chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu” – như trongCương lĩnh 1991 – đây có thể là một tín hiệu “đèn xanh” để chế độ sở hữu về ruộng đất có thể thay đổi trong đợt sửa đổi Hiến pháp tới đây. Tuy nhiên, có thể chính vụ án Cống Rộc mới là yếu tố thực tiễn thúc đẩy sự thay đổi này trong Hiến pháp, đạo luật được coi là Luật mẹ. Để ít nhất các luật đất đai sẽ không phải “lách hiến pháp”, để nông dân thực sự có ruộng đất và không bị đẩy đến bước đường cùng nữa.