Showing posts with label tiểu đoàn 61 bđq. Show all posts
Showing posts with label tiểu đoàn 61 bđq. Show all posts

Friday, January 1, 2021

QUÂN ĐOÀN I SỤP ĐỔ, BÀI HAI

Dịch từ trang 300-320 của quyển Black April của George Veith. 

- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính bằng ba lần sức mạnh của đơn vị.

- ĐPQ Quảng trị và Thừa thiên ko hèn nhát nhưng tinh thần bị giao động. Họ thấy dân thường lủ lượt bỏ làng mạc nhà cửa, bồng bế con cái và gồng gánh mọi thứ quý giá trên người--trong đó có vợ con và thân của họ. Trước tình hình như vậy, làm sao họ còn tinh thần để chiến đấu."-- ĐT Trí đã viết sau 1975. 

LỜI NÓI ĐẦU: 

Trong các bài "Liên đoàn 15 BĐQ, sđ 1 bộ binh, TQLC đã chiến đấu ác liệt ở phía nam Huế từ 19/3 đến 22/3/1975" hay "Vì sao quân đoàn 1 sụp đổ", các bạn đã thấy:

1/ Phần lớn các trận tấn công của CS ở Quảng Trị và bắc Thừa Thiên trong giai đoạn này đều do các tiểu đoàn quân địa phương của VC tại tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Sở dĩ họ làm được điều này vì ở bắc Huế chỉ còn LĐ 147 TQLC. Nếu toàn bộ sđ TQLC tiếp tục trấn giữ Quảng Trị và sđ Nhảy Dù tiếp tục hành quân ở Thường Đức thì tôi nghĩ Huế đã ko mất dễ dàng như vậy, (vì Huế chỉ bị pháo kích chút đỉnh và đv CS tiến vào tiếp thu Huế chỉ là quân địa phương, nghĩa là du kích của tỉnh); và LĐ 147 TQLC đã ko phơi mình nơi "pháp trường cát" Thuận An và phải đầu hàng một đại đội du kích VC vì đói khát và hết đạn--vì trước đó họ được lịnh chỉ giữ vũ khí cá nhân và đi bộ về cửa biển này để được tàu bốc về Đà nẳng!

2/Trong khi đó những trận đánh ác liệt lại xảy ra ở nam Huế khi hai sđ 324 và 325 chính quy của csbv tấn công nhưng họ đã bị thiệt hại nặng khi gặp sự chống trả quyết liệt của các TĐ thuộc trung đoàn 1 và 54 sđ 1 bộ binh và hai TĐ 60 và 61 BĐQ.  Điều này chứng tỏ tinh thần chiến đấu của các đv này rất cao dù lúc đó đã mất Ban Mê Thuột.­­

=======

Sau đây là phần chuyển ngữ.

"Sau khi rút lui từ Quảng Trị, NGÀY 20 THÁNG 3, ĐT TQLC Nguyễn thành Trí đã tái triển khai lực lượng của ông dọc theo phòng tuyến Sông Mỹ Chánh. Ông giao liên đoàn (LĐ) 14 BĐQ và tàn quân của ĐPQ Quảng Trị, cùng với TĐ 7 TQLC chưa-bị-sứt-mẻ-gì-hết, canh giữ khu vực từ cầu Mỹ Chánh, nằm trên QL-1 ra tới bờ biển. Một phòng tuyến dài 11 dặm hay 17.7 km nhưng chỉ được bảo vệ bởi chưa tới 2.000 người. Các thành phần của thiết đoàn 1 vnch có nhiệm vụ bảo vệ QL-1 để chống lại một tấn công bằng thiết giáp của bắc quân. LĐ 147 TQLC được bố trí (array) dọc theo Sông Mỹ Chánh từ cầu Mỹ Chánh, nằm trên QL-1, tới vùng núi phía tây, và rải quân từ đó xuống Huế. (Nói thêm: theo Mũ Xanh Trần ngọc Toàn, cựu TĐT của TĐ 4 TQLC thì lúc đó phòng tuyến của TQLC nằm trên núi và ở phía tây của QL-1 gồm TĐ 7 ở phía bắc, giáp Sông Mỹ Chánh, TĐ 4 ở giữa, và TĐ 5 ở phía nam.-- người dịch). SĐ 1 bộ binh trách nhiệm vùng núi non ở tây Huế, và từ đó hướng về phía nam tới Sông Truồi, nơi LĐ 15 BĐQ trách nhiệm tới quận lỵ Phú Lộc. TĐ 8 TQLC của trung tá Nguyễn đăng Hòa giữ Phú Lộc, và một liên đoàn ĐPQ giữ Đèo Hải Vân. Tướng Lâm Quang Thi ko còn trừ bị nếu các phòng tuyến này bị thủng. Chỉ có không quân và, đôi khi tàu hải quân có thể yểm trợ quân bạn. 


Quân VNCH tại Thừa Thiên đã ko được nghỉ ngơi (respite), vì cùng ngày 20 tháng ba, tham mưu phó quân csbv tướng Lê Trọng Tấn đã gọi điện cho Mặt Trận B-4, nói rằng trong khi "việc chiếm toàn tỉnh Quảng Trị đáng được khen ngợi (commendable), các chiến sĩ ko được ngừng ở Mỹ Chánh mà phải tiếp tục tấn công." Ông muốn Mặt Trận B-4 cùng tấn công đồng loạt với quân khu 2 csbv vào NGÀY 21 THÁNG BA, hủy diệt mọi lực lượng VNCH ở bắc Huế và chiếm tp này. 

Mặt trận B-4 đã dự định mở cuộc tấn công chánh nhắm các vị trí ĐPQ gần bờ biển. (Nói thêm: điều này cho thấy trong giai đoạn đầu, mặt trận B-4 đã dồn sức mạnh đánh vào nơi yếu nhứt là ĐPQ gần bờ biển vì họ né tránh lữ đoàn 147 TQLC đang chiếm giữ phía tây của cầu Mỹ Chánh và vùng núi non phía tây QL từ cầu này tới Huế.-- người dịch). Mặt trận B-4 có ba TĐ quân địa phương ở phía đông của QL-1, và một trung đoàn cộng, vì quân số trên một trung đoàn, ở phía tây QL-1. Mặt trận sẽ gửi hai TĐ của Quảng Trị, hỗ trợ bởi 7 xe tăng, chọc thủng phòng tuyến của DPQ và chiếm quận lỵ Hương Điền. Từ đó sẽ xuôi nam dọc theo bờ biển và tấn công các cảng Thuận An/Tân Mỹ, con đường duy nhứt để rút quân ra biển của các đv VNCH tại Huế, xem bản đồ. Khu vực cảng Thuận An/Tân Mỹ và các nhà kho nằm trên Sông Hương và kế bờ biển, cách Huế khoảng 8 km. Chỉ có tàu nhỏ mới vào được Huế. Dù Tân Mỹ có vài bến tàu (ramp) cho tàu LST nhưng phù sa (silting) đã khiến tàu ko thể cập bến. Cảng Tân Mỹ nối với cảng Thuận An bằng một cầu nổi qua Phá Tam Giang. 

thứ ba của Quảng Trị sẽ tấn công gần cầu trên QL1, trong khi trung đoàn 4 sẽ tấn công LĐ 147 TQLC. Hai tiểu đoàn khác đã tấn công, ĐPQ lúc đầu còn giữ được, nhưng vào trưa, họ bắt đầu tan rả. Vì Huế mới bị pháo kích và QL-1 bị cắt, nhiều binh sĩ đã bỏ đv để tìm gia đình, và số còn lại vừa ít ỏi và ko còn đủ tinh thần để chiến đấu. Dù ĐT Trí định gửi một đại đội tqlc và xe tăng để giúp đpq nhưng bắc quân đã bắt đầu pháo kích các vị trí của lđ 147 tqlc làm đình hoản kế hoạch này. Vào giữa chiều, ĐPQ tan rả và đã bắt đầu rút về phòng tuyến cuối cùng ở bắc Huế, nằm sau Cầu An Lổ trên Sông Bồ, chỉ cách Huế 12 dặm. 

Trong khi quân cs chậm chạp đuổi theo tàn quân ĐPQ, lúc 3 g chiều, trung đoàn 4 đã bất ngờ tấn công một TĐ tqlc. Quân cs đã bao vây chia cắt hai trung đội tqlc với thành phần còn lại của TĐ này. Với cạnh sườn phải ko còn vì ĐPQ tan rả , và ko còn trừ bị để trám lổ hổng này, ĐT Trí đã ra lịnh rút về phòng tuyến cuối cùng của Huế ở dọc sông Bồ. Tối đó, các trung đội kể trên đã thoát và trở về với đv gốc. Trí đã triển khai liên đoàn 14 bđq từ cầu An Lổ về phá Tam Giang, trong khi rút TĐ 7 TQLC về bảo vệ Hương Điền. LĐ 147 rút về phía sau sông Bồ. ĐPQ Quảng Trị đã hầu như tan rả. Phần lớn họ chạy về Huế dù các cố gắng của các viên chức tỉnh và các sĩ quan TQLC ngăn cản họ--Trung úy TQLC Cao Xuân Huy trong "Tháng ba gãy súng" đã viết về tình trạng này--người dịch. 

Vào SÁNG 23 THÁNG BA, bắc quân đã tiếp tục tấn công vùng nam của Huế. Tướng An của csbv ra lịnh sđ 325 gửi 2 trung đoàn tấn công dọc quốc lộ 1, theo hai hướng đối nghịch, một về hướng bắc, một về hướng nam, xem bản đồ. Ngày HÔM TRƯỚC, một TĐ của trung đoàn 101 thuộc sđ 325 đã bị thiệt hại nặng khi tấn công một đồi của bđq, nhưng đã chiếm đồi. SÁNG NGÀY 23 THÁNG 3, trung đoàn 101 tấn công Lương Điền, nơi đặt bch của LĐ 15 BĐQ. Nếu chiếm Lương Điền, bắc quân sẽ đi vòng qua hông quân vnch đang giữ đồi 303 và Mỏ Tàu. Sau một ngày chiến đấu, đv BĐQ này rút lui qua Sông Truồi và giựt sập cầu Sông Truồi. Khi tối đến, họ đã rút về Phú Bài. Trung đoàn 18 của sđ 325 đã tràn ngập quận lỵ Phú Lộc sau khi TĐ 8 TQLC rút. 

                                


Để cầm chân sđ 1 bb, trung đoàn còn lại của sđ 324 đồng loạt tấn công đồi 303 và Núi Bông. VNCH đã giữ những vị trí này tới khi xe tăng csbv xuất hiện vào buổi chiều và cuối cùng chiếm 2 vị trí này. Với phòng tuyến nam Huế bị áp lực nặng, tướng Điềm ra lịnh hai trung đoàn đang giữ các núi Mỏ Tàu, Núi Bông và 303 rút về Phú Bài--cách Huế 16 km. Họ phải chận bắc quân trên QL-1 và hỗ trợ bđq. Điềm cũng rút 2 trung đoàn ở tây Huế về gần tp.

Trong khi mặt trận phía bắc của Trưởng rối tung vì đánh lớn, mặt trận phía nam của ông vẫn còn yên tỉnh tương đối. Nay đã bắt đầu thay đổi. Chuẩn tướng Trần văn Nhựt đã rút những đv để bảo vệ vùng đồng bằng và các tp lớn. Trên một phòng tuyến dài 144.8 km từ bắc Quảng Tín tới biên giới Bình Định, Nhựt có trung đoàn 5 và LĐ 12 bđq giữ Tam Kỳ, trung đoàn 4 giữ Chu Lai, và trung đoàn 6 và LĐ 11 bđq giữ tp Quảng Ngải.

Lúc đầu của chiến dịch, mặt trận B-1 chỉ nhắm chiếm quận Tiên Phước và diệt vài TĐ VNCH. Giờ đây các TL của mặt trận cảm thấy một cơ hội để diệt toàn sđ 2 của Nhựt và chiếm toàn tỉnh Quảng Ngải. NGÀY 16 THÁNG BA, họ đã thay đổi kế hoạch. Họ dự định rằng khi tấn công Tam Kỳ trên QL1, sẽ thu hút các lực lượng của sđ 2 kéo về bảo vệ tp này, họ sẽ bao vây và tiêu diệt. Lữ đoàn 52 sẽ giải phóng Quảng Ngải. NGÀY 21 THÁNG BA, pháo 130 ly dập tan phòng tuyến đpq gần Tam Kỳ. Các cuộc thăm dò cấp đại đội đã chạm súng (whittle) các vị trí đpq. Nhựt đã phản ứng đúng như mặt trận B-1 mong đợi: ông này đã chuyển trung đoàn 4 từ Chu Lai để tăng cường cho Tam Kỳ, và rút một tđ từ trung đoàn 6 về bảo vệ Chu lai. 

Tuy nhiên, Nhựt cũng có một vấn đề ngày càng lớn. Tinh thần lính tráng đã nhanh chóng suy sụp (sink) khi họ biết cuộc di tản đẫm máu từ Cao Nguyên và, gần nhà họ hơn, tình hình tuyệt vọng (desperate) tại Huế và vấn đề người di tản ngày càng gia tăng tại Đà Nẳng. Nhiều lính tráng của ông gốc Huế và Đà Nẳng và họ rất lo âu về gia đình của họ. Do đó, khi cuộc tấn công chánh vào Tam Kỳ bắt đầu sáng 24 THÁNG BA với pháo binh bắn tập trung theo sau bởi bộ binh tùng thiết, phòng tuyến của Nhựt sụp đổ. Hai TĐ csbv sau đó đã xâm nhập phòng tuyến phía nam của tp, trong khi một tđ khác tấn công trực diện từ phía tây. Trung đoàn 4 vnch đã rút và được trực thăng bốc ở bãi biển gần đó; trong khi đó, nhờ bắc quân ở phía bắc tp chậm chạp cắt đứt QL1, nên lính vnch có thể rút lui. Trung đoàn 5 và phần lớn đpq rút theo hướng nam về Chu Lai, trong khi LĐ 12 BĐQ và hàng ngàn dân thường rút về hướng bắc tới biên giới Quảng Nam.

Tình hình tại TP Quảng Ngải cũng ko khác. Khi biết Tam Kỳ đã mất, đpq Quảng Ngải, LĐ 11 BĐQ, và các phần tử của trung đoàn 6 rút về phòng tuyến phía tây của tp Quảng Ngải. Lúc 1 giờ trưa, NGÀY 24 THÁNG BA, bắc quân đã tấn công. Xe tăng ầm ầm (rumble) tiến tới, đạn đại bác nổ chát chúa trên mục tiêu, và lữ đoàn 52 và vài TĐ quân địa phương đã tấn công vào ngoại ô của TP. Với phòng tuyến này sụp đổ (rumble), tỉnh trưởng Quảng Ngải đã gọi tướng Nhựt và yêu cầu lực lượng của ông được phép rút lui về Chu Lai. Trưởng đồng ý. Các đv vnch tại tp Quảng Ngải đã lập một đoàn công-voa và khởi hành trong đêm đi Chu Lai. Nhờ nghe lén điện thoại, bắc quân đã liên tục phục kích đoàn xe này, gây thương vong 50/100. LÚC NỬA ĐÊM, TP Quảng Ngải đã rơi vào tay quân csbv. Mặt trận phía nam của Trưởng đã sụp đổ, do tinh thần chiến đấu giảm sút của binh sĩ và hoảng loạn của dân hơn là áp lực của địch. Tệ hơn nửa, hàng ngàn dân tị nạn giờ đây đã chạy về Đà Nẳng. 

Ngoài những mặt trận sụp đổ,Trưởng đã đối diện khó khăn (predicament) trầm trọng khác. Sau khi nhận lịnh NGÀY 22 THÁNG BA của bộ TTM phải gửi sđ TQLC về Sài gòn, Trưởng đã ra lịnh cho tướng Thi, TLP gặp ông tại Đà Nẳng sáng hôm sau. Khi Thi tới, Trưởng ra cho Thi tiếp tục bảo vệ Huế, nhưng cũng lập kế hoạch dự phòng (contingency plan) để rút lực lượng về Đà Nẳng. Trong lúc thảo luận, Thi đưa ra kế hoạch của ông. Ông muốn Hải quân đánh chìm tàu để nối hai bờ của Cửa Tư Hiền, và TQLC chiếm giữ Núi Vĩnh Phong --khống chế bờ phía nam của cửa này. Khi đó sđ 1, ĐPQ Thừa Thiên, và LĐ 15 BĐQ có thể đi bộ qua các tàu này để bắt tay với TQLC, bằng cách ấy (thereby) ko phải vượt qua nút chận của bắc quân tại quận lỵ Phú Lộc--trên QL1. Các lực lượng ở bắc Huế có thể rút lui về cảng Tân Mỹ và được đón bởi tàu Hải Quân. Sau khi Trưởng và BTM của ông đồng ý, Thi trở lại Huế. 

Thi đã dùng cả NGÀY 23 THÁNG BA để chuẩn bị cho việc này. Ông đã bắt đầu dời BTL ra khỏi Huế để tới căn cứ hải quân Thuận An. NGÀY 24 THÁNG BA, ông họp với ĐT Trí, chuẩn tướng Điềm, và vài sq khác để thảo luận tình hình. Họ đã nhận định tình hình nghiệt ngã (grim). Huế đã bỏ, hàng ngàn dân thường và xe cộ kẹt cứng (cloged) con đường đi tới Tân Mỹ, sđ 1 đang chịu áp lực nặng, và nhờ nghe lén, phòng 7 VNCH cho biết địch sẽ mở thêm nhiều tấn công. Với tinh thần binh sĩ giao động (wavering) và ko còn trừ bị, họ kết luận ko còn hy vọng giữ Huế. Tệ hơn nữa, tướng Điềm nói rằng nếu họ ko nhanh chóng hành động, quân csbv sẽ sớm đánh thủng phòng tuyến và tấn công Tân Mỹ. 

Họ đã quyết định để tqlc rút về Tân Mỹ, vượt qua cửa biển đã kể, và di chuyển dọc bờ biển, ko nên để dân chúng lẩn lộn, để tới một điểm để tàu hải quân đón khoảng ba dặm về phía nam. Liên đoàn 14 bđq và lữ đoàn 1 thiết kỵ sẽ làm đoạn hậu (rear-guard action) và sẽ bắt tay TQLC. SĐ 1 sẽ chuyển về Cửa Tư Hiền, với liên đoàn 15 bđq và đpq Thừa Thiên giữ an ninh bải để tàu vào bốc. Mọi thiết bị nặng, kể cả đại bác và xe tăng, sẽ bị hủy. Điềm nói với Thi rằng chỉ có hai trung đoàn của bốn trung đoàn của ông có thể rút về cửa Tư Hiền, ý nói, hai trung đoàn kia, do ở quá xa nên ko về kịp. 

Thi ra lịnh cho Điềm và tham mưu trưởng của ông bay về Đà Nẳng và trình kế hoạch này cho Trưởng. Gặp Trưởng, Điềm đã nói rõ rằng ko thể giữ Huế, do đó lúc 6 GIỜ CHIỀU 24 THÁNG 3, Trưởng ra lịnh di tản. Cùng lúc, ông gọi Nhựt rút mọi lực lượng tại Quảng Tín và Quảng Ngải về Chu Lai và lập phòng tuyến ở đó. Rồi Trưởng gọi TT Thiệu, ông này cũng đã đồng ý Huế ko thể giữ được. Thiệu đã đồng ý kế hoạch rút lui này, và Điềm và tham mưu trưởng của ông bay về gặp Thi.

Trận đánh cuối cùng của Quân đoàn 1 sắp bắt đầu.

Sau khi họp ở Đà Nẳng với các cấp chỉ huy của BTL tiền phương QĐ 1, Trưởng đã ra lịnh hải quân chuẩn bị di tản khỏi Huế. Phó đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại, đã lập một lực lượng đặc nhiệm để đón lính vnch tại các bãi bốc. BTL hải quân tại Sài Gòn cũng đã "cung cấp mọi phương tiện khả dụng, bao gồm chiếc LST Đà Nẳng, mang số HQ-501, đã khởi hành từ Sài Gòn với một máy bị hư và thợ sửa máy trên tàu." Các tàu của BTL hạm đội lập vòng đai an ninh 16 km quanh Cửa Thuận An để ngăn ko cho tàu của csbv âm mưu phá hoại cuộc di tản, hay rải mìn trên cửa biển này. Hai mươi hai tàu đổ bộ loại nhỏ--thời đệ nhị thế chiến--của bch quân vận sẽ đặt dưới sự chỉ huy của hải quân và được lịnh đưa người từ bờ ra tàu lớn. 

NGÀY 24 THÁNG BA, căn cứ hải quân ở Tư Hiền đã được lịnh đánh chìm vài tàu để lính của sđ 1 có thể vượt qua cửa này, nhưng cố gắng này thất bại vì giòng nước quá mạnh. Dự định đánh chìm một tàu cũng được xác định là ko khả thi, do đó hải quân quyết định kéo một cầu nổi từ Đà nẳng. Cuối cùng cầu nổi cũng tới nhưng lại bị VC, xâm nhập từ đêm trước, từ Núi Vĩnh Phong pháo kích khiến hải quân hủy bỏ công tác này. Vì một lý do nào đó, TQLC đã ko kiểm soát núi này dù tướng Thi đã nhiều lần yêu cầu. (NÓI THÊM: Theo yêu cầu của tác giả của quyển Black April, ĐT Nguyễn thành Trí đã yêu cầu TĐT của tđ 8 tqlc, trung tá Nguyễn đăng Hòa, và lữ đoàn trưởng của lđ 468, ĐT Ngô văn Định, trả lời câu hỏi "Tại sao TĐ 8 ko chiếm Núi Vĩnh Phong?" (núi này khống chế cửa Tư Hiền). Hòa nói rằng ông đã ko nhận lịnh chiếm núi Vĩnh Phong, trong khi Định nói ông ko nhớ nhiều về các sự kiện ở đèo Hải Vân. Trí phỏng đoán rằng hoặc lịnh đã đến quá trể với bch lữ đoàn 468, hay BTL QĐ 1 đã hủy lịnh khi biết rằng hải quân ko thể hoàn tất cầu đi ngang cửa Tư Hiền. Trí cũng nghi rằng Trưởng cũng muốn bắt đầu chuyển tqlc về bảo vệ Đà Nẳng. Nguồn: trang 525 của Black April của George Veith).

Ở bắc Huế vào SÁNG 24 THÁNG BA, trung đoàn 4 đã vượt Sông Bồ tại hai chỗ và tấn công TQLC. Ác chiến xảy ra nhưng TQLC vẫn giữ vị trí. Để yểm trợ TQLC, LĐ 14 BĐQ, có thiết giáp yểm trợ, đã phản công vài lần vào sườn của bắc quân,nhưng ko thể diệt hai đầu cầu này. Tuy nhiên, sau quyết định lúc XẾ CHIỀU NGÀY 24 THÁNG BA về việc rút khỏi Huế, ĐT Trí đã ra lịnh cho TQLC rút. Lữ đoàn 1 thiết kỵ và LĐ 14 làm đoạn hậu. Sau khi TQLC rút, BĐQ đã phá cầu An Lổ sau khi rút. 

Đi bộ gần 32 km trong đêm đó, vào SÁNG 25 THÁNG BA, những người lính tqlc kiệt sức này đã tập hợp ở vài dặm phía nam cảng Thuận An. Sau khi tqlc đã lập một chu vi phòng thủ, ĐT Trí và bch của ông lên một tàu vận tải nhỏ và ra khơi. Thiết đoàn 1 đã buộc phải bỏ phần lớn thiết bị vài dặm cách Tân Mỹ. Hàng ngàn lính khác, bao gồm tiếp vận, công binh, và đpq/nq đã đầy nghẹt cảng này, trong khi xe cộ và thiết bị bỏ lại đầy đường. Nhiều tòa nhà bị cháy do pháo địch, và người ta chết trên những cánh đồng, vì đạn pháo hay bị trấn lột bởi lính tráng do tình trạng hổn quan hổn quân (marauding soldier)! LĐ 14 BĐQ đã giữ đoạn hậu , và đại đội trinh sát của lđ này là đv cuối cùng của vnch rời Huế. May mắn cho quân vnch, lực lượng của mặt trận B-4 đã ko hăng hái đuổi theo họ. Mãi đến gần khuya của hôm đó, mặt trận này đã cho trừ bị của họ, TĐ 8 Quảng Trị chiếm Huế. 

Sau khi bị địch pháo rời rạc tại căn cứ HQ Thuận An, khoảng 6:30 giờ chiều NGÀY 24 THÁNG BA, tướng Thi và BTM đã lên một tàu HQ. Vào lúc này, Thi đã ko thể kiểm soát các đv của ông. Tệ hơn nữa, sau khi đã họp với Trưởng, đã kể ở trên, tướng Điềm họp lần chót với BTM của ông. Trong khi có sự nhầm lẫn về mệnh lệnh chính xác của ông, nhưng thay vì chỉ huy sđ của ông trong những giờ phút nghiêm trọng nhứt, ông đã giải tán sđ và nói với các sq cao cấp rằng họ phải tự lo liệu trên đường tới bãi để tàu bốc ở Tư Hiền. Dù sđ 1 đã anh dũng chiến đấu tới lúc này, vào NỬA ĐÊM 24 THÁNG BA, họ đã sụp đổ. Việc Điềm giải tán sđ làm tình hình nguy kịch hơn. Việc ngưng kháng cự ở nam Huế đã mở đường cho những trung đoàn csbv tiến tới phòng tuyến của TQLC, ko kể các cảng Tân Mỹ/Thuận An. Tại sao Điềm, một người dân Huế ở nhiều năm tại sđ 1, đã giải tán sđ của ông là điều ko ai biết: vì ông đã chết vài ngày sau do trực thăng rơi và ko ai có thể trả lời câu hỏi này.

Dù cảnh mất trật tự tại các cảng, các tàu đổ bộ tiếp tục đưa người từ Tân Mỹ ra chiếc LST Cần Thơ (HQ-801). Họ đã cứu khoảng 6.000 người NGÀY 24/3. Trong khi cuộc di tản này tiếp tục đêm đó, biển động và địch pháo kích khiến điều này càng lúc càng nguy hiểm. Vào GIỮA ĐÊM, hơn phân nửa các tàu đổ bộ đã bỏ cuộc và quay về Đà Nẳng. 

Vào sáng sớm NGÀY 25/3 đã xuất hiện nhiều sóng lớn và giòng chảy mạnh tại bãi bốc TQLC. Tàu HQ từ các cảng này đến bãi biển để bốc tqlc, nhưng do biển động nên các tàu đổ bộ nhỏ ko thể đến sát bờ. LÚC 1:30 giờ chiều, tàu Cần Thơ được lịnh cặp bờ. Chiếc LST chỉ có thể đến cách bờ khoảng 82 m, nơi nó ngừng và thả thang dây hai bên tàu. Trong khi TQLC còn giữ kỷ luật, các đv khác thì ko. Vài ngàn dân thường và lính ko còn cấp chỉ huy đã bám theo TQLC. TĐT của TĐ 5 TQLC đã mô tả như sau. "Những ai ko biết bơi đã bám cứng vào kẻ biết bơi, chiến đấu với tử thần trong sóng biển. Vài chiếc M-113 trên đường ra tàu, đã cán lên họ. Tiếng kêu la khắp trời. Một đợt sóng đẩy họ lên cao nhưng đợt sóng khác đẩy họ xuống dưới mặt nước. Những đầu người nhô lên thụp xuống, và nhiều xác người đã chìm dưới các đợt sóng và biến mất trong khi tàu đang đậu và nổ máy chờ đợi."Với giòng nước ngày càng mạnh hơn, trong chưa tới một giờ, chiếc Cần Thơ phải đổi hướng ra biển để tránh bị mắc cạn. Chỉ có 100 người lên được tàu. 

TQLC đã quyết định di chuyển xa hơn về phía nam để dân và các sắc lính khác ko bám theo. Sau khi đi bộ khoảng 1.6 km, họ phân tán mỏng và đào hố. TQLC đã ko cho dân hay lính khác xâm nhập vào chu vi phòng thủ, và họ đã bắn vài người mà họ nghi là đặc công cs. Đây là vết nứt đầu tiên trong kỷ luật sắt của tqlc. Các tàu HQ cũng chưa tìm được cách nào để bốc họ. 

Sau khi tqlc rút lui, quân csbv ở bắc Huế từ từ tiến tới. Các đv quân địa phương tiến về Thuận An, trong khi trung đoàn 4 di chuyển ở tây Huế dọc theo rặng núi. TĐ 8 Quảng Trị đã vượt qua Sông Bồ trên QL1 và lúc 9 giờ sáng NGÀY 25 THÁNG BA đã chiếm một quận lỵ cách Huế ba dặm Anh. Kế đó trung đoàn này đã gửi một toán trinh sát chiếm một cầu khác ở rìa tp. Trong khi toán trinh sát này ở cầu thứ nhì, hai đặc công giả dạng dân thường cởi một xe gắn máy và thông báo quân vnch đã bỏ tp. Điều khiển một xe jeep của TQLC, ba người của TĐ 8 Quảng Trị và hai đặc công này đã tiến vào tp. Lúc 10:30 giờ sáng, họ đã thượng cờ trên Hoàng Thành Huế, trên cột cờ mà nhiều lính của sđ 1 vnch đã chết khi tái chiếm nó. Vào giữa trưa, các thành phần tiên phong của trung đoàn 3, sđ 324 csbv, ngồi trên các xe tăng của vnch, tiến vào Huế từ phía nam. Tiếp tục tiến quân ra biển, các đv của mặt trận B-4 và trung đoàn 2, sđ 324 csbv, đang tiến về Tân Mỹ, đã bắt tay khoảng 5 g chiều. Cả hai cảng giờ đây đã bị chiếm. 

                               


Trung tướng Thi, khi biết rằng Tư Hiền đang dưới hỏa lực địch và rằng hải quân (HQ) đã ko dựng cầu nối hai bờ của cửa Tư Hiền, đã ra lịnh cho các tàu chạy về phía nam để đón lính bị kẹt ở đấy. Phần lớn các tàu đã rời cảng lúc 4:45 g chiều. Một trung đoàn của sđ 1 VNCH đã tới Cửa Tư Hiền, nhưng sĩ quan hải quân (HQ) chỉ huy duyên đoàn đã đưa tàu ra biển khi một sĩ quan lục quân đã rút súng và đe dọa giết y nếu y ko chỡ lính của ông ta qua bên kia bờ bên kia. Giờ đây bị kẹt lại, một số lính đã trộm (steal) những ghe đánh cá trong khi những người khác cố gắng lội qua cửa biển này. Nhiều người đã chết do giòng nước quá mạnh. Khi các tàu của HQ đã tới Tư Hiền khoảng giữa đêm NGÀY 25 THÁNG BA, tàu đổ bộ nhỏ đã bắt đầu bốc binh sĩ. Vào lúc hừng đông, họ đã cứu khoảng 1.100 binh sĩ. 

Với lực lượng của HQ tại Tư Hiền, ĐT Trí đã sắp xếp BA tàu đổ bộ sẽ cặp bãi lúc bình minh NGÀY 26 THÁNG BA, để cứu 4.000 lính tqlc của ông còn kẹt. Trí đã ra lịnh người bị thương và chết sẽ được đưa lên trước, kế đó bch của lữ đoàn 147, và phần còn lại của lữ đoàn. TĐ 7 của thiếu tá Phạm Cang sẽ bảo vệ phòng tuyến và lên sau cùng. Khi tàu đổ bộ đầu tiên cặp bãi vào buổi sáng, TQLC đã lên tàu trong trật tự, nhưng sau một giờ, địch đã tới. Một đv bắc quân đã phóng một phi đạn (missile) chống tăng Sagger AT-3. Phi đạn trúng tàu, làm bị thương lữ đoàn trưởng. Sợ bị bắn thêm, tàu đã nhanh chóng quay ra biển. Chỉ có 800 TQLC đã lên tàu. Để tránh địch, TQLC lần nữa tiến về phía nam.

Khoảng giữa trưa, một tàu đổ bộ khác cặp bãi. Lần này, lính TQLC ko còn kỷ luật. Nhiều trăm người đã bơi ra tàu, và tàu trở nên quá tải và mắc cạn trên cát (stuck in the sand). Nhiều dân thường và lính của các binh chũng khác bám theo TQLC cũng chen lấn lên tàu. Vì TQLC đã được nói rằng tàu này dành riêng cho họ, họ đã bắt đầu bắn nhiều người để giảm nhẹ tải trọng của tàu. Sự vô kỷ luật này của tqlc sau đó đã biểu lộ ở Đà Nẳng và những cuộc di tản khác. Vì tàu nằm bất động, các xạ thủ csbv tiếp tục bắn. Vài quả đã trúng tàu, làm bị thương và chết vài chục người. Không muốn làm bia sống (sitting duck), một TĐT của TQLC ra lịnh mọi người rời tàu. Khi cửa tàu mở ra, đại liên của bắc quân đã bắn gục vài chục người. Những lính tqlc còn lại đã tuyệt vọng đào hố để phòng thủ và đã cố gắng đánh trả, nhưng họ gần như hết đạn.

Khi trời tối của NGÀY 26 THÁNG BA, chạm súng giữa 2 bên vẫn tiếp tục. TQLC ko còn chỗ núp, và các sĩ quan cao cấp đã quyết định mở đường máu về Cửa Tư Hiền. Sắp xếp lại đội hình, họ tiến về phía nam dọc bờ biển. Rất ít người tới Tư Hiền, và phần lớn đã bị bắt ngày kế. Nhiều người đã tự tử bằng lựu đạn hơn là đầu hàng. Lữ đoàn 147 TQLC đã tan rả trên bãi biển này; chỉ có 1/4 lính TQLC được di tản. Các con số của quân CSBV về tổn thất của nam VN tại khu vực Huế đã gây sốc cho mọi người: csbv cho rằng đã bắt sống 30.000 quân nhân, bao gồm ĐPQ/NQ. Ngoài ra LĐ 147 TQLC, sđ 1 bộ binh, LĐ 14 và 15 bđq, thiết đoàn 1, vài TĐ pháo các loại, và 15 TĐ địa phương quân đã bị tiêu diệt. Tổn thất về trang bị thật khủng khiếp: bắc quân đã chiếm 140 xe tăng và M-113, 800 xe tải, và hàng chục ngàn tấn đạn

Tình hình cũng đã tuyệt vọng ở mặt trận phía nam của Trưởng. Tướng Nhựt suốt đêm 24 THÁNG BA đã ngồi trực thăng để giám sát đoàn xe rút lui từ Quảng Ngải. Đoàn xe đã tới Chu Lai SÁNG 25 THÁNG 3. Theo tướng Nhựt, khi ông tới "căn cứ đã tàn ngập với các đv DPQ/NQ, cảnh sát, viên chức CP, và dân thường của tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngải. Khu vực bến tàu đã đầy người với một tàu vận tải LST neo ở cảng Chu Lai. Tôi đã hai lần đích thân dùng loa để cảnh báo binh sĩ phải trở về đv và lập vị trí phòng thủ vì địch có thể tấn công, nhưng có vẻ ko ai nghe tôi. Lính tráng sợ bị bỏ lại ở Chu Lai, như đã xảy ra đối với các đv khác trong lúc di tản ở Quân khu 2". 

Với căn cứ đông nghẹt người, Nhựt gọi Trưởng và xin rút về Cù lao Ré, cách bờ 32 km. Dù BTTM ra lịnh đưa sđ 2 về Đà Nẳng để thay TQLC, nhưng với Đà Nẳng đầy người tị nạn, Trưởng đã đồng ý. Nhựt bay ra để gặp thuyền trưởng của chiếc LST Nha Trang (HQ-505). Dù Chu Lai có bến tàu thích hợp với tàu này, nhưng bến này bị chiếm giữ bởi một đám đông mất trật tự khoảng 10.000 người. Nhựt đã quyết định cho tàu cặp vào một bãi biển gần đó trong đêm để đón lính ông. Ông nhanh chóng tập hợp bộ tham mưu (BTM) và các cấp chỉ huy để thảo luận việc di tản. Theo ĐT Lê Thương, chỉ huy pháo binh sđ, "Một thời biểu chi tiết được lập và một cuộc họp gồm toàn BTM của sđ và các đv trưởng để thông báo kế hoạch di tản: rằng sẽ hủy mọi đại bác, xe thiết giáp, và cơ giới nặng vì ko thể mang theo; hủy diệt mọi kho đạn và kho xăng; và đốt rụi mọi doanh trại." Để hỗ trợ di tản này, HQ ra lịnh cho chiếc LST Vĩnh Long (HQ-802) và một tàu đổ bộ hạng trung (LSM) tên Hương Giang (HQ-404), và sau tàu đổ bộ nhỏ từ Qui Nhơn, ra tăng cường cho Chu Lai.

Lúc 9 g tối 25 THÁNG BA, tàu LST Nha Trang cặp bãi biển, nơi khoảng 5.000 lính và vài xe M-113 đang tụ tập. Lại một lần nữa biển quá nông, và tàu này đã mắt cạn cách bờ khoảng 100 yard hay 91 mét. Cảnh khủng khiếp ở bãi biển gần Tư Hiền đã tái diển. ĐT Thương kể lại: "Nỗi sợ càng lúc gia tăng trong bóng đêm khi những tiếng nổ điếc tai từ kho đạn bị nổ, và những ngọn lửa từ những thùng xăng bị cháy đã soi sáng khu vực này. Bên trong căn cứ Chu Lai, các tòa nhà đã bắt đầu cháy, bầu trời đầy khói và khiến mọi người ko thể kiểm soát tình hình (lose their grip) và ko thể phán đoán (ability to reason). Tình hình trở nên ko thể đảo ngược và ko còn giải pháp, ko còn ai ra lịnh, và kỷ luật quân đội ko còn. Mọi người đã cố gắng cứu bản thân họ--vài người đã bơi ra tàu, những kẻ khác treo lên xe M-113 đang liều lỉnh vượt sóng, cán lên nhau để đến tàu. Rất nhiều người đã chết trong lúc lộn xộn này." Sau khi một số binh sĩ hoảng loạn ném lựu đạn và giết vài người trên tàu, chiếc Nha Trang đã quay ra biển. Nhựt đã ra lịnh cho tàu này cặp vào bến tàu ở cảng Chu Lai gần đó. 

                                


Để ngăn ngừa đám đông này tràn lên tàu, chiếc Nha Trang đã đậu cách bờ khoảng 10 mét và dựng một cầu ván giữa bến tàu và tàu. Điều này sẽ khiến mọi người phải đi hàng một lên tàu, tránh được chen lấn. Khoảng 1 g sáng ngày 26 THÁNG BA, một tàu khác đã đến cảng Chu Lai. Vì nước triều rút xuống, chỉ có tàu Hương Giang vào được. Tàu này cột đằng sau tàu Nha Trang và bắt đầu nhận người. Đến giữa trưa, phần lớn mọi người đã lên tàu và hai tàu rời bến. Tàu định trở lại sau đó để bốc trung đoàn 6 của sđ 2, đang làm đoạn hậu, nhưng họ ko thể vào cảng do địch quân bắn từ bờ.

Dù cuộc rút lui hỗn loạn, và toàn bộ cơ giới nặng và nhiều vũ khí nhỏ bị mất, hải quân đã di tản được 10.500 lính và dân. Theo hạm trưởng Phạm Mạnh Khuê, "4.000 người trong số họ thuộc sđ 2 bộ binh, 4.000 người thuộc đpq Quảng Tín và Quảng Ngải, còn lại là cảnh sát, thân nhân của họ, và dân thường. NGÀY 27 THÁNG BA, 6.000 lính và thân nhân đổ xuống Cù lao Ré, phần còn lại đi Đà nẳng."

(còn tiếp)

Nguồn: dịch từ trang 300-320 của quyển Black April.

San Jose ngày 3 tháng 1 2021

Tài Trần

                                                   

                                                                                







Saturday, December 26, 2020

LIÊN ĐOÀN 15 BĐQ, SĐ 1 BỘ BINH, TQLC ĐÃ CHIẾN ĐẤU ÁC LIỆT Ở PHÍA NAM HUẾ TỪ 19/3 ĐẾN 22/3/75 

Nguồn: chuyển ngữ từ trang 290-298 của quyển Black April.

LỜI NÓI ĐẦU: 

Là một cựu quân nhân thuộc sđ 7 bộ binh VNCH, tôi luôn luôn nhớ ơn những người lính đã hy sinh để cho chúng ta có cuộc sống ngày hôm nay. Do vậy, dù ở tuổi 73, tôi vẫn tìm hiểu về những trận đánh ác liệt nhưng dễ rơi vào quên lãng, đặc biệt trong tháng 3 và 4 năm 1975. Tôi mong rằng, các bài chuyển ngữ của tôi, sẽ giúp người nghe, đặc biệt giới trẻ, sẽ biết những hy sinh của cha ông của họ và lý do nào họ đã có mặt tại đất nước tạm dung này--dù đó là Mỹ, Canada, Úc, v.v... 

- "Do quân viện cắt giảm mạnh sau hiệp định Paris 1973, TĐ 60 BĐQ của thiếu tá Đỗ Đức Chiến, là điển hình (typical) của những đv bđq năm 1975. Lúc đầu BĐQ được thiết kế như những đv bộ binh gọn nhẹ và ưu tú, nhằm mục đích thám sát và viễn thám. Giờ đây họ là lực lượng trừ bị cấp quân đoàn canh giữ các vị trí cố định. Đây là một nhiệm vụ khó khăn, đặc biệt khi họ ở tầng cuối cùng (bottom) của hệ thống tiếp vận của vnch về bổ sung quân số và vỏ khí. (Nói thêm: dù quân số của một liên đoàn bđq bằng một trung đoàn bộ binh nhưng họ ko có một tđ pháo 105 ly cơ hữu như một trung đoàn bộ binh. Khi tăng phái cho các trung đoàn bộ binh hay tiểu khu, họ được yểm trợ về pháo của đv xử dụng họ). Xin nói rõ hơn, tđ của thiếu tá Chiến chỉ có 200 ngươi, và phần lớn sq đã chết hay bị thương trong trận đánh ác liệt ở núi Mỏ Tàu năm ngoái. Ông nhận các sq mới làm đ.đ. trưởng nhưng các trung đội trưởng đều là trung sĩ, thay vì sq. Tình hình vũ khí còn tệ hơn. Chỉ có 30/100 súng phóng lựu M-79 còn xài được, và nhiều binh sĩ đã chết vì nổ nòng súng do ko được thay thế. Rất thiếu pin cho máy truyền tin nên ảnh hưởng nghiêm trọng việc chỉ huy và liên lạc. Trong tình trạng như vậy, TĐ 60 bđq được lịnh trấn giữ Đồi 312, ở vùng núi Mõm Cùn Sắc, phía tây và cách QL1 khoảng 1,6 km--đồi này khống chế đoạn QL-1 giữa Lương Điền, nơi đặt bch của LĐ 15 BĐQ, và quận lỵ Phú Lộc, nằm ngay ngã ba QL-1 và đường vào Núi Bạch Mã, xem bản đồ. Đơn vị của ông đã phải chống lại một đv địch gấp năm lần về quân số--lại còn hỗ trợ bởi pháo binh". Nguồn: sách đã dẫn, trang 292. 

Sau đây là phần chuyển ngữ.

=====

"Trở về Đà Nẳng chiều ngày 19/3, Trưởng đã nhận một cuộc gọi khẩn từ trung tướng Thi. Ông này báo cáo rằng lúc 3 giờ sáng, quân csbv đã vượt sông Thạch Hản. Dù Thi và những ng khác nghĩ rằng đó là sđ 308, nhưng thực tế chỉ có một tđ đặc công địa phương đã vượt sông, trong khi ba tđ địa phương của Quảng Trị tấn công từ phía núi. Hai TĐ BĐQ vnch (có lẽ thuộc LĐ 14 BĐQ-- người dịch) đã nhanh chóng tan rả sau cuộc ác chiến. Lúc bình minh, một đv khác của csbv và bốn T-54 của lữ đoàn 203 thiết giáp đã tiến về phía nam dọc theo bờ biển mà ko bị phát hiện và đã tới một vị trí 6 dặm hay 9,6 km sau phòng tuyến vnch. Một đv đpq đã phát hiện, báo cáo, và rút lui. Những đv đpq của Quảng Trị cũng làm như vậy. Vì khi gia đình của họ và TQLC đã ra đi, làng mạc chung quanh ko còn bóng người, họ ko còn gì để bảo vệ. Không gặp chống đối, Bắc quân tiến về quận lỵ Hải Lăng, nằm trên QL-1, phía nam tp Quảng Trị. BCH của liên đoàn 14 bđq đặt tại Hải Lăng, có thể bị tràn ngập, nếu thiết giáp CSBV tiến tới.

Đại tá Nguyễn thành Trí, TLP của tqlc và TL của Mặt Trận Tây Bắc của Huế, đã yêu cầu không yểm để chận thiết giáp, nhưng ko được đáp ứng. Lúc 4 giờ chiều, bắc quân đã chiếm bch cũ của lữ đoàn 258 tqlc, cách Hải Lăng hai dặm. Trong khi đó, chỉ huy của liên đoàn 14 bđq báo cáo đã mất liên lạc với những đv đóng dọc theo sông Thạch Hản, và bắc quân đã chiếm tp Quảng Trị. Với cạnh sườn bị sụp đổ, Trí ra lịnh cho bđq và đpq Quảng Trị rút lui và lập phòng tuyến dọc sông Mỹ Chánh. Ông cũng ra lịnh TĐ 7 tqlc thuộc lữ đoàn 258--đang đóng ở cảng Thuận An để chờ tàu vô Đà Nẳng--ngừng triển khai. TĐ tqlc này sẽ hỗ trợ phòng tuyến của đpq dọc sông Mỹ Chánh ở phía đông QL-1.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trong trận chiến 1972, bắc quân đã tốn bao sinh mạng và ba tháng mới chiếm tp Quảng Trị; nay chỉ trong một ngày họ đã chiếm TP này.

...

Tại Sài Gòn, Phó ĐS Mỹ Wolfgang Lehman đã quan sát vấn đề người tị nạn ngày càng gia tăng ở Đà Nẳng. Ngày 18 tháng 3, ông gọi Washington và khuyến cáo rằng "ko quá sớm để nghĩ về việc di tản bằng tàu cho một số lớn người" khỏi Quân khu 1. Nếu bắc quân tấn công Huế, số người di tản về Đà Nẳng sẽ gia tăng, làm nghiêm trọng thêm tình hình này. Lehman đã viết: "Trong tình hình diển biến như vậy (in such a contingency), tôi đã nghĩ nên dùng tàu hải quân Mỹ để chỡ người di tản, và có thể dùng tàu từ nước khác..." Cùng lúc, Lehman ra lịnh di tản những ng Mỹ ko cần thiết khỏi QK1. Các viên chức Mỹ ở các tỉnh này, mỗi tối phải về ngủ ở Đà Nẳng. 

...

Trong khi phó đại sứ Lehman đang tìm mọi cách để dò đoán ý định của Thiệu, NGÀY 17 THÁNG BA, VNCH đã nhận một tin tình báo giá trị. Một hồi chánh viên của sđ 325 csbv đã khai rằng hai trung đoàn của sđ y sẽ tấn công quận lỵ Phú Lộc trên QL-1 gần đầu phía bắc của Đèo Hải Vân. Ngay lập tức Trưởng đã đưa TĐ 8 thuộc lữ 258 TQLC tới tp này. Ông cũng cho oanh kích và dùng đại bác tầm dài 175-ly để tấn công các địa điểm nghi ngờ có sđ 325 hầu trì hoãn cuộc tấn công này. Sự hiện diện của sđ 304 tại Thường Đức đã khiến Trưởng phải giữ một lữ đoàn TQLC ở tây Quảng Nam. Ông chẳng còn đv nào làm trừ bị.

Tin tình báo rất chính xác: theo kế hoạch, Mặt Trận B-4 sẽ tấn công TQLC đang giữ Sông Bồ ở tây bắc Huế trong khi đồng thời cho quân vượt Sông Mỹ Chánh. Phía nam Huế, sđ 324 csbv sẽ lại tấn công Núi Bông, Núi Mỏ Tàu và Đồi 224. Cùng lúc đó, sđ 325 sẽ cắt QL-1 để ngăn quân vnch rút về Đà Nẳng. Tướng CSBV Nguyễn Hữu An nhận lịnh từ Hà Nội phải cắt QL-1 giữa Huế và Đà nẳng NGÀY 21 THÁNG BA, bằng mọi giá. Ông lập tức giao cho sđ 325 làm nỗ lực chính, sđ 324 chỉ lo yểm trợ hỏa lực và tiếp vận. Sau khi thanh tra việc chuẩn bị của 325, ông ra lịnh phải tấn công vào ngày kể trên.

Sđ này đã bỏ ra gần một tháng để bí mật đặt pháo tại các điểm cao gần các ngọn đồi Mõm Cùn Sắc. Họ sẽ dùng pháo binh để dập nát tuyến phòng thủ của BĐQ trước khi dùng bộ binh. Lính bộ binh của sđ này đã chuyển 24 khẩu pháo và gần 3.000 đạn lên các sườn dốc đầy cây cối đến 8 vị trí đặt súng khác nhau. Sau ba tuần lao động cật lực, QL-1 và những vị trí quan trọng của vnch đã nằm trong tầm pháo. Sau khi được pháo binh bắn dọn đường (prepping), bộ binh bắc quân sẽ tấn công TĐ 60 và 61 thuộc liên đoàn 15 đang giữ những đồi này. Một khi các đồi bị tràn ngập, QL-1 sẽ còn cách đó 1.6 km. Huế sẽ bị cắt, hàng trăm ngàn lính VNCH, TQLC, và dân thường sẽ bị kẹt lại. 

Hai vị trí chánh của BĐQ tại rặng Mõm Cùn Sắc là Đồi 560 và Đồi 312. Hai TĐ của trung đoàn 18 sđ 325 csbv sẽ tấn công TĐ 61 bđq tại Đồi 560 và  sau khi chiếm sẽ cắt QL1. Hai TĐ khác của trung đoàn 101 sẽ tấn công TĐ 60 BDQ tại đồi 312. Sau khi diệt TĐ này, trung đoàn 101 sẽ xâm nhập vùng đồng bằng và tấn công bch liên đoàn 15 trên QL1 tại làng Lương Điền. Đây là phòng tuyến cuối cùng của vnch nhằm bảo vệ cầu Sông Truồi. Không có bất cứ đv nào của VNCH giữa cầu này và lối vào phía nam của Huế. 

..

Sau 10 phút trì hoãn do sương mù, lúc 5:50 sáng NGÀY 21 THÁNG BA, bắc quân đã mở màn cuộc tấn công bằng pháo binh. Hàng loạt đạn đại bác đã nổ trên các hầm trú ẩn và giao thông hào của bđq. Sau một giờ, pháo csbv đã chuyển xạ vào các căn cứ pháo của vnch và những mục tiêu từ Phú Lộc tới tàu hải quân trên biển. Khi dứt pháo, bộ binh địch xung phong. Chỉ trong 1 giờ, Bắc quân đã chiếm vài trọng điểm gần Đồi 560, nhưng đồi này vẫn trong tay BDQ. Dù bị pháo nặng, BDQ vẫn giữ vị trí và dùng cối và đại liên M60 bắn trả. Các pháo đội VNCH dọc QL1 đã phản pháo vào đội hình địch. Dù thiệt hại nặng, địch quân vẫn quyết chiếm đồi 560. Sau khi vượt qua chu vi phòng thủ, họ đã tới các hầm của bđq. Cận chiến đã xảy ra, và dù bị áp đảo về quân số, BĐQ đã đẩy lui địch. Vì tấn công bị bẻ gẫy (stymie), quân csbv đã rút lui để đánh giá lại tình hình.

Họ đã thấy một điểm yếu trong phòng tuyến bđq. Phía tây của đồi này rất là dốc, và do ko đủ quân nên chỉ gài mìn ở khu vực này. TL của Bắc quân đã có quyết định táo bạo: lợi dụng rừng núi rậm rạp, họ đã bí mật tháo gở các mìn này để tấn công thẳng vào dốc núi gần như thẳng đứng này.

Lúc 2:00 chiều, họ đã sẵn sàng. Bằng cách trèo lên dốc núi, họ đã tấn công mặt sau của bđq. Họ đã tràn ngập bch của tđ và bắt sống TĐ trưởng. BĐQ phải rút chạy nhưng Bắc quân đã chết 40 và 100 bị thương để chiếm đồi 560. 

Cùng lúc, các đv của trung đoàn 101, sđ 325 csbv tấn công tđ 60 bđq tại đồi 312, nhưng lính của thiếu tá Chiến đã đẩy lui bằng hỏa lực của cối. Dù bị tấn công nhiều đợt nhưng lính của ông vẫn giữ vững phòng tuyến. Nhưng liên đoàn trưởng đã báo với Chiến rằng TĐ 61 bđq đã bị tràn ngập, và ra lịnh cho Chiến phải rút về bch liên đoàn ở Lương Điền. Trong 500 binh sĩ bđq trấn giữ rặng núi Mõm Cùn Sắc, chỉ có khoảng 300 sống sót. 

Trong khu vực trách nhiệm của sđ 1 bộ binh vnch, sđ 324 csbv đã tấn công đồi 224 và 303, và Núi Bông và Núi Mỏ Tàu. Chỉ trong thời gian ngắn, đồi 224 bị chiếm, nhưng đồi 302 đã đẩy lui bắc quân. Tại Núi Bông, một tđ của trung đoàn 1 sđ 1 đã đẩy lui địch dù thiệt hại nặng, nhưng một tđ VNCH khác đã phản công với thiệt hại nhẹ. Trận chiến ác liệt đã tiếp tục khắp Núi Bông và ngọn đồi ĐỔI CHỦ NHIỀU LẦN. Cuối cùng, vào buổi sáng NGÀY 22 THÁNG BA, trung đoàn 1 đã kiểm soát núi này. Tại Núi Mỏ Tàu, các đv của trung đoàn 54, sđ 1 bộ binh, đã đẩy lui nhiều đợt xung phong. Một tù binh cho biết tổn thất Bắc quân rất cao, và một tđ đã gần như tan hàng. Dù sđ 1 bộ binh đã kiểm soát tình hình nhưng cuộc tấn công của sđ 324 đã khiến sđ 1 ko thể bảo vệ cạnh sườn cho liên đoàn 15 bđq. 

...

Vào xế chiều NGÀY 22 THÁNG 3, tướng CSBV Nguyễn Hữu An đã ra lịnh cho pháo đang yểm trợ sđ 325, bắt đầu pháo vào QL1 để ngăn cản mọi xe cộ. Chỉ trong vài phút, đạn pháo bắt đầu rơi trên con đường đông nghẹt người và xe cộ này. Nhiều xe nổ tung và nhiều dân thường chết vì pháo kích. Trong khi một số ít tiếp tục di chuyển, phần lớn đã hoảng loạn và trở lại Huế. Chánh quyền VNCH đã bắt đầu chỡ dân thường tới cảng Thuận An để được di tản bằng tàu. Chỉ trong vài giờ, người ta đã thấy những biểu lộ của "hội chứng gia đình" bắt đầu xảy ra, khi một số lính của sđ 1 đã bỏ đv để tìm gia đình. Các đv ĐPQ/NQ và hậu cứ cũng bắt đầu tan rả (melt away). Điều này đã bắt đầu chậm chạp, nhưng chỉ trong vài ngày, hiện tượng này đã lan tràn hầu như mọi đv trừ TQLC.

SĐ 325 đã rời những đồi trên đây và cắt QL1. Họ cho 3 TĐ đi suốt đêm dưới mưa để phong tỏa QL1. Bắc quân đã tới vùng đồng bằng vào bình minh của NGÀY 22 THÁNG BA. Lính ĐPQ ở gần đó đã trông thấy và nổ súng, nhưng Bắc quân đã nhanh chóng đánh tan các vị trí ĐPQ và chiếm một khoảng dài 3.2 km trên QL1. 

Khi biết đồi 560 đã mất, tướng Thi đã lập tức gọi Trưởng và xin dùng TĐ 8 TQLC tại Phú Lộc để tái chiếm đồi này. Ông cũng ra lịnh cho Chuẩn tướng Nguyễn văn Điềm, TL sđ 1, cũng là TL mặt trận phía nam của Huế (ĐT Trí của TQLC là TL mặt trận tây bắc của Huế-- người dịch), mở một cuộc tấn công nghi binh để giúp TQLC. Ông cũng gửi trừ bị cuối cùng là tđ 94 BDQ thuộc LĐ 15. Nhưng thay vì tấn công để tái chiếm những đồi Mõm Cùn Sắc, TQLC và BĐQ giờ đây đã phải đối phó với sự xuất hiện đột ngột của bắc quân trên QL-1. Chiến sự ác liệt đã diển ra suốt ngày khi BĐQ và TQLC tấn công địch ở hai bên của QL1. Dù tấn công nhiều đợt và có máy bay yểm trợ, cuộc phản công đã thất bại. Kiệt sức, cả hai phía đã đào hầm hố khi trời tối.

Quân sử của quân đoàn 2 csbv gọi việc cắt đứt QL 1"một cú đấm hiệu quả nhứt của toàn chiến dịch." Dù lính của sđ 325 đã thức trắng trong 48 giờ, tướng Giáp ra lịnh ko được trì hoãn (no respite). Trong điện gửi cho sđ này trưa ngày 22/3, Giáp đã viết "thắng lợi này sẽ bị triệt tiêu nếu sđ để địch mở lại con đường. SĐ phải giữ vững khúc đường đã chiếm (dài 3.2 km), bằng mọi giá." Trong đêm 22/3, TL của sđ đã chuyển gần hai trung đoàn tới QL1, chỉ để một tđ giữ Mõm Cùn Sắc.

Nhận lịnh mới của Giáp, và vì sđ 324 ko thể chiếm đồi 560, vào trưa 22/3, tướng An ra lịnh cho sđ 324 đi vòng qua sđ 1 vnch và tiến thẳng xuống đồng bằng. Cùng lúc sđ 325 tiếp tục cuộc tấn công và gửi một trung đoàn tiến đánh bch liên đoàn 15 tại Lương Điền. Một khi Lương Điền bị chiếm, trung đoàn này sẽ tấn công sân bay Phú Bài để phối hợp với sđ 324. Một trung đoàn khác của sđ 325 sẽ đánh Phú Lộc. Trong đêm 22/3, sđ 324 chỉ để một trung đoàn cầm chân sđ 1 và gửi 2 trung đoàn khác tấn công Huế từ phía nam.

...

Tướng Thi, trong khi đó, đã biết rằng ông cần chận đứng mủi tấn công của bắc quân vào vùng đất ko được bảo vệ phía nam Huế. Hậu quả, trong đêm 22 THÁNG Ba, ông thu hẹp chu vi phòng thủ: ông cho liên đoàn 15 bđq rút khỏi sông Truồi, trong khi trung đoàn 1 và 54 của sđ 1 bỏ các đồi núi và rút về gần phòng tuyến tây nam của Huế. Hai trung đoàn còn lại của sđ tiếp tục bảo vệ mặt tây của Huế.

Buổi chiều hôm đó, Trưởng nhận một lịnh đau khổ (distressing) khác từ bộ TTM. Thiệu đã đổi ý. Viên đã lập lời cảnh báo trước đây rằng Sài Gòn chỉ có thể giữ được một NỘI PHẬN (enclave-- một vùng đất còn lại trong một khu vực do địch quân kiểm soát-- người dịch). "Vì lý do này, bằng mọi phương tiện khả dĩ, nhanh chóng, và khi tình hình cho phép, hảy lập một nội phận tại Đà nẳng. Trong giai đoạn đầu, sđ 1 bb, sđ 3 bb, và sđ tqlc sẽ chuyển về nội phận Đà nẳng. Ở giai đoạn 2, sđ 2 bb sẽ chuyển vào nội phận này. Khi toàn sđ 2 bb đã tới, ông sẽ lập tức hoàn trả sđ tqlc về Sài Gòn."

Đây là cú đấm cuối cùng vào QK1. Bất chấp ý định của Thiệu, ngay khi nhận lịnh này, Trưởng ra lịnh cho TĐ 8 TQLC ngừng: 1/ mọi nỗ lực mở lại QL1, và 2/ thiết lập các vị trí gần đèo Hải Vân hơn. Dù các lịnh trước đó của Thiệu là bảo đảm QL 1 phải thông suốt để sđ 1 có thể dùng để rút, lịnh mới của Thiệu đã khiến Trưởng ko thể thực hiện. Có tin nói rằng Trưởng đã từng nói rằng một khi QL1 bị chận, ông hy vọng binh sĩ sẽ ngưng đào ngũ, vì "họ ko có giải pháp nào ngoài việc chiến đấu." Trưởng đã sai. Thay vì giữ vững tay súng ở chu vi phòng thủ, những người lính cảm thấy bị bỏ rơi. Mức đào ngũ gia tăng, và các TL chẳng bao lâu đã bắt đầu ko kiểm soát được cấp dưới. "

NÓI THÊM VỀ TĐ 8 TQLC: Theo yêu cầu của tác giả của quyển Black April, ĐT Nguyễn thành Trí đã yêu cầu TĐT của tđ 8 tqlc, trung tá Nguyễn đăng Hòa, và lữ đoàn trưởng của lđ 468, ĐT Ngô văn Định, rằng TẠI SAO TĐ 8 KO CHIẾM NÚI VĨNH PHONG (núi này khống chế cửa Tư Hiền). Hòa nói rằng ông đã ko nhận lịnh chiếm núi Vĩnh Phong, trong khi Định nói ông ko nhớ nhiều về các sự kiện ở đèo Hải Vân. Trí phỏng đoán rằng hoặc lịnh đã đến quá trể với bch lữ đoàn 468, hay BTL QĐ 1 đã hủy lịnh khi biết rằng hải quân ko thể hoàn tất cầu đi ngang cửa Tư Hiền. Trí cũng nghi rằng Trưởng cũng muốn bắt đầu chuyển tqlc về bảo vệ Đà Nẳng. Nguồn: trang 525 của Black April của George Veith.

NÓI THÊM VỀ TĐ 60 BĐQ: 
1/ Cuối tháng ba 1975, tiểu đoàn chiến đấu ác-liệt bảo vệ mặt tây nam thành phố Huế, khi rút ra biển không có tầu vào đón, biết bị bỏ rơi.  Thiếu-tá Đỗ-đức-Chiến tập họp tiểu đoàn lại, cho binh sĩ tuỳ quyền trở về với gia đình, những ai ở lại với đơn vị ông vẫn còn trách nhiệm.  Tình thế thật là đau thương, tuyệt vọng, phần còn lại của tiểu-đoàn 60/BĐQ kéo nhau đi dọc theo bờ biển bị địch bám theo săn đuổi.  Cửu-Long suýt trúng đạn nhờ một người lính đi gần hứng giùm viên đạn ác-nghiệt.  Những người lính của tiểu đoàn sau hơn một tuần lễ chiến đấu đã gần như kiệt sức, không còn muốn ra l ệnh cho ai, đích thân vị tiểu-đoàn trưởng cõng xác người lính của mình.  Mấy quân nhân khác xúm lại can, ông không chịu.   Nó đã cứu mạng cho tôi, để tôi trả ơn.  Cho đến khi hết hy-vọng và sức người có hạn.. . Cửu-Long đau lòng phải để xác người lính lại và tự tay ông đào hố chôn người quân nhân thuộc cấp. Đọc đầy đủ ở: Cuối tháng ba 1975, tiểu đoàn chiến đấu ác-liệt bảo vệ mặt tây nam thành phố Huế, khi rút ra biển không có tầu vào đón, biết bị bỏ rơi.  Thiếu-tá Đỗ-đức-Chiến tập họp tiểu đoàn lại, cho binh sĩ tuỳ quyền trở về với gia đình, những ai ở lại với đơn vị ông vẫn còn trách nhiệm.  Tình thế thật là đau thương, tuyệt vọng, phần còn lại của tiểu-đoàn 60/BĐQ kéo nhau đi dọc theo bờ biển bị địch bám theo săn đuổi.  Cửu-Long suýt trúng đạn nhờ một người lính đi gần hứng giùm viên đạn ác-nghiệt.  Những người lính của tiểu đoàn sau hơn một tuần lễ chiến đấu đã gần như kiệt sức, không còn muốn ra l ệnh cho ai, đích thân vị tiểu-đoàn trưởng cõng xác người lính của mình.  Mấy quân nhân khác xúm lại can, ông không chịu.   Nó đã cứu mạng cho tôi, để tôi trả ơn.  Cho đến khi hết hy-vọng và sức người có hạn.. . Cửu-Long đau lòng phải để xác người lính lại và tự tay ông đào hố chôn người quân nhân thuộc cấp.
https://dongsongcu.wordpress.com/2016/11/02/tieu-doan-60-bdq-duong-chinh-chien/
2/ Muốn tìm hiểu thêm về trận Mõm Cùn Sắc, nên nghe: TRẬN ĐÁNH MÕM CÙN SẮC CỦA TIỂU ĐOÀN 60/BĐQ TH 3-1975 - YouTube

. . . 

Tạm dịch từ trang 290-298 của Black April của George Veith.

San Jose ngày 26/12/2020.

Tài Trần