Phạm Thị Hương Tràm (sinh ngày 15 tháng 5 năm 1995),[1] thường được biết đến với nghệ danh Hương Tràm hay Charmy Pham, là một nữ ca sĩ nhạc nhẹ danh tiếng Việt Nam. Cô bắt đầu được biết đến khi trở thành quán quân đầu tiên của chương trình truyền hình thực tế The Voice Việt Nam mùa 1.[2] Ngoài ra, cô cũng là nghệ sĩ đã giành được một giải MAMA cho Nghệ sĩ Việt Nam xuất sắc nhất châu Á 2018 và ba giải Cống hiến, qua đó giúp cô trở thành nghệ sĩ trẻ nhất nhận đề cử và giành giải Cống hiến ở tuổi 18.
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Tuesday, August 25, 2026
TẤN CÔNG VÀO ĐẦU NÃO BẤT KHẢ XÂM PHẠM CỦA QUÂN KHU 5 CS THÁNG
4/1964
==
LỜI NÓI ĐẦU: Đây là cuộc hành quân (HQ) đầu tiên của liên quân Việt-Mỹ tấn công vào mật khu Đỗ Xá tháng tư năm 1964 – mà ngay cả trước năm 1954, quân Pháp cũng chưa bao giờ tấn công mật khu này, do địa thế rừng núi quá hiểm trở.
Những hình ảnh dưới đây: ngoài một số thuộc bài viết, còn lại lượm lặt trên mạng.
Ảnh: mật khu Đỗ Xá nằm ở nơi tiếp giáp của ba tỉnh Quảng Tín, Kontum và Quảng Ngải.
Ảnh: Bản đồ các quân khu của CS, trong đó có QK-5, mà đầu não ở Đỗ Xá. Chấm đỏ là nơi đóng quân cấp TĐ, hình tam giác là nơi đóng quân cấp trung đoàn.
Ảnh: Lục
quân và TQLC Mỹ khám xét các vị trí đặt
súng của VC tại Đỗ Xá sau cuộc hành quân Quyết
Thắng 202 được tiến
hành bởi QĐVNCH tháng 4/1964. Rất nhiều cây quế bị hư hỏng bởi bom đạn khiến cho cả vùng có mùi thơm. Một số lính VNCH đã thu nhặt vỏ quế vì họ bán giá cao ở chợ.
Ảnh: Trung tướng Đỗ Cao Trí, TL của QĐ 3, nói chuyện với các sĩ quan Việt Mỹ, trong một hành quân ở Kampuchia khoảng năm 1970. Dù ở nơi tuyến đầu, lúc nào ông cũng đội mũ đánh golf với 3 sao trắng. Năm 1964, là TL của QĐ 2, ông mở cuộc hành quân vào mật khu Đỗ Xá.
Ảnh trên: Đại
tá Nguyễn văn Hiếu, tham mưu trưởng của QĐ 2, và thiếu tướng Lữ Lan, tư lịnh
phó về hành quân, chụp tại triển lãm chiến lợi phẩm từ trận Đỗ Xá tháng 4 1964.
Ba ảnh dưới:
Chiến lợi phẩm được triển lãm tại Đà Nẳng. Ở mật khu Đỗ Xá có một bịnh viện dã
chiến với các sách y khoa viết tay. Vũ khí các loại của nhiều nước với các bản
chỉ dẫn viết tay (để biết cách tháo ráp).
Ảnh: H-34
là trực thăng đầu tiên có hệ thống tự động bay đứng một chỗ
(auto-hovering system). Có bọc giáp để bảo vệ phi hành đoàn và động cơ—và
nhờ động cơ đặt ở mủi máy bay nên tản nhiệt tốt và dễ sửa chữa. Do vậy
dù bay chậm nhưng vẫn được TQLC và Lục quân Mỹ xử dụng.
Ảnh trên:
H-34 cũng được dùng để thả biệt kích Mỹ và VNCH -- như phi đoàn 219 nổi tiếng
vì gan dạ, ảnh dưới.
Ảnh: Các bao
gạo được bốc dở từ một trực thăng H-34 của Air America, để phân phối cho dân tị
nạn Hmong ở Phou Khao Khouay, Lào.
Ảnh: Một H-34
của hãng Air America chuẩn bị câu một chiếc Helio Courier, bị rơi tại Lào tháng
1/1966.
Ảnh trên:
Trực thăng H-34 của TQLC Mỹ bị rơi khi dự trận Đỗ Xá. Ảnh dưới: trong trận này,
một bánh lái giúp-trực-thăng-giữ-thăng-bằng bị sút ra.
Sau đây là phần chuyển ngữ từ bài viết của Phi đội trực thăng HMM-364
của TQLC Mỹ, đồn trú tại Đà Nẳng.
I/ CHUẨN
BỊ HÀNH QUÂN
“Dựa trên
thông tin tình báo nhận được, ngày 27/4/1964, các BTL quân đồng minh đang
đồng thời chuẩn bị cho một cuộc hành quân trực thăng vận vào các cứ điểm tình
nghi của VC. Một nằm ở 15 dặm Anh tây tây bắc của Quảng Ngải, gần làng Đỗ Xá, và
một ở khoảng 30 dặm xa hơn về phía tây.
Ở những doanh
trại cũ của Pháp tại Đà Nẳng, tiếng kẻng vang lên đã đánh thức các TQLC của phi
đội trực thăng 364 TQLC hay HMM-364. Họ gồm có phi công, xạ thủ, cơ phi. Họ
đang được chở ra đường băng trên các chiếc xe tải 6 bánh mà họ trìu mến gọi là
"Sweetlips", xem hình.
Phi đội này gồm
có 19 chiếc UH-34 “Dog” (võ trang bằng M-60),
bao gồm 1 chiếc UH-34 của trung tá John Lavoy,
chỉ huy phi đội, xem hình.
Ngoài ra còn
có 2 chiếc H-34 lo về tìm kiếm và cấp cứu, gọi tắt là SAR của thiếu tá Braddon và chuẩn úy (CWO)
McKee. Hai chiếc này còn có phụ tùng thay thế và thợ máy để sửa máy bay
tại chỗ khi cần.
Ảnh: Thiếu tá Braddon đã rất can đảm vượt bực trong trận này vì từng cấp cứu
hai trực thăng H-34 ở bãi đáp, một H-34 đáp xuống sông, và một Skyraider đáp khẩn
cấp xuống tiền đồn.
Trong khi
đó, ở đầu phía đông nam của phi đạo dài 5.000 bộ của sân bay Đà Nẳng, có năm
chiếc gunship loại UH-1B “Huey” cũng đang chuẩn bị cất cánh. Họ thuộc Dragon Flight của TĐ 52 không vận (52nd
aviation battalion) của lục quân Mỹ. Danh hiệu truyền tin của các chiếc này lần
lượt là “Dragon 1,2,3, 4 và Dragon Six”. Chỉ huy của 5 chiếc này là đại úy Jack Woodmansee, xem hình dưới.
Ảnh của hai
chiếc UH-1 hay Huey đang bảo vệ hai chiếc H-34.
Ở đâu đó
trong sân bay là hai chiếc A-1H “Skyraider” của không quân VNCH, xem hình, đang
chuẩn bị để yểm trợ nếu cần.
Một chiếc L-19
“Bird Dog” của không quân Mỹ, với một sĩ quan điều không hay FAC người Mỹ ngồi
ghế trước và một FAC người Việt ngồi ghế sau, cũng đang sẵn sàng.
Ở sân bay Quảng
Ngải, 100 dặm phía nam của Đà nẳng, khoảng 640 người lính VNCH đang lau chùi võ
khí cá nhân, hay coi lại trang bị của họ. Họ xếp từng toán 10 người để nhanh
chóng lên máy bay khi trực thăng tới.
Ở Đà Nẳng, trung tá Lavoy, phi đội trưởng của HMM-364, danh
hiệu truyền tin Yankee Kilo Six, kiểm tra
máy truyền tin với 18 chiếc trực thăng còn lại, và 5 chiếc gunship của Lục
quân. Kiểm soát Mặt đất của Đà Nẳng cho phép họ ra phi đạo và sau đó họ được
phép cất cánh bay về Quảng Ngải bởi Kiểm soát Không lưu.
Các H-34 bay
theo đội hình mỗi nhóm 4 chiếc, và hai chiếc H-34 lo về cấp cứu bay cuối
cùng – hai chiếc này do thiếu tá John Braddon và chuẩn úy Denis Mckee chỉ huy.
Năm chiếc
gunship cũng hướng về thị xã Quảng Ngải.
2/ CHUẨN
BỊ ĐỔ QUÂN.
Thời tiết
hôm đó rất đẹp với trần mây và tầm nhìn ko hạn chế, viết tắt là CAVU. Ngay khi
tới Quảng Ngải, 18 chiếc H-34 và 5 chiếc gunship đổ xăng. Một thuyết trình chi
tiết được tiến hành tại đây với các phi công của máy bay H-34 TQLC, máy bay UH-1
Lục quân, các chỉ huy của VN, và của hai máy bay H-34 VNCH—2 chiếc này sẽ tham
dự vào đoạn cuối của chuyến bay. Đại tá Robert Merchant
sẽ chỉ huy cuộc hành quân SHUFLY có nhiệm vụ tìm và diệt này. Ngay sau
buổi thuyết trình, các lính của đợt đổ quân đầu tiên sẽ lên 18 chiếc H-34 (gồm
16 của TQLC Mỹ và hai của VNCH).
Ngay khi tới
bãi đổ, có tên là Đỗ Xá, họ thấy khu vực rất hiểm trở, chỉ có 1 bãi đáp hay
LZ, xem hình, đủ chỗ cho 18 chiếc H-34 xuống 1 lượt.
ẢNH bãi
đáp chụp từ xa, từ phòng lái của đại úy Woodmansee. Ảnh dưới là cận ảnh của bãi
đáp.
Bãi đáp này,
trừ mặt phía tây là bằng phẳng, ba mặt còn lại là núi cao, với nhiều hang động
trên vách đá. Gió mạnh thổi từ phía nam, khiến trực thăng phải bay từ phía bắc
để đổ quân. Chiếc L-19 bay vòng vòng trên cao, có lẽ cao hơn 2.500 bộ. Ở độ cao
5.000 bộ hay cao hơn, là 1 chiếc Helio Courier STOL, xem hình, của CIA,
trên đó có đại tá Merchant và một ĐT lục quân, có lẽ là ĐT Sullivan, cố vấn trưởng
của QĐ 1. (Theo báo New York Times, thời điểm xảy ra trận này, TL của QĐ 2 là
tướng Đỗ cao Trí, tham mưu trưởng là ĐT Nguyễn văn Hiếu. Hai người từng làm việc
rất ăn ý. Đầu năm 1971, Tướng Trí, TL của QĐ 3, tử nạn, khi chuẩn bị thế tướng
Lãm để chỉ huy hành quân Lam Sơn 719, còn tướng Hiếu tử nạn ngày 8/4/75 vì tai
nạn “súng cướp cò”. Cả hai đều ra đi trong tiếc thương của toàn quân và toàn dân
VNCH – ND).
Ảnh của
chiếc Helio Courier: Nổi tiếng vì có thể cất cánh và vọt lên từ 1 phi đạo dài
30 tới 61 mét.
3/ BÃI
ĐÁP NÓNG
Đại úy Woodmansee, sau này là trung tướng, kể lại: “Bốn
gunship của tôi chia làm hai toán: 2 chiếc bay phía trước, 1 chiếc bên phải và
1 chiếc bên trái của máy bay của tôi. (Máy bay trực thăng hay khu trục
cơ, luôn luôn bay từng cặp, để bảo vệ lẫn nhau: một chiếc bay phía trước, gọi
là lead, một chiếc bay phía sau gọi là wing-- ND). Các chiếc H-34 bay phía sau tôi. Chúng
tôi bay rất nhanh với đội hình chữ V ngược, với cao độ thấp. Hai chiếc gun lo
hướng 6 giờ và mặt bắc của bãi đáp. Hai chiếc còn lại lo mặt phải hay mặt nam và
hướng 12 giờ của bãi đáp.
Tôi bay phía
sau để quan sát. Nếu gunship nào bị dưới đất bắn lên, xạ thủ của chiếc đó phải
ném lựu đạn khói. Chiếc trực thăng bay phía sau, sẽ bắn vào nơi khói xuất phát”.
“Trong pass
đầu tiên, bay thấp ở khoảng 100 bộ, bốn gunship đều ném lựu đạn khói ở 2 bên của
máy bay. Tôi có thể thấy đạn vạch đường hay đạn tracer của VC đan
chéo từ 2 bên của thung lũng (trong 1 dây đạn, cứ 5 viên thì có 1 viên tracer).
Cũng lúc đó, đạn của VC bắn từ sườn đồi hai bên, ko phải từ bãi đáp. Tôi gọi ngay
Yankee Kilo Six hay trung tá LaVoy và yêu cầu ông hủy bỏ việc tiếp cận
bãi đáp, để chúng tôi khống chế hỏa lực đối phương. Máy bay ông liền bốc cao,
ngoài tầm đạn của kẻ thù. Chúng tôi bắt đầu tác xạ chung quanh bãi đáp bằng rocket
và đại liên. Trong lần bay từ tây sang đông, tôi bị bắn bằng đại liên 50 hay
12.7 ly từ bên phải. Một loạt đạn tracer
bay dưới máy bay của tôi khoảng 10 bộ trong ít nhứt 10 giây. Một chiếc gun thấy khẩu này và bắn trả bằng
rocket và đại liên.
Trong 1 lần
bay gần ngọn đồi ở phía nam bãi đáp, trực thăng chúng tôi đã bị một đại liên của
vc nổ súng bất ngờ với khoảng cách rất gần. Người xạ thủ của tôi đã bắn 1 băng
đạn từ súng M-14, xem hình, để câm họng nó”.
Ảnh của
súng trường M-14.
4/ 12.7
LY CỦA VC BỊ CÂM HỌNG BỞI GUNSHIP
“Chúng tôi sắp
hết đạn và tôi hỏi tiền sát viên không quân hay FAC liệu y có thể hướng dẫn Skyraider
vào các mục tiêu. Y trả lời L-19 bay quá cao nên ko thể thấy gì và yêu cầu tôi
có thể đánh dấu mục tiêu. Tôi ko thể tin vào điều mình vừa nghe và mấy phút sau
mới định thần. Khi lấy lại điềm tỉnh (composure), tôi bắt đầu bay từ nam lên bắc,
bay rất thấp ngang sống núi (ridge) phía nam, dưới vị trí đặt súng ở phía bắc
mà tôi sắp đánh dấu. Tôi bay nhanh ngang vị trí súng và xạ thủ bên phải ném
ngay lựu đạn khói vào vị trí. Đó là một khẩu đại liên 12.7 ly với thiết bị nhắm,
như trên các tàu thời đệ nhị thế chiến. Lính VC mặc đồ ngụy trang và đội nón cối.
Có những đường
mương hay giao thông hào dẫn lên các hang động trên núi. Chúng tôi chỉ cách VC khoảng
25 bộ. Khi xạ thủ bên phải của tôi ném lựu đạn khói, bọn Việt Cộng đang trèo
lên khỏi mương, và một tên đang xoay khẩu đại liên 12,7 ly về phía chúng tôi nổ
súng. Tôi liền gọi thiếu úy Bert Coalson, chỉ huy 2 chiếc gun, ở cách tôi 1.000
bộ và hướng 6 giờ.
Bốn khẩu
súng M-60 từ 2 chiếc gun này, có khả năng hạ nòng 60 độ, xoay 12 độ vào phía
trong và xoay 45 độ ra phía ngoài. Bert chỉ cần cho máy bay hạ xuống cao độ
1000 bộ để các đại liên M-60 bắn chung quanh mục tiêu, tức lựu đạn khói. VC sẽ
khó ẩn nấp trong giao thông hào khi trực thăng ở ngay trên đầu của họ. Vị trí
súng này đã câm họng từ lúc đó”.
5/ SKYRAIDER
TRÚNG ĐẠN PHẢI ĐÁP KHẨN CẤP
“Khi chiếc
Skyraider tấn công đối phương, nó ko thể đánh trúng khẩu 12.7 ly đặt trên một
gò đất nhỏ (hillock), nhô ra từ sống núi phía bắc vào thung lũng. Sau vài lần
lao xuống ở góc 40 độ, chiếc Skyraider đã trúng đạn từ bờ nam của thung lũng và
bỏ đi với khói đen bốc cuồn cuộn (billow) từ động cơ Wright B-3350 có sức mạnh 2.700
mã lực.”
Thiếu tá Braddon, bay trên chiếc H-34 tìm kiếm và cấp cứu SAR, khi thấy chiếc
Skyraider bốc khói rời mục tiêu để đi Quảng Ngải, đã bay theo. Ông thấy chiếc
này trên 1 phi đạo ko tráng nhựa của một trại LLĐB. Phi công đã ko thể hạ bánh
đáp. Y đã đập mặt vào bảng điều khiển khiến mặt bị thương tích. Braddon đã chở
y đến Quảng ngải và trở lại Đỗ Xá.
Ảnh: Chiếc
AH-1 bị hư nặng.
6/ GUNSHIP BAY VỀ QUẢNG NGẢI ĐỂ TIẾP ĐẠN
Chuyện kể của Dragon Six tiếp tục như sau: “Trung tá LaVoy, theo lịnh của
ĐT Merchant bay ở phía trên, yêu cầu tôi cho đổ quân. Tôi báo cáo rằng các gun
đã bắn hết đạn, nên phải về Quảng Ngải để tiếp đạn. Tôi gợi ý rằng nên để các Skyraider
của VN tấn công mục tiêu trước khi tôi trở lại. Tôi nói thêm, chúng ta nên kiếm
bãi đáp khác. Vì chúng tôi sẽ bay vào 1 ổ phục kích nếu dùng bãi đáp lần nữa,
(tôi đã nói điều này với vị tỉnh trưởng). Tôi không tin rằng chúng tôi
đã gây được thiệt hại đáng kể cho kẻ thù sau đợt tấn công vừa rồi.
“Trong khi chúng tôi nạp đạn và tiếp xăng ở Quảng Ngãi, tôi được biết có 1
sai lầm (screw up) chết người đang xảy ra ở khoảng 30 dặm phía
tây của khu vực chúng tôi. Các chiếc trực thăng đã đổ quân xuống bãi đáp trước
khi các chiếc gun tới. Và các chiếc này đã bắn lầm vào lính VNCH ở bãi đáp.
7/ TIỀN SÁT VIÊN VÔ TÍCH SỰ
“Trung tá LaVoy quyết định (theo lịnh của ĐT Merchant) rằng chúng tôi phải
trở lại Đỗ Xá và đến bãi đáp chỉ định. Trong khi hướng về khu vực đổ quân, tôi
cố gắng gọi tiền sát viên của không quân hay FAC để đưa các Skyraider khả
dụng vào bãi đáp này, nhưng tôi rất bất mãn (chagrin) khi nghe FAC đầu tiên đã
trở về Đà Nẳng để “nghỉ ngơi”. Y nói đã bay từ 6 g sáng, khoảng thời gian chúng
tôi cất cánh, và ko thể bay thêm. Viên FAC mới thì ko biết gì về khu vực hành
quân, cũng như ko biết gì về tình hình bạn và địch, lẽ ra phải được truyền đạt
từ FAC cũ; tóm lại y là kẻ vô tích sự (worthless). Tôi tức giận và áp
huyết lại tăng.”
8/ MỌI THỨ ĐỀU BÙNG NỔ, MỘT H-34 RƠI
“Khi chúng tôi sắp tới bãi đáp, trung tá LaVoy ra lịnh các gunship phải bắt
đầu trấn áp bãi đáp trước khi các UH-34 đổ quân. Với các UH-34 bay phía sau,
chúng tôi rải đạn như mưa xuống (rake) bãi đáp và đột
nhiên mọi thứ đều bùng nổ (all hell broke loose). Chúng tôi đều nổ súng.
Tất cả các xạ thủ trực thăng H-34 đều nhả đạn trong khi binh lính QLVNCH nhảy
xuống từ các chiếc này và nhanh chóng chạy ra khỏi khu vực kế bên để tìm chỗ ẩn
nấp”. Ở toán thứ ba của H-34 (mỗi lần chỉ xuống 4 chiếc vì bãi đáp hay LZ ko an
toàn), chiếc đầu tiên bị rớt, do đại úy
Cunningham lái. Có lẽ khẩu đại liên ở vị trí móng ngựa trên bìa rừng
phía bắc nhìn xuống bãi đáp là thủ phạm”.
9/ MỘT CHIẾC H-34 KHÁC PHẢI ĐÁP XUỐNG TIỀN ĐỒN GẦN ĐÓ
Thiếu tá Albert Allen đang dẫn đầu toán thứ tư (cũng gồm 4 chiếc H-34),
hôm sau kể lại.
“Có vẻ đại úy Cunningham và tôi bị trúng đạn cùng lúc. Y đang đưa máy bay
lên cao, để né tránh các cây to đã chết khô và tôi cũng chuẩn bị đáp xuống. Do
bị phân tâm bởi các đường đạn bay xuyên qua máy bay, tôi ko để ý máy bay của Cunningham
đang trước mặt tôi. Khi nhìn về phía trước lần nữa, tôi thấy rõ ràng là y đang
rơi xuống. Tôi đang lao thẳng về đúng vị trí mà y sẽ rơi vào. Ba chiếc còn lại đều
ra khỏi vùng. Tôi cất cánh ngay khi lính tráng rời máy bay. Cơ phi cho biết máy
bay của tôi trúng nhiều phát bên trái với đạn vào chỗ thấp nhưng ra ở chỗ cao. Một
viên đã làm hư động cư servo chánh, xem hình, khiến dầu thủy lực
văng khắp nơi. (Động cơ servo là loại động cơ có hộp số gắn liền ko thể tách
rời – ND).
Cơ phi cũng
xác định được rằng một thanh của giá đỡ chuyển tiếp chính đã bị đứt
lìa. Tôi biết rằng tôi phải tìm chỗ đáp để xem xét lại máy bay. Khoảng 1 dặm cách
bãi đáp, tôi thấy một bãi cát nhỏ ven sông nên định đáp xuống. Nhưng khi bay gần
tới thì bị bắn nên ko đáp. Tôi còn nhớ, lúc trên đường tới bãi đáp, tôi đã thấy
một tiền đồn VNCH, nên quyết định đáp xuống đó. Chẳng bao lâu, máy bay sửa chữa
của chuẩn úy McKee tới. Sau khi thợ máy kiểm tra máy móc, y nói với tôi, nếu là
y, y sẽ lái chiếc này tới Quảng Ngải. Nhưng sau đó y đổi ý. Ngày hôm sau, máy
bay được sửa chữa.
Ảnh trên: chiếc H-34 của thiếu tá Albert Allen đáp xuống
sông, ảnh dưới, sau khi được câu lên bờ.
10/ BRADDON
ĐÁP XUỐNG CỨU CUNNINGHAM
Trở lại Đỗ
Xá, chuyện kể (narrative) của Dragon Six, ám danh của đại úy Woodmansee, chỉ huy của 4 chiếc gun tiếp tục:
“Chỉ 1 lát sau khi chiếc trực thăng của Cunningham bị rơi, thiếu tá Braddon,
đang bay phía trên, cho biết ông sẽ đáp xuống. Ông đã làm điều này ko một phút
do dự. Ông ấy được huấn luyện để phản ứng, chứ không phải suy nghĩ. Ông giảm
ga, thả cần điều khiển và bắt đầu để máy bay hạ xuống về phía chiếc
UH-34 bị bắn rơi. Tôi, tức Woodmansee, bảo John nói với xạ thủ bên trái rằng gunship
của tôi sẽ bay lơ lửng ở vị trí 7 giờ của anh ấy và dặn xạ thủ không được bắn
vào tôi. Tôi đặt trực thăng của mình giữa John và vị trí súng máy VC ở quả đồi hình
móng ngựa. Chúng tôi bắn vài quả rocket vào những tán cây phía trên vị trí đó để
tạo ra những vụ nổ trên không (airburst), và nả đạn vào khu vực này trong khi
John kiên nhẫn chờ đợi để phi hành đoàn lên máy bay. Sau đó, tôi nghe thấy John
Braddon gọi, "Dragon Six, Yankee Kilo (trung tá LaVoy) đang đến", tôi
quay lại theo anh ấy và bắn phía dưới anh ấy khi anh ấy đang bay lên. Bốn máy
bay UH-1 của tôi yểm trợ cho John ở cả hai bên sườn trái và phải và chúng tôi
thoát ra mà không hề hấn gì, nhưng John báo cáo rằng anh ấy đã trúng vài phát đạn,
một số là đạn cỡ lớn, nhưng không ai bị thương. Đó là một phép lạ.
Bộ phận làm
mát dầu máy của trực thăng của đại úy Cunningham đã bị phá hủy bởi đạn của
vc. Điều này có lẽ xảy ra trong lúc máy bay vào bãi đáp nhưng, giờ đây đó là một
máy bay hư hỏng nặng với khói bốc lên từ buồng máy và tất cả dầu đã cạn hết trong
1 thời gian ngắn.
11/ BRADDON
ĐƯA PHI HÀNH ĐOÀN CUNNINGHAM ĐẾN NƠI AN TOÀN
Chuyện kể của
thiếu tá Braddon tiếp tục: “Máy bay tôi trúng nhiều đạn. Khi tôi rời vùng với phi
hành đoàn của Cunningham, tôi nhận thấy một số bộ phận điện không hoạt động và
có những âm thanh khủng khiếp phát ra từ khoang động cơ. Chúng tôi rời khỏi khu
vực theo cùng hướng với những chiếc máy bay không chở người, nhưng vì quá nặng
nên chúng tôi không thể vượt qua ngọn đồi thẳng phía trước. Tôi quyết định bay
vòng quanh một mỏm đất nhô ra khu vực hạ cánh và men theo lòng suối. Trên mỏm đất
đó có rất nhiều lính Việt Cộng và chúng tôi được chứng kiến một cảnh tượng
ngoạn mục của những tia lửa từ nòng súng, suốt dọc đường đi. Chúng tôi đáp xuống
1 bãi đáp của VNCH khoảng giữa đường tới Quảng Ngải để kiểm tra kỹ lưỡng mức độ
của thiệt hại của máy bay. Tôi nhận thấy một viên đạn 12.7 ly đã bắn trúng hộp
đấu nối vách ngăn (firewall junction box), làm điện bị trục trặc. Một viên 12.7
ly khác đã tạo một lổ trong hệ thống thoát khí. Cuối cùng tôi quyết định
rằng ngoài hư hỏng về điện và hệ thống thoát khí, máy bay của tôi vẫn còn mạnh,
hệ thống truyền động và máy móc truyền tin còn tốt, nên có thể tiếp tục nhiệm vụ”.
Sau khi hoàn
tất đợt đổ quân đầu tiên, trừ 2 chiếc chở quân và chiếc của Braddon, số máy bay
còn lại trở về Quảng Ngải để tiếp xăng, nạp đạn và chở quân. Ngay khi tới Quảng
Ngải, thêm vài chiếc UH-34 ko thể bay tiếp.
12/ BÃI
ĐÁP NÓNG VÌ BỘ BINH KHÔNG BẢO VỆ
Phần kể chuyện
của Woodmansee tiếp tục:
“Khi trở lại
bãi đáp hay LZ vào buổi chiều, chúng tôi không bắn vào LZ này vì có lính VN ở
đó. Thay vào đó, để bảo vệ các H-34 bay vào LZ, chúng tôi bay ở độ cao 1.000 bộ
với 2 gunship ở hướng 9 giờ của LZ và 2 chiếc ở hướng 3 giờ của LZ. Ngay trước
khi các chiếc H-34 dẫn đầu thả trái khói, họ bị bắn trả dữ dội. Ngoài những vị
trí mà tôi biết trước, nay có 1 vị trí mới ở chu vi phía bắc của LZ. Chúng tôi
lại giao tranh ác liệt không kém gì đợt đụng độ mà tốp trực thăng UH-34 đầu
tiên đã gặp phải khi đổ quân xuống LZ. Thật khó hiểu khi phải hứng chịu hỏa lực
dữ dội như vậy ngay lúc quân ta đang có mặt tại khu vực, chẳng khác gì tình cảnh
45 phút trước đó khi chưa hề có quân ta ở đây. Nhớ lại sự việc bi thảm vừa xảy
ra cách đó 30 dặm về phía tây, có lúc tôi đã nghĩ liệu có phải chúng tôi đang
vướng vào một vụ "bắn nhầm" giữa phe ta với nhau hay không. Tuy
nhiên, suy nghĩ đó nhanh chóng bị gạt bỏ, bởi lẽ chúng tôi đang bị bắn xối xả từ
ngay trong LZ và buộc phải nổ súng đáp trả”.
“Cuối cùng
tôi nhận ra rằng đợt lính bộ binh đầu tiên xuống LZ, đã chạy nhanh lên sống
núi ở cạnh bắc của LZ. Nhưng họ ko để ai ở lại để bảo vệ LZ. Điều
này đã cho phép VC đưa súng máy đến chu vi phía bắc của LZ. Do đó rất nhiều máy
bay bị trúng đạn, kể cả gunship. Tuy vậy các phi công can đảm của H-34 vẫn đổ
quân đợt hai và sau đó bay về thị xã. Trên đường đi, chúng tôi thấy Thiếu tá John
Braddon quay lại nhập vào đội hình. Tôi nghe thấy Yankee Kilo Six hỏi liệu ông
có thể tiếp tục bay được không. John báo cáo tình trạng hư hại cho sếp nhưng khẳng
định rằng mình vẫn "sẵn sàng tiếp tục".
Tại Quảng Ngải:
một số máy bay hư nặng, có chiếc phải đáp xuống suối. Phi đội trở lại Đỗ Xá lần
này với 5 chiếc gun, khoảng 9 chiếc H-34 của TQLC, 2 chiếc H-34 của VN, và 2
chiếc cấp cứu hay SAR.
13/ BÃI
ĐÁP ĐÃ BỚT NÓNG
Lần đổ
quân thứ ba này gặp
hỏa lực của VC yếu hơn. Một số chiếc trúng đạn, nhưng ko bị rơi hay ko ai bị
thương, nếu có, cũng nhẹ.
Thiếu tá Braddon
nhớ lại: “Woodmansee ra lịnh bắn rocket vào các vị trí súng bên trong và chung
quanh của LZ, và để một tiền sát viên ở dưới đất để chỉnh pháo cũng như chỉ rõ
vị trí để gunship trả đủa bằng từng chùm hỏa tiển 2.75-inch EFAR.
Ảnh: Rocket
2.75-in trên trực thăng Cobra. Được bắn từng chùm (salvo). Ảnh dưới: 4 rocket
2.75-in kế cận một phi đạn AGM-114 Hellfire.
14/ MỘT
H-34 VNCH BỊ BẮN RƠI
Trong đợt đổ
quân thứ 4 và cuối cùng, 1 chiếc UH-34 của VN bị trúng đạn và rơi, khiến thiếu
tá Braddon phải xuống cứu phi hành đoàn (giờ đây trên LZ có 2 chiếc H-34).
ẢNH: nhìn kỹ sẽ thấy 2 chiếc H-34 bị rơi trên LZ.
Thiếu tá
Braddon kể lại: “Các chiếc H-34 này trang bị đại liên M-1919, xem hình dưới,
thay vì M-60 trên H-34 của TQLC Mỹ. (Đây là đại liên 30 hay 7.62 ly, giải nhiệt
bằng không khí, dùng rất nhiều ở VN, trước khi thay thế bởi M-60 nhẹ hơn rất
nhiều, vào khoảng năm 1968 -- ND). Phi hành đoàn VNCH đã tháo khẩu đại liên 30 chuyển
qua máy bay tôi. Mỗi lần họ bắn, họ làm mũ bay tung lên (bounce) trên đầu tôi.
Ảnh đại liên 30 trên trực thăng H-34.
Thiếu tá
Braddon kể: “Khi cứu chiếc H-34 của Cunningham, máy bay chúng tôi rất nặng khi
rời vùng. Chiếc máy bay cứu hộ hay SAR của tôi đã có 2 pilot, 1 cơ trưởng, 1 xạ
thủ, 2 thợ máy, nay lại thêm 4 người của Cunningham và 1 thùng đồ nghề và phụ
tùng nặng 500 cân Anh.
Vào lúc cuối
của đợt đổ quân thứ 4, hỏa lực VC đã bị triệt tiêu tại khu vực phụ cận của
LZ. Cuối cùng lính vnch đã làm chủ LZ. Phi đội đã bay đến Quảng Ngải để bốc các
phi hành đoàn thất nghiệp (vì máy bay đã hư hỏng) để đưa họ về Đà nẳng.
15/ BRADDON
BẢO VỆ H-34 TẢI THƯƠNG
Khi được biết
vài phi vụ H-34 tải thương của VNCH tại vùng Đỗ Xá, thiếu tá Braddon đề nghị
dùng gunship UH-1 để yểm trợ. Khi tới LZ, hai chiếc này đều bị trục trặc nên
đáp xuống. Woodmansee đã đến bắt tay Braddon vì sự dũng cảm của Braddon. (Vì
H-34 hỏa lực yếu và bay chậm hơn gunship – ND).
Braddon và Dragon
Six hộ tống các chiếc tải thương tới Quảng Ngải, dù trời đã tối.
Braddon nói:
“Chúng tôi đổ xăng cho chiếc Dog (H-34) đầy lổ đạn của tôi, với hệ thống điện
hư nặng và động cơ kêu như máy đập lúa (thresh) và, với gunship của Jack
là wing của tôi, bay trở về Đà Nẳng. Tôi bay dọc bờ biển, phòng lái với đèn chớp
tắt liên tục báo hiệu máy móc trục trặc, và hy vọng chiếc H-34 đầy thương tích
về tới nhà. Tất cả chúng tôi trở về Đà Nẳng lúc trời tối.
16/ BÃI
ĐÁP ĐÃ AN TOÀN
Tối hôm đó,
trung tá LaVoy cho biết phi đội H-34 sẽ phải đến LZ cũ vào sáng sớm ngày mai. Tôi
báo cáo tôi cần trời sáng tỏ để xem xét kỹ lưỡng những hư hỏng mà gunship đã bị
do trúng đạn. Tôi nói, sau khi làm tiền-phi trong 2 g, các gunship sẽ đến Quảng
ngải lúc 1000. Các H-34 đã đến đó trước và chờ tôi. TĐ 52 không vận, mà tôi thống
thuộc, đề nghị cung cấp gunship khác để yểm trợ cho các H-34, nhưng bên H-34 trả
lời họ thích hành quân với gunship chúng tôi”.
“Ngày kế chúng
tôi lên đường với 4 chiếc UH-1. Ngay khi tới LZ, chúng tôi vui lòng khi thấy
lính VNCH từng rời LZ đêm trước, nay đã lục soát LZ và VC đã trở lại núi. Ngày
đó chúng tôi ko gặp kẻ thù.”
Nhận xét của
nhiều TQLC có mặt tại Đỗ Xá: Họ đã ca ngợi đại úy Woodmansee, chỉ huy các chiếc
gun đã phục vụ hết mình, đặc biệt ngày 27/4/64.
17/ TÔNG
TÍCH CỦA PHI CÔNG VNCH DỰ TRẬN ĐỖ XÁ:
Trung úy Phạm
văn Hòa đã tiếp tục chiến đấu đến khi chiến tranh kết thúc. Một tuần trước khi SG
sụp đổ, ông Hòa đã đưa vợ và 4 con vào khoang hàng của 1 C-130 bay ra khỏi nước.
Con trai ông, tên Quang, giờ đây chủ một dot-com ở Newport Beach, lúc đó 10 tuổi.
Các con gái lúc đó lần lượt là 11, 6, và 2.
Trong khi
gia đình ông sống chen chúc ở các trại tị nạn ở Philippines, Guam, Fort Chafee
bang Arkansas, Hòa đã ở lại để dự trận chiến vô ích và cuối cùng này, và nhanh
chóng bị bắt và gửi đến 1 trại cải tạo. Ông đã trải qua 12 năm trong những vùng
nông thôn khắc nghiệt của bắc VN, lao động khổ sai và đói khát mỗi ngày. Và
được cai tù liên tục nhắc lại các tội ác của đế quốc Mỹ.
Cuối cùng,
năm 1987, Hòa được thả và sống với mẹ vợ ở SG trong khi chờ thủ tục đi Mỹ. Trong
5 năm, ông thường xuyên bị theo dỏi và ko được phép làm việc.
Khi ông đến
California, các con ông đã lớn, học vấn đàng hoàng và thành đạt. Con trai ông, Quang
X., nay là một phi công trực thăng TQLC Mỹ, đóng tại Tustin. Quang đã lập một website
để tưởng niệm người cha quá cố ở: www.phamvanhoa.com.
Chuyển ngữ từ:
Do Xa Troop Insert by the Purple Foxes of HMM-364 đăng ngày 15 tháng 5 2004.
San Jose
ngày 18/8/2026, cập nhật ngày 25/8.
Tài Trần

.jpg)