Sunday, August 23, 2026

 Căn cứ Nước Là - mật khu Đỗ Xá, trên địa bàn huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam là di tích cấp quốc gia. Một con đường dài 39 km xuyên qua vùng núi non hiểm trở này vừa thông tuyến để nối với huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum)...

Mật khu bất khả xâm phạm

Mật khu Đỗ Xá (*) hay căn cứ Đăk Bla (Nước Là) thành lập từ cuối thập niên 1950 thế kỷ trước nhằm hiện thực hóa đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam của Nghị quyết 15 T.Ư ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Mật khu Đỗ Xá gắn liền với những tên tuổi lừng lẫy một thời của quân Giải phóng miền Nam như Võ Toàn (Võ Chí Công), các tướng Trần Kiên, Nguyễn Đôn, Chu Huy Mân, Trương Chí Cương, Võ Thứ, Hoàng Minh Thắng, Mười Chấp... Mật khu Đỗ Xá  nay là vùng Tăk Pỏ, Nước Là gần Trung tâm hành chính huyện Nam Trà My ngày nay.

 

Mật khu Đỗ xá nay là huyện lỵ Nam Trà My - Ảnh: T.Đ.T

Ông Nguyễn Văn Cao, nguyên Phó văn phòng Khu ủy 5 lúc đó, nhớ lại: “Trong những năm chiến tranh đặc biệt, địch thường xuyên đưa lực lượng càn quét đánh phá các khu căn cứ của cánh mạng. Mùa hè năm 1964, tướng Sài Gòn Nguyễn Khánh đưa 3 sư đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến đánh vào mật khu Đỗ Xá và vùng núi non hiểm trở giáp ranh giữa 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum để tiêu diệt các cơ quan đầu não cách mạng ở khu Trung Trung bộ...”. Tài liệu lưu trữ cho thấy lúc đó, quân đội Sài Gòn đã đổ hàng trăm tấn bom và hàng ngàn quân thiện chiến của Vùng I và II chiến thuật và TQLC nhiều lần tấn công vào Đỗ Xá, nhưng đã bị thiệt hại nặng nề. “Dân quân du kích và đồng bào các dân tộc tổ chức bố phòng bằng chông kín các ngả đường và các điểm cao trọng yếu kể cả xây dựng các trận địa bắn máy bay, sẵn sàng chiến đấu. Hàng trăm lính và hàng chục máy bay trực thăng đã bị ta bắn rơi, buộc chúng phải rút lui... Chiến thắng Đỗ Xá cho thấy ý nghĩa và vai trò lịch sử của mật khu này trong lúc lực lượng vũ trang của quân khu còn non trẻ”, ông Cao kể...

Về phía quân đội Sài Gòn, tham gia vào những đợt tấn công mật khu Đỗ Xá, có các tên tuổi cộm cán sau này như Ngô Quang Trưởng, Bùi Thế Lân, Lê Nguyên Khang lúc đó hãy còn là những sĩ quan cấp úy. Tướng Nguyễn Văn Hiếu của quân đội Sài Gòn thừa nhận trong hồi ký “Hai lần thâm nhập mật khu Đỗ Xá”: Tướng Khánh cũng đã thử tài tung quân vào mật khu Đỗ Xá, với sự trợ lực của trung tá Ngô Dzu, Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Nhưng họ đã bị thất bại cách ê chề vì đạo quân tung vào bị địch quân đánh dội trở ra sau khi nướng mất trọn một tiểu đoàn...

Ngày 28.4.2004, nhật báo New York Times tường thuật: “Hai mật khu Việt Cộng là Đỗ Xá và Mang Xin, do Cộng sản kiểm soát từ cuộc chiến Đông Dương chống Pháp sau Đệ nhị Thế chiến. Quân lính chính phủ xâm nhập vào vùng này lần đầu tiên năm ngoái, nhưng đã không diệt được sự kháng cự của Việt Cộng...”. Sau đó, hãng tin UPI của Mỹ tường thuật từ Sài Gòn: “QLVNCH cũng đã tổ chức hai cuộc xâm nhập vào mật khu này... Các nguồn tin Hoa Kỳ nói mỗi chiếc trực thăng xử dụng trong cuộc không vận đều bị trúng đạn của hỏa lực Cộng quân bắn từ dưới đất... Các nguồn tin này chối bỏ việc lực lượng chính phủ bị sa lầy, nhưng nhiều báo cáo nói ngược lại...”.

Thế trận lòng dân

Cựu đại tá Đỗ Phú Đáp, tập kết ra Bắc và quay về để kịp có mặt trong những ngày thành lập mật khu kể rằng, ngoài sự lớn mạnh của lực lượng quân sự, “nhân dân các dân tộc Xê Đăng, Bhơ-noong, Ca Dong một lòng một dạ đi theo cách mạng... cung cấp lương thực thực phẩm cho bộ đội, cung cấp thông tin và trực tiếp tham gia chiến đấu. Đó là một trong những nhân tố quan trọng làm chỗ dựa vững chắc cho căn cứ mật khu Đỗ Xá...”. Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Lê Tấn Tỏa, lúc đó công tác ở Ban Tổ chức Khu ủy, kể: “Chúng tôi vào nhà dân, lúc nào dân cũng tiếp đãi rất tử tế. Lúc tôi ở làng Tak Chanh bà con ở các nóc gần đó hàng ngày mang gạo, bắp, củ mì, rau quả đến cho ăn không hết. Có hôm họ còn mời cán bộ sang nhà họ ăn cơm... Họ đi săn được heo hay nai cũng chia cho chúng tôi...”.

Thế trận lòng dân của mật khu Đỗ Xá được nhà báo Võ Thế Ái (TTXVN) ghi lại trong hồi ký Bước chuyển lớn trên Trường Sơn: “Đồng bào bấy lâu chỉ khao khát cách mạng cho lệnh đánh và cướp chính quyền, nay thấy cách mạng kêu gọi đóng góp nuôi quân thì liền hưởng ứng nhiệt liệt. Vượt qua mọi việc dò xét của địch, các buôn làng dựng lên hàng loạt kho gạo cách mạng... Ngoài việc tăng diện tích trồng lúa, đồng bào còn làm thêm nhiều rẫy sắn dành hẳn cho lực lượng thoát ly, gọi là rẫy cách mạng...”. Ông Hoàng Minh Thắng sau này là Bộ trưởng Bộ Thương mại, đau đáu về những hy sinh to lớn của hàng vạn người dân các dân tộc thiểu số ở đây: “Chúng ta phải có trách nhiệm để người dân, những người từng cưu mang chúng ta để cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, có được cuộc sống no đủ. u đó cũng là sự trả nghĩa cho ho...”.

Từ Đỗ Xá đến Nam Trà My

Bí thư Huyện ủy Hồ Thanh Bá nói: “Nam Trà My là một trong 62 huyện nghèo nhất nước, 64% trong số 24 ngàn dân thuộc đối tượng nghèo theo chuẩn cũ. Nếu tính theo chuẩn mới, con số này lên tới 84%. Đây là vùng núi non hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt nhưng việc đầu tư hạ tầng và các chính sách của nhà nước chưa tương xứng...”.

Nam Trà My hiện có 10 xã với hơn 97% là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống theo tập quán tự sản tự tiêu, không có ruộng lúa nước nên lúa rẫy thường bị mất mùa nếu thời tiết không thuận lợi... Trong 2 năm qua, chúng tôi đã đưa gần 900 thanh niên đi xuất khẩu lao động, nhưng chỉ hơn 1/3 trong số đó đủ tiêu chuẩn vì nhiều người không đủ sức khỏe, bị các bệnh về gan, phổi hoặc không đủ trình độ văn hóa đã bị từ chối! Toàn huyện tuy xã nào cũng có trạm xá nhưng chỉ có mấy y tá vì đầu vào để đào tạo bác sĩ, y sĩ  tốt nghiệp phổ thông trung học là rất hiếm...”.

Người dân Nam Trà My sống bằng cây quế, cây sâm Ngọc Linh và loài cá niêng. Nhưng giống quế thuần chủng bị pha tạp, giá cả tùy thuộc vào tư thương. Bột quế cũng khó tiêu thụ vì bị mất thương hiệu. Cây sâm Ngọc Linh là thế mạnh của vài xã nhưng cũng gặp khó khăn về giống và nạn mất cắp, còn cá niêng thì ngày càng ít đi do môi trường bị xâm hại và nạn đánh bắt theo kiểu hủy diệt. Theo Chủ tịch huyện Hồ Văn Ny, tập quán sản xuất và cơ chế chính sách dành cho đồng bào miền núi chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Đầu tư theo Nghị định 30a của chính phủ mà mỗi năm chỉ rót xuống 20-30 tỉ đồng so với nhu cầu của huyện là 4.000 tỉ đồng, thì tôi tính ra phải mất đến... 111 năm mới hoàn tất!”.

Trên con đường Nam Quảng Nam mới mở nối thị trấn Tăk Pỏ đến huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum) với vốn đầu tư gần 1.300 tỉ đồng nhằm phát triển vùng kinh tế Nam Trà My, nhiều ngôi nhà tôn, nhà gạch của nhiều hộ người miền xuôi lên xây dựng và mở cửa hàng buôn bán. Những chiếc xe thồ hàng chở đầy gà vịt, bia rượu từ hướng Tiên Phước lên cung cấp hàng tươi cho các lán trại công nhân cầu đường. Hàng ngàn mét khối gỗ ven những cánh rừng nguyên sinh quanh khu vực Ngọc Linh đã được đốn hạ “tận thu” để làm đường. Các xóm nhà người dân tộc của các xã Trà Mai, Trà Dơn vẫn nằm cách biệt trên những bờ dốc đứng cheo leo, bên những cánh rừng nguyên sinh và những nương rẫy bé tẹo. Dường như họ không quan tâm đến nền “kinh tế thị trường” đang nhộn nhịp bên ngoài. Ông Hồ Văn Ny cho biết: “Nhiều thanh niên địa phương bỏ học, hàng ngày vào rừng bứt mây, lột quế hoặc đi làm công ngày nào đòi tiền ngày ấy chỉ để... uống rượu. Tâm lý ỷ lại nhà nước và thói quen tư duy tự sản tự tiêu cứ mãi kìm hãm sự phát triển của họ...”.

Rõ ràng, rất nhiều sự đầu tư của nhà nước cho vùng cao như Nam Trà My, nhưng sự dàn trải; manh mún trong đầu tư, tư duy ỷ lại và tập quán sản xuất lạc hậu của người dân thiểu số vùng cao đã khiến cho cơ hội hưởng thụ “sự trả nghĩa” của người dân thiểu số ở mật khu xưa, như cách nói của ông Hoàng Minh Thắng, trở nên ít hiệu quả.

Phóng sự Trương Điện Thắng

(*) Theo nhà báo Võ Thế Ái, Đỗ Xá là mật danh của căn cứ Nước Là, cũng có người cho đó là tên của một chiến sĩ hy sinh khi đi tìm vị trí xây dựng căn cứ.

Dành cho bạn

 LÊ = 35 = 8

THỊ = 451 = 10 = 1

PHỈ = 851 = 14 = 5

cộng lại: 8 1 5 = 14.


Thursday, August 20, 2026

 Trong khuôn khổ của trận sông Đáy, đồn Yên Cư Hạ, một trong những mắt xích (verrou) của tuyến phòng thủ của khu vực, đã bị tấn công bởi trung đoàn 88, biệt danh “trung đoàn Sông Đáy”. Trong đêm 4 rạng ngày 5/6, quân phòng thủ (gồm một đại đội dân quân hay pạc-ti-dân người Việt Nam của tỉnh Hưng Yên, tăng cường từ ngày 30/5 bởi 120 lính của đại đội thám kích Romary) bị tấn công liên tiếp bởi đạn không giựt SKZ và đạn cối lân tinh trắng. (Đây là lần đầu tiên Việt Minh dùng đạn này. Thời đó, các đại đội commando hay thám kích đều lấy tên của người chỉ huy, trong trường hợp này là ông Romary – ND). Các người lính quyết tử của VM đã phá hàng rào bằng thuốc nổ lỏm và tấn công tràn ngập tiền đồn; và đồn đã đổi chủ bốn lần và một số pháo đài (casemate) đổi chủ sáu lần. Bên trong đồn, những quân phòng thủ sống sót đã cận chiến trong tuyệt vọng bằng lưởi lê. Trong giờ phút một nhóm nhỏ chiến binh, chỉ huy bởi trung úy Romary (đại đội trưởng thám kích), thì tàu LSSSL số 6 của lực lượng thủy bộ hay Dinassaut số 3 đã xuất hiện trên Sông Đáy, và họ đã khai hỏa các khẩu súng máy của mình, đánh tập hậu và cắt đứt đường rút lui của VM bằng đại bác.

(Lúc đó trung úy Romary đã bị trúng đạn bắn thẳng 2 lần, chưa kể miểng đạn pháo kích).

 

ĐỒN YÊN CƯ HẠ: TRONG MỘT ĐÊM ĐÃ ĐỔI CHỦ BỐN LẦN

      

Đức giám muc Lê hữu Từ và HCM duyệt hàng quân tại Hà Đông tháng 2 1951.

Lời nói đầu: Chỉ trong 1 đêm, một tiền đồn gồm một đại đội thân binh hay pạc-ti-dăng người Việt Nam (phần lớn là giáo dân) của tỉnh Hưng Yên, ở miền bắc, được tăng viện từ ngày 30 tháng 5 năm 1951 bởi 120 người thuộc đơn vị thám kích Romary, đã chiến đấu ác liệt chống lại một trung đoàn VM, như tựa của bài viết. (Lính pạc-ti-dăn giống như dân vệ hay ĐPQ ở miền nam trước 1975 -- ND) 

Ảnh trên và dưới: Bản đồ về Trận Sông Đáy.

             

              Bản đồ về mặt trận Ninh Bình.

I/ TRẬN SÔNG ĐÁY 30/5/1951 – 8/6/1951

TĐ 7 Dù Thuộc địa (7th BPC) đã về Hà Nội đêm 29 rạng 30/5/1951. Hôm sau TĐ được thả dù xuống Dang Dông, gần Ninh Bình ngày 30/5/1951 và tham dự hành quân với Chiến đoàn 1 tới ngày 8/6/51.

Trong trận chiến Sông Đáy, tiền đồn Yên Cư Hạ, một cứ điểm quan trọng trong tuyến phòng thủ của khu vực, đã bị tấn công bởi Trung đoàn 88 của Việt Minh (VM), có biệt danh là "Trung đoàn Sông Đáy". Vào đêm 4-5 tháng 6, quân đồn trú (gồm một đại đội thân binh hay pạc-ti-dăng người Việt Nam của tỉnh Hưng Yên, được tăng viện từ ngày 30 tháng 5 với 120 người thuộc đơn vị thám kích Romary) đã bị pháo kích dữ dội trong hai giờ bằng súng không giật (SKZ) và súng cối. (Đây là lần đầu tiên, Việt Minh (VM) sử dụng đạn cối chứa phốt-pho trắng. Thời đó, các đại đội commando hay thám kích đều lấy tên của người chỉ huy, trong trường hợp này là ông Romary – ND). Các "quyết tử quân" VM đã phá hoại các bức tường bằng thuốc nổ lỏm, và cuộc tổng tấn công đã tràn ngập vị trí; tiền đồn này đổi chủ bốn lần, và một số lô cốt đổi chủ sáu lần. Những người lính đồn trú sống sót đã chiến đấu tuyệt vọng bằng cận chiến với lưỡi lê ngay trong tiền đồn. Trong khi nhóm nhỏ chiến binh do Trung úy Romary chỉ huy (bị thương bởi hai viên đạn và nhiều mảnh đạn) tưởng chừng như sắp bị tiêu diệt, chiếc LSSL (tàu đổ bộ cỡ lớn) số 6 thuộc hải đoàn (Dinassaut) tấn công số 3 xuất hiện trên sông Đáy, và khai hỏa các khẩu súng máy của mình, đánh vào phía sau quân địch và cắt đứt đường rút lui của chúng bằng đại bác.

Ảnh: Các máy bay Bearcat đã ném bom và bắn phá chung quanh núi Ninh Bình, do VM chiếm giữ, với trợ lực của chiến xa.

 

II/ TỔNG KẾT:

TĐ 7 Dù Thuộc địa (7th BPC) có 15 chết, trong đó có trung úy Laperrousaz, trung sĩ nhứt Froely và 60 bị thương, xem ảnh.

Tịch thu của VM: 1 đại bác 57 SKZ, 5 trung liên, 18 tiểu liên, 19 súng trường và một số lượng lớn thuốc nổ.

Số lính VM chết: 149 xác đếm được tại hàng rào, 300 xác trên đường rút quân (của trung đoàn 36 thuộc sư 308 và hai TĐ của một trung đoàn khác).

Ảnh: TĐ 7 Dù Thuộc địa rời đồn Yên Cư Hạ và lên tàu LCM.

 

III/ Cuộc tấn công thất bại vào tiền đồn Yên Cư Hạ đã khiến Sư đoàn 308, một đơn vị tinh nhuệ của Việt Minh (nổi tiếng với biệt danh "Sư đoàn Thép"), thiệt hại khoảng một nghìn người. Các tù binh VM được tập trung và chuyên chở bởi các tàu bọc thép chở quân (LCM) của hải đoàn Dinassaut số 3 và tù binh được giao cho Tiểu đoàn 4/7 Khinh chiến của trung đoàn bộ binh người An-giê-ri (IVe BM/7 RTA) chăm sóc. Sau đó, TĐ khinh chiến này đã giúp VM khiêng những người bị thương của họ trong khi đổ bộ lên bờ phải sông Đáy.

Trong khi đó, một số đợt tăng viện được tổ chức để củng cố tiền đồn vừa được tái chiếm. Tàu đổ bộ LSSL số 6, từng đã bị trúng hai phát đạn SKZ trong khi chạy ngược dòng vào ban đêm để nhanh chóng đến Yên Cư Hạ, hiện đang neo đậu không xa tiền đồn. Lính của Tiểu đoàn 7 Dù Thuộc địa (7th BPC) tiến dọc theo đê chắn sóng sau khi đổ bộ và tiến vào tiền đồn, xem ảnh.

Một lính Dù phụ trách máy truyền tin SCR 694, đang lắp đặt thiết bị giữa đống đổ nát, được các thân binh hay dân quân hỗ trợ, trong khi đồng đội của anh ta kiểm tra một khẩu pháo 155mm ngắn nòng nằm giữa đống đổ nát. Các binh sĩ An-giê-ri hoàn tất việc di chuyển những bộ đội bị thương bằng cáng tự chế hoặc, nếu không có, thì khiêng họ bằng tay.

Đại đội 13 (của Đại úy Sausse) thuộc Tiểu đoàn Dù Thuộc địa số 7 (7th BPC) được đổ bộ bằng tàu đổ bộ LCM và nhanh chóng yểm trợ quân trú phòng. Họ phải dùng thuốc nổ để phá hủy tháp canh nhìn xuống vị trí phòng thủ của cứ điểm, nơi một đại đội VM đang ẩn náu, bị mắc kẹt, nhất quyết không chịu đầu hàng và cuối cùng 55 bộ đội đã đầu hàng. Đóng quân trong đống đổ nát ngổn ngang xác chết tại đồn Yên Cư Hạ, lính Dù Thuộc địa chuẩn bị đẩy lùi một cuộc tấn công khác (dù họ đã đẩy lùi bốn cuộc tấn công trong đêm ngày 5-6 tháng 6 năm 1951).

Sau 1 đêm chiến đấu kể cả cận chiến (bằng lưởi lê, dao, cuốc xẻng, v.v…), cha tôi, người bên phải, ngồi kế bên một xác VM, xem ảnh.

 

Sau những đợt tấn công dữ dội suốt đêm tại đồn Yên Cư Hạ, người ta tìm thấy nhiều xác VM trên hàng rào phòng thủ.

Chuyển ngữ từ tiếng Pháp ở bài sau đây: Le 7ème BPC à La bataille du Day (30 mai/8 juin 1951).

San Jose ngày 7 August 2026, cập nhật ngày 20 August 2026.

Tài Trần

TB. Ảnh này chụp tại nhà ở SG vào đầu thập niên 1990 với cô giáo từng dạy Pháp văn ở đảo Galang (Indonesia). Do em tôi từng ở Galang đã giới thiệu cô này với tôi. 

Hai tủ sách này có trước 1975. Trước 75, khi bạn nói đề tài nào về KHKT, chính trị hay quân sự, tôi có thể lấy một tạp chí hay sách có một bài viết nói về đề tài ấy. Ngoài một sưu tập các nguyệt san National Geographic có từ cuối thập niên 1940 đến số mới nhứt, tôi còn có nhiều tạp chí Science et Vie, Popular Mechanics, Popular Science, Life, Newsweek, Time, Paris-Match, v.v... Historia, v.v...

Trong ảnh này, các tạp chí đã bán gần hết vì lúc đó tôi ko còn tinh thần để đọc. Đặc biệt, sau ngày 30.4.75, các tạp chí về chiến tranh VN đã được ba tôi đốt hay cân ký.



 LÊ = 35 = 8

 HỰU = 566 = 17 = 8

HÀ = 51 = 6

Cộng lại: 8 8 6 = 22

NGUYỄN = 7

TRUNG = 42653 = 20 = 2

CANG = 3153 = 12 = 3

Cộng lại: 7 2 3 = 12 = nạn nhân

Monday, August 17, 2026

 Những quy tắc giao chiến của Không lực Hoa Kỳ tại Việt Nam

Tác Giả: Mark Berent - Phi công phản lực tham chiến tại Việt Nam 1965-1973
Chuyển Ngữ: Thái Dương

(Tựa đề bài chuyển ngữ do tác giả thêm cho rõ ý nghĩa của bài viết)

Phi công Mark Berent cho rằng Mỹ và đồng minh Việt Nam có thể đã chiến thắng tại chiến trường Việt Nam vào những năm 67, 68. Nhưng qua những vụ ngưng ném thả bom trên đường mòn Hồ Chí Minh và miền Bắc Việt Nam, đã giúp cho Cộng Sản Bắc Việt mang quân và vũ khí vào miền Nam để đi đến chiến thắng cuối cùng vào tháng Tư 1975. Những phi công như ông đã bi trói tay và bịt mắt trước những cuộc di chuyển ồ ạt của cộng quân.
Hãy nghe Mark Berent tâm sự… Nguyên tác là bài viết với tựa đề Rules Of Engagement, được in trong tác phẩm “To Bear Any Burden của Al Santoli".
Lần đầu tiên tôi tham chiến tại Việt Nam là vào năm 1965. Ðơn vị của tôi đóng tại căn cứ Không Quân Biên Hòa. Tôi bay phản lực cơ F-100s, tổng cộng hơn 200 phi vụ. Lần thứ hai tôi tham chiến ở Việt Nam là vào năm 1968, lúc đó tôi bay phản lực cơ F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi thuộc phi đoàn Cú Ðêm (Night Owls), có nhiệm vụ bay trên đường mòn Hồ Chí Minh trong vòng 7 tháng.
Cuối cùng, 5 tháng chót tôi được chỉ định chỉ huy Woff FAC (Lực Lượng Không Kiểm Tiền Phương (Forward Air Control). Lực lượng này bao vùng đường mòn Hồ Chí Minh từ Lào đến suốt Bắc Việt Nam. Ðó là thời điểm mà Tổng Thống Johnson ra lệnh ngưng ném thả bom. Do đó, có lúc các phi vụ được chấp thuận ném thả bom, có lúc phi vụ không được chấp thuận.. Chẳng cần dấu diếm, nhiều lần một số anh em phi công chúng tôi tự thi hành nhiệm vụ thả bom đường mòn, mà không cho ai biết.
Tại Việt Nam, có vài điều rất đỗi ngạc nhiên. Thứ nhất là tôi được tưởng thưởng nhiều huy chương. Nhưng có một trường hợp tôi từ chối nhận một huy chương cao quý của Hoa Kỳ là Purple Heart, Lý do là vì một người bạn Lực Lượng Ðặc Biệt của tôi vừa mới trốn được Việt Cộng bằng cách đi bộ 26 cây số trong đêm tối, với viên đạn 51 ly còn nằm trong một cánh tay và tay kia dìu một người lính Việt Nam Cộng Hòa đang bị thương. Do đó, đối với tôi, cái huy chương cao quý Purple Heart không có một giá trị gì cả, tôi không xứng đáng để nhận!
Tôi hết nhiệm kỳ tại Việt Nam và được chỉ định về phục vụ tại một căn cứ không quân tại California. Không Quân Mỹ muốn xử dụng tôi hết mình và để tôi thăng tiến hơn, họ gửi tôi đi học để lấy bằng kỹ sư tại một đại học dân sự. Sau khi tốt nghiệp, tôi được bổ nhiệm một chức vụ khả quan về tiền bạc và tương đối nhàn hạ tại Phi Ðoàn 69 Chiến Thuật, sống cuộc đời thoải mái. Nhưng khốn nỗi, mỗi lần tôi cầm tờ báo thì lại được tin một người bạn thân của tôi bị bắn hạ và tử trận tại chiến trường.
Không chịu nổi nữa, tôi xin với thượng cấp để được bay F-4s, một phản lực cơ tân tiến hơn so với F-100s và tôi đã được chấp thuận để trở lại chiến trường Việt Nam.
Trong 7 tháng đầu khi bay F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi vẫn thuộc Phi Ðoàn Cú Ðêm (Night Owls). Lệnh ngưng thả bom của Johnson bắt đầu có hiệu lực một tháng trước khi tôi trở lại chiến trường. Do đó, phi công chúng tôi không có cơ hội thả bom miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi chỉ còn biết bay ầm ì, rồi nhào lên lộn xuống trên đường mòn Hồ Chí Minh bên ranh giới nước Lào. Ðó là dọc theo vùng rừng núi cao Karst Mountains (Lào). Và nếu chúng tôi lợi dụng ngưng thả bom để bay xuống phía Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam để phá hủy những đoàn xe tiếp liệu của Cộng Sản Bắc Việt dọc theo đường mòn, thì thực sự với F-4s không đủ khả năng này, vì chúng tôi phải bay trong bầu trời dầy đặc sương mù và mây thấp che kín tầm mắt quan sát. Nhiều lần chúng tôi cho một phản lực thả trái sáng và sau đó phản lực khác theo sau thả bom.
Nhưng khi trái hỏa châu vừa thả ra là mấy tên lái xe Việt Công đều chửi thề: “Mấy thằng phi công Mỹ ngu xuẩn đang sắp thả bom. Hãy ngừng xe lại và táp vào lề đường. Trước sau gì chúng cũng đâm vào dãy núi Karst…” Và đúng như thế, nhiều phi công của chúng tôi đã đâm máy bay vào dãy núi này mà chẳng thả trúng một xe tiếp liệu nào, chỉ vì tầm nhìn quá hạn chế do thời tiết.
Mãi đến khi Mỹ mang máy bay Spectre–AC130 có trang bị vũ khí và có trang bị cả dụng cụ quan sát ban đêm như màn hình TV và những dụng cụ điện tử có thể cảm giác được khói bay ra từ ống khói của xe vận tải, đồng thời máy bay này có khả năng nhìn qua đêm tối và mây mù.
Chúng tôi liên lạc chặt chẽ với Spectre-AC130 để thực hiện 2 nhiệm vụ: Một là áp lực những ổ súng phòng không của địch ngõ hầu chúng tôi có thể bắn hoặc thả bom trúng mục tiêu. Thứ hai là hướng dẫn chúng tôi tới mục tiêu cần tiêu diệt. Và kể từ đó, chúng tôi đã phá hủy rất nhiều xe vận tải tiếp liệu của địch. Tôi nhớ rõ, một lần, trong một đêm tôi bắn trúng 14 xe tiếp liệu của địch.
Mỗi khi máy bay Spectre-AC130 nhìn thấy đoàn xe, những phi công này sẽ đánh dấu cho chúng tôi bằng nhiều cách. Họ tác xạ vào mục tiêu bằng súng liên thanh 20 ly và cho chúng tôi biết đó là mục tiêu cần tiêu diệt. Hoặc giả họ ném hỏa châu để soi sáng cả đoàn xe phía dưới và chúng tôi cứ theo đó mà thả bom. Ngoài ra, họ còn có thể thả một khối hỏa châu nặng, có thể cháy sáng tới 20 phút. Họ ném một khối hỏa châu này trước đoàn xe và một khối khác phía cuối đoàn xe, và cho chúng tôi biết cứ thế mà thả bom trong đoạn đường giữa hai khối ánh sáng. Vì vậy, chúng tôi đã phá hủy được nhiều đoàn xe tiếp liệu của cộng sản. Ðường mòn Hồ Chí Minh đã bị cầy nát làm trở ngại cho việc cộng sản chở tiếp tế vào miền Nam Việt Nam. Thiển ý của phi công chúng tôi, chiến tranh đã có thể chấm dứt bằng quân sự!
Nhưng thật đau lòng, trong khi lệnh ngưng thả bom bắt đầu vào tháng 11 năm 1968, tất cả chúng tôi đau điếng! Anh em phi công chúng tôi đã trải qua bao nhiêu lần được lệnh ngưng thả bom và mỗi lần như thế chúng tôi cảm thấy như bị một quả đấm vào mặt, vì người ta đã phá tan đi những gì chúng tôi đang thắng thế.
Thi dụ, trong giai đoạn 1966-67, bạn bè chúng tôi, những phi công can trường, đang bay các phản lực cơ F-105s và F-4s trên lãnh thổ Bắc Việt, một nơi đầy nguy hiểm vì hỏa tiễn địa-không tối tân nhất SAM và màng lưới ra-đa của Nga đầy rẫy dưới đất. Nhưng vì Những Quy Tắc Giao Chiến (Rules Of Engagement), chúng tôi đã chiến đấu một cuộc chiến mà tay chúng tôi đã bị trói chặt, mắt chúng đã bị chọc thủng mù lòa và một nửa đạn dược trang bi đã bị cắt giảm.
Nhưng những viên chức chính phủ như Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara thì lại tuyên bố với công chúng rằng các phi cơ Mỹ không có bi cắt giảm bom đạn và bom đạn Mỹ không bao giờ thiếu?. Nhưng thực tế, chúng tôi đang chứng kiến bom đạn Mỹ ở Việt Nam đã bị cắt giảm nhiều, nhất là của không Lực Mỹ! Chúng tôi đã chứng kiến bạn chúng tôi bay ra Bắc với trang bị kém hơn thời Ðệ Nhị Thế Chiến, chỉ vỏn vẹn với 2 trái bom: 250 và 500 cân và 2 thùng bom lửa (Napalm) trong một phi vụ phá hủy đường rầy xe lửa. Ðiều hiển nhiên là chúng ta không thể cắt đường rầy xe lứa bằng bom lửa, mà thực ra bom này chỉ làm cháy cỏ và cây cối chung quanh đường rầy!. Chúng tôi cho rằng quyết đinh ngưng thả bom và cắt giảm đạn dược là MỘT TỘI PHẠM của những người có thẩm quyền. Nhiều khi chúng tôi đã đối đầu với một số hoa tiêu từ chối lệnh bay thả bom, dù họ có phải ra toà án quân sự!
Các quan chức này lại nói loanh quanh rằng không có thiếu bom tại Việt Nam. Nhưng tại Sài Gòn, những tầu thương mại chuyên chở bom đạn bị tắc nghẽn tại các hải cảng, vì hải cảng không đủ rộng để có thể đem xuống những bom và vũ khí lớn quá tầm trưc tiếp vào bờ. Trong khi đó, vũ khí nhỏ và dụng cụ y khoa thì được Việt Cộng hối lộ và chở về mật khu.
Vào thời điểm đó, tôi vẫn còn nghĩ rằng với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chính phủ Sài Gòn biết phải làm gì để chiến thắng. Nhưng một thời gian sau đó, tôi nhận thức được rằng: “Hình như người ta (Mỹ) không muốn và không cho phép để thắng cuộc chiến tranh này!” chỉ vì Hoa Thịnh Ðốn đã áp đặt cái “Nguyên Tắc Giao Chiến “ oái oăm này!?
Chúng tôi đành phải bay lên phía bắc Lào để yểm trợ cho Vang Pao, người lãnh đạo của lực lượng H’mong, một bộ lạc sống trên đồi núi, đang chiến đấu với quân cộng sản Bắc Việt và cộng sản Lào (Pathet Lào). Nhưng tại đây, lại có lệnh không được thả bom gần các chùa chiền. Trong khi ai cũng biết cộng sản Lào đang đóng quân đầy trong các chùa chiền ở Lào với đầy đủ vũ khí. Nhiều lần chúng đã bị bắn từ chính trong các chùa. Có lần chúng tôi không chịu được, đã bay qua chùa và thả một trái bom vào chỗ có súng bắn lên, và ầm ầm kho đạn của địch nổ vang và cháy suốt mấy tiếng đồng hồ.
Có một câu chuyện ai cũng biết là ở Trung Tâm Văn Hóa Trung Hoa (Chinese Cultural Center) tại Plaine des Jarres (Lào) như sau: Chúng tôi không được lệnh thả bom trong vòng 3 cây số chung quanh trung tâm này. Vào một đêm, một phi công tức khí lén thả một trái bom vào trung tâm này và kho đạn ở đây đã nổ trong suốt một tuần lễ!
Sau khi lệnh ngưng thả bom trên lãnh thổ Bắc Việt vào tháng 11 năm 1968, chúng tôi chỉ được phép thả bom khi xe tiếp tế của Việt Cộng ở đường mòn Hồ Chí Minh trên phần lãnh thổ nước Lào mà thôi, và chỉ được thả bom vào ban đêm. Như vậy là chúng tôi gần như tự tử rồi! Ban đêm không thấy đường, súng phòng không bắn như sao, chúng tôi chỉ còn cách đâm máy bay vào dãy núi Karst là xong! Có một ngày quang đãng, tôi đếm được 100 xe tiếp tế nối đuôi nhau tại Ðèo Mụ Giạ thuộc Bắc Việt Nam. Những chiếc xe này đậu sẵn để đợi đêm tối di chuyển vào đường mòn. Và dĩ nhiên chúng tôi được lệnh cấm chỉ thả bom đoàn xe. Ðó là quy tắc giao chiến đấy!!
Chúng tôi cũng không thể thả bom đường xe lửa tiếp tế từ Trung Cộng vào Bắc Việt. Mỹ cũng không thể phong tỏa hải cảng Hải Phòng… Tất cả những gì Nixon làm năm 1972 là để Bắc Việt có cơ hội mang tiếp tế vào miền Nam. Ðáng lẽ chúng ta phải chặn đứng việc cộng sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí cho chiến trường miềân Nam mới phải?
Vai trò ưu tiên của Không Lực Hoa Kỳ là chặn đứng khả năng tiếp tế vũ khí đạn dược vào chiến trường Miền Nam. Ðây là một sự “tuyệt đối phải ngăn chặn.” Ðó là mục tiêu duy nhất của Không Lực hầu yểm trợ lực lượng Mỹ và đồng minh tại Nam Việt Nam. Chúng ta phải thả bom các cơ sở chế tạo đạn dược và vũ khí, vì chính nơi này sản xuất phương tiện để giết những người lính Mỹ. Lý do nữa là Không Lực phải giúp lính tiêu diệt kẻ thù dưới đấtø. Tất cả Không Lực làm, từ chuyên chở, đến chiến đấu đều chung mục đích giúp cho toàn quân đội Mỹ ngoài chiến trường tại miền Nam Việt Nam.
Nhưng buồn thay, tại Việt Nam, chúng tôi đã không được phép thực thi những sự “tuyệt đối phải ngăn chặn” này. Thử nghĩ xem Tù Binh Chiến Tranh Mỹ (POW) do đâu mà có. 85% POW là hoa tiêu và phi hành đoàn. Họ bi bắn hạ chung quanh những vị trí có hỏa tiễn SAM và phi cơ MIG. Nơi mà những hoa tiêu này đã thấy từ khi cộng sản Bắc Việt và Nga Sô lúc còn dang xây cất. Còn tại chiến trường Miền Nam, lính Mỹ chết bởi những vũ khí, đạn dược và tiếp liệu do Bắc Việt chuyên chở vào Nam, mà chúng ta không ngăn chặn được hay chúng ta không muốn ngăn chặn?!.
Chúng tôi đã từng thấy từng đoàn xe vận tải nối đuôi nhau ngay ban ngày. Những xe này thuộc Lực Lượng Chuyên Chở 559 từ Hà Nội đổ vào.
Chúng tôi bay trên đầu đoàn xe và đôi khi chỉ cho chúng một chút sợ hãi bằng cách ném xuống vài thùng xăng phụ hay một vài trái hỏa tiễn gọi là. Vì chúng tôi không được phép mang cả phi đoàn phản lực đến đó để thả bom, chỉ vì lệnh cấm.
Tôi đã từng chứng kiến một làng người Thượng ở Nam Việt Nam bị Việt Cộng ném lửa đốt cháy cả làng. Chúng đốt sống cả trẻ thơ, phụ nữ và tất cả những gì còn sống, chỉ vì dân làng không chịu phục tùng lệnh của chúng.
Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà chúng ta không muốn thắng!
Mark Beren