Showing posts with label trung đoàn 47. Show all posts
Showing posts with label trung đoàn 47. Show all posts

Thursday, August 31, 2023

TÂN CẢNH THẤT THỦ - Theo lời kể của các cố vấn Mỹ của sư đoàn 22 bộ binh

                       

                             Căn cứ Tân Cảnh 

Căn cứ Tân Cảnh chụp bởi một ng lính thuộc đại đội C thuộc TĐ 2/35 của sđ 4 bộ binh Mỹ.

                
                      

- "Thượng Đế ở về phía nào có pháo binh tốt. Trong chiến tranh, tinh thần của người lính bằng ba lần sức mạnh của đơn vị." -- Hoàng đế Napoléon. Tạm dịch từ: God is on the side with the best artillery. In war, the moral is to the physical as three to one. 

LỜI NÓI ĐẦU:  Nhờ lang thang trên mạng, tôi đã biết trong trận Dak To - Tân Cảnh 1972, John Paul Vann, cố vấn trưởng của QĐ 2 đã dùng trực thăng riêng để nhiều lần đáp xuống Tân Cảnh cứu hết cố vấn. Thông tin này đã dẫn tôi đến bài sau đây nói về những giờ phút cuối cùng tại bộ tư lịnh (BTL) của sđ 22 bộ binh VNCH năm 1972. Bài viết này có nhiều thông tin chưa từng đăng trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại. Dù được kể rất chi tiết bởi các cựu cố vấn của sđ 22 nhưng bài viết này ko thể nào giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và đầy đủ vì phần lớn họ chỉ viết về các hoạt động của cố vấn Mỹ. Trong khi đó, sau 1975, nhiều sĩ quan VNCH từng dự trận này, nhưng do nhiều lý do khác nhau đã ko viết lại những gì mình biết hay thấy trong trận này. Chỉ có vài người như các ông Tôn Thất Hùng, Trịnh Tiếu, Bùi Đức Lạc, Hà Quế Linh, Nguyễn văn Thịnh,  đã viết về trận Tân Cảnh 1972, nhưng ko đầy đủ như bài viết trên đây của cố vấn Mỹ. Vì sau khi rút quân về nước sau năm 1973, họ mang theo gần như toàn bộ các báo cáo sau khi hành quân (after action report) trong thời gian làm cố vấn cho các đv VNCH, kèm theo là bản đồ hay phóng đồ hành quân, v.v... Trong khi đó, các cựu chiến binh VNCH, khi viết hồi ký phần lớn chỉ dựa vào trí nhớ, nên dễ thiếu sót -- trừ một số ít có trí nhớ phi thường như cựu thiếu tá Vương Mộng Long.

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 38 đến 42 của chuyên khảo (monograph) này. 

. . . 

BÀI I - TRẬN TẤN CÔNG VÀO CĂN CỨ TÂN CẢNH

"Ngày 18/4 căn cứ hỏa lực (CCHLCharlie ở đầu phía bắc của Rặng Hỏa Tiển (Rocket Ridge) đã bị pháo hơn 300 đạn đại bác 105 ly và 75 ly ko giật, theo sau là cuộc tấn công của bộ binh thuộc trung đoàn 48 csbv. Rặng núi này được gọi là Rặng Hỏa Tiển vì địch quân thường bắn hỏa tiển từ núi này -- người dịch. Dù được trực thăng Cobra và chiến đấu cơ hỗ trợ hết mức, lúc 22:30 giờ TĐ 11 Dù buộc phải rút lui. Thiếu tá John Duffy, cố vấn của TĐ, là người cuối cùng rời vị trí. Ông cho biết 5 trong số 9 súng phòng không bao quanh CCHL đã bị phá hủy và có cả ngàn xác địch quân phơi thây trên hàng rào phòng thủ. 

Trung đoàn 42 và 47 VNCH đã tiếp tục cố gắng kiểm soát các đồi núi quanh các căn cứ Tân Cảnh và Dak To II, cách đó 5 km về phía tây, nhưng từ từ rút về căn cứ chánh. Vào ngày 19/4, TĐ 1/42 đã bị vây bởi khoảng hai TĐ CSBV, khiến ko thể tiếp tế. Đại tá Đạt đã ko thể tiếp cứu lực lượng này. Sau khi hết đạn, 63 trên quân số 360 người của TĐ này đã về được căn cứ của trung đoàn. 

Ngày 20/4 bộ tổng tham mưu đã yêu cầu QĐ II trả lại lữ đoàn dù để đưa ra vùng 1. Thay thế họ sẽ là liên đoàn (6 BĐQ bốc từ Huế, và trung đoàn 53 của sđ 23 bộ binh.

Lúc 19:30 giờ ngày 21/4, sau khi bị tấn công dữ dội nhiều ngày bằng pháo, CCHL Delta bị tràn ngập. Quân phòng thủ gồm một đại đội Dù và một đại đội của LĐ 2 BĐQ đã cầm cự cho tới khi quân tấn công được ba xe tăng hỗ trợ. Để bù đắp những thất bại trên Rặng Hoả Tiển và phòng thủ chiều sâu, tướng Ngô Dzu đã di chuyển một số đại bác về Diên Bình trong quận Dak To.Trước đó mấy tuần, Vann (cố vấn QĐ 2) đã đề nghị như vậy nhưng tướng Dzu ko nghe. 

Vào ngày 23/4 việc phòng thủ ở Tân Cảnh có vẻ thỏa đáng. Một số CCHL của Dù hay BĐQ trên Rặng Hoả Tiển vẫn nhận được tiếp tế. Các cố vấn cho biết tinh thần của các đơn vị này rất cao. Trung đoàn 47 ở Dak To II có một đại đội (company) chiến xa và một TĐ dù yểm trợ. Họ cũng có hai đại bác 106 ly không giật và nhiều súng chống tăng M-72 (LAW). Sư đoàn 22 ở Tân Cảnh có trung đoàn 42 và một TĐ của trung đoàn 41 nằm gần căn cứ. Quân phòng thủ ở đây gồm 1.200 người, bao gồm 900 người làm về hành chánh tiếp vận, ko có kinh nghiệm chiến đấu. Để chống tăng, căn cứ có hai súng 106 ly không giật, hơn 100 khẩu M-72, và một đại đội tăng M-41. Ngoài ra còn có 50 đại bác 105 và 155 ly. Khu vực này có vẻ đã chuẩn bị kỹ cho một cuộc tấn công của nhiều sđ đang đe dọa nó. Nói thêm: tuy căn cứ Tân Cảnh có quân số 1.200 người như trên nhưng có đến 900 người lo về hành chánh tiếp vận, ko được tổ chức hay biên chế để phòng thủ căn cứ. Trong căn cứ, ngoài đại đội xe tăng, các pháo đội, hậu cứ của sđ 22 và trung đoàn 42; còn có đại đội 22 và 42 trinh sát để bảo vệ bộ tư lịnh, và thương binh hay lính hết phép chờ ra hành quân -- người dịch. 

Vào ngày 23/4, dù những dấu hiệu rõ ràng của một tấn công của địch đã có từ đầu tháng Giêng, chiến dịch mà người ta chờ đợi đã lâu vẫn chưa bắt đầu. Những cuộc chạm súng với những đơn vị của CSBV đã gia tăng đáng kể trong 2 tuần trước đó vì khu vực Tân Cảnh- Dak To II đã bị bao vây. Pháo binh địch đã gia tăng từ 20 tới 50 viên mỗi ngày vào cuối tháng Ba và đầu tháng Tư trở thành khoảng 1.000 viên mỗi ngày trong 2 tuần trước. Cộng quân đã kiểm soát những khu vực phía bắc và đông của căn cứ Tân Cảnh và có thể bắn chính xác vào căn cứ. 

Vào ngày 23/4, nằm trên nóc một hầm trú ẩn ở phía đông bắc của chu vi phòng thủ của căn cứ Tân Cảnh, đại úy Raymond Dobbins, quyền cố vấn trưởng của trung đoàn 42 VNCH, ko để ý nhiều đến những loạt đại bác và hỏa tiền, thường xuyên rơi như mưa vào tiền cứ này của sư đoàn 22. Hậu cứ của sđ vẫn còn ở tỉnh Bình Định — người dịch. Dù hoàn toàn phơi mình trước hỏa lực chính xác và chết người nầy, ông vẫn bình tỉnh gọi máy bay Mỹ tấn công các mục tiêu do các cấp chỉ huy Việt Nam cung cấp. Ông đã biết rằng một TĐ của 42, ý nói trung đoàn 42, yểm trợ bởi bốn chiếc M-41, trong một cuộc hành quân (HQ) gần đó, đã bị pháo dữ dội bởi hỏa tiển 122 ly, pháo 130 ly, và cối 82 ly và rất cần không lực Mỹ mà ông đang điều chỉnh — trong khi họ lại được lịnh tiến vào một khu vực rất nguy hiểm kế cận tuyến phòng thủ của họ. Ông vừa thoáng nhìn khu vực cổng chánh nơi một chiếc M-41 vừa đi qua để tải thương một người lính. Vào lúc đó một ánh sáng lóa lên và sau đó là một tiếng nổ chứng tỏ xe tăng này bị trúng đạn chống tăng và hủy diệt. Vì nghĩ rằng đó là đạn B-40 nên một sĩ quan VN đã gọi cho đại úy Dobbins. Ông liền báo cáo vị trí chiếc M-41 này cho trung tâm hành quân của sư đoàn, viết tắt là DTOC, mà người nhận là thiếu tá Jon Wise, cố vấn của phòng 3 sư đoàn 22. Ông này báo ngay cho đại tá Philip Kaplan, cố vấn trưởng của sđ và trung tá Terrence McCain, cố vấn phó của sđ. Sau khi thảo luận, cả ba nhận định rằng ko thể là hỏa tiễn B-40 vì tầm hoạt động của nó chỉ 200 m và địch ở cách chiếc tăng này trên 500 m. Đại tá (ĐT) Kaplan, trung tá McCain và thiếu tá George Carter, cố vấn trưởng của thiết đoàn 14 đi đến chiếc xe tăng này. Vào lúc đó một phi đạn điều khiển bằng dây lướt nhanh (whisk) qua đầu họ và trúng một xe tăng khác khoảng 150 m ở phía bắc vị trí của họ ở cổng chánh. McCain chạy nhanh tới xe này và thấy một lổ nhỏ cỡ một đồng đô-la (silver dollar) ở phần giáp sắt phía trước. Đồng silver dollar hình tròn, đường kính 38.1 mm, dầy 2.4 mm -- người dịch. Ở bên dưới xe tăng là phần đuôi của hỏa tiển. Quan sát kỹ lưỡng, họ thấy hỏa tiển này có đường kính khoảng ba inch hay 7.62 tấc với hai cuộn dây (bobbin) và hai lổ thoát hơi (nozzle) ở trên thân của nó. Ba cố vấn nhanh chóng trở về trung tâm hành quân (TTHQ) của sđ trong khi Dobbins tiếp tục điều chỉnh không kích. Trước khi ba vị này tới TTHQ của sđ, thêm hai hỏa tiển loại này được bắn đi từ một cao điểm ở phía đông bắc kế cận một chùa Phật giáo. Cả ba người đồng ý rằng việc sử dụng vũ khí tối tân này có thể là hiệu lệnh bắt đầu của một tấn công lớn mà mọi người chờ đợi từ lâu. Vào lúc đó một tiếng nổ lớn làm rung chuyển mạnh (rock) TTHQ của sđ khiến mọi người và đồ vật văng tung tóe (crash about); kế đó mọi thứ đều yên tỉnh ngoại trừ tiếng đại bác của địch tiếp tục rơi trên mặt đất.



TTHQ của sđ là một hầm chống pháo kích rất chắc chắn có diện tích 45 x 30 feet hay 13.7 mét x 9.1 mét, làm từ xà gỗ và vỉ PSP, một loại vỉ sắt dùng để lót các sân bay dã chiến — người dịch. Hầm ở cách mặt đất khoảng 8 feet hay 2.4 mét và trên nấp hầm có hai lớp bao cát. Tác động của vụ nổ đã thổi bay vài bức tường. Phòng truyền tin và máy móc và phòng ngủ của các sĩ quan của TTHQ bị hư hại nặng. Trong khi trung tá McCain được đỡ dậy (pull to his feet), ông vẫn tiếp tục ù tai do tiếng nổ. Sau đó ông cũng biết đại tá Kaplan và thiếu tá Wise bị thương nặng ở đầu. Không có người Mỹ nào khác bị thương, nhưng có khoảng 20 quân nhân VNCH chết và bị thương nặng nằm trên sàn nhà đầy mảnh vụn của TTHQ sđ. Trung úy John Jones, một sĩ quan thuộc phòng 3, và đại uý David Stewart, cố vấn về truyền tin của sđ, đã bắt đầu băng bó cho Wise và Kaplan, trong khi McCain điều trị các thương binh VNCH. Trong khi người bị thương được săn sóc, đại tá Kaplan đã nhận thấy khói bắt đầu phủ đầy TTHQ của sđ. Những thanh gỗ tẩm dầu (creosoted timber) dùng để gia cố ở khu vực truyền tin của TTHQ đã bắt lửa (ignite) do vụ nổ và bắt đầu cháy dữ dội. Nói thêm: Để chống mối mọt cho gỗ, người ta thường ngâm gỗ trong chất creosote — người dịch. Không có bình chữa cháy, và sau vài lần dập tắt lửa vô vọng bằng nước, cuối cùng mọi người đều phải rời bỏ TTHQ.

Trong khi đó, Stewart và thiếu tá Julius Warmath đã bắt đầu lập một TTHQ mới của sđ trong TTHQ của trung đoàn 42, cũng nằm trong căn cứ Tân Cảnh, bằng cách dùng máy móc truyền tin của Mỹ. Sư đoàn 22 từ từ đã lấy lại phần nào sự điềm tỉnh (composure) của nó, nhưng một hạt giống nghi ngờ đã bắt đầu nảy mầm (plant) trong đầu của vị tư lịnh, tức đại tá Đạt. Phi đạn điều khiển bằng dây này, ko những chỉ tàn phá TTHQ của sđ, mà còn tàn phá sự tin tưởng của quân nhân của sđ 22 vào chính họ. Một cảm tưởng rằng quân CSBV là những chiến binh giỏi và sẽ chiến thắng có vẻ đã xuất hiện gần như trong đầu mọi người. Vào buổi trưa, địch quân đã gây tổn thất lớn lao (take a heavy toll) cho các lực lượng VNCH qua việc dùng phi đạn điều khiển bằng dây này. Nói thêm: Người ta phân biệt hỏa tiển (rocket) với phi đạn (missile) vì phi đạn có thể điều khiển, ví dụ như phi đạn Sagger trong trường hợp này, còn hỏa tiển ko thể điều khiển như hỏa tiển 122 ly — người dịch. Năm chiếc M-41 trong căn cứ hoàn toàn bị hủy diệt bởi các phi đạn này. Ngoài TTHQ của sđ còn một số bunker cũng bị phá hủy bởi nó. Nhưng sự tàn phá quan trọng nhứt là tâm lý. Lúc 11 g trưa, John Paul Van, cố vấn của QĐ 2, dù hỏa lực nặng nề của pháo binh địch, đã đáp xuống Tân Cảnh để hỏi thăm tình hình suy sụp (decay) này. Ông đã nhận thấy rằng quân VNCH KHÔNG PHẢN PHÁO (counterbattery fire) và rằng việc tải thương các thương binh VN hoàn toàn do phía Mỹ đảm trách. Sau khi thảo luận tình hình này với các cố vấn, Vann ra lịnh cho họ thực hiện kế hoạch thoát thân và lẩn trốn. Kế đó ông bay đi, mang theo vài nhân viên dân sự từng làm việc với các cố vấn Mỹ.

Trung tá McCain và thiếu tá Warmath đã làm việc liên tục trong buổi chiều để bảo đảm mọi người bị thương được di tản. Ngoài việc liên lạc với trực thăng dưới làn pháo địch, các cố vấn cũng khiêng thương binh ra trực thăng. Các cố vấn còn lại thì liên lạc với không quân để tấn công các mục tiêu gần căn cứ. Ngoài đạn pháo binh địch càng lúc gia tăng và những cuộc chạm súng nhỏ có tính thăm dò, phần còn lại của buổi chiều và lúc trời sụp tối đã qua đi mà ko có biến cố nào đáng kể. Tuy nhiên khoảng 19 g tối, lợi dụng lính VNCH mãi núp trong hầm để tránh pháo, từ một cao điểm gần sân bay L-19, mười lính CSBV đã dàn hàng ngang và bắn B-40 và B-41 vào kho đạn. Một trong những quả B-40 này đã gây cháy lớn khiến đạn nổ liên tục và tiêu hủy mọi đạn dược. Lúc 21 g, đại úy Richard Cassidy, cố vấn của Quận Dak To, đã nghe ông quận trưởng nói rằng xe tăng địch di chuyển ngang ấp Dak Brung để tới BCH chi khu Dak To. Cassidy đã chuyển tin này tới TTHQ của sđ 22 và yêu cầu một máy bay gunship C-130, có danh hiệu truyền tin là Spectre (Bóng Ma), lên vùng để đối phó đe dọa này.

Lúc 23 g chiếc Spectre đã tới khu vực Tân Cảnh và lập tức bắt đầu rà quét khu vực ấp Dak Brung bằng thiết bị theo dỏi bằng tia hồng ngoại và vô tuyến truyền hình. Sau 15 phút, chiếc C-130 gunship này đã xác định vị trí (locate) của một đoàn 18 xe tăng chạy từ tây sang đông tiến tới chi khu Dak To. Chiếc Spectre báo cáo phát hiện này cho các cố vấn của sđ 22 và đã bắt đầu bắn xe tăng với đại bác 105 ly. Sự phát hiện này đã khiến hoạt động ở Tân Cảnh nhộn nhịp lên (flurry). Trung tá Nguyễn hữu Thông, chỉ huy trung đoàn 42, bảo vị trung đoàn phó tới tháp nước ở tây bắc của chu vi phòng thủ để liên lạc với không quân đánh vào địch quân đang tới gần. Đại úy Ken Yonan, cố vấn của vị trung đoàn phó này, đã đi theo ông này tới tháp nước và chuẩn bị liên lạc với Spectre khi đoàn xe tăng hướng về Tân Cảnh. Vì nghĩ rằng một cuộc tấn công lớn lao có vẻ đang tới gần và quân VNCH KHÔNG CÓ BIỆN PHÁP GÌ ĐỂ PHẢN CÔNG, đại tá Kaplan họp các cố vấn và nói rõ cho họ về kế hoạch đào thoát và lẫn trốn. Kế đó ông yêu cầu họ ở trong các hầm trú ẩn để chờ đợi hậu quả của những đụng độ sắp xảy ra. 

Trong khi đó chiếc C-130 gunship báo cáo đã bắn trúng ba xe tăng gần ấp Dak Brung. Lính ĐPQ tới gần một trong ba xe này nhưng thấy xe ko hư hại đáng kể, có lẽ bộ đội trên xe đã bỏ xe mà chạy khi bị Spectre tấn công — người dịch. Khi một toán đặc công CSBV xuất hiện trên đường, lính ĐPQ bỏ chạy, và địch quân lái xe đi mất. Rõ ràng, đại bác 105 ly của Spectre đã ít thành công khi diệt tăng. Vì đối với xe tăng T-54 của Liên Xô (LX) hay T-59 của Trung Cộng, khi bị bắn từ trên cao với đạn nổ mạnh, điểm yếu của chúng là bình xăng ở sau xe hay ngăn chứa động cơ ở sau xe. Bắn trúng nơi khác trên xe chỉ gây thiệt hại cho người nhưng ko thể làm xe bị phá hủy.

Khoảng giữa đêm, đoàn xe tăng này đã quay về hướng nam để tiến về Tân Cảnh và sđ 22. Đại tá Kaplan đã yêu cầu chỉ huy pháo binh VN cho cấp dưới bắn xe tăng địch trước khi họ bị tràn ngập. Lời yêu cầu đã được đáp ứng khi bốn tràng đại bác được bắn đi và Spectre cho biết đạn đại bác đã trúng một xe bồn chỡ xăng và rơi năm feet hay 1.5 mét cách một T-54 khác. Kaplan đã khen ngợi cố gắng này, nhưng một đợt phản pháo dồn dập của địch đã khiến lính pháo binh VNCH chạy nhốn nháo (scurry) về hầm trú ẩn của họ và đã chấm dứt mọi cố gắng chống cự địch bằng pháo binh của mình.

Để tới căn cứ của sđ 22, đoàn xe tăng này phải qua hai cầu. Cả hai cầu được bảo vệ bởi một trung đội ĐPQ. Vì ko có súng chống tăng, họ đã rút chạy khỏi vị trí. Sự kiện này đã chứng tỏ thiếu phối hợp giữa quân chính quy và ĐPQ. Hai cầu nằm trên đường tiến sát tới căn cứ Tân Cảnh và bắc qua những suối mà xe tăng ko thể vượt qua (unfordable). BTL SĐ 22 BB đã nghĩ rằng tiểu khu (TK) đã có kế hoạch phá cầu bằng chất nổ khi có lịnh, nhưng thực tế TK đã ko làm gì hết. Đúng là chết được — người dịch. Đoàn xe tăng tiếp tục tới ngoại ô của thị trấn Tân Cảnh. Một số xe ngừng ở đây nhưng những chiếc khác chạy về Dak To. Spectre xin được bắn những chiếc đã vào Tân Cảnh, nhưng bị từ chối vì có thân nhân của lính VNCH trong thị trấn. Nói thêm: thị trấn hay làng Tân Cảnh nguyên trước đây là làng Kon Hơ-jao, nằm ngay ngã ba QL-14 với tỉnh lộ 512 (chạy tới trại LLĐB Ben Het). Trước 1972, thị trấn rất sầm uất, có chợ búa, rạp hát, v.v...Căn cứ Tân Cảnh ở tây nam của thị trấn này, và bên trái của TL 512, trước đây là hậu cứ của trung đoàn 42 thuộc sđ 22 bộ binh, trong căn cứ có tháp nước; nay do nhu cầu chiến trường nên BTL sđ đã dời về đây. Riêng chi khu (CK) Dak To, nằm ở chính bắc và cách thị trấn Tân Cảnh khoảng 5km. Vì nghĩ rằng T-54 sẽ tiến về căn cứ Tân Cảnh từ Ben Het, nên phần lớn M-41 đã lên bảo vệ trại LLĐB này. Theo bài này, T-54 đã tiến về Tân Cảnh bằng cách chạy ngang CK Dak To -- người dịch. 



Dobbins thuyết phục trung tá Thông lập các toán tìm và diệt tăng bằng cách lấy người từ một đại đội của trung đoàn 42. Cố gắng này đã có kết quả khi hai chiếc T-54 bị bắn cháy ở phía tây của làng. Lúc 0326 giờ ngày 24/4, Spectre báo cáo có 10 xe tăng rời làng Tân Cảnh tiến về một cao điểm ở Bắc của căn cứ, gần sân bay L-19. Những chiếc còn lại tiến về phía nam của Làng Tân Cảnh và chuyển về hướng tây tới căn cứ. Chiếc Spectre này bay về Pleiku để tiếp xăng và đạn dược và được thay thế bởi một Spectre khác trang bị 2 đại bác 20 ly và hai khẩu 40 ly ko thể hủy diệt T-54. Tuy nhiên, từ trên tháp nước cao, đại úy Yonan vẫn có thể chỉ điểm cho Spectre tác xạ vào những đơn vị bộ binh địch đang tiến gần căn cứ.

Dobbins đã ở phía đông của chu vi gần cổng chánh với trung tá Thông từ khi nhận tin về thiết giáp địch. Lúc gần 6g sáng, chiến xa đã tấn công xuyên qua lớp sương mù của sáng sớm. Chúng dùng đại liên 12.8 ly bắn vào các bunker trên chu vi phòng thủ gần cổng chánh. Cùng lúc đó, những xe tăng vừa chuyển lên cao điểm gần sân bay L19, nay từ đó yểm trợ cho bộ binh tấn công vào chu vi phía bắc, trong khi một lực lượng bộ binh tấn công vào chu vi phía nam, bảo vệ bởi đại đội trinh sát của trung đoàn 42. Dobbins báo cáo cho TTHQ về tình hình chiến xa địch và lính VNCH ồ ạt vượt qua hàng rào kẽm gai để rút lui. Lần đầu tiên thấy và nghe chiến xa địch đã khiến 900 lính vô kỷ luật và ko ai chỉ huy này đã bỏ chạy trong sợ hãi — Đây là lính trước giờ chỉ ở hậu cứ của sđ ở Bình Định, chuyên lo về hành chánh tiếp vận, chưa có kinh nghiệm chiến đấu như lính ở các đv tác chiến — người dịch.

Những xe tăng này vượt qua cầu và chạy hàng một về cổng chánh. Dobbins và trung tá Thông vẫn ở gần cổng chánh để cố gắng giữ vững tinh thần binh sĩ tác chiến dưới quyền trước cảnh lính của hậu cứ sđ chạy tán loạn trong kinh hoàng.

Sau khi nhận tin lính của hậu cứ sđ bỏ chạy, Kaplan ra lịnh cho cố vấn sđ chuẩn bị để trực thăng bốc đi nếu quân VNCH ko giữ được Tân Cảnh. Năm phút sau, Dobbins báo cáo xe tăng địch đã ở cổng chánh và quân VNCH ko thể cản chúng. Liên lạc truyền tin bị cắt do ba quả 105 ly rơi trúng TTHQ và làm ngả an-ten. Lúc này các cố vấn nghĩ rằng họ ko thể làm gì trước tình hình này. Họ rời TTHQ, mang theo súng, máy truyền tin, và hai M72 và tìm đường về tháp nước. Yonan vẫn ở tháp nước với hy vọng phá vỡ cuộc tấn công nếu máy bay tới. Xui xẻo thay, sương mù buổi sáng khiến máy bay ko còn hoạt động hiệu quả và trực thăng gunship thì 30 phút nữa mới tới. Đại úy Stewart, đang mang một PRC-25, gọi Yonan rời khỏi tháp nước và di chuyển với họ về hướng tây nơi mà trực thăng sẽ bốc. Yonan trả lời ko thể đi vào lúc này, nhưng sẽ gặp họ sau đó. Cuộc nói chuyện bị gián đoạn vì hai đạn đại bác T-54 nổ trên tháp nước. Stewart lại gọi cho Yonan khuyên nên rời tháp nước gấp nhưng Yonan trả lời tuy ko bị thương nhưng ko thể rời vào lúc này.

Bất chấp đạn pháo của đối phương, các cố vấn chạy về hàng rào phòng thủ phía tây. Ở đó họ thấy một T-54 đang cháy chạy rất nhanh (barrel down) trên đường từ hướng bắc ngay bên ngoài hàng rào kẽm gai. Xe tăng đã chạy qua vị trí của họ trước khi họ bắn xe này bằng M72. Tuy nhiên, khi chiếc thứ hai trong tầm nhắm, trung tá McCain và trung úy Jones đã thất vọng vì súng M72 bị trục trặc khiến chiếc này cũng chạy qua luôn. May mắn cho họ ko có bộ binh tùng thiết theo hai xe này. Lợi dụng cơ hội quý giá này, các cố vấn băng nhanh qua đường. Trước mặt họ là bãi mìn dài 200 m của phe ta. Một lính VNCH bị thương nằm gần đó. Trong khi được sơ cứu, người lính nói với cố vấn rằng y biết đường đi qua bãi mìn. Y đã dẫn họ đi qua bãi mìn tới phía bên kia của khu rừng thưa (clearing). Tới đây họ nghỉ ngơi chốc lát và suy nghĩ về bước kế tiếp. 

Ông Vann đã thức suốt đêm trước đó khi tin tức liên tục gửi đến Pleiku. Khi trời mới hừng sáng, ông và phi công của ông, đại úy Richard Todd, trên đường bay tới Tân Cảnh. Ông đã ko thể liên lạc với các cố vấn từ khi thiết giáp địch tấn công BTL của sđ 22 bộ binh. Khi ở trên bầu trời Tân Cảnh, ông đã liên lạc với Steward đang ở dưới đất. Vann đã xem xét tình hình và hỏi cách nào tốt nhứt để cứu các cố vấn. Đại tá Kaplan, cố vấn trưởng của sđ 22 đã trả lời rằng họ sẽ di chuyển thêm 200 m về phía tây để tránh đạn súng nhỏ. Khi sáu cố vấn di chuyển, ba người cố vấn còn lại bắn che chỡ cho họ, sau đó họ đã gặp nhau. Cuối cùng họ quyết định rằng Vann có thể đáp xuống bằng chiếc OH-58 của ông để bốc toán cố vấn đầu tiên. 


Đó là thiếu tá Carter, thiếu tá Warmath, đại úy Keller, thiếu úy Jones, trung sĩ Ward và hạ sĩ Zollenkopher. Trong khi Vann cất cánh với nhóm cố vấn này, vài lính VNCH quá sợ hãi đã bám vào càng trực thăng. Sợ rằng các người lính này sẽ rớt trước khi máy bay tới trại Ben Het, ông đáp xuống căn cứ Dak To II, nơi trung tá Robert Brownlee và đại úy Charles Carden, cố vấn của trung đoàn 47 bộ binh, đang chờ họ. Sau đó Vann trở lại Tân Cảnh để cứu các cố vấn còn lại. Khi máy bay vừa đáp xuống, khoảng 15-20 binh sĩ VNCH quá sợ hãi tràn lên máy bay. Khi cố gắng cất cánh, máy bay đã rơi, nhưng Vann và đại úy Todd thoát được. Sau đó, một máy bay khác đã cứu họ và sau đó tìm (locate) được ba cố vấn còn lại gồm Kaplan, McCain và Stewart. Các người lính VNCH hoảng loạn, lần nữa đã cố gắng trèo lên máy bay nhưng ko thành công, và máy bay đã cất cánh mà ko có họ. 30 phút sau, máy bay đã đáp xuống Pleiku". 

. . . 

Chuyển ngữ từ trang 38-42 của: Wayback Machine (archive.org)

Bài thứ hai sẽ là trận đánh ở căn cứ Dak To II, sẽ dịch sau. 

=================

PHẦN ĐỌC THÊM: Sau đây là đặc điểm của máy bay AC-130.

1/ Phiên bản AC-130 H (Spectre), đã dùng trong trận Dak To -Tân Cảnh. Trang bị:

2 đại bác 20 ly M61 Vulcan.

1 đại bác 40 ly L/60 Bofors bắn 120 viên/phút.

1 đại bác 105 ly bắn 6-10 viên/phút.

2/ Phiên bản AC-130 U (Spooky II) trang bị:

1 đại bác 25 ly GAU-12/U Gatlin 5 nòng bắn 1.800 viên/phút.

1 đại bác 40 ly L60 Bofors 120 viên phút.

Ở phiên bản này, có hệ thống áp lực khoang tàu (cabin pressure system) khiến phi hành đoàn có thể bay cao và bay xa hơn. Hiện nay các máy bay dân sự đều có hệ thống này.

San Jose ngày 3 tháng 9 2023.

Tài Trần

=======


 















Tuesday, November 3, 2020

 ANH DŨNG TRONG TUYỆT VỌNG : HY SINH BỊ QUÊN LẢNG CỦA SƯ ĐOÀN 22 VNCH TẠI BÌNH ĐỊNH TRONG THÁNG 3.1975.

....

Tôi chuyển ngữ bài này từ quyển Black April của George Veight để ghi ơn các chiến sĩ của sđ 22 đã hy sinh, bị thương, bị mất tích, bị bắt sống trong khi chiến đấu trên QL-19 hay trên đường rút lui về Qui Nhơn để lên tàu hải quân.

"Sáng 30/3, lính đpq bảo vệ Phù Cát tan hàng mà ko chiến đấu nên buổi trưa, lực lượng vc địa phương tấn công. Lực lượng KQ phòng thủ đã chống trả và cầu cứu không đoàn 92 ở Phan Rang. 

ĐT Thảo của không đoàn 92 tập hợp khoảng 40 A-37 cất cánh tấn công. Dù A-37 không trang bị để đánh đêm nhưng nhờ huấn luyện trước đó nên làm được. Ông đã cho 40 chiếc ném bom cùng một lượt vào vị trí tập trung của địch, sát nách sân bay. Mỗi chiếc chỉ mang hai bom 250 cân Anh. 

Tuy nhiên đến bình minh, sđ 2 KQ vội vả bỏ Phù Cát, chỉ mang đc 32 chiếc và để lại hơn 50 chiếc. Sân bay thất thủ vào chiều 31/3."

Sau đây là phần chuyển ngữ: 


...


"CHIẾN DỊCH BẮT ĐẦU

Trung tá Lê Cầu (gần cuối trận đánh ông mới được thăng đại tá), chỉ huy trung đoàn (tr.đ.) 47 sđ 22 VNCH mệt mỏi ngả người xuống ghế bố tại BCH nhẹ của ông ở phía đông của ĐÈO AN KHÊ trên QL-19 của tỉnh Bình Định. Lúc đó là gần khuya của NGÀY 3 THÁNG 3 1975. Trong 10 giờ, ông đã leo những đồi đá dốc đứng (steep, rocky hill) và đi thăm binh sĩ, duyệt xét những vị trí phòng thủ. Từ ngày bắt được người tù binh csbv với bản đồ, tr.đ. của ông đã bảo vệ đèo này. Sau sáu tuần hành quân và trực chiến 24/24 liên tục, ông Cầu và binh sĩ của ông kiệt sức. 

Ông đã được giao sứ mạng này bởi ông quen thuộc (familiarity) với khu vực này; ông đã chiến đấu ở đây trong những ngày khó khăn của cuộc tổng tấn công 1972. Ông đã biết sđ 3 csbv muốn chiếm đèo này, nhưng ông ko biết ngày giờ. Dựa vào tin tình báo rằng sđ 3 csbv sẽ tấn công đèo, ông Cầu và TL của ông, chuẩn tướng Phan Đình Niệm, đã tin tưởng rằng sđ 3 sẽ theo khuôn mẫu sau: một tr.đ. sẽ chiếm đèo trong khi phần còn lại của sđ sẽ tấn công vùng bờ biển phía bắc Bình Định. Vì hai bên đã từng đụng độ ác liệt tại vùng này từ tháng 12/74, và vì tướng Phú sợ rằng lữ đoàn 52 csbv chiếm cảng Sa Huỳnh, tướng Niệm đã để hai tr.đ. tại vùng này, một tr.đ. khác làm trừ bị. Ông có thể tăng viện cho ông Cầu một liên đoàn ĐPQ tân lập.

Tuy nhiên, lần này sđ 3 csbv đã thay đổi cách đánh. Là một phần trong chiến dịch Cao Nguyên, nhiệm vụ của họ rất quan trọng. Trong quân sử của sđ này sau 1975 đã viết: "để tiêu diệt một phần đáng kể của lực lượng địch và ... cắt Đường 19 trong một thời gian lâu dài để tạo điều kiện thuận lợi cho phép cuộc tấn công đầu tiên ở cao nguyên nhằm tiêu diệt địch và nhằm tạo một khoản trống ở phía đông để hỗ trợ phong trào địa phương của chúng ta tại Bình Định. Sự khác biệt trong lần này là QUY MÔ của trận chiến, thời gian mà đường 19 bị cắt, và những mục tiêu của chiến dịch này HƠN RẤT NHIỀU (all much greater than) so với những gì của tổng tấn công năm 1972. Trong năm 1972, sđ chỉ cắt QL-19... để giúp các đv đạt chiến thắng... Lần này sđ được lịnh tiêu diệt lực lượng địch để chúng ta có thể cắt đường này trong thời gian dài."

Ngăn chặn đường này vô hạn định sẽ bóp nghẹt (strangle) Kontum và Pleiku về quân sự và kinh tế, và ngăn quân VNCH rút về duyên hải. QL- 19, dài gần 125 dặm hay 201 km, là đường huyết mạch chánh của cao nguyên. Hàng tiếp tế cho Kontum và Pleiku đc chỡ bằng xe tải từ cảng Qui Nhơn, tỉnh lỵ của Bình Định và tp lớn THỨ TƯ của nam VN. QL-19 bắt đầu từ QL-1 gần Qui Nhơn, tại một nơi có tên AN NHƠN. Đường sẽ đi ngang các ruộng lúa và đồi thấp (foothill) để tới Đèo An Khê rất nguy hiểm (treacherous) và kế đó là Đèo Mang Giang nổi tiếng, nơi mà năm 1954, chiến đoàn 100 của Pháp đã bị phục kích và gần như bị tiêu diệt. Kế đó QL-19 đi vào tỉnh Pleiku và tiếp tục đi về hướng tây, chấm dứt tại Đức Cơ gần Cambodia. 

Để đánh lừa tướng Niệm, các đv của sđ 3 csbv "đã rêu rao với dân rằng chúng tôi sẽ giải phóng bắc Bình Định...Buổi tối nhiều đv đã tới sát chu vi phòng thủ của các đồn bót VNCH, và sau đó rút lui nhưng cố tình để lại dấu vết. Máy kéo và xe ủi đất thuộc ủy ban canh nông của tỉnh? đã được lịnh chạy về phía bắc với đèn pha bật sáng và động cơ mở lớn, và để lại dấu vết giống xích xe tăng. Làm sao để địch nghĩ rằng chúng tôi sẽ tấn công họ ở phía bắc, dù cho cả sđ của chúng tôi đã im lặng chuyển về phía nam."

NGÀY 2 THÁNG 3, tướng Phú  gặp trung tá Cầu để duyệt xét tình hình. Phú đã nhấn mạng với Cầu rằng QL-19 giữa Pleiku và Qui Nhơn phải thông thương bằng mọi giá. Cầu đã trả lời rằng bảo vệ cả con đường này là điều ko thể được (impossible), vì có quá nhiều cầu, địa thế khó khăn vì nhiều đèo, và lực lượng của ông ko đủ để có mặt mọi chỗ. Không thám ko giúp đc nhiều vì quá ít: Không quân (KQ) chỉ cung cấp một quan sát cơ L-19 BA GIỜ MỖI NGÀY CHO CẢ SĐ! Tuy nhiên, Cầu đã hứa với Phú là sẽ thông đường lại nếu bị CS cắt. 

Khoảng 6:20 sáng NGÀY 4/3, sương mùa dầy đặc che phủ mặt đất, bao phủ các đỉnh núi. Đột nhiên, một tiếng nổ làm rúng động BCH của Cầu. CẦU SỐ 13, là một cống nước gần đó, bảo vệ sơ sài bởi một trung đội nghĩa quân, đã bị đánh sập bởi đặc công. Con đường huyết mạnh của Phú bị cắt. Lúc 6:35 sáng, sương mù tan, hai hỏa châu được bắn lên trời. Pháo binh địch lập tức bắt đầu bắn vào các vị trí của ĐPQ và của tr.đ. 47 của Cầu. Cuộc "Tổng Tấn Công Mùa xuân" đã bắt đầu.

           1. Đèo An Khê với Đèo Mang ở bên trái 


ĐÓNG SẬP BẪY

Cùng lúc với tấn công của sđ 3 csbv tại Đèo An Khê, tr.đ. 95 A CSBV tấn công các vị trí của ĐPQ và NQ trên QL-19 ở phía tây của ĐÈO MANG GIANG thuộc tỉnh Pleiku. Sau trưa một chút, CS đã chiếm một đoạn dài. Vì phần lớn quân VNCH phải bảo vệ Kontum và Pleiku, Phú chỉ có thể gửi MỘT TĐ của lực lượng trừ bị của QĐ, liên đoàn 4 BĐQ, cùng với một số ít chiến xa, nhằm đẩy lui (dislodge) tr.đ. 95A. Ông phải giữ phần còn lại của LĐ 4 BĐQ để làm trừ bị. Phú cũng ra lịnh cho TRUNG ĐOÀN 42, sđ 22 bộ binh (do ĐT Nguyễn Hữu Thông chỉ huy, sau này đã tự sát ngày 2/4 tại bãi biển Qui Nhơn vì ko muốn di tản .-- Người dịch), chuyển từ bắc bình Định tới TP nhỏ có tên BÌNH KHÊ nằm phía đông của đèo An Khê để bảo vệ TP trước địch quân.

            

    
2. QUỐC LỘ 19 VÀ BÌNH KHÊ


3-4:  KHU VỰC PHÍA ĐÔNG BÌNH KHÊ VỚI              MỘT ĐỊA DANH TÊN PHÚ AN 




Dù cho nhật ký tìm thấy ngày 5 THÁNG BA trên tù binh csbv là chỉ dấu rõ ràng nhứt là quân csbv đang bao vây Ban Mê Thuột, có vẻ điều này bị coi thường (overlook) khi cùng ngày đó, tr.đ. 25 csbv đã tấn công và cắt QL-21, chạy từ Ban mê thuột đi Nha trang. Bây giờ giờ Phú có bốn ĐÁM CHÁY cùng một lúc: hai trên QL-19, đã kể ở trên, thứ ba tại quận lỵ Thanh An, và thứ tư trên QL-21. Phú đã tổ chức một lực lượng lớn để mở lại QL-21 tại một vị trí bị địch ngăn chặn ở đông Ban Mê Thuột - gần ranh giới của 2 tỉnh Darlac và Khánh Hòa. Được thành lập từ các đv ĐPQ thuộc các tỉnh duyên hải, đv này có nhiệm vụ mở lại QL-21. Chỉ huy bởi tỉnh trưởng Khánh Hòa (ĐT Lý Bá Phẩm), các cuộc phản công của ĐPQ bắt đầu NGÀY 7 THÁNG 3. Dù được yểm trợ bởi không, pháo, và thiết giáp, ĐPQ ko thể đẩy lui các lực lượng CSBV đang giữ các cao điểm trên QL-21.

Khi các cuộc tấn công xảy ra, tướng Phú gần như ăn ở tại BTL QĐ. Trong quá khứ, ông đã từng ra sát tuyến đầu để chỉ huy binh sĩ. Nhưng làm TL một QĐ, ko chỉ cần có can đảm. Lề lối làm việc của Phú có thể đúng trong quá khứ, nhưng năm 75, chiến tranh hoàn toàn khác xa. Quân csbv đã dùng những đv lớn hơn, cơ động hơn, với ưu thế về hỏa lực và tiếp vận, tất cả đều ĐỒNG BỘ bởi sự tiên liệu vượt trội và kiểm soát chặc chẻ của các TL CSBV - luôn luôn đi trước mọi bước tiến của Phú. Tình hình này đòi hỏi một TL có thể đồng thời phản ứng và tiên liệu (planning). 

Phú giỏi về phản ứng nhưng kém về tiên liệu.  Ông đã đối phó với việc QL-21 bị cắt bằng cách ra lịnh TĐ  3/53 thuộc sđ 23 phải bỏ Đức Lập để về Ban mê thuột. Ông cũng ra lịnh cho một đv pháo binh và TLP của sđ 23, ĐT Vũ thế Quang về Ban Mê Thuột. Ông này sẽ coi mặt trận Quảng đức và Ban mê thuột. Đoàn xe này đã bị sđ 320 phục kích, hư 10 xe. Dù ĐT Quang thoát được nhưng một thiếu tá tù binh VNCH đã khai với sđ 320 rằng 1 TĐ của tr.đ. 45 sẽ tới Thuần Mẫn để tìm kiếm sđ 320 nên TL sđ này đã xin cắt QL-14 để ngăn tr.đ. 45 tiến về nam. 

...

TRÊN QL-19, các chiến sĩ của tr.đ. 47 đã chống cự những đợt tấn công dữ dội của bộ binh và pháo binh của sđ 3 csbv. Các chiến sĩ này được phân tán thành trung hay đại đội để giữ các vị trí hai bên đường GẦN đèo. Trận chiến ác liệt diển ra ở trên nhiều đỉnh đồi. Pháo binh csbv mở đường, theo sau là tấn công biển người. Mỗi khi một vị trí nào bị mất, tr.đ. phải phản công để chiếm lại. Thường thường, ông phải đích thân chỉ huy binh sĩ để chiếm lại các vị trí đã mất. Trong khi những cố gắng can đảm của ông đã gây thiệt hại nặng cho bắc quân, thương vong của lính ông cũng cao. Với tỉ lệ ba đánh một, quân csbv đã chậm chạp đẩy lui quân của ông ra khỏi các vị trí. Vào cuối chiều ngày 5 tháng ba, chỉ còn một cứ điểm của VNCH ở đầu đèo phía đông. Nếu nó bị mất, đèo này lọt vào tay địch. Bây giờ lính của ông chỉ có thể cố thủ và chờ viện quân.

Được hỗ trợ tốt bởi không yểm, tr.đ. 42 tại Bình Khê đã cản được (stymie) các cố gắng của csbv. Vì tr.đ. 47 ko thể đánh bật (dislodge) quân cs ra khỏi đèo, tướng Niệm đã gửi tr.đ. 41 đến thế tr.đ. 42, để tr.đ. này có thể giúp tr.đ. 47 của đt Cầu. Điều này khiến tướng Niệm chỉ còn một tr.đ. và DPQ/NQ để bảo vệ hàng trăm dặm vuông dọc theo bờ biển đông dân này. 

Với tr.đ. 41 chiếm Bình Khê, ngày 7 tháng ba, tr.đ. 42 đã tiến quân để giúp tr.đ. 47 tái chiếm những vị trí đã mất. Tr.đ. 42 đã tấn công để quét sạch mặt bắc của phía đông đèo, nhưng chẳng bao lâu sa lầy (bog down) trên địa thế khó khăn này. Trước nỗ lực mới này của sđ 22, ngày 8 tháng ba, sđ 3 đã tấn công để tiêu diệt các vị trí còn lại của tr.đ. 47. Các vị trí này đã ĐÃ ĐỔI CHỦ NHIỀU LẦN, nhưng sau hai ngày chiến đấu dữ dội, trung đoàn 47 vẫn giữ được. (Xin nhắc lại: chỉ trong chín ngày từ 4-13/3/75, có bốn TĐ trưởng của TĐ 2/47 tử trận -- Người dịch). 

Dù bị thiệt hại nặng, bắc quân ko bỏ cuộc (relent). NGÀY 10 THÁNG BA, nhận lịnh từ Văn Tiến Dũng là phải tăng cường chiến đấu và trói chân (tie up) sđ 22 VNCH, Bắc quân đã tung nguyên một tr.đ. tấn công tr.đ. 47. TĐ 2/47 ĐÃ BỊ TRÀN NGẬP và TĐ trưởng chết. Tướng Niệm ko còn chọn lựa: ông rút tr.đ. 41 khỏi Bình Khê và nhanh chóng cho tr.đ. này thay thế tr.đ. 47. Tr.đ. 47 đã thiệt hại 40/100 khi bảo vệ đèo này. Sau đó tướng Niệm đã gửi tr.đ. 47 về bảo vệ bắc Bình Định và bổ sung quân số và ông đã thăng cấp đt cho Cầu. 

====

Tại Bình Định, TL của sđ 22 VNCH đã ra lịnh tr.đ. 41, của đt Thiều, tấn công sđ 3 csbv - trước đó đã bị thiệt hại nặng, đang ngăn chặn QL-19. NGÀY 16/3, tr.đ. đã tiến tới đầu phía đông của đèo An Khê. Tuy nhiên vì cuộc rút quân ở cao nguyên đã bắt đầu, tr.đ. 41 và 42 lui về phòng thủ ở Bình Khê. Trong khi đó, tr.đ. 47 đã tiếp tục bảo vệ QL-1 gần ranh giới Quảng Ngải để ngăn lữ đoàn 52 csbv tiến về nam. Tr.đ. 40 và DPQ Bình Định bảo vệ sân bay Phù Cát và bắc QL-1 và nam của tỉnh lỵ Qui Nhơn. Tin tưởng rằng sđ 22 đã ổn định tình hình trên QL-19, Phú đã rút tr.đ. 40 trừ (vì để lại một tđ cho tướng Niệm) để tăng phái cho quận lỵ Khánh Dương.

...

Cùng lúc Phú đang cố gắng ngăn cản bước tiến csbv trên QL21, ông vẫn quyết tâm giữ 2 tuyến khác: một tại Bình Khê và một tại Củng Sơn trên LTL-7. 

... SĐ 2 không quân ở Phù Cát đang yểm trợ sđ 22 và cố gắng phá hủy trang bị và hàng núi đồ tiếp tế bỏ lại Pleiku vì di tản vội vàng. Sđ 6 KQ, đặc biệt là không đoàn 92 của đt Lê văn Thảo tại Phan Rang, đang oanh kích trên LTL-7 và QL-21...

Tại phía đông Bình Định, do ko có tr.đ. 40 VNCH, quân địa phương của vc thành lập 2 tr.đ. tân lập. Hai tr.đ. này đã gây thiệt hại nặng cho các đv đpq/nq bảo vệ QL-1. Chỉ trong một tuần, cs đã đánh tan phần lớn các vị trí VNCH ở bắc và nam Qui Nhơn, và uy hiếp tỉnh lỵ này. Tr.đ. 47 đột nhiên thấy rằng họ bị khóa đuôi bởi quân địch. Một tr.đ. của sđ 3 csbv lại ở sau lưng hai tr.đ. VNCH tại Bình Khê, khiến họ ko thể rút và Phù Cát bị đe dọa. Hy vọng giờ đây là sđ 22 rút được về Qui Nhơn và lập phòng tuyến mới...

RÚT RA BIỂN (A RETREAT TO THE SEA)

Với ko còn chọn lựa nào khác, Phú gặp phó đề đốc (chuẩn tướng hải quân/commodore) Hoàng cơ Minh tại BCH vùng 2 duyên hải tại Cam Ranh để thảo luận việc di tản sđ 22 tại Qui nhơn và đưa về Nha trang...

Tại Bình Định, NGÀY 27/3, tướng Niệm ra lịnh tr.đ. 41 và 42 tiếp tục bảo vệ QL-19. Ông cũng ra lịnh cho đt Cầu rút tr.đ. 47 ở phía bắc Bình Định về lập tuyến phòng thủ trên QL-1 gần Qui Nhơn. Lính của tr.đ. 47, do ko có xe, ĐÃ ĐI BỘ 28 DẶM HAY 45 KM để tới vị trí mới! Vì thấy khó kiểm soát khi lính lẩn lộn với dân di tản, đt Cầu ra lịnh cho lính ko đi trên đường...

Để cắt đuôi tr.đ. 41 và 42, sđ 3 đã cho một TĐ chặn đường của hai tr.đ. này và chiếm một cầu trên QL-19. Tr.đ. 42 đã đánh trả dữ dội và gây thiệt hại nặng cho địch...

Cùng lúc, ba tr.đ. địa phương tân lập của vc đã tấn công các vị trí DPQ ở bắc Qui Nhơn và cắt QL-1, chận đường rút của tr.đ. 42 trên QL này. Sđ 968 csbv đã tới 1 khu vực tập hợp gần Bình Khê trên QL-19 ngày 27/3, và sđ 3 tăng viện cho TĐ đang đánh sau lưng tr.đ. 42.

Vì tình hình Bình định suy sụp, lúc 8:00 tối ngày 30/3, tướng Niệm gọi Phú. Niệm báo cáo hầu như mọi đv DPQ đã đào ngũ, đặc công csbv đã vào Qui nhơn và tp sắp mất. Phú gọi về BTTM để báo cáo nhưng ko được gì hết. Ông định rút sđ 22 về Qui nhơn.. để bảo vệ quân cảng... chờ tàu HQ để về Phú Yên và Khánh Dương, nhưng tướng Tất phản đối, nói rằng nếu bỏ Qui Nhơn, Nha Trang còn mất nhanh hơn! Vì lý do này, Phú đã bỏ lịnh di tản khỏi Qui nhơn và đưa sđ 22 trở lại trong tối 30/3.

Sự trì hoãn này đã trả giá, vì nó cho phép sđ 3 csbv tiến gần đến phía sau các tr.đ. của VNCH trên QL-19. Những cuộc tấn công thêm nữa ở Bình định vào khuya hôm đó đã buộc Phú hành động. Lúc 11:00 sáng ngày 31/3 ông ra lịnh cho Niệm rút về Qui Nhơn và bảo vệ tp này. Niệm nhanh chóng cho hai tr.đ. này, đang ở QL-19 rút lui nhưng bẫy đã giăng ra. Một tr.đ. của sđ 3 tấn công từ phía đông và sđ 968 từ phía tây. Đt Thiều của tr.đ. 41 kể lại những gì xảy ra khi tr.đ. của ông rút về hướng đông:

"Tôi dùng tđ 2 và 3 tấn công làm hai mủi về phía đông để bắt tay với tr.đ. 42 của đt Thông, tđ 1 làm trừ bị. Khi tr.đ. 41 tới tp Phú An trên QL-19, đã đụng độ với địch. Hai TĐ đã phối hợp và sau nửa gìơ đã đánh tan địch ở Phú An. Tuy nhiên, khoảng 5:00 chiều, khi sắp bắt tay với tr.đ. 42, chúng tôi đụng với sđ 3. Trong khi tđ 3/41 cố gắng chọc thủng phòng tuyến địch nhưng thất bại, tđ 1/41 giữ đoạn hậu đã bị sđ 968 tấn công, và pháo địch đã bắt đầu điều chỉnh vào khu vực mà bs của tr.đ. dừng lại... Chúng tôi phải cho trung đội M-113 mở đường với bộ binh đi sau M-113 và bung rộng hai bên đường, nhưng vẫn bị thiệt hại đáng kể. Khi trời tối, tiếng súng thưa dần, các đv của tr.đ. 41 tiếp tục tiến về phía đông để bắt tay với tr.đ. 42."

Trong khi tr.đ. 41 chiến đấu để tiến về phía đông, tình hình tại Qui nhơn tệ hại hơn. Sáng 30/3, lính đpq bảo vệ Phù Cát tan hàng mà ko chiến đấu nên buổi trưa, lực lượng vc địa phương tấn công. Lực lượng KQ phòng thủ đã chống trả và cầu cứu không đoàn 92 ở Phan Rang. 

ĐT Thảo của không đoàn 92 tập hợp khoảng 40 A-37 cất cánh tấn công. Dù A-37 không trang bị để đánh đêm nhưng nhờ huấn luyện trước đó nên làm được. Ông đã cho 40 chiếc ném bom cùng một lượt vào vị trí tập trung của địch, sát nách sân bay. Mỗi chiếc chỉ mang hai bom 250 cân Anh. 

Tuy nhiên đến bình minh, sđ 2 KQ vội vả bỏ Phù Cát, chỉ mang đc 32 chiếc và để lại hơn 50 chiếc. Sân bay thất thủ vào chiều 31/3. 

Trong khi đó, tr.đ. 47 của đt Cầu, di chuyển về nam theo QL-1, đánh tan các nút chận của du kích địa phương và hướng về Qui nhơn. Vì có dân thường lẩn lộn, tr.đ. bị tấn công lần 2. Lúc đó, tr.đ. có khoảng 1/2 quân số bị chết hay bị bắt. Số còn lại xé lẻ thành từng toán nhỏ và tiếp tục rút về phía nam, nhưng tr.đ. 47 ko còn đủ sức tác chiến

Chiều 31/3, Thiệu ra lịnh Phú phải bảo vệ Qui nhơn. Để giúp chuẩn tướng hải quân hay phó đề đốc (commodore) Hoàng cơ Minh, phó đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại, TL hải quân vùng 1, vào sáng ngày đó, đã được lịnh của đô đốc Chung Tấn Cang, TL mới của HQ, "chỉ huy các đv HQ tại mặt trận Qui nhơn". Các tàu HQ đang đón người tị nạn ở Đà Nẳng đc lịnh kéo về Qui Nhơn ngay lập tức...

Lúc trưa ngày 31/3, một trung đoàn địa phương vc tiến vào từ phía bắc, quét sạch đpq bảo vệ bên ngoài Qui Nhơn. Lúc 6:30 chiều họ chiếm BCH tiểu khu và trung tâm tp... Tr.đ. 47 tan rả, HAI TR.Đ. CÒN LẠI VÀ THIẾT GIÁP CỦA SĐ 22 vẫn còn trên QL-19, và bị kẹt giữa quân địa phương VC đang chiếm Qui Nhơn với quân chánh qui Bắc Việt từ hướng tây đánh tới. Với tp đã mất và sợ rằng các đv này sẽ bị tiêu diệt, vào buổi chiều tướng Niệm bay ra tàu HQ và ngất xỉu.  

Hy vọng đã xuất hiện lúc 9:00 tối khi hạm đội của phó đề đốc Hoàng cơ Minh đến cứu sđ 22. Minh nói với Phú rằng Niệm ngất xỉu. Thiệu đã chỉ định Minh làm TL mặt trận Bình Định lúc 2:00 sáng ngày 1/4 và ra lịnh phải giữ tp và giúp sđ 22 rút lui. 

Minh đã khó khăn để tiếp xúc với cấp chỉ huy của sđ 22. Cuối cùng ông nói chuyện đc với một sq tiếp liệu gần bờ biển khi ông này đang theo dỏi tần số của BTL sđ. Ông này sau này viết rằng, Minh "...đã đc BTTM chỉ định làm quyền TL SD 22. Ông nhờ tôi nói lại với TLP của sđ rằng đúng 12:30 trưa ông sẽ gửi năm LCM, mỗi chiếc có thể chở 500 lính. Yêu cầu lính phải bỏ súng và quân trang xuống biển." Vì bến tàu (pier) ko đáp ứng nên phải bốc bs tại bãi biển.

Sau khi di chuyển SUỐT ĐÊM trên QL-19, sáng sớm ngày 1/4, hai tr.đ. này và thiết giáp của sđ đã tới giao điểm của QL-1 và đường địa phương đi Qui nhơn. Lúc 11:00 sáng, họ đc lịnh tới bờ biển và lên tàu. Tr.đ. 42 và thiết giáp lên trước, kế đó là pháo, và tr.đ. 41 đoạn hậu.

Khi các thành phần của sđ tới ngoại ô của Qui nhơn, vc địa phương ở hai bên phố nổ súng chặn đường. Đt Thiều cho một đại bác 105 ly bắn vào các vị trí vc. VC rút lui. 

Trước khi đến bãi biển, họ đã tiêu diệt thêm hai vị trí địch, nơi mà họ thiết lập tuyến phòng thủ để lên tàu. Họ đã lên tàu nhưng lúc 7:00 tối, họ phải ngừng vì hỏa lực địch mạnh. Lúc 9:00 tối, chiếc LSM Ninh Giang đã cố gắng đến sát bờ nhưng bị trúng nhiều B-40 nên rút ra. Khi chiếc thứ hai vào gần đó, cũng bị bắn. Minh ra lịnh cho các tàu tuần duyên nhỏ vào rước lính. Vào hừng đông 2/4, vì hỏa lực địch bắn vào tàu, lịnh ra là bs của sđ 22 phải lội ra tàu. Việc di tản kéo dài đến 11:00 sáng. Khi hoàn tất, chỉ có khoảng 1/2 của hai tr.đ. lên đc tàu. Con số thay đổi từ vài ngàn đến 7 ngàn. Trong khi đó tp này đã mất.

Dù cho sđ 22 ít đc nhà báo Tây phương biết đến, họ đã hoàn tất một kỳ công về chiến đấu (feat of arms) trong những ngày tháng ba 75. Họ đã duy trì sự toàn vẹn (integrity) suốt trong HAI MƯƠI LĂM NGÀY chiến đấu ác liệt và gây thiệt hại nặng cho địch. Trong lúc rút quân, chẳng những họ đã phá tan ba nút chặn (roadblock) để tới bờ biển, họ còn ko hoảng loạn hay đào ngũ. Thiếu tướng Howard Smith viết, "sđ 22 đã chiến đấu quả cảm với kiên trì cao (great perseverance) chống lại những tấn công mạnh mẻ và quyết tâm của csbv. Bị đánh vào sườn (outflank), thiếu vũ khí, và cuối cùng bị khóa đuôi, sđ 22 đã chiến đấu để đến bãi biển...'" ĐT Nguyễn hữu Thông, sau khi người cuối cùng lên tàu, đã chào vĩnh biệt và đến một nhà gần đó để tự sát. ĐT Lê Cầu, đang di chuyển với đ.đ. trinh sát thì dẫm phải mìn. Ông bảo cấp dưới để mặc ông nhưng họ ko nghe. Họ đã khiên ông, nhưng sau đó bị bao vây và phải đầu hàng. Chỉ có ĐT Nguyễn Thiều của tr.đ. 41 lên đc tàu. Khi sđ đổ bộ lên Vũng Tàu, ông đã giúp biến đổi số tàn quân này thành hai tr.đoàn".

Dịch từ: Black April của George Veight




QUÂN CSBV TẤN CÔNG VÀ PHẢN CÔNG CỦA VNCH TẠI QUÂN KHU II TỪ 5-11/3/1975 

       QUÂN CSBV CHIẾM QUÂN KHU II  TỪ 12/3 - 3/4/1975