Showing posts with label TỐNG VĂN CÔNG. Show all posts
Showing posts with label TỐNG VĂN CÔNG. Show all posts

Sunday, December 16, 2018


Tống Văn Công - Hồ Chí Minh: Người hai mặt . . . 

Đăng bởi: Tiểu Nhi on Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018 | 16.12.18


Khi Hồ Chí Minh theo Quốc Tế III Cộng Sản, Cụ Phan Châu Trinh với tư cách là bạn của bố ông Hồ gửi lá thư đề ngày 12 Tháng Hai, 1922, cho rằng con đường đó sẽ đưa tới tình trạng “quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi.” (Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945, Amirillo, TX:Nxb Chuông Rè, 2000, tt 39-40).



Đúng vậy, chế độ của ông Hồ không cho người dân được tự do bằng chế độ thực dân Pháp. Thực dân Pháp đã cho các nhà văn thành lập Tự Lực Văn Đoàn, các nhà giáo thành lập Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ, các đảng viên Cộng Sản ra báo tiếng Việt và tiếng Pháp tuyên truyền chủ nghĩa Cộng Sản.

Do đó, trong tác phẩm Gửi Mẹ và Quốc Hội, ông già Chợ Đệm Nguyễn Văn Trấn, người vào đảng Cộng Sản từ năm 1936 đã chua xót xin đảng “cho người dân được tự do bằng với chế độ thực dân Pháp.”

Nhà bình luận người Pháp, ông Jean Francois Revel viết về Hồ Chí Minh: “Mục tiêu của ông ta không phải là nền độc lập của nước Việt Nam mà là hợp nhất với Quốc Tế Cộng Sản. Đó không phải là đem lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền lựa chọn những người lãnh đạo, luật pháp và cách sống của họ; mà là dùng cưỡng bách để áp đặt chế độ toàn trị kiểu Stalin lên dân chúng…” (Ho Chi Minh: le détournement du patriotism, trong quyển Ho Chi Minh: l’homme et son heritage, Ed. Đường mới, Paris, trang 9).

Có nhiều bài báo cho rằng ông Hồ không có ý ra đi tìm đường cứu nước. Bằng chứng là khi tới Pháp, ông Hồ đã gửi đơn xin học trường thuộc địa và bị bác đơn. Ông còn gửi đơn xin nhà nước thuộc địa cho cha mình một công việc để sống.

Ở thời bưng bít thông tin, chúng tôi không được biết những điều kể trên. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều người cao tuổi chống “đảng do Nguyễn Phú Trọng thao túng,” nhưng lại muốn quay về với đảng của Hồ Chí Minh vì cho rằng ông Hồ là người bảo vệ tự do, dân chủ!

Thực ra trong những năm 1945-1946, khi đảng Cộng Sản chưa giành được địa vị độc tôn đảng trị, Hồ đã có những phát ngôn đề cao dân chủ để thu phục nhân tâm, chống lại các đảng phái Quốc Gia. Hồ sống nhiều năm ở các quốc gia dân chủ Châu Âu, đã thuộc lòng nhiều câu về tự do dân chủ, nhưng không cảm nhận được bản chất tốt đẹp của dân chủ. Hồ nói về dân chủ chỉ để ru ngủ người dân, dẫn dụ họ tôn thờ, phục vụ đảng Cộng Sản. Hồ sống nhiều năm ở Liên Xô dưới triều đại Stalin, nhưng không nhận ra bản chất đáng ghê tởm của chế độ đảng trị, vì vậy đã cố tìm mọi cách để thiết lập và củng cố chế độ này ở nước ta. Trong khi đó, nhà văn André Gide một người từng coi Liên Xô “còn hơn là một vùng đất hứa,” nhưng sau khi đến thăm Liên Xô năm 1936, đã viết “những suy nghĩ muộn màng về Liên Xô: Phản bội lại tất cả mọi hy vọng của chúng ta. Quần chúng thì ù lì. Văn nghệ sĩ thì thụ động và kém hiểu biết về thế giới bên ngoài… Họ dành sự xa hoa để tiếp đãi tôi, trong khi xung quanh là cảnh nghèo đói.”

Ngày 16 Tháng Năm, 1946, trong lễ khai giảng Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, ông Hồ trao cho nhà trường lá cờ thêu sáu chữ “Trung với nước, hiếu với dân.” Thế nhưng, 18 năm sau, khi đã thiết lập được chế độ toàn trị trên miền Bắc, nhân ngày thành lập quân đội, 22 Tháng Mười Hai, năm 1964, ông Hồ viết: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân…” Chỉ riêng chuyện này đã cho thấy Hồ rất khôn khéo, ứng phó thích hợp với thời thế trong từng giai đoạn.

Trong quyển “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương,” với bút danh Nguyễn Ái Quốc, ông Hồ viết: “Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế, hay văn học như ta thấy ở Châu Âu và các nước Châu Á khác, chứ không phải là tờ báo do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển.” Nhưng chế độ của ông đã thiết lập một hệ thống báo chí làm “công cụ của đảng, nói tiếng nói của đảng.” Ông nói “dân chủ là người dân được mở mồm ra nói.” Nhưng Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường chỉ góp ý nên xây dựng chế độ pháp trị để giúp đảng tránh những sai lầm như cuộc cải cách ruộng đất, đã lập tức bị đưa ra đấu tố, “bị rút phép thông công” (Un excommunié – Tựa đề quyển hồi ký của Nguyễn Mạnh Tường viết bằng tiếng Pháp) rồi cho “ngồi chơi xơi nước.”

Hồ nói “chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do nhân dân cử ra.” Nhưng sống trong chế độ của ông, người Việt Nam đã nhận xét bằng một thành ngữ “đảng cử dân bầu.” Ông nói: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ.” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 283). Nhưng chính phủ của ông không chỉ làm hại dân một lần mà rất nhiều lần: Cải cách ruộng đất, Chống Nhân văn-Giai phẩm, Cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp…

Người dân làm sao để có thể đuổi cái chính phủ do đảng độc quyền lãnh đạo!

Hồ Chí Minh có bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.” Đạo đức cách mạng theo ông Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.” Nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang nhận định: “Hệ tư tưởng này chỉ thừa nhận con người cộng đồng và con người chức năng. Con người cá nhân không thể không tìm lối thoát: Nó phải sống chui. Bi kịch cá nhân của nó chính là ở chỗ này.”

Và như chúng ta đã biết, chính bản thân Hồ Chí Minh cũng không thoát khỏi được bi kịch ấy trong đời sống riêng tư của con người cá nhân ông. Sống chui là sống không hợp thức, không hợp pháp.” (Hồ Chí Minh nói về con người. Phần viết thêm, Tháng Chạp 1993).

Ông Nguyễn Tài, người từng theo ông Hồ những năm ở Thái Lan, kể với Nguyễn Kiến Giang: Trước khi ông Hồ mất ít lâu, Nguyễn Tài được vào thăm. Ông Hồ bảo ông Tài viết tặng mình đôi câu đối. Ông Hồ nói: “Kẻo sau khi mình đi rồi, có tặng, mình cũng không biết gì nữa.” Ông Tài viết: “Giao hoan bi hỉ đồng song lệ. Ân oán giao tranh huyết nhất bầu.” Ông Tài giải thích: Cái vui, cái buồn xoắn lấy nhau, đôi tròng mắt trào lệ. Chuyện ân, chuyện oán tranh nhau, vẫn một bầu máu nóng ấy. Ông Hồ rất thích đã vỗ tay khen: “Câu đối này hợp với mình lắm. Cuộc đời mình, vui cũng nhiều mà buồn cũng nhiều. Ân cũng nhiều mà oán cũng nhiều.” (Cũng lạ, nếu ông Hồ là người giỏi chữ Hán tại sao ông không biết trong chữ Hán không có chữ bầu. Bầu là một từ thuần Việt!).

Năm 1960, khi làm phóng viên báo Lao Động, nhiều lần ở các hội trường của Ban Tuyên Huấn Đảng, tôi được nghe Tố Hữu, Hoàng Tùng nói, “Trần Dân Tiên, T. Lan là bút danh của Bác.” Các vị cho rằng ông Hồ viết về mình, không phải để tự đề cao mà chỉ nhằm mục đích thực hiện một công tác cách mạng: Giúp cho quần chúng hiểu rõ và kính yêu lãnh tụ, càng thêm tin tưởng vào tiền đồ cách mạng. Tuy nhiên trong sách này, Trần Dân Tiên không chỉ đề cao Hồ Chí Minh mà còn chê bai những anh hùng dân tộc như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và đả kích những người yêu nước không Cộng Sản như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh. Cuối sách, ông Hồ gợi ý: “Nhân dân gọi chủ tịch là cha già của dân tộc, vì Hồ Chủ Tịch là người con trung thành nhất của Tổ quốc Việt Nam.”

Nhiều người nước ngoài có dịp tiếp xúc với ông Hồ đã nhận xét về thói quen đóng kịch của ông. Trong quyển sách viết về ông Hồ xuất bản năm 1968, ở trang 217, nhà báo Pháp Jean Lacouture nhận xét: “Chiếc khăn tay của ông ta thường quệt trên cặp mắt khô queo.” Theo Hoàng Tùng, trước khi hành hình Nguyễn Thị Năm-Cát Hanh Long, người ta xin ý kiến ông Hồ, ông nói: “Người Pháp cho rằng không bao giờ đánh phụ nữ dù với một nhành hoa…” Trong khi đó, với bút danh C.B., ông Hồ đã viết trên báo Nhân Dân bài “Địa chủ ác ghê,” vu cáo Nguyễn Thị Năm giết chết rất nhiều nông dân.

Trong hồi ký của mình, Giáo Sư Nguyễn Đăng Mạnh có một bài viết về ông Hồ, trong đó có đoạn: “Như đã nói, vì lý do chính trị, Hồ Chí Minh nhiều khi phải diễn kịch. Sống cứ phải ‘diễn’ như thế, kể cũng khổ… Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng rất tốt đối với tầng lớp bình dân. Nhưng với trí thức có khi lại phản tác dụng. Năm 1946, Hồ Chí Minh từ hội nghị Fontainebleau về nước, có Trần Hữu Tước và một kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu, ông Hồ diễn trò nhảy ‘son lá son’ với các thủy thủ. Quang thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không theo Hồ Chí Minh nữa… Trần Hữu Tước sau này có gặp Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.”

Chuyện ông Hồ có vợ con hay không cũng làm tốn rất nhiều giấy mực. Trong bức thư gửi Bác Sĩ Vũ Đình Tụng, người có con vừa hy sinh, ông Hồ viết: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình cũng không có con cái.”

Ngày nay, có rất nhiều tư liệu nói cụ thể về những người tình và vợ con của ông Hồ: Trong sách Hồ Chí Minh ở Paris, Thu Trang cho biết, ông Hồ từng viết những bức thư dài tán tỉnh cô Bourdon. Sử gia Daniel Hémery kể: Khi vào Đảng Xã Hội Pháp, ông Hồ có “người tình đồng chí” là Marie Briére. Rời Mạc-Tư-Khoa tới Quảng Châu, Tháng Mười năm 1926, Hồ làm lễ kết hôn với Tăng Tuyết Minh ở nhà hàng Thái Bình. Ngày 6 Tháng Sáu, 1931, khi bị cảnh sát Hongkong bắt, Hồ đang sống với một phụ nữ tên là Li San. Năm 1942, Hồ rời Cao Bằng đi Hoa Nam, đến Tháng Tám, năm 1943, Hồ trở lại Cao Bằng cùng với Đỗ Thị Lạc và đứa con gái. Trong cuốn “Một cơn gió bụi,” Lệ Thần Trần Trọng Kim có kể chuyện này.

Năm 1956, Hồ 65 tuổi đưa cô Nông Thị Xuân 22 tuổi, từ Cao Bằng về số 66 Phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, Hà Nội, để sống lén lút và sinh con là Nguyễn Tất Trung mà không dám thừa nhận. Có vợ, có con không phải là xấu, nhưng cố giấu chuyện mình có vợ có con mới là “vấn đề” và vì thế ông ta không dám bảo vệ khi vợ mình bị hãm hiếp, sát hại.

Tháng Giêng, năm 2009, trả lời câu hỏi của ông Nguyễn Vĩnh Châu: “Hồ Chí Minh có công hay có tội,” Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu đáp: “Vấn đề tùy thuộc ở những gì những người kế vị Hồ Chí Minh sẽ thực hiện trong tương lai.”

Tại sao lại phải chờ xem những người kế vị Hồ Chí Minh sẽ làm gì? Tội của Hồ Chí Minh là đã tạo ra và củng cố một chế độ độc tài đảng trị, phản dân chủ. Chế dộ đó là nguyên nhân của hai tai họa cho đất nước: Giặc ngoại xâm phương Bắc được giặc nội xâm, tức là bọn kế vị Hồ Chí Minh dâng tặng đất đai trên đất liền và các đảo ở biển Đông. Giặc ngoại xâm phương Bắc không bao giờ thỏa cơn khát bành trướng xâm lược. Lũ nội xâm, tức là bọn cầm quyền trong nước thì vơ vét của dân không từ một thứ gì!

Có lẽ Cựu Hoàng Bảo Đại, người có dịp sống gần Hồ Chí Minh những năm 1945-1946, miêu tả con người hai mặt của Hồ Chí Minh xuất sắc nhất.

Trong hồi ký “Con Rồng Việt Nam,” Cựu Hoàng Bảo Đại kể, Tháng Chín, năm 1945, những ngày đầu gặp Hồ, ông nhận thấy: “Mặc chiếc vareuse hở cổ, đi dép Bình Trị Thiên, râu cằm lơ thơ, Hồ Chí Minh giống một ông đồ nho hay một triết nhân, thích ngâm thơ phú hơn là làm chính trị. Người gầy gò mảnh dẻ, mắt sáng quắc đầy nhiệt tâm, ông có một nhãn lực lôi cuốn, vừa đạo mạo, vừa độc đáo. Lời nói cũng chan hòa nhân ái, như bác bỏ mọi bạo động, hận thù. Ông như đã nắm vững được thực tại và nhu cầu của Việt Nam lúc ấy. Ông cũng có một nhận xét sắc bén về tiến trình lịch sử, do sự tự học khá rộng rãi về các thế giới Tây phương, về Nga và Trung Hoa… Quả thật ông cụ này thành thực hăng say với nền độc lập và thống nhứt của đất nước.”

Một năm sau, ngày 15 Tháng Tư, năm 1946, bị bỏ rơi trên đất Tàu, không một xu dính túi, giở thư Hồ Chí Minh vừa mới gửi, đọc tới câu cuối: “Ôm hôn thắm thiết,” Bảo Đại bật cười và nhận xét:

“Quả nhiên, đây là tay đại hề, đóng kịch rất tài. Khi thì đạo mạo như cha già, khi thì thân thiết, rồi lại ẻo lả, yếu mềm hay nghiêm trang, trịnh trọng, nhiều khi trào lộng, mỉa mai. Tất cả những ai đã ở gần ông ta, đều tự lừa hay đã bị lầm. Người Mỹ rồi Sainteny, thêm tôi nữa… Khi tôi biết được quá khứ của ông ta sự giao dịch đã rất trơn tru. Tôi biết trước mặt tôi là ai rồi, sau cái mặt nạ này. Một chiến binh Mác-Xít, một kẻ đã chai đá sau hơn ba mươi năm chiến đấu, bị đảng chi phối, trói buộc chặt chẽ rồi, một chiến sĩ đầy thủ đoạn. Thừa khả năng chịu đựng, dám làm tất cả mọi sự lừa lọc, biết người, biết nhược điểm của họ, để khinh bỉ họ, kiên nhẫn cùng cực, và quyết theo đuổi kỳ cùng mục tiêu của mình mọi mặt, nhưng cuối cùng thì quyết liệt, rắn như sắt. Đầy tế nhị và thông minh và bất nhân đến độ bạo tàn. Lúc nào cũng sẵn sàng ôm ấp, yêu đương mình, để bóp chặt kín đáo không ai có thể ngờ.

Theo đảng Cộng Sản Mác-Xít do hoàn cảnh thực tế giai đoạn, bởi chủ nghĩa này trong chiến lược toàn cầu nhận thấy sự nổi dậy của tất cả các sắc dân bị trị, nên ông ta nhắm mắt tuân theo, không biết đến lý luận hay bàn cãi gì nữa. Khi đã vào đảng rồi, ông ta đã nhìn với nhãn quan của chủ thuyết này qua lăng kính một chiều của nó.”

Tống Văn Công *

(Người Việt)

* Ông Tống văn Công , đã từ bỏ ĐCSVN từ lâu sau khi biết bộ mặt thật của nó -- Tài .

Sunday, December 25, 2016

Khi ngòi bút chạm vào quyền lực

Đăng bởi Ha Tran on Thursday, December 15, 2016 | 15.12.16


Mấy chục năm đấu tranh chống tham nhũng của “báo chí cách mạng Việt Nam” trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có cuộc đấu tranh trên báo Lao Động đối với ban lãnh đạo Tổng cục Cao su đứng đầu là Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện là giành được thắng lợi. Không phải các nhà báo làm vụ này tài giỏi hơn những đồng nghiệp ở các vụ khác mà chỉ vì vụ này bắt đầu ngay sau Đại hội 6 năm 1986 khi mà luồng gió dân chủ sau “đổi mới” đang mạnh và các nhà lãnh đạo cộng sản chưa bị hoảng sợ bởi sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu.
Ảnh bìa hồi ký Tống Văn Công

 Tôi về cơ quan miền Nam báo Lao Động đúng lúc phóng viên Trương Đăng Lân phát hiện chuyện trù dập rất man rợ ở Tổng cục Cao su: Đầu năm 1985, Đoàn Thanh tra Nhà nước đến thanh tra Tổng cục Cao su, phát hiện nhiều “phi vụ” mua bán, ăn chia bất hợp pháp mà đầu mối quan trọng là Công ty Phục vụ Đời sống do Tổng cục trưởng trực tiếp chỉ đạo. Đoàn thanh tra dành nhiều thời gian làm việc riêng với Ngô Văn Định phó giám đốc Công ty này. Ông Đỗ Văn Nguyện, ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su được mật báo là Ngô Văn Định đã bị Đoàn Thanh tra khuất phục, đã cung khai nhiều việc làm sai trái mà người chịu trách nhiệm cuối cùng chính là ông. Đỗ Văn Nguyện nghĩ cách vô hiệu hóa bản kết luận của Đoàn Thanh tra dựa vào lời khai của Ngô Văn Định. Ông ta cho rằng cách tốt nhất là phải biến Ngô Văn Định thành bệnh nhân tâm thần! Vậy là một kế hoạch cưỡng bức Định được tổ chức tỉ mỉ: Trước hết, Trưởng ban Y tế Tổng cục Cao su, bác sĩ Đoàn Huỳnh làm tờ trình chi tiết gửi lên Tổng cục trưởng, kể ra rất nhiều hiện tượng điên khùng của Ngô Văn Định và cho rằng “một người có bệnh tâm thần mà buộc phải đảm trách công việc kinh doanh, suốt ngày tính toán lo toan thì chẳng những sẽ làm hư hỏng công việc, có nguy cơ vi phạm pháp luật mà còn có hại cho sức khỏe của anh ta”. Ban Y tế kiến nghị: “Do người bệnh tâm thần không bao giờ nhận mình có bệnh, cho nên cần phải tổ chức cưỡng bách anh ta đi chữa bệnh”. Căn cứ đề nghị của Trưởng ban Y tế, ngày 18–5–1985, Tổng cục trưởng Đỗ văn Nguyện ký quyết định tổ chức đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Để che mắt cán bộ cơ quan Tổng cục, Bộ máy thực hiện việc cưỡng chế này huy động nhiều cán bộ đảng viên trung, cao cấp như, Phó vụ trưởng Vụ Tổ chức, Phó trưởng ban Bảo vệ, Trưởng ban Y tế và nhiều bác sĩ. Ngày 18– 5– 1985, như mọi ngày, Ngô Văn Định đang làm việc tại văn phòng Phó giám đốc Công ty thì Trưởng ban Y tế Đoàn Huỳnh tới đọc quyết định của Tổng cục trưởng. Thừa lệnh Tổng cục trưởng, ông Huỳnh yêu cầu Ngô văn Định tạm ngưng công việc để đi khám bệnh. Đứng sau Đoàn Huỳnh là Phó ban bảo vệ có mang súng và nhiều vệ sĩ mang theo dây trói. Ngô Văn Định kể: “Họ bảo tôi chích hai mũi thuốc cho khỏe. Chích xong tôi lịm đi, đến 7 tiếng đồng sau mới tỉnh dậy thì thấy mình bị nhốt trong gian phòng có chấn song sắt cùng với 4 bệnh nhân tâm thần”.

Các bác sĩ, y tá của bệnh viện Tâm thần Biên Hòa trực tiếp điều trị cho Ngô văn Định rất ngạc nhiên khi được Trưởng ban Y tế, bác sĩ Đoàn Huỳnh nhờ họ ghi tên những ai đến thăm Ngô văn Định. Do đó, anh em rất chú ý quan sát bệnh nhân đặc biệt này. Sau một ngày tiếp xúc, không thấy anh Định có biểu hiện của người bệnh tâm thần, lại nghe anh kể chuyện mình bị cưỡng bức, họ khuyên anh nên giấu số thuốc được cấp, để sau này làm chứng cứ cho cuộc đấu tranh. Nhờ sự giúp đỡ đó, anh Định giấu được một bọc to các thứ thuốc Aminazin, Séduxen.

Do việc cưỡng chế được tổ chức với quy mô và cách thực hiện không bình thường, khiến dư luận trong Tổng cục Cao su đặt ra nhiều nghi vấn: Tại sao Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần nặng mà lâu nay mọi người tiếp xúc với anh, cả những nhân viên dưới quyền anh không ai nhận thấy? Tại sao việc đưa một bệnh nhân đi bệnh viện mà Tổng cục trưởng phải ra quyết định? Tại sao không đưa bệnh nhân đi đúng tuyến là Bệnh viện Thống Nhất, nơi đây cũng có Khoa Tâm thần? Hằng trăm cán bộ nhân viên làm kiến nghị cá nhân và tập thể yêu cầu Tổng cục trưởng phải ký quyết định đưa Ngô văn Định trở về, nếu không họ sẽ tố giác với Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng. Ông Đỗ Văn Nguyện buộc phải ký quyết định cho Ngô Văn Định về làm việc để xoa dịu anh em.

Tôi xem rất kỹ hồ sơ tài liệu, nhưng vẫn băn khoăn: “Chẳng lẽ bao nhiêu người mang danh nghĩa rất khả kính, chỉ vì muốn che giấu sự thật mà nhẫn tâm dùng thủ đoạn cực kỳ tàn bạo đối với đồng chí của mình”? Tôi nói với phóng viên Trương Đăng Lân: “Trước khi quyết định đưa vụ này lên báo, mình muốn được gặp trực tiếp những anh chị có vai trò chủ chốt đứng ra tố cáo. Bởi nhiều năm làm báo đã cho mình bài học kinh nghiệm (hình như cũng đã được các bậc thày đúc kết thành bài giảng cho nghề báo) là: “Không có nguồn tin nào không đáng cho nhà báo phải nghi ngờ. Nên nhớ rằng người cung cấp nguồn tin có thể sử dụng nhà báo cho mục đích của họ, cũng ngang như nhà báo sử dụng họ cung cấp tư liệu cho bài viết của mình. Thông thường, nhà báo tìm nguồn tin ở các đối tượng: Kẻ chống đối, kẻ thua cuộc, nạn nhân, các chuyên gia, cơ quan chức năng. Ở trường hợp này, những người chúng ta định viết bài chỉ trích, phê phán đang là những cán bộ cách mạng cao cấp, “mũ cao, áo dài”. Do đó mình nghĩ rằng, chúng ta phải có những người “đạo cao, đức trọng” dám đứng ra đương đầu với cường quyền, cung cấp và bảo trợ nguồn tin”.

Hôm sau, Trương Đăng Lân đưa Ngô Văn Định và 5 cán bộ Tổng cục Cao su đến cơ quan miền Nam báo Lao Động. Trong số đó, tôi đặc biệt chú ý hai người thuộc lớp cán bộ cách mạng đàn anh là ông Nguyễn Gia Đằng, cán bộ tiền khởi nghĩa, hiện là Phó trưởng ban Thi đua của Tổng cục Cao su mà trưởng ban là Tổng cục trưởng (sau này, ông Nguyễn Gia Đằng sang Campuchia làm cố vấn an ninh cho các ông Heng Sam ring, Chia xim). Người thứ hai là ông Vũ Lăng, nguyên Tổng biên tập báo Hải Phòng Kiến thiết (nơi có cô nữ phóng viên Nguyễn Thụy Nga, tức Bảy Vân vợ hai của Tổng bí thư Lê Duẩn) đang làm Trưởng ban Thanh tra của Tổng cục Cao su. Cả hai ông có phong thái đỉnh đạc, khoan hòa, trình bày và phân tích sự việc rành mạch, khách quan. Hai người này đã cho tôi niềm tin rằng, họ chỉ vì sự thật và lẽ phải mà đứng ra. Bây giờ là cách đưa lên báo bài đầu tiên thế nào cho có sức thuyết phục cao, gây tiếng vang lớn. Chúng tôi cho rằng, nên dùng nguyên văn lá thư của chính Ngô Văn Định đứng ra tố giác việc mình bị cưỡng bức hơn là bài viết của phóng viên.

Ngày 7 tháng 8 năm 1986, báo Lao Động số 32 đăng lá thư tố giác của Ngô văn Định. Bài báo chẳng những chấn động trong ngành cao su mà còn gây xúc động nhân dân cả nước. Đây là lần đầu tiên, báo chí tố cáo một Ủy viên Trung ương Đảng bịt miệng người chống tiêu cực một cách thô bạo và có tổ chức. Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện phản ứng quyết liệt, ra lệnh toàn ngành cao su phải thu hồi tờ báo Lao Động số 32, không để cán bộ công nhân đọc. Ông đích thân gọi điện cho Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động VN Phạm Thế Duyệt (cơ quan chủ quản của báo Lao Động): “Báo Lao Động đã đăng bài của một kẻ đang mắc bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Anh ta đang là con rối trong tay những kẻ bất mãn. Bài báo này có tác động rất xấu, gây mất ổn định trong toàn ngành cao su, phá hoại sản xuất và đời sống của hàng vạn cán bộ công nhân cao su. Quan trọng hơn là nó xúc phạm một ủy viên Trung ương Đảng, cũng tức là bôi nhọ Đảng. Tôi đề nghị đồng chí Chủ tịch ra lệnh cho báo Lao Động ngưng ngay việc đưa tin sai trái về vụ này, đồng thời mau chóng có bài viết đính chính theo quan điểm của Đảng đoàn Tổng cục Cao su.” Chủ tịch Phạm Thế Duyệt hứa sẽ nghiêm túc xem xét vấn đề này. Sau đó, ông nghe Tổng biên tập Xuân Cang báo cáo tình trạng tiêu cực của ngành cao su và nguyên nhân vụ cưỡng chế Ngô Văn Định. Tuy đã nghe tổng biên tập Xuân Cang báo cáo, nhưng Chủ tịch Phạm Thế Duyệt vẫn trực tiếp gọi điện cho tôi, hỏi: “Anh Công có tin chắc bài này viết đúng sự thật không”? Tôi đáp: “Tôi tin chắc và xin chịu trách nhiệm”. Ông nói: “Chắc anh cũng đã lường trước là lần này các anh phải đương đầu với một thế lực rất mạnh, cho nên phải hết sức thận trọng, kiểm tra kỹ từng chi tiết trước khi đưa lên báo”. Cuối cùng ông hỏi: “Anh Công còn có điều gì lo ngại không”? Tôi đáp thực lòng: “Chúng tôi đã nhận thấy mình đang phải đương đầu với một đối tượng khổng lồ, những nguồn tin thu được cũng khổng lồ và đầy mâu thuẫn. Chúng tôi không chỉ làm một bài điều tra mà phải lập một kế hoạch rất chi tiết cho một loạt bài điều tra, chuyện nào trước, chuyện nào sau, phân công anh em chia nhau mà làm. Đồng thời chúng tôi còn lường trước các trở ngại, các bước ngoặt bất ngờ có thể xảy ra. Thú thực, trước khi bắt đầu vụ này, chúng tôi lo nhất là Tổng biên tập rụt rè trước một đối tượng đầy quyền lực và lo lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động không ủng hộ. Còn bây giờ chúng tôi đã yên tâm”.

Những số báo sau đó, chúng tôi đưa liên tiếp ý kiến cán bộ, công nhân ngành cao sư hưởng ứng thư tố cáo của Ngô văn Định và cung cấp tài liệu phanh phui nhiều tiêu cực ở các Công ty Cao su nơi họ đang làm việc. Phó ban Thi đua Tổng cục Cao su Nguyễn Gia Đằng gửi đăng báo một lá thư “nặng ký”: Xác nhận tố cáo của Ngô Văn Định và các cán bộ công nhân toàn ngành là đúng sự thật: “Tất cả những bê bối tiêu cực của các vị trong ban lãnh đạo Tổng cục Cao su mà báo Lao Động đã nêu ra là có thật. Tôi xin đề nghị các cơ quan cấp trên của Đảng và nhà nước chỉ đạo các ban ngành chức năng vào cuộc, làm rõ đúng, sai để giúp cho những người đấu tranh chống tiêu cực ở ngành cao su không bị trù dập”.

Tổng cục trưởng Tổng cục cao su ra lệnh cho báo Cao su ngày 15–9–1986 phải đăng 2 văn bản “để cho cán bộ, công nhân toàn ngành cao su được biết sự thật về việc vì sao Tổng cục trưởng phải quyết định đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa”:

Một là, công văn số 2474 – ĐTR ngày 2–5–1986 của tiến sĩ Phạm Song, Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương xác nhận: Hội đồng giám định Y khoa do ông làm chủ tịch gồm nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu khoa tâm thần của cả nước đã giám định rất kỹ và nhất trí kết luận Ngô Văn Định bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Văn bản này còn ghi thêm một câu “Do bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng, ông Ngô Văn Định không phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình trước pháp luật”. Câu này có tác dụng “chiêu hồi” Ngô Văn Định, lúc bấy giờ là Phó giám đốc Công ty Phục vụ Đời sống, một trung tâm thực hiện những chủ trương mua bán, chia chác gian dối, nếu bị phanh phui thì anh phải liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Văn bản thứ 2 là công văn số 859– BV.TT ngày 16–6–1986 của bác sĩ Nguyễn Quốc Hà giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, có nội dung giống như công văn số 2474 – ĐTR của Thứ trưởng Bộ y tế tiến sĩ Phạm Song.

Chúng tôi nhận ra 2 điều không minh bạch của 2 văn bản nói trên: Một là, Tổng cục trưởng Đỗ văn Nguyện yêu cầu Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương giám định sau khi Ngô Văn Định đã xuất viện hơn 6 tháng, đang làm việc bình thường. Sự thật là biên bản của Hội đồng giám định Y khoa Trung ương không đạt được sự “nhất trí kết luận” như ông Thứ trưởng tiến sĩ Phạm Song nói. Một thành viên rất quan trọng là giáo sư Trần Đình Xiêm, giám đốc Bệnh viện Tâm thần TP. HCM (nhà thương Điên Chợ Quán cũ), không đồng ý ký tên. Giáo sư Trần Đình Xiêm chủ biên một công trình nghiên cứu Tâm thần học dài hơn 400 trang. Ông đã chủ trì một Ban giám định gồm nhiều giáo sư tâm thần hàng đầu ở phía Nam để giám định tâm thần Ngô văn Định, kết luận anh này không có bệnh. Ông là một bác sĩ trong Hội đồng giám định y khoa của Phạm Song có điều kiện biết rõ người và việc ở ngành cao su hơn cả. Chúng tôi còn có trong tay giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp trước cuộc giám định của Phạm Song 6 tháng ghi rằng: “Không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần”. Có lẽ lúc ấy Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa không dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh, còn nay họ đã có chỗ dựa là biên bản của Hội đồng Giám định y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch!

Ngày 26–9–1986 báo Lao Động đăng bức thư của Ngô Văn Định “Kính gửi Thứ trưởng Phạm Song”, có đoạn viết: “Là người có phần trách nhiệm về các vụ tiêu cực, nếu muốn cứ tiếp tục lao vào bóng tối, chắc tôi phải cám ơn Thứ trưởng vì đã có văn bản cho tôi được miễn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhưng tôi không nhận sự “nhân đạo” giả dối ấy, tôi quyết rời khỏi bóng tối, tố cáo tiêu cực, đem lại sự trong sạch lành mạnh cho ngành cao su”.

Tôi trực tiếp đến Bệnh viện Tâm thần TP HCM xin gặp giáo sư Trần Đình Xiêm. Ông tiếp tôi rất lịch sự, nhưng xin được từ chối trả lời câu hỏi vì sao ông không ký tên vào biên bản của Hội đồng giám định Y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch. Ông nói “Xin nhà báo thông cảm vì lý do rất tế nhị trong ngành, tôi không thể trả lời. Bởi vì tôi không ký tên, nhưng nhiều đồng nghiệp của tôi đã ký”. Biết khó thuyết phục ông lúc này, trước khi chào từ biệt, tôi chỉ nói: “Việc giáo sư từ chối ký tên vào biên bản giám định do Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Song làm chủ tịch là rất trung thực và dũng cảm. Tôi rất cảm phục. Tuy nhiên nếu chỉ bấy nhiêu thôi thì vẫn không thể đẩy lùi cái ác. Biên bản đó đã giúp cho cái ác lộng hành. Tôi mong giáo sư suy nghĩ thêm vì số phận của nhiều người thấp cổ bé họng đang bị đày ải”. Ông im lặng tiễn tôi ra cửa. Hai hôm sau, bác sĩ trợ lý của ông đến trụ sở miền Nam báo Lao Động tìm tôi, cho biết: “Sau khi từ chối trả lời nhà báo, thầy Trần Đình Xiêm của chúng tôi bứt rứt không ăn không ngủ được. Thầy cử tôi lên mời nhà báo trở lại bệnh viện để thầy trả lời câu hỏi mà thầy thấy mình phải có trách nhiệm”.

Giáo sư Trần Đình Xiêm mời nhiều giáo sư, bác sĩ tâm thần đã cùng ông tổ chức giám định tâm thần cho Ngô Văn Định tiếp tôi. Ông cho biết: Sau khi từ chối ký tên vào biên bản của Hội đồng giám định y khoa do Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch, ông đã cùng các giáo sư có mặt hôm nay tổ chức một cuộc giám định suốt 2 buổi đối với Ngô Văn Định. Trong cuộc giám định y khoa này, các giáo sư đã dùng các hiện tượng mà Hội đồng giám định Y khoa Trung ương dùng làm căn cứ để kết luận Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần phân liệt. Ông mời nhiều thành viên Hội đồng cùng tiếp tôi và tặng báo Lao Động 2 băng cát xét ghi âm cuộc giám định ấy. Ngoài ra, ông còn cử phó giám đốc bệnh viện đến Ban Tổ chức Thành ủy TP HCM xin Bản báo cáo dài 16 trang giấy A4 của chuyên viên Nguyễn Văn Đích được ban này cử đi điều tra việc cưỡng bức Ngô văn Định. Bản báo cáo tường thuật chi tiết, phân tích rành mạch nguyên nhân và hậu quả của việc này. Bản báo cáo đặt ra nghi vấn: Vì sao sau khi Ngô Văn Định đã có giấy xuất viện ghi là “không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần” và anh đã làm việc bình thường 6 tháng, mà sau đó Tổng cục Cao su lại tổ chức để Hội đồng giám định Y khoa Trung ương giám định bệnh tâm thần? Chuyên viên Nguyễn Văn Đích nhận xét “Nhiều kết luận của Hội đồng giám định y khoa Trung ương có tính áp đặt, không khách quan.” Các giáo sư đều cho rằng bản báo cáo của chuyên viên Nguyễn Văn Đích có giá trị khoa học rất cao.

Trên cơ sở các tài liệu đã có, tôi viết một bài báo bác bỏ biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Biên bản này đã giúp cho lãnh đạo ngành cao su che giấu bộ mặt gian trá và bào chữa hành động tàn bạo của họ. Rất tiếc, Tổng biên tập Xuân Cang không đồng ý đăng bài này. Ông cho rằng: Cuộc chiến với lãnh đạo Tổng cục Cao su đang hồi quyết liệt, không nên mở thêm một trận chiến khác, đối đầu với một lực lượng gồm nhiều giáo sư tiến sĩ khoa học hàng đầu của cả nước(!) Tuy vậy, ông đồng ý cho chúng tôi tiếp tục điều tra tình trạng tiêu cực tham nhũng ở toàn ngành cao su. Sự nhân nhượng của ông Xuân Cang đã đưa Phạm Song sau đó vào Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản khóa 7, thăng lên ghế Bộ trưởng Bộ y tế, được phong Thày thuốc Nhân dân, leo lên Viện sĩ Viện Hàn lâm Liên bang Nga, đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Chỗ yếu chí mạng của Phạm Song và Hội đồng giám định Y khoa của ông ta là sự giả dối: Ngô Văn Định, người mà họ kết luận điên khùng đang minh mẫn kết tội họ! Kết luận của Hội đồng giám định Y khoa do giáo sư Trần Đình Xiêm chủ trì có đủ căn cứ khoa học bác bỏ họ. Tiếc thay, trong chế độ toàn trị không có chỗ để làm điều đó.

Báo Lao Động số 39, đăng bài viết của tôi, tựa đề “Không thể để công nhân cao su sống như thế” dẫn chứng tình trạng: Các tiêu chuẩn gạo, thịt, dầu thắp sáng, thuốc chữa bệnh của công nhân đều bị cắt xén. Hầu hết cán bộ công nhân ngành cao su đang phải sống trong nhà tranh dột nát. Ban y tế Tổng cục Cao su nhiều năm bán thuốc cấp theo tiêu chuẩn của công nhân để lập quỹ đen. Bài báo kết luận: Chính các tổ chức được gọi là “phục vụ đời sống” của Tổng cục Cao su mới thực sự mắc bệnh tâm thần phân liệt!

Tiếp theo báo đăng bài “Cây cao su kêu cứu” của Minh Phương. Bài báo nêu những hành vi tiêu cực đang làm cho cây cao su ngày càng ốm yếu: Nạn buôn bán phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật; tổ chức chăm sóc vườn cây không đúng quy trình kỹ thuật. Tuần kế tiếp báo đăng bài “Sự lộng hành của một giám đốc”, nói về “ông trời con” ở Công ty Cao su Chư Pah.

Sau mấy bài báo này, tôi được điện thoại của ông Trần Bạch Đằng mời tới nhà riêng để “bàn chuyện cao su”. Tôi đề nghị, sẽ đến cùng với một phóng viên chuyên trách theo dõi ngành cao su. Ông không đồng ý: “Cậu nên đến một mình thôi, chúng mình nói chuyện cho thoải mái”. Khi tôi tới, ông đã đứng đợi sẵn trước cỗng sau nhà ở đầu đường Phan Kế Bính, trong tay có cầm mấy tờ báo Lao Động. Ông đưa tôi vào phòng khách, bắt đầu câu chuyện: “Anh Sáu Dân (tức đồng chí Võ Văn Kiệt) mới hỏi mình có nắm được vụ Tư Nguyện trên báo Lao Động không. Mình bảo, theo tôi biết, thì vụ này do Tống Văn Công chủ trì. Mình hứa sẽ gọi hỏi cậu cho rõ. Ngày hôm qua, Tư Nguyện tới nhà mình cầu cứu. Chắc cậu chưa biết, Tư Nguyện thời chống Mỹ là chỉ huy đội bảo vệ cơ quan Trung ương Cục miền Nam. Như vậy có thể coi anh ta là cấp dưới của mình. Tư Nguyện tha thiết yêu cầu mình viết bài phản bác loạt bài của báo Lao Động. Mình đã được Tư Nguyện cung cấp nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Chắc cậu cũng thấy, nếu như tớ “xuất chiêu” thì có thể cán cân sẽ chao đảo, gây bất lợi cho các cậu”.

Tôi quen biết ông Trần Bạch Đằng từ năm 1952, khi ông là chủ bút báo Nhân Dân miền Nam còn tôi là cộng tác viên tích cực của báo này. Về mối quan hệ với tôi, ông Trần Bạch Đằng có kể trong hồi ký “Nhớ một thời làm báo Nhân Dân” (Nhà XBCTQG, 1996, trang 61). Do đó, tôi thẳng thắn nói với ông: “ Nếu anh viết bài thì chỉ có hại cho uy tín của anh thôi, chứ cán cân không thể chao đảo. Bởi vì trong tay tôi đang có:

1– Giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp tháng 11 năm 1985, tức là sau 6 tháng nhốt Ngô văn Định trong phòng bệnh có chấn song sắt để theo dõi. Giấy này ghi: “Không thấy bất cứ hiện tượng nào của bệnh tâm thần”.

Lúc này, chưa có Bản kết luận của Hội đồng giám định Y khoa Trung ương, cho nên ông giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa chưa dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh.

2– Chúng tôi có một băng ghi âm do ông Vũ Lăng, Trưởng ban Thanh tra của Tổng cục Cao su ghi lại cuộc hỏi đáp giữa ông với Ngô văn Định qua song sắt của gian phòng nhốt bệnh nhân tâm thần. Ngô văn Định đã trả lời rất rành mạch các câu hỏi của ông Vũ Lăng. Xen vào băng ghi âm này còn có tiếng của phát thanh viên “đài phát thanh Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa”.

3– Một băng ghi âm ý kiến nhận xét của các bác sĩ và y tá trực tiếp điều trị cho Ngô Văn Định, tất cả đều cho rằng, theo kinh nghiệm nhiều năm điều trị bệnh nhân tâm thần, họ đoan chắc rằng, Ngô văn Định bị trù dập chứ không hề có bệnh tâm thần.

4– Hằng trăm thư, kiến nghị của đảng viên, cán bộ, công nhân Tổng cục Cao su cung cấp nhiều chứng cứ tiêu cực, tham nhũng rất lớn ở các đồn điền cao su.

5– Bản báo cáo dài 16 trang của chuyên viên Nguyễn Văn Đích thực hiện theo chỉ thị của Ban Thường vụ Thành ủy TP HCM.

6– Hai băng ghi âm cuộc giám định y khoa đối với Ngô Văn Định do giáo sư Trần Đình Xiêm chủ trì.

Ông Trần Bạch Đằng công nhận những tài liệu tôi đang có là những chứng cứ khó bác bỏ. Tôi đề nghị ông dùng uy tín của mình khuyên ông Đỗ Văn Nguyện nên tiếp thụ phê bình và có kế hoạch xây dựng lại ngành cao su trong sạch, vững mạnh.

Ngày 1– 10– 1986, ông Đỗ Văn Nguyện gửi thư cho báo Lao Động, tuy không tiếp thụ phê bình, nhưng hứa sẽ làm rõ vụ việc và “sớm thông báo với báo Lao Động khi kết thúc nội vụ”.

Chúng tôi họp bàn về lá thư xin “hưu chiến” của ông và nhất trí cho rằng: Chúng ta phải độc lập tìm hiểu, điều tra để phanh phui ra sự thật đang bị che giấu và chịu trách nhiệm xã hội, chứ không thể ngồi chờ cơ quan thanh tra kết luận. Huống hồ ở đây những người đang nắm quyền lực, có nhiều hành động trấn áp cấp dưới, sau bài báo đầu tiên đã phản ứng kiểu bề trên, thì chớ tin họ!

Ngày 20 – 10– 1986 Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su gửi giấy mời các báo Trung ương và TP HCM “lên Công ty Cao su Dầu Tiếng đón mừng dòng nhựa đầu tiên của Vườn cây Cao su hợp tác với Liên Xô, nhân dịp chào mừng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng 10 Nga vĩ đại”.

Sau đây, xin trích bài viết có tựa đề “Mượn gió bẻ măng” của nhà báo Văn Thính tường thuật cuộc họp báo của Tổng cục Cao su tại Công ty Cao su Dầu Tiếng:

“… Tổng cục trưởng Tổng cục cao su chủ trì cuộc họp báo. Phía Tổng cục Cao su có mặt hầu hết các Tổng cục phó, Trưởng ban, Vụ trưởng, giám đốc các Công ty. Và đáng để ý là có cả các giám đốc Công ty cao su Chư Pah, giám đốc Công ty Cao su Tân Biên, là những người đã bị báo Lao Động và một số tờ báo khác nêu tên trong các bài viết về những vụ tiêu cực lớn ở Tổng cục Cao su.

Phó ban Thi đua– Tuyên truyền Tổng cục Cao su, người mà giới báo chí cho rằng có vai trò tham mưu cho Tổng cục Cao su về tiếp xúc báo chí, tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn tư liệu, giới thiệu khách và chủ, nêu mục đích yêu cầu cuộc họp báo và mời Tổng cục trưởng phát biểu mở đầu. Nội dung các bài báo Lao Động viết về Tổng cục Cao su được đặt ra như là nội dung chính mà cuộc họp báo có yêu cầu làm cho sáng tỏ, bởi vì báo Lao Động đã nói quá đáng, đăng sai sự thật”.
Đến đây, phóng viên Hữu Tính báo Lao Động đã đứng lên: “Tôi xin lưu ý các đồng chí về nội dung cuộc họp báo đã được ghi rõ trong giấy mời”. Hữu Tính đề nghị, các đồng nghiệp muốn tìm hiểu sự thật trong các bài báo Lao Động viết về những vụ tiêu cực ở Tổng cục Cao su thì xin đến Tòa báo Lao Động. Tôi đề nghị các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Cao su tìm gặp Ban Biên tập báo Lao Động để bàn bạc cách tiếp thu những bài báo ấy.

Phía Tổng cục Cao su có phần lúng túng khi Tổng cục trưởng buộc phải công nhận đề nghị của phóng viên Hữu Tính là hợp lý. Nhưng các Trưởng ban, Vụ trưởng vẫn tiếp tục lên diễn đàn với tài liệu viết sẵn và những bản thống kê của họ. Vụ trưởng Vụ Tài vụ Đoàn Minh Sĩ lên diễn đàn với chiếc cặp dày cộp, mở đầu bằng câu: “Trong bài “Cây cao su kêu cứu” của báo Lao Động…”

Tôi chán ngán nhìn quanh thấy các bạn đồng nghiệp Nô– vôt– xki, Tass và các chuyên gia Liên Xô chừng như đang sốt ruột. Bỗng cả hội trường như giật phắt dậy bởi hành động bất ngờ của Hữu Tính. Anh đứng tại chỗ nơi hai phóng viên báo Lao Động ngồi đối diện với đoàn chủ tọa và Tổng cục trưởng) dõng dạc nói: “Tôi đề nghị đồng chí Tổng cục trưởng chỉ thị cho anh Đoàn Minh Sĩ rời diễn đàn vì anh này tiếp tục nói không đúng yêu cầu cuộc họp báo. Hãy trả diễn đàn này cho các nhà báo nêu những yêu cầu của mình”.

Mọi cặp mắt đổ dồn vào Đoàn Minh Sĩ đang đứng như “trời trồng” chờ đợi cách xử sự của Tổng cục trưởng. Tổng cục trưởng liếc nhìn vị “tham mưu” của mình rất nhanh và cũng rất nhanh hiểu rằng cần phải tự xử lý, nên đã ra lệnh: “Thôi, đi xuống!”

Qua vụ này chúng tôi càng thấy rõ sự ngoan cố tới cùng của những người tay trót nhúng chàm. Chỉ có thể buộc họ cúi đầu khi chúng ta đưa ra những bài báo đầy ắp chứng cứ khiến họ hết đường chối cãi. Lúc này báo Lao Động đã đăng hơn 30 tin và bài quan trọng. Chúng tôi đề ra hai việc cần làm tiếp:

Vận động các báo cùng vào cuộc, trước hết là báo Cao su Việt Nam của Tổng cục Cao su. Tôi đề nghị hai ông Nguyễn Gia Đằng và Vũ Lăng bàn bạc với anh Năm Xuân Tổng biên tập báo Cao su khéo léo đưa mục chống tiêu cực lên tờ báo của ngành. Năm Xuân đồng ý gặp tôi bàn cách cùng phối hợp công tác điều tra một số trọng điểm đã phát hiện có dấu hiệu tiêu cực. Chúng tôi gặp hai anh Bửu và Kim Tinh Tổng biên tập và Phó Tổng biên tập báo Ấp Bắc của tỉnh Tiền Giang là tờ báo địa phương mạnh lúc bấy giờ, có số phát hành khá lớn ở Sài Gòn, phối hợp xuất bản tập sách Cây cao su kêu cứu gồm những bài trên báo Lao Động. Chúng tôi giúp báo Ấp Bắc việc biên tập,in ấn và phát hành ở TP HCM. Sách in 20,000 bản bán hết trong vài ngày.

Ngày 10–10–1986 Ban bí thư Trung ương ra chỉ thị thành lập Đoàn thanh tra đến Công ty Cao su Chư Pah, nơi báo Lao Động đã có bài “Sự ngang ngược lộng hành của một giám đốc”.

Tổng biên tập báo Cao su Việt Nam hẹn làm việc với các Công ty cao su Tân Biên do Nguyễn Chí Đức (đang được Tổng cục trưởng đề nghị phong danh hiệu anh hùng lao động) làm giám đốc.

 Xin mời quý độc giả xem Video  : Tập thể tướng lĩnh Bộ CA cảnh báo Tổng Bí Thư không được lạm quyền để phá Đảng? 

              

Mặc dù anh Năm Xuân đã điện trước một tuần hẹn lịch làm việc, nhưng khi chúng tôi đến, chánh văn phòng Công ty cho biết: “Giám đốc chúng tôi cáo lỗi không thể tiếp và làm việc với các anh được. Chiều hôm qua, giám đốc chúng tôi mới nhận được lệnh triệu tập của Tổng cục trưởng. Vì thói ngạo mạn, hoặc có thể vì ngại phải trả lời những câu hỏi khó mà Nguyễn Chí Đức đã tìm cách lẫn tránh. Nhưng chúng tôi không bỏ đi mà tiếp tục thâm nhập xuống các đội, các tổ, các gia đình cán bộ công nhân. Nhờ đó chúng tôi thu thập được rất nhiều điều: Trước khi về đây, Nguyễn Chí Đức là quyền giám đốc Công ty cao su Đắc Min. Anh ta tham nhũng, ăn chơi trác táng, hiếp đáp công nhân, trù giập người tố cáo. Cơ quan chức năng Đắc Min thu thập hồ sơ đề nghị bắt giam. Trước khi xử lý hình sự, huyện ủy Đắc Min ra quyết định xóa tên Nguyễn Chí Đức trong danh sách đảng viên. Nhưng Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện lập tức bảo vệ cánh hẩu, ra quyết định thuyên chuyển Nguyển Chí Đức về Công ty Cao su Tân Biên làm giám đốc và chỉ sau đó 8 ngày, đảng ủy Công ty này tổ chức kết nạp Nguyễn Chí Đức vào Đảng. Cảm thấy có thể đạp lên lên pháp luật quá dễ dàng khiến cho Nguyễn Chí Đức “coi trời bằng vung”. Vừa nhận chức giám đốc Công ty Cao su Tân Biên, anh ta cấu kết với phó giám đốc Nguyễn Bình Thuận và giám đốc Xí nghiệp phục vụ đời sống Cao Hoàng Đức bày mưu kế tham ô tài sản, hiếp đáp công nhân và ton hót cấp trên. Đúng lúc chuẩn bị đón nhận danh hiệu anh hùng lao động thì Nguyễn Chí Đức bị một đòn “trời giáng”: Báo lao Động đăng bài tường thuật cuộc giải cứu của Tổng cục Cao su giúp một tên phạm pháp ở Đắc Min về Tân Biên, trở thành giám đốc giỏi và ứng viên danh hiệu anh hùng lao động đã diễn ra như thế nào? Lập tức, tỉnh Tây Ninh tổ chức điều tra các hành vi phạm pháp của Nguyễn Chí Đức từ lúc về đây. Chỉ mất vài tháng, Viện Kiểm sát Tây Ninh đã có đủ cơ sở để ra quyết định khởi tố bắt giam cả 3 tên.

Cuộc thanh tra ở Công ty cao su Chư Pah đưa tới quyết định bắt giam tên Hộ, một “giám đốc ngang ngược lộng hành”. Cuộc thanh tra của tỉnh Đắc Lắc lần theo những phát hiện của các bài báo về Công ty Cao su Đắc Min đã khởi tố bắt giam Hồ Doãn Đại kế toán trưởng và Phan Thanh Sơn trưởng phòng kiến thiết cơ bản. Viện kiểm sát nhân dân tối cao phê chuẩn quyết định khởi tố bắt giam 4 cán bộ lãnh đạo của Công ty phục vụ đời sống của Tổng cục Cao su. Đến đây, đã có đủ tài liệu để tôi chấp bút bài báo phân tích nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm tan nát ngành cao su, gây khó khăn điêu đứng cho cuộc sống hàng vạn con người: Sự thoái hóa biến chất của cả hệ thống tổ chức Đảng do Ủy viên Trung ương Đảng Đỗ Văn Nguyện đứng đầu, đưa tới tình trạng bè phái, trù giập người ngay, bao che kẻ xấu, cất nhắc bọn khéo nịnh nọt! Cảnh báo của chúng tôi vẫn không được những người lãnh đạo của Đảng lắng nghe, để xây dựng nền tư pháp độc lập, do đó tệ nạn tham nhũng ở những năm sau đã sinh sôi ghê gớm hơn nhiều!

Nhà báo Tống Văn Công
(trích hồi ký Đến Già Mới Chợt Tỉnh)

(Dân Luận)

Monday, December 5, 2016

Số đông Trí, Phú, Địa, Hào đi theo Việt Minh

Đăng bởi Tiểu Nhi on Saturday, December 3, 2016 | 3.12.16


Ngày 25 tháng 8 năm 1945 có tin Việt Minh đã cướp được chánh quyền ở Bến Tre, tỉnh trưởng Phan Văn Chi đầu hàng. Ấp An Hoà cùng cả làng An Bình Tây của tôi sôi sục chuẩn bị tham gia cướp chánh quyền thị trấn Ba Tri. Các đảng viên cộng sản công khai đứng ra nhân danh Mặt trận Việt Minh cắt đặt việc mua vải, giấy hai màu đỏ, vàng để may và dán cờ đỏ sao vàng, tổ chức các đội võ trang với dáo mác, gậy gộc.
Cướp chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8 năm 1945. Ảnh: internet
Cướp chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8 năm 1945. Ảnh: internet
Chú thợ hồ Hai Dần là bí thư chi bộ, bác giữ vịt Tư Nay là phó bí thư chi bộ, không xưng danh cộng sản mà là Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh, ngồi vào những chiếc ghế mới hôm qua còn là của Hương Cả, Hương Chủ trong Nhà Việc (trụ sở Ban Hội tề), chỉ đạo hoạt động cách mạng. Suốt đêm tiếng hô tập đi theo nhịp “một hai ” làm cho bọn con nít chúng tôi cũng không thể chợp mắt.

Vừa rạng sáng, tất cả được tập hợp xếp hàng theo từng khối để tiến ra thị trấn. Điều đáng nói là dẫn đầu các khối đều là các trí, phú, địa, hào của ấp, của xã: Trịnh Văn Vinh đại địa chủ, nguyên Chánh lục bộ; Võ Văn Di địa chủ, nguyên Hương Trưởng; Trịnh Văn Khâm sinh viên, con trai của ông Hương Cả Nghi; Huỳnh Dư Bì sinh viên, con trai ông Hội đồng Thuần; Ba Phán con trai địa chủ Tím; Sáu Sinh địa chủ, nguyên thư ký quận trưởng Ba Tri…

Do đâu mà những người này hăm hở lao vào dòng thác cách mạng do cộng sản lãnh đạo? Bởi vì từ ngày 19– 5– 1941 tại Pắc Bó tỉnh Cao Bằng, dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 của Đảng cộng sản Đông Dương đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh gọi tắt là Việt Minh với Cương lĩnh:

“Không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, hễ thừa nhận mục đích, tôn chỉ và chương trình của Việt Minh thì được gia nhập”. Mục đích, tôn chỉ và chương trình của Việt Minh là: “Cùng nhau đánh đuổi Nhật, Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên nước Việt Nam Dân Chủ, Cộng Hòa”.

Nội dung đó đã đáp ứng đúng nguyện vọng tha thiết của mọi người Việt Nam yêu nước. Đảng cộng sản đã giấu biệt lá cờ búa liềm, cờ đỏ sao vàng, họ không hô hào làm cách mạng vô sản mà kêu gọi giành độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân! Vài phút sau khi đoàn An Bình Tây lên đường, Huỳnh Dư Khải (con ông Hương cả Khiêm, cháu ông Hội đồng Thuần) bạn học cùng lớp nhứt với tôi chạy tới, gọi bọn nhóc chúng tôi như Võ Minh Triết, Trịnh Hoành Sang, Nhiều, Điểu, Thưởng, Trắc… kéo theo người lớn làm “khởi nghĩa”.

Chúng tôi đến thị trấn Ba Tri thì thấy hàng ngàn người, cờ xí, biểu ngữ từ nhà lồng chợ đi tới dinh quận. Đứng trên cái bàn cao, xung quanh có dân quân bảo vệ, ông Lê Văn Lượm bí thư quận ủy, chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa đọc tờ hiệu triệu viết sẵn. Đọc xong bản hiệu triệu, ông thông báo ta đã chiếm trại bảo an và trại cảnh sát, ông quận Trực xin đầu hàng.

Tiếp theo đó, ông Võ Châu Thành phó bí thư quận ủy, phó ban khởi nghĩa, nhân danh chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng và ông Nguyễn Chí Khải ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, nhân danh Chủ tịch Mặt trận Việt Minh ra mắt đồng bào. Mô hình “hệ thống tòan trị” này đã được giữ y cho tới hôm nay: Bí thư của Đảng là quan chức quyền lực số 1 đứng trên các tổ chức chính quyền và mặt trận. Phó bí thư của Đảng là nhân vật quyền lực số 2 được giao trách nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban hành chánh (nay là Ủy ban Nhân dân); các Ủy viên Ban Thường vụ của Đảng làm chủ tịch Mặt trận và chủ tịch các đoàn thể…

Ngay sau ngày cướp chính quyền, chủ tịch Võ Châu Thành ký lệnh tử hình không cần xét xử đối với những người bị gọi là “có nợ máu đối với nhân dân” như Cai tổng Đặng, Cai tổng Bang, Biện Ký, Đội Xôm, Hương quản Nhường, Hương quản Lầu… Sau này được biết, ở nhiều nơi trên khắp đất nước ta đã có nhiều người bị giết, trong đó có những nhà ái quốc, nhà văn hóa nổi tiếng như Tạ Thu Thâu, Phan văn Hùm, Phạm Quỳnh…

Mời xem Video: TBT Nguyễn Phú Trọng đột ngột ra nước ngoài chữa bệnh khi có lệnh điều tra Võ Kim Cự?


Sau khi Đảng cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán, các tổ chức Đảng ở huyện Ba Tri, Bến Tre vẫn giữ nguyên vai trò lãnh đạo như cũ, chỉ khác trước là không họp chi bộ công khai ở cơ quan. Trả lời báo chí trong và ngoài nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Tôi chỉ có một Đảng – Đảng Việt Nam”. Các cán bộ cũng như người có học ở quê tôi đều biết rõ sự thật là Đảng chỉ giả vờ giải tán, nhưng không ai chê trách Cụ Hồ nói dối mà ngược lại đều khen “Cụ Hồ mình khôn khéo quá”.

Tống Văn Công

(Viet-studies)